Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:59:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đông Dương hấp hối  (Đọc 81767 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #100 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:17:12 pm »


GIAI ĐOẠN THỨ BA (TỪ 30 THÁNG 3 ĐẾN 5 THÁNG 4): đối phương tấn công đánh chiếm mặt phía đông của cụm phòng thủ trung tâm, chiếm một điểm tựa quan trọng ở phía tây bắc. Đây là giai đoạn quyết định của trận đánh.

Trong đêm ngày 31 tháng 3, Việt Minh mở một cuộc tiến công dữ dội vào mặt phía đông. Tuyến phòng thủ này sụp đổ. Những trận dữ dội diễn ra từ ngày 31 tháng 3 đến 4 tháng 4. Các lực lượng của chúng ta - trong đó có một số đơn vị qua bảy lần phản công - tái chiếm lại được một phần các vị trí bị mất với sự yểm trợ của không quân và pháo binh. Nhưng không may là hai điểm tựa quan trọng nhất vẫn nằm trong tay đối phương. Nhờ vậy họ có thể đặt pháo binh và pháo cao xạ vào một cự ly cách sân bay và trận địa pháo của chúng ta dưới 1500m, mở đầu cho sự thất thủ hoàn toàn của tập đoàn cứ điểm.

Mặt khác, việc bỏ ngũ một phần của tiểu đoàn Thái (tiểu đoàn 2 B.T.) đã kéo theo một sự tháo lui khỏi tuyến tây bắc, tạo điều kiện cho đối phương áp sát lực lượng pháo binh vào sâu thêm.

Việc thả dù trở nên càng lúc càng khó khăn, và khó khăn lắm mới giữ được các kho đạn của chúng ta ở mức tối thiểu.

Trong những ngày 3 và 4 tháng 4, một tiểu đoàn nhảy dù thứ ba (tiểu đoàn II/1 R.C.P.) đã được thả xuống để thay thế những đơn vị thiệt hại và tăng cường cho lực lượng cố thủ.


GIAI ĐOẠN THỨ TƯ (TỪ NGÀY 5 THÁNG 4 ĐẾN MỘT THÁNG 5): chứng kiến sức ép gia tăng của đối phương, và sự khống chế dần dần của hỏa lực phòng không đối phương vào tập đoàn cứ điểm.

Do cũng phải chịu nhiều thiệt hại hơn dự kiến và thiếu đạn dược, đối phương hoãn lại các cuộc tiến công dữ dội, nhưng cứ mỗi đêm, bằng nỗ lực phi thường, họ đào chiến hào áp sát vào phòng tuyến của chúng ta. Vào ngày 1 tháng 5, hệ thống chiến hào nói trên đã dài tổng cộng gần 400 cây số.

Sự xâm nhập của Việt Minh vào hướng tây bắc khiến việc tiếp tế cho các điểm tựa bảo vệ hướng này không thể tiến hành được. Mỗi ngày, chúng ta tiến hành một cách kiên cường các trận đánh để giải vây, nhưng đối phương lại gặm nhấm dần hệ thống phòng thủ của ta và buộc chúng ta phải thu hẹp đội hình lại.

Pháo phòng không của họ mỗi ngày càng tiến gần chúng ta hơn, làm cho việc thả dù trở nên càng lúc càng nguy hiểm. Pháo binh Việt Minh trực tiếp bắn thẳng vào ta với cự ly ngày càng gần. Các cuộc tấn công quấy rối của họ trở nên liên tục làm mất đi rất nhiều sinh mạng binh lính trong một lần đổi ca, liên lạc, tiếp tế và thu hồi đồ tiếp tế thả dù.

Việc thả dù tiểu đoàn dù thứ tư (tiểu đoàn 2 BEP) vào ngày 11 - 12.3 tạo điều kiện chiếm lại một điểm tựa ở mặt phía đông, nhờ vào một cuộc phản công diễn ra với nỗ lực hết sức phi thường.

Mặc dù do hoạt động mạnh mẽ của hệ thống phòng không Việt Minh và sự co cụm lại của cứ điểm, những số lượng hàng tiếp tế được thả dù đã lên đến trung bình 100 tấn mỗi ngày cùng với sự thả dù các toán quân không thuộc binh chủng dù (lính pháo binh và đặc biệt là nhân viên kỹ thuật).

Trong thời kỳ này, tình hình thương binh trở nên vô cùng nghiêm trọng, số thương binh vượt xa khả năng cứu chữa, mặc dù trước đó số lượng này được dự trù với một con số dự phòng rất lớn1 và sau đó được tăng thêm một cách tối đa. Chúng ta phải chịu đựng khó khăn rất lớn từ dự kiến không chuẩn xác này.

Trong những ngày cuối tháng tư, mưa đã biến chiến hào của ta thành các vũng bùn, làm sập một số hầm trú ẩn và làm tê liệt hoạt động của ta.
____________________________________
1. Khả năng cứu chữa thương binh của Điện Biên Phủ được tính toán trên cơ sở số liệu ở Nà Sản (có cùng một quân số là 12.000 người), nhân lên gấp 3,5 lần. Từ ngày 13 tháng 3 đến 7 tháng 5, 3.000 thương binh đã được chuyển cho các đội phẫu thuật. Đã có 1.000 trường hợp giải phẫu. Tỷ lệ bệnh binh chết trong các khu điều trị của cứ điểm là 12 %. Số người chết cho đến ngày 7 tháng 5 là khoảng 1500 người, rất nhiều thương binh đã chết sau đó khi bị bắt làm tù binh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #101 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:19:04 pm »


GIAI ĐOẠN THỨ NĂM là cuộc tổng tấn công trên tất cả các phòng tuyến và sự thất thủ của tập đoàn cứ điểm.

Các đường hào song song để làm bàn đạp xuất kích của đối phương áp sát phòng tuyến của ta. Các đơn vị của họ được bổ sung và có chi viện quan trọng để bù vào thiệt hại. Kho đạn dược của họ được tổ chức lại. Đối đầu với những đơn vị Việt Minh chỉ là những đơn vị bị suy yếu, hoàn toàn đuối sức về mặt thể chất. Pháo binh của ta một phần đã bị tiêu diệt và khả năng tiếp tế đạn rất hạn chế.

Ngày 1 tháng 5, Bộ Chỉ huy Việt Minh tung ra một cuộc tổng tấn công. Sau những trận đánh kéo dài suốt ngày, tất cả vùng ngoại vi của cụm trung tâm bị tràn ngập. Các cuộc phản công chỉ có thể chiếm lại một số vị trí nhỏ.

Bị đặt vào một tình thế phải lựa chọn, hoặc nhìn thấy trận đánh chấm dứt vì thiếu lương thực, hoặc kéo dài thêm vài ngày nhờ vào quân tiếp viện, theo yêu cầu của tướng Cogny tôi quyết định thả thêm từ ngày 2 tháng 5 một tiểu đoàn thứ năm (tiểu đoàn 1 BPC). Nhưng vì khó khăn càng lúc càng gia tăng - do sự thu hẹp các bãi đáp, chỉ phân nửa tiểu đoàn được thả xuống.

Một sự yên tĩnh tương đối đã diễn ra từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 5 và trong đêm 6 rạng ngày 7 tháng 5, toàn bộ tập đoàn cứ điểm bị tấn công khốc liệt ở khắp vòng chu vi. Những quả đấm chính được dồn về mặt phía đông. Cùng lúc, pháo được bắn với cường độ khủng khiếp vào “Isabelle”, nơi pháo binh ta gần như đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Vào rạng sáng, tình hình trở nên tuyệt vọng, các cuộc tấn công không suy giảm chút nào. Chúng được nối tiếp nhau liên tục cho đến phút cuối cùng. Cụm trung tâm của Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 khoảng giữa 17 giờ và 19 gìờ. Không có sự đầu hàng cùng một lúc, nhưng các trận đánh đã dừng lại dần dần theo sự thất thủ của từng điểm tựa.

Lực lượng đồn trú tại “Isabelle” tìm cách mở đường máu khi màn đêm buông xuống1 nhưng thất bại. Việc liên lạc vô tuyến với lực lượng này chấm dứt vào lúc 2 giờ sáng ngày 8 tháng 5.


***


Chúng ta bị thiệt hại khoảng 16.000 người, trong đó có 1500 người chết, 4.000 người bị thương. Đó là quân số của 16 tiểu đoàn (có 7 tiểu đoàn nhảy dù), hai đơn vị pháo 105 ly cộng với một khẩu đội 155 ly, một phân đội xe tăng và các phân đội thuộc các binh chủng và đơn vị phục vụ khác2.

Rất khó xác định chính xác sự thiệt hại của đối phương. Một cuộc nghiên cứu chi tiết cho thấy ít nhất 20.000 người đã bị loại ra khỏi vòng chiến, trong đó có khoảng từ 8.000 đến 10.000 người chết. Những tin tức sau này cho phép ước tính từ 10.000 đến 12.000 người chết. Đó là những con số gần đúng với thực tế hơn, có khả năng cao hơn.

Về mặt số lượng, thiệt hại của Việt Minh cao hơn chúng ta rất nhiều. Về chất lượng quân lính thì thiệt hại của họ cũng không thua gì chúng ta. Nếu ta mất những đơn vị thiện chiến (lính Lê dương, Bắc Phi và nhảy dù) thì họ cũng bị mất một phần lớn các sư đoàn tinh nhuệ nhất (308-312) cùng những cán bộ tốt nhất.
_______________________________________
1. Cuộc hành quân “Albatross” (xem phần sau).
2. Tính theo tỷ lệ của tất cả quân số hiện diện tại Đông Dương, thì chúng ta thiệt hại thấp hơn 5%.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #102 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:23:00 pm »


HOẠT ĐỘNG KHÔNG QUÂN



Từ đầu tháng 11 năm 1953, hoạt động không quân đã nhắm đến mục đích chi viện cho Điện Biên Phủ. Nó được thực hiện với một cường độ gia tăng cho đến khi tập đoàn cứ điểm này sụp đổ. Nó còn được kéo dài cho đến đầu tháng 6 với nhiệm vụ chính là ngăn chặn Binh đoàn Tác chiến Việt Minh quay trở lại vùng châu thổ. Cùng lúc với việc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, không quân phải tham gia những trận đánh trên các chiến tuyến khác: vùng châu thổ, Thượng, Trung, Hạ Lào, Tây Nguyên, vùng “Atlante”, Nam Bộ, Campuchia. Tuy nhiên từ tháng 11 đến tháng 5, không quân đã dành ưu tiên số một cho những hoạt động tại Điện Biên Phủ, ngoại trừ một giai đoạn ngắn khi vùng Thượng Lào bị uy hiếp do sự tiến quân của sư đoàn 308.


***


Phương tiện của lực lượng không quân tại Đông Dương như sau:

- Lực lượng vận tải vào giai đoạn đầu có 75 chiếc C.47 (Dakota), sau đó được tăng lên 100 chiếc từ ngày 1 tháng 2. Cùng với máy bay quân sự, còn có thêm 16 chiếc máy bay dân sự C.119 (Packets) do phi công thuộc đoàn “Cọp bay” của tướng Chenault1 điều khiển, cùng với nhiều máy bay dân sự đủ loại rút từ các đường bay nội địa tại Đông Dương cung ứng2.
- Lực lượng máy bay ném bom 3, vào lúc đầu có 48 chiếc B-26, 8 chiếc Privateers và 112 chiếc khu trục ném bom Hellcats, Beercats và Corsairs. Tất cả là 156 chiếc. Số lượng này tăng lên khi trận đánh diễn ra. Con số cuối cùng là 227 chiếc.

Từ những con số trên đây, ta phải loại ra những thiệt hại đủ loại gây ra trong các trận đánh đối với các lực lượng không quân ở Đông Dương (11 máy bay vận tải và 54 máy bay ném bom): Con số cuối cùng còn lại là 90 máy bay vận tải và 175 máy bay ném bom.

Gần như tất cả máy bay vận tải quân sự và máy bay “Packets” của Mỹ4 đều được sử dụng tại Điện Biên Phủ.

Việc vận chuyển đến các mặt trận khác được dành riêng cho máy bay dân sự5.

Còn về máy bay ném bom, hơn hai phần ba lực lượng này được đặt thường trực dưới quyền điều động của tướng Dechaux, phụ trách việc chi viện không quân cho Điện Biên Phủ. Một phần ba số máy bay được dùng để yểm trợ cho các mặt trận còn lại, gồm một phần lớn máy bay do đặc điểm hoặc điều kiện kỹ thuật của chúng, không cho phép được sử dụng tại chiến trường Điện Biên Phủ. Tuy vậy, bản tổng kết cho thấy do có một số máy bay phải được bảo trì6, nên số máy bay ném bom hằng ngày tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ không bao giờ vượt quá con số 75 đến 80 máy bay ném bom. Hơn nữa chúng không phát huy hết công suất tối đa do thiếu nhân viên phi hành đoàn và nhân viên bảo trì.
_______________________________________
1. Một bản hợp đồng có tính chất tư nhân đã được ký với ông ta.
2. Việc sử dụng máy bay dân sự để bổ sung vào việc thiếu máy bay quân sự là một việc làm thường xuyên ở Đông Dương trong lĩnh vực vận tải và liên lạc.
3. Lực lượng này gồm cả máy bay của không quân và hải quân Pháp.
4. Các máy bay vận tải tư nhân Mỹ gần như ngưng hẳn hoạt động của họ khi hỏa lực phòng không của đối phương trở nên quá mạnh. Việc này hoàn toàn phù hợp với điều kiện ghi trong hợp đồng, nhưng thường là những phi công này đã dũng cảm bất chấp các quy đinh ghi trong hợp đồng để bay chỉ viện cho cứ điểm.
5. Do có nhiều nguy hiểm nên không thể can thiệp vào Điện Biên Phủ được.
6. Một tỷ lệ bắt buộc rất cao, vì tính khó khăn của các chuyến bay, thiệt hại do pháo phòng không gây ra và việc thiếu nhân viên bảo trì.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #103 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:28:05 pm »


***

Nhiều sự câu thúc khác đã làm giảm sút hiệu quả của các lực lượng không quân hơn nữa.

Chỉ có các sân bay trong vùng châu thổ mới được trang bị một cách thích hợp. Do đó chỉ có chúng mới có thể làm căn cứ cho lực lượng không quân của ta hoạt động, ngoại trừ một vài chiếc được đặc cách bố trí tại các sân bay rất xấu ở vùng Vien Tiane và cánh đồng Chum. Thế nhưng sân bay ở vùng châu thổ lại không được chuẩn bị tốt để có thể chi viện cho Điện Biên Phủ những hoạt động không quân ở cường độ cao như những gì chúng ta phải tiến hành1.

Địa hình trên đường bay từ vùng châu thổ lên đến Điện Biên là địa hình cao và hỗn độn, buộc phi công phải bay ở tầm cao.

Thời tiết thường không được thuận lợi. Mưa phùn ở vùng châu thổ vào một số thời kỳ trong năm đã làm cho các chuyến bay đi và về trở nên khó khăn. Những đám mây nguy hiểm thường xuất hiện trên đường bay. Thỉnh thoảng một loại sương mù khô2 bao phủ lòng chảo Điện Biên Phủ. Hệ thống thông tin liên lạc không tốt của ta làm tăng thêm khó khăn.

Thế nhưng trở ngại chủ yếu phải vượt qua là khoảng cách. Khoảng cách này là 350 cây số. Nó có thể chấp nhận cho các trận đánh ngắn, và khi ta chiến đấu với một đối phương không được trang bị vũ khí phòng không hiện đại. Nhưng khoảng cách này là quá lớn đối với một trận đánh kéo dài, chống lại các mục tiêu được các hệ thống phòng không hữu hiệu bảo vệ.

Ngoài khó khăn về mặt kỹ thuật còn khó khăn về mặt chiến thuật do diễn biến của trận đánh trên bộ.

Sự có mặt của một hệ thống phòng không hiệu quả trong lòng chảo Điện Biên Phủ và vùng chung quanh nó buộc phi công chúng ta phải vượt qua các hàng rào phòng không với mật độ dày đặc giống như mạng lưới phòng không dày đặc bảo vệ các khu vực nhạy cảm nhất tại chiến trường châu Âu vào cuối cuộc chiến 1939-1945.

Cứ điểm thu hẹp làm cho việc chi viện đường không ở cự ly ngắn trở nên khó khăn hơn.

Cuối cùng khoa học ngụy trang và khả năng phân tán mỏng lực lượng, khả năng thích ứng của Việt Minh, sự khéo léo trong việc phục hồi nhanh chóng những trục lộ bị đánh phá làm cho nhiệm vụ của các lực lượng không quân của chúng ta trở nên vô cùng phức tạp.
 
Vì vậy, do thiếu phương tiện cùng khó khăn khi tác chiến, không quân đã không đóng được vai trò quyết định trong bất cứ giai đoạn nào của trận đánh.
________________________________________
1. Tôi đã nói đến ở phần trước tại sao các cơ sở hạ tầng ở phía tây dãy Trường Sơn không được phát triển đầy đủ.
2. Hiện tượng do thời tiết nóng, thường xảy ra ở vùng núi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #104 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:28:54 pm »


***

Cuộc tấn công vào hệ thống đường giao thông, từ đầu đến cuối trận đánh mang lại kết quả vô cùng thất vọng vì Việt Minh tổ chức tốt việc phục hồi đường xá bị cắt đứt và sửa chữa nhanh chóng những đoạn đường vừa bị tấn công. Chúng ta đã không thể ngăn được Binh đoàn Tác chiến của Việt Minh triển khai chung quanh Điện Biên Phủ. Tất cả những gì ta có thể làm được là làm chậm đi mà thôi. Chúng ta cũng không ngăn chặn được sự gia tăng một cách đều đặn khả năng chi viện của họ. Sự yếu kém về phương tiện của ta là nguyên do chính của thất bại này.

Việc chi viện hỏa lực cho lực lượng trên bộ cũng chỉ đạt được kết quả rất hạn chế.

Nguyên nhân chính là sự hoàn thiện của khả năng ngụy trang và bảo vệ của các đơn vị Việt Minh. Nhất là khẩu pháo, mục tiêu chủ yếu của lực lượng không quân, được che giấu sâu dưới các lớp bảo vệ rất dày, chỉ dỡ bỏ khi đang tác xạ, và chỉ có thể bị chế ngự bằng những quả bom to nhất đánh trúng trực tiếp1. Vì vậy, chúng ta không phá huỷ hoặc vô hiệu hóa được nó.

Hơn nữa để thực hiện nhiệm vụ chủ lực của mình là thả dù tiếp tế, không quân phải ưu tiên sử dụng hỏa lực của máy bay để bảo vệ máy bay vận tải chống hỏa lực phòng không dày đặc và đầy nguy hiểm2.
________________________________________
1. Việc sử dụng bom Napalm được thử nghiệm một cách rộng rãi tùy theo khả năng cho phép của các phương tiện, nhưng chúng chỉ đạt được kết quả rất hạn chế vì sự rậm rạp của cây cối.
2. Việc bảo vệ máy bay vận tải được thực hiện bằng cách vừa tấn công một cách có hệ thống các khẩu đội cao xạ 37 ly, vừa hộ tống các máy bay vận tải nói trên ở cự ly gần, bằng sự vô hiệu hóa tạm thời hỏa lực tự động của Việt Minh (12,71y và 7,51y) được bố trí rất nhiều chung quanh các bãi thả dù.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #105 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:30:07 pm »


Nhiệm vụ trinh sát và quan sát cũng có kết quả rất hạn chế do địa hình phức tạp, cây cối rậm rạp, điều kiện thời tiết, sự ngụy trang và nhất là hỏa lực phòng không dữ dội của đối phương.

Tuy nhiên chúng cũng đã cung cấp nhiều tin tức về hoạt động, việc bố trí các lực lượng của đối phương bao quanh cứ điểm. Chúng cũng cung cấp được những hình ảnh quan trọng (các trận địa pháo, hầm chiến đấu...) vô cùng cần thiết.

Nhưng không may là chúng đã không làm tốt vai trò chủ yếu là hướng dẫn hỏa lực của pháo binh và không quân.

Lực lượng vận tải đóng một vai trò chủ lực bằng cách đưa đến cứ điểm sự chi viện và đồ tiếp tế cần thiết. Số lượng hàng hóa hằng ngày mà máy bay vận tải mang đến tăng lên gấp đôi so với số lượng lúc ban đầu.

Lực lượng này đã hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện đặc biệt hết sức khó khăn. Một chuyến bay thả dù xuống Điện Biên Phủ như sau: sau một chặng hành trình vô số khó khăn (địa hình, thời tiết, thường là trong đêm tối), phi công phải “lượn một vòng chờ đợi, bay vào khu vực được hướng dẫn trước, theo một đường bay cố định, theo hướng không thay đổi, lượn vòng bắt buộc, ở một độ cao nhất định1”; có nghĩa là “bốn lần phải xuất hiện2 trước họng hỏa lực phòng không3 đối phương”. Thế nhưng, các phi hành đoàn lại thường xuyên thực hiện được ba chuyến mỗi ngày.

“Chúng ta đã có dịp chứng kiến nhiều cầu hàng không, nhất là những cầu hàng không nối với Miến Điện và Berlin, nhưng chưa bao giờ có một cầu hàng không nào lại dẫn đến một hỏa lực phòng không dày đặc đến như vậy” 4.

Việc các khu vực thả dù dần dần bị thu hẹp lại, và lực lượng đồn trú không có khả năng thu hồi thường xuyên vật phẩm tiếp tế được thả dù xuống, đã làm giảm đi hiệu quả của những nỗ lực rất anh hùng này. Tuy nhiên sự thiệt hại trong các lô hàng được thả dù xuống trong những ngày cuối của trận đánh không bao giờ vượt quá 30%, và sự thiệt hại trung bình là dưới 20%. Do đó có thể nói rằng chỉ một phần nhỏ đồ tiếp tế đã lọt vào tay của địch quân5.

Chính là nhờ vào không quân vận tải mà Điện Biên Phủ đã chống cự được đến 56 ngày, chúng ta phải có một sự tôn vinh đặc biệt về những đóng góp này.

Thiệt hại của không quân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ là 36 máy bay bị bắn rơi hoặc bị phá huỷ ngay trên mặt đất. 150 chiếc bị trúng đạn. Thiệt hại nhân mạng là 79 người chết hoặc mất tích (kể cả của không quân và lực lượng máy bay của hải quân).
________________________________________
1. Trích từ các bài viết của tướng Lauzin - Tư lệnh không quân ở Đông Dương, trong tạp chí Les Ailes (Những cánh bay).
2. Mỗi chuyến bay phải lượn bốn vòng mới có thể thả hết lô hàng nó mang theo.
3. Trích từ các bài viết của tướng Lauzin - Tư lệnh không quân ở Đông Dương, trong tạp chí Les Ailes (Những cánh bay).
4. Trích từ các bài viết của tướng Lauzin - Tư lệnh không quân ở Đông Dương, trong tạp chí Les Ailes (Những cánh bay).
5. Khi trận đánh bắt đầu, chúng ta dự trữ sẵn số lượng dù để có thể tiếp tế cho cứ điểm trong vòng 3 tuần. Đây là số lượng dự trữ ta đánh giá là nhiều hơn yêu cầu cần thiết nếu căn cứ trên ước tính ban đầu về thời gian kéo dài của trận đánh. Nhưng ngay khi trận đánh đi vào chiều hướng dữ dội hơn và có vẻ sẽ kéo dài hơn dự kiến, chúng tôi yêu cầu phái bộ Mỹ chi viện số dù cần thiết từ Nhật Bản. Chúng ta không gặp một trở ngại nào cả về yêu cầu này. Tuy nhiên ta lại phải đối phó một cách bất ngờ với yêu cầu cần có các “thiết bị làm cho dù rời chậm” để có thể thả dù hàng hóa ở độ cao vì hỏa lực phòng không của đối phương. Chúng ta chỉ dự trữ một ít thiết bị cần thiết này. Tuy nhiên chúng ta có thể sản xuất chúng ngay tại Đông Dương. Chúng ta không sợ thiếu loại thiết bị này, nhưng chất lượng là điều ta cần cố gắng nhiều hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #106 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:32:03 pm »


VIỆC ĐIỀU HÀNH TRẬN ĐÁNH


Chiến dịch Điện Biên Phủ có thể được điều hành một cách khác hơn không? Ta có nên củng cố cứ điểm và kéo dài cuộc kháng cự một cách vô vọng như đã làm không? Ta có nên sơ tán sớm hơn không? Có thể giải vây nó bằng một hành động từ bên ngoài chăng? Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra và việc trả lời cũng rất quan trọng.

Việc củng cố tập đoàn cứ điểm và kéo dài cuộc kháng cự

Việc “Béatrice” và “Gabrielle” thất thủ ngay từ ngày 15 tháng 3 đã gây ra một sự khủng hoảng hết sức nghiêm trọng. Trước hết là một sự khủng hoảng về mặt tinh thần, vì những người được giao trách nhiệm bất ngờ nhận ra rằng đối phương có một sức mạnh mà họ không đánh giá đúng dù chỉ ở mức độ Bộ Chỉ huy đã cảm thấy và cảnh báo cho họ từ ba tháng nay. Cú sốc về mặt tâm lý này đã làm cho nhiều người cảm thấy có một sự bất lực và nghi ngờ về khả năng kháng cự. Từ một sự tự tin quá đáng, người ta đột ngột chuyển sang một sự mất tin tưởng dẫn đến bi quan.

Và khủng hoảng cả về mặt chiến thuật. Sự sụp đổ một phần lực lượng của chúng ta, sự co cụm lại, hàng rào hỏa lực phòng không, và khả năng khống chế sân bay của pháo binh đối phương đã dự báo trước sự chết ngạt của tập đoàn cứ điểm, nếu nó không được chi viện từ bên ngoài, hoặc không có khả năng tự mình giải toả áp lực.

Do sự yếu kém của tiềm năng không lực ta, thời gian để tập hợp phương tiện cần thiết cho một cuộc hành quân giải vây dù ở quy mô nào cũng phải mất ít nhất là 15 ngày. Tuy nhiên có vẻ như chắc chắn rằng khả năng kháng cự của Điện Biên Phủ nếu không được củng cố sẽ không thể nào chống đỡ được trong khoảng thời gian như vậy.

Hơn nữa do đã dự kiến các cuộc tấn công của đối phương sẽ được mở lại, chúng ta cần thiết phải trấn an tinh thần của binh sĩ đồn trú tại tập đoàn cứ điểm này. Việc gửi các tiểu đoàn mới sẽ chứng tỏ cho họ thấy tình hình không phải là không có giải pháp, và cứ điểm sẽ không bị bỏ rơi1.

Do đó, ta quyết định tìm cách củng cố Điện Biên Phủ bằng cách thả dù ba tiểu đoàn để giúp đại tá De Castries nếu có khả năng thì tái chiếm lại các cụm cứ điểm đã bị mất hoặc ít nhất là giữ vững các phần còn lại.
_______________________________________
1. Quyết định này đã được sự đồng ý của tướng Ely, Tổng tham mưu trưởng qua một bức điện tín.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #107 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:32:45 pm »


Sau khi thả dù xuống ba tiểu đoàn đầu tiên, ta phải liên tục gửi lực lượng chi viện đến để thay thế sự thiệt hại. Để có thể giữ lại các tiểu đoàn nhảy dù chưa đưa vào trận đánh, dự trữ cho một cuộc hành quân giải cứu, lực lượng chi viện được hình thành từ các cá nhân riêng lẻ, trước hết là những người có bằng nhảy dù, sau đó là những người tình nguyện, chỉ được huấn luyện nhảy dù ngay trên mặt đất. Số lượng người tình nguyện vượt xa yêu cầu. Số lượng người cần thiết không tới 500 người và đã được thả dù xuống đấy, trong khi có tới 1800 người tình nguyện, trong đó có khoảng 800 người Pháp, 450 lính Lê Dương, 400 lính Bắc Phi và 150 người Việt. Trong số người này có người là thư ký văn phòng, tùy phái, những người đến hạn hồi hương nhưng vẫn xin gia hạn thời gian làm việc của họ tại Đông Dương.

Trong những ngày cuối cùng, khi cuộc hành quân giải vây không được thực hiện, vì các lý do tôi sẽ nói rõ thêm ở phần sau, một tiểu đoàn nhảy dù cuối cùng đã được thả xuống, để giúp sức cho tập đoàn cứ điểm cầm cự thêm vài ngày nữa1.

Người ta cũng đã hỏi tại sao, chúng ta lại dồn sức kéo dài sự kháng cự đến như vậy?

Sự việc câu hỏi đó được đặt ra - nhất là đôi khi lại do những nhà quân sự - đã thể hiện rõ sự xuống tinh thần của một số người Pháp. Trong quân đội có một vài truyền thống cao cả, mà việc bỏ quên đồng nghĩa với sự sụp đổ của quân đội đó. Chúng ta không thể đầu hàng khi chưa mất hết khả năng chiến đấu, là một trong những truyền thống đó. Những người lính phòng thủ Điện Biên Phủ, cho dù phải trả giá như thế nào, cũng phải giữ vững truyền thống này.

Cho dù chỉ có một lý do là bảo vệ danh dự của người lính, mà phải kéo dài cuộc kháng cự, tôi cũng sẽ không ngần ngại ra lệnh làm việc này, cho dù đây là một quyết định rất đau đớn. Nhưng cũng có những lý do cụ thể khác để phải làm như vậy.

Lý do thứ nhất, chính phủ không loại trừ khả năng ngay khi hội nghị Genève được mở ra, sẽ có một cuộc ngưng bắn ngay lập tức, hoặc do từ đề nghị của phía bên kia, từ một “cường quốc” trung lập hoặc ngay từ chúng ta. Nó có khả năng cứu được lực lượng đồn trú tại cứ điểm, và sự kháng cự này sẽ tạo điều kiện cho các nhà đàm phán của chúng ta có được một lá ách chủ bài trên tay. Chính là với sự thống nhất của chính phủ mà trận đánh đã được kéo dài đến mức tối đa, để mong đạt được hy vọng này.

Một lý do khác là sự cần thiết phải làm chậm lại một cách tối đa - nếu có thể là cho đến khi những trận mưa đầu xuân đổ xuống - thời điểm Binh đoàn Tác chiến Việt Minh, sau khi đã rảnh tay với sự thất thủ của Điện Biên Phủ, sẽ có thể quay lại tấn công vùng châu thổ. Đây là nhận định chính của tướng Cogny trong bức thư gửi cho tôi ngày 3 tháng 5. Ông đã yêu cầu tôi tiếp tục “cuộc kháng cự cho đến khi cạn kiệt hết các phương tiện... có được cho đến khi không còn một khả năng nào nữa” để kéo dài “việc cầm chân tại chỗ Binh đoàn Tác chiến Việt Minh”, việc ông cho là tối quan trọng trong việc bảo vệ vùng đồng bằng.
_______________________________________
1. Việc nhảy dù xuống Điện Biện Phủ của những người “lính nhảy dù” này, cho dù là người có bằng hay những người tình nguyện chưa được huấn luyện, thì đó là một hành động đầy tính anh hùng mà chúng ta phải tôn kính, thán phục. Chỉ một nhà báo có những suy nghĩ không tốt mới mô tả họ là “những người mặt mày tái xanh, không còn khả năng phản ứng gì” và bị xem như những “anh hùng bị bỏ rơi, không thể làm gì hơn là phải lao vào chỗ chết”. Mặc dù tôi có rất nhiều nỗ lực, nhưng tôi không thể nào được phép của chính phủ để đưa nhân vật này ra trước tòa án quân sự - là một điều rất cần thiết khi có sự vi phạm luật báo chí, mà theo toà án quân sự thì chỉ trong một bài báo ông này đã phạm tới sáu tội danh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #108 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:35:15 pm »


Việc di tản

Như đã nói ở phần trên, cứ điểm Điện Biên Phủ được hình thành để chặn đứng con đường tiến vào Thượng Lào của sư đoàn 316 tăng cường, nghĩa là để đối phó với một sư đoàn đầy đủ nhưng không được trang bị phương tiện nặng quan trọng.

Việc di tản là một việc có thể làm được vào đầu tháng 12 khi chúng ta nhận được tin tức về sự xuất hiện của tất cả hoặc một phần của các sư đoàn 308, 312 và sư đoàn nặng 351. Việc di tản chỉ có thể thực hiện trước ngày 10 tháng 12, vì sau ngày này, sư đoàn 316 đã tiến gần đến Điện Biên Phủ, vì vậy việc này không thể nào thực hiện được mà không chịu thiệt hại nặng nề.

Tuy nhiên vào thời điểm ngày 10 tháng 12, tin tức ta nhận được chỉ cho biết là có khoảng hai sư đoàn, không có gì xác nhận là toàn bộ các sư đoàn này đều tiến về Điện Biên Phủ. Một phần các lực lượng này có thể đang tiến về cánh đồng Chum, qua con đường Sầm Nưa. Mối hiểm họa đối với Điện Biên Phủ chưa được bộc lộ hết, những gì chúng ta biết vào thời điểm đó không thể biện minh cho một quyết định sơ tán.

Mặt khác việc sơ tán khỏi Điện Biên Phủ cũng đồng nghĩa với việc từ bỏ việc phòng thủ vùng Bắc Lào, bằng cách hoặc là chúng ta từ bỏ nó mà không chiến đấu hoặc là ta dời sự phòng thủ về Luang Prabang và Vien Tiane. Một giải pháp tôi đã giải thích ở phần trên là không thể nào có hiệu quả. Điều này có nghĩa là không thi hành nhiệm vụ. Đây chẳng khác nào là một sự rút chạy nhục nhã, mà uy tín của nước Pháp đã bị bỏ qua một bên, sẽ đưa đến những hậu quả không thể tính toán được. Và cuối cùng là trong bất cứ hoàn cảnh nào, rút lui cũng có nghĩa là mất đi từ hai đến ba tiểu đoàn cùng gần như toàn bộ các trang thiết bị1.

Chỉ vào cuối tháng 12, tính cách quan trọng của hiểm họa đe dọa Điện Biên Phủ mới lộ ra một cách rõ ràng. Nhưng ngay vào thời điểm này, có những đơn vị rất lớn của Việt Minh đã bao vây cứ điểm nên không thể nào nghĩ đến việc thoát ra bằng đường bộ, cũng không thể di tản bằng đường không2.
______________________________________
1. Ngay trước khi có sự xuất hiện của sư đoàn 316, Việt Minh đã có đủ lực lượng chung quanh Điện Biên Phủ (trung đoàn chính quy 148 và một số tiểu đoàn địa phương) để có thể gây thiệt hại to lớn cho các đơn vị bảo vệ các chuyến bay cuối cùng rút đi, khi họ phải rút theo đường rừng ngang qua vùng rừng rậm Bắc Lào.
2. Khi sư đoàn 308 tiến vào đất Lào, chúng ta cũng không thoát ra được Trong thời gian này, việc bao vây tập đoàn cứ điểm vẫn được hai sư đoàn khác thực hiện. Họ đã chốt chặt trong các hầm chiến đấu, ngăn chặn mọi lối ra.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #109 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 02:36:43 pm »


Hơn nữa sự chi viện của Trung Quốc, cho dù rất quan trọng, nhưng vẫn chưa được tiến hành với một cường độ lớn như thời điểm ngay trước chiến trận nổ ra, hoặc là khi nó đang xảy ra. Do đó vào thời điểm này, sự nguy hiểm chưa tới mức đủ biện minh cho việc rút bỏ một vị trí chiến lược chủ yếu còn được đánh giá có đủ cơ hội để tồn tại - để chấp nhận một sự rút lui mà hậu quả tất yếu của nó không thể nào lường hết được: những hậu quả chiến lược, chính trị và tinh thần thảm khốc, bỏ lại tất cả phương tiện chiến tranh và thiệt hại vô cùng lớn lao về nhân mạng1.

Tuy nhiên tôi cũng có cho nghiên cứu khả năng này, nhưng chỉ trong trường hợp tình hình của căn cứ trở nên vô cùng nguy hiểm. Ý kiến của tướng Cogny rất rõ ràng. Ông đã viết cho tôi như sau vào ngày 21 tháng giêng: “Tôi xin phép nhấn mạnh với ông là chúng ta phải bằng mọi cách giữ lại căn cứ Điện Biên Phủ”. Ông đã xác nhận lại quan điểm của ông trong công văn ngày 9 tháng 2, bằng việc yêu cầu tôi không nên làm ảnh hưởng đến tinh thần của lực lượng đồn trú “đang phấn khởi về viễn cảnh thắng lợi lớn trong phòng thủ” bằng việc dự kiến một sự rút lui. Vài tuần trước khi cuộc tấn công diễn ra, thậm chí ông còn đề nghị tôi “thực hiện một mẹo quân sự (tôi không còn nhớ) để kích địch quân tiến hành cuộc chiến.

Sự thật là cho đến ngày 15 tháng 3, có một sự tin tưởng hoàn toàn vào kết quả của trận đánh. Đó không chỉ là sự tin tưởng của các tướng Cogny và Dechaux, mà còn là của những người thi hành nhiệm vụ khác.

Vào ngày 4 tháng 3 trong một chuyến đi kiểm tra cuối cùng đến cứ điểm, trước khi diễn ra cuộc tấn công mà ta biết rõ không thể nào tránh được, tôi có làm việc với nhiều cấp chỉ huy, đơn vị và nhận thấy ở họ có một sự tự tin tuyệt đối. Trước khi rời cứ điểm, tôi có kéo tướng Cogny và đại tá De Castries ra riêng và yêu cầu họ phát biểu khách quan tất cả những gì họ suy nghĩ. Câu trả lời của đại tá De Castries: “Trận đánh sẽ rất ác liệt, nhưng chúng tôi có thể chống cự được nếu ông gửi chi viện cho tôi thêm hai hay ba tiểu đoàn” (tôi đã có gửi). Còn tướng Cogny trả lời tôi như sau: “Chúng ta đến đây để buộc Việt Minh phải đánh nhau”. (Đây là quan điểm của ông ấy chứ không phải của tôi). “Ta không nên làm một cái gì khiến họ có thể thay đổi ý định tấn công” 2.

Nhiệm vụ cố thủ với một tinh thần không lùi bước đã được xác lập. Ngay cả ngày nay, tôi cũng không thấy có một giải pháp nào khác.

Khi trận đánh đã diễn ra, sự rút lui sẽ kéo theo gần như là một sự tiêu diệt hoàn toàn lực lượng phòng thủ. Dĩ nhiên là việc này đã được dự kiến, được chuẩn bị trước với cái tên là cuộc hành quân “Albatros”. Đây là một sự chuẩn bị cho bước cuối cùng trong trường hợp một sự kháng cự kéo dài không còn khả thi. Tướng De Castries đã dự kiến tiến hành bằng chia ra thành ba nhóm rút lui riêng rẽ theo các ngả tây bắc, nam và đông nam. Thương binh cùng một vài đơn vị bảo vệ phải ở ngay tại chỗ, dưới quyền điều động trực tiếp của ông.

Đại tá Crévecoeur, Chỉ huy trưởng quân đội ở Lào, đã đưa quân về phía Điện Biên Phủ theo một chiến tuyến rất rộng gồm lực lượng chính quy và lính bản xứ có nhiệm vụ tiếp đón các lực lượng có thể đào thoát ra khỏi các cứ điểm. Việc hướng dẫn các đơn vị rút lui này bằng máy bay quan sát và thả dù tiếp tế cho họ cũng đã được tổ chức.

Trong đêm ngày 6 rạng 7 tháng 5, do cảm thấy sẽ bị đánh bại, tướng De Castries đã quyết định với sự thống nhất của tướng Cogny và tôi, mở một cuộc rút chạy vào đêm sau. Nhưng việc tăng tốc những cuộc tấn công của Việt Minh đã làm cho cụm phòng thủ trung tâm thất thủ vào chiều ngày 7 tháng 5.

Lực lượng phòng thủ tại cụm “Isabelle” tìm cách rút vào nhưng giờ đầu tiên của đêm 7 rạng 8 tháng 5. Họ đụng độ ngay với địch quân từ tứ phía đã phục sẵn và đã thất bại. Chỉ vài chục người đơn lẻ chạy được sang các vị trí của chúng ta ở Lào.
______________________________________
1. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 4.1956, dành cho ông Jean Ferran, Tổng biên tập báo Paris Match, tướng Võ Nguyên Giáp phát biểu quan điểm của ông là việc sơ tán khỏi Điện Biên Phủ ngang qua rừng rậm miền Thượng Lào là một việc không thể làm được đối với các đơn vị như quân đội ta.
2. Các trích đoạn sau từ những bài báo của ông Robert Guillain, đặc phái viên của báo Le Monde ở Đông Dương, đã thể hiện tinh thần rất cao của những người cố thủ tại Điện Biên Phủ và tinh thần rất lạc quan của Bộ Tham mưu tại Hà Nội.
    - Ngày 13 tháng 2 (viết từ Điện Biên Phủ): “Nhử cho Việt Minh kéo xuống Lòng chảo!” Đó là mơ ước của đại tá De Castries, Tư lệnh quân đội và tất cả Bộ Tham mưu của ông. Nếu họ kéo xuống đây, họ sẽ bị chúng ta tiêu diệt. Cuộc đụng độ sẽ rất khốc liệt nhưng ta sẽ chặn được họ. Và cuối cùng chúng ta sẽ có được cái ta luôn luôn thiếu: một mục tiêu, một mục tiêu dày đặc để ta có thể “nện dùi cui”.
    - Ngày 15 tháng 3 năm 1954 (viết từ Hà Nội): “Khi tấn công Điện Biên Phủ, phải chăng địch quân đã phạm một sai lầm vô cùng to lớn? Họ đã hành động vì lý do chính trị nhiều hơn quân sự, hoặc thậm chí họ hành động theo lệnh của Bắc Kinh và Mátxcơva chăng? Đây là hướng của những sự suy nghĩ nóng bỏng về một diễn biến hấp dẫn, và kết quả sẽ rất có thể có một ảnh hưởng đối với cục diện chiến tranh ở Đông Dương. Cơ quan tình báo của chúng ta đã hoạt động một cách tuyệt vời. Đối phương đã để lộ các kế hoạch của họ qua những sự chuẩn bị ở cường độ cao và vội vã. Đối với quân đội của chúng ta, sau ba tháng chờ đợi, đây là sự chấm dứt một chuỗi thời gian dài nằm bất động, tinh thần của chúng ta rất là tuyệt vời”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM