Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:13:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trang thiết bị công binh  (Đọc 80589 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #40 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 02:05:16 pm »

Dịch thế này tạm được rồi Grin. Cố lên nhé Grin

Bắt đầu dịch thì ai cũng khó cả thôi. Sau này quen tay, sẽ dịch tốt hơn.

MDK-2M được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quân sự của St Petersburg cùng với những biểu tượng một thời của nền công nghiệp quốc phòng Xô Viết.
=> Đây là Bảo tàng Pháo binh - công binh - thông tin liên lạc của Quân đội Liên Xô ở St Peterburg - một trong những bảo tàng lớn nhất của Nga và thế giới.
Logged
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #41 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 02:29:52 pm »

Em cảm ơn thủ trưởng! Cheesy Em xin phép post một bài nữa về MDK-3.(tranh thủ hôm chủ nhật Grin)


                                                       Máy đào MDK-3

                                             Hiêntại MDK-3 vẫn rất hữu dụng

* Về cơ bản các máy MDK-3 được phát triển từ máy MDK-2M, vào những năm 70. Công dụng của chúng giống nhau nhưng MDK-3 sở hữu kích thước cũng như công suất vượt trội so với “người tiền bối” của mình.
*Máy MDK-3 (nguyên mẫu đầu tiên) được thiết kế để tạo ra những rãnh sâu 3,5 m và rộng 5 m cho các thiết bị nơi trú ẩn.
 +Máy kéo cơ bản là một máy kéo AT-T với một nguồn điện bổ sung, dẫn đến công suất lắp đặt lên đến 1.115 mã lực( tương đương gần 5 chiếc Mercedec có tốc độ 210 km/h )
 +Tốc độ đào của máy trên mặt đất II - III thể loại - 1000 – 1200m3/h.
 +Trọng lượng máy – 34 tấn.  
*Máy MDK-3 (sau đó, phiên bản sau) là một phát triển hơn nữa của máy MDK-2M và được thiết kế để đào chiến hào và nơi trú ẩn cho khai đào, máy móc theo các công sự. Được phát triển bởi Cục Thiết kế Kharkov được đặt tên. Morozov và sản xuất 1976-1991.
 +Tốc độ đào: số liệu  này các nguồn khá khác nhau. Số liệu chung nhất là 500-600 m3/h.
 + Kích thước hào đào được: chiều rộng 3.7m, độ sâu lên đến 3,5 m, dài theo yêu cầu.  
 +Máy  cơ sở (izd.453):máy kéo-MT-T. Động cơ V46-4,công suất 520kW.
 +Sau mỗi lần di chuyển MDK-3  tạo ra một chiều sâu duy nhất là 1,75m (So với 30-40 m của máy cũ) . Thiết bị phụ trợ là lưỡi ủi mạnh mẽ làm tăng công suất của máy so với người tiền nhiệm MDK-2M.
 +Hoạt động trên các loại đát:  I-IV
 +Bắt đầu và kết thúc của hào là một đoạn đường nối với một độ dốc 15 độ.  
 +Máy làm việc được trên mặp nghiêng 15 độ, độ dốc lên đến 28 độ (có bộ phận gạt ủi phụ ở trước).
 +Khối lượng: 39-39.5 tấn (so với 27.3t máy tính cũ),
 +Tốc độ hành trình: 65 km / h.
 +Tốc độ trung bình trên mặt đất: 25-38 km/ h.
 +Phạm vi di chuyển: 500km.
 +Kích thước:
  -Chiều dài: 10.22m, khi làm việc11.75m.
  -Chiều rộng:3.23m, khi làm việc 4.6 m.
  -Chiều cao: 4.04m, khi làm việc 3.25m.
 +Đường kính phần quay (rotor): 3.7m.
 +Rađio P-123.
 +Thùng nhiên liệu: 2000l(loại TC TC-1-2,A-72).
 +Dầu:115 L (loại MT-16P,M-16).
 +Làm mát:125 L (loại A-40,A-65).
 +Thủy lực( hệ thống/ bể chứa):290 l/ 125 l (loại:MGE-10A)
 +Tiêu thụ nhiên liệu: 100km, 275-300L, 80-100 l/h trên xe đang làm việc.
 +Tổ lái: 2-3 người.
 +Thời gian chuẩn bị máy để làm việc cho 5-7 phút.
 +Cabin kín, được trang bị với một bộ lọc do đó, máy có thể làm việc trên các khu vực bị ô nhiễm với các chất độc hại và phóng xạ. Cabin chỗ ngồi lên đến năm người kể cả lái xe.Được trang bị với một đo bức xạ, một hệ thống nhìn đêm.
*Một số hình ảnh về MDK-3 nguyên bản:

                              Máy MDK-3 dựa trên bánh xích máy kéo AT-T đang di chuyển.



              Bằng cách di chuyển theo chiều ngược lại MDK-3 tạo ra lũy đất ở cả 2 bên hào.

 Các MDK-3 phiên bản sau:
MDK-3 máy kéo bánh xích MT-T đang thực hiện các bài kiểm tra
MDK-3  bánh xích MT-T hoạt động.
Máy đào MDK-3 với bánh xích MT-T
*Nguồn:saper.etel.ru, Tyumen Wiku, Techstory.ru
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Hai, 2012, 06:20:45 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
congbinh1
Thành viên
*
Bài viết: 43


« Trả lời #42 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 03:27:31 pm »

Xe công binh phá chướng ngại vật IMR
Xe công binh phá chướng ngại vật IMR được sử dụng để trang bị cho các đơn vị hành quân vượt qua các khu vực rừng dày đặc hoặc các chướng ngại vật trong thành phố - được tạo nên sau khi trúng vũ khí hạt nhân hoặc bom khối lượng lớn. Với mục đích này, xe được trang bị máy húc mạnh và tay máy dạng ống lồng.
 IMR có khung xe cơ sở là xe tăng T-55 không có tháp pháo và vũ khí tăng.
-Công suất động cơ: 580 sức ngựa
-Khối lượng: 37,5 tấn
-Tầm hoạt động: 530km
-Khả năng vượt chướng ngại vật – hố nông 1,4 mét không cần chuẩn bị, vượt tường cao 0,8 mét, vượt hố rộng 2,7 mét.
-Tốc độ tối đa: 50km/h, tốc độ vận tải theo địa hình mấp mô: 30 – 35km.
 Xe được làm kín, trang bị hệ thống vượt sông (hoạt động trên khu vực nước sâu 5 mét), hệ thống chống vũ khí nguyên tử, đài radio R-113 (R-123), hệ thống chữa cháy tự động, máy đo phóng xạ - máy đo tia X DP-3B, khí tài trinh sát hóa học VPKhR, thiết bị quạt – lọc. Nhờ đó, xe có thể làm việc ở các khu vực bị nhiễm xạ và nhiễm độc và kíp xe có thể ở trong xe mà không cần khí tài bảo vệ. Hệ số giảm độ chiếu sáng bằng 10. Xe được trang bị hệ thống phun khói (động cơ diesel phun qua máy phun tới ống xả động cơ, nhờ đó, tạo thành màn khói rất dày đặc và kích thước lớn.
Thiết bị máy ủi có thể ở trong vị trí máy ủi hoặc máy xúc, máy xới, khi đó, sự thay đổi vị trí của thiết bị được thực hiện bằng thủy lực và kíp xe không phải ra ngoài.Trước máy xúc có tấm trượt, cho phép thực hiện mức độ đào sâu của máy xúc. Với sự hỗ trợ của thiết bị ủi, xe có thể di dời các đống đổ nát, lấp đầy các hố sâu, hố dạng phễu.
Chiều rộng của bàn ủi: + trong vị trí máy ủi 3,4 m
                                + của máy xới: 3,46 m
                                + trong vị trí máy ủi: 4,15 m
 Xe thực hiện việc vượt qua chướng ngại rừng rậm với tốc độ 200-300m/h, trong chướng ngại vật đường phố 160-200m/h. Xe có thể vượt qua các trục đường giao điểm với tốc độ 5-8km/h. Cần trục dạng ống lồng với tay gạt – gắp được sử dụng để phá bỏ khỏi khu vực hành quân các cây cối, mảng tường vỡ, phần còn lại xác xe cộ, nhổ khỏi mặt đất cột tường rào – phần còn lại của tường bị vỡ. Tải trọng của cần trục là 2 tấn, với tầm vươn là 8,8 m. Với sự hỗ trợ này, trong tổ hợp xe cào – xúc, cần trục có thể được sử dụng trong vai trò trang bị máy xúc.
 Thể tích cào – xúc: 0,4 m3
 Năng suất của máy xúc là 40m3 đất/h.
 Kíp xe – 2 người (lái xe – kỹ thuật viên và trưởng xe – thao tác viên).
Trong tư thế hành quân, thiết bị gầu xúc được nâng lên và thu gọn trên nóc xe, cần trục ống lồng tự động di chuyển và triển khai về phía sau. Nhờ đó, trong tư thế hành quân, IMR đảm bảo sự gọn gàng.

Trang bị vũ khí: súng tự động AKMS (ASK-74U) với cơ số đạn 150 viên, 10 lựu đạn F1, súng lục tín hiệu SPSh với cơ số tên lửa tín hiệu: 30 đạn.

Trong biên chế tiểu đoàn công binh thuộc sư đoàn bộ binh cơ giới hay sư đoàn tăng – 3 xe, trong các tiểu đoàn công binh  xung kích và phá chướng ngại vật, các tiểu đoàn làm nhiệm vụ khắc phục sự cố trên các công trình hạt nhân.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Hai, 2012, 03:33:34 pm gửi bởi congbinh1 » Logged
congbinh1
Thành viên
*
Bài viết: 43


« Trả lời #43 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 03:34:17 pm »

Xe chiến đấu vượt (phá) chướng ngại vật BMR-3M

Xe chiến đấu vượt chướng ngại vật BMR-3M được sử dụng để đảm bảo vượt qua các bãi mìn đối với xe tăng, xe chiến đấu bộ binh, xe vận tải chiến đấu bọc thép và các loại xe khác, có độ rộng bản xích (bánh hơi) và khoảng cách giữa xích (bánh hơi) tương ứng với xe tăng.
 Trong các bãi mìn, gồm có các loại mìn chống xích ngòi nổ, xe trang bị các bánh dò mìn. Độ rộng của mỗi bánh xe là 80-87cm, chiều rộng dải bánh xe 162cm. Trong các bãi mìn, có mình chống đáy với ngòi nổ tiếp xúc, xe trang bị bánh dò mìn dày rộng 3,2 mét, trong các bãi mìn gồm có mìn chống đáy với các ngòi nổ từ tính, trang bị bánh dò mìn dày 6-7 mét.


Lưỡi xới & bánh xe dò mìn của BRM-3M
Khung Gầm cơ sở của xe BMR-3M là T-72 không có tháp pháo và vũ khí.
Khối lượng tổng của xe: 43 tấn. Động cơ diezel M-84MS  4 thì hình chữ V, làm nguội bằng chất lỏng công suất 618kW (840 sức ngựa) với nhiên liệu tiêu thụ riêng 247g/kW/h. Tầm hoạt động theo nhiên liệu với các thùng bổ sung (thùng 2x200 lít) – 540km. Tốc độ tối đa với sự tháo các phân đoạn bánh chịu lực 60km/h, tốc độ hoạt động của lưới quét: 12km trong 1 giờ.
Các kích thước của xe

+ chiều dài: 6,92 mét

+ chiều rộng: 3,78 mét

+ chiều cao: 2,93 mét

Kíp xe: 2 người (trưởng xe và lái xe-kỹ thuật viên). Đến thời điểm hoạt động trên bãi mìn, kíp xe được bổ sung 3 lính dò mìn và trên xe có bố trí chỗ làm việc trong buồng chiến đấu cho họ.

Buồng cho kíp xe:

+ thiết bị quạt gió, đảm bảo hoạt động cho kíp xe không cần mặt nạ phòng độc trong các điều kiện bụi lớn, nhiễm phóng xạ, hóa học và nhiễm khuẩn.

+ điều hòa không khí, đảm bảo hoạt động của kíp xe khi nhiệt độ môi trường là 65 độ

+ thiết bị đun nước, nướng thức ăn, nhà vệ sinh đảm bảo sự sống cho kíp xe trong điều kiện xe đóng kín hoàn toàn trong 3 ngày đêm.

Vũ khí phòng thủ của xe: súng máy phòng không điều khiển từ xa 12,7mm (“Utes”) ở tháp, trên cửa ra vào của trưởng xe, sung phóng lựu RPG-7D (6 đạn), thiết bị phóng tên lửa phòng không tầm thấp “Igla” (2 tên lửa), 8 lựu đạn khói trên mui xe, súng tự động AKS-74 (150 viên đạn), các lựu đạn F-1 (10 quả). Kíp xe được trang bị súng lúc PM, các công binh bổ sung – vũ khí cá nhân.

Giáp bảo vệ của xe tương tự như xe tăng T-72 với giáp phản ứng nổ. Sự bọc thép của tấm giáp đầu dưới và đáy là 300mm giáp.

Vũ khí trang bị chính: lướt quét mình dạng bánh chịu nặng KMT-7 gồm có 2 khối bánh chịu lực và 2 khối dao quét (KMT-8) với vật nối EMT điện từ.

Trang bị bổ sung: đài vô tuyến liên lạc tăng R-123M, khí tài hội thoại nói tăng TPU, máy đo phóng xạ và tia X, khí tài phân tích hóa học GO-27, các khí tài nhìn đêm không cần chiếu sáng 1PN-63M (2 đèn).
Phía trên mũi chiến đấu là bệ tải có tải trọng 5 tấn và cần cẩu – cần trục tải trọng 2,5 tấn, cho phép vận tải và lắp (tháo) phân khối bánh chịu lực bằng sức người của kíp xe mà không cần sự hỗ trợ của cần cẩu tự động.
1 số hình ảnh của BRM-3M




Logged
congbinh1
Thành viên
*
Bài viết: 43


« Trả lời #44 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2012, 03:34:43 pm »

Xe công binh dò mìn cảm ứng trên đường DIM

Xe dò mìn cảm ứng trên đường DIM được sử dụng để dò và phát hiện cơ khí các loại mìn chống tăng và chống xe vận tải, có thân bằng kim loại hoặc linh kiện, lắp dưới ngầm dưới mặt đường xe ô tô, đường băng cất – hạ cánh, bãi đỗ máy bay trên sân bay, các hố sâu 70cm.

Xe DIM được biên chế trong đội đảm bảo di chuyển (OOD) thuộc sư đoàn bộ binh cơ giới (tăng).

Thiết bị dò mìn được lắp trên cơ sở xe hơi trang bị lại UAZ-469 (các mẫu trước trên gầm GAZ-69) và gồm có phần tử (bộ phận) dò, lắp cố định trên khung treo, hệ thống điện, bộ phận vạch tuyến.

Độ sâu phát hiện mìn kiểu TM-62M – 25 cm. Độ rộng dải kiểm soát: 2,2 mét. Tốc độ cho phép khi dò mìn: 10km/h.

Kíp xe 2 người – lái xe và thao tác viên. Trong thời gian hoạt động của khí tàu dò mìn, kíp xe được bổ sung 4 cong binh với các khí tài dò mìn IMP (UMIV, RVM, RVM-2), que thăm dò, túi của thợ phá – gỡ mìn…

Trong tư thế vận tải, khí tài dò mìn được nâng lên trên. Trong tư thế chiến đấu, phần tử dò mìn triển khai ra trước xe.

Việc hoàn thiện xe cơ sở gồm có trong đó, sự dẫn động bộ mắc và bộ hãm được liên kết bổ sung các thùng khí nén, trong hệ thống truyền động tiếp nhận máy nén khí. Ở thành sau của xe treo thùng vận tải chất lỏng với 2 cần cẩu hai bên.

Sau sự di chuyển của bộ phận dò mìn vào tư thế chiến đấu là sự mở nguồn điện và thượng tầng của thiết bị dò mìn; theo mệnh lệnh của thao tác viên ngồi bên phải, lái xe nổ máy và cho xe chạy tốc độ 10km/h. Thao tác viên với sự hỗ trợ của tay lái điều khiển riêng đảm bảo vị trí chính xác của bộ phận dò mìn. Với sự bắt đầu dò mìn, thao tác viên mở các cần cầu điện từ của thùng với chất lỏng mang theo. Từ các cần cẩu tới đường sẽ chảy các tia nước mảnh màu vàng, tạo thành tuyến miền kiểm tra. Khi phát hiện mìn, bộ phận tự động của khí tài dò mìn cung cấp mệnh lệnh tới các thùng khí nén sự dẫn động mắc và hãm. Diễn ra sự mở bộ hãm và cắt nối. Xe dừng lại. Thao tác viên tắt bộ phận tự động và lái xe lùi xe 30 mét về phía sau. Các chiến sĩ ngồi trên các ghế bố trí trong xe sẽ rời xe, với sự hộ trợ của khí tài dò mìn cá nhân và que dò mìn sẽ làm rõ vị trí mìn và nhận quyết định phá hủy hay vô hiệu hóa. Sau đó, việc dò mìn được tiếp tục thực hiện

DIM có mặt trong biên chế đại đội công binh thuộc tiểu đoàn công binh trong sư bộ binh cơ giới (hoặc tăng) – 3 xe.

Trang bị và giáp xe – không có.
Logged
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #45 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2012, 05:16:19 pm »

Máy móc công binh thường có tính chuyên hóa rất cao nên chúng có những hình dạng rất đặc biệt, đa dạng và phong phú. Hạm đào hào BTM-3 cũng không phải là ngoại lệ, vẻ bề ngoài của nó khiến người ta liên tưởng tới một con quái vật đến từ địa ngục!
                                                    Hạm đào hào BTM-3
                    
  BTM-3  tại bảo tàng Pháo binh - công binh - thông tin liên lạc của Quân đội Liên Xô ở St Peterburg.
 
*BTM-3 ra đời vào những năm 60 và được sản xuất cho đến cuối những năm 70 bởi nhà máy Dmitrovsky. Máy thay cho những BTM-2 và BTM. BTM-2 được sản suất trước đó sử dụng cơ chế nâng hạ phần thiết bị đào bằng hệ thống cáp với khung hình chữ U và đang tỏ ra gặp vấn đề với những vùng đất sét, ẩm ướt bởi kiểu thiết kế gầu xúc.BTM-3 đã được thay đổi cơ chế nâng hạ của phần đào đất và cải tiến về thiết kế.
*Công dụng: Hạm BTM-3 thuộc về lớp máy đào, di chuyển đất. Nó được thiết kế để đào hào và giao thông hào trong đất với một lưỡi nạo vét trên cả hai mặt của rãnh. Máy còn có thể được sử dụng trong sản xuất như khai hoang đất (những vùng đất bạc màu, yếm khí…), lắp đặt đường ống và cáp ngầm. BTM-3 là thiết bị chủ lực trong việc đào các hào mảnh( hoặc rãnh).
*Một số tính năng kĩ năng thuật:
 +Loại đất có thể làm việc: Trong đất loại I-IV, tức là máy này là có khả năng đào 1 rãnh trong các đất cát để đông lạnh.
 +Địa hình có thể làm việc: Cho phép làm việc trên bên mặt nghiêng lên đến 12 độ hoặc dốc xuống đến 20 độ.
 +Lội sâu: 1m.
 +Kích thước hào đào: Hào đào có mặt cắt ngang là hình thang cân với đáy lớn ở trên. Chiều rộng của miệng hào là 90cm nếu hào sâu 1,1 m, là 1,1 m nếu hào sau 1,5 m. Chiều rộng đáy hào luôn là 0,6 m. Máy có thể tạo ra các rãnh thẳng hoặc các rãnh  ngoằn ngoèo, gấp khúc hay uốn khúc ( bán kính cong R>= 25 m). Đất đào lên được hất thành hàng chạy song song với hào và cách hào chừng 50cm.
 +Hiệu suất làm việc của máy(vận tốc đào): 270 - 810 m / h, tùy thuộc vào độ rắn của đất đá và độ sâu của hào.VD: Hiệu suất tối đa của máy với cái hào có chiều rộng trên 1,1 m , dọc theo phía dưới - 0,6 m và sâu 1,5 m  là 800 m / h  . Với việc giảm độ sâu hào (40-50cm). Năng suất tăng lên đến 1.200-1.400 m / h. Điều này rất hữu ích khi xây dựng chiến hào sai hoặc dưới áp lực thời gian. Trong trường hợp này, dootryvaet binh rãnh bằng tay.
 +Máy cơ sở: Máy kéo pháo binh hạng nặng AT-T.
 +Công suất: 305 mã lực (công suất 415 mã lực với động cơ diesel A-401).
 +Phần đào đất: Gồm 8 gầu đào, thể tích 160 L.
 +Kích thước:
  -Chiều dài: 7.6m -khi làm việc là: 11.2m.
  -Chiều rộng: 3.164m –khi làm việc: 3.164m.
  -Chiều cao: 4.32m-khi làm việc là: 2.885m.
 +Khối lượng: 27.5 tấn.
 +Áp lực trung bình tác dụng lên đất: 0.71 kgf / cm2~69627.2 Pa.Với một áp lực trung bình như thế này xe có thể di chuyển trong các vùng đất tương đối mềm.  
 +Tốc độ di chuyển: 36 km / h.
 +Thùng nhiên liệu tiêu chuẩn cung cấp cho máy di chuyển: 500km hoặc làm việc trong 10-12 giờ.
 +Tổ lái: 2 người nhưng cabin đủ chỗ ngồi lên đến năm người kể cả lái xe.
 +Thời gian chuẩn bị máy để làm việc: 5-7 phút.
 +Đài liên lạc: P-113
 +Thiết bị nhìn đêm: PNV-57T.
 +Cabin kín, được trang bị với một bộ lọc- thông gió , do đó, máy có thể làm việc trên các khu vực bị ô nhiễm với các chất độc hại và phóng xạ (trong điều kiện chiến tranh sử dụng vũ khí hủy diệt-WMD). BTM-3 Được trang bị đo bức xạ.
 +Phục vụ trong bộ phận kỹ thuật bộ binh (hoặc tăng) - 3 chiếc.
*Nhận xét: máy bền, đáng tin cậy,ít xảy ra sự cố. Cabin rộng rãi, ấm áp (động cơ dưới sàn buồng lái).
*Một vài hình ảnh về  hạm đào hào BTM-3:

   BTM-3 dựa trên AT-T thực hiện bài kiểm tra.Hình ảnh từ kho lưu trữ của Kharkov im.A.A.Morozova KB.


 BTM-3 dựa trên máy kéo AT-T tại nơi làm việc. Hình dạng hào được tạo ra bằng việc điều khiển hướng di chuyển của xe.


                  Những bức ảnh được chụp ở MES Madvezhka trong khu vực Leningrad. F.Shilnikovym


                                   Hệ thống gầu đào của hạm BTM-3.


*Nguồn: saper.etel.ru,Techstory.ru,BMZ.ru + tổng hợp.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Hai, 2012, 05:27:54 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #46 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2012, 05:50:46 pm »

Hạm đào hào BTM-3 = Быстроходная траншейная машина БТМ-3 = Xe đào hào (rãnh) cao tốc BTM-3.

BTM-3 dựa trên AT-T thực hiện bài kiểm tra.Hình ảnh từ kho lưu trữ của Kharkov im.A.A.Morozova KB.

=> Phòng thiết kế ở thành phố Kharkov mang tên A.A.Morozov Grin
Logged
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #47 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 12:32:10 am »

Mong thủ trưởng tiếp tục giúp đỡ Grin

Nhân đây: Thưa các bác, sau mấy bài đầu lóng ngóng “múa rìu qua mắt thợ”, em có đôi điều muốn nói: Em đã là thành viên của trang nhà, em muốn là một thành viên tích cực, có đóng góp cho VHM vì vậy em sẽ luôn cố gắng đóng góp những bài viết trong khả năng có thể .Tuy em viết bài trên thái độ nghiêm túc và trách nhiệm, nhưng vì tuổi đời còn trẻ, kiến thức thực sự là nông cạn lại không phải là con nhà lính, thời gian cũng không có nhiều (em đang học khá bận), nên trong các bài viêt đóng góp trên trang nhà không thể tránh khỏi sự hạn chế, kém cỏi cả về chất và lượng!Rất may mắn là trên này có rất nhiều bác có kiến thức sâu rộng, các “cao thủ” có thể nói là trùng trùng mà vẫn có “ngọa hổ tàng long” .Vì vậy, em mong muốn các bác cứ thẳng thắn phê bình, ý kiến về các bài viết của em nếu thấy có chỗ nào “chướng tai, gai mắt”! Xin cảm ơn các bác! Grin
Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
longtrec
Trung tá
*
Bài viết: 1941



« Trả lời #48 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 01:51:37 am »

Bạn Trần Anh khiêm tốn quá, ở trang nhà chỉ cần nhiệt tình+hiểu biết=thành viên tích cực rồi, Grin mà sao bạn lại trọn thiết bị, máy móc Công binh để khai bút?

Hiệu suất làm việc của máy(vận tốc đào): 270 - 810 m / h

Với hiệu xuất đào thế này thì 1 chiếc máy 1h làm việc bằng cả 1 C đủ(khoảng trên dưới 100 người) đào tích cực trong 1h với điều kiện đất ngon ăn và đang có chiến sự. Nhưng máy cũng có hạn chế của nó, ví dụ :Lập chốt chặn cần yếu tố bí mật mà vác máy ra nó nổ như bò rống thế thì ăn cối. Mà chốt ở trên các cao điểm thì máy hiện đại đến mấy cũng khóc, người phải bò và đu lên thì cõng làm sao  được máy . Grin
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Hai, 2012, 02:16:38 am gửi bởi longtrec » Logged
meo-u
Thành viên
*
Bài viết: 89


« Trả lời #49 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 07:18:21 pm »

Với hiệu xuất đào thế này thì 1 chiếc máy 1h làm việc bằng cả 1 C đủ(khoảng trên dưới 100 người) đào tích cực trong 1h với điều kiện đất ngon ăn và đang có chiến sự. Nhưng máy cũng có hạn chế của nó, ví dụ :Lập chốt chặn cần yếu tố bí mật mà vác máy ra nó nổ như bò rống thế thì ăn cối. Mà chốt ở trên các cao điểm thì máy hiện đại đến mấy cũng khóc, người phải bò và đu lên thì cõng làm sao  được máy . Grin
Thì mình mang trực thăng cõng nó lên mà bác Grin
Máy này chỉ thuận tiện khi thiết lập trận địa nhanh chóng trong chiều sâu chiến dịch thôi (hệ thống phòng ngự hiện đại có rất nhiều lớp phòng ngự).
Mà các bác toàn dịch các máy đào hào đời cổ, lên bảo tang là sao. Những máy này không phù hợp tác chiến hiện đại vì chỉ đào được những hào thẳng. Dễ bị trực thăng vũ trang bắn quét dọc trận địa.
Thời bây giờ phải dùng máy đào hào kiểu dải xích. Đào được hào hình chữ VVVVV để chống hoả lực trực thăng và dễ cầm cự, phản kích khi một đoạn hào bị chiếm.
Đôi lời góp ý. Mong các bác dịch đồ hiện đại trước, đồ cổ sau để topic thêm phần thu hút.
Có gì mạo phạm mong các bác bỏ qua cho.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM