Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:27:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đông Dương hấp hối  (Đọc 81825 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #110 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 08:28:16 pm »


Phương án giải vây

Để giải vây cho Điện Biên Phủ, chúng ta có thể dự kiến hoặc một cuộc hành quân không quân ồ ạt, hoặc một cuộc hành quân trên bộ. Một cuộc hành quân giải vây thuần túy bằng không quân chỉ có thể làm được nếu ta có lực lượng không quân hết sức mạnh. Khả năng lực lượng không quân riêng của ta không cho phép chúng ta mở một cuộc hành quân như vậy. Chỉ có lực lượng không quân mạnh hơn nhiều lần mới có khả năng đạt được kết quả bằng cách tấn công vào các trục giao thông, pháo mặt đất và pháo phòng không địch.

Chính vì vậy, một cuộc tấn công ồ ạt của không lực Hoa Kỳ đã có lúc được dự kiến một cách nghiêm túc. Báo chí ở Pháp cũng như ở Mỹ nhiều lần nói đến sự gợi ý này. Tôi xin kể lại sự việc đó đã diễn ra như thế nào theo sự hiểu biết của tôi.

Đề nghị đó được xuất phát từ Washington vào ngày đầu tháng tư khi tướng Ely gửi khẩn cấp một sĩ quan trực tiếp đến gặp tôi với nhiệm vụ báo cho tôi biết ý kiến của Lầu Năm Góc. Theo đó thì Lầu Năm Góc cho rằng sự can thiệp trực tiếp của Trung Quốc có thể biện minh cho sự can thiệp của Mỹ. Là người ủng hộ cuộc can thiệp của Mỹ, Ngoại trưởng Mỹ, lúc đó là ông Foster Dulles, trong một phát biểu nảy lửa trước Ủy ban Ngoại giao Hạ Nghị Viện đã tố cáo tính chất can thiệp trực tiếp qua sự chi viện của Trung Quốc, nhất là qua sự hiện diện của binh lính Trung Quốc trong việc điều khiển hệ thống phòng không tại các trận địa chung quanh Điện Biên Phủ.

(Những lý lẽ của ông Foster Dulles hoàn toàn đúng với thực tế, đã được thể hiện như sau:

1. Một tướng của Trung Quốc có mặt tại Tổng hành dinh Quân đội Việt Minh chung quanh Điện Biên Phủ.

2. Dưới quyền ông là khoảng 20 chuyên gia kỹ thuật Trung Quốc cũng có mặt tại Bộ Chỉ huy này. Những chuyên gia khác cũng có mặt ở cấp sư đoàn.

3. Các đường dây điện thoại đặc biệt được các chuyên gia Trung Quốc lắp đặt và bảo trì. Những người điều hành đều là người Trung Quốc.

4. Một số lượng rất lớn súng cao xạ 37 ly được bố trí quanh Điện Biên Phủ. Các xạ thủ đều là người Trung Quốc.

5. Để chi viện cho trận đánh, có đến khoảng 1000 xe tải tiếp tế mà một nửa đến đấy từ ngày 1 tháng 3. Toàn bộ do lái xe Trung Quốc điều khiển.

6. Tất cả những chi viện nói trên được cộng thêm vào lực lượng pháo binh, đạn dược và trang thiết bị do quân đội Trung Quốc cung cấp).

Do tướng Ely yêu cầu tôi trả lời khẩn cấp quan điểm của mình, tôi đã phát biểu là, một hành động quân sự ồ ạt của Không lực Hoa Kỳ, nếu được thực hiện một cách nhanh chóng thì có khả năng giải cứu được Điện Biên Phủ. Cả vị Tổng ủy Pháp, người được tôi thông báo về tin tức này và tôi đều không tin rằng cuộc can thiệp của Mỹ vào lãnh thổ Việt Nam sẽ có nguy cơ tạo ra một cuộc đối kháng toàn cầu. Cũng như ở Triều Tiên và Berlin vào thời kỳ xảy cuộc phong tỏa Berlin, Chủ nghĩa Cộng sản sẽ không thể nào vì một sự kiện như vậy mà phát động cuộc chiến tranh thế giới mà họ không hề muốn nổ ra vào giai đoạn đó.

Chỉ riêng sự có mặt của các xạ thủ Trung Quốc sử dụng súng cao xạ là sự thể hiện một cuộc can thiệp trực tiếp của Trung Quốc. Ngoài ra, tất cả những gì họ làm đều tương tự như những gì chúng ta nhận được từ người Mỹ. Tuy nhiên, chỉ riêng sự hiện diện rõ ràng này đủ để biện minh cho một cuộc can thiệp của Mỹ.

Chính phủ Pháp cho tôi biết là họ chia sẻ quan điểm này và họ yêu cầu sự can thiệp của Mỹ. Nhưng hình như chính phủ Pháp chỉ nói để nói thôi, chứ không nhấn mạnh đến việc này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #111 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 08:30:51 pm »


Một cuộc tấn công bằng không lực được nghiên cứu chi tiết ở Sài Gòn và cả ở Hà Nội với sự có mặt của các chỉ huy không lực Mỹ tại Thái Bình Dương. Trong thời gian chờ đợi họ được lệnh liên lạc với tôi. Họ dự kiến sử dụng 300 máy bay khu trục ném bom xuất phát từ tàu sân bay và 60 máy bay ném bom hạng nặng cất cánh từ Philippines1. Do sự yếu kém của cơ sở hạ tầng về Ra-đa của ta, nên không thể có chuyện sử dụng hỏa lực của không quân Mỹ đánh vào các trận địa pháo mặt đất và phòng không đối phương nằm cạnh cứ điểm Điện Biên Phủ, nhưng theo quan điểm của các tướng Mỹ thì sử dựng không quân đánh vào các đường tiếp tế và nhất là căn cứ Tuần Giáo là một điều khả thi và có khả năng rất hiệu quả2.

Nhưng lệnh tấn công đã không bao giờ được ban ra.

Như vẫn xảy ra ở phương Tây, việc bàn tính như vậy luôn bị rò rỉ tin tức. Các dân biểu ở cả Paris và Washington đều đã tỏ ra “xúc động” và có ý kiến can thiệp ngay với chính phủ3. Và lẽ tất nhiên báo chí cũng đã tiết lộ việc này.

Và sau nhiều sự do dự lâu dài - chỉ những do dự này cũng đủ làm cho cuộc hành quân mất đi tính hiệu quả của nó. Chính phủ Mỹ không dám đi theo con đường mà các cố vấn quân sự của họ đề xuất4.
__________________________________
1. Điều kiện về cơ sở hạ tầng của chúng ta không cho phép không lực Mỹ sử dụng các sân bay có được tại Đông Dương.
2. Việc sử dụng bom nguyên tử không bao giờ được đặt ra.
3. Ông Christian Pineau, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao, đóng một vai trò rất nổi bật trong vấn đề này. Ông đi công du ở Mỹ với những lý do không có liên hệ gì đến việc điều hành cuộc chiến Đông Dương cả. Can thiệp vào một vấn đề không liên hệ gì đến ông, và là vấn đề mà có thể ông không được biết gì, đứng vào vị trí đối chọi với lập trường của chính phủ Pháp, ông không ngần ngại phát biểu công khai chống bất cứ cuộc can thiệp nào của quân đội Mỹ vào cuộc chiến này.
4. Có vẻ như trong số cố vấn quân sự, một số người (trong đó có tướng Ridway) cuối cùng đã chống lại cuộc hành quân này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #112 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:20:43 pm »


Vào lúc này, người Mỹ phải che đậy sự tháo lui của mình. Để làm việc này, người Mỹ tuyên bố họ chỉ can thiệp khi nào các nước khác chấp nhận một hành động chung với họ. Thật ra đây cũng chỉ là một cái cớ thoái thác dựa vào sự không can thiệp của nước Anh. Nếu không có sự có mặt của nước Anh, thì không thể có một mặt trận thống nhất ở châu Á. Với lý lẽ đó, Mỹ đã yêu cầu sự nhất trí của nước Anh, nếu không thì chí ít cũng là sự tham gia một cách tượng trưng của nước này, và người ta đã vin vào cớ nước Anh từ chối - sự từ chối chắc chắn đã được biết trước - để không can thiệp nữa. Việc “đánh bài chuồn” của Anh và Mỹ đã gây ra ở Đông Dương một cú sốc nặng nề về mặt tinh thần - đối với dân chúng và quân đội ở đấy1.

Đây là bằng chứng cho thấy chúng ta phải chiến đấu một mình. Mỹ chỉ muốn nhận sự rủi ro rất hạn chế, chỉ gánh vác về mặt tài chính thôi. Chính sách này đã được khẳng định bằng một phát biểu trơ trẽn đến ngây ngô của Phó Tổng thống Nixon trong một bài diễn văn ở Cincinnati ngày 20 tháng tư: “Mục tiêu mà chính phủ Mỹ đặt ra là thi hành một chính sách để không phải đưa binh sĩ Mỹ đến chiến đấu ở Đông Dương hay bất cứ một nơi nào khác”. Người ta không thể nói một cái gì hay hơn những lời nói trên để biện minh cho sự thoái thác này! Còn nước Anh thì không muốn nhận một sự rủi ro nào cả. Điều này có nghĩa là họ muốn chúng ta làm “công chùa” cho họ trong việc bảo vệ quyền lợi của họ ở vùng Đông Nam châu Á.

Trước khi nghiên cứu khả năng những cuộc hành quân giải vây trên bộ, ta cũng nên nói qua về một giải pháp đôi lúc đã được xem là khả thi. Giải pháp này nhắm vào việc thả dù một số tiểu đoàn dù vào phía sau lưng các lực lượng bao vây của Việt Minh. Giải pháp này sau khi được nghiên cứu cho thấy là hoàn toàn không thể làm được. Tất cả mọi điều kiện đều không thuận lợi cho một cuộc hành quân như vậy: địa hình không cho phép nhảy dù ở một cự ly thích hợp và sự thiếu thốn của các đơn vị máy bay vận tải không cho phép chúng ta thả các đơn vị dù trong điều kiện có hiệu quả. Nếu chúng ta sử dụng vài tiểu đoàn dù ta đang có, thì chắc chắn chúng ta sẽ đưa chúng đến chỗ bị tiêu diệt mà không đạt được một kết quả gì.

Chỉ còn giải pháp giải vây bằng đường bộ. Một cuộc hành quân giải vây Điện Biên Phủ có thể được dự kiến, hoặc từ Bắc Lào hoặc từ vùng châu thổ Bắc Bộ.

Một cuộc hành quân lấy tên là “Condor” được chuẩn bị trước ở Lào từ tháng 12.1953. Nó bao gồm việc chuyển lực lượng của ta từ vùng Nậm U Thượng đến vùng Nga Na Son (cách Điện Biên Phủ 25 cây số), nơi có nhiều vùng đất có thể thả dù được, tuy không tốt lắm nhưng vẫn có thể thực hiện được. Ở đây lực lượng này sẽ được tăng cường một lực lượng nhảy dù quan trọng và tiến về Điện Biên Phủ để phá vỡ vòng vây. Một cuộc hành quân như thế này, tuy có rất nhiều khó khăn, chủ yếu là do địa hình phức tạp giữa Nga Na Son và Điện Biên Phủ, nhưng hoàn toàn khả thi.
____________________________________
1. Vào tháng giêng năm 1956, tạp chí Mỹ “Life” cho phổ biến cuộc phỏng vấn ông Foster Dulles, qua đó ngài Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đã nói - một cách hơi mập mờ về kế hoạch can thiệp vào Điện Biên Phủ. Ông nói như sau: “Phe Cộng sản được thông báo rằng nếu Trung Quốc tiếp tục can thiệp một cách trắng trợn sau những hành động như vậy thì các căn cứ của họ ở miền Nam Trung Quốc sẽ bị không lực Hoa Kỳ tiêu diệt”. Tôi chưa hề biết được các sự tiếp xúc như thế của họ với phía Trung Quốc. Tôi cũng chưa bao giờ nghe nói một cuộc can thiệp bằng bom nguyên tử hoặc một cuộc tấn công nào đó vào lãnh thổ Trung Quốc. Mặt khác, ông Dulles còn xác nhận thêm trong cuộc phỏng vấn: “Quyết định của Hoa Kỳ tiếp cứu châu Á bằng một hành động chung với các quốc gia, bằng cách gửi vào vùng biển Đông các tàu sân bay mang theo bom nguyên tử đã củng cố vị trí của nước Pháp tại Genève, và cứu được Nam Việt Nam, Lào, Campuchia đang trong tình trạng chắc chắn rơi vào tay Cộng sản”. Tất cả những gì xảy ra trong thực tế đều ngược lại với các lời nói này. Sự bịp bợm của người Mỹ và bước lùi tiếp theo đó của họ đã hoàn toàn làm đảo lộn tư thế của các cường quốc phương Tây.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #113 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:23:56 pm »


Ngay ngày 15 tháng 3, quan tâm chính của tôi là tổ chức và phát động cuộc hành quân. Nhưng khả năng để làm việc này vấp phải sự thiếu thốn tiềm lực không quân của chúng ta, nhất là lực lượng máy bay vận tải. Thật vậy, với một cường độ không thể lường được của trận đánh, việc bổ sung quân trang và thiết bị của cứ điểm sau các trận đánh khủng khiếp ngày 13-14, đòi hỏi phải có một lượng phương tiện gấp đôi những gì tướng Cogny đã dự kiến (200 tấn đồ tiếp tế một ngày thay vì 96 tấn). Một sự chuyển tải như vậy đã thu hút hết số máy bay đang có.

Chỉ có thể vào đầu tháng 4, khi việc vận chuyển cho cứ điểm đã gần hoàn tất, thì cuộc hành quân “Condor” mới lại được tính đến.

Kết quả chờ đợi tùy thuộc vào lực lượng trên bộ sẽ được tung vào trận đánh. Để có một cuộc hành quân hiệu quả, phải cần đến từ 15 đến 20 tiểu đoàn. Tuy nhiên, để đảm bảo việc tiếp tế đều đặn cho Điện Biên Phủ, phương tiện không quân của chúng ta chỉ có thể hỗ trợ tối đa cho 7 tiểu đoàn. Một lực lượng như vậy không đủ để thực hiện một cuộc giải vây cho cứ điểm. Tất cả những gì chúng ta có thể làm được là buộc địch quân rút một phần nhỏ lực lượng bao vây và làm giảm sức ép của họ. Đây cũng chính là quan điểm của tướng Cogny, người không mặn mà với kế hoạch này.

Tuy vậy, vào ngày 6, ta quyết định thực hiện trong khoảng mười ngày một cuộc hành quân với sự tham gia của bốn tiểu đoàn xuất phát từ vùng Nậm U Thượng và ba tiểu đoàn nhảy dù nhảy xuống vùng lân cận Điện Biên Phủ1. Ngày 12 tháng 4, tướng Cogny đã yêu cầu hoãn lại cuộc hành quân này vì cần thiết phải tiếp tế cho cứ điểm. Ngày 15, ông xin hoãn lại một lần nữa cũng vì lý do này, cộng thêm với sự dè dặt vì phải rút thêm ba tiểu đoàn nhảy dù từ vùng châu thổ, nơi tình hình quân sự cũng rất khó khăn.

Từ ngày 15 tháng tư, sự gia tăng cường độ của các hoạt động không quân bên trên Điện Biên Phủ thu hút hết tất cả phương tiện có được cho nên cuộc hành quân “Condor” không thể nào thực hiện được.

Tuy vậy lực lượng của ta ở Lào đã tiến vào vùng được dùng làm xuất phát điểm cho cuộc hành quân này, để trong trường hợp có thể tiến hành cuộc hành quân hoặc ít nhất là làm một điểm tựa để đón các đơn vị từ Điện Biên Phủ rút ra nếu lực lượng cố thủ của chúng ta có thể làm được. Họ đã sẵn sàng vào thời điểm Điện Biên Phủ thất thủ để đón tiếp sự rút lui của lực lượng đồn trú tại cứ điểm này nếu cuộc hành quân “Albatros” được thực hiện.

Một cuộc hành quân giải vây, xuất phát từ vùng châu thổ chỉ có thể nhắm vào hệ thống giao thông của đối phương, vì cự ly giữa vùng châu thổ với Điện Biên Phủ quá lớn để có thể nghĩ đến việc tấn công lực lượng Việt Minh bao vây ở đấy. Ngày sau khi nắm được động thái của Binh đoàn Tác chiến Việt Minh, tôi đã chỉ thị cho tướng Cogny nghiên cứu đề xuất với tôi, bên cạnh phương tiện ta cần phải có, những hành động quân sự đánh vào sau lưng đối phương ta có thể làm được. Việc chặn đánh tuyến đường giao thông (Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Sơn La, Tuần Giáo) được dự kiến vì tuyến đường trong đoạn Thái Nguyên và Yên Bái nằm trong tầm hoạt động của ta xuất phát từ vùng châu thổ.

Nhưng kinh nghiệm từ lâu cho thấy hệ thống tiếp tế của Việt Minh rất linh hoạt và có khả năng chuyển đổi phương án rất nhanh2. Để có thể ngăn chặn được lâu dài hệ thống giao thông này, chúng ta không chỉ phải “đóng chốt chặn” ngay trên trục giao thông mà còn phải khống chế cả một khu vực rộng lớn bằng những hoạt động thường xuyên xuất phát từ tâm điểm chốt quân. Việc này đòi hỏi chúng ta phải có rất nhiều phương tiện.
_________________________________________
1. Những đơn vị sẽ phải được ném xuống bằng những đơn vị nhỏ liên tiếp nhau xuống “bãi nhảy” rất thô sơ, do những đơn vị từ Nậm U tiến đến chiếm giữ.
2. Hệ thống tiếp tế này được tổ chức như sau: Tuyến đường của Việt Minh được chia theo từng cung từ 30 đến 50 km. Một số lượng không cố định các xe tải con thoi hoạt động bên trong từng cung đường. Tại ranh giới của các cung, là những ranh giới hình thành do địa hình tự nhiên, họ tổ chức những cuộc chuyển tải. Nếu một cung bị cắt đứt trong một khoảng thời gian dài, hệ thống tiếp tế được thay thế ngay bằng các đoàn dân công. Các đoàn này đi theo các con đường vòng tránh chướng ngại để chuyển hàng đến ranh giới cung đường tiếp vận kế tiếp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #114 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:25:09 pm »


Hơn nữa, những nghiên cứu về các tuyến đường mà các dòng tiếp tế của Việt Minh sử dụng và khả năng chuyển đổi hướng của các tuyến đường này dẫn đến kết luận là, chỉ có những tuyến giao thông Tuyên Quang, Yên Bái là những mục tiêu đáng quan tâm. Hơn nữa Yên Bái còn nằm chặn ngang thung lũng sông Hồng đã từng được sử dụng và có thể được tái sử dụng một lần nữa, như một tuyến giao thông dự phòng.

Hành động hiệu quả duy nhất là một cuộc tiến công vào vùng Yên Bái-Tuyên Quang nhằm thiết lập một căn cứ hành quân ngăn chặn đường giao thông của đối phương; căn cứ này được nối liền với vùng châu thổ hoặc bằng một cầu hàng không hoặc bằng một hệ thống giao thông đường bộ.

Giải pháp thứ nhất không thể làm được vì nó đòi hỏi thiết lập trong vùng Yên Bái-Tuyên Quang một căn cứ không quân. Thế nhưng trong vùng này, không có khả năng tổ chức một căn cứ như vậy.

Còn về một giải pháp thuần túy đường bộ, phương tiện tướng Cogny đòi hỏi vượt xa những gì chúng ta có sẵn. Cho dù có giảm mạnh yêu cầu trong “bản kê” này - một việc làm hoàn toàn khả thi, khi toàn bộ Binh đoàn Tác chiến Việt Minh đang lâm chiến ở vùng núi - và cho dù phải huy động một sự tham gia nhiều hơn dự kiến của tướng Cogny của các lực lượng đóng tại vùng châu thổ, cũng là một việc có thể làm được, chúng ta vẫn phải tìm thêm một lực lượng từ ba đến bốn binh đội cơ động.

Thế nhưng các cuộc tấn công của Việt Minh vào vùng Trung - Nam Lào, vào Tây Nguyên cắm chân các lực lượng của chúng ta tại đấy và ngăn chặn mọi việc huy động các binh đội cơ động, cho dù chúng đóng ở đâu. Chúng ta không thể rút bớt lực lượng từ bất cứ chiến trường nào, thậm chí những đơn vị vừa mới thành lập cũng đã bị đưa hết vào cuộc chiến.

Trong những ngày cuối tháng tư, tướng Cogny trình bày với tôi tiếp theo sau một bản nghiên cứu mới cũng theo chỉ thị của tôi, một kế hoạch hành quân vào Phủ Doãn. Cho dù kế hoạch này đòi hỏi ít phương tiện hơn kế hoạch trước, nó vẫn vượt quá khả năng của chúng ta. Hơn nữa cuộc hành quân này có hiệu quả rất đáng nghi ngờ, một phần vì nó không thật sự ngăn cản tuyến đường giao thông của đối phương1, mặt khác, địch quân có khả năng đối phó lại bằng lực lượng rất mạnh. Cuối cùng, theo quan điểm của chính tướng Cogny, nó sẽ không đem lại kết quả trước ngày 20 tháng 5. Thế nhưng chúng ta có rất ít hy vọng là Điện Biên Phủ có thể kéo dài sự chống cự cho đến ngày này. (Trên thực tế, cứ điểm thất thủ vào ngày 7 tháng 5). Đứng ở vị trí hạn chế là tư lệnh các lực lượng ở Bắc Bộ, tướng Cogny nhấn mạnh phải tiến hành cuộc hành quân này. Để có phương tiện cần thiết, ông yêu cầu tôi trích ra từ các đơn vị trên toàn Đông Dương, trừ các đơn vị của ông ta. Sự huy động này sẽ kéo theo một thảm họa toàn diện, mà với tư cách là người chịu trách nhiệm chung, tôi không thể nào chấp nhận sự rủi ro ấy. Tôi không để bị lôi cuốn vào một cuộc mạo hiểm, chỉ có thể tạo ấn tượng mạnh nhưng sẽ gây ra những sự thiệt hại không cần thiết. Tôi đã không hối tiếc về quyết định này2. Nếu tôi chấp thuận thì có thể, Điện Biên Phủ không được giải cứu, mà chúng ta sẽ còn mất luôn Lào, Campuchia và nước Việt Nam tự do.

Đây là sự khác biệt duy nhất giữa tôi và tướng Cogny về việc điều hành trận Điện Biên Phủ, điều tôi đã có nói trong đoạn cuối phần trình bày về “tổ chức chỉ huy”.
_________________________________________
1. Đây là một sự lập lại của cuộc hành quân “Lorraine” (tháng 11.1951) đã tiến được đến mục tiêu nhưng không mang lại một kết quả nào cả.
2. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ông Jean Farran, Tổng biên tập báo Paris Match vào tháng 4 năm 1956, tướng Giáp phát biểu ý kiến của ông là, một cuộc tấn công chúng ta phát động từ vùng châu thổ sẽ không có cơ may thành công với lực lượng ta có. Để bảo vệ quan điểm của mình, ông đã ám chỉ đến thất bại của cuộc hành quân “Lorraine” vào những năm trước đó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #115 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:31:35 pm »


CÁC NGUYÊN DO CỦA SỰ THẤT THỦ ĐIỆN BIÊN PHỦ


Chắc chắn đã có những nhận thức không đầy đủ những sai lầm trong khái niệm và tổ chức phòng thủ cũng như trong việc điều hành trận đánh.

Việc phân bổ lực lượng tại tập đoàn cứ điểm, giữa các cụm cứ điểm nằm bên ngoài cùng và cụm trung tâm là một điểm có thể gây tranh cãi.

Một số đơn vị chất lượng kém (nhất là các tiểu đoàn Thái) lẽ ra phải được thay thế bằng những đơn vị vũng vàng hơn rút từ vùng châu thổ.

Đã có một sự thái quá trong việc xây dựng công trình phòng thủ phụ, khiến các cứ điểm bị chia thành nhiều phần ngăn cách nhau gây trở ngại cho các cuộc phản công. Một số hệ thống hầm chiến dấu không được xây dựng đủ kiên cố, không chịu nổi hỏa lực của pháo binh và súng cối nặng.

Việc sử dụng lực lượng dự trữ là một điều gây tranh cãi.

Việc chuẩn bị chiến đấu chống lại pháo binh và hỏa lực phòng không đối phương không đầy đủ, do sự lạc quan quá đáng của các chuyên viên kỹ thuật, do đánh giá đối phương qua cách nhìn của họ nên đã đánh giá quá thấp khả năng của đối phương.

Ở một số lĩnh vực, Bộ Chỉ huy ở Hà Nội đã không có được một sự chỉ đạo kiên quyết đối với Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Cuối cùng là sự phối hợp hành động giữa lực lượng trên bộ và trên không đã không được thực hiện tốt ở các cơ quan tham mưu tại Hà Nội. Họ không thực sự “cùng sống” với trận đánh

Thiếu sót và sai lầm nói trên một phần là trách nhiệm của Ban Chỉ huy tập đoàn cứ điểm, một phần của Bộ Chỉ huy Không quân, nhưng chủ yếu là của Bộ Chỉ huy lực lượng trên bộ tại Bắc Bộ, được phân công chuẩn bị và điều hành trận đánh. Với tư cách là Tổng tư lệnh quân đội tại Đông Dương, tôi phải chịu trách nhiệm trên toàn cục.

Cho dù các thiếu sót và sai lầm đó có nghiêm trọng đến mức độ nào, chúng cũng không vượt qua những sự không hoàn thiện tất yếu của mọi chiến dịch quân sự, và chỉ có một ảnh hưởng không lớn đến kết cục của trận đánh.

Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ Điện Biện Phủ nằm ở những nơi khác.

Nguyên đo đầu tiên là sự thiếu phương tiện. Lực lượng trên bộ của chúng ta không đủ. Chúng ta thiếu từ sáu đến tám binh đội cơ động để có thể tiến hành một cuộc hành quân giải vây có hiệu quả. Ở đây ta phải trả giá cho những gì ta đã để cho lực lượng Việt Minh qua mặt trong việc xây dựng một Binh đoàn Tác chiến trong quá khứ.

Chất lượng chiến đấu của các lực lượng chúng ta không bù đắp được sự yếu kém về quân số. Chúng ta chiến đấu với một khung chỉ huy quá kém. Đa số các sĩ quan và hạ sĩ quan không thông thạo việc chỉ huy. Còn binh lính thì được huấn luyện rất sơ sài. Tỷ lệ người Việt Nam quá cao, ngay cả trong các tiểu đoàn giỏi nhất. Sự giảm sút chất lượng tác chiến của quân đội, nhất là của bộ binh đã lộ rõ qua sự ác liệt của các trận đánh. Và cũng ở đây, ta lại phải trả giá cho những sai lầm tích tụ trong quá khứ, chính là ý muốn tiến hành chiến đấu với ít chi phí nhất.

Phương tiện về không quân lại càng thiếu thốn hơn nữa, nên những yêu cầu xin tăng cường của tôi trên lĩnh vực này đã không được thỏa mãn, hoặc là được thực hiện một cách quá trễ. Nếu những tăng cường trên đây được thỏa mãn đúng lúc chúng ta sẽ có điều kiện tốt hơn nhiều cho trận đánh. Nếu không cản được, thì ít nhất ta cũng có thể làm chậm trễ việc đưa vào sử dụng và bảo trì các trang thiết bị chiến tranh của đối phương. Trên thực tế sự chi viện này được thực hiện một cách ngẫu hứng, không theo một kế hoạch nào, do đó đã chẳng có tác dụng gì cả. Hơn nữa, khi có sự chi viện ồ ạt của Trung Quốc, chúng ta cần đến một lực lượng không quân mạnh hơn mười lần, mới có thể hành động một cách có hiệu quả được. Chỉ nước Mỹ mới có khả năng cung cấp các yêu cầu này, và chúng ta cũng thấy yêu cầu của ta đã được họ giải quyết như thế nào rồi.

Sự gia tăng ồ ạt viện trợ từ Trung Quốc là một nguyên do khác của thất bại Điện Biên Phủ. Đây là loại hình chiến tranh hoàn toàn mới ở Đông Dương mà chúng ta phải đối phó, làm cho ta hoàn toàn bị bất ngờ. Cái bất ngờ về sức mạnh huỷ diệt của pháo binh và súng cối, tạo ra một cú sốc cho binh lính ta chưa được chuẩn bị sẵn sàng về mặt tinh thần. Cũng như vào năm 1940, lực lượng chiến đấu của chúng ta đã bị máy bay Stukas của phát xít Đức ghì chặt xuống đất, binh lính của chúng ta tại Điện Biên Phủ đã bị thua sút trong một thời gian về mặt tinh thần. Họ phản ứng nhanh nhưng đã quá trễ để ngăn chặn sự sụp đổ, hoặc để có thể tái chiếm những điểm chính đã bị mất; sự thất thủ của những cứ điểm này đã có ảnh hưởng đến toàn bộ cục diện về sau của trận đánh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #116 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:35:13 pm »


Pháo binh của ta đã bị tước mất phương tiện quan sát trận địa vì hỏa lực phòng không của đối phương và bị mất phương hướng hoạt động vì pháo mặt đất của họ. Được sử dụng theo phương pháp mà pháo binh ta không được chuẩn bị trước để đối phó nên đã bất ngờ nhận ra rằng ta hoàn toàn bất lực và không còn là yếu tố đem lại ưu thế trên chiến trường Đông Dương từ trước cho đến nay.

Tâm trạng bị bất ngờ này cũng có thể được nhận thấy trong các lực lượng không quân bất thình lình phải đối phó với một hỏa lực phòng không mạnh không thể ngờ được; chúng ta bị buộc phải giải quyết nhanh những vấn đề mới phát sinh như phải thả dù ở độ cao và phải chiến đấu để hộ tống việc thả dù. Phải mất một thời gian mới có thể thích ứng về mặt tri thức và vật chất cho công việc mới mẻ này. Hiệu quả của không quân, đã yếu kém vì thiếu thốn phương tiện tác chiến, lại càng bị sút giảm thêm nữa.

Vậy là tại Điện Biên Phủ, có xảy ra sự bất ngờ, nhưng sự bất ngờ này không phải do lỗi của các cơ quan tình báo quân đội tại Đông Dương. Các cơ quan này đã hoạt động một cách đúng đắn trong khả năng của họ. Nhưng khả năng đó có các giới hạn: gần như họ không biết được tất cả những gì xảy ra ở Trung Quốc, đây là công việc của các cơ quan khác. Họ cũng không biết gì về ý định của Việt Minh, trừ những gì sắp diễn ra.

Việc không biết rõ hoạt động của đối phương là một việc bình thường nếu nó được cân bằng từ phía bên kia khi họ cũng không biết rõ gì về hoạt động của chúng ta. Nhưng không may, sự thật không phải như vậy, vì tin tức của ta được chính báo chí của ta cung cấp và vì cả một thác “Niagara” các tin tức rò rỉ ngay từ cấp chính phủ ở Pháp.

Mặc dù vậy, chúng ta luôn luôn biết được tin tức chính xác về những gì đang xảy ra bên phía đối phương, hoặc tất cả những gì sẽ xảv ra trong khoảng thời gian vài tuần. Cái ta không thể biết được là chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai xa.

Trong điều kiện như vậy, đã trở thành một định luật trong các cuộc chiến tranh, việc chuẩn bị cho trận đánh tại Điện Biên Phủ đã được vạch ra trên cơ sở sự cảm nhận về “đối thủ tương lai” mà chúng ta sẽ phải đối mặt. Sức mạnh của đối thủ này được ước tính bằng cách nhân lên trong một phạm vi ta thấy hợp lý, những gì ta biết về “đối thủ hiện tại” có nghĩa là sức mạnh của Việt Minh vào tháng 11.1953. Khi xây một cây cầu 10 tấn, người ta phải dự kiến mức độ an toàn lên đến 15 hoặc 20 tấn nhưng không bao giờ mức độ này lên đến 100 hay 150 tấn. Đây là công việc ta đã làm. Nếu sức mạnh của đối phương chỉ được nhân lên gấp hai hay ba lần, chúng ta phải chịu đựng một sự khủng hoảng, vì nó đã vượt quá khả năng của những phương tiện ta đang có. Thế nhưng, sức mạnh của Việt Minh đã được nhân lên một hệ số lớn hơn rất nhiều, trong nhiều lĩnh vực: khả năng vận chuyển và sửa chữa các tuyến giao thông vận tải, hỏa lực của pháo binh mặt đất và phòng không.

Chính trong lĩnh vực phòng không chúng ta đã gặp một sự bất ngờ nghiêm trọng nhất. Chúng ta biết rất rõ về sự có mặt của một lực lượng pháo mặt đất và pháo phòng không Việt Minh, sự quan trọng của nó, và những loại đạn dược nó có. Chúng ta đã dự kiến số lượng pháo mặt đất và phòng không cùng các loại đạn dược sẽ được gia tăng một cách mạnh mẽ, dự đoán sự tăng lên của các số lượng này trong một giới hạn nhất định. Điều bất ngờ là giới hạn này đã bị vượt qua quá xa.

Người ta nói: “Chỉ huy có nghĩa là biết dự kiến trước”. Đúng vậy, nhưng nếu người chỉ huy chỉ dự kiến những điều tồi tệ nhất thì người ấy sẽ không dám làm gì cả. Mà trong chiến tranh không hành động thì sớm muộn sẽ gặp nguy hiểm hơn là hành động.

Nếu điều tồi tệ nhất đã diễn ra, nếu những dự kiến của chúng ta đã hoàn toàn bị đảo lộn là tại vì chính phủ không tham khảo ý kiến của Bộ Chỉ huy mà lao vào guồng máy tai hại của hội nghị Genève. Quyết định thiếu suy nghĩ của chính phủ họp hội nghị đúng vào thời điểm mà ván bài quân sự của chúng ta đang được chơi và không còn có thể điều chỉnh được nữa, làm thay đổi tất cả dữ kiện của bài toán.

Năm ngoái, Bộ Chỉ huy Việt Minh đã không muốn đưa Binh đoàn Tác chiến của họ vào một cuộc tấn công kéo dài tại Nà Sản và cánh đồng Chum.

Nếu không có hội nghị Genève, họ sẽ không dám mạo hiểm tung Binh đoàn Tác chiến của họ vào chỗ nguy hiểm để tìm kiếm một thắng lợi không rõ ràng. Chưa bao giờ họ chịu lao vào những điều kiện khó khăn như vậy để tiếp tục cuộc chiến. Và từ trước tới nay cũng chưa bao giờ họ nhận được từ Trung Quốc sự viện trợ lớn như vậy, đã từng bị Trung Quốc từ chối vì lo ngại bị lôi cuốn vào một sự đối đầu tổng lực.

Chính hội nghị Genève tạo cơ hội cho Việt Minh đạt được một nền hòa bình nhanh chóng và thắng lợi. Vì vậy họ đã vận dụng hết những sức mạnh tinh thần và chấp nhận mọi sự rủi ro để nắm chắc cơ may quá sức mong đợi này bằng một thắng lợi vang dội.

Chính hội nghị Genève là nguyên do thúc đẩy Trung Quốc viện trợ ồ ạt cho Việt Minh nhằm tạo tư thế thuận lợi cho các nhà thương thuyết của họ. Sự viện trợ ồ ạt này đã làm cho phương tiện chiến tranh của ta bất ngờ bị đối phương qua mặt ở địa điểm quyết định của cuộc chiến.

Ngày quyết định mở hội nghị Genève cũng là ngày định đoạt số phận của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #117 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:42:05 pm »


NHỮNG HẬU QUẢ CỦA TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ


Trong vòng 56 ngày đêm chiến đấu không khoan nhượng binh lính trên bộ của ta tại Điện Biên Phủ chứng tỏ cho thế giới thấy chúng ta vẫn còn giữ được những phẩm chất chiến đấu của những chiến sĩ tiền bối đã từng chiến đấu tại Camerone, Sidi Brahm và Verdun. Trong vòng 56 ngày, các chiến sĩ lái máy bay của cả không quân và hải quân, chiến đấu hết mình trong thời tiết xấu, bay ngang qua các hàng rào lửa dày đặc và đầy nguy hiểm. Tính anh hùng này cũng không thua gì các chiến hữu của họ trong lục quân.

Đối với tất cả các chiến sĩ nói trên, báo chí Pháp và nước ngoài đã dành cho họ một lòng cảm phục không giới hạn. Một tờ báo đã viết: “Một lực lượng khác dưới quyền chỉ huy của những tư lệnh khác đã đầu hàng lâu rồi”. Một tờ khác: “Không thể tìm thấy ở một nơi nào khác trong các chiến lệ một trường hợp kháng cự lâu dài đến như vậy của một lực lượng phòng thủ với quân số ít ỏi trên một địa thế trần trụi và không có một chút hy vọng nào để có thể rút lui. Đây là một chiến tích thật độc đáo”. Tờ New York Times viết: “Đây là một trận đánh đến hơi thở cuối cùng theo truyền thống anh hùng của nước Pháp. Đây là một trận đánh mà con người ở đấy đã thể hiện sự gan dạ của mình và đã làm sống lại sự tin tưởng của chúng ta vào nước Pháp, vào tinh thần không thể bị khuất phục của con người”.

Một trang mới về sự vinh quang vừa được viết trong lịch sử quân đội của chúng ta.

Trong một thời gian ngắn nó đã khôi phục tinh thần quốc gia của người Pháp bị hao mòn từ lâu. Lẽ ra một chính phủ xứng đáng với chức danh đó đã có thể tận dụng được sự bừng tỉnh này.

Các chiến sĩ ở Điện Biên Phủ không chỉ góp phần cứu vãn danh dự cho nước Pháp. Họ đã bảo vệ nước Lào trước một cuộc xâm lược. Họ đã ngăn không cho phần lớn các lực lượng cơ động của Việt Minh tiến về vùng châu thổ, Trung và Nam Bộ Đông Dương. Họ ngăn cản Việt Minh giành được chiến thắng trên một chiến trường có tính cách sống còn và quan trọng hơn Điện Biên Phủ, một điều họ rất cần tại Genève. Hơn nữa, những binh lính này đã gây cho đối phương những thiệt hại đến nỗi không còn khả năng quay trở lại chiến trường trong vòng nhiều tháng.

Lực lượng đồn trú đã hoàn thành nhiệm vụ của họ. Họ đã ghi tên vào truyền thống của những cứ điểm phòng thủ lớn của mọi thời đại có nhiệm vụ vinh quang là ngăn cản hướng tiến quân chủ yếu của địch quân, vô hiệu hóa một lực lượng đối phương lớn hơn rất nhiều ngay tại vòng rào phòng thủ.

Trong lịch sử, rất nhiều cứ điểm phòng thủ đã phải thất thủ.

Mayence, năm 1793, do 22.000 quân của Kléber phòng thủ đã thất thủ sau khi làm tê liệt 45.000 quân Áo Phổ trong vòng 4 tháng.

Plevna, năm 1877, do 35.000 quân Thổ Nhĩ Kỳ cố thủ, đã phải đầu hàng sau khi chặn đường tiến quân của quân Nga vào vùng Balkans trong vòng 5 tháng. Cuối cùng quân Nga đã chiếm được sau khi mất 44.000 người.

Vào năm 1914, tướng Léman đã chỉ huy việc phòng thủ thành Liège, cuối cùng cũng phải thất thủ sau mười ngày chiến đấu chống những lực lượng lớn hơn rất nhiều. Nhưng việc cố thủ này đã tạo điều kiện cho quân đội Bỉ có thể rút lui trong trật tự.

Sébastopol, vào năm 1942, thất thủ sau khi đã làm chậm lại trong vòng một tháng chiến dịch mùa hè của quân Đức đang muốn tiến về Stalingrad. Do đã “hoàn thành nhiệm vụ”, nên không một vụ thất thủ nào tại các địa danh trên bị xem là một thảm họa để phải kết thúc cuộc chiến tranh.

Nhưng cuộc chiến Đông Dương không như những cuộc chiến tranh khác. Đây là một cuộc chiến tranh mà đất nước không thấy có quyền lợi quốc gia, dân chúng đã quá mệt mỏi, và người ta cũng để cho họ nghĩ là nó không còn một ý nghĩa nào cả. Đây là một cuộc chiến mà số đông các chính trị gia chỉ muốn tìm cớ để kết thúc nó.

Do đó, những hậu quả của sự thất thủ Điện Biên Phủ đã được dự báo trước là sẽ nghiêm trọng hơn nhiều so với ý nghĩa về mặt quân sự của thất bại này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #118 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:48:06 pm »


CHƯƠNG VIII
CÁC DIỄN BIẾN TIẾP THEO SAU TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ


Ngay sau khi tôi nhận thấy chiến dịch Điện Biên đang diễn biến theo chiều hướng xấu, với sự thống nhất của ngài Tổng ủy, tôi thông báo với chính phủ Pháp về tình hình có thể xảy ra nếu tập đoàn cứ điểm bị thất thủ. Và tôi cũng gợi ý cho chính phủ về các biện pháp ở cấp nhà nước cần phải có để đối phó. Một bức điện tín với nội dung rất rõ ràng về vấn đề này được gửi đi ngay vào ngày 16 tháng 3.

Ngay khi trận đánh đang xảy ra, ông Dejean và tôi đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm chung của chúng tôi trong nhiều bức thư, điện tín. Về phần tôi, tôi cũng viết thêm thư riêng gửi cho ông Marc Jacquet, Tổng trưởng phụ trách các Quốc gia Liên kết, thống chế Juin, và tướng Ely, Tổng tham mưu trưởng.

Quan điểm tôi không ngừng nhấn mạnh có thể được tóm tắt như sau:

“Nếu Điện Biên Phủ sụp đổ, chiến dịch 1953-1954 sẽ kết thúc bằng một thất bại chiến thuật rất nghiêm trọng, nhưng nó cứu được nước Lào và giúp tránh được những sự xáo trộn quan trọng cho vùng châu thổ và vùng trung tâm Đông Dương. Mặt khác trên tất cả những chiến tuyến khác ngoài Điện Biên Phủ, chúng ta đã đứng vững và không có một cứ điểm nào bị mất. Binh đoàn Tác chiến của Việt Minh bị thiệt hại nghiêm trọng hơn rất nhiều. Về mặt chiến lược, chúng ta sẽ không phải lo sợ về thất bại không khắc phục được.

Nhưng sự thất thủ của cứ điểm Điện Biên Phủ sẽ là một cú sốc về mặt tâm lý vừa khắc nghiệt, vừa gây ấn tượng rất mạnh. Vấn đề là làm thế nào tránh được một cú sốc có thể gây ra sự sụp đổ về mặt tinh thần của nước Pháp dẫn đến hoặc một sự thất bại về mặt quân sự, hoặc sự chấp nhận với bất cứ giá nào một nền hòa bình mà trên thực tế tình hình không đến nỗi tồi tệ như vậy(Trong một công văn đề ngày 21 tháng 4, báo cáo cho chính phủ, về tình hình ngay trước khi hội nghị Genève nhóm họp, tôi viết: “Vì sự thiệt hại của đối phương quá lớn nên lúc này đã là quá trễ để các sư đoàn của Việt Minh sau khi dự xong chiến dịch Điện Biên Phủ có thể tiến đánh vùng Bắc Lào hoặc quay trở về vùng châu thổ với những khả năng tấn công nguy hiểm. Sự thất thủ Điện Biên Phủ có thể mang lại những hậu quả nghiêm trọng hơn vào thời điểm này chỉ khi nào nước Pháp và Việt Nam để bị buông trôi theo tinh thần mệt mỏi và ý muốn bỏ cuộc”.

Chính vì vậy, việc chủ yếu là nước Pháp và các Quốc gia Liên kết phải xác định mạnh mẽ quyết tâm của họ theo đuổi cuộc chiến và thông báo ngay lập tức dự định của họ về những biện pháp cần thiết. Về mặt chính trị, quyết tâm này phải được thể hiện bằng sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho dư luận quần chúng1. Về mặt quân sự, quyết tâm này phải được thực hiện bằng sự giữ vững các vị trí của chúng ta trên toàn lãnh thổ Đông Dương; sau đó là sự chuẩn bị để gửi thêm chi viện - trong trường hợp hội nghị Genève diễn biến chậm.

Tất cả những việc trên không ngăn cản việc tìm kiếm hòa bình thông qua thương thuyết, vì những cuộc thương thuyết đó đã bắt đầu, nhưng điều quan trọng là chúng không được tiến hành trong không khí bại trận.

Cho dù chính phủ đã không làm gì để thực hiện những gợi ý nói trên và cho dù họ đã không trả lời một cách chính thức nhưng qua thái độ của họ, cũng như qua những bức thư có tính cách cá nhân được những nhân vật có trách nhiệm gửi đến cho tôi, tôi có thể cho rằng quan điểm đó đã được chấp thuận trên nguyên tắc2.

Những lời tuyên bố ngày 13 tháng 5 - sau sự thất thủ của cứ điểm Điện Biên Phủ - của thủ tướng trước quốc hội xác nhận điều này: những lời tuyên bố của ông gần như hoàn toàn trích từ những lá thư của tôi trình bày quan điểm này.
_______________________________________
1. Ngay khi cuộc tấn công bắt đầu, ông Dejean và tôi đã yêu cầu phổ biến trên phạm vi đất nước những nội dung sau đây, mà thực tế là hoàn toàn đúng với sự thật:
    a. Thất thủ Điện Biên Phủ là một thất bại chứ không phải là một thảm họa. Lực lượng đồn trú tại Điện Biên Phủ chỉ khoảng 5% của toàn bộ lực lượng quân đội của chúng ta tại Đông Dương.
    b. Thất bại của trận đánh được bù lại bằng các kết quả đạt được rất quan trọng: đã cứu được nước Lào, giữ được vùng châu thổ và tạo điều kiện cho chúng ta đối đầu với cuộc tiến quân của Việt Minh vào vùng trung tâm Đông Dương.
    c. Đối phương thiệt hại hơn chúng ta rất nhiều. Họ phải mất rất nhiều thời gian để bù đắp lại.
    d. Trong trường hợp một nền hòa bình trong danh dự không thể đạt được tại Genève, cuộc chiến tranh có thể và phải được tiếp tục. Sự xụp đổ của một pháo đài không thể biện minh cho sự từ bỏ cuộc chiến đấu.

2. Ngày 10 tháng tư, tướng Ely, Tổng tham mưu trưởng quân đội khi nói về một tư tưởng chủ bại đang bắt đầu được hình thành ở Hà Nội, đã viết cho tôi như sau: Tôi rất quan tâm đến những lo lắng đã dần xuất hiện theo diễn biến tình hình tại Điện Biên Phủ. Tôi vẫn giữ quan điểm cho là chúng ta đã mong đợi trận đánh diễn ra và nếu lực lượng đồn trú tại đấy bị thất thủ, thì đó vẫn là một thành công về mặt quân sự nếu xét theo cách nhìn là Binh đoàn Tác chiến Việt Minh đã phải chịu những thiệt hại quyết định.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #119 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2010, 09:53:07 pm »


***

Diễn tiến của tình hình quân sự trong những tuần lễ tiếp theo sự sụp đổ của Điện Biên Phủ chỉ củng cố thêm quan điểm mà tôi đã phát biểu khi trận đánh diễn ra.

Ngay sau khi tập đoàn cứ điểm thất thủ, có một sự suy giảm rất lớn sức ép của đối phương. Sự giảm bớt này chứng tỏ sự mệt mỏi của Việt Minh và họ không còn khả năng tận dụng ngay lập tức về mặt chiến lược, một chiến thắng chiến thuật họ vừa có được. Sự kiện này đã tạo điều kiện cho ta tập hợp các lực lượng cho đến lúc bấy giờ ta vẫn chưa làm được, cho phép chúng ta đối phó với một cuộc tấn công vào vùng châu thổ nếu nó xảy ra.

Ở Bắc Lào, địch quân sau khi đưa một vài đơn vị vào vùng Nậm Bạc, đã dừng lại và thu quân trở về vùng Điện Biên Phủ.

Trong vùng châu thổ, họ đã mở một cuộc tấn công vào vùng Phủ Lý và một số đồn bót ở mặt trận phía nam, nhưng trục giao thông Hải Phòng -Hà Nội đã trở lại tương đối yên tĩnh. Ba binh đội cơ động rút từ những chiến tuyến khác đã lần lượt được đặt dưới quyền chỉ huy của tướng tư lệnh vùng Bắc Bộ.

Tại Trung Lào, Việt Minh rút đi một phần các lực lượng của họ trong vùng Vịnh, tạo điều kiện giảm bớt gánh nặng trong vùng để có thể thu hồi được hai binh đội cơ động đưa về tăng cường cho vùng châu thổ.

Trong vùng Nam Lào, các hoạt động của đối phương trên trục đường Sài Gòn - Séno giảm bớt rõ rệt, và cho phép chúng ta giảm các lực lượng chiến đấu. Một binh đội cơ động cũng đã được thu hồi và hỗ trợ cho vùng châu thổ.

Ở Campuchia các tiểu đoàn của Việt Minh xâm nhập vào vùng lãnh thổ phía bắc của nước này đã rút về hậu cứ và một số đơn vị khác rút về Trung Bộ Việt Nam.

Ở vùng Nam Bộ, sự yên tĩnh trở lại và tình hình diễn biến xấu ở một số nơi đã ngưng.

Trong vùng “Atlante” và trên Tây Nguyên, Việt Minh rút bớt các lực lượng chung quanh An Khê, nhưng lại mở các cuộc đột kích nhắm vào các trục giao thông của chúng ta về hướng Ban Mê Thuộc và Tuy Hòa, gây nhiều khó khăn cho ta.

Trong vùng Trung Bộ Việt Nam, địch quân mở một loạt các cuộc tấn công nhỏ vào vị trí của chúng ta trong vùng Đà Nẵng, uy hiếp vùng Đồng Hới. Để đối phó với sự hoạt động trở lại của đối phương, chúng ta đã cho gửi một binh đội cơ động và một số đơn vị khác, rút từ vùng “Atlante”.

Như thế thì chúng ta đã kiểm soát được tình hình chung trên các chiến trường ở Đông Dương. Chúng ta có những khó khăn nghiêm trọng ở một số địa phương, nhưng không có một sự nguy hiểm nghiêm trọng tức thì nào.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM