Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:37:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử phát triển và giới thiệu các dòng xe tăng chủ lực (MBT)  (Đọc 290862 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #380 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2013, 12:11:10 am »

Thêm một cuộc xung đột ở Trung Đông sử dụng nhiều xe tăng T-54/55 là chiến tranh Iraq-Iran bắt đầu năm 1980 và kéo dài 8 năm. Các cuộc đụng độ diễn ra có quy mô lớn, quyết liệt và đạt được những thành công khác nhau. Trong giai đoạn đầu tiên (1980-1981), lợi thế nghiêng về Iraq, sau đó thế chủ động chuyển sang Iran. Tháng 4 năm 1988, Iraq đã tiến hành cuộc tấn công quyết định vào hướng đông nam (bán đảo Fao) và giải phóng phần lãnh thổ của họ trước đó bị chiếm, đẩy mạnh việc ký giải pháp đình chiến. Đầu chiến tranh, các đơn vị xe tăng Iraq chủ yếu trang bị xe tăng Liên Xô T-54/55 và T-62. Iran có 400 M-60A1, hơn 300 Chieftain từ quân đội chính quyền Shah. Thú vị là trong quá trình chiến tranh, hai bên bù đắp tổn thất lớn về khí tài kỹ thuật thiết giáp bằng việc mua vũ khí cùng một nơi – Trung Quốc. Nguyên nhân là ở thời điểm đó, trong khi Iran cắt đứt quan hệ ngoại giao với Mỹ năm 1979 và không nhận được viện trợ quân sự, còn Baghdad – bị cắt xuất khẩu quân sự từ Liên Xô đầu những năm 1980. Kết quả là Iran đã nhận được 750 xe tăng “59”. Còn Iraq đã ký với Bắc Kinh hợp đồng mua hơn 1000 xe tăng “69”, khoảng 600 xe trong số đó, Iraq nhận được trước năm 1988 (như vậy, rõ ràng “69” đã tham gia cuộc chiến này). Cuối chiến tranh, Baghdad cũng đã mua khoảng 700 xe tăng “59”

Cuộc xung đột vũ trang cuối cùng có sự tham gia của các xe tăng T-54/55 là chiến tranh ở vịnh Péc xích năm 1991. Trong cuộc xung đột này, các T-54/55, cùng “59”, “69” trong quân đội Iraq đã đụng độ các xe tăng hiện đại của phương Tây – M1 “Abrams” và “Challenger” trong biên chế lực lượng đa quốc gia (MNS – liên quân). Đầu chiến tranh, số lượng xe tăng Liên quân là 5100, còn Iraq – 5300. Hoạt động trực tiếp trong vùng chiến, Liên quân có 3500 xe tăng, còn Iraq – 3700. Chiến tranh mở màn bằng chiến dịch đường không của Liên quân bắt đầu từ 17 tháng 1 và kéo dài hơn 1 tháng. Trong chiến dịch này, theo đánh giá của Bộ chỉ huy Liên quân, Iraq tổn thất khoảng 500 xe tăng. Ngày 29 tháng 1, Iraq cố gắng tấn công vào Ras-Havdzhi (Ả rập Xê út – Arab Saudi nhưng không thành công. Trong một ngày, Iraq tổn thất 24 xe tăng.

Ngày 24 tháng 2 năm 1991, chiến dịch trên bộ của Liên quân bắt đầu bằng việc đánh tan cụm quân Iraq ở phía nam – chiến dịch “Bão táp sa mạc”. Tốc độ tấn công của Liên quân là 50 kilomet trong một ngày (50km/ngày). Lục quân Iraq, vốn đã xuống tinh thần bởi các cuộc tập kích đường không trước đó và thực tế không có khả năng kháng cự, ngoại trừ lực lượng Vệ binh Cộng hòa (cụ thể là sư đoàn tăng “Tavalkana” ở hướng trung tâm). Các nỗ lực phản công bởi lực lượng này chỉ là những trận đánh lẻ tẻ. Trong đó, các trận đánh chỉ diễn ra vào ban đêm vì ban ngày quân đội Iraq thực tế không thể tổ chức lực lượng xe tăng do không quân Liên quân chiếm ưu thế hoàn toàn trên không. Tận dụng lợi thế của hệ thống nhìn đêm vô tuyến có tầm quan sát xa hơn (trên các xe tăng T-55 và T-72 của quân đội Iraq là các khí tài hồng ngoại thế hệ thứ hai), các xe tăng Mỹ và Anh trong các trận chiến ban đêm đã gây tổn thất nặng cho xe tăng Iraq. Tổng cộng, theo thông tin của Mỹ, có 8 trường hợp M1 “Abrams” trúng đạn 125mm từ xe tăng Iraq.

Lúc 8 giờ ngày 28 tháng 2, quân đội Iraq ngừng kháng cự. Vào thời điểm đó, một số bộ phận Liên quân đã tiến sâu vào lãnh thổ Iraq 200 kilomet. Theo khẳng định của Bộ chỉ huy quân đội Mỹ, tổng cộng, trong chiến dịch tấn công đã tiêu diệt 2162 xe tăng Iraq mà không mất 1 xe tăng Abrams nào. Toàn bộ các xe tăng bị thương trong chiến đấu đã được sửa chữa và quay trở lại biên chế.

Các xe tăng T-54/55 được sử dụng rộng rãi ở các nước châu Á. Từ giữa những năm 1960, các xe tăng T-54/55. Từ giữa những năm 1960, các xe tăng T-54/55 do Liên Xô và Trung Quốc sản xuất đã xuất hiện với số lượng lớn ở Ấn Độ (T-55) và Pakistan (“59” – Type/T-59). Trong chiến tranh Ấn Độ - Pakistan lần thứ nhất năm 1965, trong biên chế quân đội Pakistan chủ yếu là các xe tăng M-47 và M-48 do Mỹ sản xuất. Tuy nhiên, việc sư đoàn tăng thiết giáp số 1 của Pakistan bị đánh tan rã ở Assal Uttar với tổn thát 100 M-48 – nơi diễn ra trận đánh được gọi là “Patton Neger” (Паттон Нэгер) – nghĩa địa của M-48 Patton, niềm tin của Pakistan vào các xe tăng Mỹ bị đổ vỡ mạnh. Ấn Độ, trong chiến tranh năm 1965 đã sử dụng chủ yếu các xe tăng Anh Centurion. Theo thông tin Ấn Độ, trong thời gian xung đột đã tiêu diệt 462 xe tăng Pakistan (chủ yếu là M-48), tổn thất của Ấn Độ là 160-200 xe tăng (theo phía Pakistan là 500).

Sau năm 1965, Pakistan đã bắt đầu hợp tác quân sự với Trung Quốc để bù đắp kịp thời những tổn thất về khí tài quân sự, bao gồm vài trăm xe tăng T-59. Theo nguồn tin phương tây, đến năm 1971, quân đội Pakistan có không dưới 700 T-59. Cuối những năm 1960, các xe tăng T-59 của Pakistan đã đươc nâng cấp để đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu của Pakistan. Đằng sau xe lắp thùng lớn để mang theo quân nhu cũng như lắm súng bắn lựu đạn khói của Anh ở hai bên tháp pháo. Phía Ấn Độ đã nhận được từ Liên Xô 500 T-54A và T-55 (theo nguồn khác là 450).

Xe tăng T-59 của Trung Quốc và T-55 Liên Xô đã đối đầu trong chiến tranh Ấn Độ - Pakistan lần thứ 2 năm 1971. Nhìn bên ngoài, các xe tăng này rất giống nhau và các bên phải sử dụng các biện pháp khác nhau để phân biệt bạn – thù. Ngoài ra, nếu Pakistan đã giải quyết được vấn đề truyền thống – sơn lên các T-59 của họ dấu hiệu nhận dạng nhanh – dải màu trắng dọc (rộng 25 centimet) quanh tháp pháo, bị đứt gãy ở hai bên phải và trái cho số hiệu và vạch trắng ở bộ phận hút khói đầu nòng pháo thì phía Ấn Độ gần như giữ nguyên.

Xe tăng "59" - Type-59 - T-59 của Pakistan (dấu hiệu nhận biết - dải vạch trắng trên thân tháp pháo và ở bộ phận hút khói

Phía Ấn Độ đã lắp bộ phận hút khói giả (ложные эжекторы) có kích thước lớn (ở 2/3 chiều dài tính từ đầu nòng pháo). Nhờ đó, pháo D-10 trở nên giống pháo L7 của Anh được lắp trên các xe tăng “Centurion” và “Vijayanta” – có số lượng lớn trong quân đội Ấn Độ.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Năm, 2013, 12:27:12 am gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #381 vào lúc: 25 Tháng Năm, 2013, 12:12:49 am »

* Xe tăng “Vijyanta”


Năm 1961, giữa công ty Anh “Vikkers” và chính phủ Ấn Độ đã ký thỏa thuận về chế tạo xe tăng chủ lực cho quân đội Ấn Độ. Người Anh đã xây dựng ở Ân Độ xưởng sản xuất xe tăng. Xe tăng này, nhận tên gọi của Anh là “Vikkers” Mk1 và năm 1965 được tiếp nhận vào biên chế quân đội Ấn Độ dưới tên gọi “Vijyanta”. Trong cùng năm, đã bắt đầu sản xuất hàng loạt loại xe tăng này tại xưởng ở thành phố Madras. Trong khi chế tạo xe tăng, đã sử dụng rộng rãi các chi tiết và tổ hợp của các xe tăng Centurion và Chieftain.

Xe tăng trang bị pháo chính nòng xoắn (khương tuyến) 105mm, súng máy bắn chỉnh hướng 12,7mm (пристрелочный пулемет), súng máy đồng trục 7,62mm và súng máy phòng không 7,62mm. Pháo có hệ thống cân bằng dọc – ngang. Trong cơ số đạn tăng gồm có đạn xuyên giáp dưới cỡ, đạn nổ - xuyên giáp và đạn khói. Trong hệ thống điều khiển hỏa lực gồm có máy do xa laze và máy tính đường đạn. Trong những năm 80, “Vijyanta” được nâng cấp. Khi nâng cấp, đã tháo súng máy chỉnh hướng 12,7mm, lắp hệ thống điều khiển hỏa lực hiện đại hơn, bổ sung cho cơ số đạn pháo bằng loại đạn xuyên giáp dưới cỡ mới, tăng cường giáp bảo vệ. Đến cuối những năm 80, đã sản xuất được 2200 xe tăng “Vijyanta”.

Các thông số kỹ thuật

Chiều dài –

Chiều rộng –

Chiều cao: 2438mm

Khối lượng: 40 tấn

Động cơ: diesel, 6 xi lanh

Công suất: 535 sức ngựa

Tốc độ tối đa: 48km/h

Tầm hoạt động: 480km

Giáp: chống đạn (противоснарядная)

Vũ khí: pháo chính 105mm; 1 súng máy 12,7mm; 2 súng máy 7,62mm

Cơ số đạn: 44 phát bắn cho pháo chính, 5000 đạn 7,62mm, 300 đạn 12,7mm

Kíp xe: 4 người

Nhà sản xuất: Vikkers (Anh)

Năm tiếp nhận vào trang bị: 1965
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #382 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2013, 01:08:16 am »

Các xe tăng T-54 đầu tiên đến Bắc Việt (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) năm 1964. Chúng gia nhập trung đoàn tăng thiết giáp 202 (đơn vị xe tăng đầu tiên và là duy nhất trong quân đội Bắc Việt lúc đó). Trong đơn vị này trước đó đã có xe tăng T-34-85 và PT-76. Theo các thông tin phương Tây, tới năm 1969, lực lượng tăng thiết giáp của VNDCCH có 60 T-54, 50 T-34-85 và 300 PT-76 (con số 300 này là quá nhiều so với thực tế. Có thể họ tính cả số viện trợ cho Lào qua đường VN nữa chăng?).

Các xe tăng T-54 của Việt Nam tham chiến lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1971. Trong thời gian này, quân đội Sài Gòn đã mở chiến dịch “Lam Sơn 719” trên lãnh thổ Lào với mục đích phá hoại “đường mòn Hồ Chí Minh” – hệ thống giao thông mà theo đó cung cấp vũ khí, lương thực… cho quân du kích miền Nam. Mùng 8 tháng 2, lữ đoàn thiết giáp số 1 VNCH (trong biên chế có trung đoàn 11 và 17 thiết giáp trang bị M41A3) đã bắt đầu tấn công các thành phố Bản Đông và khu vực Sê pôn của Lào với mục đích cắt đường chiến lược số 9. Trung đoàn xe tăng 202 và 2 tiểu đoàn xe tăng độc lập trang bị T-54 đã được tăng cường cho binh đoàn 70, quân đội Bắc Việt. Mùng 10 tháng 2, quân đội Nam Việt Nam đã chiến được Bản Đông, còn các trận đánh chủ yếu với sự tham gia của T-54 được triển khai ở phía Bắc. Theo tài liệu phương Tây, phía Bắc Việt tổn thất 9 T-54 (6-19 tháng 2 và 3-27 tháng 2). (Chỉ có 3 tiểu đoàn XT tham gia CZ này thôi: d198 đã nằm sẵn ở đó từ 1967, trang bị PT76, có 2 đại đội. d297/203: trang bị T54, T59. 397/202: trang bị T34. Về tổn thất cơ bản đúng)

Cuối năm 1971, Liên Xô và Trung Quốc đã viện trợ vũ khí bổ sung cho VNDCCH gồm có các xe tăng T-54 và T-59. Nhờ đó, vào tháng 11 năm 1971, Bắc Việt đã thành lập 2 trung đoàn tăng thiết giáp mới 201 và 203, cũng như tổ chức lại trung đoàn 202 (Sai: eT203 được thành lập từ 22.6.1965). Đối với trung đoàn xe tăng, thường được biên chế 3 tiểu đoàn – 1 tiểu đoàn T-54, 1 PT-76 và 1 tiểu đoàn trang bị xe bọc thép chở quân (BTR). Năm 1972, Hà Nội lên kế hoạch mở cuộc tấn công quyết định vào miền Nam bằng các đơn vị chủ lực quân đội VNDCCH. Trong cuộc tấn công này, tiểu đoàn xe tăng 171 trong biên chế trung đoàn 203 đã được đưa theo “đường mòn Hồ Chí Minh” từ Bắc Việt tới khu vực phía đông Tây Ninh, cách biên giới Campuchia không xa. 38 xe tăng T-54B được ngụy trang đã hành quân hơn 900 kilomet trong 2 tháng (đi B dài đầu tiên là d297 vào B3, tiếp đó 171 mới đi B2). Đợt tấn công đầu tiên trong năm 1972 của quân đội Bắc Việt trong ngày 30 tháng 3 vào các trận địa của quân đội VNCH bố trí dọc khu phi quân sự trên vĩ tuyến 38 bằng lực lượng của 5 sư đoàn bộ binh với sự yểm trợ của 2 trung đoàn xe tăng 201 và 202 (sai: 203 và 202). Sư đoàn bộ binh 3 VNCH đã bị đánh tan và hầu hết vũ khí hạng nặng bị vứt lại gần thành phố Quảng Trị. Để ngăn chặn cuộc tấn công vào Quảng Trị, quân Nam Việt Nam đã đưa tới đó trung đoàn xe tăng 20 được trang bị các xe tăng M-48. Mùng 2 tháng 4, từ hướng tây Đông Hà, đại đội M-48 đã bắn chặn các xe tăng Bắc Việt từ xa và bắn cháy 2 T-54 và 9 PT-76 (số xe tăng bơi K63-85 và BTR50PK bị máy bay bắn cháy chứ không phải M48). Còn mùng 9 tháng 4, khi đánh trả cuộc tấn công đầu tiên, đã bắn cháy thêm 16 T-54 (theo khẳng định, không tổn thất bất kỳ M-48 nào) (Hơi phóng đại. Song hôm đó ta cũng mất gần chục cái thật- cả do máy bay đánh). Ngày 23 tháng 4, quân đội Bắc Việt lần đầu tiên sử dụng tên lửa chống tăng điều khiển “Malyutka”, 3 M-48 bị bắn cháy, một số xe tăng khác bị thương.

Sau thời gian tạm lắng, ngày 27 tháng 4, các cuộc tấn công đã bắt đầu trở lại. Các xe tăng T-54 đã chọc thủng tuyến phòng ngự và đe dọa bao vây lực lượng phòng thủ từ phía bắc Quảng Trị. Cuộc rút lui theo kế hoạch lúc đầu, sau một thời gian đã trở thành tháo chạy và trung đoàn thiết giáp 20 mất toàn bộ các xe tăng M-48. Mùng 2 tháng 5, Quảng Trị được giải phóng. Trận chiến kéo dài hàng tháng trợi đã kết thúc: quân đội Bắc Việt không đủ sức tiếp tục tấn công. Ban tham mưu trung đoàn xe tăng 20 tuyên bố trong quá trình tham chiến đã tiêu diệt hơn 90 xe tăng T-54 và PT-76 (phía VNCH – 100% số xe tăng M48 trong biên chế, tính cả tổn thất không phải trong chiến đấu). (Lấy đâu ra 90 cái. Chỉ khoảng 1/3 thôi. Chủng loại thì: T54, T59, K63-85, BTR50PK, K63)

Đợt tấn công thứ hai của quân đội Bắc Việt vào khu vực cao nguyên. Ngày 13 tháng 5, hai trung đoàn (bộ binh) không có pháo bắn chuẩn bị, với sự yểm trợ của các xe tăng đã tấn công thành phố Kontum từ đường 14, thêm hai cuộc tấn công bằng xe tăng được tiến hành ở phía nam và bắc. Tới ngày 27 tháng 5, quân đội Bắc Việt mới chỉ chiếm được phía bắc thị xã Kontum, nhưng đến ngày 31 tháng 5 đã bị đẩy ra khỏi thành phố. Đến giữa tháng 6, cuộc vây hãm Kon Tum kết thúc, quân đội Bắc Việt mất khoảng 80 xe tăng. (Tại B3, T54- 59 tham gia đánh trận đầu tiên là Đắc Tô- Tân Cảnh giành thắng lợi giòn giã. Sau đó mới đánh KT và thảm bại. Tuy nhiên, số liệu quá phóng đại. Vì cả B3 lúc này chỉ có mỗi d297 với tổng số khoảng 30 đầu xe. Thực tế mất khoảng 15 xe thôi).

Nguồn tiếng Nga (btvt.narod.ru)

Первые танки Т-54 прибыли в Северный Вьетнам (ДРВ) в 1964 году. Они поступили на вооружение 202-го бронетанкового полка (первой и единственного на то время вьетнамской танковой части). В нем уже имелись танки Т-34/85 и ПТ-76. По западным данным к 1969 году бронетанковые войска ДРВ имели 60 Т-54, 50 Т-34/85 и 300 ПТ-76.

Впервые северовьетнамские Т-54 вступили в бой в феврале 1971 года. В это время Сайгонские войска проводили операцию «Лам-Сон 719» на территории Лаоса, с целью нарушить работу «Тропы Хо Ши Мина» – системы коммуникаций по которой снабжались южновьетнамские партизаны. 8 февраля 1-я бронетанковая бригада армии Южного Вьетнама (в ее состав входили 11-й и 17-й бронетанковые полки вооруженные М41АЗ) начала наступление на лаосские города Алоу и Тхе-пон, с целью перерезать стратегическую дорогу №9. В завязавшихся боях приняли участие 202-й бронетанковый полк и два отдельных танковых батальона укомплектованные Т-54, приданные для усиления 70 армейскому корпусу ДРВ. 10 февраля южновьетнамские войска захватили Алоу, а основные бои с применением Т-54 развернулись севернее. В них по западным данным было потеряно до 9 танков Т-54 (6 -19 февраля и 3 – 27 февраля).

К концу 1971 года СССР и Китай поставили в ДРВ дополнительное вооружение, включая танки Т-54 и «59». Благодаря этим поставкам в ноябре 1971 года были образованы новые танковые полки 201-й и 203-й, а так же реорганизован старый 202-й полк. Обычным для танкового полка стал трехбатальонный состав – один батальон Т-54, один ПТ-76 и один оснащенный бронетранспортерами. В 1972 году Ханой запланировал провести решительное наступление на Юг силами регулярных подразделений армии ДРВ. В рамках его подготовки 171-й танковый батальон из 203-го бронетанкогого полка был переброшен по «Тропе Хо Ши Мина» из Северного Вьетнама в район восточ-нее Той Няня, недалеко от Камбоджийской границы. 38 сильно закамуфлированных танка Т-54Б прошли своим ходом более 900 километров за два месяца. Первый удар в 1972 году армия ДРВ нанесла 30 марта по позициям южновьетнамских войск расположенных вдоль демилитаризованной зоны в районе 38 параллели, силами 5 пехотных дивизий при поддержке 201-го и 202-го бронетанковых полков. 3-я пехотная дивизия Южного Вьетнама была смята и потеряв почти все тяжелое вооружение, отброшена к городу Куанг-Чи. Что бы задержать наступление к Куанг-Чи был спешно переброшен 20-й танковый полк армии Южного Вьетнама, на вооружении которого находились американские М48. 2 апреля к западу от Донг-Ха рота М48 обстреляв наступающие северовьетнамские танки с дальней дистанции подбила два Т-54 и девять ПТ-76, а 9 апреля отражая очередное наступление еще 16 Т-54 (не потеряв, как утверждается, ни одного М48). 23 апреля северо-вьетнамцы впервые применили ПТУР «Малютка» – три М48 были уничтожены и несколько машин повреждено.

После некоторого затишья, 27 апреля наступление возобновилось. Т-54 прорвали линию укреплений и над обороняющимися частями нависла угроза окружения к северу от Куанг-Чи. Начавшееся планомерное отступление через некоторое время превратилось в бегство, при котором 20 танковый полк потерял все свои М48. 2 мая Куанг-Чи пал. Длившееся месяц сражение закончилось: для продолжения наступления у северовьетнамцев сил уже не было. Штаб 20-го танкового полка заявил об уничтожении в ходе этих боев более 90 танков Т-54 и ПТ-76 (все собственные потери – 100% имевшихся до начала сражения М48, отнесли на счет небоевых повреждений).

 Второй удар армия ДРВ нанесла на центральной возвышенности. 13 мая без артиллерийской подготовки два полка при поддержке танков атаковала город Контум со стороны дороги №14, еще две танковые атаки были проведены южнее и севернее. Только к 27 мая была захвачена северная часть Контума, но уже 31 мая северовьетнамские войска были вытеснены из города. К середине июня, когда осада Контума была прекращена, войска ДРВ потеряли около 80 танков.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Sáu, 2013, 01:19:37 am gửi bởi daibangden » Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #383 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2013, 01:13:22 am »

Đợt tấn công thứ ba vào An Lộc, gần Sài Gòn. Tham chiến có tiểu đoàn xe tăng 171 (T-54B) và các tiểu đoàn độc lập 20 và 21 (T-54). An Lộc bị bao vây, đường 13 dẫn về Sài Gòn bị tiểu đoàn xe tăng 20 cắt khi bất ngờ vượt sông Sài Gòn bằng cầu phao. Ngày 13 tháng 4, các tiểu đoàn xe tăng 20 và 21 yểm trợ sư đoàn 9 bộ binh bắt đầu tấn công An Lộc. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa xe tăng, bộ binh và pháo binh yếu, trong khi quân đội Sài Gòn sử dụng tên lửa chống tăng TOW. Kết quả là sau khi vào được tuyến phố chính trong thành phố, đoàn 6 xe tăng T-54B đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Các cuộc tấn công khác bị đánh chặn theo đường không và tổ thất một trung đội xe tăng. (Tại B2, T54-59 tham gia trận đầu tiên là Lộc Ninh và giành thắng lợi giòn giã. Sau đó đánh An Lộc không thành công. Lực lượng tham gia chỉ có 2 d: 20 và 21. d171 vào đến đó đổi thành d20)

Ngày 15 tháng 4, tiểu đoàn 171 đã tham gia cuộc tấn công thứ hai vào An Lộc và tổn thất thêm 12 T-54. Mùng 9 tháng 5, quân đội Bắc Việt cố gắng chiếm An Lộc khi bắt đầu cuộc tấn công với 40 xe tăng yểm trợ. Tới ngày 12 tháng 5, các xe tăng T-54 đã tới được phía bắc và đông thành phố. Tuy nhiên, quân đội Bắc Việt không thể giành thắng lợi quyết định. Sau khi tổ thất gần hết 40 xe tăng còn lại, quân đội Bắc Việt đã rút lui khỏi thành phố. (Tổng thiệt hại tại An Lộc là 29 xe, cả T lẫn TG)

Trong các cuộc tấn công năm 1972, quân đội Bắc Việt đã tổn thất khoảng 400 xe tăng (quá phóng đại). Để khắc phục tổn thất, năm 1973, Liên Xô đã viện trợ cho Bắc Việt các loại xe tăng T-55 (không có đâu), T-54, T-34-85 và PT-76. Trung Quốc cũng viện trợ các loại xe tăng T-59 và K-63. Tổng cộng khoảng 600 xe tăng. Nhờ đó, quân đội Bắc Việt có thể tổ chức 9 trung đoàn tăng thiết giáp: 201, 203, 204, 206, 207, 215, 273, 408 và 574 (Chưa CX. Lúc này LLTTG gồm có: 201, 202, 203, 206, 215, 273/B3, 574/B1 và M26 thuộc B2). Năm 1974, đã bắt đầu thành lập các lữ đoàn xe tăng gồm 5 tiểu đoàn. Đầu tiên là lữ đoàn tăng thiết giáp 203.

Năm 1975, quân đội Bắc Việt tấn công vào thành phố Huế và Đà Nẵng với sự tham gia của các trung đoàn tăng thiết giáp 273 (203) và 574 (mỗi trung đoàn có 1-2 tiểu đoàn T-54). Sau khi  Đà Nẵng thất thủ - 30 tháng 3, đã có quyết định chiếm Sài Gòn trước mùa mưa. Lực lượng tăng thiết giáp Bắc Việt bắt đầu các cuộc tấn công quyết liệt vào miền nam dọc theo duyên hải, mỗi ngày tiến được 50 kilomet. Giữa tháng 4, lữ đoàn tăng thiết giáp 202 đã được triển khai gần Sài Gòn, các đơn vị xe tăng độc lập tiếp cận Sài Gòn từ hướng đông và đông nam. Cuối tháng 4, số lượng xe tăng Bắc Việt quanh Sài Gòn là 400 chiếc. Cuộc tấn công vào Sài Gòn kết thúc ngày 30 tháng 4 khi xe tăng T-54 số hiệu 843 (và xe T59 số 390) thuộc lữ đoàn tăng thiết giáp 203 húc đổ cổng dinh Tổng thống (танк Т-54 номер 843 из 203-й бронетанковой бригады прорвался к Президентскому дворцу – thực tế là xe tăng T-59, số hiệu 390) (Hiện giờ người ta xác định cả 2 xe 843 và 390 đều húc đổ cổng).

Năm 1979, các xe tăng T-54 của Việt Nam đã tham gia đánh trả cuộc tấn công của Trung Quốc vào các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Trong cuộc xung đột này, chúng đã đối đầu với các xe tăng T-59 – bản sao chép từ T-54 – đã được trang bị các máy đo xa laze, tăng cường đáng kể độ chính xác của pháo chính (XT T54 và T59 chưa tham chiến ở BGPB).

Nguồn tiếng Nga:

Третий удар наносился на южном участке в направлении провинциальной столицы ан Лок, вблизи Сайгона. В нем принимал участие уже развернувшийся 171-й танковый батальон (Т-54Б), а так же 20-й и 21-й отдельные танковые батальоны (Т-54). Ан Лок был окружен, а дорога №13 ведущая к Сайгону перерезана 20-м танковым батальоном, который неожиданно форсировал реку Сайгон по наведенному понтонному мосту. 13 апреля 20 и 21 -и танковые батальоны поддержали 9-ю пехотную дивизию, предпринявшую штурм ан Лока. Однако координация между танками, пехотой и артиллерией была слабой, а южновьетнамская пехота применила противотанковые ракеты TOW. В результате вошедшая в город колона из 6 Т-54Б, которая достигла главной улицы, была полностью уничтожена. Другие атакующие попали под авиационный удар потеряв до взвода танков.

15 апреля 171-й танковый батальон участвовал во втором штурме ан Лока, в ходе которого было потеряно еще 12 Т-54. 9 мая северо-вьетнамцы предприняли очередную попытку взять Ан-Лок, начав атаку поддержанную 40 танками. К 12 мая Т-54 достигли северной и восточной части города, однако добиться решительной победы не смогли. После потери почти всех остававшихся 40 танков войска ДРВ отошли от города.

За время наступлений 1972 года войска ДРВ потеряли около 400 танков. Для восполнения потерь в 1973 году СССР поставил в Северный Вьетнам очередную партию танков: Т-55, Т-54, Т-34/85, и ПТ-76, Из Китая были получены танки «Тип 59» и «Тип 63». Всего около 600 танков. Благодаря этим поставкам Северный Вьетнам смог укомплектовать 9 бронетанковых полков: 201,203, 204, 206, 207, 215, 273, 408 и 574-й. В 1974 году было начато формирование бронетанковых бригад, пятибатальонного состава. Первой из них стала 203-я бронетанковая бригада.

Боевые действия в 1975 году начались с наступления северовьетнамских войск на города Гуе и Да-Нанг, в котором участвовали 273-й и 574-й бронетанковые полки (имевшие по одному батальону укомплектованному Т-54). После падения Да-Нанга – 30 марта, было принято решение взять Сайгон до наступления сезона дождей. Бронетанковые силы ДРВ начали стремительное наступление на юг вдоль приморского шоссе, проходя до 50км в день. В середине апреля 202-я бронетанковая бригада уже развернулась около Сайгона, с востока и юго-востока подходили отдельные танковые части. В конце апреля количество северовьетнамских танков вокруг Сайгона достигло 400 единиц. Штурм столицы завершился 30 апреля, когда танк Т-54 номер 843 из 203-й бронетанковой бригады прорвался к Президентскому дворцу.

В 1979 году северовьетнамские Т-54 участвовали в отражении наступления китайских войск на северные провинции ДРВ. В этом конфликте они противостояли своей китайской копии – танку «59», которые правда были уже оснащены лазерными дальномерами, что существенно повышало точность стрельбы из пушки.


------------------------------------------------------------------
* các đoạn màu đỏ trong dấu (....) là bác lixeta chỉnh lại những chỗ sai trong bài dịch. Cám ơn bác lixeta Grin
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #384 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2013, 01:41:32 am »

Lịch sử chế tạo

Dòng xe tăng tiền nhiệm ngay trước T-54 là T-44 được chế tạo trong những năm 1943-1944. Trong các giai đoạn khác nhau, quá trình chế tạo, T-54 gắn liền với T-44 vì việc chế tạo hai dòng xe tăng này được thực hiện theo xu hướng phát triển tăng thiết giáp chung của Liên Xô trong thời kỳ này. Trong những giai đoạn đầu tiên, điển hình trên mô hình kim loại của T-54, có thể nhận thấy được là mức độ nâng cấp đáng kể từ T-44.

T-44 được chế tạo ở Phòng thiết kế Hạ Tagil, xưởng số 183 dựa trên thời gian làm việc theo chương trình nâng cấp T-34 mà kết quả của chương trình này là việc chế tạo các xe tăng T-34M và T-43 để thay thế T-34 nhưng không được sản xuất hàng loạt do điều kiện thời chiến. Xe tăng mới T-44 là độc nhất về bố cục trong thời gian này. Do kết quả thiết kế lại buồng động cơ và lắp ngang động cơ cùng bộ truyền động, đã giảm đáng kể chiều dài và chiều cao của nó, cũng như bố trí tháp pháo được bố trí giữa thân xe, giảm tải các bánh chịu nặng trước. Cùng với việc bỏ xạ thủ - liên lạc viên (стрелка-радист), cho phép giảm đáng kể thể tích bọc thép và theo đó, giảm khối lượng so với T-34-85, tăng cường đáng kể giáp xe.

Theo các yêu cầu được Viện nghiên cứu khoa học trung ương số 48 đề ra (thành lập) từ năm 1943 đối với xe tăng hạng trung thế hệ mới, phải có khả năng chống lại đạn từ 75 đến 85mm

+ bộ phận trên thân xe và trước tháp pháo phải hoàn toàn không bị tổn thương

+ nửa trước thành xe phải hoàn toàn không bị tổ thường trong giới hạn các góc nghiêng cụ thể

+ thành tháp pháo phải hoàn toàn không bị tổn thương trong phạm vi các góc nghiêng cao hơn khoảng 2 lần so với phạm vi của thành xe

+ phạm vi các góc nghiêng không bị tổn thương của chắn bùn có thể là trung bình giữa phạm vi đối với tháp pháo và thành xe.

Các yêu cầu này, mặc dù không đầy đủ, đã được thực hiện trên T-44. Biến thể đầu tiên có giáp đầu 75mm; thành dưới 45mm và thành trên 75mm. Trong biến thể sản xuất hàng loạt đầu tiên, giáp đầu được tăng lên 90mm, còn thành xe – 75mm theo toàn bộ chiều cao.

Tuy nhiên, trong khi giáp tăng là ưu điểm thì vũ khí của T-44 lại tương tự như T-34-85: pháo ZIS-S-53 với chiều dài nòng gấp 56 lần cỡ nòng và được cho là không có hiệu quả đối với xe tăng hạng trung từ năm 1944. Có hai hướng tăng cường hỏa lực. Đầu tiên là chế tạo pháo với sự tăng cường sơ tốc đầu nòng của đạn theo cách tăng chiều dài nòng và khối lượng thuốc phóng. Tuy nhiên, kinh nghiệm với pháo 85mm loại này, “uy lực lớn” theo thuật ngữ khi đó, diễn ra vào năm 1944, đã chỉ ra vấn đề không chắc chắn sản xuất được chúng với cơ sở công nghệ đang có. Ngoài ra, phân tích các kết quả thí nghiệm bắn cho thấy rằng đạn nhẹ cao tốc ít hiệu quả khi bắn vào giáp có độ nghiêng lớn so với các loại đạn tốc tộ thấp, nhưng nặng như trên pháo 100 và 122mm. Kết quả là đã chọn hướng phát triển thứ hai – tăng cường uy lực pháo bằng cách tăng cỡ nòng.

Từ giữa năm 1944 đã nghiên cứu vũ khí chính cho xe tăng hạng trung thế hệ mới là pháo 100mm dài gấp 56 lần cỡ nòng và pháo và theo đường đạn pháo hải quân B-34 mà trong cùng thời gian này đã lắp được trên pháo tự hành Su-100. Cơ sở bổ sung cho việc ủng hộ sử dụng loại pháo này là công suất đáng kể của đạn nổ - phá. Đối thủ chính của xe tăng, trước hết là bộ binh. Việc tiêu diệt xe tăng địch cũng được xem là nhiệm vụ quan trong, nhưng mà mục đích thứ hai (mục đích phụ, thứ cấp).

Các nỗ lực trang bị pháo mới cho T-44 đã được thực hiện. Năm 1945, đã chế tạo hai mẫu thí nghiệm T-44-100 với pháo 100mm LB-1 trên tháp pháo cũ. Tuy nhiên, các thí nghiệm đã chỉ ra độ tin cậy và khả năng cơ động không cao, dẫn tới việc dừng các công việc tiếp sau theo hướng này. Cùng với đó, để lắp pháo 100mm, trong Phòng thiết kế xưởng 183, từ mùa hè năm 1944, theo sáng kiến, đã bắt đầu thiết kế biến thể T-44 mới và lúc đầu có tên gọi T-44B. Ngày 20 tháng 8, dự án được đề trình cho Dân ủy công nghiệp xe tăng V.A.Malưshev. Trong tháng 9-11, dự án này đã nhận được tên gọi cuối cùng – T-54 và đã được phê chuẩn bởi Dân ủy công nghiệp xe tăng. Theo nhiệm vụ cấp Nhà nước, vào mùng 1 tháng 12 năm 1944, Phòng thiết kế phải chế tạo mẫu thí nghiệm và đến 15 tháng 1 năm 1954 sẽ hoàn thành các thí nghiệm của nó. Vào 20 tháng 5 năm 1945 phải gửi các bản vẽ hoạt động của xe tăng cho các xưởng chế tạo, nhưng các thời hạn này đã không được thực hiện đúng.

Điểm quan trọng xuất hiện trong quá trình chế tạo xe tăng mới, liên quan tới khả năng cơ động, đòi hỏi yêu cầu cao là thiết bị động lực (động cơ). Bất chấp mọi nỗ lực của các công trình sư, động cơ V-2 công suất 520 sức ngựa được nâng cấp là động cơ duy nhất dành cho xe tăng. Việc chế tạo động cơ xe tăng có sông suất hơn 700 sức ngựa trong điều kiện trình độ công nghệ khí đó, theo các chuyên gia là ít có khả năng thực hiện được. Kết quả là cần phải tính toán thật chặt chẽ về khối lượng xe để không giảm khả năng cơ động đã đề xuất phương án với động cơ hàng không, bảo đảm công suất cần thiết nhưng có hàng loạt các nhược điểm khác và thực tế, không được xem xét.

Tình trạng này không cho phép phát triển tiếp việc tăng cường giáp do tăng khối lượng xe tăng. Theo hướng phát triển giáp bảo vệ trong khi không tăng tổng khối lượng xe tăng là không thể. Bởi vì việc này dẫn đến việc giảm các thông số kỹ thuật khác cũng như ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu. Việc tăng cường giáp theo hướng tăng chất lượng thép, về nguyên tắc, là có thể. Nhưng ở thời điểm này thì không hợp lý. Trên T-44, việc tăng đáng kể giáp bảo vệ có thực hiện được theo hướng giảm thể tích bọc thép. Tuy nhiên, thực tế là không có khả năng phát triển tiếp trong việc giảm thể tích. Giải pháp duy nhất đối với các công trình sư là thay đổi hình dáng tháp pháo.


Nguyên mẫu T-54 đầu tiên, theo “Các tài liệu về sản xuất và thử các mẫu xe tăng thí nghiệm T-54” năm 1946, đã hoàn thành tháng 1 năm 1945 và được đưa vào thí nghiệm ở Kubinka. Tuy nhiên, trong tài liệu khác nói rằng đây là nguyên mẫu thứ hai. Mẫu đầu tiên đã hoàn thành vào cuối năm 1944 và được thí nghiệm trực tiếp trong xưởng. Mẫu đầu tiên của xe tăng, được gọi là “T-54 mẫu năm 1945”, rất giống với T-44. Điểm khác biệt đáng chú ý nhất ở ngoài là pháo 100mm mới, lớn hơn. Giáp đầu tăng từ 120 lên 180mm, giáp hông từ 90 lên 90-150mm. Hình dáng tháp pháo theo đó chịu sự thay đổi đáng kể và thành tháp pháo nghiêng không quá 20 độ. Giáp đầu tăng lên 120mm nhưng giáp hông chỉ dày thêm 5mm. Phần sau thân hầu như mượn lại từ T-44, không đổi. Đầu xe đã bỏ khe khí tàu quan sát của lái xe để trở thành nguyên khối. Do khối lượng không tăng so với T-44, đã kéo dài hệ thống treo và tăng diện tích bản xích cũng như chiều rộng các bánh chịu nặng. Động cơ diesel và bộ truyền động thực tế lấy từ T-44, chỉ tăng cường hệ thống làm mát động cơ.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #385 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2013, 12:17:41 am »

Chủ nhiệm ủy ban cấp Nhà nước, đại tá E.A.Kylchisky sau đó đã ghi lại ấn tượng đầu tiên khi nhìn thấy xe tăng mới:

+ xe tăng gây được ấn tượng. Hình dáng ngoài của nó có các góc nghiêng cần thiết đối với các loại đạn tương lai của địch, đã mang lại cho nó hình dạng thích hợp. Hình dáng thân hiện đại hơn, cộng với tháp pháo có pháo mới dựa trên 10 bánh chịu nặng lớn trên băng xích với mắt xích nhỏ. Đây là, trong sự quan sát đầu tiên, đơn giản là sự hài hòa về hình dáng đối với các chuyên gia về một số tham số kỹ thuật cao của xe tăng. Còn rõ ràng: hình thuôn của thân và tháp pháo – tăng độ vững chắc cho giáp và giảm khả năng nó bị bắn cháy, chiều dài nòng - làm cho sơ tốc đầu nòng của đạn cao, là đặc điểm nổi bật nhất của pháo tăng, 10 bánh chịu nặng lớn với hình cắt ngoài tạo khả năng di chuyển trên tốc độ cao cùng với băng xích mắt xích nhỏ cùng các đặc điểm khác.

Trong tính toán về các thí nghiệm được ủy ban đề ra, có nói về các thông số kỹ chiến thuật cao của T-54. Với khối lượng 35,5 tấn – chỉ hơn 3,7 tấn so với T-44, xe tăng có giáp và pháo mạnh đáng kể. Trong khi đó, chiều cao xe tăng thậm chí còn thấp hơn so với T-44 – 2257mm so với 2400mm. Tốc độ tối đa của xe tăng, sự thật, chỉ có 45km/h so với 51km/h trên T-44 nhưng tốc độ trung bình vẫn bằng nhau, còn tầm hoạt động xa hơn. Các thí nghiệm đã xuất hiện nhiều nhược điểm của xe tăng mới. Mặc dù vậy, trong báo cáo các thí nghiệm vẫn ghi lại:

1. Xe tăng T-54, được giới thiệu là sự nâng cấp của T-44, theo các chất lượng chiến đấu chính (sức mạnh vũ khí và giáp) vượt trội (chiếm ưu thế) so với toàn bộ các xe tăng hạng trung hiện nay.

2. Các thí nghiệm trên bãi tập với quãng đường di chuyển 1553 kilomet về độ vững chắc của các máy móc chính, mẫu thí nghiệm của xe tăng T-54 đã đạt được. Tuy nhiên, trong các thí nghiệm, đã đặt ra việc cần thiết việc hoàn thiện hàng loạt các chi tiết và tổ hợp.

3. Các điểm yếu chính của xe tăng T-54 là tháp pháo không đạt được độ vững chắc và thiết kế bộ truyền động cũ, không đảm bảo đối với xe tăng hiện đại. Tháp pháo có thể bị bắn thủng ở cự ly xa, còn bộ truyền động và bộ chuyển động làm giảm chất lượng cơ động của xe tăng.

4. Khi tính toán tăng cường mạnh chất lượng chiến đấu của xe tăng hạng trung T-54, ủy ban đã tính toán giới thiệu T-54 vào trang bị Hồng quân với việc khắc phục những nhược điểm được ghi trong báo cáo.

5. Cùng với xử lý hàng loạt các chi tiết mới có thể làm chậm việc đưa vào sản xuất hàng loạt xe tăng T-54, ủy ban tính toán khả năng bắt đầu sản xuất T-54 mà không cần đợi việc sản xuất các chi tiết và máy móc mới, đang được giao cho xưởng số 183 xử lý gấp theo quyết định của Dân ủy Công nghiệp nặng (NKTP) và Tổng cục tăng thiết giáp Hồng quân:

a) tháp pháo theo hình dáng IS-3;

b) bộ truyền động với bộ đồng bộ và cơ chế quay xe tăng hành tinh 2 bậc/cấp;

c) diềm chống đạn kiểu “Faust”

d) thay đổi các góc nghiêng sau thân xe

e) bệ quay buồng chiến đấu

g) các khí tài quan sát theo kiểu M4A2 trong tháp nhỏ của trưởng xe

h) các băng xích với khớp chốt

i) các bộ giảm sóc của bộ phận chuyển động (trên toàn bộ các bánh chịu nặng).

T-54 mẫu năm 1949

Ngoài ra, ủy ban đã đề xuất thay đổi bộ dẫn động cơ cấu quay tháp pháo để bảo đảm thuận lợi hơn cho pháo thủ, nghiên cứu lắp súng phòng không, lắp khí tài quan sát chiến trường hiện đại hơn, sử dụng các biện pháp làm giảm khói súng cho buồng chiến đấu khi bắn ở cường độ cao và chế tạo hệ thống chữa cháy tự động cho buồng động cơ. Toàn bộ danh sách các nhận xét có tổng cộng 68 điểm.

Tháng 7 năm 1945, Phòng thiết kế xưởng số 183 đã đóng mẫu thứ thứ 2 (hoặc thứ 3) của xe tăng T-54 được chế tạo với tính toán các ý kiến của ủy ban. Xe tăng có tháp pháo mới, dạng nóc tròn theo kiểu IS-3 nhưng giảm chu vi, đặc biệt là thân sau. Giáp đầu xe dày 200mm, còn thành, giảm từ 160 xuống 125mm, các góc nghiêng của tháp pháo theo chiều dóc (góc nghiêng đứng) – 45 độ. Bộ phận truyền động được thay thế tương ứng với yêu cầu trong thí nghiệm của ủy ban, còn bộ phận chuyển động cuối cùng đã nhận được băng xích có khớp chốt. Thể tích các thùng nhiên liệu tăng từ 530 lên 545 lít. Vũ khí xe tăng bổ sung 2 súng máy 7,62mm SG trong các hốc bọc thép lắp ở bệ trên xích cho lái xe và không có thước ngắm. Đồng thời, súng phòng không 12,7mm DShK lắp trên bệ súng gần cửa ra vào của pháo thủ số 2 trên nóc tháp pháo. Tháng 7 – 11 năm 1945, mẫu này đã trải qua các thí nghiệm trên trường bắn ở Kubinka. Theo các thí nghiệm ở đó, nó một lần nữa được ủy ban Nhà nước đề xuất đưa vào sản xuất hàng loạt, nhưng một lần nữa, sau khi khắc phục các nhược điểm. Sau khi hoàn thiện nguyên mẫu và các thí nghiệm đầu tiên, theo Mệnh lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô số 960-402 từ ngày 29 tháng 4 năm 1946, T-54 được tiếp nhận vào trang bị của Hồng quân.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #386 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2013, 12:25:49 am »

Xe tăng hạng trung T-62


Được chế tạo năm 1959 ở Phòng thiết kế Hạ Tagil dưới sự chỉ đạo của L.N.Kartsev. Xe tăng được chế tạo trên cơ sở khung gầm T-55 và có tên gọi “Công trình 166”. Xe tăng được tiếp nhận vào biên chế theo Mệnh lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô ngày 6 tháng 9 năm 1961 và sản xuất hàng loạt từ năm 1962 đến 1973.

Pháo nòng trơn 115mm U5-TS “Molot” yêu cầu tăng cường thể tích buồng chiến đấu và vì thể đã kéo theo hàng loạt những thay đổi về thiết kế trong tháp pháo, thân xe và hệ thống điều khiển hỏa lực. Mặc dù tăng cỡ nòng, chiều dài nòng vẫn giữ nguyên – 2,8 mét.

Khác với T-54/55, tháp pháo đúc với nóc hàn, tháp pháo mới đúc liền khối. Đường kính bệ tháp pháo tăng từ 1825mm lên 2245mm, còn thân xe được kéo dài thêm 386mm.

Liên quan với việc tăng khối lượng, moment quán tính và moment mất cân bằng của pháo, hệ thống ổn định vũ khí “Tsiklon” được cho là không đảm bảo. Vì thế, đã chế tạo hệ thống cân bằng “Meteor” và thay đổi thiết kế cơ cấu quay tháp pháo. Để giảm thời gian pháo ở trong tư thế không cân bằng, góc tà tăng thêm 6 độ do tháp pháo cao hơn và góc nghiêng trước của bệ tháp pháo.

Cơ số đạn pháo – 40 phát bắn. Đạn xuyên giáp dưỡi cỡ ở cư ly 2000 mét xuyên giáp đứng dày 270mm và 115 theo góc nghiêng 60 độ. Đằng sau tháp pháo lắp cửa mở tự động hất (vứt, đẩy) vỏ đạn sau khi bắn.

Xe tăng có độ dày giáp trước và giáp đầu tháp pháo bằng nhau. Độ dày tối đa giáp trước tháp pháo là 211mm dưới góc nghiêng 17 độ.

Trên xe tăng lắp động cơ V-55V. Bộ truyền động và bộ phận chuyển động cũng chịu những thay đổi riêng trong thiết kế. Cũng trong thời gian này, cấu trúc của xe tăng được sử dụng rộng rãi các vật liệu mới vào thời gian này – chất (nhựa) dẻo và hợp kim nhôm. Súng máy phòng không DShKM được lắp năm 1969.

Trên cơ sở T-62 đã chế tạo xe tăng chỉ huy T-62K và pháo chống tăng IT-1. Xe tăng chỉ huy được chế tạo năm 1962 và gia nhập biên chế năm 1964. T-62K sản xuất hàng loạt tới năm 1973.

T-62K khác ở chỗ lắp khí tài dẫn đường tăng TNA-2, bổ sung đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112 và tổ hợp ắc quy. Tổ hợp này được chế tạo trên cơ sở động cơ bộ chế hòa khí hai kỳ làm mát không khí công suất 2 sức ngựa và máy phát điện một chiều công suất 1kW. Cơ số đạn giảm xuống 36 phát bắn cho pháo chính và 1750 đạn súng máy đồng trục.

Một bộ phận xe tăng T-62 được trang bị các lưới quét mình KMT-4M và KMT-5M.

Xe tăng được xuất khẩu cho Bulgaria, Đông Đức, Hungari, Algieri, Ai Cập, Iraq, Iran, Yemen, Libia, Siri, Afganistan, Triều Tiên, Mông Cổ, Angola, Việt Nam, Etiopia và Cuba.

Xe tăng hạng trung T-62A

Được chế tạo ở Phòng thiết kế Hạ Tagil dưới sự chỉ đạo của L.N.Kartsev và có tên gọi “Công trình 165”. Xe tăng được tiếp nhận vào biên chế theo mệnh lệnh của Bộ quốc phòng Liên Xô mùng 9 tháng 1 năm 1962 dưới tên gọi T-62A nhưng không được sản xuất hàng loạt bởi vì trong thời gian đó chưa sản xuất được đạn xuyên giáp mới cho pháo và hệ thống cân bằng vũ khí.

Xe tăng được chế tạo trên cơ sở T-55 và khác ở pháo rãnh xoắn U8-TS (tên gọi lúc đầu – D-54) với hệ thống cân bằng vũ khí theo hai mặt phẳng “Kometa”. Liên quan với đó, thân xe tăng được kéo dài cùng đường kính bệ tháp pháo.

Năm 1961, trên xe tăng thí nghiệm T-62 đã lắp cơ chế nạp đạn thí nghiệm “Zhelud” với 22 phát bắn được bố trí trên bệ quay nằm ngang trong buồng chiến đấu. Thiết kế này là nguyên mẫu hệ thống nạp đạn tự động trên xe tăng chủ lực T-72.

Năm 1965, T-62 được lắp bộ dẫn động tự đồng điều khiển các tổ hợp truyền động. Bộ dẫn động này có ba chế độ làm việc – tự động, bán tự động và bằng tay. Các xe tăng thí nghiệm trang bị các bộ dẫn động này có tên gọi “Công trình 612”.

Năm 1969. trên cơ sở T-62 đã chế tạo mẫu thí nghiệm mà trên đó lắp động cơ đa nhiên liệu V-36F công suất 471 kW (640 sức ngựa), là biến thể của động cơ dòng V-2. Bộ phận chuyển động được thay bằng các bánh hỗ trợ hai khối và bánh chịu nặng với đĩa từ hợp kim nhôm. Tốc độ tối đa của xe tăng – 55km/h.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #387 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2013, 12:27:38 am »

Các biến thể

T-62A – tiếp nhận vào trang bị năm 1962. Trên xe tăng lắp tháp pháo đúc và pháo rãnh xoắn 100mm U8-TS (D-54) với các tính năng mạnh hơn so với D-12TS và hệ thống cân bằng vũ khí dọc – ngang “Kometa”. Để đẩy vỏ đạn sau khi bắn, trên xe lắp cơ cấu vứt vỏ đạn qua cửa sau tháp pháo. Xe tăng không được sản xuất hàng loạt do thời điểm đó không chế tạo được đạn xuyên giáp và hệ thống cân bằng vũ khí mới.

T-62D – tiếp nhận vào trang bị năm 1983. Tăng cường giáp thân, tháp pháo, đáy và lắp diềm chắn cao su ở hông, cũng như lắp tổ hợp phòng thủ chủ động “Drozd”. Phiên bản có động cơ diesel V-46-5M có tên gọi T-62D-1.

T-62K – tiếp nhận vào biên chế năm 1964. Trên xe tăng bổ sung khí tài dẫn đường TNA-2, đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112 và tổ hợp ắc quy AB-1 để cung cấp nguồn điện cho khí tài khi làm việc lâu. Khi đó, giảm cơ số đạn còn 36 phát bắn và 1750 đạn súng máy, thay đổi sự bố trí phụ tùng.

T-62M – tiếp nhận vào trang bị năm 1983. Trên xe tăng cường giáp tháp pháo, thân và đáy, diềm chắn cao su chống đạn xuyên lõm và đệm chống nơtron trên tháp pháo. Sử dụng băng xích với bản lề cao su pha kim loại từ xe tăng T-72. Tăng cường 2 bộ giảm sóc thủy lực trên các chi tiết hệ thống treo của các bánh chịu nặng thứ hai. Trên xe tăng lắp máy đo xa laze KTD-2 (KTD-1), thước ngắm TShSM-41U, hệ thống cân bằng “Meteor”M1, máy tính đường đạn BV-62, tổ hợp điều khiển vũ khí 9K116-1 “Sheksna”. Máy tính đường đạn BV-62 đảm bảo xử lý tự động góc ngắm và lượng ngắm đón chếch khi bắn toàn bộ các loại đạn (trừ tên lửa điều khiển). Pháo có vỏ cách nhiệt.

Phiên bản với động cơ V-46-5M có tên gọi T-62M-1; không có tổ hợp điều khiển vũ khí – T-62M1 (với động cơ V-46-5M – T-62M1-1); không có tổ hợp điều khiển vũ khí và tăng cường giáp thân – T-62M1-2 (với động cơ V-46-5M – T-62M1-2-1).


T-62MV – tiếp nhận vào trang bị năm 1985. Trên xe tăng lắp giáp nổ, vỏ cách nhiệt nòng pháo, tăng cường giáp đáy và lắp diềm chắn cao su dày 10mm. Phiên bản xe tăng với động cơ diesel V-45-65M nhận tên gọi T-62MV-1. Trên xe tăng T-62MV (T-62MV-1) lắp hệ thống điều khiển hỏa lực “Volna”, máy đo xa laze KTD-2 và máy tính đường đạn BV-62.

T-62MD – T-62M với tổ hợp phòng thủ chủ động “Drozd”

T-62MK – xe tăng chỉ huy T-62M. Trên xe lắp khí tài dẫn đường TNA-2, đài vô tuyến bước sóng ngắn R-112 và tổ hợp ắc quy để nạp điện cho khí tài khi làm việc lâu. Giảm cơ số đạn pháo chính và súng máy.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #388 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2013, 12:28:04 am »

Các thông số kỹ thuật

Khối lượng, tấn: 37,5

Kíp xe: 4 người

Các kích thước, mm

+ dài: 9335

+ rộng: 3300

+ khoảng sáng cách đất: 430

Vũ khí: pháo chính nòng trơn 115mm 2A20 (U5-TS)/7,62mm PKT (SGMT)

Cơ số đạn: 40 phát bắn; 2500 đạn súng máy

Giáp,mm

+ đầu: 100

+ hông: 15-79

+ sau: 46

+ trước tháp pháo: 242

+ hông tháp pháo: 153

Công suất động cơ, sức ngựa: 580

Tốc độ tối đa,km/h: 50

Tầm hoạt động,km: 450

Khả năng vượt chướng ngại vật

+ tường cao, mét: 0,8

+ hố rộng, mét: 2,85

+ hố sâu, mét: 1,4 (với khí tài vượt chướng ngại vật nước – 5 mét)

+ dốc, độ: 32.
Logged
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #389 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2013, 12:08:44 am »

Lịch sử chế tạo

Mặc dù xe tăng T-54 sau Chiến tranh Vệ quốc là chủ lực của xe tăng Quân đội Liên Xô, về tổng thể, đạt được yêu cầu của quân đội, nhưng các công trình sư vẫn tiếp tục nâng cấp nó và chế tạo mẫu khí tài kỹ thuật thiết giáp mới. “Chiến tranh lạnh” đang ở thời điểm cao trào, ở các nước khối NATO cũng đã có sự thay thế các xe chiến đấu.

Sau khi thử các bộ phận và tổ hợp hiện đại trên các xe thí nghiệm, các kỹ sư Liên Xô đã sử dụng chúng trên loạt sản xuất T-55 mới, được tiếp nhận vào biên chế năm 1958. Vẫn giữ lại hình dáng thân xe và độ dày giáp của dòng xe cũ, xe mới trang bị động cơ 580 sức ngựa, công suất mạnh hơn do tăng cường mức độ nén (ép) và cung cấp nhiên liệu. Sử dụng khớp dẫn động bơm nhiên liệu dạng “đông – hè”, đảm bảo hoạt động ổn định của động cơ diesel trong các điều kiện khí hậu khác nhau. Hệ thống sưởi ấm hộp bánh răng hộp truyền động làm đơn giản hóa việc khởi động trong điều kiện lạnh. Xe tăng được lắp máy làm sạch không khí hai cấp mới với vòi phun – hút bụi, lắp máy lọc dầu. Cũng trên hộp bánh răng, lắp thêm máy nén khí của cơ chế khởi động động cơ bằng không khí (компрессор механизма воздушного запуска двигателя). Ngoài ra, trên T-55 lắp các bánh chịu nặng đúc, nhẹ hơn thay vì như trước (vì thế, chúng đã được sử dụng trên T-54, thậm chí trên một số T-34 và Su-100). Về vũ khí, trên xe tăng mới giữ lại pháo 100mm D-10T2S với hệ thống cân bằng pháo – tăng trong hai mặt phẳng. Hai thùng nhiên liệu với giá đặt 18 đạn lắp ở bên phải, trước thân xe, cho phép nâng cơ số đạn lên 43 phát bắn so với 34 trên T-54. Súng máy gồm có 2 súng 7,62mm SGMT – lắp đồng trục với pháo chính và súng máy bắn vòng. Súng phòng không 12,7mm trên các xe sản xuất loạt đầu tiên không lắp; nhưng từ năm 1970 đã bắt đầu lắp trên tháp pháo.

Cuối những năm 50, đầu 60, theo tính toán, các cuộc chiến sẽ tiến hành trong điều kiện sử dụng vũ khí nguyên tử. Vì thế, xe tăng mới được trang bị hệ thống bảo vệ khỏi tác động của nó. Hệ thống hoạt động như sau – sau vụ nổ hạt nhân, theo lệnh của các máy cảm biến đo bức xạ gamma, đạn nổ được xử lý và đẩy bằng lò xo qua cửa sổ ra ngoài xe tăng. Đồng thời, toàn bộ các lỗ châu mai và hốc thông gió được đóng kín. Cùng với đó, máy tăng áp sẽ tạo ra trong xe tăng áp suất dư để bụi phóng xạ không bị hút vào.

T-55 được nâng cấp nhiều lần. Ví dụ, áp dụng bộ dẫn động thủy khí mà nhờ đó, bộ ly hợp ma sát chính được xử lý nhanh và chính xác, không phụ thuộc vào trình độ lái xe. Khi đó, giảm độ nóng và ăn mòn đĩa, nhanh chóng chuyển chế độ truyền động, tăng tốc độ trung bình.

T-55

Một số xe tăng có khả năng lắp (treo) lưới quét mìn dạng bánh chịu nặng (bánh dò mìn), trên một số xe tăng khác thí nghiệm khí tài bơi vượt sông. Đáng chú ý rằng nhiều chi tiết và bộ phận của T-55 đã được sử dụng khi nâng cấp T-54, tăng cường đáng kể khả năng chiến đấu và chất lượng khai thác sử dụng.

Ngoài Liên Xô, T-55 còn có mặt trong trang bị các nước khối Vác xa va, bán sang các nước Trung Đông, Đông Dương. Các chuyên gia nước ngoài thường xuyên áp dụng trên T-55 những cải tiến khác nhau như trên không ít các xe tăng chiến lợi phẩm do Liên Xô sản xuất được quân đội Israel chiếm từ Ai Cập.

Các chuyên gia Israel đã trang bị lên trên phần lớn trong số 250 xe tăng chiến lợi phẩm (T-67) pháo 105mm L7A1. Trên cửa ra vào của pháo thủ số 2 lắp súng máy 7,62mm “Browning”, còn bên trái tháp pháo lắp súng cối 60mm. Đáy sau tháp pháo hàn thêm khoang cho đài vô tuyến. Các xe tăng được nâng cấp một lần nữa vào năm 1983 – thay pháo Anh bằng pháo Mỹ M68 cùng cỡ nòng, nhưng với bệ khóa nòng kích thước nhỏ hơn, lắp thêm súng máy 7,62mm trên tháp chỉ huy, bổ sung súng máy 12,7mm. Thay cho động cơ V-55 của Liên Xô là động cơ diesel 610 sức ngựa, 8 xi lanh làm mát bằng không khí “Teledain-Continetal” cùng khoang với bộ truyền động thủy động “Allison”. Sau các cải tiến này (do không đủ phụ tùng của Liên Xô theo các nguyên nhân khách quan), phần sau xe được thay đổi. Còn tốc độ tối đa của xe tăng 37 tấn tăng lên 60km/h. Xe tăng đổi tên thành T-55S, được tiếp nhận vào biên chế và thậm chí cho xuất khẩu. Còn Ai Cập sử dụng các phần tử T-55 trên xe tăng thí nghiệm “Ramzes-2” của họ.

Sự xuất hiện pháo tăng 105mm trong trang bị của NATO đã buộc các công trình sư Liên Xô vào năm 1959 phải nghiên cứu chế tạo xe tăng mới mà sau đó 2 năm đã gia nhập biên chế dưới ký hiệu T-62. Trong thời gian rất ngắn, đã sử dụng các tổ hợp hoạt động tốt trên dòng xe tăng trước. Điểm mới là T-62 lần đầu tiên trên thế giới trang bị pháo nòng trơn 115mm với 40 phát bắn. Ưu điểm của loại pháo này trước dòng pháo rãnh xoắn (khương tuyến) là đạn xuyên giáp với cánh đuôi không quay trong khi bay, ổn định hơn và vượt trội loại đạn quay/xoay trong khối lượng và sơ tốc đầu nòng. Tuy nhiên, độ giật pháo tăng lên và khóa nòng lớn bắt buộc phải mở rộng  pháo. Tháp pháo mới đúc hình bán cầu có đường kính 2245mm so với 1825mm trên T-55.

Không gian rộng hơn của buồng chiến đấu cho phép lính tăng làm việc dễ dàng hơn, đặc biệt là pháo thủ số hai. Nhờ cơ chế đẩy vỏ đạn, giảm khói trong buồng chiến đấu. Thêm vào đó, lắp súng máy đồng trục 7,62mm với pháo chính, còn súng máy bắn vòng có hiệu quả thấp, đã bị tháo.

Trên T-62 sử dụng các thước ngắm và khí tài quan sát nâng cấp, ví dụ thước ngắm dạng ống lồng TSh-2B-41, cho phép lính tăng bắn chính xác ở cự ly 4000 mét. Cần nhớ rằng, theo quan điểm các chuyên gia quân sự nước ngoài, đối với các trận chiến trên chiến trường Châu Âu, sẽ diễn ra trên cự ly 2500 – 3000 mét. Trên nóc quay tháp chỉ huy lắp chìm kính lúp tiềm vọng với độ khuyếch đại 5 lần ban ngày và 4 lần – ban đêm. Đối với pháo thủ, cũng lắp hai khí tài tương tự với tầm hoạt động 800 mét. Các khí tài quan sát cho lái xe và pháo thủ số hai vẫn giữ nguyên như trên dòng xe tăng trước.

Động cơ và bộ truyền động không thay đổi, nhưng hệ thống làm mát hiệu quả hơn khi sử dụng quạt đường kính lớn. Bộ phận chuyển động mượn từ T-55 nhưng thay đổi chỗ bố trí cách bánh chịu lực do thân xe kéo dài và trung tâm trọng lực phân bố đằng trước. Hệ thống chống tác động vũ khí nguyên tử, khí tài chữa cháy và trang thiết bị dành cho di chuyển dưới nước được đồng nhất với T-54B và T-55.

Năm 1967, xe tăng được nâng cấp – tháo các cửa với nóc trên máy (надмоторная крыша). Sau đó 5 năm đã làm lại tháp pháo và bắt đầu lắp súng máy 12,7mm. Từ năm 1975, T-62 lắp máy đo xa laze.

Chiến tranh ở Afganistan đã xuất hiện vấn đề giáp khí tài tự hành dễ bị tổn thương từ vũ khí tầm gần. Để bảo vệ T-55 và T-62 khỏi đạn xuyên lõm, trên tháp pháo lắp các lá chắn kim loại, hông và bộ phận chuyển động được che bằng các diềm chắn cao su cốt thép và tăng cường giáp đầu.

T-62 cũng được xuất khẩu. Nó thậm chí còn có măt trong biên chế quân đội Mỹ. Ở đó, chúng được biên chế theo “trung đoàn cơ giới cận vệ số 32” và trong các cuộc tập trận, chúng đóng vai trò đối phương của quân đội Mỹ, mặc dù, “chiến tranh lạnh” đã kết thúc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM