Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:02:13 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Huyền Trân Công chúa  (Đọc 41948 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #40 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 09:56:07 pm »

Quan Tư nghiệp bèn cắt nghĩa xuất xứ của bài thơ. Ngài nói:

- Bài thơ này đức Chiêu Minh làm vào năm Nhâm ngọ (1282). Năm đó tình hình bang giao giữa Đại Việt ta với nhà Nguyên khá là căng thẳng. Hốt-tất-liệt hết đòi vua ta sang chầu, lại bắt nếu không sang được thì đánh người vàng thế mạng đưa sang… Nhà Nguyên tập trung binh lực ép ta đủ điều. Thượng hoàng lúc ấy bèn sai người chú họ là Trần Di Ái cầm đầu sứ bộ ta sang thương thuyết với nhà Nguyên. Phò tá Trần Ái (tức là Trần Di Ái) còn có Lê Mục và Lê Tuân. Vua Nguyên bèn nhân cơ hội này phong cho Di Ái làm An Nam quốc vương. Lê Mục làm hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm thượng thư. Lại sai Sài Thung lúc ấy là thượng thư bộ lễ làm chánh sứ, cùng năm ngàn quân hộ tống, đưa Di Ái về nước.

Đức Hưng Đạo đã nhận mệnh trước quan gia phảI đánh tan tành độI quân của Sài Thung, bắt bọn Di Ái và dọn đường để đức Chiêu Minh đón Sài Thung về Thăng Long thương nghị. Khi Sài Thung về nước, ngài lạI đưa tiễn đến địa đầu biên ải, nhân đó làm bài thơ lưu biệt này...

Theo lệ thường, sau khi quan Tư nghiệp đã giảng giải sơ bộ về xuất xứ của bài thơ hoặc bài văn xong, các nho sinh cứ lần lượt nói lên cái ý của mình. Việc phẩm bình thơ, văn là theo giá trị đích thực của tác phẩm, chứ không câu nệ tác phẩm ấy là của ai. NgườI bình phẩm có thể khen chê tùy thích, hoặc tùy trình độ nhận thức của mình, nhưng cấm ngặt việc mạt sát tác giả, hoặc tâng bốc tác giả một cách thái quá. Quan Tư nghiệp là một ngườI mẫu mực trong việc rèn luyện nhân cách cho các nho sinh. Vì ngài cho rằng những ngườI học trò ngày nay, ngày mai chính là những ngườI trong bộ máy giúp rập triều đình, nếu tài năng và tư cách họ thấp kém, hẳn là nền chính trị của quốc gia sẽ suy sụp.

Không khí nhà học đường im phăng phắc, Huyền Trân đưa mắt nhìn mọi người, xem trong đám nho sinh kia, ai là người sẽ khai mở buổi bình thơ. Chợt nàng thấy người ngồi kế vớI ngườI mà nàng đoán là Mạc Đĩnh Chi, đang ngước đôi mắt trong veo về phía quan Tư nghiệp, đôi môi mấp máy, như muốn nói. Người này có khuôn mặt sáng sủa, trán cao, cằm bạnh, nét thông minh anh tuấn hiện lên vớI vẻ sắc sảo. Duy có điều là tuổI còn rất trẻ, khoảng độ mườI bốn, mườI lăm là cùng.Quan Tư nghiệp nhìn về phía chàng ta, ngài gật đầu nói:

- Nguyễn Trung Ngạn!

Chàng thiếu niên vụt đứng dậy:

Công chúa lúc này mới vỡ lẽ:

- Thì ra người mà cả kinh thành coi là một thần đồng, lại chính là cậu bé này đây.

Mọi người đổ xô nhìn về phía Nguyễn Trung Ngạn. Chàng chưa kịp nói thì đã có một tiểu đồng chạy vào dâng cho quan Tư nghiệp một bức thư. Ngài xem thư xong bèn nói với tên tiểu đồng:

- Con ra mời ngay quan đại an và thái tử vào. Rồi ngài nói với toàn thể cử tọa:

- Hiện có thái tử và quan đại an phủ sứ của kinh sư đến tham dự buổi bình thơ.

Niềm vui hiện lên ánh mắt lấp lánh của Huyền Trân, má nàng ửng hồng như đang có điều gì e ấp ở trong lòng.

Quan Tư nghiệp bỏ chiếc mũ bình thiên ra sửa lại búi tóc. Tóc ngài bạc trắng như cước. Ngài khoan thai
bước ra bậc tam cấp, đúng lúc hoàng thái tử và quan đại an phủ sứ cũng vừa tới. Ngài vái chào hai người. Đáp lễ xong, cả chủ, khách cùng ngồi trên bộ kỷ bằng gỗ lim đen bóng.

Mọi người vừa yên vị, quan Tư nghiệp nhìn về phía Nguyễn Trung Ngạn từ nãy giờ vẫn đứng, ngài hất hàm như khích lệ chàng thiếu niên:

- Gắng đi! Mạnh dạn nói đi!

Chàng thiếu niên nói một hồi về những lời đẹp ý hay, ngôn ngữ uẩn ảo, tao nhã của Chiêu Minh đạI vương.
Bỗng chàng đột ngột dừng lại, như muốn chuyển ý, hoặc đang cân nhắc phải nói ra một điều khó nói. Sự
chín chắn đó đã vượt khỏi tầm tuổI chàng. Giây lâu Nguyễn Trung Ngạn lại lên tiếng:

- Theo thiển ý của tiểu sinh, đây là một bài thơ hay nhưng chưa tỏ được cái hùng tâm của người làm
tướng. Chưa làm cho kẻ thù thấy được sức mạnh của ĐạI Việt.

Trần Khắc Chung cảm thấy khó chịu về lời nhận xét của một gã thiếu niên miệng còn hơi sữa, đốI với văn thơ và sự nghiệp chói ngời của một bậc huân tướng tiền triều. Nhưng ông cố kìm nén, vì ông chợt thấy sắc mặt quan Tư nghiệp quốc tử giám vẫn bình thản. Khắc Chung đưa mắt lơ đãng nhìn khắp cử tọa. Chợt ông bắt gặp ánh mắt của Huyền Trân nhìn thẳng vào ông. Trần Khắc Chung giật mình, không ngờ công chúa lạI dám đường đột vào cả chốn này? Và tự hỏI: “Nàng đi tập văn hay nàng kiếm tìm ta?” Bất giác ông thấy lòng hồi hộp.

Nối tiếp nhau dăm bảy ngườI nữa nói, cũng vẫn theo cái mạch của Nguyễn Trung Ngạn. Thái tử ngồi hí hoáy nghịch chiếc dải mũ thêu kim tuyến, thảng lại ngửng nhìn ai đó đang nói với vẻ ngơ ngác. Chứng tỏ thái tử không hiểu được người đó đang nói về cái gì.

Một phút im lặng, quan Tư nghiệp đưa mắt nhìn khắp một lượt, hỏI:

- Vậy chớ có còn ai có điều gì cần nói nữa không? Hãy suy nghĩ cho kỹ. Các người đừng có hấp tấp. PhảI hiểu và phải nói được cả cái phần không có trong bài thơ. Chiêu Minh đạI vương là một người học rộng, tài cao, trí dũng song toàn; ta ngờ rằng các người chưa hiểu thấu cái ý thâm viễn của đại vương đâu. Qua Tư nghiệp đưa tay lên xoa xoa vầng trán. Đó là dấu hiệu khi ngài có điều gì suy nghĩ lao lung. Hẳn ngài buồn vì đám nho sinh kiến văn còn hạn hẹp, nên không kiến giảI nổI cái ý sâu xa của bài thơ, cũng như không hiểu được tình thế của một nước nhỏ đối với một nước lớn trong quan hệ bang giao. Ngài rất ngạc nhiên, tại sao đám nho sinh lớn tuổI mà cũng không hiểu, hay họ còn ngại ngần gì mà cứ ngồi im phăng phắc thế. Ngài lại đưa mắt nhìn về phía họ một lượt. Bỗng ngài thấy Mạc Đĩnh Chi đang ngọ nguậy muốn đứng lên.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #41 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 09:57:20 pm »

Quan Tư nghiệp biết khả năng học trò của mình lắm. Trung Ngạn là một đứa trẻ thần đồng, học đâu nhớ đấy, học một hiểu mười. Cho dù có cái thiên bẩm thông tuệ ấy đi nữa, cũng không hiểu nổI những thế cờ chính trị rốI rắm của thời cuộc. Nghĩa là nó ngoài tầm với của tư duy một gã thiếu niên. Còn về Đĩnh Chi, tuổI có lớn hơn Trung Ngạn chút ít. Nên suy tư có chững chạc hơn. Qua những bài văn sách, quan Tư nghiệp cũng hé thấy nơi Mạc Đĩnh Chi, một nhà chính trị chững chạc. Hy vọng nơi chàng, sau này sẽ giúp rập được triều đình, trong công cuộc hưng vượng quốc gia, và kình chống với thế lực xâm lăng phương bắc. Ngài có vè hài lòng dừng cặp mắt nhân hậu nơi chàng trai có dung mạo khác thường kia. Ngài nói:

- Đĩnh Chi, hãy xét định bài thơ theo cách của con!.

Được thầy cổ vũ, Đĩnh Chi mạnh dạn nói:

- Tài thơ của đức Chiêu Minh đại vương đúng như anh Nguyễn Trung Ngạn đã phẩm bình. Điều kinh ngạc là xuất xứ tưởng như không ăn nhập gì với lời lẽ trong bài lưu biệt này. Nhưng đó lạI là dụng ý sâu xa của tướng quân Trần Quang Khải. Ngài vừa phá tan một âm mưu thâm độc nhất của vua Nguyên là Hôt-tất-liệt, mong dựng lên một triều đình bù nhìn bằng sức ép bang giao có vũ trang. Ngài cũng làm bẽ mặt, phảI nói là làm nhục Sài Thung trong chuyến công cán của y sang Đại Việt. Nghĩa là y hoàn toàn thất bại,tay trắng trở về. Để vớt vát lại phần nào thể diện cho Sài Thung, và cũng là để y nguôi vợi nỗI đắng cay vì vua tôi y thấp mưu thua trí; tướng quân làm như quên hết các chuyện vừa xảy ra. Căn cứ vào lời lẽ trong thơ, ta tưởng như đây là cảnh tiễn biệt của đôi bạn tri kỷ. Khiến cho Sài Thung phảI ngậm bồ hòn làm mật “dứt áo chia tay”. Ở đây còn có một việc lớn,, tướng quân muốn lưu tâm nhà Nguyên, nhưng ngài không tiện nói trong bài thơ. Rằng việc đánh dẹp ngoại bang xâm lấn bờ cõi, và trị tội kẻ phản nghịch là việc nội bộ của ĐạI Việt, không can dự gì tới “thiên triều”. Còn như sứ giả của “thiên triều” tới, lui đều được bản quốc tiếp rước như là một thượng khách.

Mạc Đĩnh Chi nói những điều chí lý, cả học đường im phăng phắc. Quan Tư nghiệp mắt nheo nheo như muốn cười. Ngài không khỏI sung sướng có đựoc những học trò xuất sắc như Trung Ngạn, như Đĩnh Chi.Niềm tự hào của ngài càng tăng hơn nữa, khi ngài thoáng nhìn thấy quan đại an phủ sứ Trần Khắc Chung cứ gật gật đầu, tỏ ý bằng lòng với sự kiến giải của Mạc Đĩnh Chi. Ngài còn nhìn thấy cả công chúa chăm chú nghe Mạc Đĩnh Chi nói như uống lấy từng lời. Vừa lúc Mạc Đĩnh Chi ngừng lời, nhưng chưa có gì chứng tỏ là chàng đã cạn ý. Mọi ngưòi vẫn im lặng chờ đợi. Mạc Đĩnh Chi ngước cặp mắt trong sáng nhìn về phía quan Tư nghiệp, như ngầm xin lĩnh ý thầy. Ngài khẽ nhếch mép cười và ba lần vuốt chòm râu bạc trắng, Mạc Đĩnh Chi biết đó là dấu hiệu thường thấy khi thầy đang có điều gì hoan hỉ lắm. Được thầy cổ xúy, Mạc Đĩnh Chi lên tiếng dõng dạc:

- Tiểu sinh nói điều này, chỉ sợ không đúng ý của tiền nhân. Cứ theo ngu ý thì đây là một sách lược bang giao, một quốc sách của Đại Việt ta lấy nhu chế cương. Quốc sách này hình thành từ Ngô vương Quyền, trải Đinh, Lê, Lý, cho tới bản triều ta, đều kế tiếp nốI truyền, mà đều có bổ khuyết cho muôn phần hoàn hảo. Trong đối sách của nước Việt ta qua các đời vua Trung Quốc đều tỏ ra ôn nhu. Nhu chứ không nhược. Vì thế ta vẫn giữ được nền độc lập tự chủ. Ngô Quyền nhu với nhà Nam Hán nhưng lạI giết Lưu Hoằng Thao ở sông Bạch Đằng.Lê Hoàn nhu với nhà Tống nhưng lại giết Hầu Nhân Bảo, Quách Quân Biện, Triệu Phụng Hưng ở Chi Lăng, đó là một thời. Lại một thời dùng cương để chế cương như Lý Nhân tôn sai Lý Thường Kiệt, Tông Đản đánh các châu Khâm, Liêm, Ung,, diệt hàng chục vạn quân Tống mưu vào xâm lấn cõi bờ ta. Sau trận tập kích đại thắng đó, lạI rút về phòng thủ ở bờ nam sông Như Nguyệt. Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết kéo quân sang, Lý Thường Kiệt đánh cho đại bại, nhưng lại vẫn giảng hòa, cấp ngựa xe, lương thảo cho quân Tống rút về. Vậy rốt cuộc vẫn cứ là ôn nhu. Bản triều ta đã nốI tiếp đánh quân Nguyên ba lần đại bại. Ta đánh cho Thoát-hoan phảI chui vào ống đồng trốn chạy. Ta chém đầu Toa-đô, giết Lý Hằng, Lý Quán, cầm tù Tích Lệ Cơ Ngọc, nhưng ta vẫn giữ lễ triều cống. Vì sao vậy? Âý bởi thế của ta là thế nước nhỏ, phải có phương lược của nước nhỏ. Ta với Trung Quốc, một lớn một nhỏ vẫn cứ song song tồn tại. Trung Quốc vẫn cứ phảI vờ thừa nhận sự thuần phục giả, độc lập thật của Đại Việt ta. Trong thế cờ bang giao giữa hai nước, không ai hiểu ta bằng Trung Quốc, cũng như không ai hiểu Trung Quốc bằng ta. Họ với ta, thật sự là kẻ thù tri kỷ. Cho nên bài lưu biệt của tướng quân Trần Quang KhảI với sứ Nguyên Sài Thung, thực chất là một phương lược bang giao, chứ đức Chiêu Minh đạI vương của ta quyến luyến gì kẻ kia mà: “ Vị thẩm hà thờI trùng đổ điện. Ân cần ác thủ tự huyên lương”. )Chưa biết ngày nào gặp lạI nhau, để nắm tay kể chuyện hàn huyên)...

Mạc Đĩnh Chi ngừng lời, đầu hơi cúi xuống tỏ ý kính cẩn biết ơn các bậc bề trên và các bạn đồng môn.
Qua Tư nghiệp Quốc tử giám đắc ý lại vuốt chòm râu tới ba lần. Ngài vuốt khoan thai đĩnh đạc, như người vừa được thưởng thức một chén trà ngon vào buổi sớm tinh sương. Thực tình ngài rất lấy làm mãn nguyện về kiến thức sâu sắc mà ngài đã truyền dạy cho Đĩnh Chi. Và chàng thiếu niên này biến báo chữ nghĩa của thánh hiền một cách lỗI lạc, như một kẻ có đầu óc kinh luân, chứ không phải bọn tầm chương trích cú theo lốI học cử nghiệp tầm thường.

Quan đại an phủ sứ Trần Khắc Chung không khỏi giật mình về lối lập luận, cũng như cách kiến giải đúng đắn và chính xác của Mạc Đĩnh Chi. Ông thầm nghĩ:” NgườI này kiến thức hơn ta nhiều lắm. Y sinh sau đẻ muộn, mà cứ như là y chứng kiến các sự việc đã xảy ra, như chính y là ngườI hoạch định chính sách bang giao của thời Trung hưng”.

Buột miệng, Trần Khắc Chung khen:

- Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn mai sau sẽ là những tay trụ cột của triều đình, mong rằng sự học của các người sẽ còn tấn tới nhiều nữa, để khoa thi tới đây sẽ dự vào hàng tam khôi...

Nói xong ông nghiêng người xá quan Tư nghiệp quốc tử giám. Ông đưa mắt kiếm thái tử, thì thấy thái tử đang ngồi bắt dế ở ngoài vườn. Ông cũng bắt gặp ánh mắt sáng ngời của công chúa. Bốn mắt nhìn nhau có phần như đắm đuối, như hò hẹn...
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #42 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 09:58:20 pm »

Chương 14

Trần Nhân tôn theo đường thủy từ Chiêm Thành về. Vừa tới Thăng Long, nhà vua đã sai sửa lễ để ngài vào bái yết trong nhà thái miếu. triều thần theo đến làm lễ đông đủ. Trải gần chín tháng vừa đi về, vừa ở lại đất Chiêm, nhà vua không những khỏe mạnh mà lại có phần nhuận sắc ra. Các quan lấy làm mừng lắm. Vua Anh tôn luôn theo hầu bên cạnh thượng hoàng. Công chúa Huyền Trân cũng không rời cha một bước.

Cáo nhà thái miếu xong, vua Nhân tôn hỏi han sức khỏe và công việc của từng người. Các quan nóng lòng chờ đợi thượng hoàng kể chuyện người vào đất Chiêm. Nhà vua mỉm cười nhìn khắp lượt các quan, ngài nói:

- Chiêm Thành là một nước có nền văn hiến cao. Dân Chiêm tôn thờ quốc vương của họ như tôn thờ một vị ác thần. Bởi họ chỉ kính sợ mà không dám gần gũi. Nền kiến trúc và nghề hàng hải của họ phát triển ngang nhau. Họ có nhiều tôn giáo. Đạo Bà-la-môn được coi là quốc giáo. Nhà vua cũng theo đạo này. Đạo Phật là đạo lớn thứ hai sau Bà-la-môn. Phật giáo Chiêm Thành theo phái Tiểu thừa và cả Đại thừa, như ta. Nhà sư Du Già sang ta hồi đầu năm, là giáo chủ Phật giáo Chiêm Thành. Chiêm quốc cũng mới có một nhóm người theo đạo Hồi, Nhà vua không cấm, nhưng đạo này còn ít người theo. Người theo đạo Hồi, không ăn thịt lợn, không nuôi và không giết lợn. Họ thờ con lợn như một vị thần. Cũng như người Bà-la-môn không ăn thịt bò, và  thờ bò như thờ thần. Ta nghe nói có một số giáo sĩ thuộc loài bạch chủng, vào Chiêm xin truyền đạo của Tây dương, nhưng nhà vua không thuận. Ngoài ba tôn giáo đó ra, người Chiêm không thờ các tạp thần. Về phần chữ nghĩa, nước họ cũng có. Chữ Chiêm giống như chữ Phạn theo thổ âm của họ, giống như ta đọc chữ Trung Quốc.

Đột ngột Trần Nhân tôn ngừng lời quay sang hỏi vua Anh tôn:

- Mặt bắc thế nào quan gia? Từ khi ta vào Chiêm tới nay, người Nguyên có động tĩnh gì không?

- Muôn tâu phụ hoàng, không có chuyện gì lớn xảy ra.

- Thế còn chuyện nhỏ xảy ra là cái gì? - Nhân tôn hỏi lại:

- Bẩm phụ hoàng, lính Nguyên xui dân bên đó sang cày ruộng của dân bên này. Có chỗ lính của họ đóng
giả dân thường, sang gặt lúa của ta. Họ cãi bừa là đất ruộng của họ, dân ta cày cấy thì họ gặt. Quan lại sở tại giải quyết việc này đã êm cả.

- Quan gia nói lại ta nghe cách giải quyết các vụ tranh đoạt?.

- Bẩm phụ hoàng, đám dân sang gặt đó, quan sở tại mời tất cả về công quán, cho ăn uống tử tế, rồi hỏi
họ tại sao dám liều lĩnh như vậy, có đúng là ruộng ấy họ đã sở hữu từ trước không. Chúng đều trả lời là do quan địa phương bên Trung Quốc xui, còn bọn lính thì thúc bách họ. Viên huyện lệnh đã có làm tờ biên bản tường thuật lại đầu đuôi sự việc, bắt họ ký cả vào đó. Còn đám lính bị ta bắt, cho ăn uống no say, cũng khai là do quan sở tại bắt đi. Viên huyện lệnh đã làm biên bản bắt chúng ký, rồi tha về hết. Tất cả bọn chúng đều hứa từ nay không dám làm càn như thế nữa. Bên ta đã cử viên tri phủ sang gặp an phủ sứ của họ. Nói cho họ biết các sự việc diễn ra do cấp dưới của họ gây nên. Ta cũng cho họ xem biên bản, và bảo, nếu họ còn để việc trên tái phạm sẽ tâu về Yên Kinh(Bắc Kinh ngày nay) . Họ hứa là sẽ giữ nghiêm lệnh của triều đình.

Vua Nhân tôn thở dài:

- Vậy chớ quan gia và các khanh có ngờ rằng đấy lại chính là chủ ý của triều đình nhà Nguyên không?.

Mọi người ngơ ngác. Vì không có ai ngờ một nhà nước lớn như thế, lại xui dân gây sự bất hòa với lân quốc
bằng những điều nhỏ mọn, mà ngay đám tiểu nhân cũng không bao giờ làm. Vua Nhân tôn nói với giọng ngùi ngùi:

- Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền
nói một đường làm một nẻo. Vả lại, phải xem đây là mưu của người Trung Quốc. Chỉ người Trung Quốc mới
nghĩ ra các thứ mẹo vặt ấy. Ngoại trừ những điều nhân nghĩa ra, thì các nhà cai trị Trung Hoa không việc gì là họ không làm. Từ những việc kinh thiên động địa đến việc táng tận lương tâm, miễn sao họ có lợi. Cũng nên nhớ, đây còn là quốc sách truyền thống của người Hoa Hạ (Người Trung Quốc xưa thường cho dân tộc mình là nòi giống đẹp đẽ nhất hoàn vũ, nên gọi là Hoa Hạ)  từ ngày họ mới lập nước tới nay. Các người có nhớ hồi đánh giặc Thát, ta chỉ ngại cái đám mưu sĩ người Tống, đầu hàng nhà Nguyên, lẩn vào trong đó. Cho tới khi trừ được bọn Lý Hằng, Lý Quán rồi ta mới yên tâm đánh bọn Thoát-hoan, Tích Lệ Cơ Ngọc. Bọn người Thát, trước sau gì cũng không nuốt nổi Trung Hoa. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Quốc. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #43 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 09:59:05 pm »

Ngừng một lát, nhà vua lại nói:

- Ta vào Chiêm có bàn bạc kỹ với quốc vương Chiêm: Chế Mân. Ông ta là một người vừa trung hậu, vừa hào hoa nhân ái. Vương quốc của ông ta giàu có. Dân chúng cần cù, khéo léo tay chân. Cứ xem những đền, đài, tượng, tháp hoặc chùa, Phật của họ, ta cứ tưởng sức người không làm nổi, mà phải có thần linh giúp rập. Nhưng không, chính mắt ta thấy những người thợ đá, họ tạc những bức tượng vũ nữ, những con chim thần khiến ta tưởng như đó là người đang múa, chim đang bay vậy.

Trần Huyền Trân, con gái yêu của thượng hoàng đang ở tuổi trăng tròn, lòng đầy mơ mộng, nghe cha kể về một xứ sở kỳ lạ khiến nàng có cảm giác đó là xứ sở của thần tiên. Từ bữa vua cha trở về, nàng lẽo đẽo theo cha từng bước, nghe đủ thứ chuyện, hỏi không biết bao nhiêu điều. Nàng đón nhận từng lời nói của vua cha, như người đi lâu ngày trên sa mạc khát bỏng, hít hà lấy từng giọt sương đêm. Huyền Trân không những chỉ có nghe, mà trí tưởng tượng của nàng còn vẽ ra cả một thế giới của người Chiêm cực kỳ sống động, hệt như thế giới cực lạc trên cõi Niết bàn.

Chợt Trần Nhân tôn bắt gặp khuôn mặt kỳ ảo của con gái, dường như ngài đọc được cả ý nghĩ của con. Tự nhiên ngài thấy có gì nhoi nhói ở trong lòng, khi ngài nghĩ đến tương lai của Huyền Trân. Ngài tự nhủ: Con yêu quí của cha ơi. Lẽ nào số phận của con lại không được tốt đẹp như cha mong muốn. Chao ôi, cái xứ sở kiêu hùng và đau đớn của ta, số phận mỗi con người đều gắn chặt với số phận của đất nước. Cả như con ta cũng không tránh khỏi điều đó nữa sao? Nếu như không có cái nước Trung Hoa khổng lồ quái quỉ và ác độc ở cạnh ta ám ảnh, chèn ép, bức bách và lúc nào cũng chỉ rình rập, thôn tính ta, thì thần dân ta đâu đến nỗI trăm bề cực nhọc thế này. Nếu mỗi người dân Đại Việt không ý thức được phải làm gì cho đất nước giàu có và hùng cường, đủ sức mạnh để vượt lên kẻ thù, thì ngàn năm sau ta vẫn cứ mãi là cái bóng mờ nhạt của con quỷ này, và phụ thuộc vào nó. Ước chi Trời Phật giúp ta phép lạ, ta sẽ di chuyển cả quốc gia Đại Việt này tới một miền nào mà các dân tộc, các quốc gia cùng sống trong cảnh hiếu hòa, bình đẳng và yêu thương nhau như người trong một nhà. Sau khi cả quốc gia ta di chuyển rồi, nơi đây sẽ là một vành đai chết. Sẽ không có một quốc gia nào chung sống với nó nữa. Nó sẽ trở thành một con quỷ cô đơn…

Nhà vua sực nhớ là mình đang nói chuyện với quần thần về nước Chiêm. Định thần một lát, người nói tiếp:

- Ta phảI vui mừng báo cho các khanh một điều. Ở Chiêm có giống lúa gặt vào tháng 5. Ta chưa từng thấy có lúa chín vào tháng 5. Họ cũng có lúa gặt vào tháng 10 như ta. Vậy là một năm họ có tới hai vụ lúa. Dân tình no ấm lắm. No là vì họ nhiều lúa gạo. Ấm là vì họ có nghề trồng bông, dệt vải. Ấm còn vì quanh năm nắng đẹp. Ở Chiêm không có mùa đông lạnh giá. Cây cối của họ bốn mùa xanh tốt. Nhiều giống hoa đẹp quả ngon. Ồ, ta có lấy về được một ít giống lúa gặt vào vụ tháng 5, gieo cấy vào đầu tháng giêng. Nếu việc này nhờ ơn Trời Phật mà thành, dân ta một năm sẽ có hai vụ lúa, hẳn là không còn phảI lo thiếu đói nữa.

Sắc mặt các quan bừng lên rạng rỡ. Ai nấy đều mong ngóng đến một ngày nào đó vào tháng năm, những cánh đồng bạt ngàn xưa kia bỏ hóa, nay là những cánh đồng lúa chín vàng, như lúa vụ mười. Vậy là ta có gấp đôi số lúa hiện có.

Nhà vua lại nói:

- Trưởng lão Phật giáo Chiêm quốc là người tâm đắc với ta, có cho ta được độ một đấu thóc giống. Ta đã giao cho lão Thái cất giấu cẩn thận, nay mai ta giao lại cho Nhữ Hài trông nom việc gieo cấy rồi nhân giống ra. Một hạt thóc này quí bằng cả trăm nén vàng. Nếu sơ suất để chuột, chim phá hoại mất giống, ta sẽ trị tội ngang với tội phản quốc. Các người phảI nhớ, việc cấy được giống lúa này, có quan hệ đến vận mệnh nước nhà. Lúa lấy giống từ Chiêm Thành về, nên ta đặt tạm cho nó cái tên là Lúa Chiêm.

Ngừng một lát, nhà vua lại tiếp:

- Điều hệ trọng nhất trong chuyến vào Chiêm này ta đạt được, ấy là ta đã phân giải thấu đáo với vua
Chiêm, để Chế Mân thấy được cả Đại Việt và Chiêm Thành đều nằm trong mưu đồ thôn tính của các triều đại Trung Hoa. Vậy hai nước phảI liên kết lại trên tình huynh đệ, để tạo ra sức mạnh chống lại các cuộc xâm lăng của phương bắc.

Việc này ta đã thận trọng cân nhắc, các ngươi chớ có làm điều gì hồ đồ hại đến chữ tín, khiến người Chiêm phải nghi ngờ. Ta cũng đã nói hết nhẽ với Chế Mân. Nhưng quả thật ông ta đang ở vào thế bí. Theo nhà Nguyên, nhất định Đại Việt chống lại. Liên minh với Đại Việt, hẳn nhà Nguyên đe dọa. Vả lại, ngay trong nước cũng còn có thế lực muốn chống ông ta. Cho nên muốn tạo được thế liên minh bền vững với Chiêm, ta phảI làm được hai điều: Một là giúp cho Chế Mân đủ mạnh để trong thì chế được kẻ muốn chia rẽ chống đối, ngoài thì kẻ thù phải nể sợ. Hai là, phảI làm cho mỗi người Chiêm, từ vua quan tới thứ dân tin vào lòng thành thật hòa hiếu của Đại Việt. Cho nên các ngươi từ tướng lĩnh ngoài biên ải, đến các sứ đoàn vào Chiêm, nhất nhất không được làm điều gì khinh xuất, để có thể tổn hại đến tình bang giao hữu hảo giữa hai nước. các ngươi nên nhớ, người Nguyên như loài cú vọ, lúc nào cũng rình rập, hễ ta sơ hở là họ sấn sổ nhảy vào ngay. Cứ xem hành vi các sứ đoàn của họ ở Thăng Long này và ở Chà Bàn, là ta biết hết ruột gan họ… Nhà vua đột ngột dừng lời, vẻ như cân nhắc, rồI tiếp:

- Còn miền đất hai Châu, sẽ được Chiêm Thành trả lại Đại Việt bằng con đường tế nhị, tránh việc nhà Nguyên gây khó dễ cho ta. Việc này ta sẽ bàn kỹ với quan gia, các ngươi cứ yên tâm, ta không bao giờ để một tấc đất của Đại Việt lọt vào tay kẻ khác. Nhưng ta còn muốn không bao giờ có nạn can qua, diễn ra trên mảnh đất thấm biết bao máu của người Việt mình, từ bao đời nay đông kết lại…
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #44 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:00:10 pm »

Chương 15

Mấy bữa nay trong lòng Huyền Trân trở nên xáo trộn. Nàng coi Trần Khắc Chung như một thần tượng và ao ước chiếm lấy. Bỗng gặp Nguyễn Trung Ngạn cậu thiếu niên thần đồng và Mạc Đĩnh Chi, chàng thanh niên tài năng vào bậc siêu việt, khiến lòng nàng xao động, không biết hướng tâm thức mình về nẻo nào. Nhưng Trung Ngạn tuổi còn nhỏ quá, thành thử tuy nàng có phục tài, mến đức những người đó, rốt cuộc vẫn cứ phân vân. Với Trần Khắc Chung, sau buổi tao ngộ trong cuộc bình văn, Huyền Trân có lại phủ đường thăm ông. Trong câu chuyện, cũng như qua các buổi xướng họa thơ, phú, Huyền Trân chợt nhận ra một Khắc Chung khác, không giống với Khắc Chung đã xông pha vào trại giặc, giữa muôn chết vẫn khảng khái, ung dung.

Huyền Trân tự hỏi: "Tại sao mình mến mộ ông ta mà ông ta cứ phải lảng tránh. Nghe nói ông ta cũng lảng tránh cả vợ con, gia đình. Lại không thiết gì tới cả việc xây dinh lập phủ. Thế là cớ làm sao? Ông ta là một con người khó hiểu, một viên quan lớn vào loại ương gàn chăng?"

Huyền Trân là một công chúa đài các còn trong trắng, thơ ngây, làm sao nàng có thể thấu hiểu được sự phức tạp ở đời. Nàng đâu biết Khắc Chung còn phải đối phó với biết bao ngón đòn ngầm, của những kẻ không ưa ông. Đâu có phải chuyện ngẫu nhiên ông bỏ vợ bỏ con, bỏ nhà cao cửa rộng, kẻ hầu người hạ với cả một lũ tỳ thiếp xinh đẹp để đến ở nơi công đường tẻ ngắt. Chẳng qua là gia đình ông nhạc của Khắc Chung, hồi quân Thát sang xâm lấn đã đầu hàng người Thát. Vì vậy mà tất cả tài sản của gia đình nhà vợ bị tịch thu. Để tránh sự liên lụy, Khắc Chung bỏ luôn cả gia đình, vợ con để sống cuộc đời đơn độc. Sự ly thân đó, cốt để bày tỏ lòng trung của mình với triều đình. Bỏ lửng lơ thế thôi, chứ ông ta không đoạn tuyệt. Còn việc không xây đình lập phủ, không phải do ông quá liêm khiết như nhiều người tưởng. Mà cái chính là xây để làm gì, xây cho riêng một mình ông ta ở thì thật là không cần thiết. Việc đời u minh uẩn khúc như thế thì Huyền Trân, một nàng công chúa cành vàng lá ngọc trong chốn khuê môn, lại mới chỉ mười lăm  mười sáu tuổi, hiểu sao thấu được.

Còn về phía Khắc Chung, ông ta có biết rằng công chúa tỏ lòng mến mộ ông, gửi gắm tấm lòng nơi ông không? Một người từng trải như Khắc Chung, làm gì ông ta không hiểu điều đó. Chẳng qua là ông ta giả tảng như vô tình không để ý đến chuyện gì cả, cũng chỉ là một cách nén giấu tình cảm của mình. Mặt khác ông ta cũng tự hiểu mình, chẳng qua trời phú cho vóc người và khuôn mặt trẻ lâu, chứ tuổi tác ông ta cũng đã ngoại tứ tuần, con cháu nội ngoại đề huề cả. Bây giờ nếu muốn chiếm được Huyền Trân, ông ta phải tự bộc lộ được một tài năng xuất chúng, khiến cả thượng hoàng và quan gia hết lòng yêu quí, tới mức ông ta xứng đáng được vời làm phò mã. Lúc đó ông ta lại phải tuân thủ một điều thứ hai nữa, là phải bỏ vợ cũ, vì con vua không bao giờ phải làm thứ thiếp đại thần. Nếu như không hội đủ các điều kể trên, mà ông ta vướng vào chuyện tai tiếng với công chúa, chắc chắn sẽ rầy rà, nguy hại. Làm gì ông ta không biết gia pháp nghiêm ngặt của đức Tuyên từ thái hậu, đến quan gia cũng phải khép nép cúi đầu.

Vì lẽ đó mà Trần Khắc Chung không dám mặn mà đáp ứng tình cảm của Huyền Trân, chứ đâu phải ông ta cao đạo không muốn tỏ tình với nàng. Cũng không có trở ngại gì về chuyện đồng tông, đồng tộc. Bởi lẽ nhà Trần cấm con trai, con gái lấy người dị tộc. Ấy là sợ cái họa khác máu tanh lòng, sinh nghi, sinh biến. Mà Khắc Chung đã được ban quốc tính rồi, còn lo gì nữa. Nhẽ đời là thế, Huyền Trân không phân giải được nên càng ấm ức. Giữa lúc công chúa đang đắm chìm trong suy tư thì Bích Huệ nhìn ra cổng, nàng giật mình kinh hãi khi thấy thượng hoàng đã vào tới trước sân, nàng nói líu cả lưỡi:

- Bẩm công nương, thượng hoàng tới !.

Vừa lúc đó Nhân tôn đã bước đến bậc thềm. Công chúa choàng đứng dậy, cả mấy thầy tớ ùa ra đón nhà vua.

Huyền Trân quì trước vua cha nói, giọng thổn thức cảm động:

- Muôn tâu phụ hoàng, con thật có tội. Phụ hoàng đến sao không cho con biết trước.

Nhà vua dang hai tay ra đỡ con gái đứng dậy và nói:

- Ta tới thăm con, sớm mai ta về Yên Tử.

Công chúa òa khóc nức nở, nàng rờ lên tấm vai gầy của vua cha với lần áo mỏng, ngoài khoác thêm chiếc áo cà sa đã cũ. Hai bên khủy tay đã sờn, công chúa nói qua tiếng nấc nghẹn ngào:

- Sao phụ hoàng lại đầy ải tấm thân quí giá thế này. Trời rét đến cây cau, cây nhãn cũng táp lá trắng cả vườn thế kia mà phụ hoàng vận mỏng manh quá. Thiếu chi vóc lụa mà phụ hoàng phải dùng thứ xô gai quê mùa này.

Nhà vua vuốt nhẹ bàn tay lên mái tóc Huyền Trân, với giọng âu yếm, ngài nói:

- Con ngồi xuống đây, đức vua chỉ cái kỷ kê sát tường-ngồi xuống, nhà vua nhắc lại, -nay ta có câu
chuyện cần nói với con, kẻo mai ta đi sớm.

Công chúa vừa ngỡ ngàng, vừa bối rối. Nàng không thể đoán biết được vua cha có điều gì quở trách. Hay là có đôi lần nàng gặp gỡ thăm viếng Khắc Chung. Chuyện đến tai vua cha thật ư? Mặt nàng ửng đỏ, như tự thẹn với mình. Chẳng lẽ lại có kẻ nào mách lẻo với vua cha sao? Cứ băn khoăn tự vấn lòng mình, một lúc sau, Huyền Trân mới lên tiếng:

- Lạy trình phụ hoàng, chẳng hay con có điều chi lầm lỡ, phụ hoàng răn dạy, con xin đổi lỗi. Nói xong nàng toan quỳ sụp dưới chân nhà vua.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #45 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:00:50 pm »

Vua Nhân tôn vội đỡ công chúa dậy, ngài nói:

- Huyền Trân! Con có tội tình gì đâu. Ta đến đây có việc hệ trọng cần bàn với con.

- Dạ thưa phụ hoàng, phụ hoàng có điều gì dạy bảo con xin lĩnh ý.

- Con thử xem, ta vào Chiêm thành gần một năm trời là vì sự đạo hay vì việc nước?.

- Thưa phụ hoàng, con là phận gái trong chốn khuê môn, con đâu biết được cao ý của phụ hoàng. Nhưng theo sự ngu dại của con phỏng đoán thì phụ hoàng vào Chiêm vì sự đạo.

Vua Nhân tôn mỉm cười, giọng âu yếm ngài phán:

- Con nói có phần đúng nhưng chưa đủ.

- Bẩm phụ hoàng, con không hiểu.

- Có gì khó hiểu đâu con. Con bảo ta vào Chiêm vì sự đạo. Điều đó đúng. Ta muốn đi xem xét và trao đổi
về sự truyền bá đạo Phật ở xứ Chiêm thế nào, có gì khác với Đại Việt, và hay hơn Đại Việt thì ta học. Bởi lẽ Đại Việt và Chiêm quốc cùng trong một tông giáo.

- Thưa phụ hoàng, vậy chớ sự đạo ở Chiêm và ở ta có gì khác nhau không ạ?.

Câu hỏi của công chúa ngây thơ mà giản dị, nhưng thật khó trả lời. Suy nghĩ một lát nhà vua nói:

- Về căn cốt đạo Phật dù ở Chiêm hay ở Đại Việt đều giống nhau con ạ. Nghĩa là đưa chúng sinh từ bể khổ
tới bờ vui, từ nô lệ tới giải thoát. Còn khác nhau là ở chỗ vị trí xã hội của đạo Phật ở Đại Việt được triều
đình coi là quốc giáo. Nhưng ở Chiêm Thành quốc giáo của họ do phái Bà-la-môn thống trị. Phật giáo ở Chiêm, ta thấy cũng có nhiều người theo. Chùa chiền san sát, kiến trúc nguy nga lắm. Chế Mân cũng có đôi lần theo ta và nhà sư Du Già đi lễ Phật. Ông ta tỏ ra am hiểu về Phật pháp và ngưỡng mộ đạo Phật lắm. ta vào Chiêm, thật lòng vì sự đạo. Ta vun bón cho cây đạo ngày càng sum suê tỏa bóng. Ta nghĩ dù người Việt hay người Chiêm, khi đã cùng một tông giáo thì dễ bề cảm thông nhau lắm. Vì vậy, nói ta vào Chiêm vì sự đạo cũng có nhẽ đúng. Nhà vua ngừng lời. Ngài đăm đắm nhìn vào công chúa mà như nhìn vào cõi hư vô. Tâm trí ngài như đang phiêu diêu nơi miền xa đất lạ. Chợt nhà vua quay lại nhìn con gái với cái nhìn bao dung, trìu mến. Ngài nói:

- Ta vào Chiêm vì sự đạo, hẳn nhiên là thế. Nhưng cũng còn vì sự đời nữa con ạ. Đạo với đời đâu có tách biệt được. Ta có thể ví: đời là thân xác ta, đạo là linh hồn ta. Bởi vậy, ta vun đắp cho đạo, cũng tức là vun đắp cho đời.

Công chúa ấp úng toan nói, mắt nàng long lanh sáng như cầu xin vua cha cho phép nói. Vua Nhân tôn khẽ gật đầu.

Huyền Trân cung kính thưa:

- Bẩm phụ hoàng, chẳng hay bên Chiêm quốc có điều gì làm cho phụ hoàng phải bận tâm lắm không ạ. Đám
sứ thần người Nguyên ở bên đó cao ngạo hay họ cũng đã tập biết điều như ở Thăng Long ta?.

Đức vua thở dài như nén giấu một điều gì không tiện nói ra cùng con gái. Đoạn ngài chậm rãi đáp:

- Con đã biết quan tâm đến quốc sự, điều đó làm cho ta vui sướng. Song ta buồn vì phận con chắc là gian truân sóng gió. Chẳng biết ta có còn sống được bao lâu để che chở cho con. Ta chẳng nói con cũng biết. Người Nguyên không lúc nào thôi dòm ngó Đại Việt ta. Ba phen họ đại bại trên đất ta. Hẳn là họ chẳng nguôi hận. Nay vào Chiêm, ta mới rõ họ đang mưu toan câu kết với Chiêm, để có cơ hội đánh ta từ hai mặt. May mà Chế Mân còn tỉnh táo. Nhưng triều đình đã có sự phân tâm. Trong đám đại thần cùng hoàng thân quốc thích, đã có một số người lén lút cố kết với bọn sứ thần nhà Nguyên tại kinh đô Chà Bàn. Hồng phúc Đại Việt ta còn lớn, nên trời xui ta vào Chiêm gỡ được thế cờ đang rắc rối. Giọng nhà vua bỗng nghẹn lại. Người đang lúng túng như không tìm ra lời lẽ để diễn đạt cái ý của mình. Mãi sau, ngài mới nói:

- Ta thật có lỗi với con.

Công chúa kinh ngạc vội quì lạy vua cha. Vua Nhân tôn đỡ con dậy, ngài quay nói với mấy người hầu gái của Huyền Trân:

- Các con tạm lui ra ngoài. Ta có việc cần bàn với công chúa.

Huyền Trân biến sắc mặt. Nàng không hiểu có chuyện quốc gia đại sự hay sắp có tai biến gì đây.

Đức vua nói:

- Con hãy bình tâm, lắng nghe ta nói. Ta muốn biết chủ ý của con. Việc Chiêm quốc như ta đã nói. Vậy theo ý con, nên quyết ra sao?.

Huyền Trân lúng túng. Vì chưa bao giờ công chúa để tâm đến một việc quá lớn như vậy. Thường là trách
phận của triều đình lo các việc đó. Bỗng nàng sực nhớ đến bữa nào đọc :"Tam quốc", và chợt lóe ra kế sách của Khổng Minh dâng Lưu Bị khi ông quyết định chia ba thiên hạ. Huyền Trân đĩnh đạc thưa:

- Lạy trình phụ hoàng, chẳng hay sách lược :"Bắc cự Tào Tháo, đông hòa Tôn Quyền" của Gia Cát tiên sinh, phụ vương nghĩ thế nào ạ?.

- Phải chăng con muốn nói: "Bắc cự Nguyên, nam hòa Chiêm?".

- Thưa vâng.

- Ta cũng chủ trương như vậy. Song le trước mắt ta vẫn mong hòa cả mặt bắc lẫn mặt nam. Hiện thời
người Nguyên chưa dám động binh. Họ còn đang mài nanh giũa vuốt chờ cơ hội. Nên chi ta phải phá hợp tung này. Thế của ta không như thế của Ba Thục. Hiện thời người Nguyên vẫn còn phải nể ta, người Chiêm vẫn còn kính trọng ta. Họ nơm nớp lo sợ ta cất quân đòi vùng đất hai châu. Vả lại,ta cũng đang lo dẹp bỏ ý đồ tiến đánh phương nam của một vài vị trọng thần. Đánh phương nam. Đó chỉ là hạ sách.

- Lạy phụ hoàng, con thật không hiểu ý phụ hoàng. Nếu không đánh phương nam thì làm sao thu hồi được đất hai châu? Con thấy các quan bàn tán việc này xôn xao lắm. Nhiều người còn oán phụ hoàng quá nhún với đám người Chiêm.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #46 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:01:25 pm »

Vua Nhân tôn mỉm cười độ lượng:

- Trọng trách thu hồi miền đất hai châu, ta đã đặt lên vai con. Chỉ có con mới làm được việc đó. Nếu dùng binh lúc này là trúng kế độc của người Nguyên.

Nghe vua cha nói, có điều gì như quanh co, uẩn khúc. Công chúa lấy làm lo ngại, nàng ấp úng thưa:

- Trình phụ hoàng, con thật không hiểu ý cha.

- Có gì khó hiểu đâu con. Ta chỉ ân hận không hỏi được ý con trước khi ta quyết việc này. Ấy là ta muốn thật tâm hòa hiếu với Chiêm quốc. Ta đã nhận lời mai mối của giáo chủ phật giáo Du Già, muốn ta cho con tác hợp với quốc vương nước họ. Nếu như chiếc cầu nhân duyên giữa con với Chế Mân mà thành đạt mỹ mãn, sẽ là chiếc cầu nhân nghĩa lâu dài và cũng là niềm phúc hạnh cho hai quốc gia. Ta thấy Chế Mân là một vị vua sáng. Lại được con cùng các bầy tôi lương đống giúp rập, hẳn là Chiêm quốc sẽ trở thành một quốc gia giàu mạnh, song song cùng với Đại Việt ta trường tồn. Như thế, cả hai nước đều tránh được can qua. Mà nguy cơ xâm lấn từ mặt bắc cũng ngày càng giảm thiểu. Việc ta hứa gả con cho Chế Mân mới chỉ có vương huynh con cùng vài người tâm phúc được biết. Ta đã cân nhắc kỹ lắm. Cuộc nhân duyên này là cân sức cân tài. Chiêm quốc không phải ở thế mạnh ép buộc được ta. Việc con về Chiêm, không giống như việc nhà Hán đem Chiêu Quân cống cho người Hồ. Vua Chiêm còn không dám tự ý cầu hôn. Chẳng qua ta thấy mến cái đức của ông ta, và cũng vì công việc lâu bền của quốc gia, nên ta chủ trương tác thành cho con. Nhưng ta cũng không muốn ép buộc con. Nếu con cảm thấy việc này là khiên cưỡng, ta sẽ có cách nói lại với Chế Mân. Ông ta cũng là một người diệu lý diệu tình lắm.

Ngừng một lát như để suy ngẫm thêm, nhà vua lại nói:

- Cũng chưa có gì phải vội vã đâu con. Bởi lẽ bây giờ đang thời bình, ta không muốn thúc bách con. Nhà vua ngừng lời, như để nén giấu một điều gì cay đắng rồi tiếp: - Nay được sống trong cảnh thái bình, nhớ lại thời loạn giặc Thát, ta cũng thấy thương hoàng cô An Tư. Vì nước mà hoàng cô phải đem thân làm mồi cho giặc dữ, chỉ mong cầm chân chúng chậm đường tiến binh trong giây lát. Ấy là nói lúc thế nước đang nghìn cân treo sợi tóc. Chứ bây giờ thế ta vững như bàn thạch. Lo gì.Vậy ý con ra sao? Nhà vua nhìn vào tận mắt Huyền Trân gặng hỏi.

Công chúa bậm môi, ứa lệ, nàng không hề có mặc cảm gì oán thán vua cha, hoặc tiếc nuối cho thân phận mình, mà chỉ thấy xót thương cho vua cha. Vua cha suốt một đời lận đận hết lo đánh giặc lại lo an dân. Nay muốn an thân nương mình nơi cửa Phật, người vẫn không đành tâm phó thác việc nước cho vương huynh và triều đình. Việc gì người cũng phải để tâm tới. Người tác thành cho ta, ôi cái chuyện lương duyên đó, biết đâu chẳng phải là vận số. Vả lại, người chẳng nói đặt lên vai ta một trọng trách thu hồi miền đất hai châu. Vậy đó còn là nghĩa vụ đối với quốc gia nữa. Công chúa chợt nhớ tới một câu trong kinh sách: "Quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách". Kẻ thất phu còn có trách nhiệm với non sông đất nước, huống chi ta đã có học hành, đã biết được đôi điều phải quấy. Sao ta nỡ chối từ các sự việc lớn lao mà người đã chủ trương. Nghĩ vậy, Huyền Trân bèn quì xuống vái vua cha rồi nói:

- Lạy trình phụ vương, phận con là gái, phụ vương dạy thế nào con xin vâng.

Đức Nhân tôn đỡ con dậy, ngài mỉm cười sung sướng:

- Con là một đứa con chí hiếu, tận trung. Ta biết lấy chi ban khen cho tấm lòng ưu nghĩa ấy của con.
Chính con sẽ góp phần làm cho vương triều của ta thịnh vượng, sự nghiệp của các tiên đế để lại vì thế mà trường tồn với non sông Đại Việt.

Ngài như còn muốn biểu dương cả công lao giáo dưỡng của hai hậu (Hai bà Khâm từ thái hậu và Tuyên từ thái hậu là vợ vua và cũng là hai chị em ruột, con của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Bà Khâm từ mất sớm, Huyền Trân được bà Tuyên từ nuôi dạy. Tuyên từ không có con, nên coi các con của Khâm từ như con mình) . Nhưng Huyền Trân đã kịp thưa:

- Bẩm phụ vương, ơn sinh thành của phụ vương cao sâu như trời bể, con dẫu có xông vào nước lửa hiểm nguy muôn chết, cũng chưa hồ dễ báo đền được gang tấc, xin phụ vương chớ có bận tâm nhiều tới tấm thân bé mọn của con.

Vua Nhân tôn lặng thầm giây lát rồi ân cần nói:

- Con yêu dấu của ta! Ta vui mừng vì con còn nhỏ mà chí lớn. Hẳn rằng con sẽ xứng đáng với kỳ vọng của
ta. Không phải con cứ thế này mà về Chiêm được đâu. Nếu con đã an lòng, để ta nói với đức Tá thánh thái sư, dạy con biết những điều lễ nghĩa, những phong tục tập quán của Chiêm quốc. Người cũng dạy con cả ngôn ngữ văn tự của xứ Chiêm nữa. Sao cho khi về làm dâu đất người, con không còn bỡ ngỡ. Rồi ta cũng sai người triệu các vữ nữ Chiêm hiện còn ngụ ở thôn Bà Già, nằm trong các ấp thang mộc của các đời vua nhà Lý bên Kinh bắc, về đây luyện cho con ngón đàn cùng những điệu múa xứ Chiêm. Có nhẽ rồi con cũng phải đến luôn cái làng Chiêm bên đó, để xem xét, rèn tập những điều cần thiết nhất trong đời sống của người Chiêm. Chẳng hay ý con thế nào?.

- Bẩm phụ hoàng, con xin lĩnh ý.

Sau cuộc trò chuyện với công chúa, vua Nhân tôn lấy làm đẹp ý, ngài lui về hậu điện- nơi ấy Anh tôn đang chờ vua cha trở lại.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #47 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:02:06 pm »

Chương 16

Sau khi thăm Đại Việt trở về, quan Bố-đề đã trình bày sai lạc những điều mắt thấy tai nghe với quốc vương Chế Mân. Ông ta mô tả Đại Việt là một xứ đất đai cằn cỗi, quanh năm rét buốt, không thấy mặt trời. Dân tình ngu muội, đói nghèo. Chính sách cai trị của các vua nhà Trần hà khắc. Lòng dân căm giận triều đình. Hơn mười năm sau chiến tranh, đất nước vẫn còn xơ xác. Các quan đầu triều thì bè này phái nọ xâu xé lẫn nhau. Họ đua nhau tham nhũng, đua nhau sống xa xỉ. Người đứng đầu trăm họ thì nhu nhược bỏ cả việc trình chính xuất gia, cầu lấy cái nhàn của đạo Lão, đạo Phật làm thú tiêu dao. Đi đâu ông ta cũng ra giảng điều nhân nghĩa vờ, còn dân thì thiếu đói thật…

Phải nói quan Bố-đề đã gieo vào lòng vị quốc vương trẻ tuổi một mối hoài nghi. Trong tâm tưởng vị vua hình dung về đất nước Đại Việt hoàn toàn khác. Nghĩa là nó mỹ lệ, nó hoàn hảo hơn đất nước đáng muôn ngàn lần yêu dấu của ông khá nhiều. Bởi nếu không thế, sao nó đủ mạnh để đương đầu thắng lợi với một đế quốc hùng cường như đế quốc Nguyên-Mông.

Vẻ lưỡng lự nhà vua hỏi:

- Vậy còn đội quân hùng mạnh của họ thì sao?.

Quan Bố-đề cười ngất làm rung cả chòm râu loăn quăn bạc phếch. Ông ta phải nhấc chiếc mũ bình thiên có
đính viên ngọc bích trước vành trán ra khỏi đầu cho đỡ nóng. Rồi ông ta ôm bụng ho khù khụ. Mãi lâu sau, ông ta mới lấy lại được vẻ bình thản đáp lời quốc vương:

- Chắc là bệ hạ muốn hỏi đến đội quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn?

- Đúng thế! - Chế Mân gật đầu xác nhận.

- Tâu bệ hạ, đội quân của Trần Quốc Tuấn quả là danh bất hư truyền. Nhưng  nó đã chết cùng với ông ta
từ năm ngoái rồi.

- Khanh nói sao? Hưng Đạo vương mới mất mùa thu năm ngoái, mà năm nay quân cơ đã tan rã? Làm gì có
chuyện hoang đường đó. Một đạo quân lớn, oanh liệt dường ấy, dù bậc kỳ tài như Hưng Đạo vương có mất đi, thì những danh tướng như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng… những cây trụ chống trời ấy không đủ sức duy trì một đội quân thiện chiến sao?.

- Bệ hạ đa nghi quá. Thần chỉ tâu trình bệ hạ những điều mắt thấy tai nghe. Bệ hạ chắc biết, Tôn Vũ tử của Trung Hoa cổ xưa đã dạy được một đội nữ binh đầy dũng mãnh lấy từ trong cung cấm. Hưng Đạo đại vương là tướng của nhà Trời, người thường sao làm nổi các việc đó. Kỵ binh của Mông Cổ tiến về xứ sở nào, thì ở đó thành quách đều sụp đổ, các ngai vàng và các đấng quân vương phải quì mọp dưới chân họ mà dâng quốc ấn, nộp ngọc tỷ. Vậy mà nó đã sụp đổ dưới tài thao lược của Hưng Đạo. Và trên thế gian này, chỉ có Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm được việc đó. Bệ hạ chưa được tận mắt thấy cảnh hoang tàn của Thăng Long. Bệ hạ cũng chưa thấy được cảnh các sứ đoàn nhà Nguyên hống hách ở Thăng Long, và dân chúng cũng như quan quân Đại Việt hãi sợ người Nguyên sau khi Hưng Đạo viên tịch. Việc thôn tính Đại Việt để rửa mối hận xưa của người Nguyên, chắc chẳng còn bao lâu nữa. Thần đã tâu bày hết sự thực, dám xin bệ hạ liệu tính kế trước đi.

Vị chúa Chiêm thực sự băn khoăn. Chừng nào ông chưa được nghe trưởng lão Phật giáo Du Già thông báo nội tình Đại Việt, ông còn chưa tin vào lời nói của vị tể tướng này. Tuy ông ta là em ruột của hoàng thái hậu, là hàng quốc thích, nhưng chưa bao giờ Chế Mân coi ông ta là người tâm phúc. Bởi chỉ bằng trực giác, Chế Mân linh cảm như người cậu ruột của mình đang mưu toan một việc gì đó, khiến nhà vua có phần ngờ vực.

Thấy không khí có vẻ lạnh tẻ, vua không hỏi thêm điều gì, vị Bố-đề chưng hửng như bị tên. Trong lòng ông ta dấy lên niềm nghi ngại. Vẻ bực bội, ông ta dằn giọng nói thêm:

- Bệ hạ hãy dẹp bỏ ý nghĩ kết liên với Đại Việt đi. Đó là việc làm trêu tức người Nguyên, mất nước như chơi. Nếu bệ hạ tinh ý một chút, hãy hợp tác với người Nguyên, càng sớm càng hay. Như miền đất hai châu không còn lo phải trả về cho ai, mà ta còn được thêm cả châu Hoan, châu Ái nữa. Đằng nào thì ta cũng phải ngả vào tay một trong hai kẻ thù đó. Nhưng đi với kẻ nào có lợi hơn, giữ gìn được tôn miếu xã tắc, đó là sự sáng suốt của người đứng đầu trăm họ. Đây là một ván cờ quyết liệt, chọn quân nào đi quân ấy, quyết định thắng phụ là ở nước khởi đầu, dám xin bệ hạ để tâm suy xét, kẻo sau này có hối cũng không kịp.

Chế Mân là một người có tài xét đoán, ông cũng là người quyết đoán, không dễ gì điều khiển được ông. Huống chi vị tể thần này lại vừa lung lạc, vừa đe dọa, thì chỉ có nghĩa là thúc giục ông làm cái điều mà ông muốn.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #48 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:02:44 pm »

Vị chúa Chiêm khoan thai đứng dậy, đôi hia cao tới gối dát bằng vàng lá và nạm hồng ngọc tỏa ra những tia sáng lấp lánh làm lóa mắt viên tể tướng, khiến ông ta phải cúi đầu xuống để tránh luồng ánh sáng mạnh. Nhà vua siết hai gót đế hia nạm bạc vào nhau, tạo thành một âm thanh sắc nhọn, khiến quan Bố-đề hơi chột dạ. Hơn ai hết, quan Bố-đề biết đó là dấu hiệu tức giận của nhà vua. Lúc này chỉ hơi khinh suất một chút là mất đầu ngay. Vì vậy ông khép nép vái nhà vua rồi đi giật lùi ra khỏi cung điện.

Nhà vua giận sôi lên, toan quát gọi ông ta trở lại, nhưng ngẫm nghĩ thế nào lại đi về phía Chùa cửu tháp (1) .

Vừa đi nhà vua vừa nghĩ về giọng lưỡi điêu xảo của quan Bố-đề… Ông ta quả là một kẻ bội bạc. Sao ông ta không nhớ cuộc xâm lăng của đám quan quân nhà Nguyên năm Nhâm ngọ (1282). Toa-đô lăm le nuốt chửng Chăm-pa. Trong thế nước ngàn cân treo sợi tóc, ta đã phải cầu cứu Đại Việt. Các vua nhà Trần đã cử danh tướng Trần Đạo Tái, con của thượng tướng thái sư Trần Quang Khải, khởi một vạn quân tinh nhuệ sang sát cánh cùng ta chống Toa-đô. Chính nhờ mưu lược của tướng quân Trần Đạo Tái đã giúp ta ngăn được Toa-đô, khiến chúng không dám đụng đến kinh thành Chà-bàn. Và chính ta cũng lừa chúng nhiều phen thất điên bát đảo, suýt nữa thì ta bắt được Toa-đô. Sự chống trả quyết liệt của quân ta có quân Đại Việt hợp tác, buộc Toa-đô phải lui ra ngoài bãi biển đóng quân, để sau đó phải cuốn gói ra biên thùy mạn bắc để tràn sang Đại Việt năm Ất dậu (1285). Ấy vậy mà bây giờ ông ta tráo trở muốn kết liên với đám nhà Nguyên để thôn tính Đại Việt. Nếu nghe ông ta, thử hỏi ta còn mặt mũi nào mà nhìn thấy người Đại Việt. Dân Chăm-pa, vì thế sẽ coi ta như một kẻ phản bội. Giữ vị thế quân trưởng mà dân khinh, thì còn điều hành quốc gia sao được.

Hơn nữa với đám vua chúa Trung Hoa ta vốn không tin họ, bởi qua mắt họ, dưới gầm trời này, mọi dân tộc, mọi quốc gia đều là di, địch, đều là tôi tớ cho họ cả. Sự khinh mạn xằng bậy ấy lại biến họ thành trò cười cho thiên hạ. Ta chắc Bố-đề cũng không lạ gì chuyện Tống Lý tông nghe Mông Cổ dỗ ngon dỗ ngọt liên minh với họ để diệt Kim Ai tông ở thành Thái Châu. Năm Giáp ngọ (1234), liên quân Mông-Tống đánh vỡ Thái Châu, Kim Ai tông tự ải. Nhưng liền đó quân Mông Cổ trở mặt, không những không chia chiến quả như ước thúc, mà chúng tháo nước sông Hoàng Hà dìm chết hàng mấy vạn quân Tống.

Tấm gương lịch sử còn trong veo, sao Bố-đề không chịu soi, lại còn định lừa cả ta để dâng hiến vương quốc của ta cho lũ người lang sói chăng? Ta ngờ rằng Bố-đề đã tư thông với giặc.

Nghĩ tới việc quan Bố-đề tư thông với lũ sứ đoàn nhà Nguyên, Chế Mân giật mình, lạnh gáy. Ông thầm nhủ:
"May thay, trong lúc nóng giận, ta vẫn còn kìm nén được. Song ta quyết không tha cho bất cứ một kẻ nào phản dân hại nước, dù kẻ ấy có là Bố-đề, dù kẻ ấy có là cậu ruột ta…".

Mải suy tư, nhà vua chưa kịp nhận ra mình đang tiến gần vào khu đồi Phật, vào chùa.

Ngôi chùa nằm trên một ngọn đồi cao chót vót, có chín ngọn tháp, mỗi ngọn cao chín tằng, với những đỉnh tháp nhọn dát đá ngọc mầu mã não, mầu hổ phách, màu ngọc bích, luôn ngày đêm phát ra những ánh sáng huyền ảo, lúc đậm, lúc nhạt, lung linh rực rỡ, khiến cả kinh thành có cảm giác ánh sáng chiếu khắp cõi trần này, là từ nơi chín ngọn tháp trong vườn Phật tỏa ra, chứ không phải từ ngôi nhật tinh khổng lồ kia chiếu sáng. Ngang sườn những ngọn tháp là những ngôi chùa to rộng, với hàng trăm mái ngắn mái dài, nối tiếp nhau, chồng chất lên nhau, với những đường nét uốn lượn, đẽo gọt, trạm trổ của những tay thợ tài hoa tuyệt xảo xây dựng và điểm tô. Tất cả các mái của nhà chùa đều được lợp bằng một thứ ngói bọc bởi một lớp vàng dát mỏng. Chùa còn được bao quanh bằng một thành uốn lượn nhấp nhô theo hình thể của quả đồi. Xung quanh ngọn đồi Phật là rừng đại ngàn. Vị quốc vương của nước Chiêm Thành đang men theo con đường lát đá ven sườn đồi, để tiến vào ngôi chùa thấp. Gió đem theo lời ca bất tận của rừng, tiếng thì thào của các con suối, và tiếng nhạc phát ra từ các chùm chuông khánh treo quanh các hàng hiên của ngôi chùa, tạo nên một thứ hòa âm an lạc, khiến tâm hồn nhà vua trở nên thư thái. Nhà vua ung dung nện gót hia trên con đường mòn quen thuộc, chẳng mấy chốc đã vào tới cổng chùa. Trưởng lão Phật giáo Du Già xuống tận bậc thềm cuối cùng đón nhà vua vào trong ngôi chùa chính. Hòa thượng lấy làm kinh ngạc vì sự có mặt đột ngột của nhà vua.

Sau khi phân ngôi chủ khách, nhà vua liền nói ngay chủ ý của mình, muốn được nghe vị sư kể lại chuyến thăm Đại Việt trở về.

Vị sư già tươi cười đáp:

- Tâu bệ hạ, mối bang giao giữa hai nước, theo thiển kiến của bần tăng, là rất tốt. Chắc quan Bố-đề đã có biểu tâu lên bệ hạ. Bần tăng chỉ xin tường trình lại những điều mà bệ hạ giao phó.

Chế Mân từ lúc bước chân vào tới cổng chùa đã thấy tâm hồn bình chuẩn, ông có thể minh định được những điều mà chỉ ít ít phút trước đây còn phân vân nghi hoặc. Nhà vua nói:

- Trẫm đã nghe tể tướng nói tất cả. nhưng trẫm cũng muốn nghe Hòa thượng nói lại mọi điều mắt thấy tai nghe. Nhất là các cuộc tiếp xúc riêng giữa Hòa thượng với Trúc Lâm đại sĩ - thương hoàng Trần Nhân tôn.
Trẫm cũng muốn biết tường tận về phong thổ, cảnh vật, dân tình của Đại Việt.

Sau khi tiểu đồng đã dâng tới tuần trà thứ ba, Hòa thượng cho y lui, người quay vào ban thờ Phật đốt trầm, rồi thỉnh một hồi chuông. Trưởng lão Phật giáo xá nhà vua một xá, rồi tâu bày lại sự việc mà người được tham gia trong đoàn sứ giả bang giao qua Đại Việt vừa trở về.

Nhà vua cũng hiểu những việc Hòa thượng vừa làm, là để chứng tỏ điều mà Hòa thượng sắp nói đây là trung thực, vì có cả sự minh chứng của chư Phật. Chưa bao giờ nhà vua thấy gợn một điều gì với đáng chân tu này.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #49 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2010, 10:03:41 pm »

Đức vua lắng nghe những lời vị Hòa thượng kể, như hiện ra trước mắt mình cảnh náo nhiệt của kinh thành Thăng Long, cảnh sinh hoạt của chúng dân và các bậc trọng thần tài ba của Đại Việt. nhà vua thở dài, lòng thầm khao khát có được những bầy tôi lương đống như triều đình Đại Việt.

Đối chiếu với những điều đã nghe ở quan Bố-đề, nhà vua không khỏi hoài nghi về những chủ kiến thiên lệch của ông ta. Tại sao ông ta cố tình lôi kéo ta đi với người Nguyên, chống lại người Việt? Trong khi người
Nguyên ở xa, còn người láng giềng thân cận, ta lại đi mua thù chuốc oán với họ để làm gì? Đột ngột Chế
Mân hỏi:

- Hòa thượng có thấy cảnh sứ đoàn nhà Nguyên ở Thăng Long đi lại ngạo nghễ, ăn nói hống hách, hạch sách đủ điều, quấy nhiễu phố phường không còn thể thống phép tắc gì nữa không?

- Tâu bệ hạ có. Thần có nghe nói các việc đó xảy ra vào năm Giáp thân (1284) khi người Nguyên đòi vua
Đại Việt phải sang chầu, phải nộp sổ đinh, sổ điền, phải nhận các quan chức người Nguyên sang cai trị.
Khi nghe Hòa thượng nói "có", nhà vua giật mình kinh sợ, tưởng như can qua Nguyên - Việt lại sắp khai triển, và như vậy thì lời quan Bố-đề nói là có lý. Tiếp đến khi Trưởng lão thuyết trình đầy đủ, nhà vua mới vỡ lẽ về những lời nói có dụng ý của quan tể tướng. Cũng là những sự việc như thế, nhưng ông ta lấy ở chỗ này gán cho chỗ khác. Lấy năm Giáp thân (1284) quàng vào năm Tân sửu (1301).

Chậm rãi, nhà vua hỏi:

- Cứ theo như ý của Hòa thượng thì sứ thần nhà Nguyên ở Thăng Long với sứ thần nhà Nguyên ở Chà Bàn
có gì giống nhau, có gì khác nhau?

- Tâu bệ hạ, hai sứ đoàn đó giống nhau ở chỗ đều là người của triều đình nhà Nguyên cử tới để xác lập quan hệ bang giao, kỳ thực là để do thám. Nhưng khác nhau ở chỗ, sứ đoàn nhà Nguyên ở Thăng Long biết điều hơn. Họ không dám nghênh ngang trắng trợn ở trong triều, cũng như ở ngoài đường phố như ở Chà Bàn. Họ cũng không dám kết thân với các quan lớn Đại Việt, để gây bè kết cánh hòng làm nội gian nội gián-Ngừng một lát, lão Hòa thượng buông một tiếng thở dài như có điều gì tiếc nuối, rồi tiếp:

- Ở Thăng Long, người Nguyên biết giữ lễ, không phải vì nước họ có nền văn hiến cao, mà vì lực lượng của Đại Việt mạnh; người của Đại Việt "vua tôi một lòng, anh em hòa mục" như đức Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã nói.

Điều mà vị Hòa thượng vừa tâu bày, làm cho quốc vương Chế Mân xiết bao đau xót. Ông thừa biết người Chiêm thiếu cái gì. Nước Chiêm có một nền văn hiến không thua kém nước nào. Từ các ngành nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc đến ca, vũ, nhạc, người Chiêm thuộc loại nổi tiếng. nghề nông, nghề rừng, nghề biển, nghề nào cũng phát đạt. sản vật phong phú. Lại có một đội hải binh và chiến thuyền cực kỳ tinh nhuệ. Nhưng tất cả những cái đó vẫn chưa đủ làm nên sức mạnh của một dân tộc. Đúng là người Chiêm thiếu cái mà vị sư già đã khéo léo nhắc ông, bằng cách mượn lời vị Quốc công tiết chế bên Đại Việt. Bỗng dưng nhà vua cảm thấy lòng tự hào dân tộc của ông bị tổn thương. Có một cái gì đó đang nhen nhóm, như là một câu trả lời trong sâu thẳm của tư duy ông; nhưng ông không bao giờ dám để nó hình thành một cách trọn vẹn. tức là cộng đồng thị tộc của ông, dường như chưa đủ trình độ đạt tới một cộng đồng dân tộc. Vì vậy, nó đã bao phen tan vỡ, bao phen bị xâu xé bởi thù trong, giặc ngoài. Và hiện thời cũng đang có một nguy cơ như thế. Cứ nhìn bọn sứ thần nhà Nguyên, xăng xái kết thân với các đại thần của ông để mưu toan làm các điều phản loạn, là máu trong người ông lại sôi lên. Ông muốn đem cả lũ bọn họ ra mà chém, mà bêu đầu ngoài chợ. Ngặt vì ông chưa đủ chứng cớ, bởi chưng ông chưa có người giúp rập thân tín, tài ba để trị nước. Nghe nói, vua Nhân tôn là một người khoan nhân đức độ, lại có ý muốn cố kết với Chiêm Thành, nên chi ông đã cử vị hòa thượng Du Già là người tâm phúc của ông, lại cũng là chỗ chân tu cùng theo một đại đạo như Nhân tôn. Chẳng biết việc đó ra sao, vẫn chưa thấy vị sư già đả động tới.

Hòa thượng Du Già chưa đạt tới mức quán thông thiên hạ, nhưng đọc được ý nghĩ của người khác, với ông không phải là việc khó. Vì thế ông tiếp ngay vào điều mà quốc vương của ông băn khoăn. Hòa thượng nói:

- Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ đại xá cho sự chậm trễ của bần tăng. Ấy là vì chưa chọn được ngày lành để vào yết kiến bệ hạ. Song các công việc mà bệ hạ phó thác cho bần tăng, nhờ hồng phúc của bệ hạ đều êm xuôi, viên mãn cả. Thượng hoàng Trần Nhân tôn chỉ nay mai tới Chà Bàn.

Nhà vua lắng nghe chăm chú những điều hòa thượng thuật lại. Điều nào cũng hợp ý vua cả. Đoạn Chế Mân lên tiếng khen ngợi:

- Quả trời cho Hòa thượng tới giúp ta làm chiếc cầu nối giữa Chiêm Thành và Đại Việt. Công của ông lớn lắm. Quả phúc của ông to lắm.

Còn một điều mà vị Hòa thượng băn khoăn chưa nói được, ấy là ông muốn đứng ra làm mai làm mối cho vị quốc vương của mình với nàng công chúa út của thượng hoàng Trần Nhân tôn-một trang quốc sắc. Mặc dù quốc vương của ông đã có chánh hậu, cũng vào loại lá ngọc cành vàng từ xứ Chà-và, nhưng không thể so bì với tài sắc của công chúa Trần Huyền Trân được. Hòa thượng đã toan nói, nhưng ông lại tự nhủ: "Hãy để một dịp khác, thuận hơn".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM