Tôi thấy trong diễn đàn chưa có chuyên mục nào có nội dung tương tự nên sau khi hỏi ý kiến mod daibangden, tôi quyết định mở chuyên mục này. Mong nhận được sự giúp đỡ của Tư lênh Đoành và tất cả các bạn.
Trang thiết bị công binh được chia làm các mục chính sau đây:
I/- Vượt sông
II/- Công trình
III/- Vật cản
Ngoài ra còn có các mục nhỏ như rà phá bom mìn vật nổ, ngụy trang...
Tôi xin được bắt đầu chuyên mục với phần I/:Vượt sông
Các trang thiết bị vượt sông được chia làm các loại gồm cầu cứng, cầu mềm, phà tự hành...
Tôi xin mở đầu bằng bộ cầu phao PPS-84 do Liên Xô thiết kế và sản xuất có trong trang bị của nhiều nước, trong đó có Việt Nam với tên gọi là PMP.
Bộ cầu phao PPS-84 là sự phát triển của các bộ cầu phao PPS-84 và các biến thể của nó được đưa vào trang bị của LX từ 1986. PMP dùng để bắc cầu hoặc ghép phà bảo đảm vượt sông cho VKTBKT hạng nặng và đặc biệt rất nặng. Từ bộ cầu này có thể lắp thành cầu có trọng tải 60t, 90t, 120t và phà 90t, 180t, 360t.
Về biên chế, bộ có 6 bộ tiểu đoàn. 1 bộ tiểu đoàn gồm 32 đốt khơi, 4 đốt mố(bờ), 2 vệt chống lầy, 12 ca nô kéo BMK-460. Bộ cầu chở trên 54 xe KRAZ-260. Như vậy, PPS-84 có 192 đốt khơi, 24 đốt bờ, 12 vệt chống lầy,72 canô BMK-460 chở trên 324 xe KRAZ-260. Cầu phao có thể sd chọn bộ,theo tiểu đoàn và đại đội(2 đại đội trong 1 tiểu đoàn). Các đơn nguyên và nửa bộ có thể lắp lẫn thành cầu.
Bộ cầu sử dụng theo phân đội
Từ bộ PPS-84 ghép được các loại phà sau:
-48 phà 90 t trong 15'. Biên chế kíp phà có 8 thợ phao,4 thợ lái ca nô, 6 lái xe. Vận tốc chuyển động của phà là 14km/h. Lưu tốc dòng chảy cho phép là 3m/s, sóng cấp 3.
-24 phà 180t trong 20'. Biên chế kíp phà có 18 thợ phao, 4 thợ lái ca nô, 11 lái xe. Vận tốc chuyển động của phà là 14km/h. Lưu tốc dòng chảy cho phép là 3m/s, sóng cấp 3.
-12 phà 360t trong 25'. Biên chế kíp phà gồm 36 thợ phao, 8 thợ lái ca nô, 22 lái xe. Vận tốc phà là 14km/h. Lưu tốc cho phép của dòng chảy là 3m/s, sóng cấp 3.
1 bộ cầu phao PPS-84 cho phép lắp thành cầu phao 60t, dài 1393m, chiều rộng cho xe chạy là 6,55m,thời gian lắp là 2h30'. Vận tốc dòng chảy cho phép là 3m/s ,sóng cấp 2. Lưu ý: với chiều rộng phần bánh xe chạy như trên, xe tăng có thể chạy với vận tốc 30km/h, xe bánh lốp ko giới hạn vận tốc. Hơn nữa , với xe bánh lốp trên cầu này có thể chạy 2 làn xe 1 chiều hoặc 2 chiều 1 chiều 1 làn xe.
Cầu nổi 90t dài 932m, chiều rộng phần xe chạy là 10 m, thời gian lắp là 3h 30'. Vận tốc dòng chảy cho phép là 3,5m/s, sóng cấp 2. Đây là cầu chiều rộng gấp rưỡi, cho phép tổ chức chuyển động của xe tăng về 1 hướng và ô tô về hướng ngược lại thậm chí có thể di chuyển tên lửa tự hành.
Cầu nổi 120t dài 702m, với chiều rộng phần xe chạy là 13.8 m, thời gian lắp ghép là 3 h. Vận tốc dòng chảy cho phép là 3.5 m, sóng đến cấp 4. Chú ý: đây là cầu có chiều rộng 2 lần. Cầu cho phép tổ chức chuyển động của xe tăng về 1 hướng hoặc 2 chiều. Thực tế không tồn tại 1 tải trọng nào mà chiếc cầu không chịu được.
Phao khơi gồm 4 phao nối với nhau bằng khớp bản lề, 2 phao giữa dạng khối lập phương, 2 phao bên có phần ngoài tròn. Các phao được chế tạo thép hợp kim, phần tôn lát mặt cầu được chế tạo từ thép được làm từ thép tấm hợp kim mỏng tăng bền để có thể chịu được tải xích nặng. 1 phao bên gồm 2 phần, 1 phần có thể thu gọn vào trong phần kia, như vậy mặt phao từ 3 phía thực tế là thẳng. Điều này cần thiết để có thể lắp ghép thành các loại cầu có chiều rộng 2 lần hoặc lần rưỡi.



khoang khơi trên xe cơ sở Kraz-255

1 khoang khơi đã được hạ thủy
Phao bên thứ 2 có tấm chỉnh dòng. Kích thước của phao ở dạng mở có chiều dài 7,2 m, chiều rộng 8m, chiều rộng phần xe chạy 6,5m. Mớn nước của phao không tải là 20cm, mớn nước cực đại khi có tải là 0,65m. Khối lượng cua phao là 7 tấn. Khối lượng của phao là 7t. Tải trọng của phao là 22,5t. Phao ở trạng thái thu gọn được chở trên ô tô Kraz- 260.
Biên chế theo thiết kế đối với phao là 2 thợ phao và 1 lái xe ô tô, mặt khác biên chế theo phân đội biên chế 1 thợ phao và 1 lái xe - thợ phao.
Đốt mố khác với đốt phao khơi, dạng thì tượng tự như các phao, chiều dài ngắn hơn và có vệt lên xuống. Chiều dài 5,5m, trọng tải 16t và có độ bền cao hơn vì 1 phần của đốt mố làm việc trên mặt nước và 1 phần nằm trên đất. Ngoài ra đốt mố có cơ cấu thủy lực để nối cầu với bờ và thiết bị neo để giữ đầu cầu với bờ.
Trình tự thao tác khi làm việc với đốt mố như làm việc với đốt khơi.


(Mượn tạm cái ảnh của bác Triumf)


1 Đốt mố trên xe chở
Biên chế theo thiết kế 2 thợ phao và 1 lái xe. Mặt khác biên chế theo phân đội thì 1 thợ phao và 1 lái xe- thợ phao.
Ca nô kéo BMK – 460 dạng nửa lướt dùng để kéo phà , quay cầu và giữ băng cầu, tổ chức các công việc khắc phục mìn và các vật trôi gây nguy hiểm cho cầu, trinh sát bến, công tác phòng chống cháy nổ.
Vỏ ca nô gồm 3 khoang, trong khoang giữa lắp 2 động cơ diezen có công suất 230 mã lực, dẫn động chân vịt. 2 chân vịt cùng với đạo lưu có thể quay theo đường nằm ngang 360 độ về cả 2 phía và chúng ko phụ thuộc nhau. Vì vậy, tạo cho ca nô tính cơ động cao trên nước. Nó có thể quay tại chỗ quanh trục của bản thân, phanh gấp và có thể nhanh chóng tăng tốc. Lưc kéo buộc 4600kg, vận tốc tối đa trên mặt nước đạt đến 16km/ h.

Ca nô BMK-T trên xe Kraz255

Ca nô BMK- T ở trên bờ (Mình không tìm thấy ảnh ca nô BMK-460 và trên thực tế thì Việt Nam không có no, ai có thể tìm giúp mình thì tốt quá)


(Ca nô BMK-130 ở trên bờ và khi hạ thủy)
Trong khoang có lắp bơm xả công suất lớn, có thể bơm xả nước ở các khoang của ca nô và từ các phao khơi.
Ca nô được lắp ở mũi cơ cấu kép tự động bến thao tác nhanh, tấm phá song, cơ cấu mũi động thủy lực để khắc phục khả năng chúi mũi ca nô trong nước . Ca nô chịu được sóng cấp 5, vận tốc dòng chảy 4m/s. Biên chế ca nô có 2 thợ lái ( theo phân đội thì cần 1 thợ lái). Ca nô được chuyên chở tương tự như phao khơi trên xe Kraz-260. Hạ thủy và tời ca nô lên xe tương tự hạ thủy và tời đốt bờ và đốt khơi.
Tấm lát chống lầy là những tấm kim loại theo dạng mành mành hoa mai được nối với nhau bằng những cái vòng tạo thành những băng mềm kim loại có chiều dài 11,7 m và chiều rộng 3m. Dải băng được đặt trên ô tô chuyên dụng Kraz-260 và bảo đảm cơ giới hóa quá trình dải băng xuống đất và thu dọn. Tấm lát có tác dụng để tạo khả năng cho trang bị chuyển động tới cầu hoặc phà trên bến lầy.
Theo tài liệu hướng dẫn sử dụng băng có thể cho phép 1000 lần chuyển động xe tăng lên nó. Trên thực tế nó có thể bị loại khỏi trang bị khi 1 đoàn quân đi qua. Vì vậy theo quy định của quân đội Liên bang Nga, chỉ sử dụng tấm lát chống lầy này trong thời chiến.
Giải thích: cầu 60t nhìn đúng như cầu PMP-M và khác cầu PMP là có trên phao bên tấm chắn động thủy lực. Tấm chắn này được hướng về hướng dòng chảy.

1 mảng cầu PMP loại 60 tấn đã được lắp ghép, chờ quay cầu, neo, thông xe)
Để lắp ghép cầu 90t 1 trong2 phần của phao bên ( phao ko có tấm chắn động thủy lực) thu nó vào trong của phần kia và như vạy boong của phao cho phép nối vào nó những phao khác từ 3 phía. 2 phần 3 số phao của bộ dùng vào mục đích này, còn những phao của 1 phần 3 còn lại của bộ chia đôi theo chiều dài ( phần quay của phao bên ko thu lại) và nối với các phao nguyên. Và như vậy ta có cầu chiều rông gấp rưỡi, có trọng tải 90t và chiều rộng phàn xe chạy là 10m.
Để lắp ghép thành cầu 120t thì thu phần trên phao bên của các phao và sau đó các phao lắp nối giữa chúng với nhau. Và lắp ghép được cầu có chiều dài bằng nửa cầu 60t, khi đó chiều rộng phần xe chạy là 13,8 m.
Tương tự như vậy khi ghép phà 90t cũng được lắp ghép từ các phao thông thường hoặc các phao 2 lần chiều rộng, đối với phà nặng hơn thì từ các phao có chiều rộng gấp rưỡi và phao có chiều rộng gấp đôi.
Tính đa năng của các phao trong bộ cầu phaoPPs-84 cho phép lắp ghép thành những diện tích nổi sử dụng với nhiều mục đích khác nhau và thâm chí có thể làm sân đỗ cho máy bay với cầu dài 1300m và chiều rộng cầu 14m, có thể để được 39 máy bay cường kích đã căn chỉnh lại sau khi hạ cánh.
(Có 1 số từ tiếng Nga tôi không viết đươc, mong các bác thông cảm)