Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:14:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.  (Đọc 57037 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #20 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 09:07:18 pm »



Những Trận Bi Hùng Trên Đất Tây Nguyên

Đoàn quân sau mấy tháng hành quân đi bộ liên tục, vượt hàng trăm km đến gần ngã ba biên giới, Việt Nam- Lào- Căm Pu Chia, qua huyện Ngọc Hồi vào huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, đường hành quân vũ khí súng đạn, lương thực thực phẩm trên vai sức khoẻ bộ đội đã có phần giảm sút.
Nhân dân trên núi rừng Tây Nguyên, chịu đựng biết bao khó khăn gian khổ. Nhưng đồng bào vẫn một lòng đi theo Đảng, Bác Hồ, hôm nay chúng tôi về chiến đấu trên mảnh đất có văn hoá của Trường Ca Đam San và anh hùng Núp, cùng đứng lên lãnh đạo đánh Tây thắng lợi, nên cán bộ chiến sỹ đều xác định có khó khăn gian khổ ác liệt đến mấy cũng phải vượt lên. Cây cối vươn cao mấy người vòng tay nhau mới ôm hết một gốc cây to, rừng núi ẩm ướt ít người qua lại. Quân địch từng ví so sánh: Dốc Tây Nguyên- Gan Cộng sản.
Ngày đêm bộ đội qua dốc cao suối sâu, công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn, trên lưng lúc nào cũng trên 60 kg súng đạn, quần áo, gạo, muối. Việc vận chuyển súng đạn cỡ lớn vào vị trí chiến đấu càng khó khăn hơn nhiều. Địch thường xuyên cho biệt kích thám báo vào bản làng quấy rối, xúi dục kẻ xấu nổi dậy, hổ báo thú giữ rình rập bắt người ăn thịt.
Gian khổ ác liệt đã có phần tử phản lại đồng đội, đi theo và chỉ điểm cho máy bay pháo kích địch đánh phá nơi trú quân. Nhưng bọn giặc đã bị đoàn quân cho một đòn choáng váng, không còn cơ hội tái chiếm cao điểm đồn bốt cũ.
Địch bắn vào khu trú quân hàng trăm quả đạn pháo 105 ly, bom từ những tốp máy bay F 105, AD6 và B52 rải xuống, nổ phá tan tành cả một khu rộng lớn, làm cho việc chiến đấu giữ chốt gặp nhiều khó khăn. Nhưng cán bộ chiến sỹ vẫn chiến đấu ngoan cường, xác định nhiệm vụ cho từng tổ công tác. Đồng đội thay nhau lên đánh chiếm điểm cao chiến đấu đến cùng, truy kích địch tái chiếm đồi Ngọc Tụ,(xã Ngọc Tụ thuộc huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum ngày nay).
Tổ trinh sát đi chốt giữ trên đường 14, một đồng chí bị thú dữ ăn thịt. Lúc đầu tưởng lộ vị trí phải di chuyển, đảm bảo an toàn trước giờ tiến quân đánh vào sào huyệt địch ở Tây Nguyên.
Thám báo biệt kích địch hoạt động mạnh bộ đội hạn chế ra sông suối tắm giặt,  đầu tóc quần áo chúng tôi bám đầy đất cát và khói bom đạn. Đến bữa phải cử người đi gần một giờ đồng hồ mới có cơm đem về ăn. Hàng tháng trời chiến đấu trên đất Cao nguyên. Đơn vị tôi hy sinh mất một số đồng chí, trong đó có anh Trần Văn Thành và Lê Quang Nhuận, hai anh cùng Trung đội.
Đầu tháng 4 năm 1972, lương thực thực phẩm gặp vô cùng khó khăn, mỗi chiến sỹ trong ngày được cấp 0,2 đến 0,3 kg gạo, đơn vị thay nhau đi đào củ chuối lấy măng tre nứa. Sau đó củ chuối măng rừng cũng không còn mà lấy cải thiện. Trong lúc đánh chiếm đồn bốt Ngọc Tụ vét được ít gạo địch bỏ lại hý hửng đem về, không biết gạo có thuốc mìn địch pha trộn đem nấu ăn với nhau, làm mấy anh bị nhiễm độc nặng phải cứu mãi mới sống.
Chiều ngày 23 tháng 4 đơn vị được lệnh cơ động xuống đánh vào cụm quân sự địch mạnh nhất tại Kon Tum lúc bấy giờ. Nuôi quân phát cho mỗi đồng chí mấy miếng sắn luộc, một nắm cơm nhai được hai miếng. Dù khó khăn gian khổ nhưng đồng chí nào cũng xác định và thực hiện theo đúng lời thề danh dự trong Quân đội. Đó là: Thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh không sờn lòng... Đơn vị hạ quyết tâm đánh thắng giải phóng bằng được cụm cứ điểm quan trọng của địch tại Đắk Tô II. Xứng đáng với truyền thống của Trung đoàn Ba Gia: Đánh là chiến thắng.
Khoảng 22 giờ đêm chúng tôi mang vác vũ khí súng đạn, cùng một bó cây dài hơn một mét bí mật qua mấy lớp rào dây kẽm gai, bò vào giữa sân bay thì pháo sáng địch bắn lên. Bộ đội nằm sát mặt đường băng hướng về lô cốt địch sẵn sàng chiến đấu. Đến vị trí phân công từng tổ nhanh chóng đào hầm, hạn chế tối đa tiếng cuốc xẻng.
Pháo cối địch từ cụm căn cứ bắn vượt về đường 14, xung quanh khu vực, đạn tiểu liên pháo sáng bắn cầm canh quan sát liên tục. Đại đội trưởng Lê Văn Khân, bò đến từng tổ chiến đấu kiểm tra chỉ hướng tấn công, đề phòng trong bốt địch đánh ra, anh động viên từng chiến sỹ của mình.
Hầm của từng tiểu đội chiến đấu được nhanh chóng đào xong, chúng tôi tựa vào nhau tâm sự: Hàng chục ngày nay bọn mình không được tắm giặt, quần áo đầu tóc bê bết đất cát, gian khổ ác liệt quá, đơn vị mình ăn toàn rau, măng, sắn, củ chuối rừng thay cơm, không biết ngày mai thế nào đây. Chiến tranh kết thúc chúng mình còn sống phải tìm đến nhà nhau chơi nhé: Riêng tiểu đội trưởng San về phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội, Quỳnh nói với ông bố bà mẹ cùng toàn thể anh em trong gia đình, gả cho đồng chí một cô em gái rất xinh…
 Quê Khuyến vùng chiêm trũng Nam Định, dân làng chủ yếu theo đạo thiên chúa giáo, người dân quê mình cần cù chịu khó, con trai mười bảy mười tám đều lên đường đi đánh giặc, thôn xóm lúc này chỉ còn người lớn tuổi và chị em phụ nữ thay trai cày bừa đồng áng, người ngoài hậu phương miền Bắc hiện nay cũng vất vả không kém gì bọn mình ở mặt trận. Đồng lúa quê mình bằng phẳng thẳng cánh cò bay và gạo tám quê Khuyến thơm ngon nổi tiếng đấy…
Mấy anh em trong hầm nuốt nước bọt rồi nói; ước gì đêm nay có nắm cơm mà ăn thì sướng biết mấy. Thôi nhé, chúng mình phải chiến đấu đánh đuổi giặc ngoại xâm đã, đất nước hoà bình lúc đó có ăn cháo cũng sướng các đồng chí nhỉ. Bọn mình nhớ, khi đất nước thống nhất anh em mình còn sống phải tìm về đến nhà nhau chơi, nói lại những tháng ngày cực kỳ khó khăn gian khổ và ác liệt của chiến tranh, song cũng đầy tự hào vinh quang này.
Trong căn hầm nhỏ tôi điểm lại, mấy năm qua đơn vị đã lập lên nhiều chiến công ở mặt trận đường 9, trên cao nguyên Bôlôven Nam Lào. Trong niềm vui thắng trận, cũng không ít đồng chí hy sinh anh dũng, cùng tình cảm của đồng đội dành cho nhau trong những lúc nguy nan nhất của cuộc chiến. Ngày mai trận giáp mặt với kẻ thù hung bạo trong căn cứ, mỗi đồng chí lại phải vượt lên để chiến thắng vị trí quan trọng của địch trên Tây Nguyên, làm bàn đạp cho những trận chiến đấu tiếp theo của mặt trận. Tình đồng đội đã làm tôi bồi hồi nhớ lại, những tháng năm cùng nhau trên một chiến hào, vượt lên muôn vàn bão tố để chiến thắng quân thù.
… Ta đã cùng nhau chung sống một thời
Chung tiểu đội hành quân đi phía trước.
Đường Trường Sơn gian nan ta cùng bước
Một căn hầm mấy đứa ngủ chung nhau…


Trời vừa rạng sáng, địch trong cứ điểm phát hiện đã bị đơn vị tôi bao vây, ngay lập tức chúng bắn cấp tập đạn pháo 105 ly, cối 81ly, đạn đại liên và M79, cùng với 4 chiếc xe tăng chạy ầm ầm ra sân bay bắn phá tấn công đánh áp đảo để bắt sống đối phương.
Thấy xe địch chạy về hướng phục kích, Đại đội trưởng ra lệnh: Các đồng chí nhằm thẳng xe tăng địch, súng B.40- B.41 chuẩn bị bắn. Đợi xe địch chạy vào gần, đại trưởng Khân cầm khẩu B.41 bóp cò, quả đạn nổ bay vào chiếc xe địch đi đầu, chiếc xe đứt xích khựng lại cháy bùng lên, ba chiếc phía sau chạy vọt lên bắn về phía đơn vị.
Quả đạn từ khẩu M79 tôi bắn ra nổ vào tháp pháo xe tăng địch, các loại vũ khí đơn vị tôi nổ trút về phía chúng, xe tăng địch bắn tới tấp đại liên vào vị trí phục kích. Tôi lệnh cho đồng chí xạ thủ B.41 bình tĩnh đợi xe vào gần mới được bóp cò, quả đạn B41 từ khẩu súng đồng chí Côn bắn ra, nổ tung chiếc xe tăng đang hung dữ xông về phía chúng tôi.
Tiếng từ các hầm reo lên: Xe tăng địch cháy…cháy rồi… hai chiếc… hai chiếc tăng địch cháy các đồng chí ơi...
Mấy tên từ trong hai xe cháy nhảy ra bắn lại chống cự, ngay lập tức đã bị các đồng chí Khuyến, Quỳnh, và đồng đội dùng súng M79 và AK tiêu diệt. Hai chiếc tăng còn lại thấy thế bắn bữa bãi bỏ chạy. Cùng lúc ấy thì phân đội xe tăng của ta xuất hiện, thế là cả hai chiếc xe địch đã bị các chiến sỹ xe tăng ta nổ súng tiêu diệt.
Lúc này đạn pháo 105 ly, cối 81 của địch bắn liên tục vào khu vực chúng tôi chiếm giữ. Một lúc sau bốn xe tăng của ta từ phía Tân Cảnh chạy đến, một chiếc bốc cháy dữ dội, đồng chí lái xe và quay phim nhảy ra thoát hiểm chạy về phía chúng tôi. Anh phóng viên nhẩy vào hầm tiểu đội anh Hỗ, tiếp tục quay diễn biến trận đánh, đồng chí xe tăng chạy vào hầm tôi an toàn. Mấy phút sau anh hỏi về diễn biến trận đánh, rồi anh nói: Xe tăng của phân đội cùng với bộ binh của Sư đoàn 2, đánh và làm chủ hoàn toàn thị trấn Tân Cảnh xong, thì được lệnh về đây chiến đấu, nhưng xe của phân đội đã bị xe tăng địch bắn đứt xích và cháy thùng dầu phụ, tiếc quá…!
 Một lúc sau anh nói; các đồng chí đói lắm phải không…, nói xong anh lấy nắm cơm bẻ cho mỗi người một miếng. Vừa ăn xong miếng cơm gạo trắng của anh cho thật là ngon, thì nóc hầm tôi bị quả đạn cối 61 của địch bắn tới nổ đất cát rơi đầy người. Chúng tôi cười nói với nhau: Đêm qua nóc hầm làm ẩu, thì quả đạn cối địch vừa rồi đã chôn vùi ba chiến sỹ bộ binh C7- D2- E1- F2 và chiến sỹ phân đội xe tăng cùng một chỗ.
 Hình ảnh người chiến sỹ xe tăng trong trận chiến đấu ngày ấy, còn đậm mãi trong lòng tôi về những ngày vô cùng khó khăn ác liệt.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #21 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 09:09:33 pm »

Hơn 10 giờ ngày 24 tháng 4 năm 1972. Đơn vị ra lệnh cho những người còn lại cầm súng vọt khỏi hầm đánh vào căn cứ địch. Tiểu đội được lệnh vòng phía tay trái, qua mấy lớp rào dây thép gai cắt dở tiến đến, lính địch trong cứ điểm bắn áp đảo mở lối chạy xuống sông Pô Kô, nhưng chúng đều bị các tay súng của đại đội 5 đại đội 6, cùng phân đội phục kích tiêu diệt.
Tổ chiến đấu qua được mấy lớp rào thép gai, vấp phải ổ súng đại liên địch không thể phát triển được, hai bên giằng co nhau từng thước đất. Đồng chí Hỗ phát hiện thấy hoả lực địch kìm chế, anh cho bắn quả đạn B40 vào cụm đại liên, hoả lực địch tắt, các mũi tấn công bắn cấp tập vào khu lô cốt, làm cho khói lửa trùm lên mù mịt, lợi dụng cơ hội tôi hô các đồng chí nhanh chóng tiến lên để chuẩn bị đánh vào khu trung tâm.
Tiểu đội tôi đang cơ động thì gặp tên lính địch người to cao bị thương vào cằm, đang quằn quại trong chiếc hố pháo mặt mũi đẫm máu, vẫy tay cầu cứu nói ú ớ trong mồm bằng tiếng nước ngoài pha Việt, chỉ tay vào miệng xin nước uống. Tôi thoáng nghĩ, có lẽ đây cũng là mấy phút cuối cùng ân hận của đời lính đi đánh thuê xâm lược.
Vừa nạp đạn xong thì phía sau các tổ vận động tới, tôi phân công đồng chí Hoài xạ thủ trung liên(RPD), bắn cấp tập uy hiếp số địch đang co cụm chống cự, để đồng chí Khuyến, Quỳnh và Thắng, vòng qua tay phải bắn yểm trợ ném lựu đạn. Các đồng chí được giao nhiệm vụ thực hiện theo đúng kế hoạch, đã quật ngã số địch ngoan cố, mấy tên còn lại chạy xuống bơi qua sông.
Đạn địch bắn đan chéo vô cùng dữ dội vào cánh tiểu đội, tôi cùng đồng đội lăn mấy vòng nổ súng tiêu diệt số chống đỡ, dập tắt được số địch đang co cụm trong cứ điểm.
Chúng tôi tiếp tục vận động đánh thẳng vào khu trung tâm chỉ huy chúng, tôi đang nổ súng bắn vào chiếc hầm thứ ba, thì khẩu M79 tôi sử dụng gẫy kim hoả. Trước tình thế nguy hiểm tôi yêu cầu các mũi nổ súng tiêu diệt bọn ngoan cố. Địch trong cứ điểm thấy không còn đủ khả năng chống cự đã gọi to vọng ra. “Xin các ông Cộng Sản đừng bắn, đừng bắn… để chúng tôi đầu hàng… ”. Số địch từ trong hầm bỏ vũ khí chạy ra giơ tay hàng.
Chúng tôi bắt binh lính địch giao ngay cho vệ binh để các đồng chí đưa ra khỏi khu vực đang bao vây truy quét. Đơn vị tôi cơ bản làm chủ được cụm quân sự địch Đắk Tô II, lúc gần 11 giờ, ngày 24 tháng 4 năm 1972.
Vừa đánh và làm chủ được căn cứ chúng mấy phút, thì tốp máy bay AĐ 6 địch từ hướng bắc lao tới đánh bom. Nhìn bom nổ lửa đỏ dội xuống, tôi hô lớn: Máy bay địch ném bom…bom Na Pan…bom cháy vào hầm…vào hầm ngay. Các đồng chí đang chạy từ hầm này sang hầm khác tiêu diệt bọn lẩn trốn, nghe thấy đã nhanh chóng vào hầm thoát nạn.
Cụm quân sự địch phủ kín một màu đỏ của bom đạn, binh lính nguỵ cùng quân xâm lược bị thương nằm rải rác trong ngoài cụm cứ điểm, bị ngọn lửa đỏ của bom đạn hung dữ thiêu huỷ. Nhìn binh lính vùng dậy chạy được mấy mét rồi quị xuống kêu hét chết cháy. Tôi nghĩ; bọn giặc dã man tàn bạo quá, nếu máy bay địch không ném bom bắn phá, thì rất nhiều binh lính chúng được sống sót.
Khoảng 15 phút sau tiếng bom đạn thưa dần. Như vậy đơn vị tôi đã chiếm lĩnh và làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm quan trọng của địch ở Đắk Tô II, căn cứ Phượng Hoàng, tại huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum.
Sau khi đánh thắng chúng tôi được phân công chốt giữ trong chiếc nhà hầm nổi rất lớn, trong hầm địch thất trận bỏ chạy, còn khá nhiều vũ khí súng đạn, cùng trang thiết bị hậu cần cho binh lính. Khi thu nhặt lương thực thực phẩm tôi nghĩ, sao đơn vị mình lại may đến thế, nếu hôm nay không đánh thắng thu được chiến lợi phẩm như thế này, thì chúng tôi đói không biết như thế nào. Trong hầm anh em thu được máy thông tin điện đài PRC.25, súng tiểu liên cực nhanh AR15. Tôi may mắn hơn, lượm được khẩu súng cùng một dây đạn 8 viên M.79 còn khá mới.
Mừng quá tôi nói với đồng chí, Thắng, Quỳnh, Khuyến, Hoài, số đơn vị mình hôm nay rất may. Sáng nay xe tăng địch đưa ra tiêu diệt bắt sống anh em mình, nhưng chúng đã bị đơn vị ta bắn cháy 2 chiếc, tiêu diệt bắt sống hàng chục tên trong cụm quân sự mạnh nhất của chúng tại Tây Nguyên. Giải phóng Đắk Tô rồi không biết nước sông Pô Kô có chảy được ngược như quân giặc nói không,(trước đó địch tuyên truyền nếu Cộng sản đánh chiếm được Đắk Tô-Tân Cảnh, thì nước sông Pô Kô sẽ chảy ngược). Phút cuối đánh vào cứ điểm thì khẩu M79 của San mới bị gẫy kim hoả, súng vừa hỏng đạn sắp hết thì lại thu nhặt được khẩu M79 còn khá mới thay thế, anh em mình đang đói thì thu được lương thực, thực phẩm của địch. Chúng tôi nhìn nhau cười mà rơi nước mắt!
 Chiều tối các đơn vị phục vụ của ta từ trên núi xuống, vào hầm đốt đuốc tìm chiến lợi phẩm, để lửa rơi xuống sàn làm cho hầm lô cốt cháy. Tiếng hô trong hầm vọng lại báo cháy, thấy lửa đỏ tạt mạnh tôi hô mọi người cầm vũ khí ba lô thoát hiểm, anh Quỳnh nói; mẹ thằng nào đốt đuốc làm kho lô cốt cháy thế này, còn gì mà lấy được nữa. Khói lửa thốc mạnh vào mặt mũi ngạt thở, tôi cúi giáp xuống đất kéo được 2 khẩu súng chạy ra. Kiểm tra lại thấy anh em tiểu đội ra đủ, đồng chí Thắng không kịp đưa vũ khí trang bị ra theo.
Đại đội trưởng Lê Văn Khân người tỉnh Nghệ An, anh được cán bộ chiến sỹ rất quí mến, bị hy sinh cuối năm 1972 bên dòng sông vệ, tỉnh Quảng Ngãi.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #22 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2011, 09:11:27 pm »

Đơn vị được lệnh bàn giao cụm quân sự để mặt trận B3 quản lý. Trên đường cơ động về Kon Tum. Tôi và Nguyễn Văn Vặn gặp nhau, hai người cùng nhập ngũ ngoài miền Bắc và vào chiến trường với nhau một ngày. Vặn đang ở tiểu đoàn 3 (90) cùng Trung đoàn, chạy đến ôm chặt lấy tôi nói rất xúc động: Thế mà ai lại bảo là đồng chí hy sinh ở đường dây 559 rồi... Tôi nói; mình rất may trên cao điểm 748 và 723 ở chiến dịch đường 9, đến cao nguyên Bôlôven Nam Lào, trung đội mình bị quân giặc bao vây đánh phá rất ác liệt, anh em chốt giữ trên cùng cao điểm hy sinh gần hết, mình chỉ bị thương và sức ép nhẹ thôi.
Chúng mình trực tiếp cầm súng chiến đấu, còn đến ngày hôm nay là may lắm rồi đấy. Vặn hỏi: Đồng chí có nhận được tin tức gì ở quê nhà không? Nghe đâu, làng mạc khu mình bị máy bay Mỹ đánh phá dữ dội lắm. Bệ phóng tên lửa đóng ở xã Đồng Gia của bạn được pháo bắn bảo vệ dày đặc, thôn xóm mình toàn bị hứng bom của địch và đuôi thuốc đít tên lửa của ta cắt rơi xuống… Chúng tôi nói cho nhau biết số đồng chí cùng nhập ngũ đi chiến trường đã hy sinh mất các anh: Doanh- Xuân- Hiệu - Hùng - Càn… giờ chỉ còn lại có mấy người thôi. Sau đó Vặn hỏi; đồng chí có biên thư gửi về quê được không... Tôi trả lời; làm gì có giấy bút để viết mà gửi... Phút gợi nhớ của hai người về quê hương sao mà hồn nhiên tươi trẻ thế.
Thấy anh lặng người hạ thấp giọng nói: Không hiểu thế nào mà gần đây Vặn  thương người con gái nơi đóng quân quá San ạ. Nghe anh nói xong tôi nói; ngày còn trên đất Bình Giang, mình được mấy người cho biết là Vặn và Ninh yêu nhau lắm phải không?
Ngần ngừ mấy phút rồi Vặn kể: Tiểu đội mình đóng quân trong nhà bà Bát cả, tiểu đội đồng chí ở nhà bà Bát hai. Sau buổi học tập huấn luyện mình và cô ấy thường tâm sự với nhau, tớ giọng khàn khàn thuốc lào. Nhưng cũng học được vài làn điệu chèo để hát cho mấy cô ấy nghe. Ninh có cảm tình với mình, nhiều hôm hai đứa dắt tay nhau qua suối đi sang khu thao trường tâm sự, ngắm nhìn sao đổi ngôi, nghe tiếng chim cu và gà gô cất tiếng gáy, mà hai đứa xao xuyến đến rơi nước mắt. Tình yêu của hai đứa mình có mấy người trong đơn vị biết, và đến tai trung đội trưởng: Tô Sỹ Quảng, nên mình không được ở cùng nhà để ra vào gắm cô ấy nữa, mà phải di chuyển sang nhà ông bà Hải cùng xóm. Có hôm hai đứa đi năm sáu cây số ra thị trấn Phả Lại xem phim, trời mưa hai đứa đứng dưới bụi tre mơ ước, nếu đất nước mình không có giặc anh em mình không phải xa nhau, thì vui và hạnh phúc biết mấy.
Ông Bát hai bà vợ sinh được Đĩa to, Đĩa nhỏ (tức Ninh) và Văn, mấy cô con gái ông bà ấy khá là xinh. Làng Bình Giang có Len con ông Mát gia đình cô ấy hai anh em mình đã ở một thời gian, trong thôn còn có: Hương, Mơ, Lựu, Luyện và Na, họ cao to đẹp gái biết làm thơ hát đối với bọn mình, nhiều lúc lính đơn vị ta không sao vận thơ kịp để hát đối giao duyên.
Lửa tình lâu ngày cũng bén Vặn và Ninh yêu nhau say đắm. Ngày chuẩn bị đi chiến đấu mình nghĩ khó mà trở về với cô ấy được, nên đã nói với cô ấy là: Ninh đừng đợi Vặn nữa, em hãy đi xây dựng gia đình và khi sinh cháu, nhớ đặt tên có chữ cái vần (V) trùng với chữ cái của Vặn. Để hàng ngày gọi tên con mà nhớ tới mối tình của anh và em. Cô ấy gục đầu vào lòng khóc và nói sẽ đồng ý với đề nghị của Vặn.
Tôi và Vặn bảo nhau; nếu anh em mình còn nhất định phải về làng Bình Giang, để cám ơn các gia đình và những cô gái có cảm tình với anh em bộ đội. Một trong hai người còn về được thì thay mặt nói với nhân dân nơi đóng quân; là bọn mình rất nhớ và thương yêu cái làng quê bé nhỏ ấy.
Rồi Vặn ghé sát vào tôi nhấn mạnh: Nếu mình không may hy sinh, San còn may mắn trở về phải đến thăm và nói với Ninh hộ rằng; Nguyễn Văn Vặn vẫn ngày đêm nhớ về mối tình đầu của hai đứa ngày ấy.
Một lúc sau anh hỏi tôi; đơn vị đồng chí có đói lắm không, chứ đại đội mình hàng chục ngày nay gian khổ quá, đêm qua Vặn vào khu đồn bốt Trung đoàn ta đánh thắng làm chủ, mà không nhặt được một tý lương thực thực phẩm gì cho vào bụng. Mấy hôm nay đơn vị vận động đánh địch liên tục, mà chỉ có mấy miếng sắn nhỏ cho vào bụng thôi.
Tôi mở ba lô lấy đưa cho anh ba gói cơm sấy và hai hộp thịt ba lát nhỏ, vừa mới thu nhặt được trong hầm hào lô cốt địch. Đồng đội bắt tay tạm biệt những ngày vô cùng khó khăn ác liệt trên núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, hẹn gặp nhau ngày Nam Bắc thống nhất, trên quê hương Kim Thành của Hải Dương yêu dấu.
Nhưng rồi Nguyễn Văn Vặn một anh lính nhỏ bé nhanh nhẹn, cũng đã phải hy sinh trong một trận chiến đấu với quân thù tại xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi, vào một chiều cuối thu ngày 06 tháng 10 năm 1972.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:33:12 pm »


CUỘC CHIẾN TRONG THỊ XÃ KON TUM

Để phối hợp với các mặt trận, đặc biệt là chiến trường Quảng Trị và Khu 5. Ngay sau khi chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh, đơn vị tôi nhận lệnh về đánh địch trong thị xã Kon Tum. Vượt qua bãi bom lân tinh, mìn lá, mấy ngày sau phân đội tiến vào giáp khu vực có địch, nhưng lại quay ra cách thị xã hơn chục km.
Như vậy đơn vị tạm dừng tấn công địch. Phân đội củng cố bổ sung điều chỉnh lực lượng, học tập bình xét thi đua. Tôi được đại đội đề nghị mặt trận tặng huân chương chiến công hạng ba, về thành tích chiến đấu đánh địch ở đồi Ngọc Tụ, chỉ huy bắn cháy xe tăng, tiêu diệt bắt sống thu hồi nhiều vũ khí trang bị, góp phần giải phóng căn cứ Phượng Hoàng, Đắk Tô II.
Ngày 20 tháng 5, đơn vị triển khai học tập chỉ dẫn trên bản đồ, và hướng tấn công thu hút địch vào phía Nam của thị xã. Để các hướng của ta từ phía Tây Bắc tấn công vào biệt khu 24 của địch. Khi lãnh đạo chỉ dẫn trên bản đồ xong, các chiến sỹ chất vấn chi tiết đồn bốt giặc đang án ngữ. Nhưng chỉ huy đơn vị chỉ đưa ra một con số địch chung chung, và nhân dân trong thị xã nghĩ bộ đội Giải phóng như những bóng ma, “ Cộng sản nhẹ như những con nhái bén, bảy tên Việt cộng không đu gẫy cành đu đủ, cướp bóc giết người v v…”. Do vậy, khi đơn vị vào đánh địch và tiếp cận với nhân dân phải thận trọng, gây lòng tin cho đồng bào.
Cánh quân phía Nam đơn vị tôi lúc này gặp vô cùng khó khăn về lương thực, thực phẩm, nhiều đồng chí bị phù vì ăn thiếu muối, mỗi bữa được hơn bát cơm độn ngô và củ chuối. Mấy ngày liền toàn cháo loãng đồng đội thay nhau vào rừng đào củ mài, lấy cây môn ngứa mọc hoang dưới nước nấu canh, nhổ cỏ tranh phơi khô đốt hoà nước thay muối khoáng. Bát cơm canh rau cháo nhạt muối đen xì, anh em mời chào nhau mà hun đúc tình đồng chí trước khi vào trận.
Chiều ngày 24 tháng 5 năm 1972, nuôi quân đơn vị phát cho mỗi đồng chí một nắm cơm to bằng quả trứng vịt và 2 chiếc bánh sắn không nhân nhạt muối. Đến 21 giờ cánh quân phía Nam vượt qua đồi núi nương rẫy, đến cạnh bờ sông Đắk La bao quanh thị xã. Bộ đội dừng lại đào hầm, làm vừa xong thì có lệnh vượt sông tiến vào tấn công địch.
Cánh Nam tiến vào đánh địch trong Kon Tum có hai phân đội, đó là tiểu đoàn 2 (60) Trung đoàn 1, tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 141, cùng với đặc công trinh sát,  đại đội súng cối 82 và ĐKZ của Trung và Sư đoàn tăng cường.
Phân đội đang tiếp cận thì mũi của đại đội 5 vấp phải mìn, đã gây cho đồng chí Phan Minh Duệ đại đội trưởng và mấy chiến sỹ trinh sát hy sinh, (khi tôi mới vào, anh Duệ là đại đội trưởng C7). Ngay lập tức cánh quân chúng tôi bị địch ở ấp Hương An và lính bảo vệ cầu Đắk La trên trục đường 14, dùng súng đại liên cùng pháo cối từ trên cao bắn cấp tập vào đội hình. Bộ đội nằm sát gốc cây và mép bờ chắn nước tránh đạn. Mấy phút sau địch chuyển làn cho ấp bên cạnh nã đạn đến, từng loạt đầu và mảnh đạn pháo cắm phầm phập vào ruộng cùng thân cây chuối.
Trước tình hình vô cùng nguy hiểm, phân đội cho các chiến sỹ vượt qua bãi bùn lầy rau muống vào giáp mương nước cạch thị xã, anh em nhanh chóng rửa chân tay, bắt những con đỉa to bằng ngón tay đói khát bám quanh chân hút máu, gạt bùn rửa giầy dép quần áo.
Tiếng bộc phá của công binh bắt đầu đánh phá bốt đầu cầu địch, súng cối 82, hoả lực ĐKZ của Trung đoàn 141 bắn phá mục tiêu dọc đường phố. Cánh tấn công của đơn vị tôi bị địch chủ động bắn trả lại vô cùng dữ dội, mấy đồng chí vừa mới bổ sung về lúng túng rơi cả trang bị.
Đồng chí Thân Văn Cẩn, tiểu đoàn phó ra lệnh cho đại đội 6 xung phong. Chính trị viên Thảo báo cáo rơi súng ngắn, hai tay anh rà theo chớp đạn tìm súng,      ( đồng chí Thảo mới từ đại đội quân y về). Trước tình hình địch bắn trả như vậy, tiểu đoàn phó Cẩn ra lệnh cho đại đội 7 chúng tôi xung phong. Thực hiện lệnh, trung đội trưởng Nguyễn Đức Dục cho bộ đội vọt lên. Như một mũi tên đơn vị tiên lên đẩy được địch lùi cách xa 500 mét, phát triển đánh sâu vào bên trong. Lúc này đồng chí Dục tiến trước, đến tôi, đồng chí Quỳnh, Hoài và Khuyến, tiếp theo là một số chiến sỹ người Hà Tây mới bổ sung chưa kịp nhớ tên. Khi đánh địch chạy qua ngã ba đường phố Phan Thanh Giản (nay là đường Trần Phú) hơn 100 mét, thì đội hình bị quả đạn cỡ lớn bắn đến nổ, làm mấy đồng chí lăn vào cạnh đường. Anh Quỳnh chạy đến gục sát vào tôi nói; đồng chí San ơi tôi hy sinh rồi… anh gọi bố mẹ cùng anh chị em trong gia đình cùng các đồng chí ơi… Đồng chí Hoài người Nghệ An to khoẻ, được tiểu đội phân công cầm khẩu trung liên RPD ngã áp sát vào anh Quỳnh nói: Các đồng chí ơi, đồng chí San ơi tôi hy sinh mất rồi...
 Địch bắn vô cùng ác liệt vào chỗ các chiến sỹ bị thương hy sinh. Phía sau các đơn vị tiến lên bắn về phía địch qua chỗ chúng tôi, đạn nhảy từng tràng trên mặt đường nhựa, thấy rất nguy hiểm tôi hô lớn: Chúng tôi đang bị thương nằm ở phía trước, cẩn thận không bắn nhầm vào quân ta đấy. Hoả lực và bộ binh xông lên bắn đẩy được địch cách xa chỗ chúng tôi thêm mấy trăm mét.
Đồng chí Khuyến người tỉnh Nam Định, bị thương gẫy xương đùi trái nói to:   Đồng chí San ơi tôi hy sinh mất rồi… anh kêu đau và gọi đồng chí Toán y tá đại đội lên băng bó. Sau đó anh nói: Các đồng chí hãy giữ lấy vị trí chiến đấu, không thì hy sinh hết...(Đồng chí Khuyến tiểu đội phó vừa mới được kết Đảng trước khi vào trận).
Được 10 - 15 phút sau các đồng chí bị thương nặng đều hy sinh, vào khoảng 5 giờ sáng ngày 25 tháng 5 năm 1972, trên đường phố Phan Thanh Giản, trong đường phố của thị xã Kon Tum.
Các mũi tấn công của ta đánh vào trung tâm thị xã, bị địch chống cự rất ác liệt, các thương binh tử sỹ vẫn nằm ngoài mặt đường, thấy thế tôi nói các đồng chí đang băng bó vết thương vào gọi cửa nhờ nhân dân giúp đỡ. Mấy đồng chí vào gọi mãi mà không thấy có người ra mở, tôi bảo đồng chí Toán cầm súng AK bắn phá khoá mở cửa để đưa thương binh vào nhà ngay. Sau loạt đạn cùng tiếng đập gọi, cửa nhà cũng được mở, từ trong nhà hai mẹ con chạy ra chắp tay cúi lạy: Xin các ông Cộng sản đừng bắn…đừng bắn… Thấy như vậy tôi nói ngay. Cộng sản không bao giờ bắn, đồng bào đừng sợ… trước đó địch tuyên truyền về phía quân giải phóng miền Nam không đúng sự thật, đã làm cho nhân dân trong vùng địch rất hoang mang.
 Chiếc xe vận chuyển lính địch chạy đến bắn dữ dội vào khu chúng tôi đang chiếm giữ, các thương binh đều phải cầm súng bắn trả lại giặc. Hai thằng trên chiếc xe máy chạy đến nổ súng, đã bị quả đạn M79 của tôi bắn ra nổ, làm cho người và xe hai tên văng xuống đường, một tên chạy lại đầu hàng.
Trời rạng sáng thấy bảy tám đồng chí nằm ở mặt đường, một người còn động đậy, tôi bảo mấy anh ra đưa ngay vào nhà cấp cứu, khi đưa vào thì nhận được là anh Chính người của đại đội 6 cùng tiểu đoàn, anh bị thương mất miếng sọ đầu, không biết về sau đồng chí này có sống được không ?
Ba tên quần áo rằn ri lái xe chạy nhanh bị đồng chí Toán cầm khẩu trung liên RPD xả đạn, (súng đồng chí Hoài sử dụng trước lúc hy sinh) chiếc xe đâm vào tường nhà hai thằng nhẩy xuống giơ tay hàng. Các đồng chí đánh chiếm khu tháp nước tỉnh trưởng bắt đưa về thêm mấy tên, trói cho vào một chỗ với bộ phận đang bảo vệ thương binh.
Khoảng 10 giờ hai mẹ con gia đình chúng tôi trú ẩn, xin phép cho đi mua cơm thức ăn. Tôi nghĩ cho họ đi sẽ bị lộ, trước tình thế đó tôi đã phải rút hai chiếc bánh dự trữ đưa cho. Bóc bánh ăn xong hai mẹ con đi ra chắp tay cúi lạy, nói: Cám ơn ông Cộng sản, bánh các ông làm bằng thứ gì mà ngon thế…Chiếc bánh sắn tôi đưa cho họ ăn, không có nhân và nhạt muối, nếu gia đình người này còn sống, chắc họ không thể nào quên được sự kiện ngày đó.
 Ngay sau khi tổng thống nguỵ Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu, đến chỉ đạo trực tiếp cho chúng tại Kon Tum, địch cho máy bay phi pháo bắn phá tất cả các khu vực nghi có quân giải phóng chiếm giữ, dãy phố đơn vị tôi chiếm giữ dần dần sụp đổ.
 Đồng chí canh giữ 6 tên tù binh địch báo cáo: Tình hình này sẽ rất khó khăn, nếu để tù binh địch như thế này rất nguy hiểm, dồn mấy tên này xuống hầm cho chúng nó một quả lựu đạn… Chiến sỹ này vừa nói xong tôi nói ngay, cấm đồng chí không được làm như vậy, vi phạm chính sách tù hàng binh. Nhưng số chúng cũng không thoát được cái chết từ bom đạn của chính chúng gây ra, khoảng 21 giờ mấy tên tù binh bị ngay quả đạn pháo 105 ly của chúng bắn đến phá huỷ, dân trong nhà bị thương được các đồng chí y tá đơn vị cứu chữa ngay.
Khoảng hai giờ sáng ngày 27 tháng 5, chúng tôi bị thương nhưng chưa có người khiêng ra anh em bò sang dãy phố bên cạch, không còn một người dân nào trong nhà. Sau đó bị máy bay pháo kích địch đánh phá liên tục làm nhà cửa đổ nát, trâu, bò, lợn, gà, chết chương phình hôi thối. Khoảng 11 giờ tôi được nuôi quân bò vào đưa cho bát cơm canh cà chua, phải ăn vội và chỉ hướng cho các anh đi phục vụ thương binh khác, các đồng chí mang cơm canh vào phục vụ không rõ là người của đơn vị nào.
 Chiều tối tôi cùng đồng chí Ao chiến sỹ đại đội 5 cùng tiểu đoàn, cùng các đồng chí bị thương ẩn lấp trong ngôi nhà bị bom pháo đổ nát, phía sau là chuồng trại nuôi gia súc, phải tổ chức chống lại bọn dân vệ ở ấp ngoài thị xã đánh vào. Một số bị thương chưa có người đưa ra kịp hy sinh, phân heo trâu bò bắn tung toé đầy người.
 Súng AK của Phạm Như Ao và tôi đều hết đạn, súng ngắn (K54) anh Ao cầm còn mấy viên, hai anh em nói với nhau: Nếu địch vào lục soát khu chuồng lợn thì vào giả chết cùng các đồng chí đã hy sinh, nếu địch phát hiện thì Ao bắn nốt mấy viên đạn súng ngắn cuối cùng...
Khoảng 20 giờ mấy tên địch đến đá vào chân anh Duyên đi ra nói với nhau: Thấy mấy tên Việt cộng nằm trong chuồng heo và bụi chuối chết thẳng cẳng mà nổi cả gai ốc, bọn này chết hết rồi. Tôi và Phạm Như Ao giả nín thở thoát chết. Tối hôm sau được các đồng chí vận tải đến tìm đưa ra, tôi lấy chiếc xe trong nhà dân bỏ lại định đi, nhưng đau không thể nào lên xe đạp được. Các đồng chí vận tải chạy vào dìu tôi đưa ra ngoài khu vực nguy hiểm. Các anh cõng qua chỗ mấy ngày trước đơn vị vào thấy nhiều đồng chí chết đang bị phân huỷ mà chưa được đưa ra. Thấy vậy tôi nói, tình hình phục vụ thế nào mà mấy ngày hôm nay không có người vào vận chuyển anh em thương binh và tử sỹ ra…? Hai đồng chí khiêng võng cáng tôi nói: Chúng tôi bị bom pháo địch thương vong cũng khá nhiều, qua thôn ấp bị bọn bảo an dân vệ phục kích bắn ném lựu đạn, nên việc vào đón các đồng chí trong thị xã ra rất khó khăn, hàng chục đồng chí hy sinh trong khu tháp nước và biệt khu 24 không thể nào đưa ra được, phải chôn ngay ở vị trí chiến đấu, có đồng chí đưa ra ngoài cánh đồng vùi tạm vào rãnh luống ngô, khoai, dưới bụi chuối, vì không còn đủ người vận chuyển...
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #24 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:33:55 pm »

Gần bốn ngày bị thương chiến đấu trong thị xã, tôi được các đồng chí vận tải vào khiêng ra trạm cấp cứu tiền phương, trạm phẫu vừa bị máy bay B52 ném bom hầm hào nghiêng ngả. Y bác sỹ đưa lên bàn soi đèn pin kiểm tra rồi nói: Đồng chí bị đứt gân gót chân phải, mông đùi trái còn rất nhiều mảnh găm sâu trong thịt phải mổ mới lấy được, nhưng trạm phẫu không còn thuốc giảm đau, vì vậy đồng chí cho quân y buộc chân vào bàn chịu đau để mổ gắp mảnh, (bàn phẫu làm bằng tre nứa gỗ). Tôi nghiến răng nghe tiếng dao kéo thao tác nối gân và mổ gắp mảnh. Rồi y tá lấy quần áo cũ xé băng lại vết thương.
 Tiếp tục cho tôi lên võng khiêng về phía đông nam của dãy núi Chư hreng cách thị xã Kon Tum khoảng 12 km. Tại đây hơn chục ngày mà không có bông băng thay thế. Trước tình thế như vậy buộc các đồng chí trạm cấp cứu phải vào thôn bản nhặt chăn, màn, quần áo, của đồng bào dân tộc bỏ chạy, đem về băng bó cho thương binh. Do băng gạc không được hấp sấy tiệt trùng triệt để, đã làm vết thương của vài người bị nhiễm trùng hoại tử, có đồng chí phải tháo khớp cưa chân tay mấy lần. Lương thực thực phẩm càng khó khăn gấp bội, nuôi quân đi đào bới củ chuối, mót ngô, khoai, sắn, về xào nấu cho chúng tôi ăn qua ngày.
Tại trạm quân y tôi và Phạm Như Ao gặp nhau hoan hỷ; hai anh em nhờ vào phân rác lợn phủ đầy người mà che được mắt bọn bảo an dân vệ, địch phát hiện thì hôm nay không còn thấy nhau nữa. Hai anh em còn nói cho nhau biết dãy chuồng lợn hôm đó có sáu đồng chí hy sinh. Đại đội 6 cùng phân đội có hai đồng chí, anh Duyên xạ thủ B40 và một chiến sỹ đoàn Hà Tây mới bổ sung, cùng bốn đồng chí thuộc tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 141 vào đánh địch ở cánh phía Nam với đơn vị.
 - Đồng chí Phạm Như Ao điều trị xong, về chiến đấu và hy sinh ngày 17 tháng 9 năm 1972 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Hơn chục ngày sau tôi được cáng di chuyển, trên đường bị máy bay HU1A địch phát hiện, chúng rà sát ngọn cây bắn đại liên ném lựu đạn, làm cho mấy đồng chí thêm nặng. Tối đến qua sông bằng thuyền độc mộc, nước chảy mạnh lật đổ làm mấy anh em trôi mấy chục mét. Hàng chục ngày sau về đến Đội điều trị 5, lúc này có bông băng mới, và được tiêm thuốc chu đáo.
Mấy ngày sau được cáng về trạm điều trị 3, vừa chân ướt chân ráo thì đêm đến bị ngay một loạt bom từ máy bay B52 rải xuống phá huỷ. Thương binh trong hầm được đồng chí Nguyễn Hữu Gia, người con của đất lụa Hà Đông, là y tá phòng mổ đến cứu chữa. Bom địch ném xuống trạm đã làm cho gần 20 đồng chí bị thương và hy sinh.
 Tôi tiếp tục được chuyển đến bệnh viện 211, đóng trên đất Lào hay Căm Phu Chia gì đó. Viện có đủ phương tiện cùng y bác sỹ giỏi điều trị. Tại đây hơn một tháng nằm cùng nhà hầm với đồng chí Hoạ, anh bị mảnh bom nằm trong phổi cứ hai ba ngày bác sỹ lại phải vào hút máu mủ từ cơ thể anh ra mấy lít. Đồng chí Hoàn người Hà Tây bị bom phạt mất 2 cánh tay phải tháo đến hai khớp vai. Các đồng chí bị bom Na pan cháy mặt mũi chân tay cong queo, một hai ngày thay bông băng thì những con dòi bò ra đã to bằng đầu đũa, các anh bị bỏng cháy được quấn bằng một lớp vải phủ kín mà nước vàng vẫn chảy ra rất hôi thối. Hầu hết thương binh nằm điều trị ở viện đều là những đồng chí bị thương rất nặng, đưa từ chiến trường Khu 5 và Tây nguyên đến.
Một hôm có người chạy vào hốt hoảng nói, có thú giữ đang rình phục bên đầu nhà, tưởng thật mọi người trong lán lấy ống nứa cọ vào nhau doạ Cọp, một lúc sau thấy anh Tập đi từ đầu nhà vào, hoá ra do anh bị cháy bỏng nặng phải băng bó toàn thân làm hình thù thay đổi.
Chúng tôi bị thương mất máu người ốm yếu, nhưng đến bữa cũng chỉ có một hai bát cơm ăn cùng với nước mắm gạo rang, mấy anh em chống gậy đi gần một ngày mới tìm nhổ được mấy củ sắn con và ít lá bí ngô già về cho vào ống nứa nấu nướng để anh em cùng ăn.
Vết thương của tôi ổn định được vài ngày lại bị sưng tấy chảy mủ. Được y bác sỹ bệnh viện 211 có biện pháp khắc phục cứu chữa, đến tháng 8 năm 1972 vết thương mới ổn định, và được viết giấy chứng thương cho ra viện.

                                                      *
                                                  *       *

Thương bệnh binh ra viện được đồng chí Thật cán bộ Sư đoàn vào đón. Trên đường đi thỉnh thoảng anh bắn được thú rừng, liền chỉ đạo cho giết thịt nấu nướng bồi dưỡng cho anh em ăn để lấy sức hành quân. Bộ đội nghỉ ở trạm nào đều phải tham gia sản xuất, nhổ sắn lên lấy củ thì bẻ cành đem trồng lại, để sau này cho người đơn vị khác hành quân qua lấy củ nấu nướng. Đây là việc làm được cán bộ chiến sỹ trong chiến trường Khu 5 quán triệt. Tại trạm thu dung huyện Sa Thầy trong lúc đợi người ra viện về Sư đoàn một thể, anh em đi phát cây cối trồng ngô khoai, bị lũ ruồi vàng bám đuổi dày đặc đốt sưng cả mặt mũi chân tay.
Bữa ăn của thương bệnh binh trên đường hành quân, không quá một lạng gạo gạo đỏ Tây Nguyên trồng cấy, (loại gạo phải đun nấu rất lâu mới chín và không nở). Thức ăn được chế biến từ măng tre nứa thành nem, giò, chả... Có ngày hết gạo ăn toàn măng tre lồ ô đỏ luộc, làm cho người yếu bị say choáng váng, thỉnh thoảng vặt hái được mấy cây khoai môn nước dân ta thường lấy nấu cám cho lợn, anh em đun nấu nhừ mỗi đồng chí húp một bát, hơi ngứa họng nhưng cũng thấy ấm lòng và mát ruột.
Cuộc chiến đấu của đơn vị tôi trên vùng đất Tây Nguyên trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, là cuộc đọ sức về công tác quân sự tại chiến trường của ta và địch, còn là việc chia lửa cho chiến trường Quảng Trị. Song cũng khẳng định một khí phách kiên cường của bộ đội trên mảnh đất Cao Nguyên, với muôn vàn khó khăn gian khổ để chuẩn bị cho ngày toàn thắng.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:34:29 pm »

Đường đi từ chiến trường Tây nguyên về mặt trận Quảng Ngãi, trong đoàn có mấy đồng chí thuộc Trung đoàn 141 và một số anh em trong Sư đoàn. Nơi đến là vùng ven biển miền Trung đơn vị đang chiến đấu ở huyện Ba Tơ, Mộ Đức, Đức Phổ… Đường hành quân thương bệnh binh thường bị ốm yếu và sốt rét, cùng vết thương tái phát. Chúng tôi dắt nhau qua nương rẫy của đồng bào người Thượng, Cơ Tu... Trời mưa rừng núi hoang vắng côn trùng phát triển, những chú giun đất to như con rắn bò ngang trên mặt đường, loài vắt xanh, bọ cạp, muỗi rừng và ve chó, tìm người bâu đậu. Các đồng chí giao liên thường xuyên phổ biến phải cảnh giác với biệt kích thám báo cùng thú dữ rình rập, có ngày hành quân không gặp một người nào qua lại.
Trên đường anh Thuỷ tìm hái được nắm rau đem về cải thiện, bát canh rau rừng nấu cho mỗi người một bát, ăn vừa xong phải chạy đi nôn mửa, tôi vào trạm giao liên gọi y tá cấp cứu. May sao trạm có thuốc giải độc và cho mấy bò gạo đem về nấu cháo cứu đói.
Nhìn anh em quần áo rách rưới vì khó khăn gian khổ, đi lấy măng dưới trời mưa thu rả rích, nghĩ suy về ngày mai đến trạm có gạo muối để mà lấy không. Đội quân ngày một ốm đau thưa dần, chúng tôi ngồi lại động viên nhau, để vượt qua khó khăn hành quân trở về đơn vị.
Chặng đường gian lao vất vả anh em đến được Dốc Cọp- Gốc Khế và các xã vùng ven huyện Ba Tơ, được đồng bào đón vào kể cho nghe về một thời đen tối của nhân dân nơi đây, cũng từ đó mà nổi lên phong trào du kích Ba Tơ. Tôi thầm nghĩ thế mà đã thấm thoát hơn hai năm xa miền Bắc, hôm nay mới được quanh bếp lửa nghe nhân dân nói về gương đánh giặc giữ làng của đồng bào miền Tây Quảng Ngãi.
Vượt qua thác lũ mưa rừng chúng tôi đến dòng sông Vệ, trời mưa nước chảy cuồn cuộn, đồng đội bám vào nhau bơi qua sông bị trôi gần một km. Qua dòng nước hung dữ anh em tạm biệt nói với nhau: Chiến tranh kết thúc, hoà bình lập lại, đồng chí nào còn sống nhớ đến thăm Thuỷ người đất mỏ Hòn Gai. Khải người huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội. Còn San người huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương. Chúng mình phải tìm đến nhà nhau chơi đấy nhé…

Đầu tháng 11 năm 1972, tôi về đến Núi Ngang- Hòn Dầu, nơi đóng quân của đơn vị, được đồng chí Đoàn Văn Quế chính trị viên tiểu đoàn ra đón, anh động viên giao nhiệm vụ cho tôi về trung đội trinh sát. Mấy hôm sau tôi cùng các đồng chí đi chuẩn bị cho việc đánh đồn bốt trên quốc lộ số một và địch ở núi Đất, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức.
Đêm tối phải đi lại vận động nhiều làm vết thương dưới gót chân và mông tái phát, buộc tôi phải vào trạm xá C- 20 của Trung đoàn điều trị, ít ngày sau vết thương ổn định được cán bộ mời lên giao nhiệm vụ: Đồng chí bị thương vào chân không phù hợp với chiến đấu nữa. Nhưng công tác được giao lại rất quan trọng và cần thiết, do vậy lãnh đạo hai ban Tham mưu và Hậu cần đã thống nhất, điều đồng chí về nhận nhiệm vụ tại Ban hậu cần Trung đoàn.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #26 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:36:15 pm »

CÔNG TÁC HẬU CẦN TRONG VÙNG ĐỊCH

Về đội thu mua thuộc Ban hậu cần Trung đoàn, tôi cùng các đồng chí trong đội thường xuyên xuống vùng địch tiếp nhận lương thực thực phẩm, để cấp phát cho các đơn vị trong Trung đoàn. Nhiệm vụ đặt ra không ít khó khăn vất vả, Trung đoàn cử tới ba đồng chí trinh sát làm nhiệm vụ bám địch mở đường và mấy chục chiến sỹ thuộc đại đội vận tải 19, để cõng gùi hàng đưa về kho dự trữ cấp phát. Khi tổ trinh sát nắm tình hình thấy bảo đảm an toàn, cho người bí mật vượt qua quốc lộ đi vào thôn ấp nhận gạo muối do nhân dân đóng góp giúp đỡ cách mạng. Nhiều mặt hàng mua của vợ con binh lính địch đi mua từ khu quân sự đem về bán. Thôn ấp ngày thì địch kiểm soát, đêm tối bộ đội giải phóng chúng tôi vào, nên việc phân định kẻ tốt-xấu, người liên quan tới công việc đòi hỏi rất thận trọng. Người được giao nhiệm vụ ở lại trực tiếp chỉ huy tiếp nhận hàng hoá, rất lo cho các chiến sỹ mới từ rừng núi xuống, sợ các đồng chí không nắm được đường đi và tình hình địch, sẽ lạc vào ổ phục kích, bãi mìn.

Ngày đêm địch cho máy bay quần đảo, bắn hàng trăm quả đạn pháo cỡ lớn từ hạm đội ngoài biển vào, làm cho các xã vùng ven của Quảng Ngãi bị bom đạn cày xới tan tành. Đồn bốt địch mở loa kêu gọi nhân dân bộ đội và dân quân du kích đi theo chúng khai báo chiêu hồi. Ngày 27 tháng 1 năm 1973 Trung đoàn đang ém quân ở phía tây Nam huyện Mộ Đức, hơn 8 giờ sáng đất trời yên tiếng bom rơi đạn nổ. Chúng tôi đồng loạt nhảy lên khỏi mặt hầm mừng Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, anh em ôm hôn nhau mà trào rơi nước mắt, đồng đội cười nói với nhau: Đất nước hoà hợp rồi các đồng chí ơi…anh em ơi, mấy chục người chúng tôi đứng sát nhau ngân vang bài:
“ Giải phóng miền Nam
Chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước…”.

Đất trời yên lặng gần một giờ thì tiếng pháo địch từ núi Xương Rồng, Đức Phổ, chiến hạm ngoài biển Sa Huỳnh lại bắn đến ác liệt hơn, làm cho các chiến sỹ và nhân dân nơi đây tiếp tục đổ máu.
Sau tết cổ truyền Quí Sửu 1973, đêm đến đội công tác vượt qua đường một sang các xã phía đông của huyện Mộ Đức. Đường đi được du kích địa phương cùng trinh sát dẫn đường, đơn vị men theo bờ ruộng đến cạnh quốc lộ quan sát, nếu không có địch mấy chục người nhanh chóng vượt qua, đồng chí đi cuối đoàn cầm cành cây xoá dấu vết mặt đường qua lại.
Bà con nhân dân thôn một, thôn hai đồng chí Bí thư Đảng uỷ xã Đức Lân tới chúc mừng. Quà cho mỗi đồng chí là chiếc khăn tay mùi xoa, bánh xà phòng thơm, những chiếc bánh xèo và bát cháo thịt vịt nóng… Đêm tối ngày ấy trên quê hương núi Ấn sông Trà, còn thấm đậm tình quân dân trên dải cát trắng miền Trung đầy bóng giặc lúc bấy giờ.
Tôi cùng mấy đồng chí xuống nằm lại vùng ven biển đợi nhân dân huy động đóng góp lương thực, mua thực phẩm để giao cho bộ đội trong Trung đoàn đến khuân vác mang về. Có hàng vận chuyển bằng tàu biển không số từ miền Bắc đưa đến, được nhân dân làng chài ven biển đem vào chôn xuống bãi đất cát đắp thành mộ giả, thôn ấp luôn bị địch càn quét khống chế. Mỗi khi bộ đội qua lại được bà con, cùng các cháu nhỏ cảnh giới xoá dấu vết giầy dép, nhặt mẩu thuốc lá do sơ ý vất ra cho vào bếp đốt…
Mỗi khi có giặc càn quét vào làng đồng chí Phạm Thị Nguyện, bí thư Đảng ủy xã Đức Lân căn dặn du kích: Nếu thấy không an toàn thì đưa đồng chí Tần, đồng chí San xuống hầm bí mật. Có đợt địch càn quét hàng tuần trong khu vực không sao liên lạc về đơn vị, để khi bộ đội xuống tránh được sự kiểm soát và giữ bí mật cho đường dây cung cấp. Anh em nằm sâu trong vùng địch kiểm soát được bà con đùm bọc khi có giặc, chăm sóc lúc ốm đau. Tình cảm của nhân dân nơi đây không bao giờ phai mờ trong ký ức của chúng tôi trong những ngày khó khăn gian khổ ấy.
Đêm ngày 13 tháng 3 năm 1973, đội công tác đi từ huyện Nghĩa Hành vượt đường quốc lộ số một sang xã Đức Tân- Đức Minh, gồm có: Trần Văn Tần, Phan Văn Tao, Trần Văn Ngọc và tôi, chỉ huy đơn vị xuống tiếp nhận mang vác hàng hoá về. Khoảng 22 giờ đêm hôm sau gùi hàng và bám theo kênh dẫn nước đến giáp đường quốc lộ, người dẫn đường dừng lại quan sát, thì từ phía sau có người nói nhỏ truyền lên: “các đồng chí không được đi vào đoạn này, vì chiều nay nhân dân đi làm, quan sát thấy địch ở cầu Dắt Giây chúng đem mìn ra khu vực này cài đặt …”
Nghe như vậy nên toàn đoàn quay đầu lại đi sang khu đất có mộ đắp, cách vị trí nói có mìn khoảng 100 mét. Khi quay lại đồng chí Phan Văn Tao đi trước, đến Trần Văn Ngọc và tôi, mỗi người cõng một thùng hàng đi cách nhau hơn 2 mét, khi anh Tao bước lên thì vướng vào quả mìn Clâymo của địch cài đặt, mìn nổ đẩy lùi anh Tao lại mấy mét, đồng chí Ngọc và tôi bị hất về phía sau. Ngay lập tức tiếng đề ba của pháo cối cùng tiếng nổ của đạn M79- AR15, đại liên pháo sáng của địch từ cầu Dắt Giây chúng bắn đến cấp tập. Tôi bò vào lay gọi đồng chí Tao, anh khẽ nghiêng người lắc đầu. Đồng chí Ngọc cố tháo chiếc đai gùi thùng dầu đậu phụng để tôi nâng anh sang lấp phía sau ngôi mộ tránh đạn bắn thẳng đến, anh Ngọc gượng nói; đồng chí quan sát xem địch có cho lính đến không, rồi anh tháo chiếc túi đựng sổ sách ghi chép diễn biến hàng ngày của đội đang quản lý cho tôi và nói: “Đồng chí mang túi cặp này về giao cho đơn vị, khả năng tôi và đồng chí Tao bị thương nặng không chắc có sống được…”. Nhận xong túi anh đưa tôi nói; hai đồng chí đợi tôi ra đón người vào khiêng anh ra. Anh Ngọc cầm tay tôi nói: “Em đi nhanh lên, đề phòng địch và pháo đấy”. Tôi chạy lại được hơn 100 mét thì gặp đội trưởng Tần cùng anh em du kích đang vào.
 Đồng chí Trần Văn Ngọc và Phan Văn Tao, được nhanh chóng khiêng đến trạm quân y tiền phương. Tại đây hai anh được Quân y trạm tận tình cứu chữa, nhưng vết thương quá nặng đã làm hai đồng chí hy sinh, vào quá nửa đêm ngày 15 tháng 3 năm 1973, trạm quân y tiền phương của tỉnh đội Quảng Ngãi đóng ở xã Đức Minh, huyện Mộ Đức.
Tôi cùng đội trưởng Trần Văn Tần, đứng lặng người vĩnh biệt đồng chí Trần Văn Ngọc, anh được sinh ra trên vùng đất kiên cường thuộc xã Điện Phước, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đồng chí luôn được các chiến sỹ quí trọng bởi vượt lên muôn vàn khó khăn gian khổ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Và chúng tôi nhớ đến câu chuyện mà đồng chí Phan Văn Tao, mới kể cho anh em nghe trong bữa cơm chiều nay:
Ngày Tao còn làm anh nuôi ở đại đội 14 súng 12,7 ly, trực thuộc Trung đoàn. Sau chiến dịch về đơn vị đóng quân gần cơ quan tham mưu. Một hôm mình lên ban chỉ huy thăm Trần Văn Tần, người đồng hương tỉnh Quảng Nam, thấy máy điện thoại kêu liên tục mà không ai nghe. Mình chạy vào nhà nhấc máy, đầu dây gọi hỏi đồng chí nào cầm máy đấy, mình nhanh nhảu trả lời; Tao nghe đây, đầu dây kia hỏi tiếp ai nghe đấy? Tôi vẫn trả lời Tao đây mà, đầu dây gọi nói to đồng chí nào mà lại trả lời như vậy. Mình không hiểu nên vẫn trả lời chiến sỹ Tao đây mà. Đầu dây gọi dập máy. Khoảng 15 phút sau thủ trưởng Phạm Xưởng có mặt tại ban chỉ huy hỏi đại đội trưởng, vừa rồi đồng chí nào thường trực máy điện thoại, anh Tần chưa hiểu đầu đuôi câu truyện báo cáo thủ trưởng: Tôi vừa xuống các trung đội kiểm tra chỗ ăn ở của anh em bộ đội, có Phan Văn Tao chiến sỹ nuôi quân nghe điện thoại hộ, đồng chí vừa gọi tôi về đây thì thủ trưởng tới...
Lúc này thủ trưởng Trung đoàn hiểu ra tên người trả lời trên máy điện thoại với ông là như vậy. Lãnh đạo ngồi tâm sự với chiến sỹ nuôi quân Phan Văn Tao, một gia đình có nhiều người tham gia cách mạng, mà hôm ấy cũng chỉ còn một bà mẹ già vẫn ngày đêm tần tảo vì miếng cơm manh áo và hương khói cho người chồng cùng mấy đứa con hy sinh cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Và giờ này đêm nay mẹ lại phải nuốt nước mắt vào trong, vĩnh biệt người con yêu quí cuối cùng của bà cho Tổ quốc, trên dải cát trắng ven biển tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày hôm sau binh lính địch tràn vào các xã Đức Chánh, Đức Minh, Đức Lân, Đức Tân… tìm Cộng sản tiêu diệt, tôi cùng Trần Văn Tần mặc quần áo bà ba  đi ra cánh đồng ven biển huyện Mộ Đức, Bình Sơn, hàng tuần sau mới trở lại được Ban hậu cần Trung đoàn.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:37:32 pm »


Cánh tiếp nhận mua hàng của đơn vị ở Quảng Ngãi bị địch phát hiện ngăn chặn, việc ra vào vùng ven gặp nhiều khó khăn. Trung đoàn quyết định cho đội di chuyển sang huyện Hoài Nhơn và Tam Quan tỉnh Bình Định, để tiếp nhận và mua hàng, đảm bảo cho công tác chiến đấu của Trung và Sư đoàn.
Sau khi đội chuyển sang tỉnh Bình Định, thì việc đi lại tiếp nhận có nhiều thuận lợi, hàng hoá được bà con vùng giải phóng và vợ con bính lính địch đi mua từ các thành phố thị xã vận chuyển về. Tiếp nhận mua hàng xong thuê xe Honda chạy mấy chục km về xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, cho vận tải cõng hàng lên kho trong hang đá ở khu vực An Đỗ cất dấu. Ngày nào cũng phải một hai giờ sáng mới về đến thôn ấp, dân làng nơi trú quân ngồi đợi xem đơn vị có mua được hàng về đủ an toàn không? Vì rất nhiều các chiến sỹ vận tải của Trung đoàn phải vượt núi trèo đèo, mong có lương thực thực phẩm mang về phục vụ cho các chiến sỹ đang ngày đêm chiến đấu ở Quảng Ngãi.
Chúng tôi được bà con thăm hỏi xong, đem xôi, sắn luộc, cơm nếp, bổ những trái dừa ngon mời chiến sỹ ăn uống. Biết bao khó khăn gian khổ những tháng ngày phải luồn sâu trong lòng địch, để móc nối tiếp nhận hàng về cho đơn vị, hình ảnh thân thương của người dân xứ dừa Bình Định, vẫn đậm mãi trong mỗi cán bộ chiến sỹ chúng tôi ngày ấy.


DÒNG THU BỒN VÀ TÌNH NGƯỜI ĐẤT QUẢNG

Tháng 8 năm 1973. Trung đoàn hành quân về chiến đấu trên vùng đất Quảng Nam, Quảng Đà. Những chiến sỹ làm công tác hậu cần xuống ngay các huyện, Hiệp Đức, Duy Xuyên, tiếp nhận mua lương thực thực phẩm, ngày nào cũng có các tổ vào các ấp chiến lược, để tiếp cận vận động vợ con binh lính địch cho người vào khu quân sự địch mua hàng về bán cho bộ đội giải phóng. Nên việc tiếp cận với mọi người rất thận trọng. Đường đi lối lại theo chỉ dẫn của du kích địa phương, dò phá mìn của tổ trinh sát, có ký tín hiệu cụ thể chính xác cho từng ngày đêm vào vùng thôn ấp có địch kiểm soát.
Những ngày qua lại cánh đồng trên núi có đồn bốt địch chiếm đóng, phải vác cày cuốc đi làm đồng cùng nhân dân, được sự giúp đỡ của bà con thôn ấp đi mua hàng về hộ. Đồng chí Vui và tôi được giao nhiệm vụ qua đèo le đến thôn Đồng Nùng xã Sơn Trung, tại đây được sự giúp đỡ tận tình của Trần Thị Bốn một cô gái xinh đẹp, đã vận động bà con trong vùng địch bán trang sức đi mua lương thực thực phẩm từ vùng địch về bán lại cho bộ đội.

Một hôm ba đồng chí du kích khiêng quả mìn tự tạo về kiểm tra, vì địch đạp vào mà không tác dụng. Nhưng khi vừa gõ vào thì quả mìn phát nổ bay vào nhà, làm cho các cháu trong một gia đình tử vong, chúng tôi chạy đến cả ba cháu đã đứt thành mấy mảnh, ông bố nhặt để trong chiếc nia tre đan. Hình ảnh này vô cùng đau thương cho gia đình và nhân dân nơi đây. Đường vào thôn ấp dày đặc các loại vũ khí cài đặt, trâu bò vào bụi tre cây cối ăn cũng chạm phải mìn nổ.
Khi bị địch trên núi Hòn Tàu phát hiện bắn phá, đơn vị được lệnh chuyển hoạt động khu vực tiếp giáp cầu Bà Rén. Được cô dì chú bác nơi đây vào thị xã Hội An liên hệ mua hàng giúp đỡ, mỗi khi xuống giao nhận đều có kế hoạch cùng thời gian hoạt động. Đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao là có sự giúp đỡ tích cực của nhân dân thôn xóm nơi giáp gianh giữa ta và địch, đặc biệt là gia đình thím Ba ở xã Phước Thạch.
Gần tết nguyên đán 1974, các đồng chí nuôi quân tiểu đoàn 3 cùng Trung đoàn, đi xuống vùng ven mua hàng nhưng không nắm được qui luật hoạt động của địch, đã bị chúng phục kích ném lựu đạn, làm ba đồng chí hy sinh, trong đó có Đồng Văn Hiệp, người xã Cẩm La cùng nhập ngũ đi chiến trường với nhau một ngày. Khi các anh hy sinh nhân dân trong ấp tưởng tôi bị tử nạn, hơn chục ngày sau đơn vị cho trinh sát xuống nối lại đường dây hoạt động, bà con gửi hương hoa đưa về thắp hương.
Lúc này càng khó khăn trong việc mua mắm, muối, về cấp phát cho các đơn vị, Ban hậu cần cử một tổ xuống các xã vùng ven huyện Đại Lộc- Duy Xuyên, sau gần một tháng ra vào nắm tình hình, nhưng khó khăn trong việc mua vận chuyển hàng đưa ra ngoài khu vực địch kiểm soát. Do vậy đơn vị tôi trở về Đèo le, Đá trắng, Đồng Nùng, trà trộn với nhân dân vào vùng địch mua hàng, nhận được việc giúp đỡ của nhân dân thị trấn Đông Phú, nhiều đêm phải bí mật mang vác hàng qua đồn bốt địch kiểm soát.
Trung đoàn cử 3 đồng chí trong ban tham mưu xuống làm việc, đi vấp phải mìn đã làm cho anh Phi bị thương gẫy chân. Nằm trong vùng địch kiểm soát, làm chúng tôi chạy chữa cho đồng chí gặp không ít khó khăn, mất gần chục ngày sau mới nhờ được người khiêng anh qua đồn bốt giặc kiểm soát.
Tôi cùng đồng chí Trường- Vui, mua hàng xong chưa có người xuống vận chuyển, bị địch phát hiện cho pháo bắn phá và cho quân vào càn quét, cướp mất hết số hàng trị giá trên 12.000 đồng (tiền Sài Gòn cũ), cất dấu trong khu nhà bỏ hoang và vườn cây rậm rạp. Sau khi bị địch càn quét, lãnh đạo địa phương cùng đơn vị  nghiêm khắc kiểm điểm, đảm bảo cho việc hoạt động trong những ngày tiếp theo.
  Khi Trung đoàn đánh vào Nông Sơn- Trung Phước và khu công nghiệp Đức Dục, đơn vị đem hàng qua dẫy núi Bàn Thùng qua xã Sơn Phúc, bị địch phát hiện bắn pháo hơi cay và chất độc, vừa thoát khỏi vùng ngạt thở thì bị pháo từ căn cứ Thượng Đức bắn tới. Công việc vận tải bằng đường bộ gặp nhiều khó khăn, nên đã cho vận chuyển bằng thuyền từ huyện Hiệp Đức xuôi theo dòng sông Thu Bồn, cấp đủ lương thực thực phẩm cho các đơn vị chiến đấu. Mưa nước sông Thu dâng cao, thuyền bị trôi đột ngột nghiêng đổ hết người và hàng xuống nước, trong địa danh của đoạn  dốc dựng đá dừng. Khu trước đây quân đội địch thường cho máy bay luyện tập bắn phá trước khi bay ra đánh phá cầu cống miền Bắc. Những chuyến hàng đến vị trí chiến đấu của đơn vị tôi tại khu vực Nông Sơn- Trung Phước, cũng đầy những khó khăn gian khổ của các chiến sỹ làm công tác hậu cần.
Nhiều ngày phải luồn sâu trong vùng địch kiểm soát, bị chúng rình phục bắn phá. Được nhân dân cho xuống hầm che dấu tránh bom đạn, pha cho cốc nước bột khoai sắn sấy phơi khô, hát cho nghe những khúc tráng ca về tình người đất Quảng. Bao tấm gương cùng hình ảnh của bà con nhân dân nơi đây, vẫn mãi là động lực để mỗi người chúng tôi có thêm sức mạnh trên bước đường công tác.
Khu đơn vị đóng quân có thanh niên xung phong tỉnh Quảng Nam, Quảng Đà, các đồng chí trong đội biệt động hoạt động ở thành phố Đà Nẵng- Hội An- Tam Kỳ. Chúng tôi được các anh chị kể cho nghe về tình hình địch trong thành phố thị xã. Qua các anh các chị kể chúng tôi hiểu thêm về những khó khăn, cùng thử thách của các đồng chí trong sào huyệt địch.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:39:56 pm »

Ngày còn đi học tôi được đọc và xem tuyển tập: Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc. Là quyển truyện tập hợp các lá thư của nhân dân miền Nam gửi ra cho người thân của mình ngoài miền Bắc. Thư và Bưu thiếp của đồng bào phương Nam đều khắc hoạ về việc khó khăn và ác liệt cùng tội ác của chế độ Ngô Đình Diệm.
Đồng bào rừng núi bị đói cơm nhạt muối, nhân dân các tỉnh miền Trung- Cao Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long bị giặc đàn áp bằng luật 10/59, máy chém, nhà tù đi đến đâu là nơi ấy người dân bị đầu rơi máu chảy, chúng thực hiện chính sách bằng việc bắn nhầm còn hơn bỏ xót, chôn sống người nghi là đi theo cách mạng đến vai, đem trâu bò cày bừa trên thân xác đến chết.
Hôm nay đứng bên đập nước Vĩnh Trinh thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, đã làm tôi nhớ đến tội ác của quân thù được tố cáo trong truyện viết cách đây không xa: Mấy chục đồng chí và người dân bị giặc cắt tai mổ bụng cho vào bao tải vất xuống đập nước trong xanh này. Bên đập nước mà lòng tôi se lại, bởi dấu ấn cùng tội ác của kẻ thù còn đọng mãi nơi đây.
Người thanh niên ném quả đạn xuống đập nước vớt cá, lựu đạn nổ mà nước hơi gợn sóng, một lúc cá mới nổi lên được vì đáy hồ quá sâu, anh thanh niên nói: "Đồng chí San ơi có rất nhiều cá, anh biết bơi xuống vớt về cho đơn vị nấu canh ăn nhé."
Tôi nhảy xuống dòng nước rồi vội bơi lên ngay, vì khi người vừa chạm vào lòng hồ, thì tôi nghĩ dưới đập nước có các chiến sỹ và người dân vô tội đã bị giặc tra tấn giết hại đem vất xuống hồ nước này.
Thấy tôi lên người thanh niên nói: Sao nhiều cá thế mà anh không bắt lại lên ngay? Tôi bình tĩnh hỏi lại; đây có phải đập nước Vĩnh Trinh thuộc huyện Duy Xuyên không. Người thanh niên trả lời: Vâng, đập nước Vĩnh Trinh đấy anh ạ ... Tôi lặng người chân như có ai níu kéo, trên đường về tôi nói cho anh biết, trước đây những chiến sỹ cách mạng cùng người dân vô tội nơi đây đã bị bọn Quốc dân đảng và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, đem tra tấn giết hại vô cùng dã man rồi đem quăng xác vất xuống đập nước này. Người thanh niên nghe câu chuyện xảy ra trong hồ nước rất xúc động nói: Tội ác kẻ thù được khắc cốt máu xương.
Trở lại Ban hậu cần Trung đoàn, tôi được giao công tác trợ lý cho các đồng chí lãnh đạo ban. Cùng các bộ phận trong hậu cần lập kế hoạch, tiếp nhận vũ khí súng đạn, lương thực thực phẩm chuẩn bị cho những trận chiến đấu của đơn vị.

Cơ quan Trung đoàn đóng quân tại xã Sơn An, huyện Hiệp Đức. Quanh khu đơn vị, là đội sản xuất của các đồng chí bị địch bắt giam mới được trả về từ bờ sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị, theo ký kết của Hiệp định Pa-ri năm 1973. Chúng tôi đến thăm động viên và được nghe các anh chị nói về sự tàn bạo của kẻ thù ở các nhà tù trong đất liền, cũng như ngoài Côn Đảo và Phú Quốc. Các đồng chí vừa kể vừa khóc, về nỗi đắng cay tủi nhục bởi những trận đòn roi nơi địa ngục trần gian của giặc. Ngày trở về với nhân dân đồng đội cũng không ít những khó khăn cùng câu hỏi đặt ra… chị cứng rắn hơn thì nói: Chúng tôi còn may mắn so với nhiều đồng chí, có người bị địch đem đi tháo khớp cưa chân tay, cắt gân, bẻ răng và bắt nuốt vào bụng. Có người bị chúng tra tấn đóng đinh vào các khớp và bắn giết hàng chục người cùng một lúc, các đồng chí ấy không còn nhìn thấy tương lai của đất nước như chúng tôi ngày hôm nay… Các chị được trao trả đã trên ba mươi tuổi, đan áo len hộ anh em bộ đội lộ rõ vẻ suy nghĩ: Chị em tôi bị địch bắt trả về nhưng rất khó xây dựng gia đình và sinh con đẻ cái, vì trong lao tù bị địch tra tấn hành hạ giã man quá.  Nhìn đội quân chiến thắng với bộ quần áo bà ba đen, trồng cấy trên đồng ruộng cùng nương sắn đồi ngô. Chúng tôi không khỏi nghĩ suy về những năm tháng, đầy sóng gió trong cuộc đời các anh các chị.
Cuối năm 1974 theo chỉ thị của Bộ tư lệnh, các phân đội trong Trung đoàn được cấp phát đầy đủ vũ khí súng đạn, lương thực, thực phẩm, đảm bảo cho những trận đánh dài ngày của chiến trường. Ban hậu cần tổ chức cho bộ đội làm kho chứa với khối lượng lớn để phục vụ cho chiến đấu. Hàng tháng trời Ban hậu cần chỉ đạo đơn vị thu mua, vận tải, làm kho trong khe núi phía đông xã Sơn An, Sơn Tú... Do diễn biến của chiến trường có phần thuận lợi, nên việc làm kho dự trữ tạm dừng. Đầu năm 1975 các đơn vị cho học cách đánh địch trong thành phố thị xã. Các tiểu đoàn đại đội, được bổ sung quân số và vũ khí súng đạn, đảm bảo cho việc chiến đấu dài ngày.

Đường vận tải chiến lược của đoàn 559 được mở đến thị trấn Hiệp Đức. Bộ đội, Thanh niên xung phong, Dân công hoả tuyến, đi lại tấp nập đông vui. Máy bay pháo kích địch giảm dần, bà con tham gia tăng gia sản xuất tiếp lương tải đạn cho chiến dịch. Tiếp xúc với nhân dân, được bà con nói về tình hình binh lính địch đóng ở Hội An, cầu Bà Rén, thị xã Tam Kỳ, thành phố Đà Nẵng, và tư tưởng địch bị giảm sút nhiều khi Mỹ giảm bớt cố vấn và vũ khí súng đạn. Địch hoảng loạn nghe những binh đoàn Cộng sản rất thiện chiến, sắp tập trung đánh lớn vào sào huyệt chúng tại miền Trung. Địch còn nói nếu đụng vào quân của Trung đoàn 1(đoàn Ba Gia) Sư đoàn 2, do ông Nguyễn Chơn Sư chỉ huy đánh đâu thắng đấy, thì bỏ chạy cho an toàn tính mạng.

Thời cơ đánh địch và tin chiến thắng từ Buôn Ma Thuột trên Tây Nguyên truyền về, làm tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ chiến sỹ tiến lên giải phóng các khu căn cứ địch phòng thủ ngoan cố. Trung đoàn hạ quyết tâm theo chỉ đạo của Bộ tư lệnh: Một ngày bằng hai mươi năm. Với khí thế tin tưởng vào ngày toàn thắng, đơn vị tiến vào giải phóng huyện lỵ Thăng Bình, Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước và thị xã Tam Kỳ… Tin chiến thắng làm nức lòng cán bộ chiến sỹ bao ngày mong đợi, đồng chí nào cũng muốn làm thêm một việc gì cụ thể, góp phần vào việc giải phóng thống nhất Tổ quốc. Nhiều đồng chí từ cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần của Trung đoàn, muốn được xuống đơn vị trực tiếp chiến đấu. Quân giặc từ các đồn bốt hoảng loạn di tản. Thời cơ đánh địch đã đến, các phân đội đồng loạt tiến lên đánh vào sào huyệt của trung tướng địch: Ngô Quang Trưởng, đang hô hào tự thủ. Các cánh quân phát triển đánh nhanh vào khu phi quân sự, quanh thành phố. Địch dùng máy bay pháo kích đánh phá giữ dội, cho trực thăng di chuyển cố vấn và bộ máy chỉ huy tại các khu đồn trú. Bầu trời thành phố Đà Nẵng, hàng chục chiếc trực thăng bay đến vận chuyển gia đình tướng tá, vợ con binh lính tháo chạy.
Thời cơ tiến vào giải phóng thành phố Đà Nẵng đã đến, quân ta từ các hướng đồng loạt nổ súng, đánh vào trung tâm bộ máy chỉ huy địch trên sân bay, quân cảng và dinh luỹ sào huyệt của chúng tại miền Trung. Cờ mặt trận giải phóng và cờ đỏ sao vàng tung bay trên dinh luỹ đồn bốt địch trưa ngày 29 tháng 3 năm 1975. Bộ đội nhân dân ôm hôn nhau trong niềm vui chiến thắng đầy xúc động. Dòng người cùng cờ hoa chiến thắng mà đồng chí nào cũng rơi nước mắt. Cha con gặp nhau, vợ gặp chồng và đồng đội gặp nhau, sau bao năm xa cách vì khói lửa chiến tranh bởi người còn người mất.
Chúng tôi đứng sát nhau ngân vang ca khúc: Giải Phóng Miền Nam và bài Tiến Quân Ca, đồng đội nhìn nhau mà bùi ngùi xúc động. Cờ tung bay trên dải đất miền Nam đã thấm đẫm máu xương của hàng triệu người con ưu tú của dân tộc, ngã xuống trên chiến trường đầy khó khăn cùng thử thách của khói lửa chiến tranh.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #29 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:40:30 pm »

Chương III
NGÀY VỀ MIỀN BẮC

Ngay sau khi giải phóng miền Nam, chúng tôi những thương bệnh binh được sớm cho ra an dưỡng điều trị. Trên đường ra phía Bắc hôm nay có xe ô tô vận chuyển. Mà đồng chí nào cũng bâng khuâng, vì sau bao năm dưới mưa bom bão đạn mới được về khi đất nước bình yên. Đoàn xe vận chuyển cho thương binh nghỉ ở trạm giao liên huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, chạy qua Khe Sanh, Dốc Miếu,  tỉnh Quảng Trị, đến vùng cát trắng tỉnh Quảng Bình, về trạm giao liên huyện Thường Tín. Tôi ngẫm lại, mấy năm về trước từ nơi đây ra đi một lớp trai tráng hùng mạnh, hôm nay đất nước yên tiếng súng một số đồng chí đã hy sinh ở các mặt trận phía Nam, số may mắn trở về nhưng cũng bị thương một vài lần cùng ốm yếu bệnh tật, đấy cũng là tất yếu của cuộc chiến tranh khi xẩy ra.
Xe vận chuyển về đoàn an dưỡng 155 thuộc thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Chúng tôi được về điều trị an dưỡng bảo nhau: Chúng mình còn may mắn từ chiến trường ra, nhưng người nào cũng ốm yếu bệnh tật, nên để trạm chăm sóc cho người khá lên mới về.
Gần một tháng sau, tôi từ trại an dưỡng sau mấy năm cầm súng xa nhà đi chiến đấu về quê. Đoàn tàu khách vận chuyển đến ga Phú Thái. Rời ga, trên quãng đường hơn 10 km về nơi chôn rau cắt rốn, mà tôi bồi hồi nhớ đến từng đồng chí của mảnh đất này ra đi ngày ấy.
Về nhà mọi người trong gia đình mừng mừng tủi tủi. Bố tôi nói: Gia đình nhận được tin con bị thương mấy lần nhưng do yêu cầu, hôm nay đất nước hoà bình con được sống trở về như thế này là may lắm rồi. Thanh niên xã ta đi chiến trường hy sinh mất khá nhiều. Gia đình anh chị Sương chiều nay nhận được tin cháu Tuyết hy sinh lúc 10 giờ ngày 26 tháng 4, trên đường tiến quân vào giải phóng Sài Gòn. Nhà anh chị Lộ có hai đứa con trai đi bộ đội, cả hai cháu vào chiến trường đều hy sinh hết… Chiều nay nhận được tin con về bố mẹ cho chị Miến vợ anh Bùi đạp xe lên ga Thái đón, nhưng có lẽ hai chị em không nhận được nhau vì khi chị về làm dâu, thì con đi bộ đội và vào chiến trường rồi.
Bà con hàng xóm, cùng các gia đình có con em ngoài mặt trận biết tôi từ chiến trường trở về, chạy đến hỏi thăm cùng tin tức người thân nơi tuyến lửa. Tình cảm của người hậu phương với chiến sỹ từ nơi bom rơi đạn nổ trở về, tôi không sao nói hết lòng tự hào của người lính khi đất nước hết chiến tranh.
Sau khi từ trại an dưỡng về tôi đến các xã; Ngũ Phúc, Bình Dân, Đại Đức, Tam Kỳ… những gia đình có con em đi chiến trường với nhau một ngày, kể lại cho bố mẹ cùng người thân trong gia đình họ biết, từng đồng chí ra đi cùng tôi ngày ấy, đã ngã xuống trên chiến trường miền Nam.
Khi mở xem lại thư ảnh gửi về gia đình trước khi đi chiến trường, thì bao nghẹn ngào xúc động, vì chiếc áo mượn của đồng đội chụp ảnh ở thị trấn Phả Lại mặc trên người tôi còn đây, mà Nguyễn Văn Doanh đã hy sinh ngay từ một đêm mưa rơi của ngày đầu ra trận bên dòng sông Gianh thơ mộng của tỉnh Quảng Bình.
Sau thời gian điều trị tôi được quân y giám định xếp loại thương tật 3/4. Đơn vị làm thủ tục cho đi Liên Xô đào tạo, nhưng lại xin chuyển ra đất mỏ Quảng Ninh. Tháng 8 năm 1975, tôi được lãnh đạo xí nghiệp Tuyển Than Hòn Gai tiếp nhận vào làm việc, nhanh chóng cầm giấy lên phòng lao động tiền lương Công ty than Hòn Gai làm thủ tục. Người lính từ chiến trường về được cơ quan tiếp nhận ngay tôi phấn khởi qua trạm kiểm soát hai mươi mét thì đồng chí bảo vệ gọi dừng lại. Khi quay lại tôi thầm nghĩ; làm gì mà phải kiểm tra kỹ thế nhỉ, thì anh trong trạm gác chạy ra ôm chặt lấy tôi và nói: Có phải đồng chí San đấy không? Đúng rồi đồng chí San bị thương cùng nằm viện với nhau trên núi rừng Tây Nguyên đây. Anh là Vũ Minh Hoạ chiến sỹ đại đội 17 cối 82 thuộc Trung đoàn 141 đây. Sau lần điều trị ở viện 211 vết thương trong phổi anh đỡ dần và trở lại đơn vị đang chiến đấu ở Đức Phổ, Quảng Ngãi. Nhưng sau vết thương tái phát phải đi viện liên tục, nên được cho ra bắc điều trị, rồi trở lại cơ quan trước khi đi bộ đội. Anh không còn đủ sức khoẻ với sản xuất nên được bố trí làm công tác bảo vệ tại cơ quan văn phòng này. San còn nhớ Thuỷ cùng nằm viện với bọn mình không? Hiện giờ Thuỷ đang làm việc ở phân xưởng cơ khí cùng xí nghiệp Bến Hòn Gai đấy…
Ngày mới chuyển ngành về thời tiết và công việc thay đổi, sức khoẻ tôi có phần giảm sút, những cơn sốt rét và ám ảnh của chiến trường luôn đến trong giấc ngủ. Tiếng gầm rít của bom B52 ném xuống, từng đợt pháo bầy ngoài biển Đông vẫn bắn vào ầm ầm. Và đồng đội trong trận mạc hiện lên, giọng nói tính cách anh em hiện về nhắn nhủ: Đồng chí cũng biết bao khó khăn ác liệt tại chiến trường, nhưng vẫn còn may mắn được sống trở về, chúng tôi hy sinh trên mặt trận khốc liệt, mong người còn lại trong cuộc chiến, chuyển thông tin đến các gia đình để mọi người cùng thế hệ mai sau biết cái giá phải trả khi đất nước có chiến tranh...
 Năm 1976 cuộc sống gia đình tôi đến như bao gia đình khác, kết hôn xong vợ chồng mong sớm có tiếng con trẻ trong nhà. Nhưng chất độc hoá học do quân đội Mỹ rải xuống chiến trường mà tôi nhiễm phải thật vô cùng khủng khiếp. Chất tác hại trở thành nỗi lo của mọi người trong gia đình, mừng khi vợ mang thai nhưng chỉ được mấy tháng là bị hỏng. Mấy lần như vậy làm cho cơ thể vợ từ 52 kg xuống còn có 37 kg. Nhiều hôm nửa đêm gà gáy phải chạy sang gọi gia đình anh chị Phạm Quang Tàm, người hàng xóm hiền lành tốt bụng đến khiêng chạy đến bệnh viện tỉnh cấp cứu. Vợ ốm không có tiền mua thêm ô tem phiếu để mua thịt cá trong cửa hàng nhà nước, nồi cơm độn hạt kiều mạch đen xì và thức ăn mang đến cho người nằm viện là mấy con cá nhỏ phơi khô.
Tháng 7 năm 1977 cơn bão số 3 tràn vào vùng mỏ, gió giật cấp 12- 13, làm cho ngôi nhà tranh của gia đình mới mua 520 đồng đổ tường, bay hết mái. Khó khăn  thời bao cấp những năm 1977- 1979 tưởng chừng khó mà khắc phục được. Buộc phải gượng và nhanh chóng vượt lên, hết thời gian làm cơ quan về phải đi cậy bẩy đá xanh mang về nung vôi đóng gạch. Sau mấy tháng liền ngôi nhà bị bão đổ lúc này được xây và lợp bằng ngói đỏ hoàn thành. Trong niềm vui của nội ngoại và bà con tiểu khu Ba Đèo, Hòn Gai.
Mấy năm liền vợ chồng chăn màn quần áo đến viện Phụ sản Hà Nội, bệnh viện 103 và rừng núi Yên Thế tỉnh Bắc Giang. Cùng Tiên Sơn của Bắc Ninh và Bình Lục thuộc tỉnh Hà Nam. Nghe ai mách bảo có người cắt thuốc cho việc sinh nở, lại phải chắt bóp cùng vay mượn đi đến lấy thuốc.
Năm 1978 - 1982 tôi đi học và trở về làm việc, một năm sau xí nghiệp đề bạt phó phòng, được giám đốc Công ty than Hồng Gai điều về Xí nghiệp phục vụ Đời sống, Xí nghiệp Vận tải làm trưởng phòng. Sức khoẻ hai vợ chồng khá dần, tôi không sao tả hết về niềm vui của gia đình, đó là ngày 03 tháng 7 năm 1983 cô con gái yêu quí cất tiếng khóc chào đời, trong sự vui mừng của dòng họ và bà con láng giềng khu phố.
Năm 1993 tôi lại được trên điều về mỏ than Núi Béo làm việc, công việc được giao làm hoàn thành tốt. Năm 1996 – 1998, công nhân ngành Than gặp không ít khó khăn, hàng hoá sản xuất ra tiêu thụ giảm đơn vị phải tự lo việc làm cho công nhân. Là quản đốc phân xưởng buộc tôi phải tiêu thụ sản phẩm để đảm bảo lương cho công nhân. Thế là từng đoàn sà lan than được vận chuyển đưa vào các tỉnh Nam Định- Ninh Bình- Hà Nam giao bán cho nhà máy. Khi tiếp xúc với cán bộ công nhân các nhà máy phía Nam đồng bằng Bắc bộ, thấy họ gặp khó khăn hơn nhiều, lương có mấy trăm ngàn đồng một tháng mà nhà máy công trường nợ tới hàng năm, khi có thì trả lương bằng nguyên liệu đốt nghiền từ đá vôi ra.
Năm 1998 - 1999 gia đình đi vào sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường còn nhiều lúng túng, nguy cơ đổ vỡ rất nhanh nếu không được thay đổi phương thức. Từ đó mà trạm nghiền xi măng của gia đình tôi tại thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá được hình thành, với sự giúp đỡ của anh em bạn bè và Công ty Lắp máy & xây dựng số 5. Trạm sản xuất kinh doanh lấy pháp lý của: Xí nghiệp tập thể thương binh Quang Minh Hải Phòng. Nhờ vào trạm sản xuất mà thương hiệu của xí nghiệp Quang Minh và mác xi măng “Lam Sơn” của gia đình được cất cánh trong các nhà máy sản xuất tấm lợp trên đất: Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Nam, Bắc Ninh, cùng trục đường nông thôn. Nhờ vậy mà gia đình đã giải thoát và thu hồi được số nợ khó đòi của mấy nhà máy, trong số tiền vay mượn kinh doanh với lãi suất 3% tháng. Hàng hoá sản xuất ra đến đâu được tiêu thụ ngay đến đó, tạo được công việc cho trạm nghiền xi măng và tấm lợp phát triển, đứng vững trong vùng đất khắc nghiệt của nắng gió Bắc miền Trung.
Tháng tám năm 2002 tôi vừa tròn 50 tuổi, được mỏ than Núi Béo thuộc tập đoàn Than cho nghỉ chế độ. Được nghỉ tôi nhanh chóng thành lập Công Ty Cổ Phần Hoà Bình. Doanh nghiệp được uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cấp 19,2 ha, núi đá và khu chế biến nghiền sàng. Với chức năng khai thác chế biến sản xuất vật liệu xây dựng. Lúc đầu mới tiến hành giải phóng mặt bằng, gặp không ít khó khăn là vốn và thủ tục pháp lý. Nhưng biết vận dụng sáng tạo của mỗi thành viên trong Công ty, nhận được sự giúp đỡ của nhân dân địa phương cùng khách hàng, nên đã dần tháo gỡ được vướng mắc và sản xuất kinh doanh của Công ty ngày một phát triển. Tạo cho trên một trăm con em cựu chiến binh, nhân dân địa phương có việc làm và thu nhập ổn định.
Công ty đóng góp đầy đủ các nghĩa vụ nhà nước, làm tốt công tác dân vận, đi đầu trong phong trào đền ơn đáp nghĩa uống nước nhớ nguồn. Cuộc sống của cán bộ công nhân như được tiếp thêm sức mạnh. Góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, xứng đáng với sự tin yêu của anh em đồng đội.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM