Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:55:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển và giới thiệu các dòng xe tăng chủ lực (MBT)  (Đọc 290398 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #340 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 06:21:25 pm »

T-62

+ T-62A – được tiếp nhận vào biên chế năm 1962. Trên xe tăng lắp tháp pháo đúc mới và pháo nòng rãnh xoắn 100mm U8-TS (D-54) với các tính năng tăng cường và hệ thống cân bằng pháo tăng theo hai góc tầm  - hướng “Kometa” so với pháo chính D-10T2S. Để đẩy vỏ đạn sau khi bắn, trên xe tăng lắp máy đẩy (ném) chúng qua cửa sau của tháp pháo. Xe tăng không được sản xuất hàng loạt, bởi vì trong thời gian đó chưa chế tạo đạn xuyên giáp mới cho pháo và hệ thống cân bằng pháo – tăng.

+ T-62D – được tiếp nhận vào biên chế năm 1983. Bổ sung giáp bọc thép cho thân, tháp pháo, đáy và lắp diềm chắn cao su, đồng thời lắp tổ hợp phòng thủ chủ động “Drozd”. Phiên bản với đọng cơ V-46-5M có T-62D-1.

+ T-62K – được tiếp nhận vào trang bị năm 1964. Trên xe lắp bổ sung tổ hợp dẫn đường TNA-2, đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112 và máy nạp điện AB-1 để cung cấp năng lượng (điện) cho các thiết bị tiêu thụ khi hoạt động lâu dài tại chỗ. Khi đó, cơ số đạn giảm xuống còn 36 phát bắn và 1750 đạn súng máy, thay đổi sự bố trí phụ tùng.

+ T-62M – được tiếp nhận vào trang bị năm 1983. Trên xe lắp tấm giáp phòng thủ tăng cường cho tháo pháo, thân và đáy, các diềm chắn đạn xuyên lõm hai bên thành xe bằng sợi cao su và bộ phận chống nơ – tron trên tháp pháo. Lắp trên băng xích bản lề cao sup ha kim loại từ xe tăng T-72. Lắp bổ sung 2 bộ giảm sóc thủy lực trên các bộ phận treo của bánh chịu nặng thứ 2. Trên xe tăng lắp máy đo xa laze KTD-2 (KTD-1), thước ngắm TShSM-41U, bộ phận cân bằng “Meteor” M1, máy tính toán đường đạn BV-62, tổ hợp điều khiển hỏa lực 9K116-1 “Sheksna”.Máy tính đường đạn BV-62 đảm bảo sự tính toán tự động các góc ngắm và góc ngắm đón bên khi bắn toàn bộ các loại đạn (ngoài trừ tên lửa điều khiển). Pháo có vỏ bảo vệ cách nhiệt.
Phiên bản với động cơ V-46-5M nhận số hiệu T-62M-1, không có tổ hợp điều khiển vũ khí – T-62M1 (với động cơ V-46-5M gọi là T-62M1-1), không có tổ hợp điều khiển vũ khí và không có giáp bổ sung cho thân – T-62M1-2 (với động cơ V-46-5M gọi là T-62-M1-2-1).

+ T-62MB – được tiếp nhận vào trang bị năm 1985. Trên xe tăng treo giáp phản ứng nổ, vỏ bảo vệ cách nhiệt cho pháo, bổ sung giáp đáy và lắp các diềm chắn hai bên thành xe dày 10mm. Phiên bản xe tăng với động cơ V-46-5M nhận tên gọi T-62MB-1. Trên xe tăng T-62MB (T-62MB-1) lắp hệ thống điều khiển hỏa lực “Volna”, máy đo xa laze KTD-2 và máy tính toán đường đạn BV-62.

+ T-62MD – Phiên bản T-62M với tổ hợp giáp phòng thủ chủ động “Dzord”.

+ T-62MK – Xe tăng T-62M chỉ huy. Trên xe tăng lắp khí tài dẫn đường TNA-2, đài vô tuyến bước sóng ngắn và thiết bị nạp điện AB-1 để cung cấp điện cho các thiết bị tiêu thụ khi hoạt động lâu dài tại chỗ. Khi đó, cơ số đạn pháo và súng máy bị giảm.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #341 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2012, 08:53:09 am »

T-64

+ T-64A (công trình 434) (1969) – kết quả nâng cấp sâu mẫu T-64. Những sự khác biệt cơ bản: pháo nòng trơn 125mm, hệ thống điều khiển hỏa lực mới, những sự thay đổi trong cấu trúc hệ thống nạp đạn tự động, súng phòng không với sự điều khiển từ xa, vỏ bảo vệ cách nhiệt nòng pháo, tăng cường giáp tháp pháo, hệ thống chữa cháy mới, khí tài tự đào hố, khí tài treo lưới quét mìn KMT-6, động cơ đa nhiên liệu, hệ thống vượt hố sâu, hệ thống đảm bảo hoạt động của động cơ trong điều kiện nhiệt độ cao, hệ thống tín hiệu hành trình.

+ T-64AK (công trình 446) (1973) – xe tăng chỉ huy (toàn bộ các xe tăng chỉ huy của Nga khác biệt bởi việc lắp đài vô tuyến bổ sung bước sóng ngắn, trang bị ăng ten rời, hệ thống dẫn đường và tổ hợp hỗ trợ để nạp điện cho các pin ắc quy).

+ T-64AKM (1984) – phiên bản xe tăng chỉ huy T-64AM.

+ T-64AM (1983) – phiên bản T-64A với động cơ 6TD – động cơ diezel tuabin pít tông hai kỳ đa nhiên liệu 6 xilanh công suất 735 kW. Không có một số phần tử của tổ hợp điều khiển vũ khí (đài dẫn bắn, tên lửa điều khiển…).

+ T-64B (công trình 447A) (1976) – phiên bản nâng cấp xe tăng T-64A. Những sự khác biệt cơ bản: tổ hợp điều khiển vũ khí 9K112-1 “Kobra”, hệ thống điều khiển hỏa lực 1A33, hệ thống bảo vệ khỏi bom cháy (napal), hệ thống bắn lựu đạn khói “Tucha”, diềm chắn hông dày, tăng cường giáp thân và tháp pháo, hệ thống liên kết tháo nhanh nòng pháo với khóa nòng, tăng cường khả năng động lực học của các bánh chịu nặng.

+ T-64B1 (công trình 437A) (1976) – phiên bản xe tăng T-64B không có một số phần tử tổ hợp điều khiển vũ khí (đài dẫn bắn, tên lửa điều khiển…).

+ T-64B1K (công trình 446B) (1976) – phiên bản xe tăng chỉ huy T-64B1.

+ T-64B1M (1983) – phiên bản T-64 với động cơ 6TD – động cơ diezel tuabin pít tông 2 kỳ đa nhiên liệu 6 xilanh công suất 735 kW. Không có một số phần tử thuộc tổ hợp điều khiển vũ khí (đài dẫn bắn, tên lửa điều khiển…).

+ T-64BV (công trình 447AB) (1985) – phiên bản T-64B với giáp phản ứng nổ.

+ T-64BK (1976) – xe tăng chỉ huy.

+ T-64BM (1983) – phiên bản T-64B với động cơ 6TD – động cơ dizel tuabin pít tông 2 kỳ đa nhiên liệu 6 xilanh công suất 735 sức ngựa.

+ T-64BVK – phiên bản T-64BK với giáp phản ứng nổ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #342 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2012, 12:55:24 pm »

T-72

+ T-72K “Ural-K” – phiên bản xe tăng T-72 chỉ huy. Lắp bổ sung đài vô tuyến bước sóng ngắn R-130M, khí tài dẫn đường TNA-3 “Kvadrat”, thiết bị nạp điện (tổ hợp nguồn- tổ hợp nạp điện – xăng cho nguồn khí tài điện khi động cơ chính không hoạt động) AB-1. Giảm cơ số đạn pháo (31 viên) và súng máy đồng trục.

+ T-72 (xuất khẩu) – thay đổi cấu trúc giáp bảo vệ bộ phận đầu tháp pháo, thay đổi hệ thống bảo vệ khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt và thành phần cơ số đạn.

+ T-72 “Ural-1” – tăng cường giáp bảo vệ thân và tháp pháo, thay đổi chỗ bố trí đèn pha của thước ngắm ban đêm (bên trái pháo chính).

+ T-72A – lắp pháo 2A46M, cơ số đạn tăng lên 44 phát bắn, lắp thước ngắm – máy đo xa laze TPD-K1, thay cho thước ngắm ban đêm chủ động đã lắp thước ngắm thụ - chủ động TPN-3-49. Sau đó bắt đầu lắ tổ hợp thước ngắm 1A40. Đối với lái xe, lắp tổ hợp khí tài nhìn đêm TVNE-4B. Tăng cường giáp bảo vệ đọng cơ, tiếp nhận giáp hỗn hợp, thay cho 4 lá chắn chống đạn xuyện lõm dạng bản lề trên mỗi thành xe là diềm chắn sợi cao su dày. Ở bộ phận trước của tháp pháo lắp 12 thiết bị hệ thống bắn lựu đạn khói 902A “Tucha” và áp dụng hệ thống bảo vệ khỏi bom cháy (napal) “Soda”. Lắp động cơ V-46-6 (sau đó là V-84). Lắp khí tài tự đào hố và thiết bị để cố định lưới quét mình KMT-6.

+ T-72AB – T-72A với việc lắp trong quá trình sửa chữa và nâng cấp giáp phản ứng nổ “Kontakt-1” – 227 phần tử (61 – trên thân, 70 – trên tháp pháo và 96 – trên các diềm chắn thành xe).

+ T-72AK – xe tăng T-72A chỉ huy. Lắp bố sung đài vô tuyến bước sóng ngắn, khí tài dẫn đường cho tăng, khí tài nạp điện. Cơ số đạn giảm xuống còn 36 viên.

+ T-72M – phiên bản T-72A xuất khẩu. Thay đổi thiết kế giáp bảo vệ đầu tháp pháo, thay đổi hệ thống bảo vệ khỏi vũ khí hủy diệt hàng loạt và thành phần cơ số đạn.

+ T-72MK – phiên bản xe tăng chỉ huy T-72M.

+ T-72M1 – phiên bản T-72M nâng cấp. Đầu xe được tăng cường tấm giáp 16mm.

+ T-72M1V – T-72M1 với giáp phản ứng nổ “Kontakt-1”.

+ T-72M1M – T-72M1 nâng cấp lên chuẩn T-72S, sự ghép bộ có thể thay đổi một cách rộng rãi theo yêu cầu của khách hàng; các phần tử nâng cấp chủ yếu – động cơ V-92, giáp nổ “Relikt”, thước ngắm “Sosna-U”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #343 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2012, 01:16:19 pm »

+ T-72B – lắp tổ hợp giáp phản ứng nổ “Kontakt-1” gồm 227 khối, bộ phận đầu xe được tăng cường tấm thép 20mm, tăng khả năng bảo vệ chống đạn xuyên lõm, lắp hệ thống 902B “Tucha” để bắn lựu đạn khói, hệ thống bảo vệ khỏi bom cháy “Soda” và khí tài cứu hỏa nhanh ZETs13 “Inei”. Lắp tổ hợp điều khiển vũ khí 9K120 “Svir”. Cơ số đạn tăng lên 45 phát bắn. Lắp tổ hợp thước ngắm 1A40-1. Lắp động cơ diezel tốc độ cao 4 thì đa nhiên liệu làm nguội bằng chất lỏng V-84-1. Lắp khí tài liên lạc vô tuyến mới, thống nhất tổ hợp “Abzats” – đài vô tuyến cao tần R-173, đài thu vô tuyến R-173P, khối lọc sóng ăng ten và máy khuyếch đại âm thanh.

+ T-72BK – phiên bản T-72B chỉ huy. Lắp đài vô tuyến bước sóng ngăn R-130, khí tài dẫn đường TNA-4 và tổ hợp nguồn năng lượng AB-1.

+ T-72B1 – T-72B không lắp một số phần tử tổ hợp điều khiển vũ khí.

+ T-72B1K – xe tăng T-72B1 chỉ huy.

+ T-72B mẫu năm 1989 – phiên bản T-72B nâng cấp với giáp phản ứng nổ “Kontakt-5” lắp chìm.

+ T-72BA – sự nâng cấp các T-72B và T-72B1 được sản xuất từ trước. Lắp giáp phản ứng nổ “Kontakt-5” (các dòng T-72BA đầu tiên giữ lại một phần giáp nổ “Kontakt-1”), hệ thống điều khiển hỏa lực 1A40-1 (sau đó là 1A40-1M, 1A40-M2), hệ thống ổn định vũ khí 2E42-4 “Zhasmin”, động cơ diezel V-48MS (sau đó là V-92S2).

+ T-72BU (T-90) – nâng cấp sâu của T-72B với hệ thống điều khiển hỏa lực, đồng nhất với xe tăng T-80U.

+ T-72B “Rogatka” – phiên bản T-72B nâng cấp. Lắp pháo 2A46M-5, khí tài tăng độ bắn chính xác của pháo. Lắp thước ngắm đa kênh cho pháo thủ “Sosna” trang bị máy quay ảnh nhiệt thế hệ thứ 2 CATHERINE. Lắp giáp phản ứng nổ dạng modul “Relikt”, xe tăng đường trang bị hệ thống bảo vệ điện từ, đảm bảo bảo vệ khỏi các loại mìn chống tăng với ngòi nổ từ. Trong cơ số đạn thường xuyên của xe tăng có tổ hợp ngụy trang “Nakidka”. Lắp đèn áp chế quang điện “Shtora”. Động cơ V-92S2.

+ T-72S – phiên bản T-72B xuất khẩu. Số lượng thùng giáp phản ứng nổ giảm xuống 155, thay đổi thành phần cơ số đạn.

+ T-72SK – xe tăng T-72S chỉ huy.

+ T-72S1 – phiên bản xuất khẩu của T-72B1.

+ T-72S1K – phiên bản T-72S1 chỉ huy.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #344 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2012, 04:35:47 pm »

T-80

+ T-80B (công trình 219R”) – từ năm 1978, lắp tổ hợp điều khiển vũ khí 9K112-1 “Kobra” và hệ thống điều khiển hỏa lực (thước ngắm – máy đo xa laze 1G42, máy tính đường đạn 1V157, hệ thống cân bằng 2E26M, khối bố trí phát bắn 1G43, tổ hợp các máy cảm biến), pháo 2A46-2, hệ thống bắn lựu đạn khói 902A “Tucha”, tăng cường giáp tháp pháo, từ năm 1980, lắp động cơ GTD-1000TF (1100 sức ngựa) và tháp pháo, đồng nhất với T-64B, từ năm 1982, lắp pháo 2A46M-1 “Rapira”.

+ T-80BK (công trình 630) – phiên bản xe tăng chỉ huy T-80B. Bổ sung tổ hợp vô tuyến điện và dẫn đường.

+ T-80BV (công trình 219RV) – từ năm 1985, phiên bản sản xuất hàng loạt với giáp phản ứng nổ “Kontakt”.

+ T-80BVK – phiên bản xe tăng chỉ huy T-80BV.

+ T-80U (công trình 219AS) – từ năm 1985. Lắp tổ hợp điều khiển vũ khí 9K119 “Refleks” và tổ hợp điều khiển vũ khí 1A45 “Irtưsh” (thước ngắm – máy đo xa laze 1G46, máy tính đường đạn điện tử, hệ thống cân bằng 2E42, tổ hợp thước ngắm dẫn đường TPN-4S, thước ngắm đêm hỗn hợp TPN-4 “Buran-PA”), pháo 2A46M-1, hệ thống bắn lựu đạn khói 902A “Tucha”, hệ thống chữa cháy 3ZTs13 “Inei”, giáp hỗn hợp mới với giáp phản ứng nổ lắp chìm. Từ năm 1990, lắp động cơ GTD-1250 (1250 sức ngựa) và tổ hợp điều khiển vũ khí 9K119M “Invar”.

+ T-80UK – phiên bản xe tăng T-80U chỉ huy. Lắp hệ thống “Shtora-1”, máy ảnh nhiệt “Agava-2” (không phải trên toàn bộ), máy cảm biến mới các tham số không khí, đài vô tuyến R-163U và R-163K, hệ thống dẫn đường TNA-4, hệ thống kích nổ từ xa đạn nổ - phá mảnh, tổ hợp năng lượng AB-1-P28.

+ T-80UM – nâng cấp T-80U. Máy ảnh nhiệt “Agava-2”, màn phủ hấp thu sóng vô tuyến, lắp đài vô tuyến R-163-50U.

+ T-80UE – phiên bản T-80UM, chế tạo đặc biệt cho cuộc đấu thầu ở Hy Lạp, lắp hệ thống truyền động thủy lực và các bộ phận điều khiển mới.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #345 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2012, 04:52:45 pm »

+ T-80UM-1 “Bars” (công trình 219AS-M1) – phiên bản T-80UM với tổ hợp giáp phòng thủ chủ động “Arena-3”, lắp động cơ GTD-1250G, pháo 2A46M-4, trang bị bổ sung các hệ thống và tổ hợp sau: “Shtora-1”, “Velizh”, TVN-5, R-163-50U. R-163UP, hệ thống điều hòa không khí.

+ T-80U (mẫu năm 2001) – phiên bản nâng cấp T-80U, trang bị pháo 2A46M-4; thước ngắm hiện đại hóa 1G46M, hệ thống kiểm soát thông tin của tăng 1V558, thước ngắm chỉ huy TO1-K04, hệ thống cân bằng 2E42M, hệ thống đo các tham số không khí T04V-8, hệ thống 1ETs29, buồng máy – động lực được cách nhiệt, máy điều hòa nhiệt độ.

+ T-80 AT – phiên bản nâng cấp sâu của T-80U(M), động cơ GTD-1250G, pháo 2A46M-4, giáp phản ứng nổ lắp chìm “Kaktus”, tháp pháo thiết kế hàn mới với giáp phản ứng nổ đáy sau, hệ thống điều khiển hỏa lực với với máy hồng ngoại, tổ hợp các máy cảm biến, dẫn đường vệ tinh, hệ thống kiếm soát thông tin xe tăng, hệ thống “Ainet”.

+ T-80UD “Bereza” (công trình 478B) – từ năm 1987, động cơ diezel 6TD (1000 sức ngựa), súng máy phòng không điều khiển từ xa, các phiên bản đầu tiên trang bị giáp phản ứng nổ treo, từ năm 1988, giáp phản ứng nổ lắp chìm như T-80U.

+ T-80UDK – xe tăng T-80UD chỉ huy vơí sự bổ sung các khí tài thông tin liên lạc và dẫn đường.

+ T-84 – phiên bản T-80UD, chế tạo ở Ucraina, trang bị hệ thống “Shtora-1”, giáp phản ứng nổ mới.

+ T-84M “Oplot” – phiên bản T-84 xuất khẩu có khả năng khai thác sử dụng ở khu vực khí hậy nóng và núi cao.

+ T-84-120 “Yatagan” – phiên bản xuất khẩu T-84 với pháo 120mm (tiêu chuẩn NATO), trang bị động cơ 6TD-2 (1200 sức ngựa), tháp pháo mới dạng hàn với giáp phản ứng nổ ở đáy sau, giáp phản ứng nổ lắp chìm “Nozh”.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #346 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2012, 06:43:14 pm »

T-90

+ T-90S (công trình 188S) – biến thể xuất khẩu.

+ T-90SK – biến thể xuất khẩu, xe tăng chỉ huy.

+ T-90 (mẫu năm 1999) – với động cơ V-92S2, tổ hợp hồng ngoại TO1-PO2T “Agava-2”, băng xích mới.

+ T-90A (T-90M) (công trình 188A) – với tháp pháo hàn.

+ T-90S “Bishma” – phiên bản xuất khẩu dành cho Ấn Độ.

+ T-90A (công trình 188A1) – với tháp pháo mới, tổ hợp hồng ngoại “Essa”, giáp phản ứng nổ 4S23 “Relikt”, giáp phòng thủ chủ động nâng cấp, tăng 100 lít thể tích giáp bọc thép cho thùng nhiên liệu. Loạt từ năm 2004.

+ T-90SA (công trình 188SA) – biến thể xuất khẩu cho Algieri. Với sự lắp hệ thống điều hòa nhiệt độ và làm mát khí tài nhìn đêm, hoàn thiện hệ thống phát hiện sự bức xạ laze.

+ T-90SKA – biến thể xuất khẩu cho Algeri. Xe tăng chỉ huy.

+ T-90 (mẫu năm 2007) – với camera hồng ngoại Catherine FC của Pháp.
Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #347 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2012, 01:05:55 pm »

T-64

(Nguồn : wikipedia.org và một số nguồn khác)

T-64 là một loại xe tăng chiến đấu chủ lực của Liên Xô, được sản xuất năm 1963 và hoạt động trong quân đội Liên Xô cuối năm 1966. T-64 là một nỗ lực của Liên Xô nhằm xây dựng một lực lượng tăng thiết giáp hùng mạnh chống lại các đối thủ xe tăng và cả vũ khí chống tăng phương Tây, vì vậy không ngạc nhiên nó là mẫu xe tăng cực kì tân tiến so với các đồng sự cùng thời, nhưng do kết cấu phức tạp và giá thành cao, T-64 chỉ được sản xuất hạn chế và không xuất khẩu. Mặc dù vậy, T-64 là cái nền để sản xuất ra dòng tăng T-80 phổ biến hơn, hiện đại hơn.


Giới thiệu chung

T-64 là một mẫu xe tăng hình thành tại Kharkiv, Ukraina và được xem như là thế hệ kế tiếp của các xe tăng như T-54 và T-62. Nó được thiết kế và phát triển bởi Cục thiết kế do Aleksander Aleksandrovich Morozov lãnh đạo.

Công trình sư vĩ đại Aleksander Aleksandrovich Morozov (1904 - 1979)

Trong thiết kế của T-64 có một điểm đột phá mang tính cách mạng là hệ thống nạp đạn tự động, giúp làm giảm số thành viên trong tổ lái đồng thời giảm kích thước và khối lượng xe tăng. Nhiều chiến sĩ xe tăng thường đùa rằng với cải tiến này, những nhà thiết kế đã bắt kịp với bài hát "Ba người lính xe tăng" nổi tiếng trong quân đội Liên Xô thời đó.

Về sau T-64 còn được phát triển thành các mẫu T-64A (1967) với khẩu pháo chính 125 ly, và T-64B (1976) với khả năng bắn tên lửa ATGM qua nòng pháo. Nhưng bản nâng cấp nổi tiếng hơn cả là chiếc tăng T-80 (1976) chạy bằng động cơ diesel. Tháp pháo của T-64 cũng được dùng trong các bản nâng cấp của T-80 như T-80U, T-80UD và T-84.

Với mục đích ban đầu là tạo ra một mẫu tăng mạnh để đương đầu với các tăng và khí tài chống tăng phương Tây, đồng thời thay thế vai trò của các xe tăng hạng nặng dòng IS và T-10, không ngạc nhiên khi T-64 trở thành mẫu xe tăng tân tiến nhất không chỉ ở Liên Xô mà còn trên bình diện quốc tế vào thời điểm nó ra đời. Nhưng điều này cũng khiến cho giá thành và chi phí sản xuất của nó quá cao, vì vậy T-64 chỉ được sản xuất hạn chế và không xuất khẩu.

Sau khi Liên Xô tan rã, các xe tăng T-64 còn lại vẫn được tiếp tục sử dụng tại các quốc gia thuộc SNG, ví dụ Ukraina hiện giữ gần 2000 chiếc và Lục quân Nga hiện có 4000 chiếc.

Quá trình phát triển

Obiekt 430

Obiekt 430 trưng bày tại Bảo tàng Tăng - thiết giáp Kubinka, Nga.

Quá trình thiết kế mẫu xe tăng mới bắt đầu từ năm 1951. Phòng thiết kế KB-60M đã được thành lập tại Cục xây dựng Kharkov trực thuộc Nhà máy xây dựng Kharkov số 75 Malyshev, trong số đó có nhiều kỹ sư quốc phòng điều từ vùng Nizhnyl Tagil. A. A. Morozov được chỉ định làm trưởng phòng. Trong suốt 1953-1955, các quan chức cấp cao đã hai lần kiểm tra dự án phát triển xe tăng và trong cả hai lần dự án đều nhận được những sự hưởng ứng tích cực từ chính phủ thông qua Quyết định số 880-524 tháng 07 năm 1955 của Hội đồng Bộ trưởng của Liên Xô và những nhận xét của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và xây dựng vào ngày 13 tháng 5 năm 1955.

Năm 1956, sau một thời gian nâng cấp sửa đổi một số chi tiết, thông số kỹ thuật để phù hợp với các yêu cầu do chính phủ đề ra vào ngày 08 tháng 6 năm 1955, Phòng thiết kế KB-60M đã bắt tay vào chế tạo thử nghiệm phiên bản xe tăng thử nghiệm đầu tiên và gọi là Obiekt 430.

Obiekt 430 được đánh giá vượt trội hơn dòng T-54 về các mặt giáp bảo vệ, hỏa lực, khả năng cơ động nhưng vẫn tương tự  về trọng lượng và kích thước. Những tính năng mới của Obiekt 430 được xem như là một cuộc cách mạng trong việc thiết kế và chế tạo xe tăng của Liên Xô. Những tính năng mới của xe bao gồm :

- Lần đầu tiên động cơ 5TD xi lanh đối xứng (opposed cylinder) chạy bằng dầu diesel xuất hiện trong xe tăng và nó được đánh giá là cực kỳ gọn nhẹ. Động cơ được thiết kế tại Cục Thiết kế động cơ diesel Charomskiy. Thiết kế mới với hệ thống truyền động gồm 2 bánh răng 2 bên động cơ khiến cho thể tích của nó giảm đi chỉ còn một nửa so với động cơ của T-54.
- Đơn giản hóa hệ thống truyền động bằng cách lắp đặt các bánh chịu lực mới có đường kính nhỏ rất nhẹ bằng thép với bộ giảm sóc đặt bên trong các vác đĩa làm bằng hợp kim nhôm.
- Nhờ lắp giáp tấm khả năng bảo vệ của xe ở các vị trí thân xe và tháp pháo được tăng cường.
- Thiết bị nhìn đêm được giới thiệu;
- Xe được trang bị một bộ lội sâu.
- Xe sử dụng pháo nòng xoắn D-54T 100mm tương tự như T-54/T-55.

Ba phiên bản thử nghiệm đầu tiên của Obiekt 430 đã được sản xuất tại Nhà máy Malyshev (theo quyết định số 20 của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 25 tháng 02 năm 1957 Nhà máy số 75 đã được đổi tên thành Nhà máy Malyshev) vào năm 1957 và được trình làng ở Kubinka vào năm 1958. Năm 1959, phiên bản đầu tiên của Obiekt 430 được đưa vào thử nghiệm, các quan chức chính phủ vô cùng ấn tượng với thiết kế của xe, đặc biệt là ở thiết kế hệ thống truyền động 5 số của xe tăng.

Mặc dù thiết kế của xe tăng là hoàn toàn mới và các thông số kỹ thuật đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của chính phủ, nhưng việc tiếp nhận vào trang bị Quân đội Liên Xô của dòng xe tăng này không thể thực hiện được. Điều này có nhiều nguyên như sự lo lắng của Quân đội Xô Viết về pháo D-54T 100mm của xe bởi loại pháo này tỏ ra không mạnh bằng pháo D-10T của T54/55 hay những loại pháo mới của NATO như loại L7 105mm của Anh, xuất hiện sự hoạt động không tin cậy của động cơ 5TD trong việc vận hành và không ít những nhược đểm thiết kế trong việc đơn giản hóa hệ thống truyền động cũng đã phát sinh sau một thời gian sử dụng. Chính bản thân Aleksandr A. Morozov cũng nhận thấy rằng sẽ không thiết thực nếu đưa Obiekt 430 vào sản xuất hàng loạt

Đến năm 1960, dự án phát triển Obiekt 430 bị ngừng lại. Phòng thiết kế KB-60M quyết định tiếp tục nghiên cứu, kết quả là cho ra đời Obyekt 430U với pháo 120 ly và giáp 160 ly, mục đích xây dựng một xe tăng kiểu mới đủ sức mạnh đảm đượng trọng trách của xe tăng hạng nặng T-10 trước đây. Và tiếp đó là Obiekt 430 432.

Bản vẽ của Obiekt 430


Thông số kỹ thuật :

- Nặng : 36 tấn
- Tổ lái : 4 người
- Dài : 8,785 m
- Cao : 3,090 m
- Ngang : 2,160 m
- Vũ khí chính : Pháo nòng xoắn D-54T 100mm
- Vũ khí phụ : Đại liên đồng trục 7,62mm
- Độ dày giáp : 20 - 250 mm
- Động cơ : Động cơ 5TD xi lanh đối xứng (opposed cylinder) chạy bằng dầu diesel
- Tốc độ tối đa : 55 km/h
- Tầm hoạt động : 450 km
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tư, 2012, 01:47:21 am gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #348 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2012, 01:25:30 pm »

Nguồn wiki - ở đây là wiki tiếng Việt không được chấp nhận trên diễn đàn bạn Bộ đội Cụ Hồ à. Nhất là cắt dán 100% + chèn ảnh như bài trên. Nguồn wiki chỉ được chấp nhận dưới dạng tham khảo, bổ sung thông tin (trích đoạn). Với cả, theo link wiki tiếng Việt thì bài này còn thiếu (có thể bạn cắt thành bài mới, chưa kịp post lên).
Bạn Bộ đội Cụ Hồ tìm thêm nguồn khác, sửa bài, bổ sung trong 48 giờ nhé. Wink
Em cũng đang dịch về T-64, nguồn bài, độ dài, chất lượng đảm bảo hơn wiki. Grin
Dịch để đối chiếu, so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau cũng hay, nhưng có bài của bạn Bộ đội Cụ Hồ thì nếu đưa bài (post) liền sau loạt bài này thì lại bị loãng. Grin
Các bác cho ý kiến nên thế nào ạ? Hoặc post liền sau hoặc sau loạt bài của bạn Bộ đội Cụ Hồ sẽ để cách 1 vài dòng xe tăng khác rồi em sẽ đưa bài T-64 mà em dịch lên hay như thế nào là hợp lý nhất? Grin
Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #349 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2012, 01:34:09 pm »

Obiekt 432

Obiekt 432 trưng bày tại Bảo tàng Tăng - thiết giáp Kubinka, Nga

Sau thất bại của Obiekt 430, Phòng thiết kế KB-60M đã quyết định tiếp tục tiến hành dự án phát triển xe tăng mới. A.A.Morozov đã hoàn thành và giới thiệu dự tháo thiết kế của xe tăng Obiekt 432 vào năm 1960. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô  và Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã xem xét, phê duyệt dự thảo thiết kế này thông qua Quyết định số 141-58 được ban hành ngày 17 tháng 2 năm 1961. Công việc lắp ráp, chế tạo được tiến hành tại Nhà máy Malyshev .

Năm 1961, Phòng thiết kế KB-60M bắt đầu đặt tiến hành lắp ráp phiển bản thử nghiệm đầu tiên. Đầu năm 1962, khung gầm của Obiekt 432 đã được hoàn thành. Chiếc xe tăng thử nghiệm đầu tiên được giới thiệu vào vào tháng 9 năm 1962, chiếc thứ hai được ra mắt ngày 10 tháng 10 năm 1962. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1962, một trong số đó đã được đưa đến Kubinka để giới thiệu các lãnh đạo cao cấp của Liên Xô.

Từ năm 1962 đến năm 1963, Phòng thiết kế KB-60M đã tiếp tục lắp ráp thêm 6 phiên bản thử nghiệm của Obiekt 432. Năm 1964, KB-60M đã cho xây dựng một dây chuyền sản xuất nhỏ và đã xuất xưởng 90 xe tăng Obiekt 432 . Năm 1965, dây chuyền này tiếp tục hoàn thành thêm 160 chiếc nữa. Từ  tháng 3 năm 1963 đến tháng 5 năm 1964, xe được đưa đi thử nghiệm cấp nhà nước.

Ngày 30/12/1966, theo Quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, Obiekt 432 chính thức có mặt trong trang bị của quân đội Liên Xô với tên gọi T-64.


Tính năng kỹ thuật của Obiekt 432


Khả năng cơ động của xe được nâng lên nhờ được lắp đặt động cơ diesel 5TDF 700 mã lực thay cho loại 580 mã lực của Obiekt 430

Để tăng cường hỏa lực của xe, xe được trang bị một pháo nòng trơn U-5TC D-68 (2A21) 115mm với liều phóng rời. Và lần đầu tiên, hệ thống nạp đạn tự động điện thủy lực được áp dụng cho xe tăng. Đây là một quyết định táo bạo vì cho đến thời điểm đó, hệ thống này bị coi là chưa hoàn thiện. Nhưng nhờ đó mà kíp lái giảm từ 4 xuống 3 người, nhờ vậy xe tăng có chiều cao thấp hơn, khối lượng giảm từ 36 tấn xuống 30,5 tấn, chiều cao giảm 76mm.Tốc độ nạp 6,5-15 giây/viên, tùy vị trí ổ quay nhưng độ tin cậy thấp, dễ có trục trặc nếu bảo dưỡng kém.

Khả năng bảo vệ của xe được tăng cường hơn so với Obiekt 432. Ban đầu 432 dùng giáp thép đúc. Nhưng rồi, pháo 105 mm L7 của Anh ra đời và nhanh chóng được trang bị cho các xe tăng phương Tây như Centaurion và M60 Patton, nhóm thiết kế quyết định trang bị cho 432 giáp ba lớp kết hợp thép+composite+thép (mà phương Tây gọi là mẫu K). Nó gồm 1 lớp plastic được cố kết bằng sợi thủy tinh kẹp giữa 2 lớp thép có siêu bền. Điều này khiến cho trọng lượng toàn bô xe tăng lên 34 tấn (thay vì 30,5 tấn).

Xe cũng có được trang bị hệ thống chống phóng xạ, hệ thống bảo vệ NBC (bảo vệ trước vũ khí hạt nhân, sinh học, hoá học)

T-64A

Bản vẽ của T-64A

Ngay khi T-64 đang được chế tạo, một mẫu Obiekt 434 lại được âm thầm thiết kế với mục đích tạo ra một loại xe tăng có hỏa lực nổi trội hơn các đồng nghiệp T khác. Vì vậy mẫu tăng mới này được lắp đặt khẩu pháo 125 ly D-81T sản xuất tại Perm, một mẫu cải tiến của khẩu 115 ly cũ trên T-62. Tuy nhiên việc mang những viên đạn 125 ly to hơn đồng nghĩa với việc T-64 sẽ mang ít đạn hơn: 25 viên. Mà những thông số chặt chẽ về kích thước của T-64 khiến các nhà thiết kế khó có thể mở rộng khoang chứa đạn được. Cuối cùng họ tìm ra giải pháp: dùng một thiết bị nạp đạn tự động thay cho hệ thống nạp đạn cũ bằng tay, nhờ đó giảm số binh sĩ trong xe tăng từ 4 còn 3 người; đồng thời đây còn là mẫu tăng đầu tiên áp dụng hệ thống nạp tự động. Từ đó lại dẫn tới những cải tiến về thiết bị nạp đạn: kiểu 6ETs10 với 28 viên đạn và tốc độ nạp 8 viên 1 phút. Ngoài ra còn có hệ thống giữ ổn định 2E23 và thiết bị ngắm TPD-2-1 (1G15-1). Về việc chiến đấu ban đêm, T-64 mới được lắp đặt kính tiềm vọng TPN-1-43A với thiết bị hồng ngoại L2G, được đặt bên trái pháo chính. Về vỏ giáp thì hợp kim duras trong giáp được thay thế bởi các sợi thủy tinh và có lắp thêm các tấm đàn hồi tạo thành giáp diềm chắn bảo vệ phía trước, hai bên hông xe và phía trước bánh xích cũng bằng hợp kim duras. Một số ngăn chứa đồ ngoài xe cũng được lắp đặt thêm, cụ thể là một ngăn ở bên phải và 3 hộp ở bên trái tháp pháo. Thiết bị xả khói mù nằm ở phía sau tháp. Hệ thống bảo vệ NBC cũng được lắp đặt và các lỗ thông gió được mở rộng ra.

Những mẫu thử nghiệm của 434 ra đời năm 1966 và 1967 khi mà T-64 nguyên mẫu đã được sản xuất chừng vài trăm chiếc. Cuối cùng thì nó cũng hoạt động dưới cái tên T-64A. Còn thiết kế trưởng Morozov được nhận giải thưởng Lênin.

Đã mang tiếng là xe tăng “tinh nhuệ” nên T-64 phải luôn được nâng cấp. Chỉ sau 3 năm phục vụ, T-64A đã có mẫu cải tiến:

- Hệ thống điều khiển bắn mới với thiết bị ngắm TPD-2-49 và TPN-1-49-23 cộng với thiết bị ổn định 2E26.
- Radio R-123M.
- Thiết bị nhìn đêm TBN-4A cho lái xe và TNP-165A cho xa trưởng. Chỗ ngồi của xa trưởng có thêm 1 tháp pháo ổn định trang bị đại liên phòng không NVST 12,7 ly x 108 (300 viên) điều khiển điện tử, ngắm bắn bởi thiết bị PZU-5. Vì vậy xa trưởng có thể ngắm bắn ngay trong xe tăng, không cần phải trèo ra ngoài tháp pháo không được che chắn, bảo vệ. Ngoài ra còn có hệ thống chống mìn KMT-6.

Cùng năm mẫu T-64AK dành cho chỉ huy cũng xuất hiện, trang bị một rađiô R-130M có ăngten loại xếp (telescoped – giống loại ăng ten cắm trên tivi, có thể thay đổi độ dài) dài tới 10m. Ăngten chỉ hoạt động trong trạng thái cố định vì được giữ bởi các dây chằng. Ngoài ra còn có thiết bị ngắm PAB-2AM và thiết bị định hướng TNA-3. Một máy phát điện dùng nhiên liệu xăng sẽ cung cấp năng lượng cho tất cả chúng.
Đến năm 1976, hệ thống vũ khí T-64A lại được cải tiến với khẩu pháo mới D-81TM (2A46-1), được giữ ổn định bằng 2E28M2 và tiếp đạn bởi 6ETs10M. Thiết bị nhìn đêm cũ được thay bằng TNPA-65. Động cơ mới có thể dùng nhiều loại nhiên liệu khác nhau, trong đó có dầu diesel, xăng hay kerosene. Đến năm 1980 Liên Xô ngừng sản xuất các xe tăng mẫu này.

Mẫu T-64A được dựng lại

Tuy nhiên sau năm 1981 các mẫu tăng T-64A vẫn tiếp tục được nâng cấp và hiện đại hóa: thay các giáp yếm bằng các tấm giáp váy cao su nhằm tăng khả năng sống sót cho xe tăng; trang bị thêm 6 ống phóng lựu 81 ly 902A trên tháp pháo, hai bên pháo chính. Một số T-64A sau năm 1985 còn được trang bị thêm giáp phản ứng nổ (giống T-64BV), thiết bị đo khoảng cách TPD-K1 thay cho TPD-2-49 (1981). Nói chung là hầu hết các mẫu T-64A đều được nâng cấp thành T-64R trong khoảng 1977-81; chủ yếu là cải tiến về các khoang chứa đồ ngoài xe và hệ thống ống phun khói mù.

Thông số kỹ thuật :

- Năm sản xuất : 1964 - 1980
- Nặng : 38 tấn
- Tổ lái : 3 người
- Dài : 9,225 m
- Cao : 3,415 m
- Ngang : 2,172 m
- Vũ khí chính : Pháo nòng trơn D-81T 125mm
- Vũ khí phụ :
  + Đại liên đồng trục 7,62mm
  + Đại liên phòng không 12,7mm
- Độ dày giáp : 20 - 450 mm
- Công suất : 700 mã lực
- Tốc độ tối đa : 60,5 km/h
- Tầm hoạt động : 500 km
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tư, 2012, 01:49:37 am gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM