Đoạn tài liệu sau đây được tổng hợp từ nhiều nguồn, có khả năng sẽ được xuất hiện ở một tập trong bộ ba tập tổng hợp những trận đánh nổi tiếng trong KCCM:Trận Pa Thí (12/1/1968)
Cuối năm 1967, cấp trên giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 919 tiến công căn cứ quân sự hỗn hợp Pa Thí, một căn cứ mạnh của Mỹ-ngụy nằm ở vùng Đông Bắc nước bạn Lào. Đây là căn cứ ra-đa, con mắt thần của Mỹ nhằm kiểm tra các phi vụ hàng không, hướng dẫn điều khiển các máy bay chiến đấu và các máy bay ném bom vào các mục tiêu.
Pa Thí là điểm cao giữa vùng rừng núi rộng lớn, với dãy núi đá dài khoảng 5km chạy theo hướng bắc nam, có địa thế hiểm trở, đỉnh cao nhất chừng 1.786m (có tên gọi là Phun Pa Thi). Hệ thống ra-đa TSQ /81 của địch đặt ở phía dưới, ở độ cao khoảng 1.700m. Phía đông bắc là những vách đá nhiều bậc trơn trượt gần như thẳng đứng, sâu khoảng 600m. Ở độ cao 1.681m là sân đỗ trực thăng, có đường băng khép kín, dài gần 200m. Việc tiếp tế, vận chuyển cho căn cứ địch phải dùng máy bay lên thẳng. Ngoài đường đi trong căn cứ, mọi vị trí trong khu vực khác đều được gài mìn dày đặc, hệ thống công sự vững chắc liên hoàn.
Sau khi nhận nhiệm vụ, Trung đoàn 919 cử một tổ đi nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường, do đồng chí Nguyễn Văn Ba, Trung đoàn phó - Tham mưu trưởng phụ trách. Tổ có 11 người gồm các bộ phận tác chiến, thông tin, khí tượng chủ yếu làm nhiệm vụ nắm địch, nhận dạng mục tiêu cho các tổ bay, nắm vững quy luật hoạt động của địch ở trên không, mặt đất, nắm vững quy luật thời tiết, khí tượng, tổ chức trạm quan sát và đài bổ trợ ngay gần đó để chỉ huy các máy bay ta đánh trúng mục tiêu. Trung tuần tháng 12 năm 1967, căn cứ vào báo cáo tình hình mọi mặt của đồng chí Ngô Quang Ngọc cùng bộ phận đi chuẩn bị chiến trường trở về, kết hợp với tin tức thu được từ nhiều nguồn, Thường vụ Đảng uỷ và ban chỉ huy trung đoàn họp thống nhất kế hoạch và phương án chiến đấu. Ít ngày sau, ban chỉ huy trung đoàn khẩn trương cho các tổ bay huấn luyện theo phương án đã được Bộ tư lệnh thông qua.
Đây là trận đánh mục tiêu mặt đất đầu tiên của không quân vận tải. Mục tiêu thuộc loại có kích thước nhỏ, xa căn cứ xuất phát của ta, lại nằm ngay trong lòng địch; trên đường bay máy bay của ta phải cơ động bay thấp luồn lách núi để tránh địch phát hiện, tạo thế bất ngờ. Mặt khác, lực lượng đánh địch phải là những tổ bay có nhiều kinh nghiệm và đã qua chiến đấu. Được Bộ tư lệnh đồng ý, trung đoàn chọn biên đội An-2 gồm bốn tổ bay và 2 tổ bay dự bị tham gia trận đánh này, do tiểu đoàn trưởng Phan Như Cẩn làm biên đội trưởng. Các tổ bay vừa tranh thủ huấn luyện theo phương án, vừa sẵn sàng có lệnh là cất cánh được ngay.
Tổ 1 máy bay số hiệu 664, có mật danh 354 gồm: Phan Như Cẩn - chỉ huy biên đội và Phạm Thanh Tâm, Trần Sĩ Tiêu; Tổ 2 máy bay số hiệu 665, có mật danh 355 gồm: Trần Hữu Quý, Phạm Văn Phán, Lê Xuân Kịch; Tổ 3 máy bay mang số hiệu 666, có mật danh 356 gồm: Nguyễn Văn Ngộ, Ngô Văn Hùng, Nguyễn Mạnh Kiểu, Trần Chinh; Tổ 4 máy bay số hiệu 671, có mật danh 357 gồm: Đinh Công Giểng, Đinh Văn Niêm, Nguyễn Hữu Hùng.
Hai tổ bay dự bị: Tổ 1, có các đồng chí Huân, Canh, Thao; Tổ 2 có các đồng chí Liên, Bái, Hoàng.
Ngày 12 tháng 1 năm 1968, từ sáng sớm, các máy bay An-2 trực chiến đã được chuẩn bị đầy đủ, kiểm tra kỹ. Mỗi tổ bay mang theo 32 quả rốc-két và 12 quả đạn cối 120ly. Các tổ bay hiệp đồng lại lần nữa trước khi xuất phát.
Theo phương án đã định, sau khi công kích mục tiêu, các tổ bay sẽ bay theo các hướng đã thống nhất để về các sân bay Gia Lâm, Hiệp Hoà, Nội Bài hạ cánh nhằm phân tán lực lượng đề phòng máy bay địch đuổi theo sát thương máy bay ta.
Thời điểm đánh được chọn vào giữa trưa. Đây là thời điểm thuận lợi cho biên đội tấn công; bởi vì lúc này máy bay địch ít hoạt động, bọn địch dễ bị bất ngờ, vả lại thời tiết buổi trưa thường tốt hơn, mây đã tan hoặc lên cao hơn, các tổ bay sẽ dễ phát hiện mục tiêu.
11 giờ 43 phút, biên đội được lệnh cất cánh. Bốn chiếc An-2 nối nhau rời sân bay Gia Lâm, hướng về phía Hoà Bình. 30 phút sau khi cất cánh, sở chỉ huy trung đoàn và đài bổ trợ ngừng liên lạc với biên đội để giữ bí mật.
Theo phương án, Phan Như Cẩn dẫn biên đội bay theo hướng bay đã được kẻ sẵn trên bản đồ Gia Lâm - Hoà Bình - Mai Châu - Sốp Hào - Mường Hàm - Mường út - Pa Thí. Độ cao bay giữ đúng theo quy định. Khi tới Sốp Hào, biên đội bắt được liên lạc với đài Cẩm Thủy và được thông báo tình hình địch và thời tiết khu vực. Biên đội trưởng cho biên đội tiếp tục bay vào khu vực mục tiêu độ cao thấp, qua Mường Hàm, qua điểm kiểm tra cuối cùng Mường Út rồi phát lệnh: Lên độ cao 2.200m, bay bằng, chuẩn bị vào khu vực chiến đấu. Ở độ cao 2.200m, toàn đội đã nhìn thấy rất rõ mục tiêu trong ánh nắng trưa phía trước. Tổ quan sát và chỉ huy bổ trợ cũng đã nhìn thấy máy bay ta. Ngô Quang Ngọc liên lạc với sở chỉ huy trung đoàn, Nguyễn Văn Ba liên lạc với các tổ bay và thông báo tình hình địch cho toàn biên đội.
13 giờ 7 phút, biên đội trưởng Phan Như Cẩn báo cáo tình hình với sở chỉ huy trung đoàn và đài bổ trợ rồi dẫn biên đội vào công kích mục tiêu. Phan Như Cẩn cẩn thận nhắc lại khẩu lệnh để kiểm tra tính chính xác của từng số. Anh hô:
- Có nhìn rõ tôi không? Vào công kích.
- Rõ! Các số trả lời.
Thế là, 354 đưa trạm ra-đa địch vào vòng ngắm, phóng một loạt 32 quả đạn rốc-két trúng mục tiêu. Đạn nổ trùm lên trận địa của địch. Anh kéo cần lái bay bằng, thả những quả đạn cối 120mm xuống căn cứ địch. Các tổ bay khác bình tĩnh, chuẩn xác thực hiện các thao tác bổ nhào công kích. Những tia chớp sáng lòa, tiếng đạn nổ rền, lửa khói bốc lên trùm lấy căn cứ địch. Bốn chiếc An-2 nối nhau vào công kích. Tất cả được ném hết xuống khu vực trạm ra-đa rồi thoát ly, bay về.
Trên đường về, để tránh địch phát hiện, đuổi theo, các tổ bay vẫn bay thấp, luồn lách qua các khe núi. Vì không thuộc địa hình, sau khi ra khỏi một khe núi, hai máy bay 664 và 665 đã đâm vào nhau. Cả hai tổ bay đã hi sinh, trong đó có Phan Như Cẩn, người tiểu đoàn trưởng đầy năng lực, người phi công giỏi đã có bề dày kinh nghiệm và thành tích trong chiến đấu.
Theo tổ quan sát báo cáo và các nguồn tin thu thập được kể cả của địch, trạm ra-đa Pa Thí đã bị biên đội An-2 đánh trúng, các đài ra-đa lắp đặt trên đó bị phá huỷ, hai trực thăng địch bị thiêu cháy, một số nhà cửa, kho tàng, các thiết bị đã bị phá, một số địch bị tiêu diệt. Trạm ra-đa Pa Thí bị tê liệt và sau đó ngừng hoạt động. Trận đánh thật nhanh chóng, bí mật, bất ngờ, hiệu quả, đúng như phương án luyện tập...