Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:55:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đông Dương hấp hối  (Đọc 81761 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #90 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:23:17 pm »


Sự giúp đỡ của Trung Quốc gia tăng với cường độ rất cao. Trang thiết bị, đạn dược bị phát hiện trong vùng biên giới Bắc Bộ được báo cáo. Một số lượng 75.000 dân công chỉ có thể được tập kết ở vùng Thượng du nhờ sự chi viện về lương thực và phương tiện vận tải của Trung Quốc1. Họ đã phục hồi các tuyến đường xe hơi dài khoảng 200 km và đắp nhiều đoạn đường dài gần khoảng 100km2.

Hình như Việt Minh đã tổ chức được một trục giao thông mà xe ô tô có thể chạy suốt tuyến. Trục đường này dài khoảng 350 km, bắt nguồn từ biên giới Trung Quốc ở Lạng Sơn, Cao Bằng, vòng tránh vùng châu thổ qua Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, (nơi quy tụ một con đường chi viện khác từ Lào Cai xuống theo sông Hồng). Sau đó, theo một con đường phần lớn mới được khai phá, nó nối liền với đường số 41 (Hoà Bình - Lai Châu) gần Nà Sản và đến Tuần Giáo, nơi tập trung một căn cứ hậu cần rất lớn để phục vụ Binh đoàn bao vây Điện Biên Phủ.

Hai tuyến dường khác cũng chạy đến cứ điểm này. Một tuyến đến từ Trung Quốc, đi qua Nậm Cúm và Lai Châu. Tuyến này sử dụng một hệ thống những con đường mòn rất xấu hoặc các thủy lộ không tốt lắm với lưu lượng rất thấp3. Nó chỉ có thể chở một lượng gạo phụ thêm. Con đường kia đi từ Thanh Hóa dọc theo thung lũng sông Mã. Con đường thứ hai này cũng không mang lại nhiều hiệu quả.

Không quân của ta được sử dụng tối đa để ngăn chặn việc xây dựng và bảo dưỡng các tuyến đường liên lạc này, đồng thời tiến công các đoàn công-voa di chuyển theo các con đường ấy. Nhưng chúng ta không đạt kết quả nào cả. Những đoạn đường vừa bị cắt, lập tức được sửa chữa ngay. Xe tải, các đoàn xe đạp thồ và dân công chỉ di chuyển vào ban đêm, vào những lúc thời tiết xấu, khi máy bay của ta không thể cất cánh được. Họ cũng ngụy trang rất khéo đến nỗi máy bay quan sát không thể phát hiện được. Các phương tiện không quân phía ta đã tỏ ra không đủ sức để có thể đạt kết quả quan trọng.
________________________________________
1. Người ta nghĩ Việt Minh chỉ có thể huy động được tối đa khoảng 20.000 dân công trên vùng Thượng du vì những khó khăn về mặt lương thực và phương tiện đi lại.
2. Trong các cuộc phỏng vấn tháng 4 và 5 năm 1956 dành cho ông Jean Farran (Paris Match) và ông Merry Bromberger (Paris-Presse), tướng Giáp có trình bày một bức tranh khá hấp dẫn về công tác hậu cần của Việt Minh. Ông cho biết kết quả đạt được là do sự nỗ lực của dân chúng đóng góp cho quân đội. Chúng ta không thể nào không nhìn nhận cố gắng phi thường này và bái phục những hiệu quả mà Bộ Chỉ huy quân đội và Chính phủ Việt Minh đã làm được. Tuy nhiên nếu không có sự chi viện ồ ạt của Trung Quốc thì khó làm được chuyện này.
3. Đúng như ta nhận định, địa thế của Điện Biên Phủ gần biên giới Trung Quốc (80 km) không tạo một sự thuận lợi nào cho Việt Minh. Những chi viện có tính chất quyết định của Trung Quốc không đến từ vùng biên giới sát với căn cứ Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #91 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:23:53 pm »


***

Đứng trước tình hình làm cho tôi rất lo lắng như vậy, tôi yêu cầu sự quan tâm của chính phủ về các mối hiểm nguy đang đè nặng lên Điện Biên Phủ, và tôi cũng nhấn mạnh đến tính chất mới mẻ của cuộc chiến do sự gia tăng mạnh mẽ của viện trợ từ Trung Quốc.

Trong công văn đề ngày 1 tháng 1 năm 1954, tôi đã viết như sau: “Trong trường hợp địch tiến hành tiến công, cơ may thắng lợi của chúng ta là bao nhiêu? Cách đây hai tuần tôi cho thắng lợi là 100%. Đó là trận đánh ta chấp nhận đánh trên địa hình do chúng ta chọn và chống lại một địch thủ được trang bị phương tiện mà chúng ta biết rất rõ cho đến ngày 15 tháng 12. Nhưng khi đứng trước những phương tiện mới mà tin tức tình báo rất nghiêm túc đã cho chúng ta biết, tôi không thể nào đảm bảo một sự thắng lợi chắc chắn. Trước hết đây là “một cuộc chiến tranh không quân” và tôi đã nhấn mạnh: “nếu ta thua trong cuộc chiến tranh không quân này, có nghĩa là địch quân thành công trong việc đưa các phương tiện chiến đấu nặng vào trận, thì tôi không thể nào đảm bảo thắng lợi được. Thế nhưng không lực của chúng ta quá yếu so với nhiệm vụ khổng lồ mà nó phải đảm nhiệm”.

Vì vậy, tôi đã gửi khẩn một yêu cầu chi viện thêm không lực và đưa ra kết luận: “Tôi cho rằng những lực lượng chúng ta tập hợp tại Điện Biên Phủ tạo thành một sức mạnh đủ khả năng và cần thiết để phòng thủ vùng Thượng Lào, đồng thời duy trì sự có mặt của ta ở vùng Thượng du. “Sức mạnh” này có khả năng đem lại cho ta kết quả rất lớn nếu chúng ta thắng trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Nó sẽ mất đi hết, nếu chúng ta thua. Dù sao đi nữa, Điện Biên Phủ cũng đóng vai trò điểm chốt thu hút quân địch và giúp tránh được một cuộc tổng tiến công vào vùng châu thổ”.

Không có một sự phúc đáp nào cho công văn nói trên. Ông Marc Jacquet, Tổng trưởng phụ trách các Quốc gia Liên kết, trong một chuyến công tác sau này tại Đông Dương cho tôi biết công văn đó bị chính phủ đánh giá là “rất bi quan”. Lúc đó, những vị có trách nhiệm còn đang ngây ngất với sự thành công của các cuộc hành quân mùa hè; thậm chí một trong những thành viên quan trọng nhất còn đánh giá nó là một cuốn “tiểu thuyết đen”.

Người phụ tá của tôi là tướng Bodet được cử về Paris để trình bày tình hình trước chính phủ và Bộ Chỉ huy tối cao và chỉ nhận được một sự nhất trí về mặt nguyên tắc cho sự tăng cường một vài phương tiện không quân. Nhưng những phương tiện này chỉ đến được đông Dương trong thời gian cao điểm của chiến dịch Điện Biên Phủ vì phức tạp trong những cuộc thương thuyết với người Mỹ. Đã là quá trễ để chúng có thể đóng được một vai trò hữu ích.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #92 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:26:33 pm »


***

Trong thời gian hai tháng Việt Minh dành ra để chuyển các đơn vị đến trận tuyến và chuẩn bị trận đánh, chúng ta đã hình thành tại Điện Biên Phủ một hệ thống phòng thủ rất mạnh.

Ngày 25 tháng 12, lực lượng cơ động của chúng ta đồn trú tại cứ điểm liên lạc được với các đơn vị đóng tại vùng Thượng Lào, đang tiến về phía vùng Thượng du Nậm U. Tranh thủ cơ hội này, lực lượng ở Lào đã bố trí các nhóm biệt kích, trinh sát trong vùng giữa Điện Biên và Sop Nao.

Về phía họ, Việt Minh chiếm toàn bộ vùng chung quanh Điện Biên Phủ, hình thành một vòng vây gần như liên hoàn với nhau, nhưng chưa tìm cách tiếp cận các lực lượng của ta.

Vào ngày 20 tháng 1, tất cả mọi dấu hiệu về cuộc tấn công được nhận thấy một cách rõ. Cuộc tấn công được dự kiến sẽ xảy ra từ ngày 25 đến ngày 26 hoặc trong đêm kế tiếp. Rất nhiều hoạt động của đối phương diễn ra trong hai ngày 25-26 nhằm đưa các lực lượng pháo binh, đạn dược và các đơn vị bộ binh của họ vào vị trí tác chiến. Một phần những hoạt động này bị pháo binh và không quân của ta ngăn chặn.

Nhưng cuộc tấn công không diễn ra. Nguyên nhân chính là do đối phương chưa tập hợp được đủ phương tiện cần thiết, nhất là đạn dược1. Dù đã đạt được một số lượng rất quan trọng, nhưng sự viện trợ của Trung Quốc vào thời điểm ấy vẫn chưa đủ để tạo điều kiện cho Việt Minh một sức mạnh cần thiết để đập tan một tập đoàn cứ điểm phòng thủ mạnh như Điện Biên Phủ.

Vào cuối tháng giêng, những nguồn tin rất đáng tin cậy cho thấy đối phương quyết định hoãn cuộc tiến công, có thể huỷ bỏ nó, và sẽ mở một cuộc tiến công vào vùng Thượng Lào.

Các nguồn tin trên được xác minh một cách nhanh chóng. Sư đoàn 308 đã rút khỏi vòng vây bao quanh Điện Biên Phủ và với sự yểm trợ của Trung đoàn độc lập 148, tiến về hướng Luang Prabang. Do được báo động kịp thời, lực lượng của chúng ta ở vùng Nậm U Thượng du đã kịp rút, một bộ phận rút về Mường Sài, một bộ phận rút về phía Luang Prabang. Chỉ có một vài đơn vị đi sau của ta bị chặn đánh.
______________________________________
1. Sự hiện diện của một nhóm công tác Trung Quốc, hoặc có thể là một nhóm công tác liên hợp Nga - Trung Quốc được ghi nhận vào thời kỳ này trong các chiến tuyến của Việt Minh. Hình như họ đã khuyên nên huỷ bỏ lệnh tấn công này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #93 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:27:22 pm »


Sư đoàn 308 cố gắng tiến đến Nậm Bạc, nằm giữa Điện Biên Phủ và Luang Prabang. Nhưng do bị không quân và pháo binh ta tấn công dữ dội, nhất là do những khó khăn về mặt hậu cần1 sư đoàn này phải dừng lại.

Trong khi đó, đại tá De Castries cho mở các cuộc tiến công trinh sát mạnh mẽ chung quanh Điện Biên Phủ. Quân ta vấp phải những phòng tuyến vững chắc, được bảo vệ tốt, và phải chịu các sự thiệt hại tương đối nặng. Có vẻ như vòng vây của đối phương gồm hai sư đoàn và sư đoàn nặng không bị hề hấn gì2.

Đến lúc này diễn ra một sự kiện, đã tạo những hậu quả có ảnh hưởng quyết định đến cuộc chiến và khiến cho chiến dịch Điện Biên Phủ có một bước ngoặt hoàn toàn mới: việc thông báo nhóm họp hội nghị Genève (ngày 18 tháng 2).

Ngay vào ngày 23 tháng 2, chúng tôi nhận được tin tức về sự quay trở lại Điện Biên Phủ của sư đoàn 308, vừa gia nhập lại lực lượng bao vây.

Dấu hiệu về một cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ xuất hiện dồn dập. Đối phương bắt đầu pháo kích các vị trí của chúng ta bằng những khẩu pháo đặt cách xa nhau, mỗi lần bắn từ vị trí khác nhau. Sự liên kết của các trận địa pháo trở nên chặt chẽ hơn qua sự chiếm giữ ngày càng nhiều hơn những vị trí trên triền núi phía bắc và đông nam lòng chảo. Đối phương bắt đầu thiết lập vị trí quan sát và đặt pháo phòng không.

Chúng ta được báo cáo về sự xâm nhập ngày càng nhiều của một khối lượng lớn đạn dược và trang thiết bị mới, đặc biệt cả một trung đoàn pháo phòng không (vượt qua biên giới vào cuối tháng 2).

Chúng tôi cũng nhận được tin về sự hình thành của các đoàn tăng viện rút từ kho dự trữ và lực lượng trấn đóng tại vùng châu thổ. Những lực lượng này đang gấp rút tiến về Điện Biên Phủ.

Trên các tuyến đường tiếp tế, xe tải chạy cả ngày lẫn đêm, cho dù họ có bị thiệt hại do lực lượng không quân của chúng ta gây ra. Còn lực lượng này của ta, lúc nào cũng thiếu hụt một cách thảm hại.

Đầu tháng 3, ta nắm được tin cuộc tấn công nhất định sẽ xảy ra vào khoảng ngày 15 và ta còn được biết vào thời điểm đó Việt Minh sẽ mở một cuộc tiến công trên tất cả mọi mặt trận để cầm chân lực lượng trên bộ và trên không của chúng ta (xem chương 6). Những việc phải làm để phòng thủ Điện Biên Phủ được ghi rõ trong chỉ thị ngày 25 tháng 2. Chỉ thị này dự kiến việc tập họp ở Hà Nội một lực lượng trù bị gồm 5 tiểu đoàn nhảy dù, trong đó có 2 tiểu đoàn được rút từ vùng Tây Nguyên, sẵn sàng hỗ trợ cho Điện Biên Phủ.
_________________________________________
1. Cứ điểm Điện Biên Phủ đã chặn ngang con đường đi lại duy nhất. Con đường hậu cần của Việt Minh phải đi vòng lòng chảo Điện Biên, băng qua những con đường rất khó đi cho các đoàn dân công.
2. Việc sơ tán vào lúc đó là không thể làm được, trái với một ý kiến quả quyết như vậy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #94 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:29:08 pm »


VIỆC TỔ CHÚC PHÒNG THỦ

Việc tổ chức phòng thủ cứ điểm Điện Biên Phủ lúc đầu nhằm mục đích hình thành một cụm phòng thủ gồm từ năm đến sáu tiểu đoàn, được sự yểm trợ của một đơn vị pháo binh và các đơn vị bản xứ. Ý tưởng này tương ứng với số liệu của tin tức tình báo ta có được vào tháng 11, theo đó có lẽ chúng ta chỉ phải đối đầu với một sư đoàn Việt Minh (sư 316) được sự hỗ trợ của một hay hai trung đoàn độc lập hoặc được rút từ các sư đoàn khác. Việc bố trí cứ điểm ban đầu được tướng Gilles lập ra trên cơ sở các chỉ thị ông đã nhận được từ tướng Cogny.

Ngay những ngày đầu tháng 12, khái niệm ban đầu về sự phòng thủ đã phải thay đổi dần dần theo sự chuyển quân của đối phương. Thực vậy, trước việc di chuyển về phía Tây - Bắc của các sư đoàn 308, 312, một phần của sư 304 và của sư đoàn nặng 351; cho dù một phần của những đơn vị nói trên tiến về phía Sầm Nưa - cánh đồng Chum, Điện Biên Phủ có thể sẽ bị các đơn vị quan trọng hơn số lượng dự kiến lúc ban đầu tấn công. Do đó việc mở rộng cứ điểm và tăng cường lực lượng đồn trú là một điều rất cần thiết.

Việc bố trí mới được đại tá De Castries vạch ra trên cơ sở hướng dẫn của tướng Cogny và được tôi thông qua với một vài sửa đổi.

Ngay ngày 3 tháng 12, lực lượng đồn trú được ấn định là 9 tiểu đoàn, 2 đơn vị pháo binh. Sau đó, theo yêu cầu liên tục của tướng Cogny, được tăng lên 10, 11 và 12 tiểu đoàn, một thiết đội 10 xe tăng M-24, hai đơn vị pháo 105, một trận địa pháo 155 (chủ yếu dùng để phản pháo) và 4 đại đội súng cối 120 mm.

Sáu máy bay khu trục và máy bay trinh sát được bố trí tại sân bay.

Ngày 13 tháng 3, lực lượng đồn trú có đủ tất cả sự dự trữ được dự kiến: lương thực dự trữ đủ cho 9 ngày, nhiên liệu đủ cho 8 ngày, 6 đơn vị hỏa lực1 cho mỗi tiểu đoàn bộ binh, 6 đơn vị rưỡi cho đơn vị súng 105, 7 cho súng 155, 8 cho súng cối 120, 9 cho súng 75 (gắn trên xe tăng M-24).

Thêm vào đó là 3000 tấn kẽm gai được đưa vào sử dụng (gấp ba lần số lượng bình thường dành cho một tiểu đoàn), cùng với một số lớn vũ khí đặc biệt biệt như: súng phun lửa, mìn, Napalm, phương tiện chống đạn khói, trang thiết bị tia hồng ngoại.
_____________________________________
1. Một đơn vị hỏa lực tương đương về mặt lý thuyết với một lượng đạn sử dụng cho một ngày chiến đấu trung bình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #95 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2010, 10:31:28 pm »


Tướng Cogny ước tính số lượng hàng tiếp tế trong trường hợp bị tấn công lên đến 70 tấn cho một ngày chiến đấu trung bình và 96 tấn cho một ngày chiến đấu ở cường độ cao1.

Vận chuyển khối lượng hàng như vậy, với không quân là một việc bình thường2. Phương tiện tiếp tế bằng đường không được bàn giao cho Bộ Tham mưu ở tại Hà Nội.

Sau những tin tức tình báo nhận được về khối lượng và khả năng sức mạnh của phương tiện chiến tranh mà đối phương đưa vào sử dụng, chúng ta tiến hành tìm hiểu những yêu cầu cần có để chống lại lực lượng pháo mặt đất và phòng không này. Quan điểm chính thức của những vị có thẩm quyền trong binh chủng pháo binh3 là trong điều kiện địa hình tại Điện Biên Phủ cả pháo mặt đất lẫn pháo phòng không của đối phương không thể không bị pháo binh và không quân của ta đánh trả một cách hiệu quả nếu họ tìm cách chiếm lĩnh trận địa, nhất là khi họ bắn vào các vị trí của chúng ta.

Kết luận của bản báo cáo về khả năng pháo binh của đối phương như sau:

“Địch quân khó có thể bắn vào các vị trí của chúng ta giữa ban ngày và vào lúc trời quang đãng. Nó sẽ thu hút sự phản pháo ngay lập tức của không quân, pháo binh ta”.

Còn về hỏa lực phòng không của Việt Minh4, bản báo cáo kết luận như sau: “Địch quân rất khó đưa được những khẩu pháo 37 ly vào tầm của các vòng lượn cất cánh, hạ cánh và thả dù. Dù họ có khắc phục được khó khăn này, chúng ta cùng với việc phản pháo và những biện pháp phòng chống tiêu cực (việc lựa chọn các bãi thả dù, việc rút nhỏ các vòng lượn của máy bay) vẫn có thể đảm bảo việc thả dù tiếp tế, mà không phải chịu những tổn thất quá nặng... Trong điều kiện xấu nhất, việc tiếp tế có thể được tiến hành vào ban đêm... Có nhiều khả năng là việc tiếp tế bằng đường không luôn luôn được đảm bảo”.

Những lập luận quá lý thuyết như vậy đã trở nên hoàn toàn sai lạc do đối phương có và áp dụng các phương án khéo léo và phi thường để ngụy trang, phân tán và bảo vệ lực lượng pháo mặt đất, pháo phòng không của họ, nhất là sự tham chiến của một lực lượng rất lớn pháo phòng không đã ngăn cản có hiệu quả các máy bay quan sát và ném bom của ta.
_____________________________________
1. Sự tính toán này được thực hiện dựa trên kinh nghiệm rút ra ở Nà Sản.
2. Khác với những gì đã được xác nhận, việc Bộ Chỉ huy Không quân phản đối sự áp đặt gánh nặng lên vai quân chủng không quân là không đúng. Họ chỉ có phản ứng khi trách nhiệm trở nên quá nặng do chiều hướng phát triển không lường trước được của trận đánh.
3. Chỉ huy trưởng pháo binh tại cứ điểm, Chỉ huy trưởng pháo binh tại Bắc Bộ, Tư lệnh pháo binh tại Đông Dương và bản thân tướng Cogny là một sĩ quan pháo binh.
4. Việc nghiên cứu về hỏa lực phòng không của đối phương được thực hiện với sự hợp tác của các sĩ quan Mỹ. Họ là những chuyên gia về lĩnh vực này và có kinh nghiệm về loại pháo 37 ly phòng không của Nga được sử dụng trong chiến tranh Triều Tiên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #96 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:11:36 pm »


***

TẬP ĐOÀN CỨ ĐIỂM ĐIỆN BIÊN PHỦ

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tổ chức phòng thủ như sau:

Một cụm trung tâm, bao quanh đường băng sân bay, gồm năm cụm cứ điểm (“Claudine”, “Huguette”, “Anne-Marie”, “Dominique”, “Eliane”).

Cách từ 2 đến 3km về phía bắc và đông bắc là hai cụm cứ điểm (“Gabrielle”, “ Béatrice”) có nhiệm vụ bảo vệ cụm trung tâm từ hướng nguy hiểm nhất và tăng khoảng trời an toàn bên trên sân bay.

Cách 7km về phía nam là một cụm cứ điểm (“Isabelle”) là nơi bố trí các trận địa pháo cần thiết cho việc phòng thủ cụm trung tâm.

Một lực lượng dự bị gồm 3 tiểu đoàn và một chi đoàn xe tăng, được bố trí nằm giữa cụm trung tâm và “Isabelle”.

Hệ thống hàng rào dây thép gai dày từ 50 đến 75m bao quanh mỗi cụm cứ điểm, từng điểm tựa bên trong cụm. Hệ thống dây thép gai còn được dùng để ngăn chặn các hành lang mà đối phương có thể xâm nhập vào. Các chướng ngại vật này còn được củng cố bằng các bãi mìn, bộc phá, Na-palm. Cho đến trước khi cuộc tấn công của Việt Minh diễn ra, Điện Biên Phủ là một hệ thống phòng thủ mạnh nhất, chưa bao giờ có tại Đông Dương.

Không một nhân vật có thẩm quyền nào dù là dân sự hay quân sự, dù là bộ trưởng1 Pháp hay nước ngoài, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp2 hay tướng lãnh Hoa Kỳ3 đến thăm Điện Biên Phủ mà không bị choáng ngợp bởi sức mạnh phòng thủ của nó, và họ đã thể hiện sự hài lòng đối với tôi.

Theo tôi được biết, cho đến trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ xảy ra, không có một sự nghi ngờ nào xuất phát từ bất cứ ai về khả năng phòng ngự của tập đoàn cứ điểm này, và cũng không có một bản báo cáo nào không thuận lợi được chuyển đến cho tôi.

Tôi cần phải trình bày chính xác như vậy, vì có rất nhiều ý kiến được nói và viết không đúng về vấn đề này. Những vấn đề trình bày trên đây chứng minh rằng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Điện Biên Phủ không phải là không thể phòng thủ được, như nhiều người nhận xét sau khi cứ điểm này thất thủ4.
______________________________________
1. Các ngài Bộ trưởng là Pléven, De Chevigné và Marc Jacquet.
2. Các tướng Ely, Tổng tham mưu trưởng; Blanc, Tham mưu trưởng Lục quân; Fay, Tham mưu trưởng Không quân.
3. Tướng O’ Daniel, Trưởng phái bộ Mỹ, sau một chuyến viếng tham Điện Biên Phủ đã đến gặp tôi để thể hiện sự hài lòng của ông về cách tổ chức phòng thủ tập đoàn cứ điểm này.
4. Trong các cuộc phỏng vấn dành cho ông Jean Ferran (báo Paris-Match) và ông Merry Bromberger (Báo Paris-Presse), tháng 4, 5.1956, tướng Giáp đã phát biểu quan điểm của ông về cách bố trí chiến thuật tại Điện Biên Phủ là không có gì không hợp lý cả.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #97 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:12:48 pm »


ĐỐI PHƯƠNG


Vào ngày 13 tháng 3 năm 1954, ngày đầu tiên của cuộc tấn công, lực lượng đối phương như sau:

Lực lượng bao vây có 33 tiểu đoàn chính quy, trong đó có 27 tiểu đoàn đối đầu trực tiếp với cứ điểm, sáu tiểu đoàn khác được bố trí phối hợp với những đơn vị địa phương chặn đánh các hướng ta có thể tiếp viện từ bên ngoài, nhất là từ phía Bắc Lào.

Pháo binh của họ gồm một trung đoàn 75 ly (20 khẩu), một trung đoàn 105 ly (cũng 20 khẩu). Thêm vào đó là một số lượng rất lớn súng cối nặng.

Lực lượng phòng không của họ gồm 4 tiểu đoàn phòng không nhẹ (100 khẩu đại liên 12,7 ly) và tiểu đoàn súng cao xạ hạng trung, 16 khẩu 37 ly. Sự xuất hiện của một trung đoàn cao xạ với 4 tiểu đoàn, trang bị 64 khẩu pháo hiện đại 37 ly của Nga cũng được báo cáo.

Chúng ta cũng nắm được tin tức rất tốt về khả năng tiếp tế đạn dược của Việt Minh. Chưa bao giờ họ có sự chuẩn bị lớn đến như vậy (15.000 quả 105 ly, 5.000 quả 75 ly, 25.000 quả cối, 45.000 đạn 37 ly cho pháo cao xạ). Nhưng số lượng này vẫn chưa đủ cho một cuộc tấn công kéo dài. Vào thời điểm ngày 9 tháng 3, Bộ Tham mưu ở Hà Nội tính toán khả năng của pháo binh Việt Minh là pháo kích với cường độ tối đa từ năm đến bảy giờ liên tục, cho phép mở một cuộc tiến công kéo dài từ 5 đến 6 ngày, bao gồm một cuộc tiến công vào hai hay ba cụm cứ điểm. Nhưng chúng ta cũng biết rằng họ có nguồn chi viện rất quan trọng từ Trung Quốc, có thể làm thay đổi tình hình.

Chung quanh vị trí của chúng ta, đối phương đẩy mạnh việc xây dựng những con đường được ngụy trang tốt, có thể trận chuyển được đạn dược bằng xe bò, trong một vài trường hợp bằng xe ô tô đến những vùng lân cận của các trận địa pháo.

Chúng ta cũng biết rất chắc chắn một số lớn các trận địa pháo mặt đất và pháo phòng không của đối phương đã được chuẩn bị, nhưng việc ngụy trang của Việt Minh tuyệt hảo đến nỗi chỉ có một số ít bị phát hiện trước khi trận đánh bắt đầu.

Họ đã tổ chức tốt việc bảo vệ các trận địa pháo của họ đến nỗi việc phản pháo bằng pháo binh và không quân của chúng ta trở nên vô cùng khó khăn.

Với sự cố vấn của các chuyên gia Trung Quốc, Bộ Chỉ huy Việt Minh đã áp dụng một phương cách sử dụng pháo binh rất khác với phương cách thông thường. Các khẩu pháo được phân tán mỏng. Chúng được tháo rời và đưa vào trận địa bằng cách vác vai, đến các vị trí họ có thể có được tầm quan sát trực tiếp vào mục tiêu. Chúng được đưa vào hầm trú ẩn, từ đó được điều chỉnh bắn thẳng vào mục tiêu qua lỗ châu mai, hoặc từ bên ngoài hầm trú ẩn. Khi chúng ta phản pháo, chúng được khiêng bằng tay trở vào trong. Mỗi khẩu pháo, hoặc mỗi cụm pháo đều được một cụm pháo cao xạ rất mạnh bảo vệ. Sở dĩ họ có thể áp dụng được phương pháp này là vì họ có một nguồn nhân lực đông như kiến, và chính phương pháp này đã làm phá sản mọi sự đánh giá của các chuyên gia pháo binh ta. Đây là điều bất ngờ chính của trận đánh.

Về sự chi viện để bổ sung thiệt hại, đối phương chỉ có được tại chỗ một lực lượng dự phòng gồm 6.000 đến 8.000 người nhưng ta được biết các cánh quân quan trọng khác đang được rút từ kho dự trữ và lực lượng từ vùng châu thổ.

Từ bức tranh trên, ta có thể kết luận là: cho đến thời điểm giữa tháng hai Việt Minh chỉ dự kiến có thể mở được một trận đánh ngắn hạn với một sức mạnh hạn chế vì những lý do hậu cần cùng với sự thiệt hại rất lớn họ đã tính toán trước. Từ thời điểm hội nghị Berlin, họ chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn hơn rất nhiều, và nếu cần thì thời gian có thể kéo dài lâu hơn. Họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh lớn lao và họ phải có được phương tiện rất lớn mà họ chưa nắm được trong tay.

Trên thực tế là phương tiện chiến tranh mới sẽ chỉ lần lượt xuất hiện khi trận đánh diễn ra.

Hỏa lực pháo phòng không gia tăng một cách vô cùng dữ dội với sự vào trận của một trung đoàn pháo cao xạ mới, ta biết được nó đến từ Trung Quốc. Sự tham gia của trung đoàn hiện đại này, được huấn luyện kỹ, với một tỷ lệ khá lớn chuyên gia Trung Quốc có một ảnh hưởng quyết định đến trận đánh. Trong những ngày cuối của trận đánh, chúng tôi còn được báo cáo về việc sử dụng tên lửa đất đối không. Hỏa lực pháo mặt đất được gia tăng với sự tham gia có thể là hai đơn vị 105 ly mới bổ sung và vào giai đoạn cuối là sự vào trận của loại pháo phản lực nhiều nòng, loại những “đàn ống của Staline”.

Về đạn dược thì khối lượng ban đầu được nhân lên gấp đôi vào tháng 3. Tháng 4, một số lượng đạn dược ngày càng lớn được đưa vào sử dụng, chúng ta không thể biết được con số chính xác. Ta chỉ biết số lượng đạn pháo mặt đất và súng cối nặng mà đối phương bắn vượt quá con số 200.000. Cuối cùng, quân chi viện dùng để bổ sung sự thiệt hại là 25.000 người.

Nhờ có sự tham gia của phương tiện chiến tranh ngày càng quan trọng hơn, Việt Minh có thể kéo dài các trận đánh, với cường độ ngày một cao mà lúc đầu họ không thể nào dự kiến được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #98 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:14:31 pm »


TRẬN ĐÁNH



Ở phần này, tôi chỉ trình bày một bản tổng kết khách quan và vô tư về chiến dịch Điện Biên Phủ. Việc mô tả lại trận đánh này với tất cả chi tiết, cảm nhận chính xác, sự hy sinh và đau đớn phải chịu đựng chỉ có thể là việc làm của chiến binh từng sống ở đấy, trên bộ cũng như trên không. Với một dụng ý có sẵn, tôi không nêu danh bất cứ một ai, nhắc đến người này là một sự bất công đối với người khác. Tất cả họ đều đáng được tôn vinh.

Ở đây tôi cũng không giải thích lý do của các quyết định được chọn để điều hành trận đánh. Để cho phần trình bày của tôi được rõ ràng, tôi chọn giải pháp nên đưa sự giải thích ở cuối chương.


***


Trước khi trận đánh diễn ra (ngày 12 tháng 3), chúng tôi có được thông tin tương đối đầy đủ về ý đồ của đối phương.

Chúng tôi được biết là từ ngày 13, các cụm cứ điểm nằm tách rời của ta (“Béatrice”, “Gabrielle”) sẽ lần lượt bị chiếm, và cuộc tấn công nhắm vào cụm trung tâm được tiến hành ngay sau đó. Một số dấu hiệu cho thấy đối phương dự tính đánh chiếm toàn bộ tập đoàn cứ điểm trong vòng từ 5 đến 7 ngày.

Trận đánh đã kéo dài từ ngày 13.3 đến ngày 7.5. Trận đánh có thể chia thành một số giai đoạn như sau:


GIAI ĐOẠN ĐẦU (TỪ NGÀY 13 ĐẾN NGÀY 15 THÁNG 3): đối phương tấn công và tiêu diệt các cụm cứ điểm ở phía bắc và đông bắc.

Trong đêm 13 rạng 14, Việt Minh tấn công mạnh vào “Béatrice” và tìm cách đánh vào “Gabrielle”. “Gabrielle” đã kháng cự được, nhưng “Béatrice” đã thất thủ sau vài giờ chiến đấu. Lý do sụp đổ nhanh chóng của một cụm cứ điểm được tổ chức như vậy và do một tiểu đoàn Lê Dương rất thiện chiến trấn đóng (tiểu đoàn III/13 D.B.L.E) là vì tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó và người chỉ huy khu vực phòng thủ phụ trách nơi đóng quân của họ bị chết ngay trong đợt pháo kích đầu tiên. Đạn pháo xuyên trúng hầm trú ẩn của họ, ngang qua lỗ châu mai quan sát. Từ đó, tiểu đoàn không còn người chỉ huy. Việc phòng thủ như rắn mất đầu: pháo binh phản pháo không được hướng dẫn chính xác và các cuộc phản công không mang lại kết quả.

Đêm hôm sau (ngày 14 rạng 15), “Gabrielle” (do tiểu đoàn V/7 RTA trấn giữ) bị tấn công mạnh. Cuộc tấn công được mở đầu vào lúc 20 giờ. Đến 22 giờ, cuộc tấn công đã hoàn toàn bị ngưng lại vì hỏa lực chính xác của pháo binh và sự phối hợp hỏa lực rất tốt của cụm cứ điểm. Thế nhưng người tiểu đoàn trưởng phải tổ chức lại lực lượng phòng thủ, và phải sử dụng gần hết lực lượng dự bị. Đối phương mở lại cuộc tấn công vào lúc 2 giờ 30. Sử dụng các đơn vị mới, họ đã tràn vào được mặt đông bắc. 4 giờ 30, tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó bị thương nặng. Trường hợp của cụm “Béatrice” được lập lại. Việc phòng thủ mất người chỉ huy và địch quân tràn ngập cứ điểm. Một lực lượng gồm một đại đội rưỡi vẫn bám trụ ở phần phía nam của cụm cứ điểm. Một cuộc phản công của xe tăng được phóng ra vào lúc 5 giờ 30 từ cụm trung tâm. Vào lúc 7 giờ, mũi phản công này đã đến được dốc của phía nam “Gabrielle”, nhưng trước sự chống trả quyết liệt của địch quân, nó đã không tái chiếm lại được phần trung tâm của cụm cứ điểm mà chỉ cứu được tàn quân của lực lượng đồn trú.

Sự sụp đổ của hai cụm cứ điểm vòng bên ngoài đưa đến hậu quả rất nghiêm trọng cho chúng ta: Vỏ bảo vệ phía bắc và đông bắc đã bị bóc, đối phương đã đưa được pháo binh, pháo cao xạ đến gần cụm cứ điểm trung tâm hơn. Chúng ta thiệt hại rất nặng nề, tiêu hao một lượng đạn dược rất quan trọng. Các kho dự trữ giảm nhiều và phải mất thời gian để bổ sung lại.

Về phía đối phương, họ cũng bị thiệt hại tương tự, cũng sử dụng hết rất nhiều đạn dược đến nỗi họ chưa có khả năng tiếp tục cuộc tấn công ngay lập tức.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #99 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:15:43 pm »


GIAI ĐOẠN HAI (TỪ NGÀY 16 ĐẾN NGÀY 30 THÁNG 3): đối phương cho bổ sung để bù đắp thiệt hại của họ và xây dựng một cơ số dự trữ đạn dược. Còn chúng ta cũng cho tổ chức lại và củng cố các lực lượng chiến đấu.

Ngay ngày 14 tháng 3, tướng Cogny yêu cầu tôi giao ngay cho ông quyền điều động 3 tiểu đoàn nhảy dù (trong tổng số 5 tiểu đoàn dự trữ) để tung ra một cuộc phản công tái chiếm các cụm cứ điểm bị mất. Tôi đồng ý ngay lập tức và 2 tiểu đoàn (số 6 BPC, số 5 BPVN) được thả xuống Điện Biên Phủ trong hai ngày 14 - 16 tháng 3. Nhưng không may là đại tá De Castries, do phải bịt kín các lỗ hổng trong tuyến phòng thủ, đã sử dụng hết lực lượng dự bị tại chỗ, và lực lượng tập hợp lại đã không đủ để mở một cuộc phản công mạnh. Các kho dự trữ đạn dược cũng không còn đủ. Hơn nữa thời tiết quá xấu trong vòng ba ngày, cản trở việc sử dụng không quân ở cường độ cao. Sau khi tham khảo đại tá De Castries, tướng Cogny huỷ bỏ cuộc phản công.

Do tình hình dao động trong các tiểu đoàn Thái1 và việc bỏ ngũ của một trong các tiểu đoàn này (tiểu đoàn 3 BT), vào ngày 18 tháng 3, hai điểm tựa bắc của cụm cứ điểm “Anne-Marie”, mặt phía tây bắc của cụm trung tâm phải thu hẹp lại, “Anne-Marie” bị giải thể, hai điểm tựa phía nam được nhập “Huguette”.

Lực lượng trấn đóng ở cụm trung tâm được sắp xếp lại để hình thành một phòng tuyến liên hoàn ở vùng ngoại vi, nhằm mục đích đối phó với các cuộc xâm nhập mà đối phương đang tìm cách tiến hành về phía sân bay.

Liên lạc giữa cụm cứ điểm trung tâm với Isabelle vẫn được thực hiện mỗi ngày nhưng trong những điều kiện càng lúc càng khó khăn vì đối phương tìm cách chiếm giữ đoạn giữa hai bộ phận của tập đoàn cứ điểm. Một cuộc hành quân vào làng bản cách Điện Biên Phủ 2 km về phía tây, nơi đặt hỏa lực phòng không của đối phương, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho Việt Minh và thu về được nhiều súng 12 ly 7.

Trong giai đoạn này, việc thả dù vẫn được tiến hành trong điều kiện bình thường, cho dù có hỏa lực phòng không của đối phương.

Việc di tản thương binh ngày càng khó khăn hơn. Việc này chỉ có thể thực hiện bằng sự hạ cánh bất ngờ của máy bay và trực thăng xuống một sân bay bị pháo kích dữ dội, chúng chỉ đậu được vài phút để gấp rút đưa thương binh lên. Không lâu sau đó, việc hạ cánh vào ban ngày cũng không còn thực hiện được, máy bay phải đáp xuống vào ban đêm trên một đường băng không được chiếu sáng. Chỉ vài ngày sau đó, mặc dù các phi hành đoàn tỏ ra rất can đảm, nhưng chúng ta phải huỷ bỏ hoàn toàn việc di tản thương binh bằng máy bay. Chiếc trực thăng cuối cùng bị bắn rơi lúc cất cánh vào ngày 23.3. Chiếc máy bay cuối cùng di tản 28 thương binh ngày 26 tháng 3.

Trong khi đó, đối phương luôn tìm cách siết chặt vòng vây. Giao thông hào đã xuất hiện chung quanh cứ điểm, nhất là ở phía đông. Các trận địa pháo mặt đất và pháo cao xạ của địch mọc lên trên các vùng cao bao quanh tập đoàn cứ điểm. Cả pháo binh và không quân của ta đều không cách nào làm im được họng súng của họ.
______________________________________
1. Các tiểu đoàn Thái, dù khả năng chiến đấu không được tốt lắm, vẫn được giữ lại tại Điện Biên Phủ để tham gia các hoạt động bên ngoài cứ điểm (trinh sát, tuần tiễu, liên lạc) nhờ vào sự hiểu biết của họ về địa hình vùng đất này. Vào thời điểm chúng ta biết chắc chắn cuộc tấn công sẽ diễn ra, đại tá De Castries đã nhiều lần yêu cầu tướng Cogny thay thế những tiểu đoàn này bằng những tiểu đoàn thiện chiến hơn rút từ vùng châu thổ. Tôi thống nhất với ý kiến thay quân này nhưng cho đến ngày cuộc tấn công diễn ra, nó vẫn không được thực hiện.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM