Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:12:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển và giới thiệu các dòng xe tăng chủ lực (MBT)  (Đọc 290769 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #360 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2012, 01:44:26 am »


Tháp pháo với các phần tử đúc tăng cường chủ yếu và thành phần thiết kế đầu xe và nóc.




Hình dáng hốc phía sau tháp pháo với các tấm nhô ra.

Các ý tưởng "công trình 292" như pháo chính lớn (152,4mm) hay tháp pháo không có người về sau cũng đã xuất hiện trong quá trình thiết kế các dự án "Đại Bàng Đen" và T-95 nhưng sau đó đều dừng lại vì những nguyên nhân khác nhau mà nguyên nhân chính là không có kinh phí. Hiện nay Nga đã chuyển hướng sang chế tạo một gầm xe cơ sở chung mà trên đó có thể chế tạo các xe tăng chủ lực, pháo tự hành, xe chiến đấu bộ binh... mang tên "Armata".
Logged
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #361 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2013, 07:41:40 pm »

Tiếp theo về xe tăng M1 Abrams (link phần đầu : http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,18969.60.html)

Các loại đạn tương lai


STAFF/ Smart target activated fire and gorget/ ~đạn thông minh tự tìm mục tiêu

+ XM943: Là loại đạn có khả năng tự tìm kiếm và tiêu diệt mục tiêu ở tầm xa hơn so với những loại đạn thông thường. Là một loại đạn tấn công mục tiêu từ bên trên nóc(top attack), STAFF sẽ bay trên đầu mục tiêu và bắn một đầu nổ lỏm vào phần yếu nhất của các loại thiết giáp: nóc xe. Mặc dù được thiết kế để chống thiết giáp, STAFF cũng có thể dùng để chống lại trực thăng. Đặc biệt so với các loại đạn khác, STAFF có một cảm biến lớn đặt trước đầu đạn.

STAFF không cần bất cứ sự thay đổi tháp pháo hay các thao tác đặc biệt nào của tổ lái. Từ lúc nhắm bắn cho đến khi khai hoả và kết thúc, STAFF hoạt động không khác gì một viên đạn thường. Trong khi đang bay, STAFF sẽ tự xác định phương dọc và ngang soo với mặt đất. Trong nhưng giây cuối cùng, cơ chế tìm và theo dõi được kích hoạt. Cảm biến quét trực diện bằng sóng milimet sẽ tìm kiếm mục tiêu. Viên đạn sau đó sẽ bay lên đầu mục tiêu, xoay lại để hướng đầu đạn vào vị trí, kích hoạt kíp nổ và bắn đầu đạn vào mục tiêu.

Hãng Alliant Techsystems phát triển loại đạn này. Những cơ chế chính đã được thể hiện thành công vào năm 1998.


ERM/ Extended range munition/ Đạn kéo dài tầm

TERM/ Tank exended range munition/ Đạn pháo tăng kéo dài tầm

Đạn kéo dài tầm là một khái niệm mới cho việc mở rộng khả năng tác chiến vượt qua tầm nhìn tối đa 3-4 km hiện nay lên tới 8 km. Nó lợi dụng khả năng phát hiện và chỉ định mục tiêu của các đơn vị trinh sát, các công nghệ về thông tin liên lạc để chuyển thông tin về mục tiêu đến xa trưởng hay xạ thủ trong thời gian thực và các công nghệ đạn thông minh cung cấp khả năng bắn từ pháo 120mm ở tầm kéo dài quá đường tầm nhìn.

Tong khi TERM được sử dụng bởi các xe tăng M1A2 để tiêu diệt các mục tiêu có giá trị ở khoảng cách xa gấp đôi hiện nay, thì ERM sẽ cung cấp cho các lực lượng thiết giáp quy mô lớn khả năng giao chiến với đối phương trước khi đối phương có thể đáp trả.

TACOM-ARDEC hiện đang phát triển nhiều khái niệm khác nhau để phù hợp với yêu cầu.

Nhiều khái niệm về tên lửa và đầu đạn khác nhau đã được đề nghị cho nhiệm vụ này. Họ sử dụng các loại sóng tần số radio milimet hoặc\và cảm biến hồng ngoại được kết nối bằng hệ thống chỉ dẫn và kiểm soát dến phương tiện kiểm soát trên không hoặc\và các đơn vị trên cao để điều khiển đường đạn. Các khái niệm hệ thống có thể dùng các hệ thống phát hiện mục tiêu(trinh sát, UAV, tăng) và cách thức dẫn đường khác nhau. Trinh sát sẽ phát hiện vị trí mục tiêu và truyền thông tin tới xe tăng nơi mà các máy tính và hệ thống điều khiển hoả lực tính toán cách bắn. Khẩu pháo chính sau đó sẽ xoay về đúng hướng và các thông số đường đạn được đưa vào viên đạn khi khai hoả. Sau khi bắn và đi được một đoạn, viên đạn sẽ kích hoạt đầu dò và quét tìm mục tiêu. Sự chỉ định mục tiêu từ các đơn vị trinh sát cũng sẽ giúp hoàn thiện tìn hiệu chuyển về xe tăng và giúp viên đạn không tiếp cận những mục tiêu sai hay đã bị loại trước đó. Hiện có hai nhà thấu của chương trình:

*Hãng Raytheon/ GD-OST:

  - Đầu đạn nổ lõm
  - Ba chế độ tìm:
    + Tia laser bán tích cực/ hoạt động? (semi active laser/ SAL)
    + Sóng milimet (millimeter wave/ MMW)
    + Tạo ảnh hồng ngoại (imaging infrared/ IIR)

*Hãng Alliant techsystems:

  - Đầu đạn động năng
  - Tăng tốc bằng động cơ tên lửa
  - Hai chế độ tìm
    + SAL
    + MMW


.50 cal(12,7x99mm)
 
Dùng để chống lại các loại xe bọc thép hạng nhẹ(BTR, BRDM, sườn BMP, BMD), bộ binh núp sau tường, hào….

Có các loại đạn dùng trong chiến đấu: ball(chống bộ binh),Incendiary(cháy), Tracer(vạch đường) ,AP(armor piercing/ xuyên giáp), API(armor piecing incendiary/ xuyên giáp+cháy), SLAP(saboted ligh armor penetrator/ ~xuyên giáp giảm cỡ nòng).

Trong đó, đạn AP, có khả năng xuyên giáp RHA khoảng:

  - 13mm RHA ở 1000m, 30 độ
  - 8mm ở 1000m, 60 độ
  - 19mm ở 500m
  - 10mm ở 1200m
 
Đạn API:

  - 16mm ở 500m
  - 8mm ở 1200m

Đạn SLAP có hiệu quả xuyên giáp gấp 2 đến 3 lần so với các loại đạn khác:

  - 34mm ở 500m
  - 23mm ở 1200m

7,62x51mm

Dùng chống bộ binh, các loại xe không có giáp…. Có các loại đạn dùng trong chiến đấu: ball, tracer, AP.
 
Đạn AP có sức xuyên phá khoảng

  - 10mm ở 100m.
  - 7mm ở 300m
  - 5mm ở 500m

Tốc độ bắn tối đa của pháo chính M1 theo các nguồn khác nhau có thể từ 6 đến 8 hay 10 phát/ phút. Tuy nhiên, trong trận chiến 73 Easting hồi chiến tranh vùng Vịnh lần 1(1991), một chiếc xe tăng M1A1 đã bắn 3 phát đạn trong vòng 10s, cả 3 phát đều trúng mục tiêu.

LỊCH SỬ CHIẾN ĐẤU

Chiến tranh vùng Vịnh lần 1 (1991)

Chiến tranh vùng vịnh lần 1 là nơi đầu tiên thử lửa của xe tăng Abram. Trong cuộc chiến này, nhờ có các lữ đoàn hạng nặng trang bị với xe tăng Abram và xe chiến đấu bộ binh Bradley mà quân đội Mĩ đã có một chiến thắng trên bộ ngoạn mục. Chỉ trong 100 tiếng đồng hồ, lực lượng trên bộ của Liên quân đứng đầu là Mĩ đã quét sạch quân Iraq ra khỏi đất Kuwait. Trong khi không quân mất 43 ngày không kích với cường độ cao và tiêu diệt 50% lực lượng tăng Iraq, các đơn vị thiết giáp Mĩ chỉ mất 4 ngày vài giờ để tiêu diệt thêm 25%.
Một trận đấu tăng lớn điển hình là trận chiến 73 Easting. Đây là trận chiến giữa Trung đoàn Kị binh thiết giáp số 2(2nd Armored Cavalry regiment/ 2nd ACR) của Mĩ với Sư đoàn Tawakalna(vệ binh cộng hoà) của Iraq trên một khu vực sa mạc bình thường.

Di chuyển trong một trận bão cát, không có không quân yểm trợ, ACR được lệnh truy tìm và đánh bại các lực lượng đối phương, xác định vị trí và mở rộng tuyến phòng thủ và chuẩn bị cho các đơn vị hạng năng phía sau tấn công. Vào khoảng 4 giờ chiều ngày 26 tháng 2, đại đội đi đầu của ACR, dưới sự chỉ huy của Đại uý H. R McMaster đã tiếp cận với vị trí chính của quân Iraq. Thực hiện tấn công ngay lập tức, lực lượng của Macmaster bao gồm 9 xe tăng M1A1 Abram và 12 xe chiến đấu kị binh M3 Bradley sau đó đã tiêu diệt toàn bộ dãi phòng thủ của Iraq, bắn trúng 37 xe tăng T-72 và 32 xe thiết giáp trong vòng 40 phút. Các đơn vị Mĩ theo sau cũng chiến đấu tương tự. Trước khi dừng lại để tập hợp lại vào khoảng 5 giờ, 3 đại đội trinh sát Mĩ đã quét sạch một lữ đoàn Vệ binh cộng hoà. Những cuộc phản công sau đó của Iraq cũng bị đánh tan nát với thiệt hại 113 xe thiết giáp Iraq bị phá huỷ trong khi chỉ có một chiếc Bradley bị trúng đạn, một thành viên tổ lái thiệt mạng(một chiếc khác cũng bị hạ vì hoả lực Mĩ bắn nhầm). Khoảng 600 lính Iraq bị loại khỏi vòng chiến.

Cũng trong cuộc chiến 73 Easting này, một chiếc Abram đã lập thành tích bắn hạ 3 xe tăng Iraq chỉ trong vòng chưa tới 10 giây.

“Trong 10 giây, thực ra là trong ít hơn 10 giây, chúng tôi đã có thể nạp thêm 2 viên đạn cùng với viên thứ nhất và khai hoả, và người nạp đạn của chúng tôi là một một nạp đoạn ngoại hàng, có thể nạp một viên đạn chỉ trong 2(hay 3 giây, nghe không rõ, thông cảm) và khoảng 6-9 giây sau, chúng tôi thấy 3 xe tăng đối phương đang bốc cháy…” - R. H macMaster

Những cuộc giao tranh khác cũng có kết quả tương tự. trận chiến Medina Ridge, thực hiện bởi Lữ đoàn 2 của Sư đoàn thiết giáp số 1 (Mĩ) chống lại Lữ đoàn 2 của Sư đoàn Medina Luminous(Iraq). Trong vòng 40 phút, Lữ đoàn Mĩ đã tiêu diệt các đơn vị thiết giáp Iraq có mặt, giết 340 lính và bắt sống 55 tù binh. Không có thiệt hại nhân mạng về phía Mĩ. Tại Mục tiêu Norfolk(Objective Norfolk), hai tiểu đoàn của Sư đoàn bộ binh số 1(Mĩ) phá huỷ hơn 100 xe thiết giáp của Sư đoàn Twakalna và Sư đoàn thiết giáp số 12 với thiệt hại chỉ có 2 chiếc Bradley do hoả lực địch(thiệt hại tổng cộng 5 Abram và 5 Bradley). Trong cuộc chiến Wadi Al Batin, một tiểu đoàn của Sư đoàn thiết giáp số 3(Mĩ) quét sạch một lữ đoàn Iraq, tiêu diệt hơn 160 xe thiết giáp trong khi chỉ bị thiệt hại gần 6 xe.

Vào buổi sáng ngày 27 tháng 2, lực lượng Iraq đã bị quét sạch. Quân đoàn VII của Mĩ đã tiêu diệt tổng cộng 1350 xe tăng Iraq, 1224 xe thiết giáp, 285 khẩu pháo, 105 hệ thống phòng không và 1229 xe tải. Về phần mình, Quân đoàn VII thiệt hại dưới 36 xe thiết giáp vì hoả lực đối phương, 47 binh sĩ thiệt mạng và 129 người bị thương.

Trong cuộc chiến vùng vịnh lần 1, chỉ có 18 chiếc Abram bị loại khỏi vòng chiến do hoả lực đối phương, 9 trong số đó được sửa chữa lại.

Thiệt hại nặng nề nhất đối với một chiếc xe tăng Abram trong cả cuộc chiến có lẽ là của một chiếc Abram trong trận chiến Norfolk vào sáng sớm ngày 27 tháng 2. Chiếc Bumper B-66 bị trúng 3 viên đạn 120mm DU, một viên trúng vào dưới tháp pháo làm cho xạ thủ bị thương(và chết sau đó) khi chiếc B-66 này di chuyển chệch khỏi đại đội(có thể là nguyên nhân dẫn đến việc bắn nhầm). không có viên đạn nào bắn vào các tấm giáp DU của xe. Ảnh hưởng của viên đạn thứ nhất khiến cho xa trưởng bị văng ra khỏi xe và chịu nhiều mảnh vở vào chân. Người nạp đạn sau đó cố gắn đưa xạ thủ ra khỏi xe thì viên đạn thứ hai trúng tiếp, làm phỏng cả người nạp đạn và lái xe. Người lái xe, bị bao phủ bởi dầu diesel từ bình xăng bị vỡ, vẫn ở trong xe khi các bình khí chữa cháy halon bắt đầu xả. Bị phỏng và gần như bị mù, anh ta chạy ra xa khỏi xe và được chiếc B-23 đón. Chiếc B-66 bắt đầu bốc cháy và phát nổ sau đó. Cũng trong trận chiến Norfolk này, còn có 4 chiếc Abram khác bị trúng đạn của Mĩ nhưng không có thiệt mạng nhân sự, một chiếc bị trúng đạn 120mm DU vào mặt nghiêng thân trước khi xe đang mang lưỡi cày mìn, chiếc còn lại bị trúng đạn 120mm DU vào phần thân trái, một chiếc bị trúng mảnh vở của đạn 120mm DU vào sườn, một chiếc bị trúng tên lửa chống tăng(có thể là từ xe Bradley) vào khoang động cơ.

Tuy nhiên, trong ngày 26 trước đó, cũng có một chiếc Abram bị trúng một viên 120mm DU từ phía sau nhưng không có ai bị thương. Một quả tên lửa chống tăng khác cũng bắn vào phía sau tháp pháo chiếc tăng này sau khi tổ lái đã được di tản, khiến cho các túi, ba lô trên máng để hàng bị cháy nhưng không gây ra thiệt hại nào trong tháp pháo. Chiếc xe này sau đó được lực lượng Mĩ thu hồi lại vào ngày 4 tháng 3 năm 1991.

Chiến tranh vùng Vịnh lần 2(2003)

Trong trận chiến này, xe tăng Abram cũng thể hiện tương tự như lần trước với ít thiệt hại nhân mạng cho tổ lái trong xe. Vào khoảng tháng 3 năm 2005, có khoảng 80 xe tăng Abram bị loại khỏi vòng chiến do hoả lực địch.

Cuộc chiến lần 2 đã đánh dấu lần đầu tiên có thiệt mạng trong xe tăng Abram do hoả lực đối phương.
Ngày 29 tháng 10 năm 2003, một chiếc Abram đã trúng một khối mìn chống tăng được tăng cường với chất nổ(khoảng 500 kg, bao gồm nhiều viên đạn 155mm). Quả mìn nổ dưới xe này khiến 2 thành viên tổ lái thiệt mạng, làm bị thương người thứ 3 và bật tháp pháo.

Ngày 25 tháng 12 năm 2005, một chiếc M1A1 bị vô hiệu hoá bởi một quả mìn nổ lõm tự chế. Quả mìn này đâm xuyên qua một bánh đi đường và đâm vào khoang nhiên liệu khiến xe bị cháy gần trung tâm Baghdad. Một thành viên tổ lái thiệt mạng.

Ngày 4 tháng 4 năm 2005, 2 thành viên tổ lái thiệt mạng khi một quả mìn tự chế nổ gần xe của họ.
 
Một chiếc tăng khác của lực lượng lính thuỷ đánh bộ cũng bị rơi xuống sông Euphrates khi đang băng qua cầu. Cây cầu bị sập làm 4 lính thuỷ chết đuối.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Hai, 2013, 07:59:51 pm gửi bởi BOM BI » Logged

maxttien
Thành viên
*
Bài viết: 211



« Trả lời #362 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2013, 10:18:42 pm »

Cái vụ nạp đạn tay 3 viên trong 10 giây, nếu ai xem cái clip về vụ nạp đạn và ngắm bắn của các dòng tank nạp tay như M1 hay Leopard thì sẽ thấy mỗi lần nạp đạn xong rồi ngắm bắn với mục tiêu cố định cũng mất 15 giây/phát. Cứ mỗi lần nạp đạn là xe phải dừng lại, mở nắp hòm đạn, rồi đóng lại mới cho đạn vào nòng, pháo thủ nạp đạn phải nghiêng người xang một bên tránh khỏi chỗ nòng pháo.
Mấy chuyện này người ta chỉ coi là giai thoại thôi Grin
Logged
taupaypay
Thành viên
*
Bài viết: 126



« Trả lời #363 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2013, 12:46:02 am »

Tốc độ nạp đạn tay nhanh có thể nhanh hơn 15s đấy bác ơi.
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=RNTDyJmKCnQ" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=RNTDyJmKCnQ</a>
Chắc khoảng 6-8s/phát cả lấy đường ngắm là hợp lý. Ít hơn 3s theo tuyên truyền của Mỹ thì hơi khó tin.
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=w2vSyHN_JS4" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=w2vSyHN_JS4</a>
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Hai, 2013, 12:59:20 am gửi bởi taupaypay » Logged
maxttien
Thành viên
*
Bài viết: 211



« Trả lời #364 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2013, 03:56:33 pm »

Theo em thấy thì nạp đạn tay chỉ khoảng 4-6/phút thôi, vì con người thì biết mệt mỏi, tất nhiên là trong nhiều trường hợp thì con người sẽ tốt hơn máy móc.
Trong các báo cáo chính thức em đọc ở Globalsecurity về chiến dịch trên bộ của DStorm năm 91 thì họ cũng không tâng bốc chiếc M1 tới mức này, đây là chuyện của mấy anh nhà báo. Trong nội bộ cũng cãi nhau tùm lum về tổn thất của quân Iraq.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Hai, 2013, 04:06:09 pm gửi bởi maxttien » Logged
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #365 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2013, 10:22:47 am »

MBT - 70

(Nguồn : vndefence.info)



THÔNG SỐ

- Tổ lái: 3 người(lái xe, xạ thủ, xa trưởng)
- Trọng lượng rỗng: 48,5t
- Trọng lượng chiến đấu: 51,7t
- Chiều dài thân xe: 7,18m
- Chiều dài toàn bộ: 9,3m
- Chiều ngang toàn bộ: 3,5m
- Chiều cao toàn bộ: 2,96m
- Chiều cao gầm: 0,53m(có thể điều chỉnh từ 0,15 đến 0,63m)
- Đường kính vòng xoay tháp pháo: 2,56m
- Áp lực đất: 0,907kg/cm2(12,9psi)
- Động cơ: Continental AVCR-1100-3 12 xylanh, 4 thì, supercharge, công suất 1475hp@2800rpm
- Truyền động: Renk HSWL 354 4 số tiến, 4 số lùi
- Dung tích nhiên liệu: 1514l
- Tầm hoạt động: 643km
- Tốc độ tối đa(đường): 64km/h(ổn định)
- Lên dốc: 31độ(60%)
- Vượt hào: 2,8m
- Vượt vật cản đứng: 1,09m
- Độ sâu lội: 2,23m(không chuẩn bị), 4,9m(có chuẩn bị)

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN

MBT70 là chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Mĩ và CHLB Đức vào thập niên 1960 nhằm đưa vào sản xuất một loại xe tăng chủ lực thế hệ mới với những tính năng tối tân nhất thời bấy giờ trong thập niên 1970 cho quân đội hai nước.

Bản hiệp định đầu tiên của chương trình không nêu ra bất kỳ yêu cầu cụ thể nào về loại xe tăng chủ lực mới này, nhưng nó đưa ra đề ra công việc đầu tiên là phải lập một bảng danh sách các yêu cầu chung được 2 quốc gia đòi hỏi. Các tổ chức, cơ quan quân sự và dân sự chịu trách nhiệm nghiên cứu, thiết kế và điều phối được lặp ra để kết nối chương trình hợp tác xuyên châu lục này mà đứng đầu là PMB(Program Management Board) do chuẩn tướng(về sau là thiếu tướng) Welborn G. Dolvin chịu trách nhiệm lãnh đạo chương trình ở Mĩ và tướng Fritz Engelmann chịu trách nhiệm tương tự ở CHLB Đức. Hai cơ quan chính của chương trình là Cục kĩ thuật phối hợp(Join Engineering Agency/JEA) và Nhóm thiết kế phối hợp(Joint Design Team/JDT) có đại diện ngang bằng nhau từ 2 nước. Ở Mĩ, tập đoàn General Motors được trao hợp đồng hổ trợ chương trình trong khi ở CHLB Đức, một hiệp hội các nhà công nhiệp với tên gọi Deutsche Entwicklungsgesellschaft/DEG được thành lập vào tháng 7/1964 để làm công việc tương đương. Đức được chọn để làm nơi thực hiện công đoạn thiết kế ban đầu của chương trình và JEA và JDT được đưa đến Augsburg vào tháng 9/1964. Hai cơ quan này được lên kế hoạch di chuyển đến Detroit, Michigan, Mĩ sau khi công đoạn thiết kế ban đầu đã hoàn tất, nhưng nhiều trì hoãn đã ngăn cản điều nay cho đến tận tháng 9/1966. Mặc dù được yêu cầu phải phối hợp chặt chẽ với nhau, các nhóm làm việc bị chia rẽ vì các khác biệt về ngôn ngữ, thực tiễn công nghiệp và các thủ tục kĩ thuật khiến ngay cả các vấn đề nhỏ cũng trở nên khó giải quyết. Vì thế, hầu như mọi quyết định đều phải được sự thỏa hiệp giữa hai bên hoặc sẽ phải đưa lên cấp cao hơn để giải quyết. Điển hình là một thoả hiệp đã không đạt được ở JEA hay PMB vì việc bất đồng trong sử dụng hệ thống đo lường theo hệ của Anh(inch, pound…) hay là theo hệ metric(cm, kg…) và vụ việc phải được đưa lên đến cấp Bộ quốc phòng. Quyết định cuối cùng đưa ra là mỗi nước có thể dùng hệ thống đo lường của mình trong những thành phần mà mình sản xuất nhưng những kết nối giữa các thành phần phải được dùng hệ metric. Bởi vì 2 nước có tiếng nói ngang nhau trong việc thiết kế, nên thực tế có tới 2 sếp trong mỗi nhóm làm việc. Tất cả các khó khăn trên tạo ra sự hỗn loạn cho kế hoạch phát triển ban đầu và thời gian để chọn lựa khái niệm thiết kế bị kéo dài từ 6 tháng dự kiến lên 2 năm trên thực tế. Điều này, dĩ nhiên cũng sẽ tạo ra sự trì hoãn tương đương đối với thời hạn chiếc xe tăng sẳng sàng cho sản xuất.

Việc chuẩn bị các đặc điểm chung cho loại xe mới cũng đòi hỏi phải hoà hợp nhiều nhiều yếu tố trái ngược nhau. Ví dụ như người Đức muốn một chiếc tăng được dùng chủ yếu ở Trung Âu trong khi người Mĩ lại muốn một chiếc xe tăng phù hợp cho hoạt động khắp thế giới. Cả 2 nước đều muốn một môi trường có kiểm soát cho tổ lái với giáp bảo vệ và chống phóng xạ tối đa ở trọng lượng thấp nhất có thể. Đức thích loại pháo tốc độ đạn cao để làm vũ khí chính trong khi Hoa Kì lại tin rằng tên lửa là cực kì quan trọng đối với độ chính xác ở tầm xa. Vũ khí phụ của xe được yêu cầu phải chống được cả mục tiêu trên bộ lẫn trên không. Để đạt các yêu cầu chung này, một lượng lớn các thiết kế đã được xem xét tại Augsburg. Chúng bao gồm gần như mọi thiết kế xe tăng đã được nghiên cứu trước đó tại Detroit cũng như một số mẫu mới. Các thiết kế bao gồm từ kiểu xe không tháp(casemate) với pháo có tầm xoay hạn chế cho khẩu pháo chính cho đến thiết kế dạng khoang(pod) với khẩu pháo chính được lắp bên ngoài. Thiết kế quy ước được xem xét với lái xe ở thân trước và nhiều kiểu tháp pháo. Tuy nhiên, thiết kế lái xe ngồi chung trong tháp pháo được nhóm Hoa Kì ưa thích. Một thiết kế của Đức đặt toàn bộ tổ lái trong một tháp pháo dạng hình cầu được ổn định 3 trục.


Thiết kế xe tăng kiểu casemate ở bên phải và kiểu pod ở bên trái


Thiết kế xe tăng với tháp pháo dạng cầu của Đức

Để đánh giá các thiết kế được đưa ra, một hợp đồng đã được giao cho công ty Lockeed Missiles and Space để thực hiện một nghiên cứu về hiệu quả chi phí dựa trên thiết kế toán học. Nghiên cứu này sử dụng một mô hình toán học của một xe tăng có thể được hoán cải để đại diện cho các bản thiết kế. Các phân tích của máy tính sau đó đánh giá hiệu quả của các cấu hình xe tăng với nhiều thành phần được đưa ra đối đầu với các nguy cơ được mong đợi trong các điều kiện chiến đấu khác nhau. Bằng cách này, số lượng các ứng viên giảm xuống còn lại 5. Mô hình tỉ lệ thật của 5 chiếc này được chế tạo và đưa đến các nghiên cứu sâu hơn, cuối cùng giảm xuống chỉ còn lại 2 thiết kế cho quyết định cuối cùng. Và mẫu xe cuối được chọn mang các yếu tố kết hợp từ 2 ứng viên trên, các thành phần chính của xe được giao cho các nhóm của Đức hoặc Mĩ để thiết kế và chế tạo. Tuy nhiên, các phát triển song song vẫn được tiếp tục ở một số bộ phận để cung cấp bản dự phòng trong trường hợp ứng viên chính thất bại.


Thiết kế cơ bản được chọn cho MBT70

Như đã nói trước, nhóm Hoa Kì thích sử dụng phiên bản mới của loại pháo-ống phóng 152mm để làm vũ khí chính cho loại xe tăng mới. Hệ thống vũ khí XM81 nguyên thuỷ được kéo dài và người ta cũng bắt đầu nghiên cứu loại đạn xuyên giáp động năng cho pháo. Mang tên mã XM150, hệ thống pháo-ống phóng mới này cũng có thể bắn các loại đạn 152mm có sẳn. Các phát triển tiếp tục của tên lửa Shillelagh làm kéo dài tầm bắn và cải thiên độ tin cậy của nó. Mặc dù người Mĩ đã thuết phục được người Đức chọn thiết kế lái xe trong tháp pháo, nhưng việc sử dụng pháo-ống phóng 152mm không được nhười Đức mặn mà lắm. Đức vẫn tiếp tục phát triển loại pháo có tốc độ cao 120mm và lên kế hoạch trang bị ít nhất vài chiếc tăng của họ với loại vũ khí này.

Sau khi đã chọn lựa được mẫu thiết kế, JEA và JDT được di chuyển từ Augsburg đến Detroit vào tháng 7/1966. Theo kế hoạch ban đầu, 8 xe tăng nguyên mẫu được cho phép sản xuất bởi mỗi nước, tuy nhiên, con số về sau giảm xuống chỉ còn 6. Nguyên mẫu đầu tiên được hoàn thành tại Hoa Kì vào tháng 7/1967 và được trưng bày cho công chúng lần đầu tiên vào tháng 9, cùng lúc với nguyên bản đầu tiên của Đức ra đời. Cả 2 đều chỉ là nguyên bản thử nghiệm độ cơ động và không được lắp bất kỳ thiết bị điều khiển hoả lực nào. Phần phía trước của thân xe và tháp pháo được bảo vệ bởi giáp rỗng và không gian dự phòng được làm để lắp lớp chắn phóng xạ nhằm đạt tỉ lệ làm loãng 20:1. Chiếc xe tăng mới này có tổ lái 3 người bao gồm xa trưởng, lái xe và xạ thủ. Hệ thống nạp đạn tự động nằm ở khoang sau tháp pháo loại bỏ yêu cầu về người nạp đạn. Tuy nhiên, nó không được lắp đặt trên nguyên bản đầu tiên. Toàn bộ tổ lái được đặt trong tháp pháo với lái xe ngồi trong một khoang dạng con nhộng(capsule) xoay đối nghịch lại với hướng xoay của tháp pháo nằm ở góc trái phía trước tháp pháo(nếu nhìn từ sau xe). Xạ thủ ngồi ở góc trước bên phải và xa trưởng ngồi ngay phía sau anh ta. Vối bố trí này, môi trường trong tháp pháo có thể được kiểm soát để chống lại tác nhân sinh hoá cùng với hệ thống làm mát/ sưởi ấm tạo sự thoải mái cho tổ lái. Một lưới cản đạn ở phần thân trên bên trái sườn xe che phủ bộ phận lấy khí cho thiết bị kiểm soát môi trường trong xe. Một hách thoát hiểm khẩn cấp được đặt ở dưới gầm tháp pháo. Tuy nhiên, vánh trượt cần phải được tháo ra và đẩy về một bên trước khi nó có thể sử dụng được. Để giàm trọng lượng, hách thoát hiểm được làm từ titan đúc.

MIÊU TẢ

MBT70 có thiết kế khá khác biệt so với các loại xe tăng bình thường khác, với toàn bộ tổ lái ngồi trong tháp pháo thay vì có lái xe ngồi ở thân xe trước. Kiểu thiết kế này nhằm gộp chung tổ lái lại ở trong khu vực có môi trường được kiểm soát và có lớp chắn phóng xạ.



Vị trí của lái xe bao gồm một khoang dạng capsule với ghế ngồi và mặt phẳng được treo vào nóc tháp pháo. Cupola nhỏ ở phía trên ghế ngồi bao gồm một hách ra vào và 3 kính quan sát. Ghế ngồi và mặt phẳng của lái xe là loại có thể điều chỉnh độ cao bằng thuỷ lực cho phép lái xe điều khiển xe khi đang ngồi hoặc đứng khom người. Tư thế đứng khom người được dùng khi đầu của lái xe lộ diện ra ngoài hách. Khoang capsule của lái xe luôn xoay đối nghịch lại với hướng xoay của tháp pháo để giữ cho lái xe luôn hướng về phía trước(vị trí 0 độ hoặc 12h) bất chấp góc của tháp pháo. Nó cũng có thể được khoá vào vị trí xoay nghiêng 50 độ về bên phải hoặc bên trái hoặc xoay về phía sau(vị trí 180 độ hoặc 6h). Vị trí xoay nghiêng 50 độ là nhằm cho phép lái xe sử dụng 1 trong 2 kính quan sát hai bên trong trường hợp kính quan sát chính bị hỏng. Bảng thông báo và điều khiển chính của lái xe được lắp dính vào trong khoang capsule, nhưng bảng dự phòng được gắn vào tháp pháo ở bên trái lái xe. Để dự phòng cho hệ thống điều khiển bằng điện, các thiết bị điều khiển khẩn cấp cơ học được lắp đặt trong thân xe ngay cạnh khoang lái xe. Tuy nhiên, cả khoang capsule lẫn tháp pháo phải được khoá vào vị trí hướng mặt về phía trước để có thể sử dụng chúng.

Xạ thủ của xe được trang bị một hách ra vào ở nóc tháp pháo trên đầu anh ta. Ghế ngồi của anh ta được đóng vào thành của rổ xoay tháp pháo bằng nhôm và nó có thể điều chỉnh bằng cơ học. Cùng với thiết bị quan sát chính, một kính quan sát được cung cấp để tăng khả năng xác định mục tiêu và quan sát địa hình. Thiết bị quan sát phụ trợ của xạ thủ là một kính nhắm có khớp lắp ở bên phải khẩu pháo bên trên súng máy đồng trục. Kính quan sát này có khả năng quan sát hồng ngoại để hoạt động trong đêm nhờ vào sự chiếu sáng hồng ngoại của chiếc đèn dò.


Khoang capsule của lái xe(bên trên) và vị trí của xạ thủ(bên dưới)

Xa trưởng của xe ngồi ở góc phải phía sau của tháp pháo, đằng sau xạ thủ, bên dưới một cupola có 1 hách ra vào và 6 kính quan sát cung cấp vùng quan sát 360 độ để quan sát cự li gần xung quanh xe. Nắp che hách của xa trưởng và lái xe là loại có thể thay thế cho nhau. Thiết bị quan sát toàn cảnh và quan sát đêm được gắn ở nóc tháp pháo, bên phải và bên trái phía trước cupola. Ghế ngồi và mặt phẳng để chân được gắn vào rỗ tháp pháo và có thể được điều chỉnh độ cao bằng thuỷ lực. Các thiết bị điều khiển cho phép xa trưởng làm thế tạm thời công việc của xạ thủ hay lái xe trong trường hợp khẩn cấp để khai hoả pháo chính hay lái xe. Trong trường hợp sau, xa trưởng có thể điều khiển xe di chuyển, nhưng anh ta không thể dừng hay khởi động động cơ.

Có 3 hệ thống cung cấp năng lượng phụ trợ hoạt động nhờ động cơ chính của xe để tạo ra điện và năng lượng thuỷ lực. Hệ thống điện bao gồm máy phát điện xoay chiều 3 pha có đầu ra 20kW ở 28V và 8 pin 12V cung cấp dòng điện một chiều 24V. Hai hệ thống thuỷ lực được cung cấp cho xe. Một hệ thống hoạt động ở 1500psi để vận hành tháp pháo và hệ thống nạp đạn tự động trong khi hệ thống còn lại tạo ra 3000psi để vận hành hệ thống treo thuỷ hơi (hydropneumatic).
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2013, 10:38:18 am gửi bởi BOM BI » Logged

daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #366 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2013, 12:07:55 am »

Tổng quan


Xe tăng hạng trung T-54 được chế tạo ở phòng thiết kế Hạ Tagil dưới sự chỉ đao của A.A.Morozov năm 1946 và trong quá trình chế tạo mang tên “Công trình 137”. Xe tăng được tiếp nhận vào biên chế năm 1950 và sản xuất hàng loạt ở Kharcov, Hạ Tagil và Omsk. Trong quá trình sản xuất đã tiến hành nâng cấp xe tăng mà không thay đổi mác xe.

Xe tăng được chế tạo theo bố cục truyền thống với kíp xe bố trí trong tháp pháo: bên trái pháo là trưởng xe và pháo thủ, bên phải – nạp đạn (pháo thủ số 2). Động cơ bố trí ngang ở sau thân xe cho phép tăng kích thước buồng chiến đấu do làm gọn chiều dài buồng động cơ – truyền động và lần đầu tiên, lắp pháo 100mm trên xe tăng hạng trung.

Khác với các dòng xe tăng trước, khi lắp pháo chính đã xuất hiện mặt cắt trước lỗ châu mai trên tháp pháo, nghiêng về phía mũi xe, vì thế lỗ châu mai không rộng (400mm). Việc này tăng cường khả năng bảo vệ phần đầu tháp pháo. Tuy nhiên, dẫn đến một số khó khăn trong việc thay pháo trong điều kiện cấp binh chủng (thay ở đơn vị).

Nhờ bố cục này, tháp pháo được đẩy về phía sau hơn và bố trí được cửa ra vào cho lái xe – kỹ thuật viên trên thân xe, tăng cường đáng kể khả năng chống các loại đạn xuyên ở mũi xe với giáp dày 120mm và nghiêng 60 độ. Cũng theo đó, việc bố trí cửa ra vào ở bên trái pháo chính yêu cầu các lái xe phải có kinh nghiệm lái khi di chuyển trong khu vực địa hình bị giới hạn.

Lúc đầu, tháp pháo đúc hình bán cầu có toàn bộ chi vi dưới tháp pháo dạng mặt dốc ngược, được cho là khu vực bọc thép yếu nhất và đã được khắc phục, nâng cấp trong các xe tăng được sản xuất sau. Việc tăng cường giáp xe tăng trong giới hạn 36 tấn, trong điều kiện bố trí dày đặc các tổ hợp và hệ thống đã được tiến hành thành công.

Vũ khí xe tăng gồm pháo rãnh xoắn D-10T, súng máy đồng trục SG-43. Hai súng máy 7,62mm sG-43 bố trí trên các hộp bọc thép ở các vách trên băng xích, và súng máy 12,7mm DShK. Cơ số đạn pháo – 34 viên với các loại đạn nổ - phá và đạn xuyên giáp. Đạn xuyên giáp có tầm bắn 2000 mét xuyên được giáp đứng dày 155mm. Thiết kế pháo được xem là thành công khi nó tồn tại (sử dụng được) hơn 40 năm trong các biến thể T-54 và T-55 trong biên chế mà không phải thay đổi nhiều.

Xe tăng lắp động cơ V-54, là sự phát triển tiếp trên động cơ diesel V-2. Tầm hoạt động của xe tăng là 330 kilomet với khối lượng nhiên liệu 730 lít.

Bộ truyền động của xe tăng trong loạt sản xuất đầu tiên gồm có bộ truyền động đầu vào (bánh răng) với sự bôi trơn cưỡng bức và hộp bánh răng bằng thép, bộ ly hợp ma sát khô chính dạng nhiều đĩa, hộp số truyền động năm số với hai bộ đồng bộ quán tính, cơ cấu quay và bộ truyền động bên một hàng (dãy) đơn giản. Trong vai trò cơ chế quay, sử dụng các cơ cấu hành tính hai cấp, bảo đảm nhận được hai bán kính quay, đồng thời khả năng tăng sức kéo trong thời gian ngắn khi di chuyển thẳng mà không cần đổi hướng truyền động do gạt đồng thời các tay lái điều khiển tới vị trí đầu tiên.

Hệ thống treo của xe tăng – độc lập, xoắn với bộ giảm sóc thủy lực dạng cánh trên các đầu mút trước và sau. Đây là kiểu các bộ giảm sóc thủy lực lần đầu tiên được ngành chế tạo xe tăng Liên Xô sử dụng trên T-54 và cho đến bây giờ. Băng xích gồm 90 mắt xích với bản lề kim loại mở và ăn khớp với bánh dẫn động, theo thiết kế lúc đầu, rộng 500 mm.

Trên xe tăng sử dụng hệ thống chữa cháy bán tự động bằng axit cacbonic, còn trong phần sau thân xe lắp hai khối mìn khói DMSh. Hệ thống thông tin liên lạc sử dụng đài vô tuyến 10-RT-26 và khí tài hội thoại trong xe tăng TPU-47. Xe tăng không tính toán khả năng di chuyển dưới nước.

Khi nâng cấp T-54, đã lắp tháp pháo mới, không có mặt dốc ngược theo chu vi đáy và một súng máy trong buồng lái thay vì hai súng máy như lúc đầu. Thước ngắm pháo thủ dạng ống lồng TSh-20 được thay bằng thước ngắm TSh2-22 với bội số 3,5 và 7. Ngoài ra, từ năm 1951, trên xe tăng đã áp dụng hệ thống giữ nhiệt, máy làm sạch không khí với hệ thống hút bụi, băng xích rộng 580mm và thay đổi thiết kế mắt xích. Để duy trì khối lượng giới hạn cho xe tăng hạng trung, độ dày giáp đầu giảm từ 120 xuống 100mm. Độ giày tối đa giáp trước tháp pháo (200mm) và giáp hông (80mm) không đổi.

Trên cơ sở xe tăng T-54 đã chế tạo xe tăng chỉ huy T-54K và xe tăng phun lửa TO-54 (OT-54). Xe tăng chỉ huy được chế tạo năm1954 và tiếp nhận vào trang bị năm 1958. T-54K khác ở sự bổ sung đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112 và tổ hợp nạp điện bằng xăng để cung cấp năng lượng khi hoạt động tại chỗ lâu. Súng máy SGMT được giữ lại.

Các thiết bị và tổ hợp của xe tăng T-54 đã chế tạo và sản xuất hàng loạt pháo tự hành Su-122 và ZSU-57-2, xe lắp cầu MTU, xe kéo bọc thép BTS-2 và cần cẩu tự hành SPK-12G. Một số xe tăng có khả năng lắp bánh xe quét mìn PT-54, máy ủi tăng BTU, máy dọn tuyết STU và phà PTS-54.

Xe tăng T-54 có hai biến thể - T-54A và T-54B. Xe tăng được xuất khẩu tới 39 nước trên thế giới. Từ năm 1957, ở xưởng sản xuất xe tăng thành phố Baotou đã sản xuất xe tăng T-59 – bản sao chép từ T-54.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #367 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2013, 12:15:55 am »

Xe tăng hạng trung T-54A


Được chế tạo ở phòng thiết kế tại Hạ Tagil dưới sự chỉ đạo của L,N.Kartsev và tiếp nhận vào biên chế năm 1955. Việc sản xuất hàng loạt được thực hiện từ năm 1955 đến 1957 tại Kharcov, Hạ Tagil và Omsk.

Lần đầu tiên trong ngành chế tạo xe tăng Liên Xô, trên xe tăng hạng trung đã lắp pháo (D-10TG) với hệ thống cân bằng pháo – tăng dọc (STP-1 “Gorizont”) với bộ hút khói đầu nòng sau phát bắn. Giải pháp kỹ thuật này được tiến hành bởi nỗ lực lớn của các công trình sư trong lĩnh vực này. Vào cuối giai đoạn đầu sau chiến tranh (những năm 1950), toàn bộ các xe tăng trong biên chế Quân đội Liên Xô đã có bộ cân bằng pháo tăng dọc – ngang để bắn trong khi di chuyển và bộ phận hút khói để giảm khối lượng khói đạn tràn vào buồng chiến đấu.

Đối với lái xe, đã tăng cường khí tài nhìn đêm hồng ngoại TVN-1, tiếp nhận vào trang bị năm 1951. Khí tài thông tin liên lạc sử dụng đài vô tuyến R-113 và khí tài hội thoại tăng R-120.

Trên cơ sở T-54A đã chế tạo xe tăng chỉ huy T-54AK được tiếp nhận vào biên chế năm 1958. Nó được sản xuất hàng loạt và khác ở việc bổ sung đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112 của trưởng xe và tổ hợp nạp điện trong buồng điều khiển. Súng máy SGMT được giữ lại.

Xe tăng T-54B


Được chế tạo bởi phòng thiết kế Hạ Tagil dưới sự chỉ đạo của L.N.Kartsev. Được tiếp nhận vào trang bị theo mệnh lệnh của Bộ quốc phòng Liên Xô 11 tháng 9 năm 1956. Việc sản xuất hàng loạt từ năm 1957 đến 1959 ở Kharcov, Hạ Tagil và Omsk.

Xe tăng sử dụng pháo D-10T2S với hệ thống cân bằng pháo tăng dọc - ngang STP-2 (Tsiklon). Cơ số đạn pháo, trừ đạn phá nổ, có đạn xuyên giáp dưới cỡ và đạn xuyên lõm. Trên xe tăng: thước ngắm hồng ngoại bắn đêm của pháo thủ TPN-1-22-11 và khí tài nhìn đêm của trưởng xe TKN-1, sàn quay buồng chiến đấu, tăng cường điều kiện làm việc cho kíp xe trong tháp pháo, cơ cấu quay tháp pháo mới.

Trữ lượng nhiên liệu tăng lên 1212 lít, tầm hoạt động – 430 kilomet. Lần đầu tiên, xe tăng lắp khí tài bơi dưới nước (OPVT) cho phép vượt (di chuyển dưới đáy) chướng ngại vật nước rộng 700 mét và sâu 5 mét.

Thời gian di chuyển dưới nước bị hạn chế do nóng động cơ vì khi lắp khí tài bơi, nóc buồng động cơ – truyền động bị làm kín. Một số xe tăng được lắp các lưới quét mình KMT-4M và KMT-5M.

Trên cơ sở T-54B đã chế tạo xe tăng chỉ huy T-54BK, tiếp nhận vào trang bị năm 1958. T-54BK khác ở việc bổ sung đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112 và tổ hợp nạp điện. Súng máy SGMT được giữ lại.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #368 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2013, 12:24:00 am »

Xe tăng hạng trung thí nghiệm T-54 với động cơ GTD-3T

Được chế tạo và thí nghiệm trong giai đoạn 1961-1964 bởi tập thể Viện nghiên cứu khoa học số 100 ở Leningrad. Để so sánh các thí nghiệm, đã chế tạo hai mẫu xe tăng với động cơ tuabin khí GTD-3T. Trong mẫu thí nghiệm thứ nhất, lắp bộ phận truyền động cơ khí của T-54, mẫu thứ hai – bộ truyền động thủy lực.

Động cơ tuabin khí hai trục GTD-3T được chế tạo trên cơ sở động cơ trực thăng, bố trí nằm ngang trong thân xe tăng, vì thế, sự hút khí được thực hiện từ thành trái, còn xả – đằng trước buồng động cơ – truyền động từ thành phải. Động cơ được chế tạo ở phòng thiết kế ở Omsk dưới sự chỉ đạo của V.A. Glushenkov, có công suất 515 kW (700 sức ngựa), nhưng để lắp vào xe tăng, công suất động cơ giảm xuống 432 sức ngựa. Nhờ thay động cơ tuabin khí, khối lượng xe tăng giảm xuống còn 33,5 tấn.

Xe tăng hạng trung T-54M

Là biến thể T-54 mà trên đó xử lý vũ khí mới và thí nghiệm động cơ công suất mạnh hơn. Xe tăng được chế tạo năm 1954, không được tiếp nhận vào biên chế, nhưng vẫn có mã số T-54M.

Khác với T-54, T-54M lắp pháo rãnh xoắn 100mm D-54 với bộ hãm đầu nòng. Pháo này sau đó được lắp trên xe tăng thí nghiệm “Công trình 140” và dưới số hiệu U8-TS trên xe tăng T-62A. Sơ tốc đầu nòng của đạn xuyên giáp – 1015m/s. Cơ số đạn pháo – 50 viên. Súng phóng không – KPVT 14,5mm. Động cơ V-54-6 có công suất 426kW (580 sức ngựa) và là mẫu trước của động cơ xe tăng hạng trung T-55. Nhiên liệu – 1360 lít. Trên xe tăng sử dụng thùng tiếp dầu cho động cơ.

Xe tăng phun lửa TO-54


Được chế tạo trên cơ sở xe tăng T-54 năm 1952 ở phòng thiết kế tại Kharcov dưới sự chỉ đạo của Morozov và có tên gọi “Công trình 481”. Được tiếp nhận vào trang bị năm 1954.

TO-54 khác dòng xe tăng cơ sở ở súng phun lửa tự động hoạt động bằng thuốc súng ATO-1 thay cho súng máy đồng trục với pháo chính. Súng phun lửa được bắn khi xe dừng với sự hỗ trợ của thước ngắm pháo chính với tầm xa 160 mét. Tốc độ bắn tối đa – 20 phát bắn/phút. Thể tích phát bắn súng phun lửa – 20 lít. Để bắn súng phun lửa, sử dụng hỗn hợp cháy AP-7 – là hỗn hợp của xăng và dầu hỏa cùng chất bột – chất làm đặc OP-2 và xylenol.

Nhiệt độ ngọn lửa từ phát bắn – 900-1000 độ. Thùng chứa hỗn hợp cháy – 460 lít được lắp ở mũi thay cho giá giữ đạn. Trong phát bắn, dưới tác động của khí thuốc nổ, pít tông di chuyển vào phía trong xilanh súng phun lửa, đẩy hỗn hợp cháy – vào thời điểm bay ra khỏi nòng súng sẽ bắt lửa với sự hỗ trợ của hệ thống đốt thuốc nổ.

Việc nạp đầy xi lanh bằng hỗn hợp cháy được thực hiện bởi không khí nén. Cơ số đạn tăng – 19 cho pháo; 20 phát bắn lửa cho súng phun lửa, 1500 đạn súng máy và 200 đạn súng phòng không. Các thông số chiến đấu và kỹ thuật TO-54 giống T-54.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #369 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2013, 12:27:29 am »

Các biến thể

T-54 mẫy năm 1946 (T-54-1) – Công trình 137 – mẫu cơ sở

T-54 mẫu năm 1949 (T-54-2) – Công trình 137 – tháp pháo đúc mới

T-54 mẫu năm 1951 (T-54-3) – Công trình 137 – tháp pháo đúc hình bán cầu mới

T-54K – xe tăng chỉ huy với đài vô tuyến R-113 và R-112

OT-54 – Công trình 481 – T-54 với súng phun lửa ATO-1

T-54A – Công trình 137G – pháo chính có bộ phận hút khói, hệ thống cân bằng pháo tăng STP-1 “Gorizont”, thước ngắm mới TSh-2A-22…

T-54AK – xe tăng chỉ huy T-54A với đài vô tuyến R-113 và R-112

T-54B – Công trình 137G2 – trên cơ sở T-54A. Hệ thống cân bằng pháo tăng dọc – ngang STP-2 “Tsiklon”, sàn quay buồng chiến đấu

T-54BK – xe tăng chỉ huy T-54B. Bổ sung R-112, TNA-2, khí tài nạp điện AB-1-P/30

T-54M – Công trình 137M – T-54 nâng cấp lên chuẩn T-54B + động cơ V-55, thước ngắm nhìn đêm, tăng cơ số đạn, tăng cường khí tài vượt chướng ngại vật nước

T-54AM – T-54A nâng cấp lên chuẩn T-54M

T-54MK – T-54M chỉ huy. Bổ sung R-112, TNA-2, tổ hợp nạp điện.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM