Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:48:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đông Dương hấp hối  (Đọc 81793 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 06:17:57 pm »


Dự phòng hai trường hợp khó khăn có thể xảy ra, yêu cầu Chính phủ chính thức phải quan tâm1:

Một mặt, do ưu thế của Binh đoàn Tác chiến đối phương, chúng ta có khả năng sẽ bị thất bại nghiêm trọng trong chiến dịch 1953-1954.

Mặt khác, kế hoạch này chỉ có giá trị khi nào sự viện trợ của Trung Quốc cho Việt Minh vẫn ở mức độ hiện tại. Trong trường hợp sự viện trợ này tăng cường một cách ồ ạt, thì chưa có một kế hoạch nào có thể được xem như khả thi.

Ngay khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu các phương cách thực hiện kế hoạch, thì một vấn đề rất nghiêm trọng lập tức xuất hiện: việc bảo vệ vùng Bắc Lào. Vấn đề này được đặt ra cho tướng Salan trong chiến dịch 1952 - 1953; nó có thể tạo cho tôi nhiều khó khăn nghiêm trọng hơn trong chiến dịch sắp diễn ra.

Việt Minh có thể làm những gì trong năm 1953 - 1954? Các khả năng của họ có vẻ như được rút gọn trong ba phương án, và có thể là một sự kết hợp của những phương án này.

Khả năng thứ nhất là một cuộc tiến công tổng lực vùng châu thổ Bắc Bộ. Đây là một khả năng rất nghiêm trọng, nhưng lại không tạo ra cho chúng ta các vấn đề phức tạp, vì phản ứng của ta được vạch ra rõ ràng: chúng ta chống cự ngay tại chỗ, bằng cách tập trung các nỗ lực bằng mọi giá bảo vệ vùng trọng yếu của “khu tam giác có nhiều lợi ích”: Hải Phòng, Hà Nội và các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt nối liền hai thành phố này.

Khả năng thứ hai là một cuộc tiến quân của Việt Minh về phía nam, xuất phát từ vùng Vịnh, hoặc đi dọc theo bờ biển, hoặc đi dọc theo sông Cửu Long, hoặc theo cả hai hướng trên, nối với Liên khu V, nơi có thể xuất phát một mũi tiến công phụ. Giả thuyết này là rất đang sợ - thậm chí đáng sợ nhất, vì miền Trung và miền Nam sẽ bị uy hiếp. Sự đối phó đòi hỏi việc giải quyết các vấn đề rất nan giải, nhưng rõ ràng là tất cả phải được chuẩn bị để đối phó.

Khả năng thứ ba là Việt Minh xuất phát từ các căn cứ mà họ đã chiếm được trong chiến dịch năm 1952 - 1953, một chiến dịch đã từng giúp họ đạt được nhiều thành công đáng kể, tiến về vùng thượng sông Mêkông đến các vùng như Luang Prabang, Vien Tiane, Paksane.

Chúng ta xử trí hai khả năng đầu không khó vì chúng tức thì tạo ra tình thế nghiêm trọng, nhưng nếu xảy ra khả năng thứ ba thì vấn đề tế nhị hơn nhiều.

Đứng về mặt thuần tuý quân sự, có vẻ như sẽ không có một việc gì thật nghiêm trọng khi để cho đối phương chiếm được vùng thượng lưu sông Mêkông. Các vùng lãnh thổ họ chiếm được không có giá trị lớn; và vào cuối chiến dịch quân địch có thể tiến sát biên giới nước Xiêm, một quốc gia trung lập. Họ không thể xâm lược quốc gia này mà không gặp những vấn đề quốc tế nghiêm trọng. Nhưng nếu ta nhìn vấn đề một cách cận kề hơn, việc bỏ rơi vùng Bắc Lào có thể tạo ra những nguy cơ rất lớn trên lĩnh vực thuần túy quân sự trong một thời gian nào đó. Rõ ràng là khi đã tiến sát nước Xiêm, Việt Minh cho dù họ không trực tiếp xâm lược nước này bằng quân sự, cũng sẽ tìm cách phá hoại nước này về mặt chính trị; và họ sẽ tìm cách xâm nhập thông qua thung lũng sông Cửu Long để uy hiếp phần phía nam Đông Dương. Không bảo vệ vùng Thượng Lào, đứng về khía cạnh quân sự có thể là một quyết định không gây ảnh hưởng xấu ngay lập tức, nhưng nó tạo mầm móng cho những tai họa lớn trong khoảng thời gian một vài tháng sau đó.

Đứng về mặt chính trị, quyết định này có những ảnh hưởng trầm trọng hơn rất nhiều. Trong ba Quốc gia Liên kết, Lào là nước trung thành nhất với Pháp, và là quốc gia không đặt quá nhiều điều kiện để gia nhập khối Liên hiệp Pháp. Bỏ rơi thành phố Luang Prabang - kinh đô chính trị và tôn giáo của họ, một biểu tượng sự thống nhất của đất nước này - để cho nó rơi vào tay đối phương mà không có một trận đánh thì chẳng khác nào nhìn nhận sự bất lực của chúng ta trong việc bảo vệ những người luôn tin tưởng vào ta. Ngoài lý lẽ chính trị tối quan trọng này còn các vấn đề khác. Mỹ trợ giúp chúng ta ở Đông Dương tại vì ta bảo vệ một vùng trọng yếu của vùng Đông Nam Á: Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai. Để cho quân địch tiến đến sông Mêkông có nghĩa là việc phòng thủ này đã bị thất bại. Phản ứng của nước Mỹ là một việc phải quan tâm đến.
______________________________________
1. Bản ghi nhớ được làm vào tháng 7 năm 1953, được trình bày trước Ủy ban Quốc phòng Quốc gia ngày 24 tháng 7 năm 1953.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #31 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 06:18:33 pm »


Các lập luận về chính trị và quân sự đều có sự thống nhất với nhau là phải bảo vệ vùng Thượng Lào. Nhưng việc bảo vệ chống một cuộc tiến công bọc sườn như vậy đặt ra các vấn đề rất khó giải quyết, vì lý do địa hình của vùng này: một vùng đầy núi non, được che phủ bởi rừng già, với một hệ thống giao thông đường bộ hết sức nghèo nàn, chỉ được giới hạn ở vài tuyến đường rất xấu. Trên một vùng đất như thế, một cuộc chiến tranh cơ động không thể nào khả thi với những đội quân được trang bị, tiếp tế và huấn luyện theo kiểu châu Âu như quân đội của chúng ta. Việc tổ chức phòng thủ chỉ có thể được tổ chức theo kiểu “con nhím”, những điểm mạnh được thiết lập chung quanh các sân bay và kiểm soát các đường liên lạc chủ yếu. Phương cách này đã được tướng Salan cho triển khai từ năm trước, với sự thiết lập những căn cứ trong vùng Nà Sản, Lai Châu và cánh đồng Chum. Phương cách này rất nguy hiểm, vì nó sẽ dẫn đến việc hình thành các đội quân đồn trú ở nhưng nơi dễ bị cô lập và khó được chi viện. Nó đòi hỏi phương tiện vận tải đường không rất lớn. Nhưng đây là phương cách duy nhất để đối phó lại những cuộc tiến công mạnh mẽ.

Tôi trình bày vấn đề này rất lâu với Ủy ban Tham mưu, vào tháng 7 năm 1953. Đứng trên quan điểm quân sự, trên cơ sở khả năng tiếp viện hạn chế mà họ có thể hỗ trợ cho tôi, các tham mưu trưởng cho ý kiến là nhiệm vụ của tôi không nên bao gồm sự bắt buộc phải bảo vệ bằng mọi giá vùng Bắc Lào.

Lời khuyên này cũng tương tự như lời khuyên của tướng Revers vào năm 1949, trong việc rút ra khỏi các vùng biên giới với Trung Quốc. Đây là một kế để tranh thủ thời gian, giúp cho công tác trước mắt của vị Tổng tư lệnh quân đội được dễ dàng hơn, và đồng thời cũng biện minh cho việc từ chối gửi thêm các lực lượng và quân trang chi viện - những việc này đã theo thời gian chứa đựng mầm móng cho một sự thất trận. Vai trò của các cố vấn quân sự cấp cao của Chính phủ là trình bày cho các vị này biết sự thật, cho dù chúng rất phũ phàng, chứ không phải là để đề nghị những giải pháp dễ dàng.

Tuy nhiên, vì không muốn tôi bị rơi vào một thế bí do họ đã ý thức được rất rõ các hậu quả của một quyết định như thế, các vị tham mưu trưởng đã gợi ý nên có một hành động ngoại giao để ngăn chặn Việt Minh tái diễn một cuộc tiến công trên đất Lào. Họ nghĩ rằng chúng ta có thể nhờ Anh và Mỹ đảm bảo cho sự toàn vẹn lãnh thổ của vương quốc Lào và kêu gọi sự quan tâm của Liên Xô và Trung Quốc về mối hiểm nguy của sự lan rộng cuộc chiến nếu có một cuộc tiến công vào Luang Prabang. Trên thực tế, khi Việt Minh tiến công nước Lào với các lực lượng chính quy, họ đưa cuộc chiến tranh đi vào một giai đoạn mới: từ một cuộc nội chiến thành cuộc chiến tranh với nước ngoài, và sẽ biện minh cho sự can thiệp của các cường quốc quan tâm đến sự ổn định của vùng Đông Nam châu Á. Một viễn cảnh như thế có thể làm cho phe Cộng sản suy nghĩ lại.

Trong phiên họp ngày 24 tháng 7 năm 1953 của Ủy ban Quốc phòng, tôi báo cáo một cách chi tiết về vấn đề này, và quan điểm của Ủy ban các tham mưu trưởng cũng được trình bày. Một cuộc tranh luận được tiến hành sau đó; một số các bộ trưởng ủng hộ quan điểm này, trong khi số khác thì nhấn mạnh đến sự tối cần thiết phải bảo vệ nước Lào bằng một giải pháp chính trị.

Tôi yêu cầu Chính phủ phải có một quyết định rõ ràng, theo tôi là vô cùng cần thiết cho việc thiết lập các kế hoạch hành động của mình. Tôi không nhận được quyết định dứt khoát ngay tại chỗ nhưng được hứa sẽ có trong một thời gian rất ngắn. Sự gợi ý của các tham mưu trưởng liên quan đến một hành động ngoại giao để tránh cuộc tiến công của Việt Minh trên đất Lào được ghi nhận cho dù Bộ Ngoại giao không thật sự ủng hộ.

Các tin tức từ cuộc họp đã bị “rò rỉ”, và Việt Minh nắm được cuộc thảo luận về việc bảo vệ nước Lào. Tôi sẽ trở lại việc này ở phần sau.


***


Nói tóm lại, kế hoạch chung được tôi đệ trình lên Chính phủ - theo tôi biết là kế hoạch đầu tiên từ khi cuộc chiến tranh này bùng nổ - bao gồm nhiều kế hoạch riêng biệt: sự chi viện từ Chính quốc bằng những phương tiện trên bộ, trên không và trên biển; kế hoạch sắp xếp lại quân lực; kế hoạch cơ động hóa các đơn vị có những nhiệm vụ chiến thuật (kế hoạch này dựa trên cơ sở một kế hoạch bình định); kế hoạch phát triển các lực lượng quân đội quốc gia; những kế hoạch khác nhau nói trên đều nhằm mục đích tiến tới việc thành lập một Binh đoàn Tác chiến.

Toàn bộ kế hoạch được kéo dài từ năm 1953 sang năm 1954 - 1955, tạo thành một tổng thể không tách rời nhau được, vì sự thành công của từng kế hoạch tùy thuộc chặt chẽ vào sự thành công các kế hoạch khác. Cái tổng thể này còn phải dựa trên những điều kiện có tính cách chính trị: xác định mục đích chiến tranh, sự thống nhất giữa các hoạt động chính trị và quân sự, việc lôi cuốn các Quốc gia Liên kết vào cuộc chiến. Kế hoạch tác chiến chỉ là công đoạn cuối của tất cả những việc nói trên.

Tôi biết rất rõ rằng việc xây dựng kế hoạch này dựa trên những cơ sở không vững chắc. Tuy nhiên không may là không có một cơ hội nào khác để rút khỏi cuộc chiến Đông Dương trong danh dự. Do đó, dù không có nhiều hy vọng, nhưng vẫn phải tiến hành. Tôi đang tìm cách thay đổi định mệnh.

Từ đây trở đi ý chí của chính phủ Pháp để lãnh đạo mạnh mẽ cuộc chiến này với một nghị lực cao và sự liên tục là một điều kiện cần và đủ để đi đến thành công - tôi vẫn còn tin tưởng vào một sự thành công như vậy. Cho đến lúc này thì chính phủ vẫn chưa có một sự lãnh đạo đúng đắn đúng nghĩa cho cuộc chiến tranh này.

Các cuộc tranh luận trong chính phủ mà tôi có dịp dự ở Paris đã không tạo cho tôi có một ảo tưởng nào về vấn đề này, song cuối cùng tương lai đã chứng minh cho tôi thấy lại vẫn còn giữ quá nhiều ảo tưởng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #32 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 06:34:47 pm »


CHƯƠNG IV
VIỆC ĐIỀU HÀNH CUỘC CHIẾN TRANH


Cụm từ “điều hành cuộc chiến tranh” được dùng để chỉ hành động mà một quốc gia hoặc một liên minh tiến hành nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu chiến tranh của họ. Việc điều hành chiến tranh là việc của chính phủ và được dàn trải trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, chính trị, ngoại giao, tâm lý, xã hội và kinh tế...

Trên lĩnh vực quân sự, nó bao gồm chủ yếu việc tuyển mộ, duy trì các lực lượng quân đội, trang thiết bị và tinh thần của họ. Việc bố trí lực lượng trên mặt trận, định ra công tác chung giao cho các tư lệnh ở các mặt trận nói trên là trách nhiệm của chính phủ. Chính phủ là một trong các thành viên tham gia việc điều hành chiến tranh. Thật vậy, trên lĩnh vực quân sự, chính phủ phải có trách nhiệm trao vào tay một hay nhiều người có trách nhiệm chỉ huy các phương tiện tốt nhất có thể có để “tiến hành các cuộc hành quân” và vạch ra cho họ cách sử dụng các phương tiện này.

Vì vậy chỉ có được sự điều hành tốt các cuộc hành quân trong khuôn khổ điều hành tốt cuộc chiến tranh. Nếu việc điều hành này không được đảm bảo bằng một sự kiên quyết, một cách làm việc có phương pháp, một sự liên tục và tích cực thì không thể nào có được thành công cho dù chất lượng của những người chỉ huy có tốt như thế nào.

Điều này có nghĩa là những người lãnh đạo chính trị, tức là những người chịu trách nhiệm điều hành cuộc chiến tranh, phải có kiến thức đầy đủ để hiểu được các yêu cầu chiến lược, và để chỉ đòi hỏi ở các nhà hoạch định chiến lược những gì khả thi trong khuôn khổ của một chính sách đã được hoạch định. Chỉ trong thế giới Cộng sản mới có những nhà lãnh đạo chính trị đã đọc Clausewitz. Ở phương Tây, nhất là ở Pháp, sự dốt nát về kiến thức quân sự của các nhà chính trị cũng tương đương với sự kiêu căng của họ trong việc phán xét các vấn đề quân sự.


***

Việc điều hành cuộc chiến tranh ở Đông Dương vào lúc đầu và suốt trong một thời gian dài là một vấn đề đơn giản, nếu không nói là dễ dàng. Đối đầu với Việt Minh, chỉ có một mình nước Pháp. Mọi quyết định đều do nước Pháp quyết. Các quyết định đều không tùy thuộc vào Việt Nam, Lào hay Campuchia. Nền độc lập của các quốc gia này chỉ có trên lý thuyết; họ không có một phương tiện nào để thể hiện tiếng nói của họ. Còn nước Mỹ chỉ là một khán giả ngồi xem những gì chúng ta làm với một cặp mắt không thiện cảm lắm.

Dần dần, các vấn đề đã chuyển biến trở nên vô cùng phức tạp. Trong liên minh mà chúng ta hình thành vào lúc này, với sự tham gia của các Quốc gia Liên kết và Mỹ, các vấn đề chỉ có thể được giải quyết bằng một sự thống nhất giữa nước Pháp với các đối tác của nó.

Các Quốc gia Liên kết là các quốc gia kém phát triển, vừa thoát khỏi chế độ thực dân, cũng chưa hoàn toàn thoát khỏi sự độc lập với Pháp. Họ vẫn chấp nhận trên nguyên tắc giữ các mối quan hệ hữu cơ với Pháp dù những mối quan hệ này chưa được định nghĩa một cách rõ ràng. Một khi họ có được một nền độc lập thật sự hơn, rộng rãi hơn; và một khi họ được yêu cầu đóng góp nhiều nỗ lực hơn cho cuộc chiến, họ lại yêu cầu được xem như những quốc gia hoàn toàn có chủ quyền trong liên minh. Nhưng mặt khác, họ không có phương tiện cần thiết vì cho dù - nhờ vào chúng ta - họ đã có được những bước phát triển tương đối; họ không có nguồn nhân lực chính trị - quân sự, không có các nguồn tài chính, những người làm công tác quản lý có trình độ, mà lẽ ra nhà nước độc lập cần phải có. Tất cả những điểm nói trên, họ cần một sự bảo hộ, mà chỉ có chúng ta mới đủ sức cung cấp cho họ.

Người Mỹ không phải là người thật sự tham gia cuộc chiến tranh. Những sự rủi ro họ chấp nhận rất hạn chế, thế nhưng họ lại đòi hỏi một ảnh hưởng ngày càng gia tăng, đo bằng sự giúp đỡ về vật chất cho chúng ta. Mặt khác, người Mỹ lại có khuynh hướng cổ vũ cho sự tự trị của các quốc gia Đông Dương đối với nước Pháp bên trong khối liên minh này. Họ cố gắng tìm cách trực tiếp nắm các quốc gia này.

Nước Pháp, trong ý đồ vừa duy trì quyền lực của mình đối với các quốc gia Đông Dương, vừa tự do hành động trong quan hệ với đồng minh Hoa Kỳ, tìm cách trút gánh nặng nhân sự của cuộc chiến lên các quốc gia Đông Dương, gánh nặng tài chính lên vai nước Mỹ. Đây là chính sách tìm kiếm sự cân đối rất khó có thể tiến hành một cách lâu dài.

Tuy vậy, cho đến khi nào có được một trật tự mới, nước Pháp vẫn là người “lãnh đạo” của liên minh này. Vì thế, trách nhiệm của Chính phủ là phải điều hành cuộc chiến tranh.

Để làm việc này, phải thiết lập một cơ cấu lãnh đạo có hiệu quả, trung tâm ở Paris, nhưng phải có những cơ chế vận hành ở Sài Gòn và Washington.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #33 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 07:58:49 pm »


Ở Paris, cần phải thành lập một tổ chức dưới cái tên là Ủy ban Chiến tranh hoặc bất cứ một cái tên gì, để ra những quyết định chung. Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, hoặc người được ông ủy nhiệm, cơ chế này phải bao gồm những bộ trưởng có liên đới với vấn đề Đông Dương, có thể gồm trong một số trường hợp những Cao ủy tại Paris của các Quốc gia Liên kết, và có thể một quan sát viên của Hoa Kỳ. Ủy ban này sẽ được Ủy ban các tham mưu trưởng cố vấn cho những vấn đề về mặt quân sự.

Ở Sài Gòn, cần một cơ chế tương tự, do một đại diện của Pháp lãnh đạo và bao gồm đại diện của các Quốc gia Liên kết, có trách nhiệm thực hiện một cách chi tiết những quyết định chung của Ủy ban tại Paris.

Cuối cùng tại Washington, cần một cơ chế duy nhất, trực thuộc Ủy ban Paris, có trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề liên quan đến tất cả những viện trợ mà Mỹ cung cấp cho Đông Dương.

Nhưng không một điều nào được thực hiện.

Tại Paris, các vấn đề Đông Dương do chính bộ trưởng giải quyết.

Tổng trưởng phụ trách quan hệ với các Quốc gia Liên kết có trách nhiệm về chính sách với các quốc gia này, về các cuộc hành quân và điều hành các lực lượng trên bộ.

Tàn dư của chế độ thuộc địa1 là nguyên nhân khiến các lực lượng bộ binh ở Đông Dương không còn phụ thuộc thẩm quyền như trước nữa. Ngay khi các sĩ quan hoặc binh sĩ bước chân xuống tàu hoặc lên máy bay họ sẽ trực thuộc Tổng trưởng phụ trách các mối quan hệ với các Quốc gia Liên kết. Trên thực tế, thì Bộ này không có phương tiện để thực hiện vai trò được giao, một sự thoả hiệp loạc choạc dần dần thể hiện. Qua đó vẫn là người cung cấp quân lính, phương tiện trang thiết bị cho các đơn vị không còn trực thuộc Bộ nữa và các trợ giúp của Bộ này chỉ có tác dụng rất tương đối2.

Ngược lại, Tổng trưởng các Bộ Hải quân và Không quân vẫn giữ trách nhiệm trong việc điều hành và bảo trì lực lượng của họ phải sang Dông Dương nhưng phần các Bộ này trích từ ngân sách để cấp phát lại hoàn toàn phụ thuộc vào thiện ý của các tổng trưởng. Do đó các lực lượng ở Đông Dương - nhất là lực lượng không quân, được xem bà con nghèo.

Bộ trưởng Quốc phòng nắm vai trò phối hợp hành động - có tính lý thuyết hơn là thực tế - giữa ba ông tổng trưởng (Chiến tranh, Không quân và Hải quân), nhưng đã bị cắt đi trách nhiệm cơ bản của ông: kiểm soát những cuộc hành quân; trách nhiệm này được giao cho Tổng trưởng phụ trách các mối quan hệ với các Quốc gia Liên kết3.

Tất nhiên là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao không thể từ chối nhiệm vụ giải quyết các vấn đề Đông Dương trên trường quốc tế, và nhất là trong các mối quan hệ ngày càng quan trọng hơn với nước Mỹ khi nước này ngày càng đóng một vai trò lớn hơn trong cuộc chiến. Các mối quan hệ công tác qua lại giữa Quai d’Orsay (Bộ Ngoại giao Pháp) và Bộ Quan hệ với các Quốc gia Liên kết từ đấy trở nên thường xuyên.

Lẽ tất nhiên Bộ trưởng Bộ Tài chính, trong vấn đề Đông Dương cũng như trong tất cả những vấn đề khác, vẫn có một cách hành xử độc đoán. Do sự yếu kém của chế độ, nhất là sự yếu kém ở cấp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nên Bộ trưởng Bộ tài chính thường lộng hành xen vào công việc của các bộ trưởng khác, vì một lý do đơn giản là ông nắm tiền, không một việc nào có thể tiến hành được nếu không có sự nhất trí của ông ấy. Kết quả là những vấn đề đại sự, đáng lẽ phải được cứu xét theo quan điểm chính trị tổng thể, thì cuối cùng chỉ được giải quyết qua lăng kính thiển cận của người kế toán.
_____________________________________
1. Lúc trước quân đội ở Đông Dương do Bộ các thuộc địa quản lý, mà người kế tục tàn dư này chính là Bộ Quan hệ với các Quốc gia Liên kết.
2. Tình trạng mâu thuẫn và tạo mầm mống cho sự hỗn đơn đã kết thúc vào năm 1953. Bắt đầu từ ngày 1 tháng giêng năm 1954, việc điều hành các lực lượng trên bộ được trả lại cho Tổng trưởng Bộ chiến tranh. Và dĩ nhiên là sự thay đổi này tạo ra sự xáo trộn trong nhiều tháng.
3. Nghị định số 53618 ký ngày 10 tháng 7 năm 1953 quy định quyền hạn cho ông Tổng trưởng Bộ các Quốc gia Liên kết. Điều 3: “Ông Marc Jacquet trợ giúp cho Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trong việc lãnh đạo các lực lượng quân sự bảo vệ Đông Dương và phối hợp việc thực hiện công cuộc bảo vệ này”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:00:39 pm »


Một nhạc trưởng được giao trách nhiệm cầm trịch tất cả những nhạc cụ trên đây. Đó là Tổng trưởng phụ trách các vấn đề với các Quốc gia Liên kết - nhưng những người chơi các nhạc cụ trên kia lại không chịu nghe ông này vì cho rằng ngài tổng trưởng này là một nhân vật quá nhỏ bé1. Hơn nữa cùng với vai trò một người nhạc trưởng, ông lại phải cùng chơi một lúc ba nhạc cụ (chính trị, điều hành các chiến dịch quân sự, điều hành các lực lượng trên bộ), ông vừa đá bóng vừa thổi còi, không thể là một trọng tài được. Trên thực tế, ông này chỉ là một hộp thư. Vị trí trong nội các và tư cách cá nhân của ông đều không giúp cho ông làm được một cái gì hơn.

Chỉ có người đứng đầu Chính phủ mới có thể điều hành được cuộc chiến tranh. Nhưng trong một cuộc chiến như chiến tranh Đông Dương, kéo dài rất lâu, xa xôi và chỉ có một phần của đất nước tham gia, các quyền lực của Chủ tịch Hội đồng chỉ cho phép ông điều hành công việc từ một khoảng cách rất xa. Để bổ sung cho sự khiếm khuyết này, ông Laniel đã lập ra chức vụ Phó chủ tịch Phụ trách những vấn đề Đông Dương, được ông ủy quyền toàn bộ. Người nắm chức vụ này là ông Paul Reynaud. Nắm trong tay quyền lực của chức vụ, trong quá khứ đã từng đứng đầu nội các, ông là người duy nhất có thể điều phối công tác của các bộ, tạo nên sự thống nhất hành động là điều kiện tối cần để thành công. Nói tóm lại, ông Paul Reynaud là người có khả năng điều hành cuộc chiến. Nhưng lại chẳng hề làm bất cứ việc gì, thậm chí có lẽ ông không nhận thấy cần phải làm.

Còn ở tại Sài Gòn công việc diễn biến có tốt hơn đôi chút. Trách nhiệm điều hành cuộc chiến tranh thuộc về ông Tổng ủy Pháp, là một điều không thể bàn cãi. Tổng ủy là người nắm tổng thể quyền lực chính phủ. Nhưng trong cuộc chiến như chiến tranh Đông Dương, điều hành chiến tranh và điều hành những cuộc hành quân tại chỗ là việc không thể tách rời nhau. Do cơ cấu tổ chức quyền hành, việc điều hành cuộc chiến được giao cho ông Tổng ủy và việc điều hành những cuộc hành quân được giao cho vị tổng chỉ huy các lực lượng quân đội. Việc này tạo ra một cơ chế hành động nhị nguyên đòi hỏi phải có một sự thống nhất toàn diện. Tuy nhiên với một cơ cấu tổ chức tồi, chúng ta vẫn có được những kết quả tốt, nếu những người tham gia công tác làm hết sức mình vì công việc chung. Đó là thành quả làm được tại Sài Gòn, nơi giữa tôi và ông Dejean đã có một sự thông cảm hoàn toàn, chúng tôi đã hạn chế đến mức tối đa những điểm yếu không thể tránh khỏi do sự phân quyền.

Theo đề nghị của tôi, một “Ủy ban Chiến tranh” đã được thành lập, tập hợp người chỉ huy tối cao quân đội, một số sĩ quan và công chức cao cấp, dưới sự chủ tọa của Tổng ủy để giải quyết những vấn đề liên quan đến việc điều hành chiến tranh. Những giải pháp do ủy ban này thông qua, sau đó sẽ được đệ trình lên Chính phủ của các Quốc gia Liên kết trong các buổi họp thường kỳ với sự có mặt của ông Tổng ủy và tôi dưới hình thức “Ủy ban Quân sự Cao cấp” 2. Chính ở đây các quyết định dứt khoát được thống nhất. Cơ chế này đã tạo ra những kết quả đáng ca ngợi, nhưng mặt khác nó vẫn chưa đủ để tạo một sự thống nhất thật sự để thúc đẩy các Quốc gia Liên kết có những hành động quyết liệt cần thiết.

Tại Washington, các vấn đề liên quan đến viện trợ của Mỹ cho Đông Dương do ông đại sứ Pháp hoặc người đại diện Pháp trong nhóm thường trực xử lý, và thường là được hai người cùng giải quyết một lúc. Thật là một điều phi lý, nó làm tăng thêm sự liên lạc qua lại, tạo ra sự chồng chéo, nhưng không vì thế mà dẫn tới những khó khăn nghiêm trọng.
______________________________________
1. Chỉ ông Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng hoặc cùng lắm là một Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng do chính chủ tịch chỉ định mới có khả năng điều phối hoạt động của các bộ trưởng. Một ví dụ, ông Bộ trưởng Quốc phòng không bao giờ có thể thực hiện được một quyền lực thực tế lên các tổng trưởng Chiến tranh, Không quân và Hải quân.
2. Các Ủy ban Quân sự Cao cấp tập họp trong mỗi Quốc gia Liên kết các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của quốc gia ấy cùng với những người đại diện của nước Pháp (Tổng ủy, Tổng tư lệnh quân đội, Cao ủy và Tư lệnh quân đội nơi quốc gia sở tại).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:02:23 pm »


***

Ngoài thực tế vô tổ chức của việc điều hành cuộc chiến tranh, còn có một sự thật mà tôi đã báo trước - việc thiếu hẳn một định nghĩa chính xác cho chính sách của Pháp ở Viễn Đông.

Do thiếu sự định nghĩa ấy mà quan hệ của chúng ta với các Quốc gia Liên kết và Mỹ không bao giờ có thể được xác lập trên những cơ sở rõ ràng, cả về mặt quan điểm quân sự lẫn chính trị. Chỉ cho đến tháng giêng năm 1954, mới có một nhóm công tác do ông Pleven cầm đầu đến Đông Dương để tìm cách xác định một cách khách quan các mục tiêu mà Pháp còn có thể đạt được ở Đông Dương, các phương tiện Pháp có thể cung cấp và các thỏa thuận Pháp có thể thống nhất với các Quốc gia Liên kết và Mỹ. Đây là lần đầu tiên và là lần cuối cùng có được một nỗ lực đúng đắn để xác định vị thế của nước Pháp trong việc điều hành chiến tranh. Nhưng nó quá trễ.

Chính thái độ của chúng ta đối với nước Mỹ là yếu tố quan trọng nhất quyết định tình hình của ta ở Đông Dương.

Tôi đã nói nước Pháp phải có một sự lựa chọn giữa hai chính sách: hoặc chấp nhận là một thành viên trong trận tuyến chống Cộng dưới sự lãnh đạo của Mỹ; hoặc tự mình giữ được, dưới hình thức này hay hình thức khác, sự thống lĩnh của mình ở Đông Dương - và nếu như thế thì nước Pháp phải tự mình gánh vác các nỗ lực và hy sinh cần thiết. Tôi cũng đã cho rằng, do không thể có được một sự lựa chọn giữa hai đường lối kể trên, nên Chính phủ tìm cách đi theo một con đường trung dung, với hy vọng có thể giúp cho nước Pháp giữ lại được “một cái gì đó” - mà chính Chính phủ cũng không biết rõ ràng là một cái gì - để có được sự hỗ trợ ngày càng nhiều của nước Mỹ cho chi phí của cuộc chiến. Chính sách này tạo điều kiện cho nước Mỹ có cơ hội kiểm soát chặt chẽ hơn các động thái và quan hệ của ta với các Quốc gia Liên kết.

Người Mỹ xưa nay vẫn có ác cảm với chúng ta, giờ đây họ vẫn giữ nguyên mối ác cảm tuy đã trở thành đồng minh của ta. Họ giúp chúng ta về vật chất, nhung lại đánh chúng ta về mặt tinh thần. Họ vừa tận dụng tối đa “con chốt” Pháp trong cuộc chơi chống Cộng của họ, vừa ra sức phá hoại các quyền lợi của chúng ta, để cuối cùng đi đến triệt tiêu chúng.

Sự thiếu thiện cảm của người Mỹ thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.

Đôi lúc nó mang tình chất công khai và thô lỗ. Ngay khi tôi vừa nắm quyền chỉ huy, tôi bắt buộc phải lên tiếng phản đối bài báo của một tờ nhật báo lớn. Tác giả là một nhà báo đã luôn luôn được chúng ta tiếp đón nồng hậu mỗi khi ông đến thăm bất cứ nơi đâu, nhưng đã có những lời chửi mắng thô lỗ, thậm tệ quân đội Pháp.

Không có một tuần nào mà chúng ta không bị sức ép của Mỹ dưới mọi hình thức, hoặc dưới dạng một bài diễn văn, hoặc dưới hình thức những lời tuyên bố với báo chí của các nhà chính trị Mỹ đến thăm Đông Dương. Những sự bực dọc khi đi du lịch cùng với các tin tức không đầy đủ và một sự tuyên truyền mị dân có hệ thống chống Pháp thi nhau tác động đến các chính khách Mỹ. Người thì cho rằng “viện trợ của Mỹ phải tuỳ thuộc vào sự trao trả độc lập hoàn toàn của Pháp cho các nước Đông Dương”. Người khác thì phát biểu “chiến tranh chỉ thắng nếu người bản xứ được tự do sử dụng sự giúp đỡ của người Mỹ”. Còn chính khách thứ ba cho rằng: “Khi người Pháp từ chối trao trả một nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc ở đây, thì Chủ nghĩa Cộng sản không thể bị quét sạch ra khỏi nơi này”.

Chính sách của người Mỹ còn mang tính chất “kinh doanh”, thể hiện qua những cuộc chiếm đoạt giấu mặt nhưng ngày càng lộ rõ hơn, các vị trí then chốt của nền kinh tế Đông Dương khi tương lai không chắc chắn đã khiến cho người Pháp phải dần dần bỏ các kế hoạch làm ăn.

Sự can thiệp vào các công việc của chúng ta là việc làm của “nhóm công tác viện trợ kinh tế”, mà thành viên thường là những người đại diện cho các tập đoàn lớn núp dưới vỏ bọc của các viên chức và nhân viên công tác. Đây chắc chắn không phải là việc làm của đại sứ Mỹ Heath, một người quá trung thực, quá nhân đạo và quá thông minh để có thể thực hiện một chính sách thúc ép người Pháp chiến đấu một mình và hy sinh cả ngàn con em trong một cuộc chiến tranh - cho dù có thắng lợi - cũng sẽ không mang lại một quyền lợi gì cho họ. Dù vậy nó vẫn được giới thẩm quyền chính thức của Mỹ ra sức khuyến khích.

Chúng ta không thể chiến đấu một cách hiệu quả chống lại những âm mưu này tại Sài Gòn. Vấn đề phải được giải quyết một cách công khai giữa Paris và Washington. Chúng ta phải nói rõ cho người Mỹ: “Chúng tôi chiến đấu ở Đông Dương để bảo vệ quyền lợi của người Pháp. Chúng tôi không có giấu giếm gì việc này vì đó là quyền chính đáng của chúng tôi. Chúng tôi làm việc này còn vì quyền lợi của phương Tây khi giữ được vùng Đông Nam Á - mà các ông là người chính được lợi. Do cuộc chiến đấu của chúng tôi phục vụ lợi ích của các ông nên các ông phải chi viện cho chúng tôi. Chúng tôi không phải cảm ơn các ông, nhất là chúng tôi không thể trả bằng việc hy sinh quyền lợi của chính chúng tôi”. Và chúng ta phải nói rất rõ rằng, cho đến một kỳ hạn nào đó rất ngắn, nếu tất cả âm mưu chính trị kinh tế và trên tất cả những lĩnh vực khác không được các quan chức và tư nhân Mỹ chấm dứt, chúng ta sẽ yêu cầu đổi vị trí chiến đấu cho ai muốn chiếm chỗ của chúng ta. Nếu yêu cầu này không được đáp ứng chúng ta sẽ thỏa hiệp với đối phương. Đã nhiều lần tôi phát biểu quan điểm này, nhưng không nhận được một hồi âm nào. Những người có trách nhiệm vạch các chính sách của ta đã chọn phương án không biết gì về vấn đề này hoặc bác bỏ sự hiện hữu của nó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #36 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:02:58 pm »


Đối với các Quốc gia Liên kết đường lối của chúng ta phải dung hòa được hai yêu cầu mâu thuẫn. Một là sự cần thiết phải thi hành tuyên bố ngày 3 tháng 7 năm 1953, hứa giao trả độc lập cho họ trong khuôn khổ của khối Liên hiệp Pháp. Hai là phải thúc đẩy họ tham gia vào cuộc chiến.

Có điều chắc chắn rằng nỗ lực tối đa cho cuộc chiến chỉ có thể đạt được khi chúng ta giữ được quyền chỉ huy trực tiếp và chỉ giao trả độc lập khi chiến tranh chấm dứt. Nhưng chuyện này không thể nào làm được. Chúng ta đã hứa giao trả độc lập cho họ. Cả Việt Nam, Lào và Campuchia đều muốn đạt được nền độc lập ngay lập tức và các sự khuyến khích họ nhận được từ người Mỹ là không thể nào cưỡng lại được đối với chúng ta.

Trong những hoàn cảnh như thế, giải pháp tốt nhất là tận dụng tối đa con bài độc lập, tìm cách tranh thủ tất cả những gì nó có thể đem lại. Có thể sự phấn khởi của tinh thần quốc gia sẽ tạo ra một ý chí chiến đấu cho các dân tộc, sẽ bù đắp sự thiếu hiệu quả khi chúng ta không còn nắm quyền chỉ huy trực tiếp. Đây là đường lối - cho dù người Mỹ suy nghĩ như thế nào - rất khó thành công nhưng ở hoàn cảnh của chúng ta thì không thể có một giải pháp nào khác.

Việc này đòi hỏi nước Pháp không cần phải từ bỏ những quyền lợi ở Đông Dương, chấp nhận một hình thức Liên hiệp Pháp mới, khác với hình thức quy định trong bản Hiến pháp năm 1946 mà những người theo chủ nghĩa quốc gia của ba nước này xem như một “nhà tiền chế” và từ chối không chịu vào trú ngụ.

Nhưng Chính phủ Pháp không có sự thống nhất cho giải pháp này. Một số ủng hộ với mức độ khác nhau cho sự biến đổi của Đông Dương, một số khác chống lại mọi sự cải tổ.

Người ủng hộ khuynh hướng thứ hai là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ông Bidault đã thể hiện suy nghĩ của mình bằng một sự so sánh mà ông lấy làm khá thích thú: “Nếu bạn đồng ý trợ cấp cho mỗi nhân viên xe điện ở Lille một chiếc áo choàng, thì những nhân viên ở Perpignan cũng sẽ sớm đòi hỏi như thế”. Đây là một khả năng rất có thể xảy ra - nhưng liệu đây có phải là một lý do chính đáng để từ chối nhân viên ở Lille chăng? Có thể chúng ta giải quyết cho các nhân viên ở Perpignan một sự bù đắp phù hợp với khí hậu tại địa phương: một bộ trang phục mùa hè chẳng hạn. Nhưng ngài Bidault không thấy một giải pháp nào khác ngoài sự từ chối, ông lại được sự ủng hộ của Tổng thống.

Tuy không chứng tỏ quan điểm một cách rõ ràng, ông Paul Reynaud, người giữ một vai trò chủ yếu trong Chính phủ và ông Marc Jacquet, Tổng trưởng phụ trách những Quốc gia Liên kết, có vẻ ủng hộ cho một chính sách cởi mở hơn. Riêng đối với ông Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tôi không biết quan điểm của ông ta như thế nào.

Chưa bao giờ, trong bất cứ hoàn cảnh nào, một cương lĩnh chính xác được vạch ra, và “chính sách” của chúng ta chỉ là tìm cách né tránh việc thực hiện trao trả độc lập mà ta đã đồng ý về mặt nguyên tắc.

Hậu quả do sự thiếu trách nhiệm của Chính phủ đối với nỗ lực chiến tranh của các Quốc gia Liên kết rất là nặng nề. Nó đã làm cho những nỗ lực này không thể có được, sau này chúng ta sẽ thấy rõ hơn.

Do đó, vì thực thi một giải pháp lai căng giữa việc duy trì chế độ thực dân và giao trả độc lập hoàn toàn, chúng ta đã đánh mất những thuận lợi của chính sách thứ nhất, mà cũng không tận dụng được những ưu điểm của chính sách thứ hai.

Sự thiếu vai trò của Chính phủ trong việc điều hành cuộc chiến tranh đã thể hiện trên mọi lĩnh vực.

Trước hết là sự thiếu phối hợp giữa yêu cầu của đường lối chính trị và yêu cầu chiến lược. Đây là sự thiếu vắng tệ hại nhất.

Nó ngăn cản việc có thể có được một câu trả lời cho câu hỏi của tôi về việc bảo vệ vùng Bắc Lào.

Đứng về quan điểm chính trị, nước Pháp có trách nhiệm phải bảo vệ Quốc gia Liên kết này. Nhưng về mặt quân sự, chúng ta không đủ can đảm để tiến hành những nỗ lực cần thiết. Phải có một sự lựa chọn. Do Chính phủ tỏ ra bất lực, có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ bắt buộc phải chiến đấu trong hoàn cảnh không có đủ phương tiện cần có.

Có khả năng tránh né được vấn đề này. Chúng ta còn nhớ các tham mưu trưởng quân đội đã đề xuất một hành động ngoại giao để ngăn chặn không cho Việt Minh mở cuộc tiến công vào nước Lào. Bộ Ngoại giao sợ rằng một hành động như vậy sẽ tạo ra sự quốc tế hóa cuộc chiến Đông Dương, là một điều không có lợi nên họ chẳng bao giờ nghĩ đến việc xúc tiến thực hiện nó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #37 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:04:10 pm »


Cho đến khi hội nghị Berlin mở ra thì chúng ta mới thấy rõ tính chất nghiêm trọng và hậu quả rất xấu của sự không thống nhất giữa đường lối chính trị và chiến lược quân sự của chúng ta. Trong khi tôi luôn luôn yêu cầu trước khi kết thúc các cuộc hành quân chủ động, được đánh dấu hằng năm bằng sự trở lại của mùa mưa, chúng ta không nên có một động thái nào để tạo thêm khó khăn cho tôi, thì một sáng kiến ngoại giao được quyết định mà không hề có sự tham khảo ông Tổng ủy và tôi, nghĩa là không có một nghiên cứu đầy đủ về những hậu quả mà nó có thể tạo ra cho các cuộc hành quân cũng như bầu không khí chính trị tại địa phương. Quyết định này đã tạo điều kiện mở ra hội nghị Genève, tôi sẽ phân tích những hậu quả tồi tệ ở phần sau.

Tôi có thể kể ra một ví dụ ảnh hưởng kém quan trọng hơn về sự thiếu phối hợp giữa các bộ chức năng ở Pháp, là việc cho phá giá đồng bạc Việt Nam. Đây là một biện pháp lý giải được về mặt đạo đức, tài chính. Nó đã được quyết định mà không có sự cân nhắc về hậu quả, tạo ra một sự khủng hoảng bầu không khí chính trị và kinh tế Đông Dương trong vòng nhiều tháng, cũng tạo ra hệ quả rất xấu trong lĩnh vực quân sự.

Việc phá giá đồng tiền Việt Nam đã được quyết định vào tháng 5 năm 1953, dưới sức ép của dư luận. Mục đích của việc phá giá đồng tiền này là ngăn chặn những vụ “buôn tiền nổi tiếng”, cho phép kiếm lời nhờ vào khoảng chênh lệch giữa tỷ giá chính thức là 17 francs và tỷ giá thực tế là 10 francs. Ngay khi tỷ giá chính thức được đưa trở về 10 francs, thì tỷ giá thực tế lại rơi xuống 6 francs, và việc buôn tiền lại tiếp tục. Các kết quả về mặt tài chính và đạo đức đạt được là một điều có thể tranh cãi.

Nhưng mặt khác, các bất lợi về mặt chính trị và quân sự thực sự là rõ ràng, không thể tranh cãi. Các Quốc gia Liên kết, do không được tham khảo, cảm thấy bị đụng chạm đến sự độc lập của họ. Nền kinh tế của họ chịu một cú sốc rất căng. Họ lấy cớ này để “làm nư” và né tránh mọi nỗ lực. Trên lĩnh vực quân sự, hậu quả của chiến dịch này cũng rất xấu. Nó đã đưa đến việc lập ra một chính sách vô lý về khoản “tiền tiết kiệm” 1, tạo ra một ảnh hưởng rất tồi tệ đối với tinh thần của đội quân Viễn chinh, làm phức tạp thêm công tác quản lý, đến mức độ các chỉ huy đơn vị phải rút các hạ sĩ quan ra khỏi các đơn vị chiến đấu để làm kế toán. Nó cũng tạo ra những khó khăn rất lớn trong việc mua các nhu yếu phẩm cần thiết tại địa phương để chi viện cho quân đội. Nhưng quan trọng hơn nữa, nó là một trong những nguyên nhân chính đưa đến sự căng thẳng nghiêm trọng với Campuchia. Sự căng thẳng này đã kéo dài suốt mùa hè 1953 khiến tôi phải huy động nhiều tiểu đoàn để bảo vệ sự an toàn của người Pháp tại Campuchia, trong khi tôi đang rất thiếu quân.

Việc đặt lĩnh vực tài chính lên hàng đầu một cách có hệ thống để giải quyết các vấn đề và coi nhẹ các mặt quan trọng khác đã tạo ra những hậu quả khác rất đáng tiếc.

Ví dụ, do tính toán bần tiện về tiền nong, Chính phủ Pháp đã yêu cầu người Mỹ trực tiếp thanh toán các khoản đài thọ cho quân đội các Quốc gia Liên kết. Trong một buổi họp nội các hạn chế vào tháng 7 năm 1953 mà tôi được mời tham dự, tôi đã đứng lên phản đối biện pháp này. Tôi cho rằng, sự đóng góp của người Mỹ nhất thiết phải được trao cả gói cho chính phủ Pháp để chúng ta phân phát cho các Quân đội Liên hiệp theo yêu cầu thực tế là rất cần thiết. Bộ trưởng Ngoại giao Bidault chia sẻ cùng quan điểm với tôi. Ông Bộ trưởng Tài chính Edgar Faure cho rằng - theo tôi là một sự sai lầm - ông sẽ nhận thêm được vài tỷ francs khi yêu cầu người Mỹ chuyển trực tiếp sự viện trợ của họ cho quân đội các Quốc gia Liên kết. Ông ta đã thắng thế trong cuộc tranh cãi này. Và cũng từ ngày đó, ảnh hưởng của chúng ta lên Quân đội Liên hiệp sa sút một cách nhanh chóng, rơi vào tay Hoa Kỳ, và chúng ta mất đi phương tiện chính tác động đến họ.

Về mặt tài chính, cuộc chiến tranh Đông Dương được tiến hành trong những điều kiện hoàn toàn bất bình thường mà Bộ Tài chính trước sau nhất định không chịu thay đổi. Chi phí cho lực lượng quân Viễn chinh được giải quyết như những chi phí bình thường của bất cứ một bộ nào khác: dự toán phải được lập ra sáu tháng trước khi bắt đầu một tài khóa mới. Người ta yêu cầu, người chỉ huy tối cao dự kiến từ sáu đến mười tám tháng nhu cầu cho các cuộc hành quân. Đòi hỏi này cũng có nghĩa là người chỉ huy phải biết trước những gì địch quân sẽ làm. Quy trình vô lý như thế không phù hợp với việc chỉ huy có hiệu quả trong chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh Maroc năm 1925, một tài khoản đặc biệt của ngân sách đã được mở để tài trợ cho cuộc chiến. Một cách giải quyết thuận lợi như vậy đã không thể có được cho Đông Dương.
_______________________________________
1. Khoản “tiền tiết kiệm” được thực hiện bằng cách phong tỏa một phần số tiền lương phải trả. Biện pháp thường được dùng trong việc quản lý các trại cải huấn, chưa bao giờ được áp dụng cho binh sĩ. Những người phục vụ trong binh đoàn Viễn chinh xem đây là sự xem thường những quyền lợi chính đáng, vừa là sự xúc phạm đến phẩm cách của họ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #38 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:11:35 pm »


***

Như tôi đã nói ở phần trên, việc phân bổ phương tiện trên các chiến trường hành quân khác nhau là một trong những khía cạnh của việc điều hành chiến tranh.

Việc gửi quân tiếp viện đến những chiến trường ở Đông Dương đòi hỏi Chính phủ Pháp phải có một sự lựa chọn giữa những khía cạnh khác nhau của đường lối quân sự của nước Pháp: cuộc chiến tranh Đông Dương, việc bảo vệ châu Âu, nền an ninh của Bắc Phi và của các thuộc địa. Đã không có một sự lựa chọn nào được đưa ra. Do đó, nước Pháp, vì không chấp nhận những sự cố gắng cần thiết để có được một sức mạnh quân sự ở khắp mọi nơi, cuối cùng không có sức mạnh ở đâu cả.

Tôi xin nhắc lại là, ngay khi nắm quyền chỉ huy, tôi đã yêu cầu phải có một quyết định dứt khoát dưới dạng “một ngõ cụt”, trong vòng hai năm trong việc phòng thủ châu Âu để chuyển một số lực lượng sang Đông Dương. Và tôi cũng đã nói về số phận dành cho sự gợi ý này.

Ở đây tôi xin trình bày một cách rất vắn tắt về vấn đề chi viện.

Vào tháng 7 năm 1953, trong chuyến công tác đến Paris, tôi có đưa các yêu cầu mà tôi nghĩ rằng rất cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch.

Những yêu cầu này đã được Ủy ban các tham mưu trưởng nghiên cứu. Ủy ban đã trình bày những hậu quả xấu tạo ra cho toàn bộ tình hình quân sự nói chung của nước Pháp nếu những yêu cầu của tôi được thỏa mãn.

Trong các buổi họp hạn chế của nội các và của Ủy ban Quốc phòng diễn ra trong tháng 7, những yêu cầu của tôi và ý kiến của các tham mưu trưởng đã được Chính phủ xem xét. Chính phủ đã quyết định: một mặt, tôi phải xem lại yêu cầu của tôi, số quân xin tăng viện phải nhỏ hơn rất nhiều; mặt khác, sự chấp thuận các yêu cầu của tôi - cho dù được hạn chế - sẽ tuỳ thuộc vào sự tài trợ của Mỹ, và những cuộc thương thảo với họ sẽ được xúc tiến1.

Vào cuối tháng 8, sau một cuộc nghiên cứu chặt chẽ, tôi trình bày những yêu cầu có giảm đi chút ít - tôi nói rõ ràng - là sự nhượng bộ cuối cùng của tôi. Những yêu cầu này đã không được Chính phủ chấp thuận; và một quyết định cấp bộ thông báo cho tôi biết điều này, ngày 11 tháng 9.

Tôi không chấp nhận quyết định này. Vào đầu tháng 10 tôi đã trả lời rằng: tôi chỉ có trong tay “một phương tiện được làm bằng giá rẻ” và nói rõ “những cơ hội cho sự thành công đã giảm sút”.

Một buổi họp của Ủy ban Quốc phòng ngày 13 tháng 11 năm 1953, đã bác bỏ sự kêu gọi của tôi. Tôi được thông báo bằng một công văn ký ngày 21 tháng 11, và chỉ đến tay tôi vào ngày 4 tháng 12.

Tôi lại nhấn mạnh một lần nữa trong nhiều bức thư và công điện, tạo ra nhiều sự tranh luận. Nhất là trong một bức điện tín, tôi đã phát biểu với một lập luận gây nhiều phản ứng gay gắt đối với tôi: “Tôi ghi sự từ chối này vào danh sách dài những giải pháp tạm bợ đã áp đặt cho tôi, làm giảm sút sức mạnh chiến đấu của tôi”. Bức điện tín này đã không mang lại một kết quả cụ thể nào.

Tôi đặt lại tất cả các vấn đề về sự chi viện trong một bức thư đề ngày 1 tháng 1 năm 1954, trình bày cho Chính phủ biết tình hình tổng thể, và những lo lắng rất nghiêm trọng mà tình hình nói trên tạo ra cho tôi. Bức thư này đã không được trả lời.

Chỉ vào thời điểm mà chiến dịch Điện Biên Phủ đi vào giai đoạn nghiêm trọng, những nguồn chi viện tôi yêu cầu và đã bị từ khước mới bắt đầu được gửi sang. Chúng đến quá trễ để có thể đóng góp một vai trò nào đó.

Tôi xin bàn đến các vấn đề chi viện đặt ra cho tất cả ba binh chủng như thế nào2.
_______________________________________
1. Những cuộc thương thảo này đã đạt được các kết quả như ý muốn. Hoa Kỳ nhận tài trợ và duy trì toàn bộ tất cả các lực lượng Quân đội Liên hiệp. Ở phần trên, tôi có nói đến những bất lợi của việc hỗ trợ này.
2. Đây là những con số tròn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #39 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:18:09 pm »


Lục quân

Như đã trình bày ở phần trên, tôi phải rút lại suy nghĩ ban đầu là yêu cầu chi viện thêm hai sư đoàn hoàn chỉnh.

Những yêu cầu về sau của tôi lên đến những con số sau đây lẽ tất nhiên là cộng thêm số quân dùng cho việc “bổ sung” bình thường1.

Về các lực lượng nguyên vẹn, tôi được chi viện thêm 8 tiểu đoàn bộ binh, đội pháo binh và tiểu đoàn công binh, nhưng các lực lượng này lại rất thiếu quân số và được rút ra từ những lực lượng dự kiến sẽ bổ sung cho năm 1954. Thực ra đây không phải là một lực lượng chi viện thật sư, mà chỉ là một “sự tạm ứng trước, phải hoàn lại”.

Lực lượng chi viện riêng lẻ là chủ đề không ngớt được tranh cãi; với số quân cuối cùng được chấp nhận, tôi thiếu đến 420 sĩ quan, 2.350 hạ sĩ quan, 2.600 quân Bắc Phi và 800 lính châu Phi. Nếu so sánh với những con số tôi yêu cầu, thì có thể nói rằng tôi không được cấp một sự chi viện nào cả. Kết quả là các đơn vị chiến đấu - nhất là lực lượng bộ binh - lại phải tiếp tục ra trận với quân số rất thiếu, không bao giờ vượt quá quân số lý thuyết từ 50% đến 60%. Chúng ta không thể nào đòi hỏi một quân đội có thể chiến đấu tốt trong những điều kiện như thế.

Trong một báo cáo ngày 26 tháng 11 năm 1953, tôi đã tạo được sự quan tâm của tướng Ely, Tổng tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng và tướng Blanc, Tham mưu trưởng Lục quân về sự thiếu thốn nghiêm trọng khung chỉ huy cho các đơn vị. Nhưng bản báo cáo này cũng không có được cách giải quyết, và thực tế là rất khó có cách giải quyết trong những điều kiện như thế.

Nếu ta thử làm một bản so sánh giữa các khung chỉ huy, một bên là các đơn vị không tham gia chiến đấu (đóng tại Chính quốc, Đức, Bắc Phi, Pháp hải ngoại), còn bên kia là các lực lượng đang chiến đấu tại Đông Dương, ta thấy rằng khung chỉ huy trung bình cho các lực lượng không chiến đấu là: một sĩ quan chỉ huy dưới 20 người và khung chỉ huy cho các lực lượng đang chiến đấu tại Đông Dương thì một sĩ quan phải chỉ huy đến 30 người2. Một sự so sánh với khung hạ sĩ quan cũng cho thấy một kết quả tương tự.

Để đưa khung chỉ huy của lực lượng Pháp Đông Dương lên ngang tầm với khung chỉ huy trung bình của quân đội Pháp, thì phải gửi thêm 3.000 sĩ quan cùng một số lượng rất lớn các hạ sĩ quan. Đây là một việc không thể làm được vì nhịp độ thay quân đã làm cho bộ máy tổ chức của quân đội Pháp trở nên hoàn rối loạn.

Khi chỉ đặt gánh nặng chiến tranh lên vai quân đội đóng tại Đông Dương, nước Pháp đã tự đặt trước cho mình bản án: chỉ tiến hành cuộc chiến ở “mức độ thấp” - tức là thua cuộc chiến tranh này. Giải pháp duy nhất có thể làm được - như Hoa Kỳ đã từng tiến hành tại Triều Tiên - là đưa bộ khung trù bị vào chiến đấu cùng với lực lượng lính quân dịch. Nhưng để làm việc này phải có một sự huy động ở quy mô quốc gia mà không một Chính phủ Pháp nào biết hoặc muốn làm.

Chỉ vào ngày 10 tháng tư năm 1954, tức ngay giữa thời điểm nóng bỏng của chiến dịch Điên Biên Phủ, Chính phủ mới quyết định gửi lực lượng tiếp viện. Tôi đã nhận được lời hứa gửi một vài đơn vị nguyên vẹn3 và một số chi viện riêng lẻ4. Không một đơn vị nào đến kịp để dự vào trận đánh.

Chất lượng binh lính của các lực lượng chi viện và bổ sung là một vấn đề vô cùng tồi tệ.

Chỉ trừ hai trung đoàn đến thẳng từ Đức5, sau vài tuần thích ứng đã tỏ ra rất thiện chiến, chất lượng của những đơn vị tiếp viện còn lại đều rất yếu kém6.

Lực lượng chi viện riêng lẻ cũng tương tự như vậy. Các sĩ quan khung thường là không được chuẩn bị tốt cho chiến tranh và thường không hiểu gì về quân lính mà họ chỉ huy7. Họ không được huấn luyện đầy đủ. Đặc biệt là lính Bắc Phi được đưa vào chiến đấu với một thời hạn phục vụ quá ngắn8. Ta có thể kết luận là Chính quốc và đặc biệt là Bộ Tổng tham mưu đã có nhiều thiếu sót trong chuẩn bị và huấn luyện những đơn vị bộ binh tiếp viện cho chiến trường Đông Dương, là một điều mà ai cũng biết.
___________________________________
1. Người ta gọi lực lượng “bổ sung” là tất cả những lực lượng được Chính quốc cung cấp để thay quân và bổ sung cho những sự thiệt hại.
    Các lực lượng nguyên vẹn (dùng để tăng cường Binh đoàn Tác chiến): 12 tiểu đoàn bộ binh - một đội pháo binh thả dù - một tiểu đoàn công binh.
    Lực lượng chi viện riêng lẻ (nhằm mục đích nâng cấp khung chỉ huy các đơn vị và bổ sung quân số cho các lực lượng chiến đấu): 750 sĩ quan - 2.550 hạ sĩ quan - 2.600 lính Bắc Phi và 800 lính châu Phi.

2. Bài toán này đã được thực hiện trên cơ sở bỏ ra ở cả hai vế của sự so sánh các lực lượng phục vụ. Về phía Chính quốc: bỏ ra các bộ tham mưu với các lực lượng đồng minh, các trường quân sự, những lực lượng đổi ca cho quân đội tại Đông Dương... Về phía quân đội tại Đông Dương: bỏ ra các trường quân sự, khung chỉ huy của các lực lượng bổ sung, những nhóm công tác bên cạnh các Quân đội Liên hiệp...
3. Ba tiểu đoàn nhảy dù, một đội cơ động Algérie và ba chiến đoàn thiết giáp.
4. 130 sĩ quan, 500 hạ sĩ quan, 400 binh lính Pháp, 700 lính Bắc Phi và 800 lính châu Phi.
5. Trung đoàn 5 khinh binh (bộ binh nhẹ) Maroc và trung đoàn 7 khinh binh Algérie.
6. Tiểu đoàn về từ Triều Tiên khi giao cho tôi được cắt làm đôi và cùng với những đơn vị tại địa phương làm thành hai tiểu đoàn. Nó rất vững chắc nhưng toàn lính quá lớn tuổi để có thể thích ứng với một cuộc chiến tranh khó khăn hơn cuộc chiến tranh Triều Tiên rất nhiều. Những đơn vị nguyên vẹn khác đến Đông Dương với một quần số hạn chế và phải được bổ sung bằng binh lính được tuyển tại địa phương.
7. Thường thì trong mỗi tiểu đoàn Bắc Phi chỉ có hai hoặc ba sĩ quan đã phục vụ trong lực lượng khinh binh trước khi đến Đông Dương.
8. Họ chỉ đến phục vụ ở Đông Dương trong thời hạn từ sáu đến tám tuần.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM