Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:48:10 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.  (Đọc 57048 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #10 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 08:50:38 pm »

Phân đội tập kết cạnh phía bắc sông Sê Pôn, nghe nhận lệnh trận tập kích vào bãi xe tăng địch, cùng các ký tín hiệu hỏi đáp khi đánh vào vị trí. Theo chỉ đạo từ 18 giờ 30 phút đến 19 giờ, pháo các hướng của Trung đoàn bắn vào bãi xe tăng địch, các chiến sỹ của đơn vị áp sát hàng rào. Đúng 19 giờ các đại đội bộ binh xung phong tiến lên vào cao điểm 229... Thực hiện lệnh đơn vị tôi ồ ạt chạy vào cao điểm theo hợp đồng. Nhưng lúc này các đơn vị hoả lực ĐKZ 75, cối 82, của Trung đoàn đi cùng cánh mới triển khai bắn được vào vị trí. Vì thế yêu cầu bộ binh dừng lại, tránh ra hai phía để bắn phá mục tiêu địch xong mới được xung phong.
Hoả lực ta cấp tập xong, bộ đội vượt mấy lớp rào dây thép gai bãi mìn, cùng cây thông tin nhiệt đới địch cài đặt, các chiến sỹ vừa chạy tấn công và gỡ cây gai xấu hổ bùng nhùng mới vào được bãi xe quân sự địch. Đơn vị dàn hàng ngang quét hàng loạt đạn AK, trung liên, B40, B41 vào khu trung tâm.
Sao địch không chống cự ? Đơn vị cho cơ động băng qua đường 9, chỉ thấy hai chiếc xe bốc cháy do tiểu đội đồng chí Phùng vừa bắn vào thêm mấy quả, cạnh xe là mấy tên lính địch chết cháy đen thui, hầm hào lán trại chúng đã rút chạy từ lúc nào. Như vậy là hàng trăm xe tăng, xe quân địch đã kịp tẩu thoát khỏi cao điểm.
Các mũi tấn công vào cao điểm 229 được lệnh nhanh chóng rút khỏi vị trí, vừa ra đến sông Sê Pôn, thì tiếng gầm rít của máy bay AĐ6, máy bay F 105 lao tới đánh bom phá huỷ.
Tiểu đoàn cho học tập rút kinh nghiệm, về cuộc tập kích vào bãi xe quân sự địch. Được lãnh đạo chỉ ra khá nghiêm túc các vấn đề cần khắc phục. Nổi lên là công tác hợp đồng tác chiến giữa hoả lực và bộ binh, phải thực hiện theo giờ hợp đồng, có phương án bổ sung khi cánh cơ động có vấn đề xảy ra. Mũi của tiểu đoàn phó Trần Đôi bị bom pháo, lại không có người thay thế kịp thời. Dẫn đến hàng trăm chiếc xe địch chạy thoát trên con đường độc đạo về Lao Bảo tỉnh Quảng Trị. Làm cho trận đánh của phân đội vào cao điểm không hiệu quả.
Sau khi một số vị trí chiếm đóng của địch ở đường 9 Nam Lào, bị pháo binh và bộ binh ta tấn công đánh chiếm, địch trên điểm cao 748 hoảng loạn bỏ chạy (đồi yên ngựa, không tên). Phân đội giao nhiệm vụ cho đại đội 7 chúng tôi lên giữ chốt. Nhận lệnh, cán bộ chiến sỹ khẩn trương bơi qua sông. Từng đồng chí lần bám vào mỏm đá tai mèo, gốc cây, núi đá dựng đứng 75- 80 độ, trèo từ dưới bờ sông lên bản cao hơn một trăm mét quanh co mất hơn một giờ đồng hồ mới tới.
Bản Sê Pôn, một khu vực của đồng bào ít người nằm trong hõm núi, cũng bị bom pháo địch bắn phá làm mấy người tử nạn, họ bới đất cát chôn vội vào đám hố bom pháo ngay trước cửa nhà bỏ chạy sơ tán. Xác người chết bị mấy đàn lợn nái đẻ thả rông, thi nhau dùng mõn nhọn đào bới phơi ra nắng trông thật thảm thương. Chúng tôi phải nhanh chóng đào bới chôn cất lại.
Bản có hơn hai chục nóc nhà trên một trăm nhân khẩu, lúc này chỉ còn một cô gái người ốm yếu, chân tay co dúm sợ hãi khóc nói bằng tiếng Lào pha Việt: Xin các ải đừng bắn… Chúng tôi lại gần mới biết, người con gái bị thương liệt hai chân và đã mấy ngày đói khát, bộ đội ân cần thăm hỏi nói với cô gái: Thà hán khăm Việt vào giữ bản cho đồng bào, noọng đừng sợ… Mấy phút sau cô gái bình tĩnh ra hiệu xin ăn uống. Tôi chia túi gạo rang đem theo, anh Lâm ra thác múc nước để lại ngay cạnh, thấy chúng tôi chăm sóc cô gái tật nguyền chắp tay nói: Xin cám ơn Thà hán (bộ đội) Việt Nam nhiều…

                                                                                         *

 Điểm cao 748 ngay từ ngày đầu khi địch đánh ra đường 9 Nam Lào, chúng đã dùng máy khoét núi đào hầm làm mặt bằng đặt pháo 105 ly, cùng các phương tiện kỹ thuật để chỉ huy cho cuộc hành quân.
Chính từ trận địa trên cao điểm mà chúng đã chỉ điểm cho máy bay xe tăng pháo kích, cùng bộ binh đi đánh phá các khu vực của ta ở khu vực đường 9. Nhưng trước những đòn pháo kích cùng phản công của bộ đội, mà binh lính địch cùng cố vấn Mỹ trên cao điểm đã hốt hoảng bỏ chạy.
Đứng trên điểm cao quan sát thấy toàn bộ phía dưới thung lũng Sê Pôn, tuyến đường ngang dọc của ta ra chiến trường. Rất nhiều những chiếc vải dù của biệt kích thám báo đèn dù thả xuống còn mắc trên cành cây cổ thụ, từng dãy hố bom pháo khoét sâu cách nhau 5 đến 10 mét chạy dài hàng cây số, cây cối bị bom đạn chất độc hoá học rải xuống cháy đỏ tàn lụi.
Hàng chục chiếc máy bay địch đang săn đuổi chiếc xe vận tải của ta bụi đất cát mù mịt. Chúng tôi nhìn cầu mong cho đồng chí lái xe thoát nạn, nhưng không thể nào thoát được bởi hàng chục quả đạn Rốc két, bom từ máy bay chiến đấu trút xuống, chiếc xe ô tô bay lên cháy dữ dội. Tôi chợt nghĩ không biết đồng chí ấy tên gì, quê quán ở đâu và năm nay bao nhiêu tuổi. Với sức nổ của bom đạn địch như vậy, chắc thân thể người chiến sỹ này cũng chẳng còn gì.
Cánh rừng giáp ranh với tỉnh Quảng Trị Việt Nam, không còn nhìn thấy màu xanh của cây cối, mà thay vào đó bằng một màu vàng cháy đỏ của sự tàn phá khốc liệt từ các quả bom pháo. Chúng tôi nói với nhau: Nếu địch còn chiếm giữ cao điểm 748, thì nó phát hiện thấy mọi hoạt động của quân ta trong khu vực.
Đơn vị đang triển khai củng cố hầm hào, thì một chiếc máy bay trinh sát OV10 đến bắn ba quả đạn khói chỉ dẫn mục tiêu để máy bay đến đánh bom bắn phá.
Chúng tôi gọi nhau vào vị trí chiến đấu, từng tốp máy bay địch lao xuống trút bom. Loạt đầu bom nổ cách chốt giữ mấy trăm mét, sau chúng xác định được toạ độ, ném vào nổ cách hầm tôi hai ba mươi mét. Cứ như vậy từng đợt máy bay F105 máy bay AĐ6 bổ nhào tới trút bom.
Bom nổ rung chuyển quả đồi, đầu óc chân tay tôi cuống cuồng, mắt nổ đom đóm, tiếng kêu ùng ục, vị trí chốt giữ nghiêng ngả, đất đá ngoài hầm văng vào người thình thịch. Chốt giữ trùm lên một màu đỏ của những quả bom nổ vô cùng dữ dội công phá lớn, sức ép bom đẩy Phạm Văn Tiến và tôi ép sát cạnh hầm. Hai người dùng ngón tay trỏ bịt chặt lỗ tai, nghiến răng, nhắm mắt nhẩm đếm 1-2-3 chết… không chết.
Cao điểm trùm lên một màu khói lửa tôi và Tiến ngạt thở, máu trong miệng trào ra, hai anh em gục sát vào sàn hầm nói với nhau, nếu máy bay địch đánh bom liên tục và đổ quân xuống ngay thì đơn vị ta khó mà giữ được vị trí, khả năng hai anh em mình hy sinh tại cao điểm này.
Lệnh giữ nguyên vị trí sẵn sàng đánh địch đổ bộ. Sau mỗi loạt bom chúng tôi thay nhau đứng lên quan sát xem địch có cho quân xuống cao điểm chốt giữ. Đồng chí Tiến được lệnh chuyển sang hầm bên cạnh, tránh một khi hầm bị sập gây thương vong mất hai người.
Hầm chốt giữ của trung đội trưởng có tiếng kêu cứu, tôi và Tiến chạy sang hất  các bao cát đè vào đồng chí Hài, hà hơi cứu chữa cầm máu cho anh xong, rồi dìu đưa anh ra cách hầm cũ bị sập khoảng 20 mét. Mấy loạt bom tiếp theo thì đến Tiến bị thương, phải đưa đồng chí trở lại hầm cùng tôi lúc ban đầu. Các vị trí chốt giữ thấy quá nguy hiểm, do vậy sau mỗi loạt bom máy bay địch đánh xuống, đồng đội đứng lên gọi báo cho nhau về khu hầm hào chốt giữ của mình.
 Quan sát hướng máy bay ném bom, chạy đến đưa mấy đồng chí bị thương chuyển sang hầm cạnh đồi. Trở lại vị trí chiến đấu quen dần với tiếng bom nổ và cách đề phòng, đói bụng quá lấy dao bổ hộp thịt cho vào miệng, khi bom gầm đặt bàn chân che không để đất cát văng vào và đưa hai tay lên ôm mặt bịt tai.
Máy bay địch ném bom nổ liên tục trên ba giờ đồng hồ, sau chúng ném xuống một đợt bom Napan và bom xăng. Kho đạn địch bỏ lại trên cao điểm cháy nổ bay tứ phía. Đồng chí Lâm tiểu đội trưởng gọi bảo tôi cùng anh Nhuận, dìu trung đội trưởng Hài và đồng chí Tiến đưa ra khỏi khu vực chốt giữ. Đưa được hai anh ra ngoài vị trí nguy hiểm khoảng 500 mét, thì gặp các đồng chí của C3 thuộc Tiểu đoàn vận tải số 19, vào đón đưa hai anh về tuyến sau.
Đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 19 làm nhiệm vụ vận tải của Sư đoàn, đều là chị em nữ người miền Nam, được Đảng Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trở lại vị trí chốt giữ, hầm hào bị bom trút xuống nổ sập gần hết, 6 khẩu pháo  bị đất đá chôn vùi. Cao điểm 748 chỉ còn là một bãi đất cát bột, chân lội vào như bị sôi lên, ngập đến gần đầu gối nóng bỏng.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #11 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 08:52:24 pm »

Các chiến sỹ còn lại trên vị trí chốt giữ trở lại bản Sê Pôn với bộ quần áo tả tơi, đầu tóc đỏ ngầu bụi đất cát của khói bom đạn bước đi lảo đảo không vững, miệng nhổ khạc ra máu hồng đắng ngắt, đi ra thác nước rửa mặt mũi chân tay giặt giũ quần áo. Cô gái tật nguyền trong hang đá bò ra vẫy gọi. Như một linh tính, do thấy thiếu người trước khi lên cao điểm, cô đã khóc và nói: Noọng thương Thà hán Việt Nam nhiều … Bộ đội hãy ở lại giúp bản cho noọng … bắt tu kay(con gà) giết thịt, lấy quả bầu bí nấu ăn… Nghe xong chúng tôi nói: Bộ đội Việt Nam không làm vậy đâu, còn phải đi đánh giặc, noọng đừng sợ có Thà hán khác đến giữ bản cho noọng... Chuẩn bị rời bản chúng tôi múc nước đưa thêm cho cô gái mấy gói cơm sấy và hai hộp thịt nhỏ vừa nhặt được của địch trên cao điểm.

Tạm biệt người con gái Lào tật nguyền không biết tên. Nhiều lúc tôi cứ mông lung suy nghĩ, không biết số phận người con gái ấy sẽ ra sao giữa chiến trường bom đạn? Nhiều lúc tôi vẫn nhớ tới bản làng trên triền núi cao có thác nước (Tả Sa Neng) chảy suốt ngày đêm thơ mộng, cùng một dẫy hoa Chăm pa xinh đẹp và những chuyện đau buồn đã xẩy ra trong chiến tranh ngày ấy. Chắc dân bản và cô gái sẽ không bao giờ quên những ngày khó khăn ác liệt. Song cũng chứa đầy tình cảm của người lính đi từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn đánh giặc, đem lại yên vui cho hai dân tộc Việt- Lào.


TRÊN CAO ĐIỂM 723 VÀ 660

Sau khi bàn giao cao điểm 748 và bản Sê Pôn, đơn vị tôi nhanh chóng cơ động về cao điểm 723. Trên đường bị bom pháo địch bắn phá nổ ngay trước đội hình, có đoạn vừa chạy qua thì máy bay B52 đánh bom rải thảm, rừng núi không một lúc nào yên lặng. Đơn vị bị địch từ điểm cao 680 phát hiện, dùng phi pháo bắn phá gây tổn thất thêm một số đồng chí. Khu giao chiến bị địch đánh phá rải chất độc hoá học, cây cối ngổn ngang người và thú rừng bị thương gục xuống uống nước rồi chết, nguồn nước tanh hôi thối. Đêm tối nuôi quân lần mò khe rãnh chắt lọc mới có nước về nấu cơm cho đơn vị.
Trời tảng sáng tôi được phân công xuống nuôi quân lấy nước, khi mở vung nồi nghĩ có đỗ rang cho vào đã hỏi đồng chí nuôi quân: Nước uống hôm nay các đồng chí có đỗ đen rang cho vào đấy à. Anh Nhẫn chạy đến nhìn soong nước hốt hoảng nói: Đêm tối nuôi quân phải lần mò mới tìm được ít nước cho vào can về nấu, phấn khởi vì có nước nấu ăn mà không nghĩ có nòng nọc trong nước. Khu vực này không con suối nào có nước, anh em đi cả đêm mới tìm được đủ nước về đun nấu cho đơn vị. Có suối còn nhưng không thể nào dùng được, vì nguồn nước có người và thú rừng  bị thương, chết máu mủ chảy xuống mất vệ sinh vô cùng, vũng có côn trùng sống thì  dùng được, nhưng đun nấu thiếu kiểm tra như thế này là có lỗi với các đồng chí…
Ngày 15 tháng 3 nuôi quân bò đến đưa cho mỗi chiến sỹ bốn nắm cơm và ít muối gạo rang ăn trong hai ngày. Nhận bình tông nước và các anh cho biết là nguồn nước không tốt chưa kịp đun sôi, ai còn viên lọc nước sát trùng cho vào hãng uống. Chúng tôi đang bao vây chuẩn bị tấn công vào đồn bốt địch, biết bình nước hôi thối, nhưng vì quá khát mà phải nhắm mắt nín thở nuốt vội qua cổ họng.
Sau trận bao vây đánh địch ở cao điểm 723 và 660, trong chiến dịch đường 9 Nam Lào tháng 3 năm 1971. Nhiều lúc tôi nghĩ lại những con suối có người và thú rừng chết cùng nước uống thời kỳ ấy mà vẫn rùng mình.
Ta và địch giành giật nhau từng thước đất của quả đồi, Trung đoàn bao vây chặn đánh tất cả các đường tháo chạy tiếp viện của địch, quanh khu giao chiến đồi núi trọc làm cho bộ binh đơn vị tôi rất khó tiếp cận vị trí.
Rừng núi bị máy bay pháo kích đánh phá không còn một cây nào xanh nguyên vẹn, Ban chỉ huy Trung đoàn bị máy bay HU1A- HU1B phát hiện bắn Rốc két và trút bom xuống làm sập hang đá. Gây tổn thất mất Trung đoàn phó Hoàng Suất, trưởng ban tác chiến Nguyễn Tiến, cùng một số đồng chí trinh sát, thông tin.
Trên cao điểm địch cho quân đến chỗ có mặt bằng gọi trực thăng đến bốc đi. Nhưng máy bay đến đã bị pháo phòng không ta nổ súng tiêu diệt, do vậy chúng không thể hạ cánh tiếp tế, hoảng loạn thả cả hàng tiếp viện về phía đơn vị đang bao vây. Chiến sỹ quân Giải phóng chúng tôi vui mừng thu chiến lợi phẩm, như ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Trong căn hầm thấy địch trên cao điểm chắp tay làm dấu cầu khấn may mắn, anh em nói với nhau: Số phận binh lính địch sẽ được các chiến sỹ đơn vị ta quyết định. Từng loạt đạn pháo cối bắn vào cao điểm, tiếng la hét xin rút chạy của địch ngày một rõ. Đồng chí Sơn chiến sỹ thông tin tiểu đoàn, kéo dây trực tiếp cho lãnh đạo báo cáo diễn biến trên cao điểm. Lệnh từ sở chỉ huy cho ba mũi đánh thẳng vào sở chỉ huy địch trên cao điểm, đồng thời thả lỏng một hướng để địch chạy vào chỗ có bộ đội phục kích.
Đaị đội được lệnh đánh thẳng vào trung tâm cao điểm, đang tấn công vấp phải mấy khẩu đại liên địch bắn trả dữ dội, không thể nào phát triển chia cắt được. Đại đội trưởng Phan Minh Duệ, điện về xin cấp trên cho dùng súng đạn B40, B41, tiêu diệt mục tiêu (loại vũ khí thời kỳ này chỉ được dùng vào việc bắn lô cốt, xe tăng địch). Được trên cho đồng ý hoả lực ta dập tắt mục tiêu chống cự, chớp thơi cơ các chiến sỹ dũng mãnh xông lên quật ngã những tên ngoan cố. Trên cao điểm, địch không còn khả năng với những đòn sấm sét của quân giải phóng, buộc phải hạ vũ khí cầm cờ trắng lũ lượt kéo nhau ra hàng. Đơn vị nhanh chóng bắt tù binh, thu hồi vũ khí, làm chủ hoàn toàn cao điểm.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #12 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 08:53:18 pm »

Sau khi đánh chiếm làm chủ cao điểm 723 xong. Đơn vị tôi được lệnh cơ động về bao vây địch tại điểm cao 660. Đêm tối đồng đội bám sát nhau theo miếng lân tinh phát sáng vào vị trí qui định .
Quân địch đã mấy ngày đói khát không còn nước uống, phải bẻ chuối rừng nhai chống khát. Máy bay địch đến chúng hý hửng phất cờ báo vị trí tiếp viện. Nhưng nhiều chiếc đến đều bị pháo phòng không ta bắn cháy, sợ hãi thả thang dây cho lính dưới đất trèo lên, thấy máy bay cháy lao xuống kéo theo mấy thằng văng vào núi chúng khiếp sợ.
Máy bay địch giảm dần. Trung đoàn cho bắn một đợt pháo cối cùng ĐKZ.75 vào cao điểm. Đơn vị được lệnh đánh chiếm mục tiêu, từ những chiếc hầm vây lấn chúng tôi xông lên đánh vào vị trí. Địch hoảng loạn chạy trốn, nhưng đã bị tất cả các cánh quân của ta bao vây ập đến. Các ổ súng đại liên địch chống cự ngay lập tức bị những quả đạn B40 bắn đến phá nổ cùng hàng loạt đạn trung liên và tiểu liên AK nã tới dập tắt.
Sáng ngày 21 tháng 3 năm 1971, buộc sỹ quan binh lính nguỵ hạ vũ khí kéo nhau ra đầu hàng, một vài tên hỏi cấp bậc chức vụ người đến bắt mới chịu giơ tay. Quân giải phóng nhìn quân hàm cầu vai ve áo chúng nhanh trí đáp chức vụ của người cầm súng còn cao hơn của địch, buộc chúng phải nhanh chóng đầu hàng. Có tên yêu cầu cán bộ ngang hàng đến mới chịu giơ tay và có ý phân biệt cấp chức, làm một vài chiến sỹ đơn vị tôi không còn bình tĩnh đã nổ súng kết thúc số phận chúng.
Địch trên cao điểm ra hàng van lạy khóc lóc kể lể … nào là bị bắt đi quân dịch…vợ con nheo nhóc phải đi…không đi cũng chết và bị đẩy vào chỗ chết… Xin các ông Cộng sản tha tội… đừng bắn.
Một loạt đạn tiểu liên nổ vào mấy tên địch luồn rẽ ngang định trốn chạy. Bọn trong hàng sợ bị vạ lây, sụp người xuống đất khóc thảm thiết … Xin các ông đừng bắn… lạy các ông, xin các ông… có tên đi thêm mấy bước quì xuống xin tha tội, hàng loạt tên nằm xuống xin ăn uống... Thật nhục nhã và đê hèn với kẻ bại trận.
Chúng tôi nghĩ hàng chục ngày nay đơn vị tao còn đói khát ác liệt hơn cả lũ chúng bay đây, biết bao đồng đội tao hy sinh do bom đạn của chúng mày. Nếu không vì chính sách tù hàng binh của quân Giải phóng, thì tao sẽ cho chúng bay một băng AK.
Đêm 20, sáng ngày 21 tháng 3 năm 1971, một số địch trên cao điểm 660, đói khát không thể chịu đựng được nữa, chúng bỏ vũ khí xuống tìm gặp quân giải phóng nằm vào cạch bếp nuôi quân, đồng chí Nhẫn và Bút tưởng người đơn vị, đá vào chân để tránh lấy chỗ vào nấu cơm. Thì hơn chục tên địch đứng dậy van lạy tha tội, tiểu đội nuôi quân bắt đưa chúng nhanh chóng thoát khỏi khu vực giao chiến.
 Các mũi tấn công của Trung đoàn giảm dần tiếng súng, hô hào tất cả bộ đội ra bắt tù binh, chúng tôi không ngờ sỹ quan binh lính địch lại kéo nhau ra đầu hàng đông như thế, dây trói mang theo bị thiếu. Vì thế bắt chúng tháo hết tất, giầy dép. Và chỉ dẫn chúng đi theo đường dây điện thoại thoát khỏi khu vực nguy hiểm, đề phòng địch cho máy bay tới đánh phá tiêu huỷ,(đường dây điện thoại do các chiến sỹ thông tin chạy rải theo người chỉ huy trận đánh).
Chiến thắng trên cao điểm 660 vừa xong, chúng tôi xuống cách vị trí chiến đấu một đoạn, thì có các đồng chí trong đoàn văn nghệ xung kích của mặt trận đến hát mừng chiến thắng. Tiếng hát trong trẻo của ca sỹ vang lên, làm ngây ngất bao người lính chúng tôi vừa bước ra từ cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt.
                            
 “Ai đã tới miền quê em Quảng Trị Thừa Thiên.
Qua đường 9 tình Do Linh, thắm trong giọng hò… ”.

Được các anh các chị văn công hát cho nghe mà người nào cũng rơi nước mắt. Vì trong niềm vui chiến thắng cũng không ít đồng chí hy sinh dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù. Còn là sự quan tâm của Bộ tổng tư lệnh cùng nhân dân cả nước, vẫn dõi theo từng bước đi của chúng tôi nơi chiến trường khó khăn gian khổ.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #13 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 08:55:31 pm »

 
TÀN KHỐC CỦA CHIẾN TRANH

Sau khi chiến thắng địch ở cao điểm 660, chúng tôi cùng vệ binh chỉ dẫn bọn sỹ quan binh lính địch đầu hàng đưa về ban chỉ huy Trung đoàn cách cao điểm tác chiến mấy km. Đồng chí Tịch chính trị viên (anh nói tiếng Anh và Pháp khá tốt), cùng với Tiểu đoàn trưởng Trần Như Tiếp và một số đồng chí trong Ban chính trị hỏi binh lính sỹ quan địch. Được chúng khai báo đã biết được ý đồ của địch, các anh yêu cầu tên lính phục vụ điện đài cho tên tiểu đoàn trưởng bị bắt mở máy gọi điện về báo cáo trực tiếp với sở chỉ huy chúng: Không được để máy bay ném bom một thời gian, vì con cái còn đang đi lạc trong vùng giao chiến và tản mát trong rừng.
Mấy ngày sau địch cho máy bay đến khu vực hai bên giao chiến, bắn phá với lượng bom đạn chưa từng có vào vị trí giặc thất trận bỏ chạy. Trước tình hình bom đạn như vậy, đơn vị cử người đi làm lại công tác tử sỹ thu dọn chiến trường, có đồng chí được phân công nhiệm vụ này cáo đủ lý do…
Thấy vậy, tôi xung phong đi cùng các đồng chí trong Tiểu đoàn. Tổ công tác đến cao điểm 660 và 723 khu chôn cất chiến sỹ ta hy sinh. Một cảnh tượng hết sức đau xót và tàn khốc tận cùng của chiến tranh được hiện ra trước mắt: …kia bộ quần áo màu xanh vải Ga ba đin, chiếc thắt lưng da màu nâu nhạt Trung Quốc, đây cánh tay, bàn chân và đầu người trơ trọi trên mặt đất. Cành cây cháy dở vắt ngang từng đoạn ruột, gan, ruồi bọ và những con mối…
Tất cả những gì có trên mặt đất đều được trộn lẫn và trở về với đất.
                                                       
                                                                                             *

Sau khi chiến thắng địch trên mặt trận đường 9 Nam Lào cuối tháng 3 năm 1971 về. Đơn vị trở lại khu Kà Tồn phía Bắc huyện Mường Phìn, chúng tôi được nghe cán bộ tuyên huấn vào nói chuyện ý nghĩa của thắng lợi việc đánh địch đưa ra đường 9 Nam Lào. Làm cho chúng thất bại ý định của việc: Việt Nam hoá chiến tranh. Lúc này chiến trường có nhiều phóng viên báo chí vào phỏng vấn ghi chép, hình ảnh ngoan cường của cán bộ chiến sỹ trên mặt trận.
Đơn vị có Đội văn Công của Tổng cục Chính trị đến biểu diễn. Nghệ sỹ Kim Cúc người to béo hát mấy bài rồi ngâm lời thơ của Tố Hữu có đoạn.
                                     
“ Em là ai, cô gái hay nàng tiên.
Em có tuổi, hay không có tuổi…”.

Các chiến sỹ xem văn công biểu diễn xong về lán trại nghêu ngao: Em là ai Kim Cúc hay thùng phi... Sau chiến thắng trên chiến trường khó khăn ác liệt, lại có các anh chị trong đội văn công xung kích vào biểu diễn, trong lúc còn khét mùi khói bom đạn, làm cho các chiến sỹ rất xúc động. Bởi làm lên chiến thắng còn có cả: Tiếng hát át tiếng bom.
Đơn vị nhận được rất nhiều quà của nhân dân miền Bắc gửi tặng. Những lá thư của thanh thiếu niên học sinh Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình… viết thăm hỏi động viên các chiến sỹ ngoài mặt trận. Thư được Chính uỷ Trung đoàn Nguyễn Tá, đọc lại cho bộ đội nghe tình cảm của nhân dân hậu phương gửi vào. Trong nhiều lá thư ấy, có nội dung của nữ sỹ Ngân Giang, làm tôi còn nhớ mãi, thư bà viết động viên con trai cùng các chiến sỹ có đoạn:
                                 

“… Nếu chỉ biết ăn và biết ngủ
Lớn khôn thành vợ lại thành chồng
Dòng đời như vậy sao yên được
Khi cả miền Nam lửa bão bùng…”.


Cũng lâu lắm rồi chúng tôi mới được yên lặng ngồi nghe lời nhắn nhủ của người thân từ miền Bắc gửi vào, nên khi lời thơ của bà vang lên thấm vào chúng tôi theo từng huyết mạch.
(Đồng chí Mão con nữ sỹ Ngân Giang, chiến sỹ trinh sát Trung đoàn, bị thương ốm yếu đưa ra Bắc cứu chữa, nhưng quá nặng đã mất).
Sơ kết chiến dịch, đánh phản công ngăn chặn địch ở đường 9 Nam Lào, từ tháng 2 đến tháng 3 năm 1971, với năm mươi tư ngày đêm đại đội 7- D2- E1- F2 chúng tôi đánh tiêu diệt thu hồi nhiều vũ khí trang bị của địch, làm tốt công tác dân vận và chính sách tù hàng binh. Bình quân mỗi cán bộ chiến sỹ trong đơn vị bắt sống 13 tù binh địch.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #14 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 08:57:58 pm »



TRÊN CAO NGUYÊN- BÔLÔVEN

Để an toàn cho tuyến đường vận tải của ta ở Hạ Lào. Đầu tháng 4 năm 1971, Sư đoàn 2 chúng tôi cùng quân tình nguyện Lào, chủ động tấn công mở rộng hành lang cho đường vận tải chiến lược 559. Nhằm xoá đồn bốt quân phiến loạn Thái Lan, phỉ nguỵ Lào phản động, đang quấy nhiễu đánh phá theo chỉ đạo của chính quyền nguỵ ở Sài Gòn.
Nhận lệnh lên Cao Nguyên Bôlôven, đường hành quân vào vị trí chiến đấu bộ đội chủ yếu ăn lương khô giảm bớt khói lửa, tránh qua lại khu đông dân, bảo đảm bí mật trước giờ nổ súng. Hàng chục ngày mang vác vũ khí lương thực thực phẩm chúng tôi đến cánh đồng Pha Lan- Đồng Hến. Mấy ngày sau phân đội tổ chức đánh tiêu diệt số đồn bốt nhỏ của địch nằm rải rác trên trục đường án ngữ. Đến trung tuần tháng 5, Trung đoàn giao nhiệm vụ cho phân đội đánh địch giải phóng thị trấn Pắk Soòng. Một khu đông dân cư sầm uất của vùng Hạ Lào, vị trí được chúng bảo vệ rất vững chắc.
Song với tinh thần quyết chiến quyết thắng, chỉ sau mấy ngày thắt chặt vòng vây đơn vị tôi đã đánh và làm chủ hoàn toàn khu vực. Nhân dân thị trấn lúc đầu hoang mang lo sợ, nhưng do làm tốt công tác tuyên truyền và giữ nghiêm kỷ luật. Đơn vị đã lấy được lòng tin của nhân dân các bộ tộc Lào, với anh bộ đội Giải phóng quân Việt Nam. Cửa hàng cửa hiệu bán hàng trở lại, dưới gầm nhà sàn đều có xe ô tô và xe Honda của nhân dân để đi lại vận chuyển. Hàng tiêu dùng; chăn, màn, quấn, áo, đồng hồ, xe đạp, lương thực thực phẩm bày bán tự do, người qua lại mua bán đông đúc.
Ngược lại công tác hậu cần của đơn vị tôi lúc này gặp rất nhiều khó khăn, các bếp không còn gạo nấu tiếp tế cho vị trí chiến đấu, mấy ngày liền bộ đội trên cao điểm ăn toàn rau tàu bay lá sắn, nấm chân chim luộc. Gần chục ngày mỗi chiến sỹ được cấp 0,5 kg gạo nếp/ngày, gói được nắm cơm nhỏ. Thấy anh em đứt bữa anh Phan Văn Thanh (Liễu) quân nhu tiểu đoàn, lấy súng bắn mấy con bò thả rông của bọn phỉ Vàng Pao quân phản động Lào giết lấy thịt. Đại đội tôi được bữa thịt bò đỡ đói, nhưng đồng chí Liễu ngay lập tức đã bị kỷ luật về chính sách dân vận.
Các bếp nuôi quân hầu như không còn gì mà nấu ăn cho bộ đội, anh em thay nhau vào rừng cà phê tìm mật ong, có đồng chí bị ong bò vẽ cắn đốt ngộ độc nặng, phải cứu mãi mới sống. Đói quá anh em tìm mật và ăn chuối chín, đã làm cho người say cồn cào choáng váng.
Mặc dù đói khổ như vậy, nhưng hàng hoá đường sữa bánh kẹo bày bán tự do. Được cán bộ chiến sỹ giữ nghiêm kỷ luật:“ Không lấy cái kim sợi chỉ của nhân dân…”, giữ vững lòng tin của đồng bào trên vùng đất.
Sau khi Trung đoàn đánh chiếm giải phóng thị trấn, phân đội tiến hành đánh địch trên quốc lộ 13. Đánh chiếm xong, Tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho đại đội 7 chúng tôi chốt giữ cao điểm Pắk Kụt. Vị trí được lãnh đạo đơn vị quán triệt: Không cho địch từ Pắk Sế theo đường 13 quay lại tái chiếm Pắk Soòng, không cho chúng chạy về Pắk Sế... Chỉ đạo của Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn là: Đánh kéo địch từ Pắk Sế và các nơi vào khu vực Pắk Kụt. Trung đoàn Ba Gia dùng một lực lượng đánh thọc phía sau sườn địch, phải cho chúng một đòn thật bất ngờ, không kịp chống đỡ. Tiêu diệt bằng được binh lính đang có ý đồ phản kích lại, bẻ gẫy bằng được cuộc tái chiếm của chúng vào khu vực; Pha Lan, Đồng Hến và thị trấn Pắk Soòng.
Điểm cao Pắk Kụt một ngọn đồi nằm cạnh đường quốc lộ số 13, có sông suối cầu bắc qua, một vị trí án ngữ hết sức quan trọng của cả hai phía. Với địch đây là vị trí bảo vệ vòng ngoài cho cụm quân sự ở Y Tu- Bản Nhik. Chính vì thế mà địch phải ra sức đánh chiếm hòng lấy lại vị trí.
Đơn vị lên chốt được lãnh đạo chỉ thị: Phải chiến đấu và thu hút địch vào cao điểm, tạo thuận lợi để Trung đoàn tập trung đánh vào cụm quân sự chúng.

BỐN CHIẾN SỸ TRÊN CAO ĐIỂM PẮK KỤT

Sau khi chúng tôi được giao lên cao điểm Pắk Kụt giữ chốt, triển khai đào hầm củng cố vị trí chiến đấu vừa xong, thì bị máy bay cùng pháo kích địch bắn vào vô cùng dữ dội. Chốt giữ trở thành nơi mưa bom bão đạn của kẻ thù, từng tốp máy bay địch lao tới ném bom, đạn pháo 105 ly, cối 165 ly từ căn cứ quân sự Bản Nhík bắn tới, sau là những đợt lính bộ binh địch tràn lên tấn công.
Trong ba ngày địch tấn công vào cao điểm bị đơn vị tôi đánh thiệt hại gần một tiểu đoàn, gồm 3 đại đội lính Com Măng Đô nguỵ Lào, quân Thái Lan. Vị trí được giữ vững, nhưng chốt giữ thương vong một số đồng chí phải điều động và thay thế liên tục.
Ngày mùng 9 tháng 6, từ mờ sáng địch cho máy bay đánh bom, bắn pháo cối vào cao điểm. Cuộc chiến đấu trở nên ngay go và vô cùng ác liệt, có đồng chí vừa bổ sung vào đến vị trí thì đã bị thương. Sau mấy giờ bị địch đánh phá và cho lính bao vây đường tiếp viện. Khoảng 14 giờ chốt giữ bị một đợt pháo cối và bộ binh địch tràn lên đánh phá làm nhiều đồng chí thương vong. Chốt giữ lúc này còn có: Tô Ngọc Lâm tiểu đội trưởng và các đồng chí Vũ Minh Quỳnh, Phạm Văn Tiến, cùng tôi.
Những tay súng còn lại, triển khai đánh từng đợt phản công của địch lên vị trí chốt giữ. Pháo cối địch bắn cấp tập vào cao điểm, tiếp đến là hàng loạt đạn súng đại liên, đạn M79, cùng với hàng loạt lính bộ binh tràn lên dùng tiểu liên AR 15 bắn như vãi đạn vào cao điểm
Quân số trên chốt còn ít, phải đánh trả với quân số địch quá đông, chốt giữ mỏng manh khó giữ, lúc này ta và địch giành giật nhau từng thước đất của quả đồi. Cơ số đạn cũng không còn đảm bảo cho cuộc chiến đấu với lũ giặc hung dữ, do vậy người lãnh đạo chỉ huy: Nhằm thật chính xác từng tên mới được nổ súng, tiết kiệm đạn, để địch đến thật gần mới được bắn … Thực hiện lệnh chiến đấu của người chỉ huy cao nhất còn lại trên cao điểm, chúng tôi xác định sống chết với quân thù tại vị trí vô cùng ác liệt này.
Địch tiếp tục cho bắn một đợt pháo cối cỡ lớn vào cao điểm, 30 phút sau cho lính bộ binh tiến lên. Các tay súng ngắm chính xác từng tên lính đi đầu đang khật khưỡng thở hồng hộc lao đến.
Thời cơ đánh địch đã đến, được chỉ huy ra lệnh. Chúng tôi đồng loạt nổ súng vào những tên đi đầu. Có lẽ địch tưởng chốt giữ đã bị bom pháo của chúng đánh chết hết, cho nên khi bị chốt giữ đánh trả lại địch đã hoảng hốt rút chạy. Ngay lập tức chúng tôi được lệnh đồng loạt bật khỏi hào quét đạn sát lưng địch. Xác giặc chết ngay mép chiến hào, số địch còn lại chạy thục mạng lăn xuống chân cao điểm.
Tranh thủ cơ hội ấy chúng tôi nhanh chóng thu lượm vũ khí, bổ sung cho cuộc chiến đấu. Pháo cối địch lại tiếp tục bắn đến, và trước tình hình một mất một còn của cao điểm, đồng chí Lâm xác định cho những người còn lại: Phải giữ bằng được cái chốt quan trọng này, vì đây là vị trí thu hút để cho Trung đoàn đánh được vào cụm quân sự của chúng ở Y Tu- Bản Nhik”.
Quân giặc với ý đồ phải chiếm bằng được cao điểm, chúng tiếp tục điều thêm quân, cho pháo cối triệt phá để bộ binh tràn lên bắt sống chúng tôi. Giờ phút trên Pắk Kụt hết sức căng thẳng, đơn vị cho quân đến nhưng không thể vào được. Vũ khí đạn trên chốt cạn dần, không còn cách nào khác đồng chí Lâm phân công mỗi người quan sát bảo vệ vững chắc một hướng, để địch vào thật gần mới được nổ súng, bắn tỉa chính xác, ném lựu đạn khi mấy thằng chụm vào nhau. Nhưng tuyệt đối không cho địch phát hiện chốt còn lại ít người, dùng AK phải kết hợp với vũ khí thu được của chúng, nhưng không cho địch biết là vũ khí lấy được của chúng.
Thực hiện ý định của người chỉ huy, khi địch vào cách vị trí chốt giữ khoảng 25 mét, chúng tôi đánh trả lại chúng bằng những loạt đạn AK, kèm theo là tiếng nổ của lựu đạn chày, lựu đạn US- đạn AR15 của Mỹ, khói lửa trên cao điểm mù mịt, địch hoảng loạn hô hét- Vici… Vici …còn rất nhiều, rút ngay- rút ngay.
Tiếng súng giảm dần, chốt chiến hào biến dạng đồng đội gọi tìm lại nhau, thì thấy đồng chí Lâm ngã vật người xuống hào và tay ôm chiếc mũ ở bụng, tôi vội lao đến, thấy ruột trong bụng xổ ra nằm trong chiếc mũ và anh đang cố nén giữ. Tôi hiểu đồng chí bị thương rất nặng, nhưng dấu kín không để cho chiến sỹ của mình biết, nhằm giữ vững lòng tin cho cuộc chiến đấu của đơn vị. Máu từ bụng đổ xuống đã đông đặc dưới chiến hào anh đứng chỉ huy.
Anh nói với chúng tôi trong hơi thở đứt quãng: Các em còn lại gần đây nghe anh nói, khi nói xong thì sẽ cho anh uống nước… Các đồng chí … các em hãy chiến đấu giữ chốt và thu hút địch, để cho đơn vị đánh vào Y Tu bản Nhik… trả thù cho anh cùng đồng đội hy sinh … Anh vẫy tay ra hiệu cho tôi ghé sát xuống người nghe anh nói.“Sau này chiến tranh kết thúc, hoà bình lập lại, em nào còn sống trở về, nhớ tìm đến quê hương anh ở đất Thái Bình, kể lại trận đánh của đơn vị, để cha mẹ gia đình quê hương anh biết, về cuộc chiến đấu giữ chốt vô cùng ác liệt này, cùng với việc mà anh hy sinh hôm nay …”.
Ba chúng tôi ghé sát vào người để anh hôn và cầm tay vĩnh biệt mấy người còn lại trên cao điểm. Anh mỉm cười… tin tưởng vào các chiến sỹ của anh còn lại chiến đấu giữ chốt.
Người tiểu đội trưởng kiên cường dũng cảm của đơn vị trên chốt Pắk Kụt, đã thanh thản ra đi trong vòng tay của đồng đội vào khoảng 16 giờ ngày mùng 9 tháng 6 năm 1971. Cao điểm lúc này còn lại ba người nổ súng chiến đấu giữ chốt, trời tối đơn vị tăng cường lực lượng củng cố trận địa. Cùng lúc ấy tiếng súng pháo cối của ta đã nã vào trúng cụm quân sự địch đóng ở khu vực Y Tu- Bản Nhík.
Mấy ngày sau Trung đoàn đã tập trung đánh tiêu diệt được cụm cứ điểm quan trọng của địch ở Hạ Lào, giữ vững mở rộng tuyến đường vận tải Trường Sơn, trả thù cho các đồng chí anh dũng hy sinh trên Cao Nguyên Bôlôven, đất nước hoa Chăm Pa xinh đẹp.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #15 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 08:58:57 pm »

Sau khi chiến đấu giải phóng được một vùng rộng lớn ở miền Hạ Lào. Cuối tháng 6 năm 1971, Trung đoàn hành quân trở về đóng quân ở phía nam huyện Mường Phìn thuộc Lào. Làm lán trại cho bộ đội ăn ở học tập chính trị huấn luyện quân sự. Đơn vị chỉnh đốn theo nghị quyết số 19 của Mặt Trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong học tập thảo luận các chiến sỹ đều phân tích đặt câu hỏi. Nếu có phải hy sinh trên chiến trường đánh giặc xâm lược có thiệt không …? Cả đơn vị bàn luận rồi cùng nhau đồng tâm ra nghị quyết: Hy sinh vì Tổ quốc Việt Nam yêu quí không thiệt...
Do có nhiều thành tích chiến đấu công tác, tôi được chi bộ xét kết nạp vào Đảng, lớp đảng viên Hồ Chí Minh. Đồng chí Trần Văn Thành người Hà Tây, trung đội trưởng, đảm bảo số một. Đồng chí Trần Văn Sơn người Quảng Nam, chính trị viên phó đại đội bí thư chi đoàn đảm bảo thứ hai, giúp đỡ tôi đứng trong hàng ngũ. Lễ kết nạp diễn ra trang trọng vào 14 giờ ngày 14, tháng 12, năm 1971, trên sườn núi phía tây của cánh rừng Trường Sơn đất nước Triệu Voi hùng vĩ. Dưới lá cờ quang vinh tôi nguyện hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Quân đội trao cho trên chiến trường đầy khó khăn ác liệt.
Là tiểu đội trưởng đảng viên trẻ tôi được tham dự các lớp tập huấn, từ đó mà nâng cao về kỹ chiến thuật trong chiến đấu. Được nghe giới thiệu lại những trận đánh có tính chất quyết định của Trung và Sư đoàn trong chiến dịch. Và các bức điện của, Anh Văn- Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đặc biệt là bức điện của Tổng Tư lệnh chỉ đạo cho phân đội trong chiến dịch Nam Lào.
Tôi cũng không thể quên hình ảnh và câu nói của Sư đoàn trưởng, Nguyễn Chơn, thời kỳ ấy. Làm tăng thêm sức mạnh cho mỗi người lính chúng tôi trên bước đường công tác, chiến đấu. “… Người chỉ huy phải thật giỏi và sâu sát cụ thể. Có giỏi thì chiến sỹ mới bớt thương vong hy sinh … Đơn vị cử người đi trinh sát đồn bốt địch đóng quân, về báo cáo với lãnh đạo để chuẩn bị cho việc chiến đấu chỉ có khoảng 9 lô cốt. Khi cho trinh sát đi kiểm tra lại, thì có tới 11 chiếc. Nếu quan liêu không chuẩn bị lại, thì hai chiếc lô cốt địch còn lại kia nó bắn ra, thì hậu quả nghiêm trọng như thế nào ?...”. Cùng bao câu truyện cụ thể khác được Sư đoàn trưởng nêu ra, mang đầy ý nghĩa trách nhiệm của mỗi cán bộ chiến sỹ với đất nước.
Dưới tán cây trong rừng già che khuất, đơn vị được huấn luyện kỹ từng động tác đánh địch trong hầm ngầm, lô cốt và thành phố thị xã, luyện bắn súng và ném lựu đạn thật. Một hôm trong buổi huấn luyện Tiểu đoàn phó Cẩn ra tình huống, đưa tiểu đội tôi lên tiêu diệt cụm hoả lực địch phía trước. Thấy địch quân xanh chống cự mạnh, tôi báo cáo địch chống cự rất quyết liệt không thể tiến vào được, đề nghị dùng hoả lực tiêu diệt, được chỉ huy ra lệnh cho tiêu diệt mục tiêu. Nhưng lúc rút kinh nghiệm tôi đã bị Tiểu đoàn phó Thân Văn Cẩn phê bình “ Đồng chí San tiểu đội trưởng lại ra tình huống cho cán bộ Tiểu đoàn… ”.
Thời kỳ này trong Trung đoàn đều được cải thiện bồi dưỡng sức cho bộ đội, vào ngày lễ Quốc khánh, thành lập Quân đội, cho các đồng chí là người dân tộc Mường, Tày, biết tiếng Lào mang tiền Kíp tới các bản mua trâu, bò, lợn, gà về giết thịt nấu ăn cho đơn vị. Có con, trâu, bò, lợn, mổ ra thì trong thịt đầy những con giun sán gạo cựa quậy. Anh em tiếc vì mấy tháng mới được cấp tiền mua về giết đun nấu cải thiện mà lại phải đem chúng đi chôn.
Ngày đêm máy bay địch đánh bom ở các gầm sông binh trạm và rải chất độc hoá học như mưa phùn xuống. Chỉ sau mấy tiếng đồng hồ lá cây rụng phủ kín mặt đất. Rồi máy bay B52 ném bom phá và bom bi nổ chậm kéo dài hàng chục giờ liền. Nhiều đoạn đường ô tô ta bị máy bay chúng săn đuổi đánh hỏng hàng chục chiếc xe cháy nổ còn mang đầy hàng hoá.
Máy bay trinh sát L.19- OV10 phát hiện có đường ống xăng dầu, dây thông tin liên lạc, là cho máy bay lao tới đánh bom phá huỷ. Tiếng gầm rít từ những trái bom giặc ném xuống mà lo cho các đồng chí thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, đang ngày đêm trên các đoạn đường trọng điểm.
Thỉnh thoảng đơn vị có anh chị em văn công chiếu phim từ miền Bắc và Quân Khu 5 vào biểu diễn thì đoàn bộ sắp xếp bộ đội lần lượt đến chiếc nhà hầm lớn ngồi xem, nhà phủ kín lá nguỵ trang đề phòng máy bay biệt kích địch phát hiện. Còn được cán bộ tuyên huấn vào nói chuyện tình hình sản xuất và chiến đấu của quân dân ngoài miền Bắc
Một hôm trung đội tôi có đồng chí trong đội văn nghệ xung kích vào chơi, đoàn đang biểu diễn ở trạm giao liên 31- 32. Chị là đồng hương với Trung đội trưởng Trần Văn Thành, người Hà Tây. Sau những câu truyện ấm tình trên quê hương đất Bắc, chúng tôi đề nghị chị hát tặng cho các chiến sỹ đơn vị nghe mấy bài.
Trong bộ quân phục cùng chiếc mũ tai bèo còn mới. Chị Liên đứng lên ngân vang bài: Đường tôi đi dài theo đất nước, Hà Tây quê lụa và ca khúc “ Nổi lửa lên em”. Khi chị ca sỹ hát tới đoạn:… Nổi lửa lên em miếng nước ngọt ngào, muối đượm quê hương tình thương chiến trận, phút ngọt bùi nhớ nắm cơm ngon...
Đã làm tôi nhớ đến đồng chí Võ người tỉnh Hưng Yên, khi còn huấn luyện trên đất Bắc, anh là nuôi quân của đại đội. Trên đường hành quân ra trận anh đứng lên giới thiệu rồi hát bài: Nổi lửa lên em. Trong núi rừng Trường Sơn ngày đầu gian lao vất vả, tiếng Võ cất lên bay bổng làm các chiến sỹ rất xúc động.“…Lửa chiến tranh còn, bỏng đất quê mình…. Đôi quang gánh nặng tình yêu đất nước. Hơi bếp Hoàng Cầm ta sưởi ấm nơi nơi…”.
Lời hát chứa chan tình yêu quê hương đất nước đi vào cuộc chiến, thì giờ đây đồng đội của Võ ngày ra đi còn sống, chỉ còn là câu chuyện kể về một chàng trai trẻ đất nhãn lồng có giọng hát hay, đã hiến trọn tuổi thanh xuân của mình trong trận chiến đấu đánh ngăn chặn địch ở chiến trường đường 9 Nam Lào.
Chị ca sỹ vừa hát xong thì trung đội trưởng Trần Văn Thành, chạy vào giá đỡ kéo chiếc ba lô rút ra tấm vải dù nhờ chuyển đến gia đình giúp anh: “Anh nhờ Liên, chuyển giúp tới mẹ hộ anh ba chéo vải dù hoa, mảnh dù của người con trai nơi chiến trường ác liệt gửi về làm quà tặng mẹ, để mẹ cùng gia đình làm kỷ niệm! Món quà chắc cũng là kỷ vật của người từ chiến trường gửi về quê nhà miền Bắc… Biết đâu khi tấm vải dù hoa này đến được tay mẹ anh cùng gia đình, thì trong mặt trận gian khổ ác liệt này thì Thành cũng hy sinh mất rồi…”.
Như một lời tiên tri trăng trối. Đồng chí Trần Văn Thành trung đội trưởng, người đảm bảo tôi vào Đảng đã hy sinh trong trận đánh giữ chốt vô cùng ác liệt, tại  điểm cao thuộc xã Ngọc Tụ, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #16 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 09:01:35 pm »

Trên Đường Vào Chiến Trường Tây Nguyên

Đầu năm 1972, Sư đoàn tôi hành quân trở lại chiến trường Khu 5 và Tây Nguyên. Đoàn quân về Tổ quốc với khí thế của một đơn vị ra chiến đấu và lập lên nhiều chiến công to lớn ở mặt trận đường 9, trên Cao nguyên Bôlôven nước bạn Lào.
Hàng ngày vượt qua núi cao suối sâu cùng bom đạn của kẻ thù bắn phá, thỉnh thoảng mới được nghỉ lại một ngày để bộ đội lấy lương thực thực phẩm. Đường hành quân có các quân binh chủng, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến. Người vào Nam ra Bắc tấp nập, trai gái truyện trò thân mật bên cánh võng, những lá thư viết vội gửi về người thân chúng tôi ngoài hậu phương miền Bắc,(thư truyền tay từ chiến trường ra bỏ vào hòm thư không phải dán tem).
Đường hành quân gặp anh chị em thương bệnh binh từ chiến trường đưa ra, ai cũng ân cần thăm hỏi, mong các đồng chí nhanh lành vết thương chóng khỏi bệnh, thương bệnh binh nặng trên võng cáng, giơ tay vẫy chào đoàn quân ra mặt trận và hẹn nhau ngày Nam Bắc thống nhất.
Đêm tối đồng đội tâm sự với nhau về làng quê yêu dấu và những tháng năm tuổi thơ cắp sách tới trường. Đơn vị ra qui chế người nào cũng phải kể về quãng đời của mình, trả lời những câu hỏi của đồng đội nêu ra. Như vậy hôm nay đến lượt tôi nói về mảnh đất thân yêu của mình, rút kinh nghiệm từ các anh kể trước, tôi bình tĩnh nói rành rọt:

Các đồng chí thân mến! Tôi có tên đầy đủ là Nguyễn Đăng San. Sinh ngày, 02 tháng 8 năm 1952, tại xóm Cổng Trước, thôn Đồng Xá, xã Đồng Gia, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Quê hương tôi được bồi đắp bởi hai con sông Kinh Thầy và sông Thái Bình, nước phù sa chảy vào quanh năm ngầu đỏ, nên đồng đất nơi đây ngày một thêm phì nhiêu màu mỡ. Những vườn vải thiều, nhãn lồng, ngọt lịm trĩu quả, cùng với hoa trái ngắn ngày mà người dân quê tôi biết tạo ra bởi một nắng hai sương. Chị em phụ nữ nơi đây xinh đẹp, chịu thương chịu khó, nên đã có nhiều chàng trai về“ làm rể”, rồi ở lại đây làm ăn sinh sống.
Còn truyền thống đánh giặc cứu nước, thì các đồng chí đã biết về những năm tháng trường kỳ kháng chiến, các đoàn xe ô tô tàu hoả của địch vận chuyển hàng từ cảng Hải Phòng lên phía Bắc chạy qua vùng đất nơi đây, đều khiếp sợ về cách đánh độn thổ và áp đảo của quân dân đường 5. Tiêu biểu là trận chặn đánh đoàn xe lửa vận chuyển vũ khí của chúng lên Điện Biên Phủ của Đội du kích đường Năm. Đặc biệt có người nữ liệt sỹ Anh hùng Mạc Thị Bưởi, bên dòng sông Kinh Thày của một thời đánh Pháp, đuổi Nhật.
 Cuối năm 1964, máy bay Mỹ leo thang ra đánh phá miền Bắc, làng mạc quê tôi trở thành một vị trí trọng điểm về các cuộc tập kích đánh phá của địch. Nhưng máy bay chúng đã bị quân dân quê tôi đánh trả bằng những đòn sấm sét, nhiều chiếc bị bắn rơi tại chỗ, giữ vững mạch máu giao thông cho tuyến huyết mạch của Hà Nội- Hải Phòng. Có tấm gương chiến đấu của người phụ nữ được nhà thơ Tố Hữu viết ca ngợi. “… Chuyện cô du kích xóm Lai Vu. Rắn quấn ngang chân vẫn bắn thù…”.
Vùng đất quê tôi được Thuỷ Đạo Tướng Quân, đời nhà Trần, cuối thế kỷ mười hai về đây mở mang lập ấp. Dân làng yên vui mở hội tri ân người có công xây dựng làng xã, nhằm giáo dục con cháu ngày một trưởng thành phát triển. Nhân dân trong vùng thường truyền nhau về ngày hội lớn của làng đó là; lên Chùa Muống, xuống Chùa Bùi.
Đình Đồng một ngôi đình cao to tôn thờ thành hoàng làng tướng công Đào Công Nhã, ngài được nhà Trần phân bổ về mở mang lập ấp, tạo dựng thành làng Đồng Xá- Trại Đồng- Đồng Hạ, Phí Gia. Thôn xóm trong làng truy ơn tướng công, đã góp công góp của xây dựng ngôi đình thờ phụng ngài, tôn vinh những người có công xây dựng quê hương đất nước. Thỉnh cầu các anh hùng hào kiệt phù hộ độ trì cho mưa thuận gió hoà, nhân dân yên vui hạnh phúc.
Ông bà nội tôi thuộc lớp người thành đạt trong làng, ông được học và đi thi ở Văn Miếu mà không thành. Nhưng ông vẫn được quan trên mời ra phân với chức quan; Tuần Phủ, một ông quan huyện lúc bây giờ. Nhưng không hiểu thế nào mà ông lại không nhận chức quan ấy. Mà trở về làng mở lớp dạy học bắt mạch cắt thuốc, chữa bệnh cứu người. Nên ông tôi vẫn được bà con trong khu vực quí trọng gọi ông là: Cụ Tuần.
 Ngày giỗ tết của ông bà được các con cháu trong họ, tổ chức rất trọng thể thành kính. Những năm kinh tế còn nhiều khó khăn, nhưng lăng mộ của ông bà vẫn được gia đình cùng các môn sinh xây dựng bằng những phiến đá xanh to cao, trạm khắc hoạ tiết của: Tùng – Cúc – Trúc – Mai, cùng những câu văn thơ đã được các nhà nho dịch ra, với nhiều ý tứ nhân văn và hàm ý sâu sắc.
Bố mẹ gia đình tôi làm ruộng, với con trâu đi trước, cái cày đi sau, một nắng hai sương chân nấm tay bùn mà vẫn không đủ ăn. Những năm 1930 – 1932, bố tôi vào đồn điền cao su Phú Riềng- Nam Bộ làm thuê, làm mướn. Sau không chịu được cảnh bất công của một số tên cai quản thay cho chủ đồn điền Pháp lúc bấy giờ, từ đó mà bố tôi trốn vào Sài Gòn, chạy sang Nông Pênh đất nước Chùa Tháp làm đầu bếp kiếm sống. Rồi lại phải trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình làm ăn sinh sống, trong tháng năm đi đất khách quê người, bố tôi nói khá nhiều về nỗi nhọc nhằn nơi tha phương. Tôi xin trích đọc mấy câu thơ để các bạn nghe những ngày nơi phố phường tấp nập.
“… Bước chân phiêu lãng, bốn phương trời
Sài Gòn hoa lệ, chiều mưa lạnh.
Tháp cổ Nông Phênh, một quãng đời…”.


Chính từ gian nan vất vả cùng hai tiếng quê hương, mà bố tôi đã rời phố phường trở lại quê nhà làm ăn sinh sống, nhưng cũng để lại cho chủ hãng và thợ thuyền nơi đây luyến tiếc về một người đầu bếp tài giỏi.
Bố mẹ tôi biết nhìn xa trông rộng hiểu kỹ nhớ lâu, biết viết văn làm thơ cùng  giọng đọc truyền cảm. Truyện được bố tôi nhớ rất kỹ như: Tam Quốc Diễn Nghĩa, văn thơ Hồ Chủ Tịch và Tố Hữu… Đặc biệt là văn thơ của đại thi hào Nguyễn Du, được bố tôi học thuộc và hát nẩy câu Truyện Kiều này khá hay.
Đồng đất quê hương nổi tiếng với những quả dưa hấu đỏ, củ đậu, xu hào, bắp cải, khoai lang bở thơm ngon mà mùa nào thức ấy, hàng hoá sản xuất ra được đưa đi tiêu thụ ở thành phố Hải Phòng, Hà Nội, khá đắt hàng. Nhưng cuộc sống của nhân dân quê tôi bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng của các cuộc chiến tranh gây ra, vì thế mà kinh tế nơi đây gặp nhiều khó khăn vất vả lắm. Những năm nhuận cùng tháng ba ngày tám hàng năm, người dân quê tôi đổ ra đồng hái rau, đào bới khoai mọc mậm, cốt sao ăn cho qua ngày đoạn tháng. Nồi cơm độn tới ba phần khoai khô mới được một phần cơm, ăn với một rổ ngọn khoai lá đỗ và khoai luộc chấm với muối vừng mặn chát. Mâm cơm may ra có bát canh cua mắm tép, do tôi đi học về tranh thủ vác dậm xuống cạnh đầm sông đánh bắt về nấu nướng. Ngày quan trọng của làng được mặc bộ quần áo vải nâu mới, hoặc quần áo cũ bạc màu đem ra hiệu nhuộm lại, bữa cơm giỗ tết mâm cúng gia tiên, có đĩa thịt gà, thịt vịt. Chỉ đến ngày 29 - 30 tết nguyên đán, thì mấy gia đình trong họ mới tích cóp mua chung nhau được thúng gạo nếp, con lợn 50- 60 kg đem về giết thịt gói bánh, chia nhau từng bát nước xáo ăn tết.
Cuộc sống vật chất còn nhiều khó khăn, nhưng văn hoá thì mang đầy tính nhân văn của làng quê lúa nước. Những buổi trưa hè cũng đêm trăng thanh gió mát, tiếng sáo diều vi vu, nhịp cối xay thóc tiếng chày giã gạo, điệu trống chèo ngoài sân đình trong sân kho hợp tác xã. Giọng hát của từng đôi trai gái nghe thiết tha mặn nồng lắm các đồng chí ạ!
Vào năm 1955- 1956, lúc ấy tôi mới được mấy tuổi nhưng do ấn tượng mà tôi vẫn còn nhớ như in. Các chú bộ đội về làng trước khi tiến vào tiếp quản giải phóng thành phố Hải phòng. Lúc ấy các anh với bộ quần áo vải ka ky cũ bạc màu, bởi tháng năm dài chiến tranh vừa mới giũ xong. Chiếc áo trấn thủ mùa đông, ngôi sao vàng gắn trên mũ trông thật oai nghiêm. Nhất là các đồng chí nuôi quân với những chiếc soong chảo nấu cơm canh to lỉnh kỉnh.
Làng xóm chào đón bộ đội về làng rồi ngân vang bài: “.. Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi, xóm làng tôi còn nhớ mãi…Các anh đi đến bao giờ trở lại ...”. Quê hương  tôi ngày ấy thật đông vui, không sao nói hết tình cảm của người dân quê tôi với các anh Bộ Đội Cụ Hồ, của những ngày đầu hoà bình trên đất Bắc.
Chiếc sân gạch gia đình tôi to nhất xóm, bà con kéo đến chật kín dự giao lưu liên hoan văn nghệ chào đoàn quân chiến thắng. Chị em phụ nữ với trang phục quần áo của đồng bào Thái, Mường, Tây Bắc, thanh niên nam nữ và các anh bộ đội quây quần rồi ngân vang bài.
“ Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sức manh… Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh. Anh em ơi vì nhân dân quên mình…Đoàn vệ quốc chúng ta, từ nhân dân mà ra, được dân tín được dân mến muôn phần…”.
 Điệu múa sạp xoè hoa vang lên rộn rã, hoà lẫn tiếng hát đệm của thanh niên nam nữ, đứng vòng quanh trong ánh trăng sáng của ngày mới hoà bình.
“ Sòn sòn sòn đô sòn… sòn sòn sòn đô rê…”.
Nhịp phách cùng tiếng vỗ gậy tre theo nhịp bước, được các anh các chị ra vào từng đôi uyển chuyển, tiếng vỗ tay hân hoan của người dân quê tôi với các anh bộ đội cứ kéo dài vang mãi…
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #17 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 09:02:24 pm »

Miền Bắc thanh bình chưa được bao lâu, thì vùng đất nơi đây lại phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại do không quân Mỹ gây ra. Làng xóm quê tôi trở thành một trận địa phóng tên lửa, quanh dàn phóng là những mâm pháo 14,5 ly- 37 ly và các loại pháo cỡ lớn khác. Quê hương tôi trở thành mục tiêu bắn phá của kẻ thù.
Tháp chuông nhà thờ, nơi thánh đường của đồng bào công giáo cũng trở thành pháo đài quan sát của bộ đội phòng không. Thôn xóm các chiến sỹ pháo phòng không đến thường trực chiến đấu rất đông, mảnh vườn trước cổng gia đình tôi đào thành hầm chỉ huy mặt đất. Mỗi khi địch bay vào đánh phá sân bay Kiến An, kho xăng dầu đặt ở thành phố Hải Phòng. Cầu Lai Vu, Phú Lương, và thị xã Hải Dương, thì đạn pháo và tên lửa bắn lên lao vào bày quạ Mỹ.
Quen dần tiếng đạn pháo tên lửa trẻ con trong làng đến cạch hầm chỉ huy, nghe bộ đội chỉ dẫn cho khí tài bắn tìm máy bay giặc. Mỗi lần được nghe người chỉ huy hô, hướng máy bay địch xuất hiện, chuẩn bị phóng… phóng… Một chùm lửa đỏ vút lên bay vào không trung tìm máy bay địch… nổ đi…tên lửa nổ, máy bay địch cháy…cháy rồi, chiếc kia bị thương bay ra biển. Thì tất cả mọi người đều nhẩy lên mừng chiến công của các anh pháo thủ.
Vào trung tuần tháng 12 năm 1966, từ bệ phóng bắn lên hai quả tên lửa tiêu diệt được máy bay địch đánh phá cầu Lai Vu, Phú Lương. Nhưng làng xóm quê tôi bị những hạt thuốc từ thân đuôi tên lửa cháy và hoạt động chưa hết rơi xuống, mùa hanh khô năm ấy đã làm cháy mất trên 60 hộ dân trong làng, xóm nhà thờ đạo cháy gần hết. Chị gái thứ hai gia đình tôi cháy mất ba gian nhà gỗ, bếp núc và chết hết một đàn lợn đẻ.
Tên lửa từ trận địa gầm rít phóng lên, máy bay địch lượn vòng quanh đánh phá, Nguyễn Đình Din phát hiện thấy mái nhà hàng xóm bốc khói, trèo lên lăn mình vào lửa, dập tắt được ngọn lửa đỏ hung dữ. Din được Hồ Chủ Tịch gửi tặng huy hiệu cháu ngoan Bác Hồ trong phong trào: Người tốt việc tốt.
Sau lần nhà cửa trong làng bị cháy, mỗi khi thấy tên lửa từ trận địa phóng lên, các gia đình chủ động cho người trèo lên dập tắt lửa vừa bén vào rơm rạ trên mái, từ đó giảm bớt được cháy lan ra.
 Chúng tôi đi chăn trâu ngoài cánh đồng, mỗi khi nhìn thấy máy bay ta cất cánh đánh nhau với máy bay địch trên không, tên lửa đạn pháo vây quanh nổ vào lũ giặc, cháy nổ tung những con ma thần sấm Mỹ, đứt vỡ rơi xuống đất làm mấy mảnh thì sướng lắm các đồng chí ạ!
Một hôm chiếc máy bay địch bị quân dân ta bắn cháy trên bầu trời làm tôi  còn nhớ mãi. Vào một chiều chúng tôi đang đánh dậm ở ven sông Văn úc, nghe tiếng máy bay địch nhìn lên, đã thấy chúng bay ngay trên đỉnh đầu, bọn tôi đội mũ rơm ngâm mình xuống nước quan sát, thì một quả tên lửa của ta bay đến nổ vào trúng tốp máy bay địch, làm một chiếc cháy nổ ngay trên đầu mảnh vỡ bay xuống nước kêu rào rào. Nhìn máy bay địch bốc cháy lửa đỏ lao xuống đất chúng tôi cầm dậm giơ lên cao reo hò… máy bay Mỹ cháy rồi anh em ơi… máy bay cháy… một chiếc bị thương loạng choạng bay ra biển.
Bọn tôi chạy về làng Đồng Hạ xã Liên Hoà, xem chiếc máy bay bị tên lửa ta bắn rơi, chiếc máy bay Mỹ F5 cháy đâm xuống cạnh nhà mẫu giáo hất tung bụi tre và mấy cây xoan to bật lên. Tên giặc lái được dân quân du kích kéo từ chiếc máy bay ra, người cao to không còn đầu. Viên giặc lái trong bộ quân phục màu trắng, đeo quân hàm trung uý, gan lá lách phình ra thịt mỡ cháy khét lẹt. Nhìn tên phi công lái chiếc máy bay đi đánh phá miền Bắc mất đầu thê thảm mùi thịt cháy gây quá, tôi nhổ bãi nước bọt. Thế là người tôi như bị dị ứng, nhổ nước bọt mấy ngày liên tục.
Mấy ngày sau địch cho máy bay bắn phá ác liệt vào trận địa, làm mấy đồng chí trong xe điều khiển khí tài đóng ở xóm tôi thương vong. Trong mấy tốp máy bay ấy, chúng cho một chiếc rải ký sinh trùng xuống đồng ruộng, một tuần sâu bướm nở bám kín cánh đồng và rặng phi lao. Nhưng rất may cho đồng ruộng quê tôi, loài sâu bướm địch rải xuống, không thích nghi với khí hậu đều chết hết.
Làng xóm mỗi khi có đơn vị tên lửa pháo phòng không về, bố tôi chỉ đạo các cụ phụ lão đun nước uống cho bộ đội, cùng với dân quân du kích, thanh thiếu niên ra san lấp đường để xe kéo bệ phóng và pháo phòng không vào trận địa, lấy cành cây làm nguỵ trang, xin quần áo cũ để các anh lau chùi vũ khí.
Lúc này các thành phố, thị xã, nhà máy trường học bị máy bay địch đánh phá  ác liệt, người từ khu công nghiệp nơi đông dân phải đưa về nông thôn sơ tán, gia đình ông Bác ruột và nhà tôi có ông Phan Tất Tuân. Cụ là Nhân sỹ yêu nước. Đại biểu Quốc hội khoá 1 và II, được đưa từ Hà Nội về ở cùng với người con gái, là bác dâu lấy anh ruột bố tôi. Cụ phúc hậu đẹp lão, nhưng chân ông yếu quá, mỗi khi đi lại đều phải nâng đỡ chống gậy cho cụ.
Một hôm cụ gọi mấy đứa tôi vào nhà rồi ông nói cho chúng tôi biết:         Chiếc gậy trúc mà ông đang dùng là của Bác Hồ đến thăm và tặng trước khi ông đi sơ tán về làng. Cụ nâng chiếc gậy rồi đọc mấy câu thơ rồi nói; ông chỉnh sửa mấy vần thơ mộc mạc gửi về cảm ơn Hồ Chủ Tịch. Bác Hồ đã trăm công ngàn việc mà vẫn nhớ đến thăm và tặng cho ông chiếc gậy trước khi đi sơ tán…
Cụ Phan Tất Tuân ở với bác cùng gia đình tôi được gần một năm, nhưng thấy làng mạc nơi đây cũng bị bom đạn địch thường xuyên đánh phá, nên Chính phủ cho xe về đón cụ đi sơ tán nơi khác.
 Anh trên tôi lên đường nhập ngũ, được biên chế vào tiểu đoàn tên lửa bảo vệ vùng trời Thanh Hoá. Đầu năm 1968 gia đình tôi nhận được tin anh bị thương do máy bay địch đánh phá vào đơn vị anh đang chiến đấu với địch ở xã Quảng Cư, huyện Quảng Xương. Tin anh đã làm cho họ hàng gia đình tôi rất lo lắng.
Thế rồi vào một chiều tối, anh khoác chiếc ba lô vào chào hỏi mọi người đang vây quanh mẹ tôi đau yếu. Bố tôi chạy ra ôm chặt lấy anh và nói to; thằng Bùi nó còn sống về đây rồi mẹ nó ơi vui lên, thằng San, thằng Sẻ, ra đỡ anh vào nhà ngay đi… Mấy phút sau mọi người vạch áo anh xem vết thương và hỏi về cuộc chiến đấu đánh máy bay bảo vệ cầu Hàm Rồng của bộ đội. Song bố tôi nói; gia đình họ hàng nhận được tin anh bị thương đã làm cho mẹ tôi suy nghĩ dẫn đến ốm nặng. Và cho anh biết địa phương vừa làm lễ truy điệu cho mấy người đi chiến trường hy sinh, trong đó họ gần nhà tôi mất ba người, một anh con ông bác ruột là Nguyễn Đăng Noi, tử trận ở thượng Lào. Hai cháu, Nguyễn Đăng Thạch và Nguyễn Đăng Nhưỡng, hy sinh ở mặt trận Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị.
 Anh tôi về chơi mấy ngày trở về viện điều trị tiếp. Khi đi bố tôi động viên: Anh Điệp con trai cả gia đình tham gia bộ đội chống Pháp, bị thương điều trị chưa khỏi, đã xin về tiếp tục chiến đấu. Chị Hạnh người con gái gầy yếu tham gia thanh niên xung phong, làm đường trên Cao Bằng, Bắc Kạn, vất vả mà chị phục vụ tốt, được khen thưởng đấy. Còn anh là trai lớn lên khi đất nước có giặc, phải xứng đáng với truyền thống của gia đình cùng quê hương.
Sau khi bị thương anh tôi về chơi, nhưng rất lo lắng nên gia đình động viên để anh trở lại đơn vị ngay.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #18 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 09:03:17 pm »

Đồng ruộng cày cấy lúc này còn toàn người lớn tuổi và chị em phụ nữ hoặc mấy người không đủ sức khoẻ tham gia việc xã hội. Thế nhưng trong làng cũng có mấy người trốn tránh đảo ngũ, có anh không dám ra ngoài sợ gặp chính quyền địa phương cùng đơn vị về nhắc nhở, người nào cố tình trốn tránh cũng xấu hổ vì những câu nói ra nói vào. “ Ai cũng trốn đảo ngũ ở nhà như tôi, thì mất nước”.
Năm 1967 tôi học xong phổ thông cấp hai thi đỗ vào trường cấp ba huyện, được tiếp tục theo học. Phấn khởi vì 6 xã trong khu mới được hơn chục người vào học. Ngôi trường được xây dựng theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Nhà nước 1961-1965, một huyện đông dân chạy dài mấy chục km mới có một ngôi trường, nên việc học phải chăm chỉ mới theo kịp. Được vào học như một giấc mơ của tuổi trẻ nông thôn chúng tôi ngày ấy. Hàng ngày phải đi bộ đến trường và về trên 20 cây số, một năm sau cố gắng lắm gia đình tôi mới mua được cho chiếc xe đạp cũ do Liên Xô sản xuất, mọi người thường gọi nó là xe con trâu với giá 272 đồng. Chiếc xe đạp thì cao, mà người tôi thì thấp bé phải đạp vạy cả người chân mới chạm vào bàn đạp.
Xe đi lại nhiều săm lốp hỏng liên tục phụ tùng bán theo sổ phân phối, có tiền cũng khó mà mua được đồ thay thế, nhiều hôm phải dắt xe do bục lốp, đứt xích, trượt cá, chạy cấp tốc đến trường. Ngoài giờ học cùng gia đình đan thúng mủng, dần, sàng… để kịp cho mẹ sáng mai đưa ra chợ phiên bán lấy tiền mua đèn dầu rau cám lợn... Ngày thu hoạch củ đậu, khoai lang, xu hào, bắp cải, gồng ngánh đẩy xe cải tiến đi tiêu thụ. Bán xong nông sản gia đình trồng ra, mẹ tôi lại ra chợ mua hàng về bán, tôi còng lưng đèo 60-70 kg rau củ mang đến thành phố Hải Phòng bán lãi được mấy đồng, phấn khởi đạp xe ra chợ Sắt mua được một hai cân mỳ sợi, đem về nấu canh cho cả nhà ăn chống đói, vất vả lắm các đồng chí ạ!
Thấy tôi nói vậy, mấy anh tranh nhau nói; như thế có gì mà đói khổ đâu đồng chí San của tôi ơi. Quê bọn mình ở Thái Bình, Nam Định, Nghệ An…còn đói khổ bằng mấy cơ đấy, quê bạn có đồng đất trồng hoa màu được thu quanh năm, lại được gia đình nuôi ăn học đến cấp ba, chứ bọn tớ chỉ được học đến lớp năm lớp sáu thôi, anh em nông thôn đã mấy người có xe đạp mà đi. Như vậy là đồng chí sướng hơn bọn mình nhiều lắm đấy.
Các đồng chí thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, thi nhau hỏi về tình yêu tuổi học trò và những ngày còn huấn luyện trên đất Bắc.
Tôi trả lời: Các đồng chí thân mến, nói bảo tôi chưa để ý tới cô gái nào cũng không phải, còn nói đã yêu rồi cũng chưa đúng, vì tôi đã được cầm tay và ôm hôn một cô gái nào đâu, thú thực với các bạn chưa hề biết nụ hôn tình yêu, chỉ được nghe chuyện tình qua những câu chuyện kể. Khi mình còn trẻ đi học, lớn lên vào bộ đội, huấn luyện xong vào chiến trường ngay, làm gì có thời gian mà yêu thương đâu các anh.
Nghe thấy tôi nói vậy, anh Quỳnh người Hà Nội giọng khàn khàn đứng lên nói: Đồng chí San ơi, tôi đã được bạn cho xem lá thư của một cô bạn gái nữ sinh rồi đấy nhé. Thấy Quỳnh thế, mấy đồng chí chạy lại giật võng nói: Yêu cầu đồng chí kể thật chi tiết cho đồng đội biết về mối tình thơ mộng này, để bọn mình biết tình yêu của lính. Chiến tranh kết thúc anh em mình còn sống, phải về gia đình cô bạn gái đồng chí, nếu lên duyên của một chiến sỹ quân Giải phóng từ mặt trận nóng bỏng trở về, với một cô gái trong tháng năm dài mà người Nam kẻ Bắc, thì mối tình chung thuỷ ấy, được tạc cùng với chiến công của người lính ngoài mặt trận phải không các đồng chí.
 Các đồng chí hỏi tình yêu sau luỹ tre làng của mình phải không? Tôi xin tiếp tục trình bày để các bạn nghe về tình cảm ấy nhé: Hàng ngày mình đến trường với cô gái có tên Phương Hoa, con một gia đình liệt sỹ thời chống Pháp, ông hy sinh trên Việt bắc. Hoa có cảm tình với mình, nhưng San chậm hiểu quá, nghĩ lại mà thấy thương cho nàng. Mấy lần chiếc xe đạp đang đi bị hỏng, Hoa dừng lại đứng sát vào người nói nhỏ: Anh gửi xe rồi cùng mình đến trường kẻo muộn. Sợ muộn tôi lên chiếc xe thiếu nhi Đức cùng Hoa tới lớp,(xe thiếu nhi Đức, Liên Xô, chỉ bán phân phối cho con liệt sỹ và thương binh), đường gập nghềnh sỏi đá hai đứa bám chặt vào nhau. Bạn học đi đường nhìn thấy hai đứa đạp sát xe vào trêu đùa: Chà hai bạn đẹp đôi quá... Hoa đỏ bừng đôi má, tủm tỉm cười đạp xe nhanh tới lớp.
 Ngày mình vào bộ đội, Hoa viết thư nói về tình cảm của hai đứa khi cắp sách tới trường, và trách sao lại không để ý tới Hoa. Ngày chuẩn bị vào chiến trường mình xuống gia đình cô ấy chia tay. Trong ngôi nhà đơn sơ đắp đất lợp rạ, trên bàn thờ có di ảnh ông bố, mình thắp nén nhang thầm chúc vong linh ông yên lòng bên thế giới tâm linh, phù hộ cho hai mẹ con vượt qua nỗi đau chiến tranh, xứng đáng với người hy sinh vì Tổ quốc.
Khi chia tay mình nói: Đất nước có chiến tranh anh vào chiến trường với nhiều khó khăn ác liệt, người chiến sỹ nơi bom rơi đạn nổ, khó có điều kiện trở lại mảnh đất xây dựng hạnh phúc, nên Hoa đừng đợi đừng chờ San nữa. Chắc em cũng hiểu rồi, bố Hoa đã hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc, làm cho mẹ Hoa bị đơn côi gối chiếc, cha con cũng chưa biết mặt nhau. Phải khó khăn lắm mẹ mới vượt lên được bởi nỗi đau mất chồng và nuôi dạy em ăn học, nên đừng để cho mẹ lại phải chứng kiến nỗi khắc khoải của cô con gái đã thiệt thòi mất bố, lại phải mong chờ về một người bạn trai nơi chiến trường ác liệt.
Hoa lau nhanh những ngọt nước mắt, chạy vào nhà đem ra tặng mình chiếc khăn tay rồi nói: Em tặng anh chiếc khăn làm kỷ niệm, về một thời mà hai chúng ta đi trên con đường cắp sách tới trường và cùng ngồi chung một lớp...
Trở lại đơn vị, mình viết thư nhắc lại chuyện hôm chia tay. Khoảng một tháng sau, chắc cô ấy suy nghĩ nhiều lắm mới viết thư gửi được cho mình, nói sẽ thực hiện theo lời khuyên của tôi lúc đi mặt trận.
Các chiến sỹ tiếp tục yêu cầu nói về những cô gái nơi đơn vị huấn luyện có cảm tình với lính trẻ.
Tôi xin hỏi, anh em cho cảm nhận những chuyện tôi kể về quê hương, cùng tuổi thơ tôi cắp sách tới trường, các đồng chí nghe thấy thế nào?
 Anh Thành trung đội trưởng nói ngay, ngày mình còn đi học rất thích nghe và đọc các bài văn viết hay, từ hôm được nghe các bạn nói về làng quê yêu dấu của mỗi đồng chí, thấy cứ hiện về làng xóm mình trong ấy. Đồng chí sắp xếp kể khá hấp dẫn và cảm động đấy, nói tiếp cho đồng đội nghe đi. Nhưng khi kể về tình yêu thì phải mạnh bạo lên, chúng mình toàn lính trẻ chưa biết gì tình yêu cùng vợ con phải không các đồng chí.
 Bây giờ tôi xin nói tình yêu bằng lời thơ của Trần Sơn Lâm, để mọi người cùng nghe, đồng chí Lâm lính đại đội cối 82 thuộc Trung đoàn 141. Đại đội anh ấy đã mấy lần đi phối hợp chiến đấu với đơn vị mình rồi đấy. Mấy đồng chí hỏi; có phải anh Lâm người Thái Bình không nhỉ? Đúng rồi, anh Lâm hơn chúng mình mấy tuổi thôi, thơ anh viết tình yêu lính trẻ tôi rất thích bài “ Chuyện Riêng Của Lính”, tôi đọc bài thơ để các bạn thấy tác giả muốn khắc hoạ tình yêu đôi lứa, vợ chồng xa nhau lâu ngày gặp lại, và lính ta đi chiến trường chưa biết một nụ hôn. Anh Thắng nhìn mọi người nói đồng chí San dẫn chuyện hấp dẫn, nhưng để đợi lâu quá. Các đồng chí thi nhau nói: Không biết các bạn thế nào, chứ bọn mình ở nhà rồi đi bộ đội cho đến nay, chưa biết gì về yêu đương cả. Đồng chí Lê Quang Nhuận, người ít nói trong trung đội lên tiếng. Có nhắc chuyện tình yêu thì mình mới điểm lại, hầu hết lính đơn vị ta đều là người chưa có vợ. Vì mười bảy mười tám tuổi, ông nào cũng xung phong đi bộ đội, xin bằng được vào Nam đánh giặc cứu nước, làm gì có thời gian để mà yêu thương đâu.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #19 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 09:05:13 pm »

Đồng ruộng cày cấy lúc này còn toàn người lớn tuổi và chị em phụ nữ hoặc mấy người không đủ sức khoẻ tham gia việc xã hội. Thế nhưng trong làng cũng có mấy người trốn tránh đảo ngũ, có anh không dám ra ngoài sợ gặp chính quyền địa phương cùng đơn vị về nhắc nhở, người nào cố tình trốn tránh cũng xấu hổ vì những câu nói ra nói vào. “ Ai cũng trốn đảo ngũ ở nhà như tôi, thì mất nước”.
Năm 1967 tôi học xong phổ thông cấp hai thi đỗ vào trường cấp ba huyện, được tiếp tục theo học. Phấn khởi vì 6 xã trong khu mới được hơn chục người vào học. Ngôi trường được xây dựng theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Nhà nước 1961-1965, một huyện đông dân chạy dài mấy chục km mới có một ngôi trường, nên việc học phải chăm chỉ mới theo kịp. Được vào học như một giấc mơ của tuổi trẻ nông thôn chúng tôi ngày ấy. Hàng ngày phải đi bộ đến trường và về trên 20 cây số, một năm sau cố gắng lắm gia đình tôi mới mua được cho chiếc xe đạp cũ do Liên Xô sản xuất, mọi người thường gọi nó là xe con trâu với giá 272 đồng. Chiếc xe đạp thì cao, mà người tôi thì thấp bé phải đạp vạy cả người chân mới chạm vào bàn đạp.
Xe đi lại nhiều săm lốp hỏng liên tục phụ tùng bán theo sổ phân phối, có tiền cũng khó mà mua được đồ thay thế, nhiều hôm phải dắt xe do bục lốp, đứt xích, trượt cá, chạy cấp tốc đến trường. Ngoài giờ học cùng gia đình đan thúng mủng, dần, sàng… để kịp cho mẹ sáng mai đưa ra chợ phiên bán lấy tiền mua đèn dầu rau cám lợn... Ngày thu hoạch củ đậu, khoai lang, xu hào, bắp cải, gồng ngánh đẩy xe cải tiến đi tiêu thụ. Bán xong nông sản gia đình trồng ra, mẹ tôi lại ra chợ mua hàng về bán, tôi còng lưng đèo 60-70 kg rau củ mang đến thành phố Hải Phòng bán lãi được mấy đồng, phấn khởi đạp xe ra chợ Sắt mua được một hai cân mỳ sợi, đem về nấu canh cho cả nhà ăn chống đói, vất vả lắm các đồng chí ạ!
Thấy tôi nói vậy, mấy anh tranh nhau nói; như thế có gì mà đói khổ đâu đồng chí San của tôi ơi. Quê bọn mình ở Thái Bình, Nam Định, Nghệ An…còn đói khổ bằng mấy cơ đấy, quê bạn có đồng đất trồng hoa màu được thu quanh năm, lại được gia đình nuôi ăn học đến cấp ba, chứ bọn tớ chỉ được học đến lớp năm lớp sáu thôi, anh em nông thôn đã mấy người có xe đạp mà đi. Như vậy là đồng chí sướng hơn bọn mình nhiều lắm đấy.
Các đồng chí thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, thi nhau hỏi về tình yêu tuổi học trò và những ngày còn huấn luyện trên đất Bắc.
Tôi trả lời: Các đồng chí thân mến, nói bảo tôi chưa để ý tới cô gái nào cũng không phải, còn nói đã yêu rồi cũng chưa đúng, vì tôi đã được cầm tay và ôm hôn một cô gái nào đâu, thú thực với các bạn chưa hề biết nụ hôn tình yêu, chỉ được nghe chuyện tình qua những câu chuyện kể. Khi mình còn trẻ đi học, lớn lên vào bộ đội, huấn luyện xong vào chiến trường ngay, làm gì có thời gian mà yêu thương đâu các anh.
Nghe thấy tôi nói vậy, anh Quỳnh người Hà Nội giọng khàn khàn đứng lên nói: Đồng chí San ơi, tôi đã được bạn cho xem lá thư của một cô bạn gái nữ sinh rồi đấy nhé. Thấy Quỳnh thế, mấy đồng chí chạy lại giật võng nói: Yêu cầu đồng chí kể thật chi tiết cho đồng đội biết về mối tình thơ mộng này, để bọn mình biết tình yêu của lính. Chiến tranh kết thúc anh em mình còn sống, phải về gia đình cô bạn gái đồng chí, nếu lên duyên của một chiến sỹ quân Giải phóng từ mặt trận nóng bỏng trở về, với một cô gái trong tháng năm dài mà người Nam kẻ Bắc, thì mối tình chung thuỷ ấy, được tạc cùng với chiến công của người lính ngoài mặt trận phải không các đồng chí.
 Các đồng chí hỏi tình yêu sau luỹ tre làng của mình phải không? Tôi xin tiếp tục trình bày để các bạn nghe về tình cảm ấy nhé: Hàng ngày mình đến trường với cô gái có tên Phương Hoa, con một gia đình liệt sỹ thời chống Pháp, ông hy sinh trên Việt bắc. Hoa có cảm tình với mình, nhưng San chậm hiểu quá, nghĩ lại mà thấy thương cho nàng. Mấy lần chiếc xe đạp đang đi bị hỏng, Hoa dừng lại đứng sát vào người nói nhỏ: Anh gửi xe rồi cùng mình đến trường kẻo muộn. Sợ muộn tôi lên chiếc xe thiếu nhi Đức cùng Hoa tới lớp,(xe thiếu nhi Đức, Liên Xô, chỉ bán phân phối cho con liệt sỹ và thương binh), đường gập nghềnh sỏi đá hai đứa bám chặt vào nhau. Bạn học đi đường nhìn thấy hai đứa đạp sát xe vào trêu đùa: Chà hai bạn đẹp đôi quá... Hoa đỏ bừng đôi má, tủm tỉm cười đạp xe nhanh tới lớp.
 Ngày mình vào bộ đội, Hoa viết thư nói về tình cảm của hai đứa khi cắp sách tới trường, và trách sao lại không để ý tới Hoa. Ngày chuẩn bị vào chiến trường mình xuống gia đình cô ấy chia tay. Trong ngôi nhà đơn sơ đắp đất lợp rạ, trên bàn thờ có di ảnh ông bố, mình thắp nén nhang thầm chúc vong linh ông yên lòng bên thế giới tâm linh, phù hộ cho hai mẹ con vượt qua nỗi đau chiến tranh, xứng đáng với người hy sinh vì Tổ quốc.
Khi chia tay mình nói: Đất nước có chiến tranh anh vào chiến trường với nhiều khó khăn ác liệt, người chiến sỹ nơi bom rơi đạn nổ, khó có điều kiện trở lại mảnh đất xây dựng hạnh phúc, nên Hoa đừng đợi đừng chờ San nữa. Chắc em cũng hiểu rồi, bố Hoa đã hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc, làm cho mẹ Hoa bị đơn côi gối chiếc, cha con cũng chưa biết mặt nhau. Phải khó khăn lắm mẹ mới vượt lên được bởi nỗi đau mất chồng và nuôi dạy em ăn học, nên đừng để cho mẹ lại phải chứng kiến nỗi khắc khoải của cô con gái đã thiệt thòi mất bố, lại phải mong chờ về một người bạn trai nơi chiến trường ác liệt.
Hoa lau nhanh những ngọt nước mắt, chạy vào nhà đem ra tặng mình chiếc khăn tay rồi nói: Em tặng anh chiếc khăn làm kỷ niệm, về một thời mà hai chúng ta đi trên con đường cắp sách tới trường và cùng ngồi chung một lớp...
Trở lại đơn vị, mình viết thư nhắc lại chuyện hôm chia tay. Khoảng một tháng sau, chắc cô ấy suy nghĩ nhiều lắm mới viết thư gửi được cho mình, nói sẽ thực hiện theo lời khuyên của tôi lúc đi mặt trận.
Các chiến sỹ tiếp tục yêu cầu nói về những cô gái nơi đơn vị huấn luyện có cảm tình với lính trẻ.
Tôi xin hỏi, anh em cho cảm nhận những chuyện tôi kể về quê hương, cùng tuổi thơ tôi cắp sách tới trường, các đồng chí nghe thấy thế nào?
 Anh Thành trung đội trưởng nói ngay, ngày mình còn đi học rất thích nghe và đọc các bài văn viết hay, từ hôm được nghe các bạn nói về làng quê yêu dấu của mỗi đồng chí, thấy cứ hiện về làng xóm mình trong ấy. Đồng chí sắp xếp kể khá hấp dẫn và cảm động đấy, nói tiếp cho đồng đội nghe đi. Nhưng khi kể về tình yêu thì phải mạnh bạo lên, chúng mình toàn lính trẻ chưa biết gì tình yêu cùng vợ con phải không các đồng chí.
 Bây giờ tôi xin nói tình yêu bằng lời thơ của Trần Sơn Lâm, để mọi người cùng nghe, đồng chí Lâm lính đại đội cối 82 thuộc Trung đoàn 141. Đại đội anh ấy đã mấy lần đi phối hợp chiến đấu với đơn vị mình rồi đấy. Mấy đồng chí hỏi; có phải anh Lâm người Thái Bình không nhỉ? Đúng rồi, anh Lâm hơn chúng mình mấy tuổi thôi, thơ anh viết tình yêu lính trẻ tôi rất thích bài “ Chuyện Riêng Của Lính”, tôi đọc bài thơ để các bạn thấy tác giả muốn khắc hoạ tình yêu đôi lứa, vợ chồng xa nhau lâu ngày gặp lại, và lính ta đi chiến trường chưa biết một nụ hôn. Anh Thắng nhìn mọi người nói đồng chí San dẫn chuyện hấp dẫn, nhưng để đợi lâu quá. Các đồng chí thi nhau nói: Không biết các bạn thế nào, chứ bọn mình ở nhà rồi đi bộ đội cho đến nay, chưa biết gì về yêu đương cả. Đồng chí Lê Quang Nhuận, người ít nói trong trung đội lên tiếng. Có nhắc chuyện tình yêu thì mình mới điểm lại, hầu hết lính đơn vị ta đều là người chưa có vợ. Vì mười bảy mười tám tuổi, ông nào cũng xung phong đi bộ đội, xin bằng được vào Nam đánh giặc cứu nước, làm gì có thời gian để mà yêu thương đâu.
Các anh bàn luận lắng xuống tôi nói. Như vậy là các đồng chí đã bình phẩm bài thơ của Trần Sơn Lâm rồi đấy, bây giờ tôi xin đọc để các bạn cùng nghe.

“Những ngày ở chiến trường.
Đạn bom thù ác liệt,
Người lính cần tình thương
Thời gian chờ diệt giặc,
Thường kể chuyện quê hương.
                  ***

Chuyện yêu đương đủ điều.
Anh có vợ kể nhiều
Kể liều và kể tất.
Những chuyện riêng, riêng nhất.
Đêm tân hôn trăng mật
Trước khi đi chiến trường.
***

Lính trẻ chưa yêu đương
Ôm bụng cười ngây ngất.
Biết đâu tóc hương mật
Nụ hôn ngon hơn đường.
***
Nghe chuyện đồng đội kể
Càng thêm yêu quê hương.
Càng thương người chiến sỹ
Giữa chiến trường đạn bom…”.


Nghe đọc xong anh nào cũng nói thơ anh Lâm viết dí dỏm mà vui, giá như thanh niên nước mình không phải cầm súng đi đánh giặc, thì rất nhiều người được đào tạo làm rạng danh đất nước. Chiến tranh làm tổn thất nhiều nhân tài đất nước, cùng một lớp người tài giỏi phải hy sinh cho độc lập tự do của dân tộc.
Bây giờ tôi sẽ nói chuyện lính trẻ nơi đóng quân để các đồng chí cùng nghe. Khu vực tôi huấn luyện có nhiều cô gái với nước da trắng và tóc dài đen óng mượt, có cảm tình với lớp tân binh bọn mình. Nhiều trưa hè nóng bức anh em đang nghỉ, mấy cô sắn quần lội suối sang chơi, thấy bộ đội mồ hôi nhễ nhại lấy bẹ cau gấp lại quạt cho anh em ngủ, người nghịch lấy ngọn cỏ quẹt vào mặt mũi, cô bạo hơn thì xoã tóc xuống mặt trêu đùa. Bọn mình tỉnh giấc các cô lúng túng chạy vào nhà bếp lấy rơm rạ che mặt.
 Sau giờ huấn luyện học tập chúng mình thường ngồi hát đối giao duyên với nhau vui lắm. Thanh niên nam nữ bên dòng sông Cầu qua đoạn Phả Lại, họ hát rất hay và giỏi văn thơ hò vè lắm đấy các đồng chí nhé.
Ngày chúng mình chuẩn bị đi chiến trường, mấy cô rủ đi thị trấn Phả Lại, Sao Đỏ, chụp ảnh xem phim. Lúc chia tay đi chiến trường nhiều cô ra tận hàng quân chào tạm biệt và hẹn chúng tôi trên vùng đất địa linh nhân kiệt của Côn Sơn, Chí Linh. Thuỳ Vân, cô gái duyên dáng có nhiều cảm tình với San, nhưng mình không thổ lộ hứa hẹn gì, chỉ mong cho Vân ngoài hậu phương sớm có ngày vui hạnh phúc.
Chúng tôi mong ngày đất nước yên tiếng súng trở về làng quê xây dựng hạnh phúc gia đình sao mà thiêng liêng thế. Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy đồng đội tôi đều tự nhủ, biết có thể hy sinh trên chiến trường đầy khó khăn ác liệt, nhưng vẫn nhận vào mình sự hy sinh thanh thản ấy.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM