Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:43:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đông Dương hấp hối  (Đọc 81787 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #40 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:26:16 pm »


Không quân

Yêu cầu của tôi đặt trọng tâm vào những điểm sau đây:

- Một phi đoàn máy bay vận tải thứ tư1 gồm 25 chiếc máy bay.

- Một sự gia tăng các phương tiện hỏa lực bằng cách, trước hết tăng từ 20 đến 30 máy bay ném bom trong những phi đoàn máy bay ném bom đang có, sau đó thành lập thêm một tập đoàn gồm hoặc các oanh tạc cơ hoặc khu trục oanh tạc cơ2.

- Một số lượng quan trọng các máy bay trực thăng3 để trước hết dùng vào việc di tản thương binh và giao liên, sau đó có thể sử dụng vào công tác chiến đấu.

- Gia tăng số nhân lực cần thiết (phi hành đoàn và thợ máy) để các đơn vị vận tải, ném bom và chiến đấu có thể đạt được hiệu quả tối đa4.

- Một sự triển khai quan trọng cơ sở hạ tầng hàng không ở phía tây dãy Trường Sơn để có thể đối phó với hành động của quân địch tại Lào5.

Sự thỏa mãn hoàn toàn các yêu cầu trên đây sẽ giúp gia tăng lên gần gấp đôi hiệu quả của lực lượng không quân Đông Dương. Nó chỉ yêu cầu nước Pháp đóng một lực lượng tương đối nhỏ về nhân lực, khoảng 4000 người6 và một nỗ lực về tài chính khoảng 6 tỷ (ngân sách dành cho hạ tầng cơ sở đã được đưa vào ngân sách năm 1953). Các phương tiện vật chất là do Mỹ cung cấp.

Kinh phí không được chấp thuận, đến nỗi các cơ sở hạ tầng được xây dựng một cách rất không đầy đủ, do sự chậm trễ trước đó, rất khó kịp hoàn tất để yểm trợ cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Quân số được chấp thuận chi viện đã không lên đến 700 người, thay vì 4.000.

Vì vậy và với sự tranh cãi không dứt giữa không quân Pháp (trong việc cung cấp nhân sự) và không quân Mỹ (trong việc cung cấp trang thiết bị) tình hình đã diễn biến như sau7:

- Phi đoàn vận tải thứ 4 chỉ được sẵn sàng khi chiến dịch Điên Biên Phủ bắt đầu. Đã có một sự thiếu thốn trầm trọng khi chuẩn bị cho chiến dịch.

- Việc tăng viện các phi đoàn máy bay ném bom chỉ được thực hiện khi chiến dịch đã xảy ra.

- Việc thành lập phi đoàn ném bom thứ ba chỉ được hoàn thành vào cuối chiến dịch, nhưng trong các điều kiện như thế thì sự tham gia của nó cũng trở nên vô nghĩa8.

- Quân số cho các đơn vị vận tải, ném bom và khu trục quá ít để có thể tạo điều kiện cho các đơn vị nới trên phát huy công suất tối đa.

Kế hoạch yêu cầu tăng cường máy bay trực thăng của tôi luôn không được quan tâm một cách hết sức nực cười.

Vì vậy, chỉ có một lực lượng không quân hoàn toàn không đầy đủ về mặt khí tài, nhân sự, và cơ sở hạ tầng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Do đó hiệu quả không thể nào cao được.

Sự thiếu thốn về mặt không quân là yếu tố chính cho sự thất bại của chúng ta trong chiến dịch Điên Biên Phủ. Bộ Chỉ huy tối cao không quân có trách nhiệm trong sự thất trận này. Và sẽ không công bằng khi đổ trách nhiệm lên Bộ Chỉ huy không quân tại chiến trường.
_________________________________________
1. Đã có sẵn 3 phi đoàn C.47 (Dakotas) tức là 75 máy bay vận tải. Yêu cầu của tôi là tăng lên cho đủ 100 chiếc.
2. Các phương tiện của không quân và lực lượng không quân trực thuộc hải quân là 48 máy bay ném bom B26 và Privateer; 112 khu trục oanh tạc cơ Hellcat và Beercat, tức là 160 máy bay. Những yêu cầu của tôi nhằm đưa số lượng máy bay lên con số 210.
3. Đầu tiên là 50 chiếc, sau đó là 100 chiếc. Đây là những con số tối đa mà các nhà máy có thể sản xuất được cùng với con số tối đa những phi công và nhân viên bảo trì có thể huấn luyện được. Cho đến năm 1953, không có một nỗ lực nào được thực hiện trên lĩnh vực máy bay trực thăng. Khi tôi đến Đông Dương thì có 19 chiếc đang phục vụ, nhưng chỉ có 4 hay 5 chiếc là bay được. Lục quân và không quân đã đùn đẩy với nhau tại Paris một vấn đề mà họ không quan tâm đến.
4. Các lực lượng không quân thiếu hụt trầm trọng về nhân viên phi hành, các kíp thợ máy bảo trì và sửa chữa cần thiết để các máy bay hoạt động hết công suất. Ít nhất phải tăng cường thêm một phần ba quân số.
5. Cơ sở hạ tầng này hoàn toàn không được quan tâm trong quá khứ. Tất cả mọi nỗ lực đều phải dồn về phần phía đông của dãy Trường Sơn. Việc bảo vệ nước Lào từ đó trở nên vô cùng khó khăn.
6. 180 sĩ quan - 1600 hạ sĩ quan - 1450 binh sĩ và 610 nhân viên dân sự.
7. Người Mỹ từ chối không cung cấp thêm máy bay cho đến khi nào chúng ta vẫn chưa cung cấp đủ nhân sự để đưa công suất máy bay đang phục vụ lên đến mức tối đa.
8. Những thành phần của phi đoàn máy bay ném bom thứ ba này được đưa đến khi chiến dịch Điện Biên Phủ đã xảy ra - trong một sự hỗn độn hoàn toàn. Tiếp theo một phi đoàn thứ tư cũng được đưa đến. Với các nhân viên phi hành đoàn đến từ Pháp và máy bay đến từ Mỹ đã được sử dụng theo cách tốt nhất trong các phi đoàn có mặt tại chỗ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #41 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:29:10 pm »


Hải quân

Các lực lượng chi viện của hải quân có mục đích tăng khả năng vận chuyển, yểm trợ hỏa lực, và nhất là lực lượng không quân trực thuộc hải quân (qua sự ứng chiến thường trực của một tàu sân bay). Nói chung là các yêu cầu này đã được đáp ứng.

Trong ba quân chủng, hải quân đã làm tốt nhất nhiệm vụ của họ - tất nhiên nhiệm vụ này không tốn kém như những quân chủng khác. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ những nỗ lực của hải quân vượt quá những gì chúng tôi mong đợi, nhưng đã quá trễ để có thể có được những kết quả quan trọng.

***

Một trong những nhiệm vụ cơ bản của một chính phủ trong thời kỳ chiến tranh là khôi phục và giữ vững tinh thần quốc gia và quân đội. Không một chính phủ nào từ khi cuộc chiến bắt đầu đã chịu quan tâm đến nhiệm vụ này. Người cầm đầu chính phủ vào thời gian tôi làm Tổng tư lệnh quân đội ở Đông Dương cũng không nghĩ đến vấn đề này.

Ở phần trên tôi đã nhắc đến suy nghĩ này khi nói đến tình hình ở Đông Dương lúc tôi mới nhận nhiệm vụ, cuối tháng 5 năm 1953. Ngay vào tháng 7 năm ấy, đã diễn ra một sự kiện góp phần làm cho tình hình thêm tồi tệ đi: cuộc đình chiến ở Triều Tiên. Việc thông báo cuộc đình chiến này đã khơi dậy ở Pháp hy vọng chính đáng về một nền hoà bình nhanh chóng ở Đông Dương. Nhiệm vụ của Chính phủ rõ ràng là bằng các nỗ lực của mình, làm thế nào biến niềm hy vọng ấy thành sự thật, và cảnh giác dư luận đối với những hy vọng hão huyền. Trong bất cứ tình huống nào, Chính phủ phải có những biện pháp cần thiết để không xảy ra một cuộc khủng hoảng tinh thần.

Và Chính phủ đã không làm gì cả. Không những thế các chính phủ đã để cho một phong trào chống chiến tranh Đông Dương phát triển ngày một công khai từ mùa hè năm 1953, và gia tăng mạnh mẽ đến khi hội nghị Genève diễn ra, và một vài thành viên trong chính phủ còn ra sức đồng ca theo phong trào này.

Có những tổ chức vô trách nhiệm như “Liên minh các Quyền con người”, không ai không biết các khuynh hướng của họ, hoặc “Diễn đàn quốc gia vì hoà bình ở Đông Dương”, tập hợp những kẻ chủ bại chuyên nghiệp. Họ có tất cả mọi cơ hội để kích động dư luận; báo chí thì đầy rẫy các bài làm suy sụp tinh thần quốc gia; có một đảng với nhiều thành viên có mặt trong chính phủ đã biểu quyết chính thức một kiến nghị đòi hòa bình; thật không may đây là những việc không tránh được trong một chế độ dân chủ đang đến hồi thoái hóa mà chúng ta đang phải trải qua.

Nghiêm trọng hơn rất nhiều là có những nhà chính trị có tinh thần trách nhiệm, lãnh đạo của các đảng phái lớn gọi là “quốc gia” hoặc thậm chí thành viên của chính phủ đã dám thuyết giảng công khai ở nơi công cộng về sự vô ích của những nỗ lực chiến tranh và đề nghị thương thuyết với kẻ địch ngay trong thời kỳ cao điểm của cuộc chiến. Những việc này lẽ ra phải được tranh luận tại hai Viện quốc hội trong những Ủy ban Cơ mật. Thế nhưng báo chí từ tháng 7 năm 1953 đến tháng 3 năm 1954 đã có rất nhiều những lời phát biểu mà đáng lẽ tác giả của nó, ở một quốc gia trong tình trạng chiến tranh có thể bị kết án là làm hại đến tinh thần của Quốc gia và Quân đội1, khốn nỗi chúng ta lại không chính thức ở trong tình trạng chiến tranh.

Tháng 10 năm 1953, ông Daladier tuyên bố trước diễn đàn “Tuổi trẻ cấp tiến” ở Vaucluse: “Tôi hoàn toàn ủng hộ việc chấm dứt cuộc Viễn chinh ở Đông Dương, nơi chúng ta không còn bảo vệ quyền lợi của người Pháp”.

Tháng 10 năm 1953, ông Edgar Faure, thành viên chính phủ, trước hội nghị của những doanh nghiệp vừa và nhỏ phát biểu: “Dù có thắng hay bại trận, chúng ta sẽ không ở lại Đông Dương”.

Tháng 11 năm 1953, ông André Monteil - trong tạp chí “Chứng nhân Thiên Chúa giáo” ra ngày 27 tháng 11 năm 1953 - nói: “Chúng ta đánh nhau ở Đông Dương để tìm một con đường rút. Tôi chọn con đường thương thuyết để ở lại”.

Ngày 17 tháng 2 năm 1954, ông Naegelen tuyên bố trước phân bộ đảng Xã hội tại Perpignan: “Cuộc chiến tranh Đông Dương là một cuộc chiến tranh xấu xa, khủng khiếp...” và sau đó: “Chúng ta đóng góp vào đó những chi phí mà tốt hơn là nên dùng vào việc nâng cấp các trường học, xây dựng đường dẫn nước, phát triển tiện nghi trong các làng của chúng ta...”

Đối với tất cả những lời phát biểu này, Việt Minh chỉ giữ im lặng. Báo chí và đài phát thanh của họ chỉ lên tiếng nói rằng: nếu có một sự phấn khởi do cuộc đình chiến ở Triều Tiên, thì đó là “một việc hoàn toàn của Triều Tiên”; và phương cách tốt nhất để buộc nước Pháp đi đến hoà bình là tiêu diệt càng nhiều địch quân càng tốt, “mở rộng cuộc chiến” và “Dân tộc Việt Nam phải dựa trên sức mình, chuẩn bị tinh thần cho một cuộc kháng chiến lâu dài”.
______________________________________
1. Đây là một vài lời tuyên bố (theo báo chí) xuất phát từ những người đều là các nhà chính trị quan trọng và tự xung là “quốc gia”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #42 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:31:29 pm »


Thực tế là phía sau vẻ bề ngoài lạnh lùng như vậy, Việt Minh quan sát rất kỹ các phản ứng của chúng ta. Sau đó, sau một vài lần thăm dò kín đáo và chắc chắn phải có sự tiếp xúc với những người trong chúng ta ủng hộ hòa bình bằng mọi cách, vào ngày 30 tháng 11 năm 1953 Việt Minh đã làm nổ tung “quả bom” bằng những lời tuyên bố mang tính hòa bình của ông Hồ Chí Minh với tờ báo Thụy Điển Expressen. Chắc chắn là họ đã gây được những thiệt hại ở mức cao nhất trong nội bộ chúng ta.

Hoàn toàn bị mất phương hướng, bị chia rẽ trầm trọng, Chính phủ Pháp tỏ ra bất lực trong việc hoạch định chính sách của mình trước một khúc quanh có tính quyết định như vậy của cuộc chiến. Tổng trưởng Bộ Quan hệ với các Quốc gia Liên kết phát biểu quan điểm cho rằng tin mới này có tính “quan trọng toàn cầu”. Cùng ngày hôm đó, một bản thông cáo của Văn phòng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho biết quan điểm này “hoàn toàn không được xem như phù hợp với đường lối của Chính phủ”. Thật không may, đường lối này chưa bao giờ được xác định cả, cho đến thời điểm đó.

Kết quả là, trong dư luận Pháp có một sự rối loạn sâu sắc về mặt tinh thần và một sự gia tăng của phong trào chủ bại, trong khi tại các Quốc gia Liên kết, niềm tin vào nước Pháp cùng với ý chí chiến đấu đã ngày càng suy sụp.

***

Một nhiệm vụ khác của chính phủ một quốc gia trong tình trạng chiến tranh là ngăn chặn các sự phản bội bằng mọi cách - kể những phương cách quyết liệt nhất - để các binh sĩ tham gia chiến trận không bị đâm sau lưng. Đây là một công việc thiêng liêng mà trước cuộc chiến tranh Đông Dương không một chính phủ nào đã phạm sai lầm nghiêm trọng.

Nhưng không may là sự việc đã diễn tiến khác đi ngay từ khi cuộc chiến tranh bắt đầu. Sự phản bội của Đảng Cộng sản (Pháp) và những đảng phái tập họp chung quanh họ đã không bao giờ bị một chính phủ nào ngăn cản.

Sự phản bội này được tiến hành dưới bất cứ một hình thức nào có thể được: tạo ra sự mất tinh thần trong nước, chỉ trích quân đội, kích động binh lính bất tuân lệnh, phá hoại những nhà máy sản xuất1, kho lưu trữ, các phương tiện vận chuyển vũ khí và đạn được, chuyển thông tin cho phía địch.

Vào tháng 8 năm 1952, sự phản bội đó gia tăng đến mức độ ông Pleven, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhân dịp tình cờ phát hiện một tập hồ sơ của ông Jacques Duclos2 chứa đứng một biên bản những cuộc họp bí mật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản, để quyết định mở cuộc điều tra.

Vào tháng 10 năm 1952, Tư pháp quân đội kiến nghị rút bỏ quyền miễn trừ đối với những lãnh tự chính của Đảng Cộng sản.

Sau hơn một năm rưỡi của cái gọi là nghiên cứu vấn đề, với mục đích chính là kéo dài thời gian, Ủy ban đặc trách các vấn đề miễn trừ của Quốc hội đã bác bỏ kiến nghị này.
______________________________________
1. Các hình thức phá hoại dưới đây cùng với một số hình thức khác được ghi nhận và báo cáo lên Chính phủ: bỏ mạt sắt vào bộ phận cầu xe ô tô, bù long vào hộp số, phá hoại bạc đạn, làm giả đồ phụ tùng thay thế, đâm thủng dù nhảy.
2. Tập hồ sơ của Duclos chứa đựng những lệnh sau đây từ các lãnh tụ Cộng sản:
    - Làm thất bại cuộc chiến tranh của quân đội Pháp tại Việt Nam, tại Triều Tiên, lại Tunisie.
    - Cần thiết phải có hành động của đông đảo quần chúng chống lại việc sản xuất, lưu trữ vũ khí và đạn dược.
    - Hỗ trợ, giúp đỡ những ai hành động một cách có hiệu quả chống lại việc vận chuyển và sản xuất thiết bị chiến tranh.
    - Làm tan rã các đoàn quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #43 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:33:48 pm »


Ngày 6 tháng 11 năm 1953, Quốc hội với số phiếu là 302 chống 291, đã từ chối việc rút lại quyền miễn trừ: 200 dân biểu của những đảng phái khác nhau gọi là “quốc gia” đã cùng với các đảng viên Cộng sản1 tuyên bố việc phản bội là hợp pháp khi núp bóng một Đảng Chính trị. Tuy những dân biểu này đã ý thức rất rõ sự nghiêm trọng việc biểu quyết của họ. Một bản tường trình của Hội Cựu chiến binh Đông Dương đã được phân phát cho họ. Chính phủ quyết định không phản ứng trước vở hài kịch này, tạo nên một cú sốc sâu sắc đến tinh thần quân sĩ ở Đông Dương.

Sự việc được gọi là “các sự rò rỉ” càng chứng minh rất rõ sự bất lực của chế độ chống lại sự phản bội.

Về mặt chính thức, tính cách nghiêm trọng của vụ việc đã được làm giảm xuống nấc thang nhẹ nhất, coi đó là đường dây gián điệp bị khám phá trong lòng một cơ chế chính thức - có nghĩa chỉ là một sự việc bình thường và chỉ nghiêm trọng ở chỗ, khi một đường dây bị khám phá qua sự tình cờ vẫn còn rất nhiều đường dây khác tiếp tục hoạt động một cách bình yên. Tất cả những gì đã được phát biểu hoặc làm để chống lại quan điểm này và để phơi bày sự thật đều bị trình bày với công chúng như là “những mưu đồ chống chế độ”.

Vụ kiện kéo dài này vén lên một góc của tấm màn che đậy sự phân hóa của chế độ. Đất nước đã thoáng thấy được sự thật về việc xâm nhập của Chủ nghĩa Cộng sản trong bộ máy chính phủ, các mối quan hệ đáng ngờ ngay trong thời gian chiến tranh của những người làm công tác lãnh sự với những người rõ ràng là điệp viên của đối phương; việc buông lỏng, thói cẩu thả, tệ ba hoa ở cấp cao nhất của nhà nước; sự hoàn toàn thiếu cảnh giác trong những cơ mật hàng đầu, sự “rò rỉ” của những bí mật này cho Việt Minh thông qua những kênh khác nhau dưới sự che chở của thái độ khoan dung thậm chí đồng lõa của những người có chức vụ cao nhất. Đất nước cũng nghe được tiếng nói của người đại diện những cựu chiến binh Đông Dương tuyên bố: “Bây giờ chúng tôi biết rằng quân đội Pháp đang chiến đấu trên lãnh thổ bất cứ nào, cũng có thể bị đâm sau lưng”.

Sự thật khủng khiếp đó đã không được đưa ra ánh sáng vì người ta đã làm mọi cách để che giấu nó. Tất cả các chính phủ kế tiếp biết được sự việc đều tìm mọi cách để giảm nhẹ đến mức tối đa tính cách nghiêm trọng của sự việc và xóa nó đi. Nếu sự thực có “âm mưu chống lại chế độ” chính là ở sự bưng bít này.

Tất cả mọi phương cách đều được sử dụng: sự can thiệp của các bộ trưởng để che chở kẻ sai phạm chính, thay thế các công chức quyết tâm hoàn thành trách nhiệm của họ bằng những người sẵn sàng làm theo mệnh lệnh chính trị, gây sức ép lên Viện Công tố, các thẩm phán và nhân chứng, che giấu tài liệu, và vin vào các lý do không chính đáng để từ chối cung cấp những tài liệu khác - và cuối cùng là loại bỏ thẩm quyền xét xử của Toà án Quân sự về vụ án “rò rỉ tin tức” nghiêm trọng nhất này.

Vụ “rò rỉ tin tức” không được đưa ra xử đã làm cho ông ủy viên chính phủ tuyên bố: “Thủ phạm lớn nhất đã vuột ra khỏi tay các ông rồi”, ông Georges Bidault cũng phát biểu trong lời chứng của mình: “Điều gây sốc cho tôi là những người vắng mặt”. Vụ này đã có những tác động quan trọng và có thể nói là quyết định đối với các sự kiện. Vì vậy, tôi xin bàn đến vấn đề ở đây với một số chi tiết2.

Ngày 30 tháng 7 năm 1953, tuần báo France-Observateur đăng một bài báo ký tên Roger Stéphane có tựa là “Một cuộc chiến đáng nghi ngờ”. Trong bài báo này tác giả phơi bày về cơ bản những gì đã được phát biểu trong buổi họp sáu ngày trước đó tại Ủy ban Quốc phòng ngày 24 tháng 7, về vấn đề bảo vệ nước Lào. Bài báo viết như sau: “Tướng Navarre đã khẳng định nếu các biện pháp này (ám chỉ “kế hoạch Navarre”), được phối hợp với một chiến lược phù hợp, chúng có khả năng tạo điều kiện cho việc bảo vệ một cách hiệu quả vùng châu thổ sông Hồng và tình hình an ninh bên trong (trấn áp những cuộc xâm nhập) vào khoảng tháng 6 năm 1954. Khi một bộ trưởng lưu ý là cuộc chiến tranh không thể chỉ giới hạn ở vùng châu thổ sông Hồng và Nam Bộ, tướng Navarre khẳng định là không thể bảo vệ một cách chắc chắn những vùng khác. Ông nhìn nhận rằng không thể bảo vệ nước Lào chống lại một cuộc tiến công có khả năng xảy ra của đối phương”.

Ngay khi bài báo được đưa cho tôi xem tại Sài Gòn, vào đầu tháng 8, tôi đánh giá đây là một thông tin vô cùng quan trọng đã được cung cấp cho đối phương. Có thông tin quý giá nào với đối phương bằng việc báo chí cung cấp cho họ biết chúng ta đang lo sợ nhất về hoạt động nào của họ? Việc này giống như hướng dẫn cho một tay chơi bài biết nước kẹt của ta ở đâu, hoặc là báo cho kẻ trộm biết mã số của tủ tiền. Phản ứng đầu tiên của tôi là yêu cầu có sự điều tra pháp lý.

Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ tôi thấy làm như vậy lại là cách tốt nhất xác nhận cho Bộ Chỉ huy Việt Minh thấy tính chính xác của thông tin này. Họ đánh giá tầm quan trọng của thông tin tuỳ theo mức họ tin cậy ông Stephane trên tư cách chỉ điểm của họ. Vì không biết gì về tay nhà báo này, không biết mối quan hệ của ông ta với các nhà chính trị hàng đầu, cũng như mọi liên hệ của ông ta với những người chỉ điểm của địch ở Paris, tôi nghĩ là có thể Bộ Chỉ huy đối phương không quan tâm đến những thông tin này do đó không nên chứng tỏ cho họ thấy tầm quan trọng của nguồn thông tin trên bằng việc khởi tố tác giả bài báo.

Bài báo của tờ France-Observateur đóng vai trò như thế nào trong quyết định của Việt Minh tấn công nước Lào? Tôi không thể có được một sự giải đáp chính xác công khai cho câu hỏi này. Cái tôi có thể nói là mọi việc đã diễn tiến như thể Bộ Chỉ huy quân địch biết được các nguồn thông tin rất chính xác, và tôi tin rằng thông tin mà ông Stephane đã tiết lộ có thể được những nguồn tin khác xác nhận thêm - là một trong nhiều yếu tố, nếu không là yếu tố quyết định, để Việt Minh đưa ra quyết định của họ.

Chỉ một năm sau đó, khi vụ “rò rỉ thông tin” được lôi ra ánh sáng, một cuộc điều tra được tiến hành chống lại báo France-Observateur, vì đã có những hành vi sai trái trong nhiều vụ tiết lộ thông tin khác.

Các nhà báo bị điều tra - tác giả bài báo và tổng biên tập tờ báo - đã công khai bảo vệ lập luận là, việc họ tìm hiểu những bí mật quốc gia để thông tin và phổ biến là một việc bình thường. Quan điểm về báo chí như thế trong trường hợp liên hệ đến những bí mật quốc phòng quốc gia phải bị xem như hoạt động gián điệp và có tính chất phản bội. Nhưng, quan điểm này lại được sự đồng tình của hầu hết giới báo chí - kể cả giới báo chí được gọi là quốc gia.

Mặt khác, Chính phủ đã hành động như đã đồng ý quan điểm nói trên của giới báo chí. Chính phủ tìm cách ém vấn đề này và ngăn cản hành động của luật pháp đối với những người có trách nhiệm trong việc làm lộ bí mật quốc gia. Một sự che chở mạnh mẽ như vậy đã giúp cho tờ France-Observateur thoát khỏi vụ án “rò rỉ thông tin bí mật” và chỉ đưa các nhà báo ra trước một cuộc xét xử vô nghĩa, chẳng khác gì một cuộc xét xử “ẩu đả gây thương tích hoặc sử dụng séc không tiền bảo chúng” đúng như cách nói của ông Georges Bidault trong lời chứng trước toà.

Cho dù sự phản bội của Đảng Cộng sản Pháp diễn ra như thế nào, việc họ không bị xử phạt là hoàn toàn xuất phát từ Chính phủ Pháp. Các cơ quan an ninh và toà án đã luôn luôn tìm cách thi hành nhiệm vụ của họ. Nhưng họ đã bị các cơ quan công quyền ngăn cản.
______________________________________
1. Những dân biểu sau đây đã bỏ phiếu chống lại việc bỏ quyền miễn trừ đối với các đại biểu Quốc hội: 100 dân biểu Cộng sản, 105 S.F.I.O, 53 M.R.P., 13 dân biểu xã hội cấp tiến, 9 U.D.S.R., 1 độc lập, 4 R.P.F.
2. Đây là lời khai của tôi tại phiên toà xử vụ “rò rỉ thông tin”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #44 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2010, 08:35:57 pm »


***

Trên đây là sự phác họa một cách khái quát việc điều hành cuộc chiến tranh của Chính phủ. Nó có thể được đúc kết bằng một câu đơn giản: Không làm gì hết.

Không một mục đích nào được vạch ra cho cuộc chiến; không một chính sách nào được đề ra đối với những Quốc gia Liên kết và với đồng minh Hoa Kỳ; không có một sự phối hợp nào giữa những bộ có liên quan đến các vấn đề Đông Dương; tinh thần của quốc gia và quân đội đã bị bỏ trống không được bảo vệ chống lại mọi âm mưu khuynh đảo; quân đội đã không có được những thứ cần thiết, cả về khung chỉ huy, quân số, trang thiết bị; họ đã liên tục bị đâm sau lưng bởi một sự phản bội mà không có một biện pháp nào để ngăn chặn.

Trong những điều kiện như thế, việc quân đội của chúng ta chiến đấu như họ làm được đã là một niềm danh dự mãi mãi cho họ rồi.

***

Đến đây, tôi nghĩ đến câu hỏi đã được rất nhiều người đặt ra đến nỗi tôi không thể không trả lời ngay ở đây. Đó là tại sao đứng trước một tình thế như vậy tôi lại không xin từ chức?

Trước hết tôi xin lưu ý, một câu hỏi như vậy có thể được đặt ra bất cứ lúc nào cho tất cả các vị chỉ huy quân sự đang nắm giữ những trách nhiệm cao nhất1. Sự phân tích bộ máy quân sự của chúng ta, trên thực tế cho thấy là những người có trách nhiệm nghĩ rằng rất khó hy vọng có khả năng hoàn tất được các nhiệm vụ của họ.

Ví dụ, tôi không nghĩ rằng các vị tham mưu trưởng của chúng ta, cho dù ở Bộ Quốc phòng hay ở tại các quân chủng lục quân, hải quân hoặc không quân dám nghĩ quân chủng mà họ phụ trách hoàn toàn có khả năng đối phó với những yêu cầu do Chính phủ đặt ra, khi những yêu cầu khác nhau, mâu thuẫn với nhau, và vượt khỏi khả năng các phương tiện mà họ đang có. Tôi cũng có thể kể ra các trường hợp khác, như trường hợp của vị tư lệnh quân đội chúng ta ở Đức; tôi nghĩ là ông không có ảo tưởng về khả năng chiến đấu trên vùng sông Rhin của quân đội mình ngoài việc phải đánh vì danh dự. Hoặc người chịu trách nhiệm phòng vệ bên trong quốc nội tự đánh giá về khả năng đối phó các lực lượng nhảy dù của đối phương hay những đạo quân thứ năm.

Một cách lôgic, thì tất cả các vị tư lệnh trên đều nên xin từ chức. Tốt nhất là họ nên từ chức đồng loạt vào một ngày nào đó, vì đây là phương cách duy nhất để họ có thể giải thích một cách công khai cho cả nước biết về khả năng quốc phòng quá yếu kém của chúng ta. Nhưng trong khi chờ đợi đến ngày đó thì sẽ không có ích gì khi cá nhân một vị tư lệnh nào đó làm đơn xin từ chức. Kết quả đạt được chỉ là thay thế một vị chỉ huy có cá tính bằng một người dễ dãi hơn, mà người ta cũng sẽ không phải khó khăn để tìm ra2.

Tất cả những vị giữ chức vụ cao trong quân đội đều tìm cách hoàn thành nhiệm vụ của họ trong những điều kiện họ biết rằng rất tồi tệ, họ nỗ lực để thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất với những phương tiện mà họ biết là không đầy đủ.

Vấn đề đối với tôi ở Đông Dương cũng không khác với những gì tôi đã trình bày. Nó chỉ khác ở chỗ là khó khăn phức tạp hơn rất nhiều. Sự thiếu trách nhiệm của Chính phủ có thể tạo ra những hậu quả tức thì cho việc thực hiện các nhiệm vụ của tôi, và cuộc giằng co trong lương tâm tôi căng thẳng hơn rất nhiều, vì truyền thống quân đội ta không cho phép từ bỏ nhiệm vụ khi đang ở trong giai đoạn chiến tranh nóng bỏng.

Có thể tôi xin từ chức được, nếu tôi nhận thấy tình hình sáng sủa hơn trước khi trận đánh quyết định bắt đầu diễn ra.

Nhưng dần dần tôi nhận thấy là những điều kiện tôi đặt ra đã không được thực hiện, những yêu cầu tôi đòi hỏi đã không được thỏa mãn, hoặc là được thỏa mãn một phần rất nhỏ. Cái tôi phải đối đầu không phải là sự từ chối yêu cầu của tôi, mà là sự lần chần muốn né tránh, sự dè dặt giữ ý, sự không trả lời hoặc là trả lời quanh co, những lời hứa không được giữ hoặc giữ một cách chậm trễ. Không phải là tôi đụng phải một bức tường, mà trước mặt là một chiếc chăn lông. Trong hoàn cảnh như thế, lúc nào tôi có thể đập bàn được?

Mặt khác - chúng ta sẽ được thấy rõ ở chương sau - tình hình chiến sự ở Đông Dương cho đến tháng 3 năm 1954 đã diễn biến và cho phép có thể hy vọng bước qua mùa hè, tức là mùa mưa không gặp một thất bại nào đáng kể. Chúng tôi sẽ có một thời gian nghỉ ngơi để tổng kết tình hình và để quyết định tôi có tiếp tục chấp nhận đảm nhiệm công tác nữa không.

Quyết định tổ chức hội nghị Genève, tôi có ám chỉ phần trên, và những hệ quả tồi tệ về quân sự của nó - tôi sẽ chứng minh ở những chương sau - đã bất ngờ làm đảo lộn mọi tính toán của tôi.

Tôi cũng có thể lấy cớ là quyết định này đã được quyết mà tôi không được biết, để xin từ chức và để rời bỏ trách nhiệm một cách chính đáng. Nhưng trước mắt là phải đối phó cuộc tổng tiến công, chúng ta sẽ rõ ở phần sau, đây là một cuộc tổng tiến công Việt Minh phát động khi thấy viễn cảnh hội nghị sắp diễn ra. Một trận đánh căng thẳng và quyết định sẽ nổ ra, không chỉ ở Điện Biên Phủ mà trên cả Đông Dương, và tôi không được phép, cho dù kết quả nó sẽ như thế nào, bỏ rơi việc chỉ huy trước khi cuộc chiến kết thúc.
_________________________________________
1. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến những vị chỉ huy quân sự, nhưng đây cũng gần như là hoàn cảnh của vị đứng đầu các cơ quan dân sự cho dù họ là Công sứ, Thống đốc, Đại sứ, hay Thị trưởng...
2. Sự thật đúng như vậy đã diễn ra vào mùa xuân và đầu mùa hè năm 1956, khi có những sự thay đổi ở Bộ Chỉ huy tối cao và ở Maroc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #45 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2010, 06:12:09 pm »


CHƯƠNG V
NỖ LỰC CHIẾN TRANH Ở ĐÔNG DƯƠNG


Việc chính phủ Pháp lãnh đạo cuộc chiến tranh một cách không triệt để là nguyên do chính của sự thiếu nỗ lực cho cuộc chiến tranh tại Đông Dương. Là người lãnh đạo của liên minh, nước Pháp không thể đòi hỏi các đồng minh đóng góp sự hy sinh trong khi bản thân mình lại không làm gì cả.

Tuy nhiên đối với các Quốc gia Liên kết, mỗi quốc gia đều có các lý do riêng ngăn cản nỗ lực của họ, với những hậu quả mà nước Pháp không thể tránh được.

NỖ LỰC CHIẾN TRANH CỦA CÁC QUỐC GIA LIÊN KẾT


Tại Sài Gòn, tôi và ông Tổng ủy cùng nhau cố gắng soạn ra một học thuyết ở cấp của chúng tôi để tiến hành chiến tranh. Chúng tôi không thể đề ra một học thuyết hoàn chỉnh. Không thể làm gì được hơn khi mà ngay tại Paris không có nền tảng cho học thuyết đó.

Chúng tôi thử đem áp dụng học thuyết này với các chính phủ Quốc gia Liên kết. Kết quả gần như là không được gì: không một quốc gia nào kiên quyết theo đuổi cuộc chiến.

Khó khăn cơ bản là sự chán ghét của tất cả các nhà lãnh đạo chính trị, cho dù đó là người Lào, Campuchia hay Việt Nam, đối với việc áp đặt các nỗ lực chiến tranh lên đất nước họ. Tất cả đều muốn có quyền lợi của sự độc lập, nhưng không muốn nhận trách nhiệm.

Các khó khăn khác xuất phát từ chỗ: lúc ta cần đòi hỏi các Quốc gia Liên kết tăng cường nỗ lực chiến tranh, thì cũng là lúc ta phải thương lượng với họ để áp dụng “Tuyên bố ngày 3 tháng 7”. Việc áp dụng tuyên bố này, theo ý muốn của Chính phủ Pháp, nhằm mục đích ép buộc các nhà lãnh đạo Việt Nam, Lào và Campuchia phải chấp nhận - ít nhất là tạm thời - những hạn chế quan trọng cho nền độc lập của các quốc gia này. Đưa các Quốc gia Liên kết vào cuộc chiến đòi hỏi phải dựa vào các nhà lãnh đạo có khả năng có ảnh hưởng với dân chúng. Thế nhưng, những người có khả năng đó là những người chống lại - ít nhất là một cách chính thức - mọi sự giới hạn đối với nền độc lập. Họ đều từ chối một cách thẳng thừng cộng tác với chúng ta trên cơ sở của tuyên bố ngày 3 tháng 7, dù để đạt đến chiến thắng trong cuộc chiến.

Do đó, những nhà chính trị ta có thể trông cậy lại là những người bị đồng bào của họ khinh thường vì đã cộng tác với chúng ta, bị coi là những kẻ sẵn sàng nhượng bộ chúng ta. Rất nhiều người trong số họ tạo ra nhiều khó khăn khi hợp tác với chúng ta vì họ thiếu lòng tin và có động cơ vụ lợi. Điều này càng làm tăng khả năng không có được ảnh hưởng đối với quần chúng của những người này. Bản thân họ cũng ý thức được tình trạng không có trọng lượng của mình, và để làm ra vẻ có uy tín, họ không có một phương cách gì khác ngoài việc tỏ ra hằn học đối với ta để chứng tỏ tư tưởng độc lập của họ. Kết quả là chúng ta có được một số đối tác không có tầm cỡ và quan hệ với họ đôi lúc rất khó khăn.

Tuy nhiên thái độ của chúng ta đối với ba quốc gia này có những khác biệt nhau.

Người Lào luôn tỏ ra rất nhiệt tình với sự hợp tác. Trong những chính trị gia của họ, một số có ý định chơi bài nước đôi với Việt Minh và với chúng ta, song ảnh hưởng của Hoàng gia đã giúp họ giữ được con đường đi đúng. Nhà vua già Sivavong Vong luôn luôn được thần dân kính mến. Ông càng được họ kính nể thêm nhờ vào sự can đảm của mình khi Luang Prabang bị trực tiếp đe dọa vào tháng 4 năm 1953. Con trai ông, Đông Cung Thái tử Savang, mặc dù vẫn bảo vệ một cách kiên quyết nguyên tắc độc lập của quốc gia mình, nhưng vẫn thừa thông minh và nhạy cảm để nhận ra rằng nước Lào còn lâu mới đạt được một sự phát triển cần thiết để hoàn toàn độc lập trên thực tế. Ông này luôn luôn là một đồng minh trung thực, và đã làm hết sức mình để dẫn dắt dân tộc mình. Nhờ vào ngài Đông Cung Thái tử mà nỗ lực tiến hành chiến tranh của nước Lào được thành thật hơn; nếu tính theo tỉ lệ nguồn tài nguyên của Lào thì nỗ lực chiến tranh của họ cao hơn hẳn các quốc gia khác. Nhưng không may, các phương tiện của nước Lào là yếu kém nhất và chẳng mấy chốc đã lên đến tột đỉnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #46 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2010, 06:16:36 pm »


Tình hình ở Campuchia phức tạp hơn. Ít bị trực tiếp đe dọa bởi Việt Minh như Lào. Là một nước giàu có hơn, Campuchia đã có được một sự yên bình tương đối cho đến đầu năm 1953. Sự yên bình này đôi lúc cũng bị xáo động bởi các cuộc nội loạn, ít nhiều liên hệ đến Việt Minh. Với ảo ảnh không phải đứng trước một mối hiểm nguy nào, có vị trí tương đối xa cách phần còn lại của Đông Dương, có mối quan hệ với nước Xiêm, cùng sự quan tâm của người Mỹ và Anh xem Campuchia như một lá chắn để bảo vệ Miến Điện và Malaysia, tất cả những yếu tố trên đã thúc đẩy Campuchia giữ một thái độ rất độc lập với chúng ta, và họ tìm cách dựa vào những thế lực khác. Vả lại, những “thế lực khác” này rất vui lòng biến Campuchia thành vùng kín để thực hiện những mưu đồ đen tối của Anh, Xiêm và Mỹ, ít nhiều đều chống lại nước Pháp.

Tình tình của ông vua trẻ Sihanouk không thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề khó khan. Có cá tính mạnh mẽ, thông minh, rất thân với nước Pháp và người Pháp, nhưng lại có lập trường hay thay đổi và bốc đồng, ông là người có niềm tin thần bí là được Bề trên giao cho việc dẫn dắt đất nước đi đến một nền độc lập hoàn toàn. Cho dù ông đã thấy rất rõ những mối hiểm nguy, nhưng ông cho rằng trách nhiệm của ông là phải đi đến cùng trong sứ mệnh này, không màng đến những hậu quả nghiêm trọng của đường lối của mình trên lĩnh vực quân sự.

Sự không kiên định trong đường lối chính trị của chúng ta, cộng với một vài sự vụng về đối với nhà vua trẻ, một vài sự vụng về nhỏ nhưng đã đụng chạm đến tự ái của ông ấy dẫn đến một sự căng thẳng ra mặt với ta1, dù rằng chắc chắn đây không phải là tình cảm sâu xa trong đáy lòng của ông đối với nước Pháp. Trong vòng sáu tháng, các mối quan hệ gần như bị cắt đứt giữa ta và Campuchia. Những mối quan hệ này được hàn gắn lại một cách hết sức khó khăn vào cuối năm 1953 và đã có một sự dàn xếp tạm thời, trên phương diện chính trị, quân sự. Thực tế là từ thời điểm đó Campuchia đã gần như là một quốc gia độc lập, luôn luôn đòi hỏi sự giúp đỡ của ta như là một quyền lợi đương nhiên phải có, nhưng lại không bao giờ chịu nghe theo một sự chỉ đạo nào.

Nỗ lực tham gia vào cuộc chiến tranh của Campuchia, dù có những biểu hiện gây ấn tượng2, gần như là không có gì cả. Campuchia trở thành một gánh nặng đối với chúng ta chứ không phải là một nước hỗ trợ cho ta. Một sự xâm nhập quan trọng của Việt Minh đến vùng biên giới sẽ nhanh chóng tạo ra sự sụp đổ hoàn toàn của nó.
______________________________________
1. Ngày 13 tháng 6 năm 1953, Quốc vương Sihanouk bất ngờ bỏ Vương quốc của mình, chạy qua nước Xiêm. Bằng hành động này, ông cực lực phản đối những “sự quanh co” của chính sách Pháp khi khẳng định “sự độc lập của Quốc gia Khơme” lại hành động như chẳng có một nền độc lập nào cả. Ông cho rằng việc phá giá đồng bạc Đông Dương trước đó không lâu thể hiện chính sách nước đôi của Pháp. Do không được nước Xiêm tiếp đón như mong muốn, ông quay trở về Campuchia vài ngày sau, những ông tự lưu đày mình trong vùng Xiêm Riệt, và thông báo chỉ trở về Phnôm Pênh khi nào nền độc lập của Campuchia có hiệu lực. Thái độ này tạo ra một làn sóng chống Pháp, có lúc tưởng chừng như gây ra những cuộc bạo loạn nghiêm trọng.
2. Nhà vua quyết định phát động phong trào “tổng động viên quần chúng” dẫn đến những làn sóng bạo động, chủ yếu nhắm vào nước Pháp hơn là nhắm vào Việt Minh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #47 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2010, 06:17:41 pm »


Những hy vọng thành công của ta hoàn toàn dựa vào nỗ lực chiến tranh của Việt Nam. Nếu không có những nỗ lực này - với mục đích là sự thành lập một quân đội Việt Nam, nếu không lớn thì cũng phải là một quân đội hùng mạnh - thì không thể hy vọng gì có được một giải pháp thuận lợi ở Đông Dương. Nhưng không may là chính ở Việt Nam, vấn đề trở nên khó khăn hơn cả.

Khó khăn xuất phát từ cả phía chúng ta lẫn phía Việt Nam.

Đối với ta, một lần nữa phải nhắc đến sự không nhất quán của đường lối chính trị. Đây là một nguyên do rất tốt để các nhà lãnh đạo Việt Nam từ chối tham gia nỗ lực chiến tranh. Là một nguyên do không hợp lý, vì tuyên bố ngày 3 tháng 7 năm 1953 cùng với phạm vi rộng rãi mà ông Tổng uỷ đã sẵn sàng thực thi, là những nền tảng rất đầy đủ để các nhà chính trị Việt Nam có thể quyết tâm đưa đất nước của họ tham gia vào cuộc chiến.

Tình hình chính trị ở Việt Nam rất phức tạp, hoàn toàn không thuận lợi cho một hành động có hiệu quả.

Đối với người Việt Nam, cuộc chiến tranh này chỉ là một cuộc nội chiến. Đối phương là một người bạn, một người cha, thường là một người anh hoặc em với những mối quan hệ không thể cắt rời được; cho dù kết quả của cuộc chiến này như thế nào, một ngày nào đó họ vẫn gặp lại nhau. Vì vậy, từ suy nghĩ đến hành động không kiên quyết chống lại Việt Minh, chỉ là một bước đi tới rất nhỏ.

Một lý do khác của sự phức tạp là sự thiếu thống nhất trong cả nước. Những sự mâu thuẫn giữa miền Bắc, miền Trung và miền Nam; giữa các sắc tộc và tôn giáo; ý đồ của những phái trong Nam muốn thành lập quốc gia trong một quốc gia - tất cả những việc này đã tạo ra sự không thuận lợi cho nỗ lực chiến tranh.

Và cũng thiếu một tinh thần thật sự quốc gia mà Chính phủ Việt Nam đã không tạo ra được và tinh thần này chỉ có thể được thể hiện, thường xuyên bằng tư tưởng bài người Pháp một cách có hệ thống, nhằm mục đích cạnh tranh với Việt Minh, nhưng lại ảnh hưởng đến nỗ lực chiến tranh. Tư tưởng bài Pháp này lan rộng trong môi trường quân đội. Ví dụ như, một lần tôi đã phải can thiệp để cấm một tờ báo bán công khai, do các sĩ quan chủ biên, lưu hành trong quân đội, đã nói xấu, chửi rủa nước Pháp.

Phải kể thêm nữa là tính người Việt Nam, khi không bị khống chế bởi một quyền lực mạnh, họ sẽ dễ bị lôi cuốn theo, thay vì những tính rất tốt của họ thì lại theo những tính xấu mà còn lớn hơn rất nhiều: thích thủ đoạn, chỉ trích không xây dựng, khuynh hướng vị lợi, ăn hối lộ, tư tưởng nghiêng về suy nghĩ lý thuyết, có tính chất thụ động hơn là làm những việc thực tiễn và hành động.

Muốn đưa nước Việt Nam vào cuộc chiến, phải tìm ra một người đứng đầu. Hoàng đế Bảo Đại được không? Người ta thường nói rằng “kinh nghiệm Bảo Đại” là một sự sai lầm. Tuy nhiên, ngoài Bảo Đại và truyền thống quân chủ ra, người ta không thấy có một người nào một đức tin nào - trừ ông Hồ Chí Minh và ý thức hệ Cộng sản ra - có thể tạo được một sự hợp nhất nào đó, trong một quốc gia mà chỉ có lòng trung thành với vua mới có thể tạo được chất xi măng duy nhất.

Do đó Bảo Đại đã có một vai trò quan trọng. Ông đã không đóng vai đó tuy nếu muốn thì ông có thể làm được - và ông có thể muốn điều này nếu chúng ta tạo cơ hội cho ông. Con người ông có giá trị còn lớn hơn uy tín của ông. Ông đã từng chứng tỏ sự can đảm về mặt thể chất. Sự sâu sắc và tế nhị của trí thông minh của ông đã chinh phục được những người nói chuyện với ông. Sự sáng suốt của ông được thể hiện trong một bức thư ông gửi cho tướng De Gaulle vào năm 1945: “Mỗi làng mạc sẽ là một ổ kháng chiến, mỗi người đã từng công tác với Pháp sẽ là một địch thủ... Phương cách duy nhất để bảo tồn quyền lợi của người Pháp là thẳng thắn công nhận nước Việt Nam độc lập”. Tình cảm cá nhân của ông đối với nước Pháp và mong muốn có quan hệ tốt với chúng ta là điều không thể nghi ngờ được.

Những đức tính này của ông, không may là đã bị làm hỏng đi bởi tu tưởng “chờ thời” một cách có hệ thống, mà người ta thường coi là một thủ đoạn sâu sắc, nhưng đó chỉ là thể hiện của một sự uể oải, sự thiếu kiên quyết, và một niềm tin rất phương Đông, mọi việc sẽ được giải quyết qua thời gian.

Bảo Đại không bao giờ có thể trở thành một Lý Thừa Văn, nhưng ông có thể là một nhà lãnh đạo rất có uy tín, nếu nước Pháp có một chính sách rõ ràng về Việt Nam, kiên quyết, không quanh co, và nhất là nước Pháp được đại diện bởi một nhà chỉ huy quân sự có đủ quyền lực, khả năng tác động mạnh mẽ lên ý chí của Hoàng đế - ví dụ thống chế De Lattre có thể ở lại Đông Dương hai hay ba năm thay vì chỉ một năm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #48 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2010, 06:19:42 pm »


Bên cạnh Hoàng đế, bên phía Quốc gia Việt Nam không có một nhà chính trị nào có tri thức và tư cách cần thiết để lãnh đạo được đất nước.

Thủ tướng đương nhiệm, ông Ngô Đình Diệm, là một người mà nhiều người Việt Nam và một số người Pháp đặt nhiều hy vọng. Ông này có thể đóng một vai trò lớn hơn nếu ông đồng ý sử dụng năng lực đầy nhiệt huyết và ngoan cường của mình để giúp Bảo Đại. Nhưng ông không bao giờ muốn ra khỏi sự dè dặt mang tính hằn học của mình do một sự hiềm khích với vua Bảo Đại, cũng như do một tư tưởng bài Pháp xuất phát từ những mối hận thù cá nhân1. Thêm vào đó là ảnh hưởng của người Mỹ. Sau một chuyến đi lâu dài tại Hoa Kỳ, ông đã trở thành công cụ của họ. Ông không làm gì khác ngoài việc tham mưu cho thân chủ của mình nên dứt khoát chờ thời, vô tình làm lợi cho Việt Minh.

Tất cả những nỗ lực mà vị Tổng ủy và tôi đã làm trong mùa hè năm 1953 để thuyết phục Chính phủ Việt Nam tham gia vào cuộc chiến chỉ nhận được những câu trả lời nhằm mục đích kéo dài thời gian.

Vào tháng 10, để có thể đặt vấn đề một cách rõ ràng, nhân một buổi họp của Ủy ban Quân sự Cao cấp, tôi đã gửi một văn bản trình bày thẳng thắn quan điểm của tôi. Tôi nhấn mạnh đến việc phải tiến hành cuộc chiến tranh một cách đầy quyết tâm, trên lĩnh vực quân sự và cả tâm lý (dựng lên một tinh thần quốc gia có sức cuốn hút), kinh tế và nhất là xã hội2. Tôi đã yêu cầu thực hiện ngay một số biện pháp mà chỉ có Chính Phủ Việt Nam mới chủ động làm được. Gần như không có một việc gì được thực hiện sau đó.

Thật ra bầu không khí chính trị không thuận lợi cho việc thực hiện các biện pháp nói trên. Ngày 15 và 16 tháng 10, Quốc hội Việt Nam họp tại Sài Gòn3. Các quyết định chống đối việc Việt Nam ở lại khối Liên hiệp Pháp - ít nhất là theo tinh thần của bản Hiến pháp - được thông qua và luận điệu của các bản tham luận cho thấy các nhà chính trị Việt Nam không ý thức được các mối hiểm họa chết người đang đè nặng lên đất nước họ. Họ quên rằng họ là người được hưởng lợi chính nếu chiến tranh có một kết cục tốt đẹp và đòi hỏi các sự nhượng bộ của người Pháp phải đi đôi với nỗ lực chiến tranh của họ.
_____________________________________
1. Tư tưởng bài Pháp của ông có vẻ như xuất phát từ một sự bất hòa với đô đốc Decoux, trong thời gian chiến tranh 1940 -1945, đã ra lệnh bắt ông vì hợp tác với người Nhật.
2. Trích trong báo cáo ngày 11 tháng 10 năm 1953 về nỗ lực chiến tranh: “Điều không ai nghi ngờ gì là sức mạnh to lớn của Việt Minh nằm trong niềm tin của họ vào khả năng làm cho quần chúng nhân dân tin tưởng Việt Minh là niềm hy vọng duy nhất về sự bình đẳng và công bằng xã hội. Đây là động lực chính của tinh chiến đấu của bộ đội Việt Minh. Để thúc đẩy người lính quốc gia chiến đấu tốt, phải thuyết phục anh ta rằng về phía chúng ta cũng có khả năng cho một sự giải phóng về mặt xã hội, vì ở đất nước này chính sự giải phóng về mặt xã hội có một khả năng thu hút lôi cuốn quần chúng lớn hơn là sự độc lập về mặt chính trị”.
3. Một tổ chức tương tự như quốc hội lập hiến, nhưng đã giải thể sau vài cuộc tranh luận.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #49 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2010, 06:20:56 pm »


Trong một bức thư đề ngày 18 tháng 10, gửi ông Tổng ủy, tôi đã mạnh mẽ phản đối tư tưởng này và đòi hỏi Chính phủ Pháp phải yêu cầu “một sự tham gia có hiệu quả và toàn diện của các Quốc gia Liên kết vào nỗ lực chiến tranh”. Tôi đã kết luận như sau: “Nỗ lực này phải được thể hiện bằng sự huy động các tài nguyên kinh tế và nhân lực, nghĩa là cần phải có những biện pháp chính trị và xã hội. Những biện pháp xã hội này là một yêu cầu tối quan trọng, vì nếu đông đảo quần chúng không thấy các nhu cầu đơn giản nhất của họ được thỏa mãn, thì chúng ta không thể nào mong đợi sự ủng hộ của họ. Tôi nhận định nếu tất cả những yêu cầu nói trên không được chấp thuận, thì nước Pháp phải chấm dứt những nỗ lực về quân sự của mình ở Đông Dương”.

Không có một cải cách nghiêm túc nào trong cách cư xử của Chính phủ Việt Nam, Chính phủ Pháp cũng không làm gì để ủng hộ các nỗ lực của bản thân tôi. Tôi không ngừng nhắc lại những mệnh lệnh đối với Chính phủ Việt Nam và những lời cảnh cáo đối với Chính phủ Pháp. Ngày 1 tháng 1 năm 1954, trong một bức thư gửi Chính phủ Pháp, một lần nữa tôi đã thông báo cho Chính phủ suy nghĩ bi quan của tôi về khả năng của Chính phủ Việt Nam tham gia cuộc chiến tranh. Nhưng bức thư này không được trả lời. Vào tháng hai, tôi nhấn mạnh vấn đề này với ông Pleven, nhân chuyến viếng thăm Đông Dương của ông. Trong tháng 2, 3 và 4, tôi không ngừng gửi công văn đến Tổng trưởng phụ trách quan hệ với các Quốc gia Liên kết, kêu gọi sự quan tâm đến thái độ tiêu cực ngày càng lớn của các giới thẩm quyền Việt Nam. Phản ứng của Chính phủ Pháp đối với những động thái trên của tôi gần như không có gì. Người ta còn khuyên tôi “không nên làm mất lòng người Việt Nam”. Còn Việt Minh thì không sợ làm mất lòng ai cả!

Chỉ cho đến đầu tháng 4 Chính phủ Pháp mới gửi cho Chính phủ Việt Nam một công văn tương đối cứng rắn, thúc đẩy họ ban hành một số biện pháp tổng thể để tham gia mạnh mẽ vào nỗ lực chiến tranh. Nhưng sau đó cũng không thấy có biện pháp nào tiếp theo và thực ra thì mọi việc đã quá trễ.

Vẽ lại bức tranh về các nỗ lực chiến tranh của người Việt Nam chẳng khác gì đọc một bản luận tội về sự thiếu trách nhiệm.

Không một biện pháp tâm lý đánh với tên gọi của nó được thực hiện để tác động lên dân chính và quân đội. Không hơn gì người pháp, người Việt Nam cũng không hiểu vì sao họ phải chiến đấu. Những sự lơ là, thủ đoạn vụ lợi, hối lộ trong những tầng lớp lãnh đạo đã hoàn toàn đi ngược lại các nỗ lực theo hướng đó.

Trên lĩnh vực xã hội, không một động thái nào được thực hiện. Một trong những người chỉ huy quân đội xuất sắc nhất của Việt Nam viết rằng, đồng bào của ông cần có “một cái gì đó của họ để họ bảo vệ, dù chỉ là vài gốc lúa và một con heo mọi”. Luật đất đai đã được thông qua nhưng không được áp dụng trong thực tế. Không một biện pháp nào tôi yêu cầu được thực hiện. Tôi đã không thể có được chính sách trợ cấp cho gia đình binh sĩ, vô cùng cần thiết trong việc nâng cao tinh thần binh lính.

Trên lĩnh vực kinh tế, mọi việc cũng như y thế. Các tài nguyên cơ bản tiếp tục chạy vào tay Việt Minh, mà không có một biện pháp để làm giảm hoặc ngăn chặn nạn xuất huyết này.

Cuối cùng, trong lĩnh vực quân sự, sự nỗ lực chỉ giới hạn trong việc thành lập quân đội, tôi sẽ nói thêm ở phần sau. Không bao giờ chính phủ suy nghĩ một cách nghiêm túc đến việc vận động sự ủng hộ của cả nước cho quân đội. Tất cả những biện pháp ở cấp chính phủ lẽ ra phải đi đôi với những biện pháp của Bộ Tổng tham mưu quân đội không hề được quan tâm. Không có một cơ chế chiêu mộ binh lính nào được vạch ra. Không có một hành động nghiêm túc nào chống lại những kẻ bất tuân lệnh và đào ngũ. Chế độ quân dịch cưỡng bách cuối cùng được lập ra ngày 7 tháng 6 năm 1953, chỉ là một nguyên tắc. Rất nhiều trường hợp được miễn trừ - thường được trao đổi bằng tiền - đã giúp cho thanh niên con những nhà tư sản khỏi phải đi lính để lê la trên các đường phố Hà Nội, Sài Gòn và cả ở Paris, trong khi quân đội chúng ta chiến đấu cho đất nước họ. Không có một sự kiểm tra dân số nào được tổ chức: sự giúp đỡ cho quân địch không bị trừng phạt, việc trưng dụng nhân công không được bảo đảm. Không có một nỗ lực nào để thống nhất các lực lượng quân đội, đặc biệt là để sáp nhập các đơn vị quân đội của các phe nhóm riêng lẻ ở Nam Bộ1.

Tôi không tự bịt mắt mình trước những khó khăn từ mọi phía mà Chính phủ Việt Nam phải đối mặt. Có thể khi tìm cách khắc phục, họ cũng sẽ khó thành công, vì đã quá trễ để bắt kịp Việt Minh khi họ đã đi trước từ một đến hai năm. Nhưng những người Việt Nam này không có một nỗ lực nào thực sự nghiêm túc.
_____________________________________
1. Các phái ở Nam Bộ Việt Nam (Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên) là những tổ chức vừa có tính cách tôn giáo, chính trị và quân sự, một loại quốc gia trong một quốc gia, đòi hỏi sự tự trị trong lòng nước Việt Nam. Họ gắn với nước Pháp qua những hiệp ước rất xưa và lỗi thời mà ông Tổng ủy và tôi đã yêu cầu nên bãi bỏ để họ có thể gia nhập vào các đơn vị quân Việt Nam. Mặc dù chúng tôi đã cố gắng thuyết phục nhưng họ từ chối việc sáp nhập, và lựa chọn sự chỉ đạo trực tiếp của chúng ta. Vấn đề này trên hết là một vấn đề chính trị, mà chính phủ Việt Nam không bao giờ đề cập một cách thẳng thắn. Họ lựa chọn phương cách đổ lỗi cho chúng ta là đã ngấm ngầm ủng hộ, ngăn cản những nhóm này tập hợp vào hàng ngũ họ, để tự bảo vệ việc thiếu trách nhiệm của họ. Thái độ của những nhóm này sau khi cuộc đình chiến được thực hiện, khi nước Việt Nam được trao trả hoàn toàn độc lập đã chứng tỏ sự không đúng của già thuyết này.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM