Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:21:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đông Dương hấp hối  (Đọc 81819 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #140 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:15:43 am »


Lý luận của tôi như sau. Việc thông báo họp hội nghị Genève đã là một thảm họa về mặt quan điểm quân sự. Nó phá vỡ tan nát tinh thần và sức mạnh của quân đội Việt Nam và làm mất đi tất cả nhưng hy vọng của chúng ta về một giải pháp thuận lợi cho vấn đề Đông Dương. Nó thúc đẩy Việt Minh quyết định đánh dứt điểm cuộc chiến bằng mọi giá, và Trung Quốc quyết tâm trợ giúp họ với quy mô vượt qua mọi dự đoán. Nó thúc đẩy Việt Minh tấn công Điện Biên Phủ, và sự thất thủ của cứ điểm này là một việc rất có khả năng xảy ra. Bị đưa vào một sự việc đã rồi, và chúng ta không thể nào làm một cái gì hơn, ta phải tìm cách tranh thủ tất cả những gì thuận lợi mà hội nghị này có thể mang lại cho ta để đổi lại những gì chúng ta đã phải trả giá. Một cuộc “ngưng bắn” ngay lập tức có thể cứu được Điện Biên Phủ để ổn định tình hình nếu không nó sẽ trở nên tồi tệ hơn - vì không có gì thảm hại hơn cho tinh thần của một quân đội đang phải chiến đấu, trong không khí kéo dài của các cuộc thương thuyết về hòa bình.

Quan điểm này không phù hợp với quan điểm của Bộ Ngoại giao Pháp. Họ cho rằng chỉ nên ngừng bắn khi nào có sự đảm bảo là Việt Minh sẽ không tranh thủ việc đình chiến để đạt được các ưu thế mà họ không đạt được trong chiến tranh.

Tôi phản bác lại - và tôi cho rằng mọi chuyện xảy ra sẽ xác nhận là tôi đúng - rằng những “sự đảm bảo” nói trên đều là ảo tưởng, và dù sao cũng không bù đắp được thiệt hại của chúng ta do sự sụp đổ của cứ điểm Điện Biến Phủ, sự diễn biến tồi tệ hơn của tình hình quân sự, sự tan rã của quân đội Việt Nam, nếu cuộc chiến cứ kéo dài. Tuy tôi đã cực lực phản đối nhưng lý lẽ của tôi không được chấp nhận. Bằng cách suy luận theo kiểu các luật gia hơn là với đầu óc thực tế, các nhà lãnh đạo của ta đáng lẽ phải nắm con chủ bài là tình hình còn đang rất vững, nhưng lại thay vào đó bằng những cam kết mà chúng ta biết chắc đối phương chỉ thực hiện khi nào họ thấy có lợi.

Cuộc tranh luận sơ bộ về một cuộc ngưng bắn và một cuộc đình chiến qua thương thuyết kết thúc nghiêng về hướng thứ hai, do đó chúng ta phải xác định ta muốn gì khi ngưng cuộc chiến.

Cả về điểm này, nước Pháp đã không xác định được chính sách của mình và không có một sự thống nhất nào với các Quốc gia Liên kết, cũng như với các đồng minh Mỹ và Anh. Trên tất cả mọi lĩnh vực, các quan điểm đều trái ngược nhau.

Có một sự mâu thuẫn trong các giới chính trị ở Pháp, giữa những người muốn chứng tỏ qua hội nghị là hòa bình chưa thể đạt được vào lúc này và số người, đông hơn, muốn có hòa bình bằng mọi giá.

Có một sự mâu thuẫn giữa nước Pháp, muốn có sự nhượng bộ với Việt Minh - cho dù chưa biết chính xác đó là những sự nhượng bộ như thế nào - và chính phủ Việt Nam, tuy đã chẳng làm một việc gì nghiêm túc để đánh thắng cuộc chiến, nhưng lại không chấp nhận một nền hòa bình có sự nhân nhượng cho những kẻ “nổi loạn”.

Có một sự bất đồng giữa Mỹ và Pháp vì người Mỹ cảm thấy chua chát khi tiền và trang thiết bị mà họ cung cấp cho chúng ta có nguy cơ bị mất trắng, như đã từng xảy ra với Tưởng Giới Thạch. Và người Mỹ đến dự hội nghị chỉ để phá đám.

Chúng ta cũng phải quan tâm đến quan điểm của người Anh cho rằng cuộc phòng thủ Đông Dương là tối cần thiết cho họ và cho dù họ chẳng giúp ta một cái gì, chúng ta vì họ mà tiếp tục nó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #141 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:17:03 am »


Cũng như về vấn đề cơ hội cho cuộc đình chiến, nước Pháp và các đồng minh không thống nhất với nhau về thể thức của cuộc đình chiến này, nếu có.

Hai giải pháp có khả năng được áp dụng: duy trì sự thống nhất của Việt Nam dưới một chính phủ “Quốc gia Thống nhất” với sự có mặt của đại diện hai phía, hoặc phân chia đất nước theo kiểu Triều Tiên.

Giải pháp thứ nhất tạo ra một rủi ro rất lớn gần như một điều chắc chắn - do sự yếu kém bẩm sinh của chế độ quốc gia Việt Nam - chính phủ thống nhất sẽ nhanh chóng bị Cộng sản lũng đoạn và khống chế theo phương pháp chiếm chính quyền, đã giúp họ thành công ở nhiều nơi khác.

Nhưng nếu cân nhắc sự không thiện cảm chắc chắn của Việt Minh đối với một sự tùy thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, thì giải pháp này có thể là giải pháp duy nhất giúp cho nước Pháp còn một cơ hội có mặt ở lại Đông Dương. Dĩ nhiên giải pháp phải có sự thống nhất của người Mỹ là họ sẽ tránh đi. Việc này chắc chắn là khó, nhưng chúng ta không loại bỏ việc có thể thuyết phục được họ là vùng Đông Nam châu Á sẽ được bảo vệ tốt hơn bằng một nước Việt Nam thống nhất nhưng trung lập hơn là bằng một nước Nam Việt Nam thân Mỹ nhưng lại dễ bị một Bắc Việt Nam mạnh hơn nhiều khống chế.

Ngược lại, chia cắt Việt Nam thành hai miền có lợi là duy trì ở phần phía nam Đông Dương một vùng về mặt lý thuyết không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản, và có thể xây dựng ở đây những căn cứ của phương Tây, tức là của Mỹ.

Đó chính là ý muốn của người Mỹ, nhưng họ chưa dám công khai nói ra vì sẽ đụng chạm đến quan điểm của người Việt Nam, lúc nào cũng muốn duy trì sự thống nhất của đất nước.

Người Anh cũng vậy, dù họ không dám nói gì hơn, là những người ủng hộ giải pháp phân chia, giúp duy trì trong một thời gian một tấm đệm an toàn tương đối trước vùng đất Malaysia và cho phép họ duy trì việc “chờ và xem” (wait and see).

Còn đối với các Quốc gia Liên kết là cả một sự bối rối. Nước Campuchia là một vùng hoàn toàn nằm về phía nam, nên không có vấn đề gì. Đối với nước Lào là một bi kịch, vì cho dù nước Lào vẫn còn thống nhất về mặt lý thuyết, phần phía bắc có nhiều khả năng sẽ bị thu hút về phía miền Bắc Việt Nam theo Chủ nghĩa Cộng sản1. Tại Việt Nam, tất cả những gợi ý cho một sự phân chia đều tạo ra phản ứng bất bình của dân chúng, cũng như những lời tuyên bố nảy lửa của các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự. Trên thực tế, sự bất bình này chỉ thành thực ở các nhà chính trị có nguồn gốc ở Bắc Bộ - không thể có một sự mơ hồ nào về số phận của họ khi có một sự phân chia - sự bất bình trên ít được nhận thấy hơn ở những người miền Trung và nhất là miền Nam. Đối với những người ở phía nam, ý tưởng về một sự tách rời khỏi miền Bắc, nghèo nàn hơn về lúa gạo, mà miền Nam thường phải giúp nuôi ăn, là một sự kiện không có gì quá bi thảm. Một số người miền Nam vẫn gắn bó với nước Pháp và không thích người Bắc Bộ mà họ lo sợ vì tính thô bạo và sự năng động của những người này, trong đáy lòng đã nhìn sự phân chia này với một chút thuận lợi nào đó.
__________________________________________
1. Một chính phủ Lào ly khai (Pathet Lao) đã được Việt Minh thiết lập ở Sầm Nưa (do họ chiếm được vào tháng 3 năm 1953).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #142 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:17:25 am »


Nước Pháp thì do dự giữa việc tiến hành duy trì sự thống nhất của Việt Nam và hy vọng giữ được ít nhất một “cái gì đó” ở phía Nam, nếu giải pháp chia cắt thắng thế.

Việt Minh thì qua sự biểu hiện bên ngoài cũng có vẻ như ủng hộ cho sự thống nhất của Việt Nam, nhưng trong giai đoạn này cũng nghiêng một cách kín đáo về sự phân chia, tạo ra cho họ rất nhiều thuận lợi to lớn.

Trước hết là thuận lợi về mặt quân sự. Trên thực tế, giữa hai kỳ phùng địch thủ này, cán cân về quân sự nghiêng về phía Bắc. Khi buộc chúng ta phải rút khỏi miền Bắc, Việt Minh ép buộc ta phải có một sự nhượng bộ quan trọng hơn rất nhiều so với việc họ chấp nhận phải rời khỏi phần phía Nam, nơi họ có ít lực lượng chính quy và nhiều lực lượng địa phương hơn mà họ có thể cho giải ngũ ngay tại chỗ về mặt hình thức, nhưng trên thực tế vẫn giữ các lực lượng này lại làm thành đạo quân thứ năm phía sau phòng tuyến chúng ta.

Đứng về mặt chính trị, sự phân chia còn tạo ra nhiều thuận lợi hơn cho Việt Minh. Việc sở hữu hoàn toàn phần đất phía Bắc tạo điều kiện cho họ ra hoạt động công khai, được nâng lên hàng một Nhà nước có tổ chức và được công nhận một cách chính thức. Họ sẽ có một thủ đô chính trị là Hà Nội và một lá phổi kinh tế là Hải Phòng. Họ sẽ tranh thủ các điều kiện này về sau để chinh phục phần phía Nam bằng các con đường quân sự và chính trị.

Do đó ở cả hai phía, người ta tuyên bố một cách công khai ủng hộ cho một nước Việt Nam thống nhất, nhưng đều mong muốn một cách kín đáo một sự chia cắt.

Vấn đề hòa bình là chủ đề tranh luận trong những tuần lễ trước khi hội nghị Genève diễn ra, sự bối rối không biết giải quyết như thế nào trong nội bộ phe phương Tây bị đẩy lên tột độ. Không có một kế hoạch, một chương trình hành động, một sự khác biệt quan điểm nào mà không được báo chí trình bày, mổ xẻ với cường độ càng tăng lên khi hội nghị càng đến gần.

Các tin tức nghiêm trọng đến từ Điện Biên Phủ, các cuộc tranh luận về một cuộc can thiệp của không lực Hoa Kỳ, sự rút lui của người Mỹ khi họ bị đẩy đến chân tường, kế hoạch của họ nhằm xây dựng một liên minh phòng thủ ở vùng Đông Nam châu Á mà Anh và Pháp xem xét một cách dè dặt - tất cả những sự kiện này tạo ra một rối loạn tinh thần và hoảng loạn, trái ngược hoàn toàn với sự bình tĩnh, sự kiên quyết và sự bí mật tuyệt đối bên phía Việt Minh.

Vì đối với họ, Genève là một thắng lợi lớn, đài phát thanh của họ không bỏ lỡ cơ hội để tuyên truyền. Họ đã buộc được chúng ta phải chấp nhận thương thuyết, trong khi đối với chúng ta chỉ riêng sự kiện chấp nhận nguyên tắc thương thuyết đã là một sự thua trận.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #143 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:18:45 am »


***

Chỉ vào khoảng giữa tháng tư - không tới hai tuần trước khi hội nghị bắt đầu - Bộ Ngoại giao mới quyết định tham khảo chúng tôi, ngài Tổng ủy và tôi, về những điều kiện cho một cuộc đình chiến mà ta có thể chấp nhận được.

Vấn đề chủ yếu và khó nhất là việc tập kết các lực lượng quân sự của hai bên. Rõ ràng là cách tập kết các lực lượng quân sự này báo trước - cho dù những điều khoản của hiệp định sẽ như thế nào - giải pháp chính trị mà người ta đang hướng đến cho nền hòa bình. Nếu chương trình này được thực hiện dưới hình thức những sự tập kết cục bộ trong từng vùng lãnh thổ (Bắc, Trung, Nam Bộ), thì người ta sẽ hướng về việc duy trì sự thống nhất. Còn nếu ngược lại, chúng ta tiến hành một sự tập kết rộng lớn các lực lượng của mỗi phe trong một vùng lãnh thổ địa lý rộng (lực lượng Việt Minh ở phía Bắc một lằn ranh nào đó và nước Việt Nam quốc gia ở phía Nam), thì việc này có khả năng dẫn đến một sự chia cắt về mặt chính trị về sau của đất nước này.

Vì đã chính thức lựa chọn giải pháp giữ sự thống nhất lãnh thổ nên chúng tôi chỉ có thể khuyến cáo công thức về một sự tập hợp cục bộ theo từng vùng lãnh thổ. Bên trong Bắc Bộ, Trung bộ, và Nam Bộ, mỗi bên phải tập kết các lực lượng của mình trong một số khu vực nào đó, trên cơ sở tình hình quân sự vào ngày đình chiến và ổn định những chiến tuyến quan trọng của mỗi bên trong những điều kiện trên. Bộ Ngoại giao tại Quai d’Orsay đã yêu cầu ngài Tổng ủy và tôi thống nhất những đề nghị chi tiết, tạo cơ sở ban đầu để các nhà thương thuyết của chúng ta làm việc ở Genève.

Ở Bắc Việt Nam, chúng ta giữ Hải Phòng, Hà Nội, đường sắt nối liền hai thành phố này, cùng với vùng đất phía bắc, bao gồm vùng bờ biển. Chúng ta cũng giữ lại phần lớn vùng phía bắc Hà Nội. Các lực lượng của Việt Minh sẽ tập hợp trong vùng Phủ Lý- Hưng Yên- Thái Bình và một phần của vùng phía tây. Các giáo phận Công giáo (Nam Định, Bùi Chu, Phát Diệm) sẽ là những vùng trung lập. Một số biện pháp tiếp cứu những nhóm thiểu số trung thành với chúng ta trong vùng núi đã được dự kiến.

Ở Trung Bộ Việt Nam, chúng ta giữ lại tất cả những gì chúng ta đang chiếm giữ. Việt Minh tập hợp lại các lực lượng của họ trong hai hay ba vùng tiếp giáp với núi. “Vùng Atlante” và vùng cao nguyên Trung Bộ sẽ được phân chia bởi trục Quy Nhơn, An Khê, Pleiku, giữa một bên là chúng ta đóng ở phía nam và Việt Minh đóng ở phía bắc.

Ở Nam Bộ Việt Nam, Việt Minh tập hợp lại trong ba hay bốn vùng kém quan trọng, thường là những căn cứ địa của họ, và giữ lại bán đảo Cà Mau.

Lẽ tất nhiên đối phương sẽ rút ra khỏi những vùng ở Lào và Campuchia mà họ đã chiếm đóng.

Có thể là Việt Minh mong chúng ta là những người đầu tiên nói đến việc phân chia, cho nên phải mất một thời gian rất lâu họ mới cho thấy ý đồ của họ1.

Những đề nghị của họ vô cùng khôn khéo: một sự phân chia tạm thời, chỉ có hiệu lực cho việc đình chiến thôi chứ không phải cho hòa bình, với mục đích là họ vẫn duy trì nguyên tắc về một sự thống nhất. Như thế họ có thể giành phần lợi thế trên cả hai lĩnh vực.

Về ranh giới phân chia giữa phần phía bắc và phần phía nam, Việt Minh đề nghị vĩ tuyến thứ 13. Họ biết chắc chắn đề nghị của họ là không thể chấp nhận được - chúng ta phải hy sinh Huế và Đà Nẵng - nhưng đây chỉ là một cái giá ban đầu để các nhà thương thuyết của họ làm việc, như kế hoạch của chúng ta cho việc tập kết trên nhưng lãnh thổ mà tôi đã nói vắn tắt ở phần trên.
_______________________________________
1. Trong những cuộc tranh luận về hội nghị Genève trước quốc hội, ông Frédéric Dupont, Tổng trưởng phụ trách các Quốc gia Liên kết trong chính phủ Laniel (thay thế ông Marc Jacquet, đã từ chức) đã trưng ra một tài liệu, do đại tá Brébisson, thành viên quân sự của phái đoàn Pháp lập ra. Tài liệu này cho biết vế những đề nghị mà Việt Minh đã đưa ra trong một phiên họp bí mật vào ngày 10.6. Theo đó thì Việt Minh cho ông biết rằng, vùng Bắc Bộ là vùng chủ yếu và có lợi ích rất lớn đối với họ và phải hướng về hai vùng tập kết, một ở phía bắc (cho Việt Minh), và một ở phía nam cho các lực lượng của khối Liên hiệp Pháp. Lằn ranh phân chia giữa hai vùng nằm vào khoảng bên cạnh thành phố Huế. Tài liệu này là một chủ đề tranh luận gay gắt giữa ông Frédéric Dupont, khẳng định là đã đưa cho ông Mendes France khi ông cầm đầu phái đoàn Pháp, còn ông ta lại tuyên bố không biết gì về việc này cả.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #144 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:21:15 am »


***

Xuất phát từ những vị trí ban đầu đối ngược như vậy, nhiệm vụ của những nhà ngoại giao của hai phe là tìm ra một giải pháp dung hòa.

Những nền tảng cho việc thương lượng đó là không thể dung hòa được, vì được xây dựng trên những khái niệm khác nhau: Thống nhất hay chia cắt. Phải một trong hai phe từ bỏ lập trường của mình. Nhưng trong trường hợp này, việc phe từ bỏ lập trường được đền bù rộng rãi là một điều hiển nhiên.

Và chúng ta đã nhượng bộ một cách nhanh chóng. Có lẽ chúng ta khó tránh khỏi phải nhượng bộ, thậm chí có lẽ chúng ta cũng ước muốn nó một cách kín đáo. Nhưng những nhà thương thuyết của ta đã không tranh thủ được sự thuận lợi mà Việt Minh đã tạo ra khi họ đưa trước lá bài. Chúng ta đã nhượng bộ mà không có sự có đi có lại nào cả.

Chúng ta có hai ê kíp các nhà thương thuyết nối tiếp nhau làm việc tại Genève. Ê kíp đầu tiên do ông Bidault dẫn đầu, ê kíp thứ hai do ông Mendès France dẫn đầu. Cả hai đều đổ trách nhiệm cho nhau về việc bỏ lỡ cơ hội có đi có lại này.

Khi ngài Mendès France nắm quyền chính thức trong việc thương thuyết, các quan điểm ban đầu đã xích lại gần với nhau rất nhiều và chính là phía chúng ta đã đi đến 9 phần 10 đoạn đường, chính Việt Minh công nhận điều này và họ chờ chúng ta yêu cầu họ có những nhượng bộ rất quan trọng. Thậm chí họ còn nói rõ là sẽ sẵn sàng đồng ý nhượng bộ một số điểm1. Hình như ông Mendès France vội vàng muốn ký một hiệp ước với bất cứ giá nào nên đã không làm điều đó.

Sự có đi có lại nói trên trước hết là ở chỗ vị trí lằn ranh đình chiến phải được quy định tại vĩ tuyến thứ 182 và việc duy trì ở Bắc Bộ một khu đất nằm giữa vùng của Việt Minh: cảng Hải Phòng.

Một hiệp ước đình chiến - ta không được quên - không phải là một hòa ước. Khi nó được thống nhất - như trong trường hợp này - giữa các địch thủ đang còn đủ khả năng tiến hành chiến tranh thì nó phải chứa đựng các điều kiện cho phép, trong trường hợp một trong hai bên sử dụng nó như một trò lừa phỉnh, tiếp tục cuộc chiến trong các hoàn cảnh mà cả hai bên đều đã có được trước khi cuộc ngưng bắn diễn ra. Thế nhưng khả năng khởi động lại chiến tranh chỉ khả thi cho chúng ta trong điều kiện thuận lợi nếu như ranh giới quân sự ở tại vĩ tuyến thứ 18 và chúng ta còn giữ một đầu cầu trong vùng châu thổ Bắc Bộ là cảng Hải Phòng để có thể tiến hành những cuộc tấn công. Mọi cuộc đình chiến không bao gồm những điều khoản nói trên chỉ là một sự đầu hàng.

Bên cạnh các yêu cầu về mặt chiến lược nói trên, chúng ta còn phải thêm một yêu cầu về mặt tinh thần: trung lập hóa các giáo phận Công giáo trong vùng châu thổ. Thật là một điều hoàn toàn đi ngược lại với danh dự và uy tín của nước Pháp khi chúng ta bỏ lại dưới sự cai trị của Việt Minh các cộng đồng Công giáo đã cung cấp cho chúng ta những đơn vị tinh nhuệ nhất và chắc chắn, họ sẽ rơi vào sự trừng phạt của đối phương3.

Để có thể đạt được sự trung lập hóa này, chúng ta phải duy trì sự có mặt trong vùng phía nam châu thổ trong suốt thời gian hội nghị diễn ra. Thế nhưng, chúng ta lại rời bỏ vùng đó vào đầu tháng 7 (cuộc hành quân “Auvergne”) vội vã đến nỗi không thể nào di tản kịp những người muốn ra cùng đi với chúng ta.

Việc rút lui nói trên hoàn toàn không do tình thế quân sự đòi hỏi, kéo theo sự từ bỏ - không thể tránh khỏi - yêu cầu của ta đòi trung lập hóa các sứ đạo đã đem lại những hậu quả hết sức nặng nề trong tương lai. Chúng là nguyên nhân đưa đến một sự di cư ồ ạt về phía nam, trong những điều kiện hết sức tồi tệ của gần một triệu người Công giáo. Chúng đã củng cố thái độ chống Pháp của ông Diệm, cũng là một người Công giáo, đã nắm lấy quyền hành ngay ngày chúng ta di tản ra khỏi những giáo phận này, và những người tỵ nạn theo đạo Công giáo trở thành những người nhiệt tình ủng hộ ông ta nhất.

Và cuối cùng, chúng ta phải có sự cẩn thận cần thiết đối với việc tổng tuyển cử, chúng ta phải giành quyền, hoặc trì hoãn cuộc tổng tuyển cử này trong một số trường hợp giả định, hoặc là duy trì việc phân chia giữa miền Bắc và miền Nam - như là ở Triều Tiên - nếu đa số dân chúng ở miền Bắc bỏ phiếu cho Việt Minh và đa số dân chúng miền Nam bỏ phiếu cho Quốc gia.
_______________________________________
1. Đó là những gì mà ông Frédéric Dupont nói một cách chính thức với Quốc hội. (Phiên họp ngày 18 tháng 12 năm 1954). Những tin tức tôi nhận được xác minh lời nói của ông.
2. Tức là vùng đèo Ngang. Ông Fréderic Dupont đã khẳng định trong cuốn sách của mình: Nhiệm vụ của nước Pháp ở châu Á là Việt Minh chờ đợi chúng ta sẽ đưa ra yêu sách này và họ sẵn sàng nhượng bộ. Tôi cũng có các tin tức tương tự như vậy.
3. Trước khi hội nghị Genève diễn ra, ông Dejean và tôi đã gửi yêu cầu đến Bộ Ngoại giao Pháp đề nghị trung lập hóa những giáo phận nói trên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #145 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:25:10 am »


***

Ngay khi hội nghị khai mạc, tôi bị gạt hoàn toàn ra khỏi các cuộc thương thuyết, cho dù về mặt nguyên tắc việc đình chiến phải được người tổng chỉ huy quân đội tham chiến ký hoặc là một người được ông ủy quyền. Tôi được yêu cầu gửi đến Genève một người đại diện, nhưng người này thậm chí không được quyền liên lạc trực tiếp với tôi để thông báo tình hình. Chức danh “đại diện của Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương” chỉ là một hư danh mà thôi, và ông này chỉ được xem như là một trong những chuyên gia quân sự của phái đoàn Pháp, do Bộ Ngoại giao lãnh đạo từ đầu đến cuối trong các cuộc thương thuyết, không bao giờ có sự tham khảo với tôi. Tôi chỉ được thông tin một cách rất hạn chế về diễn biến của các cuộc thương thuyết trên. Tuy vậy, dù sao đi nữa, tôi vẫn có đủ các tin tức để khẳng định rằng tất cả đã được sắp xếp một cách ý thức hay vô tình - cho một sự đầu hàng giả dạng.

Để tránh một sự đầu hàng giả dạng như vậy, chúng ta phải làm cho Việt Minh thấy ta quyết tâm kết thúc chiến tranh trong danh dự và nếu không đạt được mục đích như vậy, chúng ta sẽ tiếp tục cuộc chiến với những phương tiện được chi viện thêm. Có thể làm như vậy, chúng ta đã có một thái độ hơi bịp bợm, nhưng sự bịp bợm cũng là một phương tiện chính trị... đặc biệt, và dành cho những người biết giấu kỹ lá bài. Nhưng thái độ này của chúng ta chỉ có thể có hiệu quả với một số điều kiện.

Điều kiện đầu tiên là lá bài về quân sự của chúng ta không quá bị xuống cấp, hoặc không quá tệ. Ta đã thấy sự rút lui vội vã và không có ích gì trên vùng Tây Nguyên và nhất là vùng châu thổ Bắc Bộ làm cho những điều kiện này trở nên không phù hợp nữa (xem Chương 7).

Và phải có sự chuẩn bị chi viện quan trọng ở Pháp cũng như ở Bắc Phi cho những yêu cầu của tôi và khi các đơn vị lên đường, nó phải được thông báo một cách nhanh chóng, cho dù những cuộc thương thuyết đang ở giai đoạn nào đi nữa.

Lực lượng chi viện đã được chuẩn bị sẵn sàng, nhưng số lượng ít ỏi của nó đã bị báo chí tiết lộ ngay lập tức1 và ngày lên đường lại được ấn định quá xa. Việc gửi thêm các lực lượng chiến đấu sẽ cho phép - bằng cách bố trí những đơn vị mới đến này vào những nhiệm vụ thứ yếu - rút một lực lượng từ 15 đến 20 tiểu đoàn cho Binh đoàn Tác chiến. Kế hoạch này đã được tranh luận một cách công khai, và quyết định cuối cùng là nó chỉ được thực hiện khi nào các cuộc thương thuyết thất bại.
___________________________________
1. Tuần báo France-Observateur, số ngày 27.5.1954, đã phổ biến một bài báo ký tên là Roger Stéphane, (chúng ta còn nhớ là tác giả của việc tiết lộ cuộc tranh luận về việc phòng thủ nước Lào tại Ủy ban Quốc phòng ngày 24 tháng 7 năm 1953), đăng bản tường trình của Ủy ban Quốc phòng ngày 24 tháng 5 năm 1954, trong đó có một bản kê chi tiết về các lực lượng chi viện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #146 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:25:35 am »


Xét đến sự chống đối của Việt Minh, của dân chúng Pháp và nhất là của quốc hội, việc chỉ công khai hóa quyết định chi viện này khi nào những cuộc thương thuyết thất bại thì chẳng khác nào cho đối phương biết rõ là chúng ta kiên quyết đạt đến hòa bình bằng bất cứ giá nào.

Để các cuộc thương lượng có cơ hội thành công, chúng ta phải tạo một sức ép lên Việt Minh và Trung Quốc, về khả năng một cuộc can thiệp mạnh mẽ của Mỹ trong trường hợp hội nghị Genève thất bại, nhưng sức ép này đã qua đi rất lâu trước khi những cuộc thương thuyết bắt đầu. Chúng ta có thể nhớ lại việc Lầu Năm Góc đề nghị hỗ trợ bằng không lực để giải cứu Điện Biên Phủ, nhưng sau đó họ lại rút lui. Ảnh hưởng tinh thần của sự tháo lui rất là nặng nề, và càng nặng nề hơn khi những lời tuyên bố của ông Foster Dulles được báo chí đăng tải rất nhiều, tố cáo sự can thiệp của Trung Quốc và ám chỉ rằng Hoa Kỳ sẽ không bỏ qua một hành động như vậy.

Ngay trước khi hội nghị diễn ra, Việt Minh đã biết rằng họ không phải sợ gì từ phía Mỹ và những kế hoạch được công bố một cách ồn ào về một Liên minh phòng thủ vùng Đông Nam Á, chỉ là để che đậy sự tháo lui của các cường quốc phương Tây.

Cuối cùng, chúng ta phải làm cho Việt Minh và các đồng minh của họ cảm thấy ta kiên quyết không để bị áp đặt bất cứ một thứ hoà bình nào.

Thế nhưng, các phái đoàn thương thuyết của chúng ta, từ phái đoàn của ông Bidault - dù nhà ngoại giao nàv có nhiều cố gắng cá nhân để phải nhượng bộ ít nhất - cho đến đoàn của ông Mendès France, đã phô ra từ đầu đến cuối hội nghị, một tinh thần chủ bại đen tối nhất. Thay vì phải làm giảm đến mức tối đa hậu quả sự thất thủ Điện Biên Phủ và trình bày sự việc đúng với bản chất của nó - Điện Biên Phủ đúng là một thất bại về mặt chiến thuật nghiêm trọng, nhưng thất bại này không làm giảm khả năng chiến lược của chúng ta - các nhà ngoại giao của ta lại nói năng thiếu ý tứ, thổi phồng tính cách quan trọng của thất bại này, bằng cách gán cho nó những hậu quả không có, bằng cách nhắc đi nhắc lại “chúng ta không thương thuyết trong sự thất bại” mà quên rằng, chính họ đã tạo nên sự thất bại này bằng sáng kiến không đúng lúc của họ tại hội nghị Berlin. Họ hành động như thể họ chuẩn bị trước các lời xin lỗi và lý lẽ cho một sự tháo lui được quyết định trước rồi.

Còn chính phủ thì lại dung dưỡng việc báo chí làm cho dân chúng hoảng sợ bằng cách để dân chúng nghĩ là tất cả đã mất hết và phải buông trôi tất cả. Và để cơn hoảng loạn lan truyền trong các giới chính trị tạo ra một tâm lý đầu hàng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #147 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:27:45 am »


***

Sự sụp đổ của Chính phủ Laniel và việc ông Mendès France ngồi vào chức vụ thủ tướng đã không làm cho tình hình cải thiện.

Sự ra đi của ê kíp Laniel là sự ra đi của ê kíp cuối cùng trong những ê kíp tám năm qua đã ít nhiều tìm kiếm một giải pháp danh dự cho chiến tranh Đông Dương nhưng đã không thực hiện được vì yếu kém hay sự thiếu hợp tác. Những người thuộc ê kíp mới là những người từ lâu đã tuyên bố ủng hộ một nền hòa bình bằng mọi giá, giờ đây đã lên nắm quyền lực.

Họ đã đạt được thắng lợi một cách vang dội. Đây là một phần của cuộc chơi trong quốc hội. Nhưng cái nghiêm trọng hơn, cho dù họ phải chịu một trách nhiệm, ít nhất cũng ngang với những người tiền nhiệm về thất bại này - vì họ cũng đã có mặt trong những chính phủ trước, hoặc do ở trong phe đối lập, bằng các bài diễn văn và lá phiếu, họ đã ngăn cản hành động của những người có ý định hành động - khi lên nắm quyền, họ lại tự coi mình là những người cứu nước Pháp. Và để tạo cho mình cái dáng vẻ đó, họ phải làm cho tình hình quân sự xấu đi một cách có ý thức, hay ít nhất là làm cho dư luận cảm thấy nó đã trở nên tuyệt vọng. Đó là những sự việc họ đã làm một cách không do dự1. Và phải đi đến đình chiến trong thời gian ngắn nhất cho dù điều này sẽ biến việc được coi là một sự cứu nạn chỉ còn là một màn kết thúc vội vàng.

Trong cuộc tranh luận ngày 20 tháng 12 năm 1954 tại Quốc hội, ông Mendès France vẫn còn mô tả tình hình Đông Dương trước khi hội nghị Genève nhóm họp như sau: “Tất cả Binh đoàn Tác chiến của chúng ta đều nằm dưới sự uy hiếp của một cuộc tấn công dữ dội ở giữa Hà Nội và Sài Gòn, cùng với hiểm họa từ phía tây có khả năng ngăn cản chúng ta bảo vệ vùng cố thủ Hải Phòng. Cùng vào thời gian đó, trong những vùng khác, tình hình không có gì tốt đẹp hơn, cho dù đó là ở Trung Bộ, An Khê, Đà Nẵng, Nam Bộ. Ở Campuchia tình hình trở nên nghiêm trọng hơn. Phần phía nam của nước Lào vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chúng ta... Chúng ta đang nằm bên bờ vực của một thảm họa. Binh đoàn Viễn chinh có nguy cơ bị rơi vào một cái rọ và bị tiêu diệt”. (Trích tờ France-Soir ngày 21.12.54). Trong giải trình của ông trong vụ án rò rỉ thông tin, vào tháng 4 năm 1955, ông Marc Jacquet đã tuyên bố rằng, sau trận Điện Biên Phủ “các lực lượng Việt Minh đã tràn vào Bắc Bộ” 2.
__________________________________________
1. Đó là ý nghĩa của tất cả những tuyên bố của ông Mendès France tại Quốc hội trước và sau hiệp định Genève. Huyền thoại được nặn ra đã trở thành một sự thật chính thức.
2. Việt Minh đặt rất nhiều hy vọng vào việc lên nắm chính quyền của kíp mới, sự việc này được họ xem như là một thắng lợi: Hòa bình chắc chắn sẽ đạt được trong những điều kiện tốt nhất đối với họ. Các sĩ quan của ta bị bắt làm tù binh đã nghe các sĩ quan Việt Minh nói như thế.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #148 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:28:22 am »


Từ Đông Dương, tôi trở về Pháp vào ngày 16.6.1954. Tôi đến Paris vào thời điểm mà Chính phủ mới nắm quyền lãnh đạo phái đoàn Pháp tại hội nghị Genève. Và cũng như các lần trước, tôi không bao giờ được tham khảo về việc này, những gì tôi có thể nói được với một vài nhà chính trị đã không được quan tâm đến.

Thực tế là, ngay khi Chính phủ mới lên nắm quyền - hoặc là vì họ không có một sự đánh giá nghiêm túc về tình hình Đông Dương, hoặc là họ bị ảnh hưởng sai lệch của các bản báo cáo bi quan từ Sài Gòn - họ đã thể hiện một thái độ chính thức như sau: chúng ta đang ở bên bờ vực thẳm của một thảm họa, phải điều đình bằng bất cứ giá nào.

Xuất phát từ một tâm trạng như vậy, đã xảy ra “ Vụ đánh cuộc ngày 20.7”. Để có đánh cuộc thì phải có tranh chấp. Thế nhưng giữa hai phía đã có sự thống nhất về mặt quan điểm, giữa ông Mendès France và ông Phạm Văn Đồng, một người cũng rất mong ước có được một nền hòa bình chẳng kém gì người đồng nhiệm Pháp1.

Vả lại nói với đối phương: “Tôi sẽ đi đến hòa bình trước ngày 20 tháng 7 hoặc tôi sẽ từ chức” không tạo được một ấn tượng gì cho họ, vì họ biết rất rõ rằng trong hai vế của cái gọi - là sự lựa chọn nói trên, chỉ có vế trước là có giá trị.

Vụ “đánh cuộc” nổi tiếng ấy chỉ có thể làm cho thái độ thương thuyết của đối phương trở nên cứng rắn hơn, trong khi ép buộc nhà thương thuyết của chúng ta nhượng bộ tối đa, vì ông này muốn tránh phải từ chức trong trường hợp cuộc thương thuyết thất bại.

Theo cách nói của người bình dân, trong một cuộc “cá độ”, bao giờ cũng có một kẻ ăn cắp và một kẻ bị ăn cắp. Rõ ràng người bị đánh cắp trong cuộc “cá độ” ngày 20 tháng 7 là nước Pháp.
__________________________________________
1. Trong cuốn sách: Nhiệm vụ của nước Pháp tại châu Á, ông Fréderic Dupont đã trích những bản báo cáo của đại tá De Brébisson sau những cuộc tiếp xúc với phái đoàn Việt Minh. Chúng ta có thể đọc như sau: “Chắc chắn là Việt Minh mong ước một sự ngưng bắn... Qua tám năm phát động cuộc chiến tranh, với một cường độ ngày một tăng cao, trong một nền kinh tế không vững chắc như thế, chắc chắn làm cho quân đội căng thẳng. Các tầng lớp dân chúng mà họ kiểm soát trở nên mệt mỏi vì gánh nặng chiến tranh. Điện Biên Phủ là một thắng lợi nhưng họ phải trả một giá đắt. Chiếm Bắc Bộ là một việc khả thi, nhưng sẽ phải trả bằng một giá cao hơn Điện Biên Phủ rất nhiều và sẽ tạo thêm những suy sụp khác nữa... Việt Minh rất nóng lòng đạt được hòa bình”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #149 vào lúc: 26 Tháng Mười, 2010, 12:29:18 am »


***

Người ta có thể đặt vấn đề nếu chúng ta có thể đạt được những điều kiện tối thiểu có thể và có trách nhiệm phải đòi hỏi, tức là đường ranh giới phải được kéo đến vĩ tuyến thứ 18 và nắm giữ Hải Phòng cho đến ngày hòa bình thật sự, thì số phận của Đông Dương sẽ rất khác số phận mà ta đã dành cho nó khi chấp nhận sự đầu hàng vừa qua.

Có thể nói rằng nhận xét đó đúng một phần. Đối với nước Lào và Campuchia, tình hình vẫn sẽ như vậy. Đối với nước Việt Nam Quốc gia, các điều kiện bội phần tốt hơn có thể xuất hiện, nhưng chưa chắc có khả năng khai thác chúng.

Nam Việt Nam sẽ có một ranh giới quân sự vững chắc hơn với vĩ tuyến thứ 18, còn với vĩ tuyến thứ 17 đang có thì điều kiện sẽ không được tốt như vậy. Nhưng cho dù họ có một vị trí tốt hơn, vấn đề là chất lượng của các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ nó.

Người Mỹ đặt rất nhiều hy vọng vào quân đội Việt Nam và họ đã không từ bỏ một cơ hội nào để tố cáo chúng ta không có khả năng phát triển quân đội này. Nhưng đến khi họ nhận trách nhiệm phát triển quân đội này, không những họ không chịu làm tốt hơn chúng ta, mà họ còn đặt cho quân đội này một chỉ tiêu thấp hơn1 rất nhiều.

Quân đội này có khả năng phòng thủ biên giới tại Đèo Ngang không? Không cần phải nói nhiều để có thể trả lời chắc chắn là không. Và nếu như có một sự tranh chấp giữa miền Bắc và miền Nam, thì quân đội Việt Nam sẽ gặp nguy hiểm ngay từ phía sau lưng hay trong lòng họ nhiều hơn là ở bất cứ mặt trận nào mà họ phòng thủ.

Đầu cầu cảng Hải Phòng, nếu chúng ta còn giữ được sẽ là một căn cứ xuất phát thuận lợi cho các cuộc tấn công chống lại Việt Minh trong trường hợp cuộc chiến tranh bùng nổ trở lại. Nhưng một cứ điểm dùng để tấn công hay phòng thủ - cũng chỉ có giá trị thông qua lực lượng sử dụng nó.

Cuộc tấn công này sẽ do ai khởi động lại? Quân đội Việt Nam đã không thể phòng thủ được một ranh giới tự nhiên, làm sao có thể phát động một cuộc tấn công được. Còn nước Pháp, khi mà quyền lợi ở Đông Dương càng ngày càng bị nhạo báng, đã lui về bảo vệ những quyền lợi có tính cách sống còn hơn của mình tại vùng Bắc Phi. Nước Pháp rút binh đoàn Viễn chinh về và rút ra khỏi một cuộc chơi không còn là của họ nữa. Người Mỹ thì chỉ thích tiến hành chiến tranh bằng quân đội của nước khác. Còn những “đồng minh” khác ở vùng Đông Nam Á, thì không có vấn đề họ sẽ thực hiện một nỗ lực nào đó.

Do đó, người ta có thể đưa ra lập luận - xem chừng có vẻ ít nhiều có lý - rằng, Việt Minh đã giành thắng lợi ngay từ ngày mà họ gài chúng ta vào hội nghị Genève; và với một vài điều kiện dành cho ta, họ đã làm sụp đổ các vị trí của chúng ta và của phương Tây.

Tuy nhiên, lập luận như vậy là xem nhẹ tinh thần của nước Pháp.

Mặc dù chúng ta đã chịu một thất bại rất đau đớn, nhưng sự can đảm của những người lính bảo vệ Điện Biên Phủ và sự hy sinh của họ để giữ lời hứa với nước Lào đã làm nổi bật tinh thần này.

Các nhà thương thuyết của chúng ta tại Genève đã làm tinh thần quả cảm, đức hy sinh đó trở thành vô ích. Họ đã để tư tưởng buông xuôi và đầu hàng nhận chìm đất nước này, làm cho cả thế giới nghĩ rằng chúng ta sẵn sàng cam chịu mọi điều.

Chính hội nghị Genève chứ không phải Điện Biên Phủ đã dìm nước Pháp xuống. Trách nhiệm thuộc về các nhà chính trị chứ không phải quân đội chúng ta.
__________________________________________
1. Sau khi có hiệp định Genève, tướng Ely đã đồng ý giao cho người Mỹ trách nhiệm phát triển quân đội Việt Nam. Vài tuần sau đó, họ quyết định giảm hai phần ba quân số của quân đội này, và chỉ giới hạn trách nhiệm của nó vào việc duy trì trật tự, loại bỏ mọi sự phòng thủ chống lại các đơn vị chính quy Việt Minh, họ cho là việc quân đội này không thể làm được.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM