Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:26:47 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bão táp cung đình  (Đọc 49207 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #60 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:38:42 pm »

CHƯƠNG 21

Trước khi Lê Tần đi khám sát vùng biên ải, thái sư thống quốc Trần Thủ Độ có ghé thăm tận tư dinh.
Lê tướng quân tuổi còn trẻ, nhưng là một tay nghĩa hiệp. Văn võ kiêm toàn. Tuy trẻ, nhưng lại chín chắn, thận trọng. Thường lấy bụng nhân để đãi người. Những đức tính ấy làm tăng phẩm cách của ông ta. Trần Thủ Độ trọng tướng quân cũng là ở nơi nhân cách của họ Lê. Thái sư đặt nhiều sở vọng vào vị tướng quân này. Trần Thủ Độ cũng không cần giấu giếm lòng mến mộ của ông, mặc dù tướng quân là người ngoại tộc. Đã nhiều phen đàm đạo về thế sự, hai người tỏ ra tâm đắc lắm. Trần Thủ Độ cũng mong có dịp nào đấy, sẽ cất nhắc Lê Tần ở vào chức vụ cho xứng với tài, đức của tướng quân. Về phía mình, Lê Tần cũng nhìn thấy thái sư, rõ ràng là một bậc tài trí. Điều làm Lê Tần kính trọng thái sư còn ở chỗ, ông xét đoán công việc như thần, tiên lượng được cả những điều nhỏ nhặt và bất ngờ có thể xảy ra. Đấy là đức quý nhất của người làm tướng. Quí hơn cả là thái sư rất trọng hậu đối với những người hiền tài. Và không có lòng đố kỵ. Vì vậy có những việc thái sư làm, về đạo lý không chấp nhận được, nhưng cũng không vì thế mà có thể xem nhẹ vai trò của ông ta đối với thời đại. Phân biệt được như vậy, nên Lê Tần vẫn xem thái sư như là linh hồn của cả vương triều.

Lê Tần mời thái sư ngồi lên kỷ. Còn tướng quân tự bê một chiếc ghế đẩu, ngồi đối diện phía ngoài.

Nô bộc dâng trà. Thái sư cho lui. Và lấy ở trong bọc ra một be sành rượu.

Ông giơ chiếc be lên trước mặt rồi nói:

- Được tướng quân nhận lời đi thám sát biên ải, thấy lòng vui quá. Tự nhiên muốn uống với tướng quân vài chén, nói với nhau một đôi lời. Vừa nói, thái sư vừa liếc nhìn Lê Tần, vừa rót đầy lùm hai chén rượu. Thái sư nâng chén rượu đầy trao cho Lê Tần:

- Xin tướng quân cạn chén. Nếu tướng quân làm sánh một giọt ta sẽ phạt tướng quân phải uống thêm một đấu.

Lê Tần kính cẩn đỡ lấy chén rượu trong như một khối ngọc. Trần Thủ Độ cũng tự nâng chén lên. Lê Tần nói:

- Kính chúc sức khỏe thái sư. Tướng quân ngửa cổ uống một hơi cạn sạch.

Trần Thủ Độ “khà” một tiếng, rồi đặt chén xuống kỷ:

- Chúc tướng quân đi chuyến này thành đạt. Nói rồi ông cầm lấy chén của Lê Tần rót xuống mặt kỷ, được vừa đúng hai giọt, ông nói:

- Ta mời tướng quân cạn chén, mà tướng quân không uống hết, thế là phụ lòng ta. Vậy ta phạt tướng
quân mỗi giọt phải uống bù một chén. Nói rồi ông trao be rượu cho Lê Tần - Tướng quân tự rót lấy.

Trần Thủ Độ thừa biết Lê Tần là một tay bợm rượu. Có lần trong tiệc khao quân, ông đã thấy Lê Tần chấp cả năm đô trưởng, mà Tần vẫn cứ tỉnh như không.

Thái sư tuy đã có lệnh nghiêm cấm việc uống rượu trong quân doanh. Nhưng cuộc uống này lại khác. Đây là uống ở tư dinh trong lúc thù tiếp, không có gì phạm vào luật cấm kỵ. Chính vì thế, Lê Tần càng biết thái sư biệt đãi mình.

Uống xong, Lê Tần đặt be rượu trả Trần Thủ Độ, vòng tay kính cẩn nói:

- Bẩm thái sư, trước lúc tiểu tướng lên đường có điều gì xin thái sư răn dạy.

Trần Thủ Độ cười vui, khuôn mặt quắc thước của ông có phần dịu lại, khiến Lê Tần cảm thấy ấm áp, gần
gũi. Trần Thủ Độ nâng chiếc be rượu lên ngang mày, nói:

- Đây là món đồ của phường gốm Bát Tràng cho ta. Ông xoay chiếc be hết mặt nọ sang mặt kia - Tướng quân xem, men độc sắc màu cánh dán. Loại men này ta ưa hơn men huyến bò của Tống. Tất nhiên men Tống nó có vẻ hào hoa hơn. Nhưng men của ta, đằm hơn. Lại cái dáng, ta cũng ưa nó khỏe hơn vóc dáng Tống. Nghề đến như thế này, theo ta là tuyệt đỉnh. Các đời trước chưa hề thấy có. Sau này thế nào thì chưa rõ. Chẳng hay ý tướng quân ra sao? Lê Tần chưa kịp đáp lời, Trần Thủ Độ lại nói tiếp:

- Quý vật phải tầm quý nhân. Ta xin biếu lại tướng quân.

Lê Tần cảm kích hai tay đỡ lấy chiếc be, quỳ xuống vái Trần Thủ Độ.

Thái sư vội đỡ Lê Tần, ông nói:

- Ta vì lòng quý trọng tướng quân. Một chút quà mọn để lưu dấu tình ta mà sao tướng quân thủ lễ một cách thái quá.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #61 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:40:17 pm »

- Bẩm thái sư, tiểu tướng chưa có công lao gì đã được bề trên ưu hậu. Thái sư gia ân cho tiểu tướng đi thị sát miền biên ải, hẳn có điều gì khuyên bảo trước lúc lên đường.

- Chính vì việc đó mà ta đến đây. Trước hết phải xem xét việc canh phòng, việc lập các đồn trại, việc luyện tập hàng ngày. Việc lương thảo, vũ khí và lòng quân, lòng dân đối với triều đình. Tướng quân cũng kiểm xét xem, việc các lộ trên đó phái người sang thám sát ở bên kia, có thu được tin tức gì mới lạ không?
Ta lưu ý tướng quân, lần này cùng đi với tướng quân còn có Hoài Vương Liễu. Mọi điều có quan hệ đến việc quân, tướng quân tự quyền quyết lấy. Còn các việc về dân sự, thuộc quyền vương Liễu. Hai người có thể tham bác nhau, nhưng không phụ thuộc nhau. Về phần vương Liễu, vốn thích chuyện hoa nguyệt. Đôi khi cậy quyền cậy thế làm bừa. Tướng quân gắng giúp cho vương Liễu khỏi vướng vào cái vòng luẩn quẩn, làm mất cả thể diện của triều đình. Chắc tướng quân còn nhớ cái vụ ở cung Lệ Thiên hồi giữa năm Bính thân(1) chứ? Đấy, tốt nhất là không nên để xảy ra điều gì đáng tiếc. Tướng quân đi gấp. Xong việc về ngay, ta còn cần Tướng quân vào việc khác, hệ trọng không kém việc tướng quân lên biên ải.

Thái sư ngừng lời, Lê Tần bèn lên tiếng:

- Trình Thái sư, tiểu tướng xin hết lòng phụng quân mệnh.

- Chúc Tướng quân vạn an.

Vương Liễu, Lê Tần vừa ra khỏi kinh thành vài chục dặm. Trần Thủ Độ đã cho quân đến bao vây phủ Hoài vương. Bao nhiêu vệ binh, tinh binh của Trần Liễu đều bị áp giải giáp hết và bắt phải lập tức trở về quê quán làm ăn. Kẻ nào còn trù trừ sẽ chém bêu đầu. Thế là trong phút chốc, cơ đồ binh nghiệp mà Trần Liễu tốn công gây dựng tan biến như khói mây chiều. Phủ đệ của Trần Hoài vương vẫn được bảo tồn nghiêm ngặt, duy có Thuận Thiên được rước về nội điện của Thái tôn.

Tin đó đồn ngầm trong kinh thành, thoáng lát đã loang ra như một đám cháy được gió thổi tung đi các ngả. Các đại thần hối hả vào triều kiến đức vua.

Điện Thiên An đóng cửa. Các bậc lão thần, những người lương đống lại kéo sang cung Thủy Tĩnh, Trần Thủ
Độ treo biển “hồi tị”(2). Các quan lần lượt kéo nhau về, túm năm tụm ba bàn tán. Mọi người đều bàng hoàng trước cảnh đồi phong bại tục của hoàng gia. Đầu têu chuyện này là từ Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung. Gốc của sự loạn, lại chính từ nơi các người có quyền lực nhất nước còn biết tính sao?.

Quan thừa chỉ dâng sớ hạch tội Trần Thủ Độ. Ông xin cáo quan. Không đợi nhà vua xét định. Ông bỏ kinh thành đi. Không ai biết ông đi đâu.
Được chú và mẹ đón vào nội điện, Thuận Thiên còn chưa hết ngơ ngác, đã được phu nhân Trần Thủ Độ ra kéo vào hậu điện. Mẹ con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Thuận thiên hỏi:

- Thưa mẹ, cớ làm sao Hoài Vương phụng quân mệnh lên biên ải, thái sư lại đem binh đến vây vương phủ? Nhất loạt bắt hết bọn thân vệ, tinh binh phải hồi hương. Bắt cả con phải lên kiệu về bên này. Có phải Hoài
Vương làm loạn hay thái sư lộng hành? Nói rồi Thuận Thiên xõa tóc gào khóc thống thiết.

Phu nhân ruột rối như tơ vò, nghe tiếng con khóc bà bủn rủn cả chân tay. Không ngờ cơ sự lại xảy đến như thế này. Những tưởng ông ấy sắp đặt được êm thấm. Ai ngờ nông nổi cứ mỗi ngày mỗi rối thêm. Từ bữa ông ấy ngỏ ý tới nhà vua, hoàng thượng đã khước từ. Ta chưa kịp nói gì với Chiêu Thánh, thì Trần Cảnh đã giãi bày với nó rồi. Tới lúc mẹ con nói chuyện với nhau thì thật là tàn nhẫn. Ta cảm nhận như đây là một cuộc xô xát. Chiêu Thánh uất ức phản bác ta. Coi ta như một con yêu tinh, chui vào triều Lý để sát hại cha nó và làm sụp đổ cả vương triều này. Chắc là nó bị xúc động quá, không hiểu được nỗi lòng ta thương chị em nó. Ta cũng chẳng chấp với con cái làm gì. Nhưng điều ta đau buồn nhất là con bé như phát khùng lên. Y hệt cái chứng loạn tâm của Huệ tôn ngày trước. Nó như không muốn nhìn mặt ta. Hễ thấy ta ló vào là nó hét lên: “Ma! Ma!” Vài bữa nay ta xem nó đã bớt la hét. Đã chịu nhấm nháp ăn uống chút đỉnh. Còn nhà vua cũng đã bình thường. Tưởng việc hãy xếp lại. Ai ngờ ông ấy lại quyết liệt thái quá. Bắt Hoài Vương lên biên ải, đón Thuận Thiên về cho đức vua, chặt hết tay chân vây cánh của Liễu. Tức là ông ấy ra mặt ép, không cần các cháu có chấp nhận hay không. Người đâu mà kỳ cục!

Nắm lấy tay Thuận Thiên, phu nhân nhẹ nhàng nói:

- Con hãy cứ bình tâm. Bình tâm lại đã, rồi mẹ nói cho con nghe. Đừng có hấp tấp con ạ. Đây là chuyện trong nhà, ta đóng cửa bảo nhau. Chớ có to tiếng mà vạch áo cho người xem lưng.

Thuận Thiên vẫn còn khóc tức tưởi, một lát sau nàng nói:

- Phu nhân chỉ muốn bịt miệng con. Nhưng Thái sư làm như vậy thì cả nước biết chứ giấu được ai? Nếu sợ
thì đừng làm bậy nữa có được không?

Phu nhân cảm thấy khó chịu về cách ăn nói của con gái, nhưng bà vẫn ngon ngọt dỗ dành:

- Các cô là lắm điều lắm đấy. Con gái mẹ lớn quá rồi. Nghe nói con đã tắt kinh gần ba tháng phải không?
Gớm sắp làm hoàng hậu đến nơi rồi còn ngúng ngẩy cái gì. Phu nhân vừa buông lời, vừa nhìn sắc mặt con thăm dò.

Thuận Thiên chậm hiểu, nhưng rồi cũng nhận ra lời nói khá lọt tai, bèn hỏi:

- Thưa mẹ, con không hiểu ý mẹ định nói gì. Phải chăng đức vua lại trả ngôi báu về cho Hoài Vương? À mà thế cũng phải, không có anh em lại hục hặc với nhau suốt đời.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #62 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:41:12 pm »

- Chuyện không phải thế. Nhân đây mẹ nói cho con nghe. Số là Chiêu Thánh nó bấy bót quá. Lại từ ngày sinh hoàng tử Trịnh chết yểu tới nay đã năm năm. Xem ra cũng không còn sinh nở được nữa. Mẹ cùng chú mày bàn đến nát nước. Mãi sau mới tính chuyện đem con về bên này. Thế là hai chị em cùng có phúc, có phận cả. Mà họ Trần ta cũng được nhờ vào các con. Hoài vương thì nó được thằng Quốc Tuấn rồi. Còn nhà vua thì muộn mằn quá. Vả lại mẹ cũng không muốn con phải làm lẽ. Thân cành lá ngọc, phí một đời. Nay con về đây, hai chị em cùng là hoàng hậu. Con cái nối dõi đã có sẵn trong bụng rồi, còn lo gì. Nếu các con nghe lời mẹ, thì vĩnh viễn đời đời, mẹ có chết cũng yên lòng.

Nghe mẹ nói, Thuận Thiên cứ ngỡ là mẹ ốm đau gì đâm mê sảng, nàng hoảng hốt thật sự. Hết sờ vào tay lại ấp vào trán mẹ. Phu nhân tưởng như con gái nghe lời mình, vì thế bà cứ nói liên hồi cho đến lúc Thuận
Thiên không chịu được nữa, gào lên:

- Sao mẹ nỡ đem cái chuyện chó lợn ấy nói với con.

Khi ép con phải lấy Hoài vương cũng mẹ chứ ai. Ngày ấy con đã biết gì. Thế em Chiêu Thánh đâu rồi?

- Chiêu Thánh! Chiêu Thánh! - Thuận Thiên gào lên. Em có còn, hay người ta giết chết em rồi. Khổ thân
em tôi.

- Con làm gì mà ồn lên thế, Thuận Thiên! Mẹ tính vậy để lo cho các con được trọn vẹn. Vả lại giữa Cảnh với Liễu cũng là hai anh em ruột nhà nó, với hai chị em ruột nhà mày, chứ có phải người xa lạ nào mà sợ. Việc này tùy con, mẹ không ép. Phu nhân đã toan đi vào, thì chợt có tiếng một chuỗi cười dài dại từ phía ngoài vọng tới. Rồi Chiêu Thánh lấp ló ngay nơi cửa. Đầu tóc rối bù. Áo quần xộc xệch. Chân không giày dép. Tay cầm bông mẫu đơn, Chiêu Thánh vừa đi vừa hát:

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi(3)

Hát xong, Chiêu Thánh lại cười sặc sụa.

Chợt trông thấy Thuận Thiên, mắt Chiêu Thánh vụt sáng lên, reo òa:

- A, chị Thuận Thiên! Rồi Chiêu Thánh lùi lại nhìn Thuận Thiên như nhìn người xa lạ. Buông tiếng chào lạnh
nhạt:

- Kính chào hoàng hậu.

Chiêu Thánh ngoắt quay đi, như chưa hề biết có Thuận Thiên.

Thuận Thiên hốt hoảng lao theo em. Vừa đi vừa gọi:

- Chiêu Thánh! Chiêu Thánh! Chị đây mà.

Phu nhân đứng nhìn hai chị em, lòng ngao ngán.

Tiếng Chiêu Thánh vẫn còn vang vọng:

- Người ta vây phủ Hoài vương, diệt vây cánh Trần Liễu. Thế nào rồi con ngựa Hoài Vương ruổi sáng nay
cũng trở về. Nhưng không có người cưỡi nó trên yên đâu, chị Thuận Thiên ơi!

Ha ….ha ….ha….ha! Túy ngọa sa trường….

=============================

1. Bính thân (1236), tháng 6 lụt to, nước tràn vào cung Lệ Thiên, Hiển hoàng Trần Liễu đi thuyền qua đây, thấy có người phi cũ của triều Lý bèn đưa vào hiếp ở trong cung. Có người hặc tâu, giáng Trần Liễu từ Hiển hoàng xuống Hoài vương. Và đổi cung Lệ Thiên thành cung Thưởng Xuân.

2. Có nghĩa là: quay về, không tiếp khách.

3. Đây là khúc Lương Châu của Vương Hàn, đời nhà Đường. Dịch nghĩa:

Chốn sa trường say nghiêng ngả ai nỡ cười

Xưa nay đi chinh chiến đã mấy người trở lại.

Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #63 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:43:27 pm »

CHƯƠNG 22

Nắng dọi những tia đầu tiên vào phòng, khiến Trần Thủ Độ giật mình tỉnh giấc. Thái sư uể oải vươn vai, ngáp một tiếng thật to rồi vùng ra khỏi giường. Ông chụp lấy chiếc chuông nhỏ để lẫn vào đồ văn phòng tứ bảo, lắc lia lịa. Một lát, tên gia nô bước vào phòng hớt hải. Thấy quan ông đầy vẻ tức giận, y quỳ mọp xuống tâu:

- Trình đức ông… Tên gia nô sợ đến líu cả lưỡi. Vì y biết tính chủ, mỗi khi nổi giận.

Trái với lệ thường, lúc tức giận, quan thái sư hay thét mắng. Lần này quan ông thong thả hỏi:

- Sao các ngươi không đánh thức ta dậy sớm?

Tên gia nô vững dạ, bèn thưa:

- Trình đức ông, lệnh bà bảo chúng con cứ để cho đức ông ngủ. Vì đêm qua đức ông làm việc khuya.

- Có tin tức gì cho ta không?

- Bẩm đức ông. Có thư của Lê tướng quân.

- Sao không đưa ngay vào! - Trần Thủ Độ đập tay xuống án, quát.

Tên gia nô mặt tái đi, nói lắp bắp:

- Trình đức ông, ngựa trạm mới đưa vào lúc đầu giờ dần. Nói xong y chạy đi lấy phong thư.

Trần Thủ Độ đọc thư, nét mặt ông tươi tỉnh dần lên. Khi đặt phong thư xuống án, ông chợt nhìn, vẫn thấy
tên gia nô quì chờ lệnh. Ông ân cần bảo:

- Ta đang có công việc cần kíp. Nên đôi khi trái tính. Các ngươi gắng chịu. Ta biết các ngươi không có lỗi
gì đâu. Đừng sợ. Lần sau, có thư hay lệnh, các ngươi nhớ đem ngay vào cho ta. Nếu là hoả lệnh, thì dù ta
có đang ngủ, cũng phải lay gọi bằng được. Nghe không?

Tên gia nô cuối đầu:

- Dạ!

Trần Thủ Độ vẫy tay cho lui.

Thái sư rất hài lòng vì Lê Tần vừa tới biên ải được vài tuần đã kịp thu thập tin tức, gửi đường ngựa trạm
về ngay. Vậy là mặt biên ải chưa có gì đáng quan ngại. Thời cơ cho ta rảnh tay lo việc hoàng gia. Ông tự biết làm việc này hơi quá tay với Trần Liễu. Vì nếu không như thế, ông không yên tâm về hai lẽ. Một là tính trường cửu của nhà Trần. Hai là dập tắt tham vọng quyền hành của Trần Liễu. Theo ông, Trần Liễu ngu xuẩn không tự biết mình. Y cũng không biết đến cả sự tế vi của công cuộc chính trị mà ông chủ trương. Thử hỏi, không có Trần Cảnh, thì làm sao đóng cho xuôi gọn được tích trò nhường ngôi? Nay thiên hạ đã chấp thuận như là một sự đương nhiên phải thế, thì y lại hằm hè, động cựa. Trần Cảnh là người khoan nhân, đức độ, lại thông tuệ khác thường. Tâm ấy, tài ấy, mà ở ngôi thiên hạ mới có chỗ trông cậy. Trần Thủ Độ đang miên viễn với những suy tư, toan tính thì nội thị đã bê thức ăn sáng vào cho ông.

Mở chụp lồng bàn thấy có một đĩa khoai tím. Một dúm muối vừng và một con dao bài. Thái sư ăn ngon lành. Ông ăn hết đĩa khoai, vẫn còn muốn ăn nữa. Ông tự biết ơn phu nhân. Chỉ có phu nhân mới biết ông thích ăn loại khoai này. Đây là giống khoai rừng chỉ bên mạn Kinh Bắc mới có. Củ giống như củ nâu, to bằng chiếc nồi nhỡ. Thường nấu canh cá rô, hoặc hầm với cẳng lợn, ăn rất ngon. Nó thơm như củ mài, bở và ngọt hơn củ mài. Nhưng ông thích ăn luộc hơn cả.

Nội thị vừa dâng cho ông một tô nước chè xanh, cũng vừa lúc phu nhân bước vào.

Gương mặt phu nhân chảy dài ra, buồn rười rượi. Phu nhân nói như nhận lỗi về mình:

- Thấy ông ngủ ngon quá. Tôi dặn gia nhân không được đánh thức. Chắc ông giận.

Trần Thủ Độ cười xoà:

- Tôi ngủ được, khỏe người, có gì mà giận. Nhưng bà thương tôi vừa vừa thôi, kẻo những lúc việc quân gấp gáp cứ ngủ khì là mất mạng như chơi.

- Cả đời ông, tôi có thấy lúc nào ông không gấp gáp? Mà đã mất mạng đâu.

- Nhờ có sự lúc nào tôi cũng gấp gáp ấy mà tôi không mất mạng, binh tôi không nhọc sức.

Liếc nhìn phu nhân, thái sư hỏi:

- Lại có chuyện gì phải không? Mới sớm đã buồn nẫu ra thế kia. Lại chuyện con Chiêu Thánh chứ gì? Bà cứ
hay cả nghĩ. Con cái lớn rồi. Có điều gì nó không vừa ý, nó phải cãi chứ sao. Cốt nó không ra khỏi khuôn phép của mình là được.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #64 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:44:35 pm »

- Nào có phải chuyện nó cãi. Cả tháng nay nó cứ điên điên khùng khùng. Nó không nói với tôi một lời nào. Nó không muốn nhìn mặt tôi nữa. Cứ hễ trông thấy tôi là nó hét: “Ma! Ma!”. Tôi khổ tâm lắm ông ơi. Tất cả cũng vì đế nghiệp nhà ông, mà tôi mang trọng tội với nhà Lý. Tôi là một kẻ giết chồng, hại con, phá tan cả một vương triều. Con gái tôi nó nói vậy đấy. Phu nhân bưng mặt khóc hu hu.

- Sao bà cứ hay chấp nê. Chỉ biết mình làm việc đại nghĩa. Người này được thì kẻ kia mất. Biết làm thế nào khác được. Có điều để mình yên tâm rằng, không phải mình tham lam quyền bính, mà mình vì đám lê dân. Trần Thủ Độ với vẻ trầm tĩnh, giảng giải cho phu nhân đến cạn nhẽ - Đấy bà xem, những năm dưới triều Huệ tôn, đi về ngả nào cũng thấy người chết đói. Đi về nẻo nào cũng khói bụi chiến tranh. Ngay cả lúc đói, mình ăn miếng cơm cũng không còn thấy ngon nữa. Ngủ cũng chập chờn không yên giấc. Nay nhà Trầøn trị vì, bà xem đời sống người dân như thế nào. Cứ trông những bộ mặt những người đi đường, là biết được thời đại. Bà cứ trách móc tôi là lúc nào cũng gấp gáp. Tôi gấp gáp vì sự an dân hưng nước, chứ tôi có nhằm lợi lộc gì. Trong nhà ta, có gì bà biết cả đấy.

Phu nhân lấy chéo khăn lau nước mắt, ngước nhìn chồng, bà nói:

- Nào tôi có dám trách oán gì ông. Buồn quá, tôi chỉ muốn thổ lộ cùng ông đôi điều. Con Chiêu Thánh nó
bỏ đi rồi. Ông biết chưa?

- Nó bỏ đi lúc nào. Được, để tôi cho người đi tìm.

- Cả con Trịnh Huyền cũng đi theo nó. Ông có nhớ con Trịnh Huyền, thị nữ của tôi không?

- Có phải con bé giấu tờ chiếu dạo nọ không? Con bé người nhà quan thừa chỉ chứ gì?

- Đúng đấy!

- Con ấy là một đứa nghĩa khí đấy bà ạ. Nó là phận tôi tớ, nhưng tôi vẫn có bụng nể nó. Để nó theo hầu Chiêu Thánh cũng được. Con Chiêu Thánh cũng thuộc nòi khí khái lắm. Thế bà đã nói với nó, chuyện đưa con Thuận Thiên về bên này chưa?

- Tôi nói, nó cãi tôi, rồi nó phát điên phát khùng lên đấy. - Phu nhân thở dài chán nản - Chuyện vỡ lở, cả
kinh thành điều biết. Ông tính sao?

Trần Thủ Độ trầm tư:

Thôi được, bà cứ mặc tôi liệu.

Thái sư tức tốc sai quân toả đi bốn cửa thành tìm Chiêu Thánh. Từng bến đò, quán nước, chùa chiền, nơi
nào có thể dừng chân hoặc tá túc được, lính đều ngó ngang tìm kiếm.

Chừng giờ trị, quân báo về: đã tìm thấy hoàng hậu ở chùa Bảo Quang.

Trần Thủ Độ lập tức lên kiệu tới liền. Thuyền sư lật đật ra tận tam quan vái chào quan thái sư, và rước mời
ông vào nhà phương trượng. Nước được một tuần, nhà sư liền hỏi:

- Bạch đức ông, vậy chớ có chuyện gì, hoàng hậu vừa đến vãng cảnh chùa dâng lễ Phật sớm nay, mà đức ông đã phải vội vã đi tìm?

Trần Thủ Độ từ tốn đáp:

- Bạch thuyền sư, tôi cũng là khách thập phương tới vãng cảnh chùa, ăn mày lộc Phật. Cớ chi nhà chùa lại
bảo tôi đi tìm hoàng hậu? Chẳng hay hoàng hậu bây giờ ở đâu? - Nói rồi Trần Thủ Độ sai mở đẫy lấy ra một
trăm lạng bạc, hai mươi đĩnh vàng cúng vào chùa. Ông nói:

- Số vàng bạc này gửi nhà chùa để tu bổ nơi hương khói thờ Phật, và làm các việc bố thí cho chúng sinh
vào những năm mất mùa, đói kém.

Thuyền sư hết lời cảm tạ tấm lòng hiếu Đạo của thái sư. Nhà sư nói:

- Bạch thái sư, vì đức ông có lòng hiếu Phật, nên bần tăng mới mạnh bạo bộc bạch cái sở kiến của kẻ tu
hành. Như thái sư đã biết, từ khi đức Cao tông nghe lời xiển Phật của Đàm Dĩ Mộng, đã có sự bài xích Phật giáo một cách bất công. Cũng từ đấy kỷ cương nhà Lý bắt đầu đổ nát. Nay triều ta đã hưng được vận nước, xin thái sư để tâm hơn nữa vào việc Đạo. Vì việc Đạo chính là việc đời. Đạo là cốt để giáo hoá cho chúng sinh được ngay chính cái tâm - tức là thiện tâm. Một xã hội đầy tràn thiện tâm thiện đức, chẳng phải là một xã hội thịnh trị, mà các đấng minh quân từ xưa mơ ước sao? Bần tăng chỉ xin bầy tỏ với thái sư một điều bé mọn đó của kẻ tu hành, xin thái sư lưu tâm.

Trần Thủ Độ đến chùa không phải vì mục đích vãng cảnh, cúng dàng. Cũng không phải đến để đàm đạo với thuyền sư về việc đạo, việc đời. Chẳng qua vì có tin Chiêu Thánh bỏ ngôi hoàng hậu vào đây ẩn náu, ông muốn tới để gọi nàng về. Lại vì có di hài của Huệ tôn để trong tháp chùa này. Thủ Độ cúng dâng vàng bạc để tu bổ chùa chiền, cũng có hàm ý đến việc săn sóc Huệ tôn. Vì khi nhà vua còn sống ông không làm được điều đó. Cũng còn một ý khác nữa muốn nói với dân nước, nhà Trần là kế nghiệp nhà Lý chứ không có chuyện soán đoạt. Một ẩn ý nữa là, nếu như Chiêu Thánh muốn ở lại chùa để hương khói, thì số bạc vàng đó là để chu cấp cho nàng. Bằng ấy ý nghĩa của cuộc viếng thăm ngắn ngủi của một quan lớn đầu
triều, kẻ tu hành dễ gì nhận ra. Chợt nhớ tới nhà sư, Trần Thủ Độ nói:

- Triều đình đang làm cái điều mà thuyền sư mong muốn. Vậy xin nhà chùa cho biết hoàng hậu hiện đang ở đâu. Mấy bữa nay, hoàng hậu không được khoẻ. - Bạch đức ông, hoàng hậu tới chùa cùng với một tì nữ vào sớm hôm nay. Người nói sẽ xin ở lại chùa để hương khói cho Huệ Quang thuyền sư. Nhà chùa chúng tôi chưa dám vâng lời. Vì chưa được biết cao ý của hoàng thượng và đức ông.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #65 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:45:39 pm »

Trần Thủ Độ nhã nhặn tiếp lời nhà sư:

- Bạch thuyền sư, hoàng gia chúng tôi xin đa tạ hảo ý của nhà chùa. Xin cho tôi được gặp hoàng hậu, sau đó thế nào sẽ xin bạch lại với nhà chùa.

Thuyền sư dẫn Trần Thủ Độ vào trai phòng. Chiêu Thánh đang ngồi buồn ủ rũ. Trịnh Huyền ngồi chếch phía sau, vừa bóp đầu cho Chiêu Thánh vừa rì rầm nói chuyện. Thấy thái sư bước vào, Trịnh Huyền vội đứng lên chắp tay vái:

- Kính chào đức ông.

- Chiêu Thánh, tại sao con lại bỏ cung điện tới đây? Mẹ buồn lắm đấy. Ta nghe nói mấy bữa nay trong người con khó ở.

- Đội ơn đức ông hỏi thăm. Chiêu Thánh tôi có lúc nào được khoẻ mạnh đâu.

- Vậy thời con nên trở lại cung, để mẹ con còn thuốc thang.

- Xin đức ông tha cho. Tôi không thể trở lại cái tổ quỷ đó được. Ở đấy tôi sẽ phát điên lên mất. Sẽ hỗn
hào phạm thượng.

Trần Thủ Độ thầm nghĩ: “Con bé đâm khùng. Nói năng chẳng còn biết giữ lễ. Chắc nó uất lắm. Kể cũng tội.
Không nỡ chấp với trẻ nhỏ”. Ông ân cần khuyên giải:

- Hãy coi những điều mẹ con nói chỉ là mong muốn. Chẳng ai ép buộc con. Nếu không ưng thuận, con cứ về triều. Ngôi hoàng hậu của con không ai xâm phạm tới được. Ta mong con hãy nguôi giận.

- Cảm tạ đức ông. Tôi hiểu phu nhân lắm. Vì bà là mẹ tôi. Ý bà đã quyết thì không gì lay chuyển được. Phu nhân đã hợp lực cùng với đức ông, đoạt bằng được cơ nghiệp của nhà Lý. Nay tôi lại cố đấm ăn xôi, ở lại ngôi hoàng hậu, chẳng là cái gai cho phu nhân hay sao?

- Ta khuyên con nên trở về triều, kẻo nhà vua mong đợi.

- Tôi đã thưa với đức ông rồi. Ngay cả nhà vua cũng phải tuân theo ý đức ông. Vả lại nhà vua đang cần có con nối nghiệp đế vương. Tốt nhất đức ông nên tìm cho nhà vua một người trong họ. Chị em tôi dù sao cũng là người ngoại tộc. Chắc đức ông cùng phu nhân đã tính kỹ nước cờ lừa nhà Lý. Nay phải diệt cái mầm loạn từ khi nó chưa nhú, lẽ nào đức ông còn rước người họ Lý vào cung? Đức ông cùng phu nhân có thể lừa được thiên hạ, chứ không lừa được con Chiêu Thánh đâu. Chiêu Thánh cố giữ vẻ bình thản, nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, hoen cả khuôn mặt gầy võ không điểm trang của nàng.

Trần Thủ Độ không những không giận, mà còn thấy thương nàng. Ông cho những lời Chiêu Thánh nói, là suy nghĩ chân thực. Giọng ông rầu rầu:

- Chiêu Thánh, con quá ưu sầu nên căm giận ta cùng mẹ con. Tiếc rằng con còn nhỏ tuổi chưa hiểu được sự đời. Lớn lên, chắc rồi con sẽ hiểu ta và tha thứ cho mẹ con.

- Tôi không dám giận đức ông. Nhưng mẹ tôi, thật tình tôi không thể tha thứ cho bà. Hãy cứ cho rằng thiên hạ là của chung. Thiện thì được, không thiện thì mất. Song mẹ tôi, đã lừa dối chị em tôi. Lừa dối cả chồng bà. Chính bà là người giết cha tôi. Thưa đức ông, tôi biết ai là người giết cha tôi rồi. Nhưng nếu không có mẹ tôi, làm sao người kia có thể thực hiện được âm mưu đen tối của mình. Bà đâu còn là một người vợ, người mẹ nữa.

Chiêu Thánh quay đi khẽ nói như nói với chính mình: “Tiếc thay, những năm thơ ấu, ta cứ nghĩ ta được sống trong tình thương của mẹ”.

Tự biết không thể thuyết phục được Chiêu Thánh, mà ông thì không muốn ép buộc đứa con gái thơ ngây tội nghiệp, Trần Thủ Độ liền dịu giọng:

- Vậy thì ý con muốn như thế nào, con cứ nói, họa may ta có thể giúp được gì cho con.

Chiêu Thánh sửng sốt trước sự chấp thuận dễ dàng của thái sư. Nàng thừa biết ông là một người sắt đá,
chưa hề biết lùi bước. Giá như ông gay gắt quyết liệt, nàng còn biết đường tự liệu. Với vẻ bối rối, nàng nói:

- Xin đức ông gia ân cho tôi được ở lại chùa này, để hương khói cho cha tôi. Cũng xin đức ông cho Trịnh Huyền được ở lại cùng tôi cho có bầu có bạn.

- Nếu ý con đã quyết, ta không nỡ cản. Chỉ thương con thân gái, chưa quen chốn khổ hạnh.

Suy nghĩ giây lâu, Trần Thủ Độ lại nói:

- Chùa là nơi chốn của những người đã xuất gia. Con ở lại đây lâu, e không tiện. Để ta nói thuyền sư cho con tá túc dăm bữa nửa tháng, chờ ta cho người xây cất một căn nhà, ngay cạnh chùa cho con, như thế tiện hơn. Rồi sau này thế nào tùy con định liệu.

Chiêu Thánh không khỏi cảm động trước tấm lòng ưu hậu của thái sư. Nàng lễ phép nói:

- Thưa đức ông, nếu đức ông thương tình cho một chỗ ở, Chiêu Thánh tôi chỉ xin ba gian nhà tranh vách
đất đơn sơ, bên cạnh hồ, tiếp với đất chùa đây. Nếu như đức ông lại xây cất dinh thự nguy nga, thì Chiêu Thánh tôi không bao giờ dám đặt chân tới

- Thôi được, ta sẽ chiều theo ý con. Để ta nói lại với thuyền sư. Chào hai con.

Đã toan quay ra, Trần Thủ Độ lại dừng, ông nói với Trịnh Huyền - Ý hoàng hậu như vậy, chắc con đã rõ. Con cố gắng làm vui lòng người. Cũng phải nói để con biết. Ta rất trọng con. Chúc hai con mạnh khỏe, ta đi.

Cả Chiêu Thánh, Trịnh Huyền đều cúi đầu bái biệt.

Trần Thủ Độ bước ra, vẻ mặt lạnh buồn.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #66 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:46:36 pm »

Trở lại cung Thuỷ Tĩnh, Trần Thủ Độ đã thấy có Lê Tần ở đấy. Ông sung sướng reo lên:

- Cha chả tướng quân đã về. Ta mong ông quá.

Lê Tần cúi đầu vái thái sư.

Chợt thấy trên nét mặt viên tướng trẻ một thoáng lo buồn, Trần Thủ Độ hỏi:

- Có chuyện gì đó, tướng quân?

- Trình thái sư. Tôi vừa về tới kinh thành liền đến ra mắt thái sư ngay. Được tin đức ông lại chùa Bảo Quang, tôi quay vào điện Thiên An. Bẩm đức ông, hoàng thượng bỏ kinh thành đi rồi!

Trần Thủ Độ tái mặt, giây phút kinh hoàng vừa thoáng hiện trên gương mặt con người dạn dày trận mạc,
với ý chí sắt đá kiên cường, ông vội trấn tĩnh phút yếu lòng. Đức ông hỏi, giọng hơi lạc:
Nhà vua đi từ bao giờ?

- Bẩm, nội thị không biết rõ nhà vua đi vào lúc nào. Tiểu tướng có hỏi ngoài các trạm canh, viên đô trưởng
Cửa Đông cho biết, đức vua đi vào khoảng cuối giờ hợi đêm qua. Tháp tùng nhà vua có bảy người. Nhưng
tới bên kia bến đò sông Cái, nhà vua cho về bớt, chỉ lấy chi hậu cục Trần Thiêm và thân vệ tướng quân Trần Khuê Kình đi theo. Nhà vua nói là đi vi hành, phải cải dạng, không dân chúng họ biết. Dạ thưa, cả nhà
vua và tuỳ tùng đều đi ngựa.

Trần Thủ Độ thở dài, ngồi phịch xuống ghế. Lê Tần lại nói:

- Bẩm đức ông, tiểu tướng đã cho một tốp lính sang sông Cái, tỏa đi các ngả đường để tìm nhà vua.

Trần Thủ Độ gật đầu. Chiếc cổ ông chưa bao giờ cúi, mà nay phải uốn cong cho cái đầu gục xuống. Một lát, ông ngẩng phắt dậy, nhìn Lê Tần trừng trừng, hỏi:

- Liễu đâu?

- Trình thái sư, quan thái úy Hoài vương Liễu hiện đang ở tư dinh.

Trần Thủ Độ giật mình:

- Ông phải cho người theo sát Liễu. Sơ hở lúc này là có biến. Ông về đi. Cần gì ta sẽ cho tìm.

Lê Tần cúi chào, lặng lẽ bước ra.

Trần Thủ Độ đi đi lại lại trong căn phòng với những bước đi lúc thưa, lúc mau, lúc nhẹ lướt câm như mèo,
lúc ầm ầm như voi cuốn. Ông lồng lộn như con hổ bị hãm chuồng.

Trần Thủ Độ tự hỏi: “Chẳng lẽ keo này ta thua ư?” Rồi ông lại tự trả lời: “Có nhẽ ta thua thật”. Chúng nó bỏ đi hết rồi. Vua đi. Hoàng hậu cũng đi. Rốt cuộc chỉ còn lại con Thuận Thiên ngờ ngệch, thằng Trần Liễu ranh ma. Thằng này mất vợ, mất đám quân nanh vuốt, liệu nó có chịu bó tay không? Trời hỡi trời! Ta sẽ mất mặt với con dân cả nước, mất mặt với triều đình. Ông giận dữ ngửa mặt lên trời thề: “Dẹp xong việc này, từ nay thề có trời đất thiêng liêng chứng giám, tất cả những điều gì vợ ta sắp đặt…”

Trần Thủ Độ cứ ngồi đó nghĩ suy, trăn trở. Ông ức đoán Thái tôn đi về nẻo hướng nào. Và hiện nay đang ở đâu. Ông không tự thấy nhà vua bị bức bách quá phải bỏ đi, mà ông chỉ trách Trần Cảnh vô ơn. Đã không biết công ông chăm sóc, dựng xây cho từng bước một. Một mình nó ngồi trên cả trăm họ. Thậm chí còn ngồi trên cả ông nữa. Nó phải biết vì sao nó được như thế chứ. Bây giờ, Cảnh bỏ ông đi, làm cho người trong nước chê cười ông. Thử hỏi, ông còn mặt mũi nào nữa. Rồi ông lại liên tưởng đến Trần Liễu. Sự thật ông thấy có gì gai gai mỗi khi nghĩ về Hoài vương Liễu. Ông không dám chắc, thằng đàn ông gần ba chục tuổi với nhiều tham vọng này, lại ngoan ngoãn khuôn theo sự sắp đặt của ông. Nghĩ tới có kẻ nào làm loạn, lửa giận trong người ông lại bừng bừng nổi dậy. Nước thanh bình, nhưng giặc ngoài không thôi dòm ngó. Kẻ nào khơi lên mầm loạn, kẻ ấy sẽ là con thiêu thân chui vào lửa. Ông không tha thứ. Ông chìa bàn tay gân guốc ra nắm lấy không khí rồi bóp siết lại. Cứ như là ông đang tiêu diệt kẻ phá phách nền an lạc của đất nước này.

Chợt Lê Tần vào bẩm:

- Trình thái sư, quan thừa chỉ đã bỏ Thăng Long đi rồi. Hoài vương Liễu cũng cải dạng ra khỏi kinh thành rồi. Quan thừa chỉ đi từ lúc nào không ai biết. Nhưng Hoài vương thì tiểu tướng đã cho người theo sát.

- Hừm! Trần Thủ Độ vừa “hừm” được một tiếng, rồi đứng rũ ra như một chiếc cây bị héo rũ. Không phải ông sợ vương Liễu, mà chính là quan thừa chỉ bỏ đi.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #67 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:48:39 pm »

CHƯƠNG 23

Khi đã sang tới bên kia bến đò sông Cái, đi chừng độ nửa trống canh nữa về hướng bắc, Thái tôn mới bảo mọi người dừng lại. Nhà vua nói:

- Ta muốn làm một chuyến vi hành, để nghe ngóng trong dân, xem các chính sách của triều đình có gì thuận, nghịch với lòng dân. Nhưng nếu đi cả đoàn cả lũ thế này, khó mà che giấu được tai mắt người dân. Vậy các ngươi trong đám nội nhân hãy quay về triều. Chỉ có Trần Thiêm, Trần Khuê Kình đi theo ta. Nói xong nhà vua bèn khoác lên mình chiếc áo thường dân. Mọi người ai cũng khóc lóc đòi theo, nhưng vua không cho.

Tính ra, vua tôi khởi hành ở Thăng Long từ giờ hợi, lúc này đã cuối giờ tí. Gà trong các xóm đã gáy ran. Vua tôi chia tay bịn rịn. Khi đoàn người trở lại Thăng Long đã đi xa chừng non một đặm, nhà vua ghìm cương ngựa lại, nói với Thiêm, Kình:

- Quay về hướng đông. Ta muốn lên Yên Tử.

Trần Thiêm kính cẩn nói:

- Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ muốn vi hành, không đâu bằng vùng xứ Bắc này: dân đông, nho sĩ nhiều, lại là đất
cũ quê hương nhà Lý. Luyến nhớ vua cũ, hoặc nhuần thấm ơn mưa móc vua mới, chỉ qua bọn nho sĩ và lớp cùng đinh là biết hết, bệ hạ còn phải ra vùng Yên Tử hiu quạnh làm chi cho nhọc sức.

Trần Khuê Kình cũng mạnh dạn khuyên can:

- Tâu hoàng thượng, anh Thiêm nói đúng đấy. Bệ hạ đến cái vùng lam sơn chướng khí, suốt ngày không
một bóng người ấy làm gì. Muốn đi về Yên Tử sao khi đêm, bệ hạ không đi thẳng hướng đông có tiện không, lại còn ngược bắc làm gì?

Thái tôn băn khoăn một thoáng, nói:

- Hai người cùng là bạn ta. Trần Thiêm tuy hơn tuổi, nhưng lại cùng được bổ với ta từ năm Ất dậu (1225)
dưới thời Chiêu Hoàng. Đã bao năm cùng ta gắn bó. Còn Trần Khuê Kình với ta cũng là bạn cũ, ta chẳng giấu diếm các khanh làm gì. Ta muốn lên vùng Yên Tử tìm đường giải thoát. Ta ngán cảnh tù túng ở Thăng Long lắm rồi.

Trần Khuê Kình lại nói:

- Tâu bệ hạ, bệ hạ ở ngôi quân trưởng, không thể chỉ làm theo ý thích riêng mình mà bỏ mặc muôn dân.

Thái tôn lưỡng lự nhìn hai người bạn đồng hành, lại nhìn trời, giây lâu nhà vua nói:

- Cứ dùng dằng mãi, ta e trời sáng mất. Ta còn phải ngược lên bắc, rồi mới rẽ sang đông, là cốt đánh lạc
hướng thái sư. Ta biết thái sư không có bụng bỏ ta, thế nào người cũng dò tìm. Ta hỏi thực hai khanh, lúc này không phải là nghĩa vua tôi, mà là tình bè bạn, nếu hai khanh thuận lòng đi với ta, thì cùng đi. Nếu không thuận, hai khanh cứ trở về triều, ta không trách oán. Bởi mỗi người có một chí hướng riêng, ta không ép. Nhưng nếu trở về triều, xin hai khanh liệu lời mà nói, đừng để lộ tung tích của ta. Nói xong, Thái tôn thúc ngựa đi vượt lên.

Thiêm, Kình hai người cùng nói:

- Chúng thần xin đi theo hầu bệ hạ. Hai người, một vượt lên, một lùi lại để Thái tôn đi giữa.

Nhà vua như sợ trời sáng mà chưa xa kinh thành là mấy, nên thỉnh thoảng lại giục Khuê Kình ở phía trước.

- Khanh ráng cho ngựa đi mau hơn.

Đường hẹp, ngựa chỉ đi hàng một, nên vua tôi không trò chuyện được với nhau. Tâm trạng nhà vua thật
đau buồn. Các việc xẩy ra trong hoàng gia do sự áp đặt của ông chú, bà cô, khiến cho nhà vua bất bình. Thái tôn buồn nhất là những người trong cuộc, không một ai được lợi lộc hoặc thích thú gì về chuyện này. Nhà vua lo nhất vẫn là ông anh cả. Trần Liễu dám làm càn lắm. Từ trước, Liễu đã hục hặc chuyện ngôi thứ rồi. Nay thái sư làm nhục cả một lũ mấy anh em chị em. Liễu sẽ nhân cơ hội này mà dấy lên. Vậy là chính thái sư gieo mầm loạn. Càng nghĩ, Trần Cảnh càng uất ức về ông chú. Tuy vậy, không thể không phục ông ta là một cáo già. Lừa cho Liễu lên biên ải, ông ta bẻ hết nanh vuốt Liễu, chỉ thoáng trong phút chốc. Nếu Liễu có chống lại ông ta, cũng chỉ là chuyện đem trứng chọi với đá. Mất mạng như chơi. Chính ta lo cho tính mạng của huynh trưởng. Nhà vua lại nghĩ, nếu như sự táo tợn của Liễu mà thành đạt. Người đầu tiên Liễu giết, hẳn là thái sư. Sau đó, Liễu sẽ khử ta để lên ngôi hoàng đế mà từ lâu anh ấy trông đợi.

Miên man, nhà vua lại nghĩ đến điều Khuê Kình khuyên giải, và cũng hàm ý trách móc: “Người ở ngôi quân trưởng không thể chỉ làm theo ý thích riêng mình mà bỏ mặc muôn dân”. Nhà vua lại tự biện minh: “Dù Khuê Kình có trách ta, ta cũng đành chịu. Sự thật ta có được làm theo ý muốn được đâu”. Đúng như Chiêu Thánh đã nói toạc vào mặt ta: “Bệ hạ chỉ là một thằng hình nộm”. Từ mấy năm nay, khi đã ý thức được về các điều thiện, ác cũng như sứ mệnh của kẻ cầm quyền; ta ấp ủ sẽ làm các việc có lợi cho dân, cho nước. Nhất là từ khi được cư sĩ Phùng Tá Thang, chỉ bảo cho các điều trọng yếu của tam giáo. Hoặc những bậc học giả, có thiện tâm với dân với nước, như quan thừa chỉ khuyên nhủ ta những việc cần làm, những điều cần tránh, khiến lòng ta lúc nào cũng hồi hộp, lo sợ, như người mặc áo cỏ khô ngồi trước lửa. Có phải đâu ta không biết nghĩ đến bách tính. Không thương họ sao được. Bởi nếu không có dân thì cũng chẳng có vua. Nghĩ cho cùng, ta chịu ơn họ mới đúng, chớ đâu có chuyện họ phải ơn ta. Từ miếng cơm ta ăn, tấm áo ta mặc, chiếc xe chiếc kiệu ta đi, nhất nhất đều do những người dân lam lũ khốn khó làm ra, thế mà mỗi lần ta tha bớt tô thuế, giảm nhẹ hình án là muôn dân gióng trống mở cờ, vào hội ăn mừng, để tỏ lộ ơn mưa móc đã nhuần thấm tới xóm thôn. Ta biết, ta chỉ dối lừa họ thôi, cái đám dân đen khốn khó ấy. Ta cho họ, cái mà ta không mất. Ấy vậy mà họ vẫn cứ hớn hở mừng vui, tung hô vạn tuế.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #68 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:49:38 pm »

Vua tôi cứ mải miết đi, trời sáng lúc nào không hay. Chợt trông thấy núi Phả Lại ở phía trước, Khuê Kình bèn quay lại nói với nhà vua:

- Tâu bệ hạ, sắp tới bến đò rồi. Người ngựa đều mệt. Gần đây có một quán hàng. Xin bệ hạ tạm dừng để cho ngựa uống nước, ăn cỏ.

Thái tôn nhìn quanh quất rồi gật đầu. Nhà vua nom kỹ vào đáy mắt hai người đồng hành, xem họ có còn muốn đi với mình nữa không. Giây lát ngập ngừng, Thái tôn nói:

- Ở những nơi hàng quán hoặc đò giang sông nước, các ngươi chớ có gọi ta là hoàng thượng hay bệ hạ gì hết. Cứ gọi ta là “anh Hai”. Còn ta sẽ gọi các ngươi như tên thường ngày.

Vua tôi lại tiếp tục đi. Khuê Kình là một võ tướng, nên càng đi càng thấy khoẻ. Chỉ thương con ngựa khát
nước. Chốc chốc nó lại quệt cái mõm vào những cành lá đẫm sương bên đường, rồi lấy hơi hít hà qua hai cánh mũi phập phồng. Nhà vua tuy không mệt, nhưng nom vẻ mặt hơi bơ phờ, vì những suy nghĩ lo lắng. Duy chỉ có Trần Thiêm không tỏ lộ một nét vui buồn hay mệt mỏi nào trên khoé mắt, gương mặt. Thiêm là một người thâm trầm, biết nén giấu đi những tình cảm thật của mình. Thiêm là cháu gọi Trần Thủ Độ bằng bác. Cùng được thăng bổ với Trần Cảnh một ngày, dưới thời Lý Chiêu Hoàng. Ngày ấy Thiêm được giữ chức chi hậu cục, còn Trần Cảnh được sung chức chánh thủ. Kể về vai vế họ hàng, Thiêm phải gọi Cảnh bằng anh. Trần Khuê Kình cũng là chỗ bà con nội tộc. Khuê Kình vừa là bạn, vừa là em họ Thái tôn.

Vừa tới quán, Khuê kình săm săm dẫn ngựa vào trước, lên tiếng:

- Bớ chủ quán!

- Dạ! - Có tiếng đáp khàn khàn từ trong quán vọng ra.

Khuê Kình nói tiếp:

- Chủ quán cho gia nhân đưa ngựa vào tầu. Nhớ phải lau sạch mồ hôi trước khi cho ngựa ăn uống.

Chủ quán gọi mấy đứa nhỏ đi làm các việc khách sai bảo. Một thoáng sau, ông mới ló ra ngoài đón khách.
Ông cúi chào khách rồi dẫn vào một căn buồng phía sau.

Đúng lúc ấy, một toán ăn uống no say, người nào người ấy mặt đỏ phừng phừng, đầu thắt một rẻo khăn tang màu vàng sẫm, kéo nhau ra khỏi quán. Lúc này, vua tôi Thái tôn mới kịp nhận ra, cả ông chủ quán cũng thắt khăn tang. Rồi lại có những người mới vào quán, cũng thắt một kiểu khăn tang như vậy. Trong bụng ai cũng ngờ rằng chủ quán đang có đại tang. Nhưng trong nhà không có mùi hương khói. Không thấy tiếng khóc. Vua tôi Thái tôn nhìn nhau, ngầm như muốn hỏi nhau: “Thế nghĩa là làm sao? Có nên nghỉ lại đây không?”

Chủ quán là người tinh đời. Các ánh mắt của khách nhìn nhau ngần ngại, cũng đã lọt vào mắt ông ta. Chủ quán làm như không biết gì, cứ lặng lẽ pha trà. Mùi sen ướp trà, toả hương thơm ngào ngạt, khiến cho vua tôi Thái tôn cánh mũi phập phồng. Suốt đêm đi mệt, nay được chén trà nóng thơm ngon, thật không còn ai muốn ước ao gì hơn.

Chủ quán rót trà ra chiếc chén tống, rồi chuyên ra bốn chén quân. Ông vừa nâng một chén trà, vừa nói:
“Tam nhân đồng hành, tất hữu…1 Ông dừng lại trước Thái tôn và kính cẩn đưa mời.

Tiếp đó ông đưa cả đĩa mời Khuê Kình và Trần Thiêm.

Thấy sự lạ, Thái tôn bèn hỏi:

- Này ông chủ quán. Ba anh em ta cùng đi. Ta là người ít tuổi nhất. Tại sao ông lại đưa mời ta trước. Chả
hóa ra ông coi thường bọn ta sao?

- Thưa ông khách trẻ, chủ quán ôn tồn đáp - Đúng ông là người ít tuổi nhất trong số ba ông, nhưng ông lại là người chủ sự. Ông bé, nhưng bé hạt tiêu đấy ạ.

Cả ba vị khách cùng cất tiếng cười vui. Rồi Khuê Kình lên tiếng:

- Đúng thế! Ông chủ quán tinh thật. Với chúng tôi, ông ấy là anh, con ông bác.

Chủ quán bèn vuốt râu. Ông lão có chòm râu dài rậm với khuôn mặt hồng hào, trán cao, mắt sáng, nom có
vẻ là một người trượng phu lắm. Chủ quán lại nói:

- Xin ba ông hiểu cho. Tôi làm nghề bán quán. Nếu không phân biệt được người sang kẻ hèn, người ngay kẻ gian thì làm sao mà sống được ở cái đất nghịch này. Nói ba ông bỏ lỗi, ngay cả đến đức vua có cải dạng vi hành qua đây cũng không che được mắt tôi. Vừa nói ông ta vừa chú mục nhìn vào Trần Cảnh.

Ba ông khách lại nhìn nhau mỉm cười. Trà được ba tuần, ai nấy mới thấy bụng mình réo sôi ùng ục. Cùng lúc, mùi thơm xào nấu từ bếp bay lên, khiến mọi người cánh mũi đều nở ra. Trần Thiêm bèn hỏi:

- Ông chủ quán đã có gì cho khách ăn chưa đấy?

Đáp:

- Xin thư cho một chút, chúng tôi sẽ dâng thức ăn vừa ý các ngài.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #69 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:50:44 pm »

Mấy đứa nhỏ soạn mâm bát. Chủ quán bê ra một vò rượu thuốc. Ông vừa mở nắp vò, mùi thơm xộc ngay vào mũi khách. Chủ quán rót rượu ra bốn chiếc bát chiết yêu. Ông bê mời từng người, bắt đầu từ Thái tôn, Khuê Kình, Trần Thiêm, và ông tự dành cho mình một bát. Đứng hẳn ra một góc nhà, ông nói:

- Xin được phép mời ba vị khách quý. Trước xin các vị cùng gia chủ tôi, chúc cho linh hồn một lão bà ở thôn chúng tôi đây, mới qua đời. Cụ hưởng phúc trần gian đúng một trăm năm.

Chủ quán nói tới đây, thầy trò Thái tôn đưa mắt nhìn nhau, như đã hiểu vì sao mọi người đều chít khăn tang. Chủ quán lại nói:

- Gia chủ tôi cũng có lời chúc mừng, cuộc vi hành của đức ông đây được mạn nguyện. Nói xong, chủ quán cúi rạp trước Thái tôn.

Thái tôn đưa mắt cho Khuê Kình, Trần Thiêm, nhà vua lên tiếng:

- Cám ơn ông chủ quán hiếu khách. Anh em chúng tôi xin chúc cho linh hồn lão bà siêu thoát. Chúc cho
ngôi nhà của ông lúc nào cũng đông khách. Xin nói để ông chủ quán biết, anh em chúng tôi chỉ là thường dân thôi, chớ có cao sang vọng tộc gì mà ông gọi tôi là “đức ông”.

Trần Thiêm:

- Xin cho hỏi thêm. Lão bà được dân làng quí trọng hay lắm con nhiều cháu, mà tôi thấy người người đều
để tang.

Chủ quán vuốt râu cười ha hả:

- Trong hai điều quý ông hỏi, đều có cả. Số là như thế này. Cách đây năm mươi năm. Nhân có một bà goá
năm mươi tuổi, nuôi ba đứa con côi. Chẳng may bà bị ốm liệt giường. Người con cả phụng dưỡng lâu ngày không chịu nổi. Bèn bỏ mặc không thuốc thang săn sóc gì cả. Bà lão chửi mắng thậm tệ. Ông ta bèn cãi lại nặng lời. Rồi làm một túp lều ngay cạnh cánh rừng phía chân núi kia kìa. Chủ quán chỉ về ngọn núi trước mặt. Xong ông ta khiêng bà mẹ, đặt lên chiếc chõng trong túp lều ấy. Dân chúng biết được, đem trình xã trưởng. Xã trưởng bắt người con cả phải đưa mẹ về phụng dưỡng, rồi sửa lễ tạ trời đất, thần linh, xin lỗi với dân làng. Vì anh ta đã chà đạp lên đạo lý xã hội, nêu gương xấu trong làng. Người con cả không chịu. Làng đuổi đi. Dân làng tình nguyện sẽ thay người con nuôi bà cho đến mãn cuộc đời. Lúc bà chết, làng sẽ làm ma lớn cho bà, cả làng sẽ để tang bà, cúng giỗ bà. Đúng như vậy, năm mươi năm qua làng tôi đã để ra năm sào ruộng. Chia ra mỗi nhà cấy một sào luân chuyển nhau, nhưng phải chăm bón cho thật tốt. Được bao nhiêu thóc đem đến tận nhà cho bà chi dùng quanh năm. Những người con thứ không phải nuôi bà. Người con cả vài năm sau hối hận quay về, nhưng dân làng không tha thứ. Từ đấy, biệt vô âm tín, không biết ông ta lưu lạc phương nào. Ngừng một lát, chủ quán lại tiếp - Mất một người, nhưng làng tôi gìn giữ được thuần phong mỹ tục. Suốt năm chục năm qua, trong làng tôi không hề có chuyện con cháu dám cãi lại ông bà, cha mẹ, hoặc lơ là phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già.

Nghe xong, Thái tôn ngậm ngùi bảo Trần Thiêm đưa cho hai nén vàng. Nhà vua gọi chủ quán đến, nói:

- Anh em chúng tôi nhân qua đây, được nghe kể câu chuyện về làng ông, thật là cảm kích. Để tỏ lòng hiếu kính một mỹ tục mà dân làng đã cố công gìn giữ. Chúng tôi xin góp hai nén vàng, nhờ ông chuyển cho ông xã trưởng, nói rằng đây là lễ viếng của khách qua đường. Xin dân làng cầu siêu cho lão bà trong kỳ bách nhật.

(Sau khi trở lại nắm quyền bính trong triều, Thái tôn có nhớ lại việc này và truy phong cho lão bà hai chữ: “Tiết hạnh”. Ban cho cả làng đó một cái tên gọi là “Hiếu Thôn”, và bốn chữ “Thiện tục khả phúng”2. Nhà vua cũng cho làng này trích ra năm mẫu công điền gọi là “Hiếu điền”, dùng vào việc nuôi nấng những người già cả không nơi nương tựa ).

Cầm hai nén vàng trong tay, chủ quán lặng người đi vì cảm kích tấm lòng hiếu thiện của khách.

Cơm nước xong xuôi, vua tôi lại lên đường. Mặc dù Trần Thiêm nài ép, chủ quán nhất định không chịu nhận một đồng một chữ nào tiền cơm, rượu phục dịch.

Ra đường, vua tôi bàn mãi chuyện vừa xảy ra ở trong quán. Nhà vua nói:

- Ta chưa từng được nghe, chứ chưa nói được thấy ở đâu đó lại có được một phong tục đẹp đến thế. Ngay cả đời Nghiêu - Thuấn cũng không thấy nói đến. Ta nghĩ, nội trong làng đó phải có người hiền mới gây nổi phong tục đẹp. Lát sau nhà vua lại nói thêm:

- Chuyện xẩy ra ở làng này, vào cuối đời Lý Anh tông. Chao ôi, nhà Lý đã tạo ra không biết cơ man nào là cốt cách sâu xa, đẹp đẽ cho nền văn hiến nước nhà.

Mọi người vui câu chuyện, chả mấy chốc đã tới bến đò Đại Than. Bầu trời chói sáng. Mặt trời đã lên cao quá ngọn tre.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM