Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:07:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thế giới: Một góc nhìn  (Đọc 55294 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #30 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:41:53 pm »

Tính lưỡng dụng – đặc trưng công nghệ quân sự thế kỷ XXI

            Công nghệ lưỡng dụng đang trở thành một lĩnh vực đem lại lợi ích kinh tế rất lớn. Hiện nhiều công ty công nghiệp quốc phòng các nước sản xuất tới 50-70% sản phẩm dân dụng, còn sản phẩm quân dụng chỉ chiếm khoảng 30%. Nhiều nước công nghiệp phát triển cao như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Nga, đến các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc... đều xây dựng và phát triển các tập đoàn công nghiệp quốc phòng làm đầu tàu cho sự phát triển kinh tế và có nhiều công ty hoặc tập đoàn đó đã trở thành các công ty xuyên quốc gia, có chi nhánh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ở hàng chục nước trên thế giới. Mặt khác, toàn cầu hoá công nghệ quân sự còn nằm trong xu thế chung của một quá trình toàn cầu hoá lớn hơn, đó là toàn cầu hoá về khoa học-công nghệ, vốn được coi là thứ “tài nguyên chiến lược”.

            Trước đây, các nước có nền công nghiệp quân sự mạnh cho rằng độc quyền về các hệ vũ khí công nghệ cao là một lợi thế chiến lược quan trọng. Ngày nay, tình hình đã khác. Do ngân sách ngày càng eo hẹp trong khi nhu cầu về vũ khí hiện đại tăng lên, công nghệ quân sự hiện đại đã nhanh chóng trở thành mặt hàng xuất khẩu. Phổ biến bí quyết công nghệ sản xuất vũ khí đang trở thành xu hướng, trước hết là ở Mỹ và một số nước châu Âu. Tại đây, nhờ liên kết công nghệ mà các công ty hay các tập đoàn công ty đã chiếm ưu thế trên một số khu vực thị trường nhất định.

            Đặc điểm quan trọng của quá trình toàn cầu hoá sản xuất quốc phòng hiện nay là phát triển sản xuất vũ khí ở nước ngoài để tận dụng lợi thế trên thị trường của nước sở tại, trước hết là các nước và vùng công nghiệp tiên tiến hơn cả ở châu Á-Thái Bình Dương như Singapore, Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc. Ví dụ, hầu hết các hệ vũ khí của Mỹ đều sử dụng các bộ phận do các nước ngoài cung cấp như các linh kiện vi điện tử, vật liệu tổng hợp, màn hình phẳng. Tới 80% giá thành của một số loại tên lửa do Mỹ chế tạo là tiền mua các linh kiện điện tử của Nhật.

            Trước đây, khi dân dụng và quân sự còn là hai lĩnh vực cách biệt, các chính sách chuyển giao công nghệ quân sự và dân dụng còn rất khác nhau, nhưng khoảng 20 năm trở lại đây, sự giao thoa giữa công nghệ dân dụng và công nghệ quân sự ngày càng tăng, do đó khó phân biệt chính sách chuyển giao công nghệ dân dụng với công nghệ quân sự. Thậm chí, sự lưỡng dụng giữa dân dụng và quân sự chính là tâm điểm gây tranh cãi trong trường hợp Iran, khi nước này vẫn bảo vệ các chương trình hạt nhân mà họ khẳng định là mục đích dân sự, trong khi phương Tây nghi ngờ đây là chương trình sản xuất vũ khí.

            Tranh mua công nghệ, tranh bán vũ khí

            Trong quá trình toàn cầu hoá công nghệ lưỡng dụng, hiện đang hình thành thị trường công nghệ lưỡng dụng trên phạm vi quốc tế. Nhờ thị trường mới mẻ này mà nhiều nước có cơ hội tăng cường sức mạnh quân sự. Trên thị trường này, các nước không chỉ là mua và bán phần cứng công nghệ mà cả chuyển giao công nghệ. Có thể thấy, chuyển giao công nghệ đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của nước nhận công nghệ do những tác động tích cực của nó. Tuy nhiên, điều đó còn tuỳ thuộc vào trình độ khoa học-công nghệ và khả năng “tiêu hoá công nghệ” của nước nhập khẩu. Do đó, tốc độ và sự thành công của việc chuyển giao công nghệ một phần tùy thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế.

            Chiến tranh Lạnh kết thúc, vũ khí trang bị vừa dư thừa, vừa chóng bị lạc hậu, tạo ra một thị trường vũ khí vừa rẻ, vừa đa dạng. Tình trạng ứ đọng vũ khí, kể cả vũ khí mới xuất xưởng, đã làm tăng thế mạnh của người mua, thậm chí thúc đẩy các hãng sản xuất chuyển nhượng cả bí quyết công nghệ quân sự đúng vào lúc ngày càng có nhiều nước công nghiệp mới đang tạo dựng nền công nghiệp quốc phòng nội địa. Khuynh hướng này thể hiện rõ nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nơi tốc độ tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá nhanh đã giúp các quốc gia theo đuổi các chương trình phát triển công nghiệp quốc phòng. Có thể nói, đây là một “cơ hội vàng” cho những nước nghèo nhưng có nhu cầu thực tế xây dựng và hiện đại hoá quân đội. Nhiều nước biết nhanh chóng nắm bắt cơ hội này và kịp thời có chiến lược mua sắm vũ khí với giá rẻ, sau đó nâng cấp, cải tiến bằng cách tích hợp những thành tựu công nghệ quân sự tiên tiến nhất, tạo ra những phương tiện hiện đại phù hợp với điều kiện sử dụng trong quân đội của từng nước, vừa đáp ứng yêu cầu chiến lược xây dựng một quân đội hiện đại hoá ở mức hợp lý tương xứng với vị thế của họ. Họ không bị cuốn hút vào dòng xoáy của cuộc cách mạng công nghệ như Mỹ, Tây Âu, mà chỉ nhằm hướng tới các yêu cầu và thách thức về quốc phòng-an ninh của họ trong kỷ nguyên mới.

            Ở khía cạnh khác, sự tranh giành thị trường tất yếu dẫn đến sự sao chép công nghệ mang tính cạnh tranh. Câu chuyện vũ khí giữa Liên Xô và Trung Quốc là một ví dụ. Theo RIA Novosti, sau khi nhận được số lượng lớn vũ khí có từ thời Liên Xô và hàng loạt dây chuyền sản xuất vào những năm 40-60 của thế kỷ trước, Trung Quốc bắt đầu sản xuất trang thiết bị do Liên Xô nghiên cứu sản xuất, song điều đáng nói là việc sản xuất này vẫn tiếp tục sau khi quan hệ Xô–Trung xấu đi vào những năm 1960 và hợp tác kỹ thuật quân sự giữa hai nước đã ngừng lại. Trung Quốc đã sản xuất và tùy theo khả năng của mình Bắc Kinh đã phát triển nhiều mẫu vũ khí các loại từ vũ khí bộ binh, súng cối, hệ thống pháo binh, thiết bị chiến đấu bọc thép bao gồm xe tăng, hệ thống phòng không, máy bay không người lái và cả máy bay ném bom – mang tên lửa tầm xa Tu-16 dưới tên gọi H-6 – được cho là nền tảng của lực lượng hàng không tầm xa hiện nay của Trung Quốc. Tháng 3 vừa qua, một hợp đồng cung cấp cho Trung Quốc những máy bay tiêm kích sử dụng trên tàu sân bay Su-33 của Nga đã bị đổ vỡ cũng được lý giải từ mối lo ngại bị Trung Quốc sao chép công nghệ tương tự như vậy.

            Trong khi các hãng dân dụng dễ dàng thâm nhập thị trường quân sự hơn thì các công ty công nghiệp quân sự thuần tuý ngày càng khó vượt ra khỏi thị trường quân sự. Phát triển và phổ biến công nghệ cao, mang tính lưỡng dụng quân sự - dân sự đang trở thành xu thế có tính toàn cầu. Đây chính là nguyên nhân mà nhiều nước trên thế giới và LHQ thường đưa ra biện pháp cấm vận công nghệ lưỡng dụng như một biện pháp cấm vận nhằm ngăn ngừa nguy cơ chạy đua vũ trang.

Vũ khí công nghệ cao có từ bao giờ?

            Thuật ngữ “vũ khí công nghệ cao” hay còn gọi là “vũ khí được điều khiển chính xác cao” được nói tới vào khoảng giữa những năm 1970. Năm 1972, lần đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ sử dụng bom điều khiển bằng lazer, bằng radar và truyền hình đánh phá các mục tiêu được bảo vệ kiên cố của Việt Nam, điển hình nhất là cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã ở tỉnh Thanh Hóa.

            Tháng 10/1973, trong chiến tranh Trung Đông lần thứ 4, Ai Cập sử dụng tên lửa chống tăng AT-3 điều khiển bằng dây và tên lửa đất đối không SA-6 điều khiển bằng radar do Liên Xô chế tạo. Còn Israel sử dụng tên lửa chống tăng kiểu TOW điều khiển bằng dây và tên lửa không đối đất Maverick điều khiển bằng truyền hình do Mỹ chế tạo.

            Trong chiến tranh vùng Vịnh (1991), vũ khí công nghệ cao như tên lửa hành trình Tomahawk, máy bay tàng hình F-117, bom lazer, bom từ trường, bom điện từ... chỉ mới chiếm 8%, những đã tỏ ra có hiệu quả rất cao trong các đòn tiến công vào các mục tiêu quân sự của Iraq. Trong chiến dịch “Con cáo sa mạc” đánh phá Iraq (1998), tỷ lệ đó cũng chỉ trên dưới 50%. Đến cuộc chiến tranh Kosovo (1999), vũ khí công nghệ cao đã chiếm trên 90%. Trong cuộc chiến tranh Kosovo, Nam Tư đã trở thành “thao trường” thử vũ khí công nghệ cao mới và quan niệm chiến lược mới của Mỹ về “chiến tranh không tiếp xúc” - một loại hình mới cho chiến tranh trong thế kỷ XXI. Trong thế kỷ XXI, công nghệ chế tạo và nguyên lý điều khiển vũ khí được hoàn thiện tới mức sẽ cho ra đời vũ khí công nghệ cao như:

            * Bom lượn “thông minh” kết hợp sử dụng thiết bị thám trắc; mìn “thông minh” trên cơ sở công nghệ cảm biến âm thanh, cảm biến hồng ngoại.

            * Tên lửa “thông minh” có thể tự nhận biết địch-ta, tự “phân tích”, “phán đoán” và “ra quyết định” tiến công mục tiêu.

            *Súng “thông minh” do máy tính điều khiển có thể tự động nhận biết chủ nhân, có nhiều khả năng tác chiến khác nhau, vừa có thể bắn đạn thông thường hoặc phóng lựu đạn.

            *Xe tăng “thông minh” có thể vượt qua các loại chướng ngại vật và nhận biết các đặc trưng khác nhau của mục tiêu, có hỏa lực và sức đột kích rất mạnh.

            *Pháo “thông minh” sử dụng người máy chuyển đạn, nạp bạn và bắn, tự chọn mục tiêu tiến công.

            * Máy bay “thông minh” không người lái có thể tự tiến hành trinh sát, gây nhiễu, đối phó điện tử, chống radar thông qua chương trình do máy tính cài sẵn trên máy bay hoặc được điều khiển từ xa.

            * Người máy quân dụng “thông minh” có đầy đủ tứ chi, mắt tinh tai thính, có thể làm được các công việc lao động thể lực nặng nề, có khả năng nhất định về tư duy, có cảm giác, tri giác, khả năng phân biệt cũng như phân tích phán đoán và do đó có thể hoàn thành nhiều nhiệm vụ quân sự phức tạp.

           * Hệ thống chỉ huy quân sự “thông minh”, có thể ra quyết định áp dụng các biện pháp đối phó hiệu quả nhất, thậm chí biết rõ tính cách, thói quen, tập quán tư duy và các đặc tính tình cảm và hành vi khác của người chỉ huy, có thể giúp người chỉ huy nhanh chóng phán đoán tình hình và ra quyết định chính xác, tạo ra tình thế mới trong quân sự được gọi là “chiến trường trong suốt”.

            Thế kỷ XXI, với sự sử dụng ngày càng nhiều vũ khí công nghệ cao trong các cuộc chiến tranh, mở ra kỷ nguyên chiến tranh công nghệ cao.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #31 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 07:44:01 pm »

THÁCH THỨC TOÀN CẦU CẦN CÓ GIẢI PHÁP TOÀN NHÂN LOẠI

            Trong tháng 9-2009, nhân loại chứng kiến các diễn đàn quốc tế lớn và quan trọng hàng đầu thế giới: khai mạc kỳ họp lần thứ 64 Đại hội đồng Liên hợp quốc, kỳ họp đặc biệt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Diễn đàn kinh thế thế giới G-20 được tổ chức kế tiếp nhau tại cùng một quốc gia, trong những thời điểm cận kề nhau, bàn về những vấn đề toàn cầu liên quan tới tất cả các quốc gia, dân tộc, tới từng con người sống trên hành tinh này và chứng tỏ, đã tới lúc thế giới cần liên kết lại để đưa ra các giải pháp toàn nhân loại nhằm hoá giải các thách thức toàn cầu. Thời điểm diễn ra các diễn đàn quốc tế lớn và quan trọng này có thể được coi là bước ngoặt trọng đại, bởi cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu chưa từng có trong hơn nửa thế kỷ qua là cuộc khủng hoảng quy mô lớn đầu tiên trong kỷ nguyên toàn cầu hoá mạnh mẽ bùng phát từ Mỹ và lan rộng ra khắp toàn cầu trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lương thực, nạn nghèo đói ập xuống đầu hàng tỷ người trên hành tinh, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt nhanh chóng, hiện tượng ấm lên toàn cầu đến mức báo động, cuộc chạy đua và phổ biến vũ khí hạt nhân chưa có dấu hiệu dừng lại, chủ nghĩa khủng bố đang đe doạ sinh mạng con người trên khắp hành tinh, tội phạm xuyên quốc gia, xung đột và chiến tranh vẫn tiềm ẩn trong quan hệ giữa các nước.

            Chưa bao giờ thế giới phải đối mặt với những thách thức toàn cầu lớn, nghiêm trọng, sát sườn, đối với tất cả các quốc gia như trong thời điểm hiện nay. Để hoá giải những thách thức đó, không một quốc gia nào, dù mạnh và giàu đến mấy, có thể đủ sức đơn phương thực hiện được. Phát biểu tại diễn đàn Kỳ họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, Tổng thống Mỹ Barắc Ôbama đã đưa ra năm nhiệm vụ cấp bách nhất trong nền chính trị toàn cầu, gồm ngăn chặn quá trình phổ biến vũ khí hạt nhân, nỗ lực duy trì hoà bình, giữ gìn môi trường sinh thái, phát triển nền kinh tế thế giới và khắc phục cuộc khủng hoảng toàn cầu. Lần đầu tiên, Tổng thống Mỹ công nhận rằng, trong thế giới ngày nay, những ai đã từng coi nước Mỹ là “siêu cường duy nhất lãnh đạo thế giới” thì giờ đây không thể ngồi trông đợi nước Mỹ sẽ hoá giải được mọi thách thức. Ông cũng khẳng định, dân chủ là thứ không thể áp đặt từ bên ngoài cho các nước có đặc điểm xã hội và văn hoá riêng và không một quốc gia nào có thể và cũng không nên có ý định giành ưu thế vượt trội so với các nước khác. Ngày nay, các nước trên thế giới cần phải liên kết lại để cùng đối phó với các nguy cơ và thách thức. Phát biểu của tổng thống Barắc Ôbama là lời cáo chung chính thức về trật tự thế giới đơn cực mà Oasinhtơn toan tính xây dựng trong hơn hai thập kỷ qua.

            Cùng nhau vượt qua khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu. Diễn đàn Nhóm các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế mới nổi G-20 khai mạc ngày 26- 9-2009 được đánh giá là một nỗ lực quan trọng mang tính toàn cầu nhằm đưa thế giới thoát khỏi khủng hoảng hiện nay. Lãnh đạo các quốc gia trong Nhóm G-20 đã đạt được một thỏa thuận mang tính lịch sử nhằm đưa G-20 trở thành diễn đàn kinh tế hàng đầu thế giới và là trung tâm điều phối các nỗ lực quốc tế nhằm tạo ra sự phục hồi bền vững. Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Anh Gô-đơn Brao nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác hành động trên quy mô quốc tế. Các quan chức EU thông báo một thỏa thuận nhằm thay đổi cán cân bỏ phiếu trong Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), mang lại lợi ích cho các nước mới nổi như Trung Quốc. Diễn đàn G-20 còn đề cập biện pháp xây dựng các thể chế tài chính hoạt động hiệu quả hơn như mở rộng thành viên của ủy ban ổn định tài chính đã được quyết định tại Hội nghị Luân Đôn hồi tháng 4-2009, đưa toàn bộ các nước thành viên G-20 tham gia Diễn đàn toàn cầu về minh bạch và trao đổi thông tin. Nhóm các nước BRIC gồm Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc kêu gọi cải tổ các hệ thống tài chính như IMF và WB, nhằm bảo đảm ổn định và cân đối cho nền kinh tế thế giới. BRIC cam kết đóng góp thêm 80 tỷ USD để viện trợ các nước nghèo bị thiệt hại nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Giám đốc IMF, ông Đôminic Xtraut - Kan (Dominique Strauss-Kahn) kêu gọi các nước giàu tăng viện trợ 55 tỷ USD năm 2010 cho các nước nghèo để vượt qua cuộc khủng hoảng này.

            Hoá giải thách thức về phổ biến vũ khí hạt nhân. Ngày 24-9-2009, tại trụ sở Liên hợp quốc, diễn ra Hội nghị cấp cao lịch sử về giải trừ vũ khí hạt nhân dưới sự chủ trì của Tổng thống Mỹ Barắc Ôbama. Hội nghị đã nhất trí thông qua Nghị quyết do Mỹ soạn thảo với tiêu đề “Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, không phổ biến và giải trừ vũ khí hạt nhân”, thể hiện cam kết của 15 nước thành viên Hội đồng Bảo an trong việc xây dựng một thế giới không vũ khí hạt nhân và một khung hành động nhằm giảm mối đe dọa của hạt nhận. Nghị quyết thúc giục các nước tuân thủ Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT), hạn chế các vụ thử hạt nhân và phê chuẩn Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT). Nghị quyết cũng kêu gọi tiến hành các cuộc thương lượng để soạn thảo một hiệp ước về cấm sản xuất nguyên liệu phục vụ sản xuất vũ khí hạt nhân, thúc giục các nước chưa phải là thành viên của NPT sớm tham gia hiệp ước này. Nghị quyết cũng gồm các điều khoản nhằm ngăn chặn các nước rút khỏi NPT. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Mun và Tổng thống Mỹ Barắc Ôbama khẳng định, giải trừ vũ khí hạt nhân là con đường duy nhất đúng để thế giới an toàn hơn. Tổng thống Nga Đ. Métvêđép đề nghị cắt giảm chưa từng thấy kho vũ khí hạt nhân chiến lược của Nga và Mỹ. Chủ tịch Trung Quốc HỒ Cẩm Đào cho rằng, loại trừ mối đe dọa chiến tranh hạt nhân có tầm quan trọng sống còn để thực hiện một thế giới an toàn cho tất cả mọi người. Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Môhamet Barađây nhấn mạnh nhu cầu tăng cường và trao quyền cho IAEA để cơ quan chuyên môn về hạt nhân này của Liên hợp quốc đóng vai trò giải trừ vũ khí hạt nhân.

            Tăng cường vai trò của Liên hợp quốc. Tổng thống Nga Métvêđép và nguyên thủ nhiều nước tham gia Kỳ họp 64 Đại hội đồng Liên hợp quốc kêu gọi củng cố vai trò của tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh. Họ có cùng tiếng nói khẳng định, các quốc gia cần hỗ trợ Liên hợp quốc bảo vệ tính chính thống quốc tế của tổ chức này, củng cố các thể chế của nó, cần tôn trọng và tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc. Nhưng đã đến lúc phải cải tổ Liên hợp quốc. trước mắt là cải tổ Hội đồng Bảo an. Bàn về vai trò của Liên hợp quốc, nhiều nước nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong thế giới đương đại trong việc bảo đảm nền an ninh toàn cầu. Đây là một trong những chủ đề cấp bách nhất hiện nay của cộng đồng quốc tế. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu bùng phát từ Mỹ và lan toả ra khắp thế giới cũng như các cuộc xung đột phát sinh trên lãnh thổ các quốc gia riêng lẻ đã tác động mạnh tôi quan hệ giữa các quốc gia chứng tỏ vai trò của nhà nước ở từng quốc gia trong thế giới toàn cầu hoá có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết.

            Chống lại chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc lịch sử về Chiến tranh thế giới thứ ba. Năm 2010, thế giới sẽ kỷ niệm 65 kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong bối cảnh ở nhiều nước, trước hết là các nước châu Âu, nổi lên chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc về kết cục Chiến tranh thế giới thứ hai. Do đó, tại diễn đàn Kỳ họp thường niên lần thứ 64 của Liên hợp quốc năm nay, Tổng thống Đ. Métvêđép đề nghị Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết tổ chức Hội nghị đặc biệt vào tháng 5-2010 để tưởng nhớ về tất cả các nạn nhân trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Thế giới không thể cho phép quên lãng các bài học rút ra từ cuộc chiến tranh này. Hiện nay, các tổ chức phát xít mới đang ngóc đầu dậy; tội phạm dựa trên cơ sở phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa quốc gia ích kỷ; mưu toan phục hồi chủ nghĩa quốc xã và xét lại các phán xét của Toà án Nurumbe. Cộng đồng quốc tế cần tái khẳng định kết cục Chiến tranh thế giới thứ hai và coi đó là nỗ lực ưu tiên hàng đầu của Liên hợp quốc nhằm ngăn chặn nguy cơ chiến tranh và xung đột trong thời đại mới đang diễn ra cạnh tranh và xung đột địa - chính trị và địa - kinh tế khá gay gắt và quyết liệt.

            Đối với sự phổ biến đổi khí hậu toàn cầu. Ngày 22-9-2009, Hội nghị cấp cao về biến đổi khí hậu đã khai mạc tại trụ sở Liên hợp quốc dưới sự chủ trì của Tổng Thư ký Ban Ki Mun. Lãnh đạo 100 nước trên thế giới đã tham dự hội nghị. Phát biểu ý kiến tại phiên khai mạc, Tổng Thư ký Ban Ki Mun cảnh báo, việc không đạt được thỏa thuận rõ ràng về chống biến đổi khí hậu tại Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu ở Côpenhaghen (Đan Mạch) tháng 12-2009 để thay thế Nghị định thư Kyôtô sẽ hết hạn năm 2012 sẽ là không thể dung thứ được xét về khía cạnh đạo đức, tư duy thiển cận về kinh tế và thiếu thận trọng về chính trị. Theo Tổng thư ký Ban Ki Mun, thế giới chỉ có 10 năm để đảo ngược tiến trình biến đổi khí hậu đang đe dọa sự sống trên Trái đất. Tổng thống Barắc Ôbama thông báo, Mỹ sẽ quyết tâm khắc phục tình trạng Trái đất ấm lên và kêu gọi các nước đang phát triển chấp thuận những “biện pháp mạnh” làm tăng hy vọng về việc đạt được một thỏa thuận toàn cầu về cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Đây là một trong những thay đổi chính sách của chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Barắc Ôbama. Dù còn chưa đưa ra được các cam kết cụ thể, nhưng Hội nghị cấp cao về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc lần này đã tạo ra xung lực mới để tập hợp nỗ lực của toàn thế giới nhằm xây dựng “ngôi nhà an toàn sinh thái” chung cho tất cả các quốc gia, dân tộc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #32 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:05:22 am »

PHẦN II
NHỮNG ĐIỂM NÓNG



NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA MỸ Ở IRẮC:
SỨC MẠNH KHÔNG THỂ TẠO DỰNG DÂN CHỦ

   Bất chấp ý kiến tư vấn của nhiều chuyên gia nghiên cứu ở Mỹ, trước hết là các thành viên trong ủy ban đặc biệt vừa đệ trình lên Nhà Trắng 79 đề nghị nhằm ổn định và dàn xếp tình hình chính trị ở Irắc, trong đó có đề nghị Mỹ nên sớm rút quân khỏi khu vực này, Tổng thống Mỹ G. Busơ đưa ra “Chiến lược Irắc mới”, trong đó có quyết định tăng quân số của Mỹ tại đây để thực hiện kế hoạch “giành chiến thắng bằng mọi giá”. Ngày 2-1-2007, Tổng thống G. Busơ tuyên bố sẽ điều động thêm hơn 21.000 quân bổ sung tới Irắc với nhiệm vụ duy trì trật tự ở Irắc. Sau đó, ngày 6-1-2007, Mỹ công bố quyết định thay đổi một số nhân sự chủ chốt trong chính phủ, theo đó ông Giôn Necrêmônte, cựu Giám đốc Cục Tình báo trung ương, được giao nhiệm vụ Thứ trưởng Ngoại giao, Trung tướng Đavít Pêtraét sẽ đứng đầu Bộ Chỉ huy quân sự của Mỹ ở Irắc, Đô đốc Hải quân Uyliam Phanlon sẽ nhậm chức Tư lệnh Bộ Chỉ huy trung,tâm; đồng thời, Mỹ sẽ tăng cường  lực lượng chiến đấu của Mỹ ở thủ đô Bátđa (Irắc) lên thành năm lữ đoàn cùng với hai tiểu đoàn tăng cường đang hoạt động ở tỉnh Anba, phía Tây bắc. Bình luận về “Chiến lược mới ở Irắc”, một trong các thượng nghị sĩ Mỹ cho rằng, Tổng thống Mỹ đang “viết chuyện cổ tích” của nước Mỹ năm 2007. Còn các chuyên gia phân tích chính trị quốc tế thì cho rằng, dù Mỹ có điều thêm bao nhiêu quân nữa đến Irắc cũng không thể xoay chuyển được tình thế và mô hình “dân chủ hoá ở Irắc” sẽ thất bại.

   Không thể sử dụng sức mạnh để “tạo dựng dân chủ”

   Trong một bài viết nhân tưởng niệm năm năm các sự kiện ngày 11-9-2001 mang tựa đề “Liên minh chống khủng bố đã thất bại” đăng trên báo Bình luận quân sự độc lập (Nga) số 32-2006, ông A. Khramchihin, Trưởng ban Phân tích Viện phân tích chính trị và quân sự của Nga cho rằng, Mỹ thất bại trong cuộc chiến ở Irắc trước hết là do mâu thuẫn giữa mục đích và phương tiện. Người Mỹ định sử dụng sức mạnh để áp đặt tự do và dân chủ và họ quyết định chỉ cần lật đổ chế độ độc tài, thì dân chủ sẽ tự “đơm hoa kết trái”. Trong lịch sử chỉ có một trường hợp duy nhất có thể sử dụng sức mạnh để áp đặt dân chủ là nước Đức và Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vì:

   Thứ nhất, những nước chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã “gặp may”, vì những nước thất bại trong chiến tranh như Đức và Nhật Bản là những dân tộc có kỷ luật, họ dám công khai thừa nhận thất bại và cũng dám chấp nhận các quy tắc do kẻ chiến thắng áp đặt;

   Thứ hai, mục đích của kẻ chiến thắng không phải là “tạo dựng dân chủ” ở Đức và Nhật Bản, mà là đập tan bộ máy quân sự của những nước đó, ngăn cản không cho họ hồi phục thành các đối thủ về quân sự. Nền dân chủ là một “gánh nặng” tiếp sau sự thất bại mà bên bị thất bại trong chiến tranh đã tiếp nhận một cách có ý thức rõ ràng và tự giác. Thực tế, cả người Đức và người Nhật Bản đều chiến đấu dũng cảm trên chiến trường, nhưng sau khi đầu hàng thì cả ở Nhật Bản và ở Đức không hề có bất kỳ một hành động du kích nào chống lại quân chiếm đóng. Họ nhận thức được rằng họ đã hoàn toàn thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

   Còn Irắc, một trong những quốc gia phát triển văn minh nhất và được Âu hoá nhất ở khu vực Cận Đông. Năm 1990, Irắc tiến công Côoét và trở thành một kẻ xâm lược, điều đó đã được các nước trên thế giới, trong đó có cả các nước Arập thừa nhận. Và lẽ ra, năm 1991, kịch bản của Chiến tranh thế giới thứ hai có thể áp dụng giống như đã áp dụng đối với Đức và Nhật Bản, nhưng Mỹ và liên quân đã đánh bại Irắc theo cách “hoàn toàn hợp pháp” với sự tham gia của quân đội các nước Arập như Arập Xêút, Ai Cập và Xyri. Ngoài ra, phần lớn người Irắc đã sẵn sàng chấp nhận thất bại của họ trong chiến tranh vùng Vịnh (1991), nhưng Mỹ đã không tiếp tục đánh bại Xatđam Hutxen và điều đó cũng chính là sự phản bội lại những người Irắc theo Mỹ chống lại Xatđam Hutxen ngay trong lòng Irắc. Còn sự thất bại của Irắc trong cuộc chiến năm 2003 được người dân bản xứ nhìn nhận theo một cách hoàn toàn khác. Đó là sự xâm lược của nước ngoài mà không được đại đa số cộng đồng quốc tế ủng hộ, trong đó có cả những nước mà quân đội của họ đã từng tích cực chiến đấu chống lại Xatđam Hutxen 12 năm về trước. Ngoài ra, người Mỹ cũng không biết cách chiếm đóng Irắc. Chiến lược đã sai lầm, còn chiến thuật thì hoàn toàn thất bại. Mỹ công khai thú nhận rằng, họ không có bất kỳ kế hoạch hành động nào sau khi lật đổ Xatđam Hutxen. Để chiếm đóng Irắc, Mỹ đã quá thiếu lực lượng, không còn khả năng bảo vệ biên giới Irắc nhằm chống lại sự đột nhập của lực lượng khủng bố, không có các biện pháp tái thiết Irắc giống như “Kế hoạch Marshall” trong chương trình tái thiết các nước Đức và Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Người Mỹ hoàn toàn không hiểu được tính chất phức tạp của các mâu thuẫn giữa các sắc tộc, tôn giáo và các phe phái ở Irắc. Đó là những sai lầm chủ yếu của Oasinhtơn.

   Thứ ba, tính chất văn hoá của người Arập hoàn toàn không giống với người Đức và người Nhật. Quân đội của chính quyền Xatđam Hútxen đã thua cuộc trên chiến trường nhưng sau đó người Irắc đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích bạo loạn rộng khắp nhất không chỉ chống lại các lực lượng chiếm đóng, mà còn tiến hành cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” giữa các sắc tộc, chủ yếu là giữa hai dòng tôn giáo Xiai và Sít.

   Khi nói về cuộc bầu cử toàn dân được tổ chức ở Irắc năm 2005, Tổng thống Mỹ G. Busơ khẳng định rằng, những hy vọng nhằm thống nhất đất nước gửi gắm vào cuộc bầu cử đó đã không thành hiện thực. Ngược lại, trong năm 2006 đã bùng lên làn sóng đối đầu về chính trị và tôn giáo mạnh mẽ tới mức suýt nữa thì xoá bỏ Chính phủ Irắc vừa mới được nhen nhúm trong “vùng xanh” ở thủ đô Bát đa, đứng đầu là Thủ tướng Malaki. Theo quan niệm của Tổng thống Mỹ G. Busơ, nguyên nhân bùng phát bạo lực trong phạm vi thủ đô Irắc không phải do những mâu thuẫn nội bộ nào đó chưa thể giải quyết được, mà là do không đủ lực lượng để đè bẹp các hoạt động nổi loạn. Ở Bátđa có quá ít quân nhân Mỹ và họ bị trói buộc bởi rất nhiều hạn chế, như các phân đội của quân đội Mỹ không thể thực hiện được các chiến dịch ở ngoại ô, nơi trú ẩn an toàn của các chiến binh vũ trang nổi loạn. Ngoài ra, sau khi “làm cỏ” một khu vực nào đó trong phạm vi thủ đô, Mỹ buộc phải rời bỏ khu vực đó và các lực lượng cực đoan tự do quay trở lại tái chiếm các vị trí vừa bị mất.

   Thất bại trong việc “tạo dựng dân chủ”, tiếp đến là “chiến tranh du kích bạo loạn” phát triển đã làm .rõ một thực tế là quân đội một nước phát triển cao như Mỹ không thể tiến hành cuộc chiến với những tổn thất lực lượng khá nhạy cảm một khi không được đa số dư luận xã hội trong nước chấp nhận. Dư luận ở Mỹ giờ đây đã không còn ủng hộ chiến dịch quân sự ở Irắc. Đảng Dân chủ vừa giành được quyền kiểm soát cả Hạ viện và Thượng viện Mỹ cũng phản đối cuộc chiến này. Trong tình hình đó, Tổng thống Mỹ G. Busơ khó có thể xoay chuyển tình hình khi ông chỉ còn hơn một năm ngồi trong Nhà Trắng.

   Các chiến dịch quân sự của Mỹ ở Irắc có thể sẽ kéo dài thêm 3- 4 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng ngay từ lúc này, nhiều chuyên gia phân tích đều nhất trí với nhận định rằng, Mỹ đã bị thất bại thảm hại trong cuộc chiến này và rõ ràng là mô hình về một thế giới đơn cực mà Mỹ đã tốn nhiều công sức, tiền của để thực hiện trong thời gian dài (kể từ sau chiến tranh lạnh đến nay) đã sụp đổ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #33 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:07:22 am »

   Hậu quả từ thất bại của Mỹ ở Irắc

   Lúc này còn chưa thể dự đoán hết được các chi tiết cụ thể của bức tranh toàn cảnh tình hình thế giới và nước Mỹ trong thời kỳ hậu chiến dịch quân sự ở Irắc. Tuy nhiên, có thể sơ bộ rút ra một số kết luận. Giai đoạn kết thúc cuộc chiến ở Irắc có thể sẽ phải kéo dài trong nhiều năm. Mỹ sẽ nỗ lực “Irắc hóa” chiến tranh và áp dụng các biện pháp ngoại giao để tạo ra tính chất đa phương cho quá trình ổn định chính trị tại đây. Mỹ sẽ không để cho các biến cố phát triển đến mức thảm họa do thất bại ở Irắc, sẽ nỗ lực ngăn chặn “hiệu ứng đôminô”, giảm thiểu sự tổn thất đối với các lợi ích của Mỹ, duy trì quyền kiểm soát của Mỹ ở khu vực Cận Đông dưới một hình thức nào đó và kiểm soát tài nguyên năng lượng tại đây. Mỹ không thể né tránh được những ảnh hưởng tiêu cực từ những thất bại ở Irắc.

   Một là, trong thời gian tới, ảnh hưởng có tính quyết định của Mỹ đối với tiến trình phát triển của thế giới sẽ bị suy giảm đáng kể. Ở Mỹ sẽ phát sinh “hội chứng Irắc”, khả năng Mỹ tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô lớn trong thập kỷ tới sẽ bị hạn chế, vai trò dẫn đầu của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu cũng sẽ bị suy giảm. Thế giới sẽ quay trở lại với trật tự đa cực, sẽ bất ổn hơn nếu các quốc gia không phối hợp với nhau để cùng xây dựng một hệ thống an ninh quốc tế mới mang tính tập thể; vai trò của Trung Quốc và Ấn Độ sẽ tiếp tục tăng lên; các khu vực bất ổn mới sẽ hình thành ở Cận Đông và Viễn Đông.

   Hai là, thất bại của Mỹ ở Irắc có thể sẽ tạo ra “phản ứng dây chuyền” trên toàn bộ khu vực Cận Đông. Có khả năng NATO sẽ phải rút khỏi Apganixtan, xu hướng cực đoan trong thế giới Hồi giáo sẽ tiếp tục gia tăng và sẽ xuất hiện các thành viên mới trong “câu lạc bộ hạt nhân”.

   Mặc dù, mất đi vai trò siêu cường duy nhất, Mỹ tạm thời vẫn là một quốc gia mạnh nhất trong nền kinh tế và chính trị thế giới. Tuy nhiên, khác với thời kỳ trước đây, Mỹ không thể đơn phương hành động, mà là trong khuôn khổ các liên minh đa phương với vai trò của người điều phối cán cân lực lượng từ các trung tâm sức mạnh.

   Nét nổi bật trong nền chính trị của Mỹ nửa đầu thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI là Đảng Cộng hòa độc quyền kiểm soát Nhà Trắng, Hạ viện, Thượng viện và Tòa án tối cao. Tình hình một đảng cầm quyền rất ít khi xảy ra trong lịch sử nước Mỹ, cho phép giới lãnh đạo ở Mỹ thực hiện chính sách cực đoan trong chính sách đối ngoại và chính sách đối nội. Nhưng cuộc bầu cử quốc hội ngày 7-11-2006 đã trở thành một kiểu trưng cầu ý dân rất ít khi xảy ra trong nền chính trị nước Mỹ. Vào thời điểm tổ chức bầu cử, mặc dù chưa áp dụng chế độ động viên bắt buộc đối với thanh niên gia nhập quân đội, cuộc chiến ở Irắc đã không được xã hội Mỹ ủng hộ. Số người ủng hộ chính sách của Tổng thống Mỹ G. Busơ giảm xuống chỉ còn ở mức 35%. Đảng Cộng hòa không được đa số dân chúng ủng hộ, đã phải chịu thất bại trong cuộc bầu cử và mất quyền kiểm soát ở cả hai viện trong Quốc hội Mỹ. Kinh nghiệm lịch sử chứng tỏ, Mỹ không thể tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài nếu không có được sự ủng hộ của dư luận xã hội. Điều đó có nghĩa là có thể Mỹ sẽ phải rút khỏi Irắc khi chưa giành được thắng lợi cuối cùng. Đến năm 2008, nếu quân đội Mỹ chưa rút khỏi Irắc, thì Đảng Cộng hòa rất có thể sẽ chịu thất bại trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Trong bất kỳ trường hợp nào, dư luận xã hội Mỹ không còn ủng hộ cuộc chiến ở Irắc. Đó là một xu thế không thể đảo ngược, vì thế việc Mỹ rút quân khỏi Irắc sẽ là vấn đề chủ yếu trong đời sống chính trị của nước Mỹ trong những năm tới.

   Ba là, chấm dứt kỷ nguyên quá ỷ thế vào sức mạnh quân sự. Bốn mươi năm trước, Thượng nghị sĩ Mỹ Phunbrai cho xuất bản một cuốn sách mang tựa đề Cậy thế sức mạnh quân sự. Ông kịch liệt phê phán chiến lược chính trị - quân sự của Mỹ đã từng dẫn đến cuộc phiêu lưu trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng giới lãnh đạo hiện nay ở Mỹ đã không rút ra được kết luận gì từ những bài học của lịch sử. Cơ sở để khẳng định chính sách của Mỹ trong mấy thập kỷ qua vẫn dựa vào ưu thế quân sự tuyệt đối và đơn phương sử dụng sức mạnh. Trong thập kỷ giao thời giữa thế kỷ XX và thế kỷ XXI, Mỹ đứng ở đỉnh cao sức mạnh. Sau chiến tranh lạnh và Liên Xô tan rã, Mỹ không còn đối thủ địa - chính trị ngang sức, ngang tài có thể kiềm chế sức mạnh của họ. Trong điều kiện đó, giới lãnh đạo ở Oasinhtơn đặt mục tiêu xây dựng thế giới đơn cực, củng cố vị thế siêu cường duy nhất của Mỹ. Chiến lược này do chính quyền của Tổng thống Mỹ G. Busơ (cha) đề xuất và thực thi, được chính quyền của Tổng thống Bin Clintơn tiếp tục và được Tổng thống Mỹ G. Busơ (con) phát triển thêm. Ưu thế quân sự tuyệt đối của Mỹ được sử dụng làm công cụ sức mạnh trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Quyết định phát động cuộc chiến ở Irắc là hành động quan trọng nhất, có tính quyết định số phận đối với chính quyền của Tổng thống Mỹ G. Busơ, cũng như có ý nghĩa quyết định toàn bộ diễn biến các sự kiện tiếp sau đó. Về thực chất, bắt đầu từ năm 2003, chiến dịch quân sự ở Irắc là ưu tiên chủ yếu trong chính sách của Mỹ. Đối với chính phủ hiện nay ở Mỹ, Irắc là “một sự nghiệp dang dở”. Giới lãnh đạo ở Mỹ coi Irắc là khâu yếu nhất trong “trục ma quỷ”, gồm Irắc, Iran và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Mỹ cho rằng, chính quyền ở Bátđa, Têhêran và Bình Nhưỡng sẽ đối đầu với Mỹ trong nhiều năm và sẽ sở hữu vũ khí hạt nhân để đối phó với áp lực của Mỹ. Do đó, Mỹ thấy cần phải thay đổi chế độ cầm quyền không đi theo quỹ đạo của Mỹ ở những quốc gia này. Ngoài ra, Mỹ cho rằng chiến dịch quân sự ở Irắc sẽ chứng tỏ cho toàn thế giới biết, Mỹ có khả năng dễ dàng và nhanh chóng đánh bại bất kỳ quốc gia nào “không chơi theo luật chơi của Mỹ”.

   Mỹ cho rằng, cuộc chiến ở Irắc sẽ là bài học cho những quốc gia nào dám thách thức vị thế lãnh đạo thế giới của Mỹ trong thế kỷ XXI; đồng thời, giải pháp quân sự cho vấn đề Irắc sẽ góp phần gia tăng quyền kiểm soát của Mỹ đối với tài nguyên năng lượng ở khu vực Cận Đông, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để củng cố vị thế hàng đầu của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù dầu mỏ không phải là yếu tố chủ yếu, nhưng là yếu tố quan trọng trong việc phát động cuộc chiến ở Irắc. Những tính toán sai lầm về chính trị của Mỹ đã dẫn đến cuộc chiến tranh du kích thành phố ở Irắc chống lại Mỹ. Trên thực tế, quân Mỹ rơi vào tình trạng bị sa lầy. Trong gần bốn năm, đội quân đông tới 140.000 người của Mỹ được sự trợ giúp của 100.000 nhân viên dân sự tuyển dụng theo hợp đồng và 30.000 quân liên minh đa quốc gia đã không thể dùng sức mạnh để ổn định tình hình ở Irắc. Mỹ tổn thất ngày càng lớn, chi phí chiếm đóng đã vượt gấp nhiều lần so với tính toán của Nhà Trắng. Như vậy, chính quyền của Tổng thống Mỹ G. Busơ đã không giành được thắng lợi về chính trị ở Irắc. Mỹ đã không thể tạo dựng được một nền dân chủ theo mô hình của Mỹ ở Irắc và trên toàn bộ khu vực Cận Đông. Quân đội Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tranh chống du kích - bạo loạn kéo dài và kết cục sẽ là chiến lược quá ỷ thế vào sức mạnh quân sự vượt trội sẽ đưa tới thất bại.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #34 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:09:27 am »

I-RAN: MỘT TRONG NHỮNG TÂM ĐIỂM CỦA NỀN CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ

   Trong thời gian gần đây, cùng với “cuộc chiến dang dở” do Mỹ phát động ở I-rắc từ ngày 20-3-2003 chưa có dấu hiệu kết thúc, vấn đề hạt nhân của I-ran và nguy cơ Mỹ phát động cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 3 lại nổi lên, khiến dư luận càng quan tâm đến tình hình Trung Đông nói chung và tình hình I-ran nói riêng. Có nhiều ý kiến cho rằng, I-ran đang trở thành tâm điểm đang “nóng lên” trong nền chính trị quốc tế vì đây là nơi tập trung các vấn đề gai góc nhất của thời đại như khủng hoảng năng lượng, cuộc đấu tranh và thoả hiệp giữa các nước lớn, vấn đề phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình, nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân, khủng bố và chống khủng bố, cuộc xung đột giữa các nền văn minh v.v...

   I-ran - quốc gia có vị trí địa chiến lược quan trọng

   I-ran có vị trí địa lý rất đặc biệt ở Trung Đông - khu vực đặc biệt nhạy cảm về chiến lược, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, là một trong những “điểm nóng” trên hành tinh, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và lãnh đạo của nhiều nước trên thế giới, mà trước hết là Mỹ - siêu cường đang theo đuổi vai trò “đạo diễn chính” của trật tự thế giới đương đại.

   Là quốc gia duy nhất tiếp giáp cả vùng vịnh Péc-xích và biển Ca-xpi, I-ran có vai trò quan trọng đối với cả Mỹ, Nga và Trung Quốc. I-ran cũng tiếp giáp eo biển Hô-mút có ý nghĩa chiến lược - luồng nước hẹp đổ từ vùng vịnh Péc-xích ra Ấn Độ Dương, nơi hằng ngày có khoảng 1/4 khối lượng dầu thế giới được vận chuyển từ các nước vùng Ca-xpi tới các thị trường thế giới, đặc biệt là thị trường Mỹ và Nhật Bản. I-ran vừa có vị trí địa lý đặc biệt, vừa giàu tài nguyên dầu mỏ và khí đốt. Quốc gia đông dân nhất ở vùng vịnh Péc-xích này đang sở hữu một nguồn dầu mỏ và khí đốt dự trữ lớn thứ hai thế giới. Về dầu mỏ, I-ran có khoảng 132 tỉ thùng, chiếm 11,1% dự trữ dầu mỏ của thế giới. Về khí đốt, I-ran có khoảng 27,5 nghìn tỉ mét khối, chiếm 15,3% dự trữ khí đốt thế giới. I-ran có thể sở hữu ít dầu lửa hơn so với Ả-rập Xê-út và ít khí đốt hơn so với Nga, nhưng I-ran là quốc gia duy nhất có trữ lượng lớn vào loại nhất thế giới cả hai nguồn tài nguyên quan trọng này. Nhiều nước, kể cả Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước EU đang phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp dầu khí của I-ran. Với những lợi thế trên, I-ran có vai trò rất quan trọng ở Trung Đông.

   Trong những năm gần đây, I-ran đã giành được ảnh hưởng và trở thành trung tâm của những người Hồi giáo theo dòng Xi-ai. Mặc dù khả năng quân sự của I-ran chưa thật sự mạnh, nhưng nếu có vũ khí hạt nhân thì I-ran sẽ trở thành một cường quốc có ảnh hưởng lớn trong khu vực, có thể thách thức sự chi phối quân sự của Mỹ trên toàn dải Trung Đông. Đây là một trong những lý do khiến Mỹ quyết tâm ngăn chặn I-ran sở hữu vũ khí hạt nhân và thiết lập một chế độ chính trị đi theo quỹ đạo của Mỹ.

   Quốc gia tuyên bố phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình

   I-ran luôn tuyên bố phát triển chương trình hạt nhân vì mục đích hoà bình theo đúng tinh thần của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) mà I-ran đã từng ký kết tham gia. Trước hết, phải thấy rằng, phát triển công nghệ hạt nhân vì mục đích hoà bình là nhu cầu chính đáng của I-ran bởi đó cũng xu hướng tất yếu của loài người, là giải pháp chuẩn bị đối phó với tài nguyên dầu mỏ và khí đốt sẽ cạn kiệt trong thế kỷ XXI. Tổng cộng trên thế giới tính đến thời điểm này có khoảng 440 lò phản ứng hạt nhân bố trí ở 30 nước. Theo báo cáo của cơ quan năng lượng nguyên tử (IAEA), hiện nay có khoảng 1/6 năng lượng điện trên thế giới do các nhà máy điện hạt nhân tạo ra và tỷ lệ năng lượng nguyên tử trong ngành năng lượng thế giới sẽ không ngừng tăng, sẽ chiếm trên 25% vào năm 2030. Điện nguyên tử sẽ là một trong những nguồn năng lượng điện chủ yếu của thế giới trong tương lai.

   Trong tình hình đó, nếu cấm hoàn toàn việc chuyển giao công nghệ làm giàu hạt nhân, thì khác gì trong tương lai đẩy các quốc gia có nhu cầu phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình rơi vào tình trạng “đói năng lượng” và sẽ bị phụ thuộc vào các cường quốc hạt nhân. Vì thế, việc Mỹ kiên quyết cấm I-ran phát triển công nghệ hạt nhân là thiếu sức thuyết phục. Trên thực tế, chương trình hạt nhân của I-ran bắt đầu từ cuối những năm 1960 với sự giúp đỡ của chính các chuyên gia công nghệ của Mỹ. Thời gian đó, Mỹ coi I-ran là đồng minh chiến lược và chương trình “viện trợ phát triển năng lượng hạt nhân” cho I-ran là một phần trong chiến lược của Mỹ ở khu vực này. Tháng 3-1970, Mỹ và I-ran đã ký một thỏa thuận hợp tác phát triển năng lượng hạt nhân, theo đó, đến năm 2000, Mỹ sẽ xây dựng cho I-ran một số nhà máy điện hạt nhân. Năm 1979, cuộc cách mạng Hồi giáo nổ ra ở I-ran, chính quyền thân phương Tây ở I-ran sụp đổ, giáo chủ Khô-mê-ni lên cầm quyền, thực hiện chính sách độc lập, tự chủ, không phụ thuộc vào Mỹ. Trong tình thế đó, Mỹ đã đơn phương chấm dứt quan hệ, đình chỉ hợp tác về năng lượng hạt nhân với I-ran. Cuộc chiến tranh giữa I-ran với I-rắc bùng nổ những năm 80, thế kỷ XX, chương trình phát triển hạt nhân của I-ran tạm dừng và chỉ được khôi phục từ đầu những năm 90. Từ đó đến nay, Mỹ nghi ngờ chương trình hạt nhân dân sự của I-ran chỉ là một chiến lược để che đậy mục tiêu làm giàu u-ra-ni nhằm chế tạo bom nguyên tử. Ngày 9-8-2005, I-ran tuyên bố sẵn sàng rút khỏi Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) và sẽ từ bỏ tất cả các cam kết liên quan đến năng lượng hạt nhân trong trường hợp Mỹ tiến công các mục tiêu hạt nhân của họ. Đồng thời, I-ran đã chuẩn bị sẵn sàng để Mỹ không thể dùng các loại bom hiện đại nhất tiêu diệt tiềm năng hạt nhân của họ. Tổng thống Mác-mut Ác-ma-di-nê-giat từ chối nhân nhượng trong các cuộc đàm phán với các nước phương Tây khi tuyên bố rằng: I-ran sẽ tiếp tục phát triển chương trình hạt nhân riêng của mình.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #35 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:11:34 am »

   Quốc gia nằm trong chiến lược của các nước lớn

   Theo các nhà phân tích quốc tế, ngăn chặn nguy cơ hạt nhân của I-ran nằm trong chiến lược dài hạn của Mỹ đối với khu vực này và trên thế giới nhằm ba mục đích chủ yếu. Một là, khống chế nguồn năng lượng khổng lồ của I-ran. Hai là, kiểm soát tuyến đường biển quan trọng ở Tây Á - eo biển Hô-mút, “huyết mạch” của hoạt động vận chuyển dầu mỏ của thế giới. Ba là, thực hiện chiến lược “dân chủ hoá” đối với Trung Đông.

   Mỹ cho rằng, ở Trung Đông, I-ran hiện là nước có tiềm lực quân sự mạnh nhất và có ảnh hưởng lớn trong thế giới Hồi giáo A-rập. I-ran có thể đang lợi dụng tình trạng Mỹ bị sa lầy ở I-rắc để thực hiện tham vọng “bá quyền” ở khu vực. Do vậy, “dân chủ hóa” I-ran theo mô hình của phương Tây vừa nhằm mục tiêu loại bỏ mối đe dọa hạt nhân, vừa nhằm làm suy yếu thế giới Hồi giáo để thực hiện chiến lược “dân chủ hoá” khu vực Trung Đông. Đối với Mỹ, mối đe doạ từ phía I-ran không chỉ là chương trình hạt nhân. Ngay cả khi vấn đề hạt nhân I-ran được giải quyết, cũng khó khắc phục được những mâu thuẫn còn lại giữa Mỹ và I-ran. Về thực chất, Mỹ quan tâm trước hết đến việc thay đổi cách “ứng xử” của các nhà lãnh đạo ở I-ran.

   Đối với Nga, I-ran là thị trường vũ khí quan trọng của Nga và được Nga coi là một quốc gia then chốt vừa để phát triển ảnh hưởng ở Trung Đông, vừa hạn chế ảnh hưởng của các nước khác ở khu vực Trung Á và Trung Đông. Hiện nay, Nga có quan hệ hợp tác kỹ thuật quân sự đặc biệt đối với I-ran. Hai bên đã ký kết nhiều hiệp định quan trọng, góp phần gia tăng đáng kể tiềm lực quân sự của I-ran, trong đó Nga đã cung cấp cho I-ran các loại vũ khí hiện đại như máy bay tiêm kích MiG-29, Su-24 MK, tên lửa phòng không S-200, S-300, Tor-M1, xe tăng T-72, xe bọc thép chở quân BMP v.v. Hợp tác kỹ thuật quân sự giữa Nga và I-ran có nhiều triển vọng. Chính phủ I-ran đã soạn thảo một chương trình hiện đại hoá quân đội trong vòng 25 năm dựa chủ yếu vào vũ khí của Nga. Nga đã đầu tư 800 triệu USD cho kế hoạch xây dựng lò phản ứng hạt nhân ở I-ran. Công trình xây dựng nhà máy điện nguyên tử trị giá gần 1 tỉ USD ở Bu-se-ra của I-ran là dự án nước ngoài đầu tiên sau khi Liên Xô sụp đổ đã góp phần giúp cho ngành hạt nhân của Nga sống sót. Nga sẽ ký thêm hợp đồng xây dựng 6 lò phản ứng hạt nhân khác nữa.

   Với vai trò ngày càng gia tăng trong nền chính trị và kinh tế toàn cầu, Trung Quốc có nhiều quyền lợi khi hiện diện ở Trung Đông. Trung Quốc đang nỗ lực thúc đẩy quan hệ với I-ran, tạo cơ hội để có ảnh hưởng chính trị tại khu vực có ý nghĩa chiến lược này. Năm 2000, kim ngạch thương mại của Trung Quốc với I-ran là 1,3 tỉ USD; năm 2005 lên đến 10 tỉ USD và theo hiệp định vừa ký mới đây nhất giữa hai nước, con số này trong những năm tới sẽ lên đến 100 tỉ USD, trong đó chủ yếu là dầu mỏ. I-ran là nguồn cung cấp dầu mỏ và khí đốt chủ chốt và là nguồn năng lượng cơ bản phục vụ mục tiêu phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế của Trung Quốc. Trong 25 năm qua, mỗi năm Trung Quốc mua của I-ran 10 triệu tấn khí đốt thiên nhiên hóa lỏng. Giữa tháng 2-2006, trong lúc cuộc tranh cãi về chương trình hạt nhân của I-ran đang nổi lên, Trung Quốc và I-ran đã công bố một hiệp định về năng lượng trị giá 100 tỉ USD và Trung Quốc định đầu tư nhiều hơn nữa vào I-ran trong mọi lĩnh vực từ thăm dò, khoan đến xây dựng đường ống để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng lên của mình. Ngoài lĩnh vực năng lượng, hiện có hơn 100 công ty của Trung Quốc đang kinh doanh tại I-ran trong các lĩnh vực đóng tàu, sản xuất thép, xây dựng cảng biển và sân bay.

   Từ những phân tích, nhìn nhận, đánh giá về vai trò của I-ran và động thái của các nước lớn đối với quốc gia này, giới bình luận quân sự quốc tế đưa ra dự báo về những khả năng có thể xảy ra trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng liên quan đến chương trình hạt nhân của I-ran.

   Khả năng thứ nhất: Mỹ và các nước trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thỏa hiệp với I-ran.

   Thỏa hiệp là giải pháp dễ chấp nhận, theo đó cộng đồng quốc tế đồng ý cho I-ran duy trì một số cơ sở nghiên cứu và phát triển công nghệ hạt nhân quy mô nhỏ vì mục đích hoà bình để làm giàu u-ra-ni. I-ran sẽ được phép sử dụng một số máy ly tâm, đồng thời ngừng ứng dụng công nghệ này trên quy mô hoàn chỉnh hơn cho đến khi cơ quan năng lượng nguyên quốc tế có thể khẳng định chắc chắn rằng các hoạt động hạt nhân của I-ran hoàn toàn nhằm mục đích hoà bình. Đây là khả năng lựa chọn ít nguy hiểm nhất với giả thiết rằng: I-ran chưa và sẽ không xúc tiến làm giàu u-ra-ni vượt quá mức cho phép ở các cơ sở thí nghiệm sẽ được giám sát chặt chẽ. Nếu thực hiện theo khả năng này, I-ran sẽ cho phép cộng đồng quốc tế giám sát các cơ sở hạt nhân của họ và có điều kiện ngăn chặn các nỗ lực của I-ran hướng tới phát triển vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, nếu I-ran thực sự có ý định chế tạo vũ khí hạt nhân thì phương án thoả hiệp chỉ có tác dụng kéo dài thời gian quốc gia này sở hữu vũ khí hạt nhân.

   Khả năng thứ hai: Mỹ tiếp tục gây sức ép và tăng cường các biện pháp trừng phạt I-ran thông qua Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

   Những gì đã diễn ra từ tháng 8-2005 đến nay chứng tỏ, mặc dù Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhất trí tăng dần mức độ nghiêm khắc của các biện pháp trừng phạt, nhưng giới lãnh đạo I-ran vẫn không thay đổi quyết tâm làm chủ công nghệ làm giàu u-ra-ni. Như vậy, giải pháp trừng phạt ít có khả năng làm cho I-ran ngừng nỗ lực làm giàu u-ra-ni và do đó khó tránh được một cuộc chiến tranh mới do Mỹ phát động chống I-ran.

   Khả năng thứ ba: răn đe và kiềm chế.

   Một mặt, răn đe tiến công quân sự một khi I-ran không thực hiện lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Mặt khác, Mỹ và các nước phải cùng nhau đề ra kế hoạch hành động nhằm kiềm chế I-ran. Trước hết, phải thuyết phục giới lãnh đạo ở I-ran hiểu rằng, vị thế và nền an ninh của họ sẽ giảm đi khi họ tìm kiếm khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân. Đồng thời, Mỹ phải cam kết với giới lãnh đạo ở Tê-hê-ran rằng, chủ quyền và nền an ninh của I-ran sẽ không bị đe dọa nếu họ ngừng kế hoạch sở hữu vũ khí hạt nhân. Trong đề xuất cả gói của Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Nga và Trung Quốc về điều kiện thương lượng với I-ran phải có điều khoản bảo đảm để I-ran thấy rằng sẽ là tốt hơn nếu họ không làm giàu u-ra-ni. Đây là bài toán khó khi I-ran nhận thấy sức mạnh quân sự là cần thiết để tăng cường vị thế quốc gia. Còn Mỹ đã không đưa ra cam kết bảo đảm an ninh cho I-ran và sẽ ‘‘chung sống hoà bình lâu dài’’ với chính phủ hợp hiến ở Tê-hê-ran.

   Khả năng thứ tư: áp dụng “cách mạng sắc màu” để thay đổi chế độ cầm quyền ở I-ran.

   Song song với phương án chuẩn bị chiến tranh, Mỹ đang thúc đẩy quá trình “diễn biến hoà bình” ở I-ran để thay đổi chính thể ở Tê-hê-ran.

   Khả năng thứ năm: tiến công quân sự.

   Về khả năng Mỹ tiến công quân sự để “trừng phạt” I-ran, có hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, Mỹ đang sa lầy ở I-rắc và Ap-ga-ni-xtan nên không thể phát động chiến tranh chống I-ran. Nếu Mỹ vẫn quyết định mở cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ 3, thì cuộc chiến này sẽ báo hiệu “hoàng hôn của nước Mỹ”. Theo phân tích của nhiều chuyên gia quân sự, giải pháp chiến tranh có thể sẽ dẫn đến thất bại có tính toàn cầu và còn bi thảm hơn nhiều so với thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

   Loại ý kiến thứ hai dự báo, Mỹ sẽ phải tiến công quân sự I-ran. Thuộc loại ý kiến này có tướng Mỹ Pi-tơ Pây-xơ, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ. Trong tuyên bố tại cuộc họp báo ngày 24-2-2006, Pi-tơ Pây-xơ cho rằng, mặc dù chưa kết thúc cuộc chiến ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, Mỹ vẫn có thể phát động một cuộc chiến tranh khác. Nhiều chuyên gia phân tích quân sự cũng cho rằng mặc dù đang sa lầy ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, Mỹ vẫn có khả năng mở cuộc chiến tranh lần thứ 3 ở Vùng Vịnh. Vấn đề chỉ còn là thời điểm tiến công. Hiện nay ở Vùng Vịnh, Mỹ đã tập trung hai cụm tàu sân bay tiến công “Eisenhower” và “Stennis” cùng hàng chục tàu chiến yểm trợ và một số tàu ngầm. Cụm tàu sân bay “Nimitz” cũng vừa được điều tới Vùng Vịnh. Đây là sự có mặt lần thứ ba của chiến hạm hiện đại này ở Vùng Vịnh trong vòng 4 năm gần đây./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #36 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:13:39 am »

CUỘC CHẠY ĐUA GIÀNH TÀI NGUYÊN Ở BẮC CỰC CHỈ MỚI BẮT ĐẦU

   Ngày 16-8-2007, Cục nghiên cứu hàng không vũ trụ của Nhật Bản đưa tin, với mức độ tan băng do Trái Đất ấm lên, lớp băng ở Bắc Cực của Trái Đất chỉ tồn tại trong vài chục năm nữa. Như vậy, không còn xa nữa, các giàn khoan và khai thác dầu sẽ bắt đầu hoạt động thường xuyên ở Bắc Cực, trong khi đó, chủ quyền quốc gia lại chưa được xác nhận về mặt pháp lý đối với nhiều vùng lãnh thổ ở Bắc Cực.
 
   Khu vực không chỉ chứa 1/4 tiềm năng dầu mỏ trên trái đất
 
   Bắc Cực là một khu vực đặc biệt của Trái Đất, bao gồm các vùng phía Bắc lục địa Á - Âu, Bắc Mỹ và gần như toàn bộ khu vực Bắc Băng Dương với rất nhiều đảo và bán đảo, có tổng diện tích vào khoảng 27 triệu km2, gần gấp 3 lần diện tích châu Âu. Trung tâm của khu vực Bắc Cực là biển Bắc Băng Dương với diện tích 14,75 triệu km2. Theo kết quả nghiên cứu thăm dò của Cục địa lý và khí tượng của Mỹ hoàn hành vào năm 2000, Bắc Cực chứa tới 1/4 tiềm năng dầu mỏ và khí đốt của thế giới. Các nhà khoa học đã phát hiện tại đây 20 mỏ dầu và khí đốt lớn, trong đó có tới 10 mỏ đã có thể khai thác với mục đích thương mại. Theo tính toán của Bộ Tài nguyên Nga, trên diện tích 6,2 triệu km2 ở Bắc Cực tập trung nguồn dự trữ 15,5 tỉ tấn dầu mỏ và 85,4 nghìn tỉ m3 khí thiên nhiên, trong đó Xtốc-ma-nốp (Stockmanov) là mỏ dầu và khí đốt nổi tiếng nhất nằm ở phần thềm lục địa của Nga ở khu vực biển Ba-ren, có trữ lượng khoảng 3,7 ngàn tỉ m3 khí đốt và khoảng 11 triệu tấn khí hoá lỏng. Ngoài ra, trong số tài nguyên sinh học của thềm lục địa ở Bắc Cực còn phải kể đến nguồn dự trữ cá lớn hàng đầu thế giới. Trên khu vực này còn có tuyến giao thông đường biển đi qua Bắc Cực có vai trò cực kỳ quan trọng với khả năng vận tải xuyên quốc gia.
 
   Tài nguyên Bắc Cực ngày càng lộ thiên do quá trình ấm lên toàn cầu

   Với tài nguyên và vị trí địa - chiến lược quan trọng của Bắc Cực, khu vực chưa được khai phá này của Trái Đất đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia, bởi quá trình ấm lên toàn cầu diễn ra nhanh chóng trong những thập niên gần đây đang thu hẹp dần lớp băng đã từng được coi là “vĩnh hằng” tại đây, tạo điều kiện thuận lợi hơn để có thể khai thác Bắc Cực vào mục đích thương mại. Trước đây, lớp băng dày vĩnh cửu đã hạn chế tham vọng của các quốc gia và các công ty khai thác tài nguyên. Theo số liệu của các công trình nghiên cứu gần đây, mức độ tan băng ở vùng Bắc Cực diễn ra nhanh hơn nhiều so với dự báo. Ngày 16-8-2007, Cục nghiên cứu hàng không vũ trụ của Nhật Bản đưa tin, với mức độ tan băng do Trái Đất ấm lên, lớp băng ở Bắc Cực của Trái Đất chỉ tồn tại trong vài chục năm nữa. Ngày 15-8-2007, diện tích bề mặt của lớp băng ở Bắc Cực chỉ còn khoảng 5,3 triệu km2, trong khi con số thống kê tính toán vào tháng 9-2005 dự báo là 5,32 triệu km2. Như vậy, không còn xa nữa, các giàn khoan và khai thác dầu sẽ bắt đầu hoạt động thường xuyên ở Bắc Cực, trong khi đó, chủ quyền quốc gia lại chưa được xác nhận về mặt pháp lý đối với nhiều vùng lãnh thổ ở Bắc Cực.

   Cuộc chạy đua giành Bắc Cực giữa các quốc gia

   Năm 1982, Công ước của Liên hợp quốc về luật biển xác định các đường biên giới cần phải đi qua thềm lục địa ở Bắc Băng Dương. Theo Công ước này, ranh giới vùng kinh tế của các quốc gia ven biển Bắc Băng Dương được xác định trong phạm vi 200 hải lý (370 km), tính từ lục địa và các đảo. Trong phạm vi khu vực này, Công ước cho phép các quốc gia xác định chủ quyền của mình đối với đáy biển và tiến hành thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới biển trong khu vực đó. Công ước này còn xác nhận thể chế đặc biệt đối việc mở rộng vùng kinh tế của các quốc gia sau khi xác nhận các quốc gia chứng minh được thềm lục địa của họ vượt ra khỏi phạm vi 200 hải lý.
 
   Hiện nay, nước Nga đang nỗ lực chứng minh quyền của họ đối với phần lãnh thổ mà trước đây Mat-xcơ-va đã từng tuyên bố chính thức là thuộc quyền sở hữu của họ. Trong những năm 1920, Liên Xô, Na-uy, Đan Mạch, Mỹ và Ca-na-đa đã từng coi một số vùng mặt nước và đảo trong khu vực Bắc Cực là một phần lãnh thổ của họ. Nga đã từng tuyên bố chủ quyền đối với một khu vực lớn nhất được tạo bởi Chu-khốt-ca (Chukhodca), Bắc Cực và bán đảo Côn-xki (Kolski). Trên các bản đồ tự nhiên của Liên Xô, khu vực này đã từng được coi là một phần lãnh thổ của Liên Xô.

   Năm 1997, Nga đã ký Công ước của Liên hợp quốc về luật biển, và vì thế, họ đã mất quyền pháp lý của mình đối với khu vực lãnh hải mang tên “tam giác Nga” ở Bắc Cực vì khu vực này vượt ra khỏi quy định của Công ước này. Năm 2007, có hai đoàn thám hiểm của Nga tới làm việc ở Bắc Cực để thu thập số liệu chuẩn bị cho một bản báo cáo gửi Ủy ban Liên hợp quốc về thềm lục địa. Nga cũng đang chuẩn bị nội dung cho bản tuyên bố về chủ quyền của họ đối với dãy núi ngầm mang tên Lô-mô-nô-xốp nằm ngoài phạm vi 200 hải lý. Theo đánh giá sơ bộ, khu vực này chứa 4-9 tỉ tấn nhiên liệu quy đổi. Dự kiến, Liên hợp quốc sẽ xem xét bản báo cáo này của Nga vào năm 2009. Những chiếc tàu ngầm khoa học mang tên “Hoà Bình” thuộc biên chế Đội thám hiểm Bắc Cực thứ hai của Nga đã lặn xuống đáy đại dương và cắm quốc kỳ của Nga được chế tạo từ một loại hợp kim ti-tan siêu bền lên đáy đại dương ở Bắc Cực. Như vậy, Nga là quốc gia đầu tiên chủ động tham gia quá trình chạy đua nhằm giành giật lãnh thổ ở Bắc Cực, và, đang gặp phải sự chống đối mạnh mẽ từ phía các quốc gia khác đang rất quan tâm đến khu vực này.

   Hiện nay, đội tàu phá băng nguyên tử của Nga được đánh giá là mạnh nhất thế giới với các tàu phá băng nguyên tử “Yamal”, “Russia”, “Arctica”, “Taimyr”, “Vaichach”, “Sovetski Soiuz”. Năm 2007, Nga hạ thuỷ tàu phá băng nguyên tử mang tên “50 năm chiến thắng”. Nga cũng đang hiện đại hoá đội tàu phá băng nguyên tử của họ đã bị lạc hậu do được đóng từ những năm dưới thời chính quyền Xô-viết. Tuy Nga chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác các mỏ dầu và khí đốt ở thềm lục địa Bắc Cực như Na-uy, nhưng các công ty “Gazprom” và “Roznefti” của Nga hiện đang cùng phối hợp khai thác mỏ dầu “Prirazlomnoje” ở biển Pê-chô-xki.

   Mỹ và Ca-na-đa đã phản ứng mạnh mẽ đối với hành động của Nga cắm quốc kỳ của mình trên đáy biển Bắc Băng Dương. Phía Mỹ cho rằng, các yêu sách về chủ quyền của Nga ở Bắc Cực là “rất nghiêm trọng”. Chưa đầy hai tháng sau cuộc chinh phục đáy đại dương ở Bắc Cực, Chính phủ Mỹ cho công bố một văn kiện mang tựa đề “Chiến lược hợp tác về hải quân trong thế kỷ XXI”, trong đó đưa ra lời cảnh báo về khả năng sẽ xảy ra xung đột quân sự liên quan đến hoạt động tranh giành nguồn tài nguyên thiên nhiên giữa nhiều quốc gia có lãnh thổ nằm gần kề khu vực đặc biệt này của Trái Đất. “Chiến lược hợp tác về hải quân trong thế kỷ XXI” là văn kiện mang tính học thuyết của Mỹ nhằm phát triển một lực lượng hải quân vô địch trong thế kỷ tới. Văn kiện nêu rõ, quá trình ấm lên trên quy mô toàn cầu đang làm tan băng ở hai địa cực, tạo điều kiện thuận lợi để nghiên cứu, khám phá và khai thác các nguồn tài nguyên mới và mở rộng các tuyến giao thông hàng hải mới, có thể làm thay đổi bức tranh hệ thống giao thông vận tải trên quy mô toàn cầu. Những thay đổi đó vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế, vừa tiềm ẩn nguy cơ cạnh tranh và xung đột giữa các quốc gia nhằm giành giật quyền sở hữu của đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực này. Trong chiến lược mới của Mỹ còn khẳng định: “Bắc Cực sẽ là một trong những thách thức nghiêm trọng trong kỷ nguyên mới của loài người”.

   Các quốc gia khác cũng bắt đầu hành động. Mỹ đã có ý định đầu tư 8,7 tỉ USD để sửa chữa và hiện đại hoá các tàu phá băng ven bờ. Oa-sinh-tơn đang chuẩn bị phê chuẩn Công ước biển của Liên hợp quốc để có được quyền phát ngôn trong việc giải quyết các vấn đề về thềm lục địa.

   Ca-na-đa đang đầu tư những khoản tiền lớn để chế tạo tàu tuần tra ở Bắc Cực và bắt đầu nói đến việc lắp vũ khí pháo binh lên các tàu phá băng hiện có. Tuy nhiên, các tàu của Mỹ và Ca-na-da chưa thể cạnh tranh được với hạm đội của Nga ở biển Bắc. Na-uy tuy chưa có hạm đội tàu phá băng, nhưng lại có nhiều kinh nghiệm trong việc khai thác các mỏ dầu và khí đốt ở thềm lục địa ở Biển Bắc. Đan Mạch cũng không dễ dàng gì trong việc tuyên bố chủ quyền của họ dựa trên các luận chứng về kinh tế và sự hiện diện về quân sự.

   Dự báo, các quốc gia chủ yếu tham gia vào cuộc tranh giành sắp tới đây ở Bắc Cực sẽ là Nga, Ca-na-đa và Mỹ. Trong khi Nga và Ca-na-đa dựa trên những điều kiện địa lý và lịch sử, thì Mỹ lại theo đuổi chính sách với tham vọng kiểm soát toàn cầu đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới. Trong cuộc tranh giành này, giữa các nước láng giềng trên lục địa ở Bắc Mỹ đang có những bất đồng về chủ quyền lãnh thổ đối với hành lang Tây - Bắc đi qua một phần quan trọng trên biển Bắc Băng Dương.

   Thắng lợi cuối cùng sẽ được quyết định không chỉ bởi ý chí chính trị mà còn bởi sự hiện diện về kinh tế - quân sự; khả năng đầu tư và công nghệ, để có thể khai thác một cách đầy đủ tài nguyên tại khu vực này, trong đó sức mạnh hải quân là công cụ có vai trò và vị trí hàng đầu. Vì thế, đã có không ít chuyên gia chính trị dự báo rằng, nếu có một ngày nào đó xảy ra chiến tranh thế giới thứ 3 thì rất có thể Bắc Cực sẽ là một trong những “cái nôi” của cuộc chiến này./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #37 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:15:16 am »

CHÂU PHI TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC GIÀNH QUYỀN KIỂM SOÁT TOÀN CẦU VỀ DẦU MỎ

   Thời gian gần đây, các nước Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác đặc biệt quan tâm tới châu Phi. Trong đó, Mỹ thể hiện rất rõ vai trò và ý định của họ đứng ra “phân vai” cho các quốc gia khác trong cuộc chinh phục và kiểm soát “lục địa đen”.

   Châu Phi - nguồn cung cấp dầu mỏ quan trọng của thế giới trong thế kỷ XXI

   Nguyên nhân đích thực nào khiến Mỹ và các quốc gia phát triển nhất, giàu có nhất thế giới ngày càng đặc biệt quan tâm đến châu Phi, một châu lục nghèo nhất thế giới hiện nay? Theo dự báo của Bộ Năng lượng Mỹ, nếu năm 2000 tỷ trọng dầu mỏ của châu Phi trong toàn bộ khối lượng dầu mỏ nhập khẩu trên thế giới chiếm chưa đến 9,5%, thì vào năm 2010, con số đó sẽ là 28-30%. Sự gia tăng đó chủ yếu là nhờ dầu mỏ ở các nước nằm ven bờ vùng vịnh Ghi-nê như Ni-gê-ni-a, Gi-nê Xích Đạo và Ăng-gô-la. Cũng vào năm 2010, những quốc gia này sẽ chiếm tới 80% dầu mỏ khai thác ở khu vực cận Xa-ha-ra. Những công trình nghiên cứu mới đây nhất chứng tỏ, nhiều khu vực khác của châu Phi như vùng thềm lục địa của các nước An-giê-ri, Tuy-ni-di, Sát, Ni-gê-ri-a và Mô-ri-ta-ni còn tiềm ẩn khối lượng dầu mỏ khổng lồ.
 
   Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu độc lập, nếu duy trì mức độ tiêu thụ dầu mỏ như hiện nay ở các nước phương Tây, trong tương lai không xa, dầu mỏ của châu Phi sẽ chiếm tỷ phần rất lớn trong nhu cầu tiêu thụ năng lượng của Mỹ, Anh, Đức, Pháp và Trung Quốc. Chính vì thế, sự ưu tiên trong chính sách của các nước tiêu thụ nhiều dầu mỏ, trước hết là các nước phương Tây, đối với châu Phi, Cận Đông và một số khu vực khác trên thế giới xuất phát từ chiến lược tranh giành quyền kiểm soát toàn cầu về tài nguyên dầu mỏ.

   Mỹ và các nước phương Tây: quyền kiểm soát châu Phi trước hết là kiểm soát dầu mỏ

   Bề ngoài, Mỹ và các nước phương Tây đều thống nhất tuyên bố rằng chính sách của họ là nhằm góp phần “giảm căng thẳng xung đột chính trị - quân sự” và giải quyết “các vấn đề có tính nhân đạo” đang đặt ra trước châu Phi khiến nước này rơi vào tình trạng mất ổn định và băng hoại các thể chế nhà nước. Thật ra “chống tham nhũng và bệnh tật” hay “ngăn chặn sự bùng nổ tệ phân biệt chủng tộc” vẫn là những “chuyện thường ngày” ở châu lục này, và để giải quyết cần phải có sự giúp đỡ tích cực của cả cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, những tuyên bố công khai của lãnh đạo các nước phương Tây về cách tiếp cận “thuần tuý nhân đạo” đối với các vấn đề của châu Phi không hoàn toàn phản ánh nội dung chính sách của họ. Phân tích hoạt động thực tế vừa qua của các nước phương Tây tại nhiều quốc gia châu Phi chứng tỏ mục đích của họ là nhằm kiểm soát nguồn tài nguyên dầu mỏ của châu lục này.

   Oa-sinh-tơn cho rằng, nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng của một siêu cường thế giới như Mỹ nhờ khai thác tài nguyên dầu mỏ của các quốc gia khác là hoàn toàn “chính đáng”. Nhờ khám phá các nguồn dầu mỏ mới trên lục địa châu Phi và trong các khu vực phụ cận, trong tương lai có tới 30% tổng số dầu mỏ nhập khẩu của Mỹ sẽ là từ nơi này. Hiện tại, riêng Mỹ đã chiếm từ 67% đến 75% tổng khối lượng đầu tư ngày càng lớn của các nước vào hoạt động thăm dò và khai thác dầu mỏ ở châu Phi. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà giới quân sự ở Mỹ đặc biệt quan tâm đến chuyện bảo đảm sự ổn định và an ninh cho hoạt động khai thác và vận chuyển dầu mỏ từ châu Phi.

   Tại một cuộc hội thảo quốc tế rất quan trọng được tổ chức gần đây ở Ni-gê-ri-a, dưới sự tài trợ của Trung tâm nghiên cứu về chiến lược của Mỹ ở châu Phi thuộc Học viện quốc phòng Mỹ, các đại biểu đưa ra nhận định, Mỹ cũng như các đối tác phương Tây, đánh giá rất cao khả năng của các nước châu Phi trong việc quản lý và khai thác các tài nguyên năng lượng. Lấy cớ tình hình chính trị nội bộ ngày càng căng thẳng ở nhiều nước châu Phi và nguy cơ ngày càng tăng của các tổ chức tội phạm, một số thế lực chính trị và quân sự ở Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào hoạt động bảo đảm an ninh ở các quốc gia này. Mỹ đã đề nghị các quốc gia châu Phi xây dựng hệ thống bảo vệ các khu khai thác dầu; các tuyến vận chuyển dầu mỏ và khí đốt; huấn luyện và trang bị cho các lực lượng an ninh địa phương với sự giúp đỡ của các tổ chức an ninh, được quân sự hoá của tư nhân hoặc của Chính phủ. Ở cấp độ khu vực, Mỹ tiếp tục thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng một cơ chế quân sự thống nhất để bảo vệ vùng vịnh Ghi-nê với vai trò điều phối và tổ chức của các chuyên gia quân sự Mỹ. Đổi lại, Mỹ yêu cầu mở rộng chế độ thuận lợi nhất cho các hãng dầu mỏ và khí đốt của Mỹ hoạt động trên thị trường châu Phi.

   Một hình thức rất có hiệu lực để phổ biến ảnh hưởng và tăng cường quyền kiểm soát lục địa châu Phi là các chương trình viện trợ quân sự do Mỹ, Pháp và Anh thực hiện giành cho các nước này. Trước hết là chương trình tăng cường khả năng gìn giữ hoà bình và chống khủng bố cho các lực lượng vũ trang châu Phi nhằm đối phó với “các mối đe doạ và thách thức mới”. Tháng 5-2002, Chính phủ Mỹ chính thức thông qua chương trình viện trợ mang tên “Huấn luyện và viện trợ quân sự cho các nước châu Phi hành động trong điều kiện khẩn cấp”. Nội dung mới có tính nguyên tắc trong chương trình này là chuyển quá trình huấn luyện từ mục đích nhằm duy trì hoà bình trong khuôn khổ Chương 6 Điều lệ Liên hợp quốc sang các hoạt động “cưỡng chế hoà bình” phù hợp với Chương 7 của Điều lệ Liên hợp quốc, nhằm can thiệp vũ trang dưới danh nghĩa Liên hợp quốc.

   Các chuyên gia nghiên cứu chính trị ở Mỹ đang nghiên cứu áp dụng hình thức “can thiệp trả đũa” như ở Áp-ga-ni-xtan hoặc “can thiệp phòng ngừa” như tại I-rắc, cho khu vực châu Phi. Mỹ đã không thoả mãn với các hoạt động của Liên hợp quốc nói chung, cũng như các hoạt động gìn giữ hoà bình quốc tế hiện nay nên đã theo đuổi nguyên tắc tổ chức mới. Các chuyên gia quân sự của Mỹ đã đưa ra đề án “Sáng kiến hoạt động gìn giữ hoà bình toàn cầu”(“Global Peace Operations Initiative-GPOI”), được Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ chính thức phê chuẩn vào tháng 4-2004 và trình bày tại Hội nghị G8 hồi tháng 6-2004. Tư tưởng chung của sáng kiến này là xây dựng một lực lượng gìn giữ hoà bình ngoài khuôn khổ Liên hợp quốc, sẵn sàng chiến đấu để “dàn xếp” các cuộc khủng hoảng trên thế giới. Xương sống của lực lượng gìn giữ hoà bình này bao gồm 75 nghìn nhân viên quân sự, chủ yếu là các phân đội lực lượng vũ trang các nước châu Phi nhưng được tổ chức và huấn luyện theo ý đồ của Mỹ.
 
   Để thực hiện “sáng kiến”, trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2010, Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao Mỹ dự kiến chi khoảng 660 triệu USD. Ngoài ra, Mỹ dự kiến phối hợp với các nước NATO nhằm thu hút các chương trình viện trợ cho châu Phi, như chương trình của Pháp mang tên “Phát triển khả năng của các nước châu Phi nhằm gìn giữ hoà bình”. Chương trình này được thực hiện sau khi tiến hành hội nghị lãnh đạo chính trị - quân sự các quốc gia nói tiếng Pháp ở châu Phi, vào tháng 11-1994 tại Pháp, nhằm phát triển ảnh hưởng của Pháp không chỉ đối với các nước nói tiếng Pháp mà còn phát triển sang các quốc gia khác của châu lục này. Cuối những năm 1990, chương trình “Phát triển khả năng của các nước châu Phi nhằm gìn giữ hoà bình” có sự tham gia của các nước thuộc Cộng đồng phát triển Nam Phi và Cộng đồng kinh tế các quốc gia châu Phi, một lần nữa khẳng định quyết tâm và tính chủ động trong chính sách của Pháp đối với “lục địa đen”. Pháp đã chi cho chương trình này trên 30 triệu USD trong những năm 2003-2004.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #38 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:17:01 am »

   Trung Quốc xúc tiến mở rộng “không gian sinh tồn” sang châu Phi

   Cũng cách đây vài năm, khi bắt đầu chính sách mở cửa, các chuyên gia hoạch định chính sách của Trung Quốc đã từng đưa ra khái niệm “mở rộng không gian sinh tồn” hoặc “cuộc tranh giành biên giới mềm” trong thế giới đương đại. Quan niệm đó phù hợp với xu thế toàn cầu hoá đang như một cơn lốc ào ạt tràn qua các châu lục. Quốc gia nào biết tận dụng cơ hội đó để tạo dựng môi trường phát triển, quốc gia đó sẽ thành công. Với tinh thần đó, Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc - châu Phi diễn ra hồi tháng 11-2006 ở Bắc Kinh (Trung Quốc) đã trở thành một sự kiện quan trọng, chứng tỏ Trung Quốc không chỉ đang “mở rộng không gian sinh tồn” mà còn là “mở rộng không gian phát triển” sang “lục địa đen”.

   Đây là Hội nghị cấp cao Trung Quốc - châu Phi lần thứ hai với sự tham gia của lãnh đạo hơn 40 nước châu Phi trong số 50 quốc gia ở lục địa này. Các chuyên gia phân tích chính trị quốc tế cho rằng, cả Mỹ và Liên Xô trước đây chưa bao giờ tổ chức được một hội nghị với đông đảo đại diện các nước châu Phi tham dự như Hội nghị cấp cao Trung Quốc - châu Phi năm 2006. Các chuyên gia phân tích chính trị quốc tế cho rằng, Trung Quốc từ lâu đã tìm cách tiếp cận châu Phi với đề án đầu tiên là xây dựng tuyến đường sắt ở Tan-da-ni-a năm 1956. Nhưng chỉ trong thập kỷ gần đây, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới, Trung Quốc bắt đầu thực hiện các đề án hợp tác quy mô lớn đối với châu lục này. Năm 2005, khối lượng hàng hoá trao đổi giữa Trung Quốc và châu Phi đã lên tới con số 40 tỉ USD và trở thành đối tác thương mại với châu lục này lớn thứ 3 sau Mỹ và Pháp. Nếu tính theo khối lượng đầu tư vào nền kinh tế châu Phi thì Trung Quốc đứng ở vị trí hàng đầu trên thế giới.

   Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc - châu Phi năm 2006 đề cập đến hợp tác kinh tế là chủ yếu với các cam kết đầu tư đã được ký kết lên tới 1,9 tỉ USD. Theo chương trình phát triển quan hệ kinh tế đến năm 2009, Trung Quốc sẽ cho các nước châu Phi vay ưu đãi với tổng số 3 tỉ USD, đầu tư 2 tỉ USD và xây dựng Quỹ hỗ trợ đầu tư của Trung Quốc trị giá khoảng 5 tỉ USD. Trong các kế hoạch dài hạn của Trung Quốc, có việc tăng khối lượng đầu tư vào châu Phi lên tới khoảng 100 tỉ USD đến năm 2020. Trong khi đó, Trung Quốc chỉ đầu tư vào Nga khoảng 20 tỉ USD. Trung Quốc hứa, sẽ xoá một phần nợ cho các nước nghèo nhất châu Phi và mở thị trường để nhập khẩu hàng hoá châu Phi, chủ yếu là nguyên liệu, và đào tạo 150.000 sinh viên các nước châu Phi tại các trường đại học của Trung Quốc. Để phát triển các cuộc tiếp xúc giữa giới kinh doanh, đồng thời với việc tổ chức cuộc gặp cao cấp ở Bắc Kinh, hai bên đã tổ chức cuộc Hội thảo lớn với sự tham gia của 1.500 doanh nhân, tổ chức triển lãm hàng hoá xuất khẩu từ châu Phi sang thị trường Trung Quốc.

   Châu Phi có nguồn dự trữ tài nguyên thiên nhiên rất lớn, trong đó có dầu mỏ và khí đốt là những thứ rất cần cho nền kinh tế Trung Quốc, đồng thời châu Phi cũng rất cần vốn để phát triển và đáp ứng các nhu cầu xã hội. Như vậy, cả Trung Quốc và châu Phi đều rất cần nhau. Khoảng 1/4 dầu mỏ nhập khẩu vào Trung Quốc là từ các nước châu Phi.
 
   “Lục địa đen” trở thành thị trường tiêu thụ quan trọng nhất đối với hàng hoá của Trung Quốc. Về phía mình, Trung Quốc đầu tư một khối lượng đáng kể vào nền kinh tế châu Phi, chủ yếu vào những lĩnh vực mà các nhà đầu tư phương Tây coi là “quá mạo hiểm” như đầu tư vào hạ tầng cơ sở. Chỉ tính riêng một công ty của Trung Quốc là “China Rood and Bridge Corporation” đã thực hiện gần 500 đề án xây dựng hạ tầng cơ sở ở châu Phi. Trước khi diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc - châu Phi năm 2006, công ty “China Civil Engenering Constrruction” đã ký với Ni-gê-ri-a một hợp đồng trị giá 8,3 tỉ USD để xây dựng tuyến đường sắt xuất phát từ các khu vực nằm sâu trong lãnh thổ quốc gia này và kéo dài 1200 km đến bờ Đại Tây Dương. Đây sẽ là đề án đầu tư ở nước ngoài lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc còn giúp phục hồi hoạt động của các xí nghiệp khai thác mỏ ở Ga-bông, Dăm-bi-a và Công-gô. Tổng cộng đã có trên 600 hãng và công ty của Trung Quốc hợp tác với châu Phi.
 
   Kể từ Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc - châu Phi lần thứ nhất đến nay, hai bên đã ký hơn 40 hiệp định kinh tế - thương mại. Các nước châu Phi đặc biệt hài lòng khi thực hiện các đề án quy mô lớn trong khi Trung Quốc không hề gây bất kỳ một áp lực chính trị nào đối với họ, kiểu như “dân chủ hoá” hoặc “bảo đảm quyền con người” như một số nước phương Tây vẫn làm.
 
   Theo dự báo đưa ra trong tờ “Economist Intelligence Unit” (Anh), đến năm 2010, Trung Quốc sẽ trở thành lực lượng kinh tế thương mại chiếm ưu thế ở châu Phi và sẽ là đối tác thương mại chủ yếu của các nền kinh tế lớn nhất ở khu vực này như Ai Cập, Xu-đăng, Ni-gê-ri-a và Ăng-gô-la, đẩy lùi các đối tác truyền thống như Mỹ, Anh và Pháp ra khỏi “lục địa đen”. Điều đáng chú ý là trong khi “mở rộng không gian sinh tồn” hoặc “biên giới mềm” sang châu Phi, Trung Quốc sẽ không lặp lai sai lầm của các chế độ thực dân trước đây tại châu lục này mà sẽ chinh phục thế giới theo triết lý của Khổng Tử theo phương châm buộc các đối tác phải “tâm phục khẩu phục”.

   Ấn Độ: hướng tới đối tác bình đẳng và công bằng với các nhà cung ứng dầu mỏ ở châu Phi

   Người ta dự kiến, trước khi kết thúc thập niên đầu trong thế kỷ XXI, Ấn Độ sẽ đứng hàng thứ ba trong số các nước trên thế giới tiêu thụ dầu lửa, sau Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên, trữ lượng khoáng sản “vàng đen” của họ rất hạn chế: chiếm 0,5% trữ lượng của thế giới, bằng 1/3 của Trung Quốc, và đang dần cạn kiệt. Vì thế, dự trữ năng lượng là ưu tiên số 1 đối với Ấn Độ. Trong những năm qua, công ty quốc gia của Ấn Độ “Oil and Natural Gas Corporation (ONGC) đã thực hiện chính sách đa phương hoá trong kinh doanh với việc chuyển hướng từ vùng vịnh và biển Cát-xpi sang châu Phi. Hiện tại, Ấn Độ chỉ mới nhập khẩu 20% nhu cầu dầu lửa từ châu Phi so với 70% từ Trung Đông, chủ yếu từ Ả-rập Xê-út, Cô-oét, I-rắc và các Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất.

   Ấn Độ đang thực hiện đường lối ngoại giao dầu lửa đặc biệt tích cực ở Đông Phi, nơi sự hiện diện của Mỹ và Trung Quốc vẫn còn hạn chế. Nếu như Tan-da-ni-a, Kê-ni-a, U-gan-đa hoặc Ma-đa-gát-xca vẫn chưa sản xuất được dầu lửa, thì việc nghiên cứu địa chất mà các kỹ sư Ấn Độ tiến hành ở đây đã đạt được kết quả tốt. Tại Xu-đăng, “ONGC” đã được lợi từ sự ra đi của công ty “Talisman” của Ca-na-đa. Từ tháng 3-2003, “ONGC” nắm giữ 1/4 số vốn của “GNPOC” và được nhận thầu phần xây dựng và đưa vào sử dụng một nhà máy lọc dầu ở Cảng Xu-đăng. Tháng 6-2005, “Videocon”, một công ty tư nhân khác của Ấn Độ đã ký với chính phủ Xu-đăng một hiệp định cho phép công ty này tiến hành khoan thăm dò dầu khí ngoài khơi. “ONGC” cũng đã đầu tư lớn vào hoạt động khai thác và thăm dò dầu khí ở Li-bi, Cốt Đi-voa, kể cả hoạt động phối hợp với công ty “SINOPEC” Trung Quốc và công ty “Vanco Energy” của Mỹ. Tháng 3-2005, “ONGC Videsh Limited”, kết hợp với “IPR Energy Red Sea” của Mỹ đã nhận được quyền thăm dò khu vực Ra-ma-đa ở Ai-cập.

   Ấn Độ khuyến khích quan hệ đối tác bình đẳng và công bằng với các nhà cung ứng châu Phi chứ không phải là một đối tác chỉ muốn tranh giành tài nghuyên của châu lục này. Vì vậy, các công ty của Ấn Độ còn chú ý tăng cường đầu tư vốn vào các lĩnh vực khác của các nước châu Phi. Ấn Độ hiện có Công ty “Candino” đã xây dựng một nhà máy dệt may ở Tan-da-ni-a; Công ty “Tata Motors” hiện diện ở Nam Phi; “Ranbaxy”, một trong những phòng thí nghiệm dược học hàng đầu thế giới của Ấn Độ, có các nhà máy ở Dăm-bi-a, Cốt Đi-voa, đảo Mô-ri-xơ và Ni-giê-ri-a. Tại Ma-đa-gát-xca, công ty “Petroleum India International” (PII) của Ấn Độ đã giúp nước này cải tạo nhà máy lọc dầu Solima (Solitany Malagasy). Ấn Độ là bạn hàng số một với vai trò là nước nhập khẩu đào lộn hột hàng đầu thế giới từ châu Phi. Ấn Độ cũng là một trong những khách hàng hàng đầu mua bông của U-gan-đa. Sự gần gũi về ngôn ngữ và văn hoá với các nước Đông Phi nói tiếng Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác song phương đó. Ấn Độ có thể dựa vào các công dân của họ sống ở Đông Phi và miền Nam châu Phi, đặc biệt ở Nam Phi, Kê-ni-a và Tan-da-ni-a.

   Châu Phi nói tiếng Pháp cũng nằm trong tầm ngắm của Ấn Độ. Sáng kiến mới đây nhất theo hướng này là Dự án “Team-9” hợp tác kỹ thuật giữa Ấn Độ với 8 nước Tây Phi, gồm Ga-na, Buốc-ki-na Pha-xô, Sát, Cốt Đi-voa, Ghi-nê Xích-đạo, Ghi-nê Bi-xô, Ma-li và Xê-nê-gan. Trong khuôn khổ dự án này, Ấn Độ cam kết ủng hộ các đối tác nửa tỉ USD dưới hình thức tín dụng, viện trợ và chuyển giao công nghệ. Tháng 7-2005, Ấn Độ đã cho Ghi-nê Bi-cô vay 70 triệu USD trong thời gian 20 năm với một tỷ lệ ưu đãi 1,7%. Hành động này đã góp phần đưa Ấn Độ trở thành bạn hàng số 1 của Xê-nê-gan.

   Tương lai nào cho châu Phi?

   Trong tương lai vài thập niên tới đây khi các giải pháp thay thế như năng lượng sinh học, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng hạt nhân v.v.. chưa thể làm tròn chức năng của dầu mỏ, thì các khu vực tiềm ẩn nhiều ‘vàng đen’ như châu Phi vừa có cái may trời cho, vừa phải chịu cái họa do con người mang lại. Họ chỉ có thế phát huy được cái may đó một khi có đường lối độc lập tự chủ, vừa có chính sách ngoại giao đa phương để tranh thủ sự trợ giúp quốc tế, đồng thời vừa được các quốc gia khác tôn trọng lợi ích dựa trên cơ sở các bên cùng có lợi. Đó là cũng là cách ứng xử hợp lý nhất trong trật tự thế giới đương đại khi an ninh và thịnh vượng của mỗi quốc gia cũng là an ninh và thịnh vượng của toàn thế giới./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #39 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 08:20:18 am »

ĐIỀU GÌ ĐÓN CHỜ I-RẮC SAU KHI MỸ RÚT QUÂN?

   Ngày 30-6-2009, các đơn vị chiến đấu của Mỹ rút khỏi các thành phố I-rắc và trao lại quyền kiểm soát các căn cứ quân sự mà họ vừa rời khỏi cho các đơn vị quân đội và an ninh nước sở tại. Sự kiện này đã được hết thảy các đảng phái, giáo phái, các thế lực theo các xu hướng chính trị và tôn giáo, xã hội khác nhau ở I-rắc hân hoan đón nhận, không khí tưng bừng bao trùm khắp đất nước I-rắc. Ngày 30-6-2009 được người dân I-rắc coi là “Ngày chủ quyền quốc gia”.

   Mỹ thu được gì sau 6 năm truy tìm “vũ khí hủy diệt hàng loạt” và “tiêu diệt khủng bố” ở I-rắc?

   Ngày 20-3-2003, lực lượng liên quân do Mỹ đứng đầu đã ồ ạt tiến công I-rắc với cớ “truy tìm vũ khí hủy diệt hàng loạt” và “tiêu diệt khủng bố”. Khi đó, các tướng lĩnh Mỹ tuyên bố với binh sỹ rằng, họ sẽ được người dân tại đây chào đón bằng hoa hồng, nhưng trái lại, trên thực tế, lính Mỹ và liên quân được đón tiếp bằng hoả lực súng chống tăng và các trận đánh du kích từ các khu phố và hầm cố thủ.

   Sau 6 năm Mỹ tiến hành cuộc chiến ở quốc gia này, những tổn thất mà người dân I-rắc phải gánh chịu thật nặng nề: trong số 28 triệu dân I-rắc có tới 5 triệu trẻ mồ côi; 1 triệu phụ nữ rơi vào cảnh góa bụa; 70% dân chúng I-rắc thất nghiệp; 3,3 triệu nhân viên nhà nước nghỉ hưu cần được trả lương; 2 triệu người I-rắc không có nhà ở; 4 triệu người I-rắc phải chạy tị nạn sang các nước láng giềng; gần 1 triệu người I-rắc bị thiệt mạng trong 6 năm Mỹ chiếm đóng.

   Dầu mỏ - nguồn vàng đen của đất nước, đã không thể vực dậy nền kinh tế. Bạo lực và mâu thuẫn chính trị đã kìm hãm những cơ sở lọc dầu cùng các hạ tầng khác của nền kinh tế. Mặc dù Chính phủ I-rắc đã mời các nhà đầu tư nước ngoài vào khai thác, nhưng những căng thẳng, xung đột, bạo lực triền miên đã làm các nhà đầu tư nản lòng, chùn bước.

   Đối với Mỹ, cuộc chiến tranh I-rắc là chiến dịch quân sự tốn kém nhất kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ II và là cuộc xung đột ở nước ngoài lâu dài thứ hai trong lịch sử nước Mỹ, sau chiến tranh Việt Nam.
 
   Hơn sáu năm qua, Mỹ đã tiêu tốn khoảng 700 tỉ USD, trong khi ban đầu, cựu Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ chỉ dự tính hơn 70 tỉ USD cho cuộc chiến. Thực tế trên chiến trường đã buộc Mỹ hằng năm phải bổ sung kinh phí 40 - 50 tỉ USD cho cuộc chiến này. Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế thế giới, nếu tính cả các khoản chi bí mật cho việc thay vũ khí và bồi thường cho các binh lính Mỹ, tổng chi phí cho cuộc chiến tranh I-rắc sẽ vào khoảng 2-3 nghìn tỉ USD và những tác động đối với nền kinh tế sẽ kéo dài hơn nhiều so với thời gian xảy ra chiến tranh. Trong 6 năm qua, hơn 4.200 binh lính Mỹ đã bị thiệt mạng và sẽ có thêm nhiều thương vong hơn vì cuộc chiến tranh này chưa kết thúc, ít nhất là trong 18 tháng tới.

   Những hậu quả nặng nề sau 6 năm mà quốc gia này phải gánh chịu đã lý giải vì sao khi “chia tay” với quân đội Mỹ, người dân của đất nước này lại vui như hội.

   Không thể dùng sức mạnh quân sự để áp đặt nền dân chủ

   Chủ trương phá bỏ tận gốc chế độ cầm quyền khi đó ở Bat-đa, xây dựng chế độ mới, áp đặt cái gọi là tự do, dân chủ và các giá trị Mỹ lên quốc gia này, Mỹ tin rằng, chỉ cần lật đổ chế độ của Tổng thống Xat-đam Hút-xen, thì dân chủ “sẽ tự đơm hoa kết trái”. Nhưng sự việc diễn ra không như họ mong đợi.

   Đa số cộng đồng quốc tế không ủng hộ cuộc chiến của Mỹ ở I-rắc, coi đó là hành động xâm lược một quốc gia có chủ quyền. Trong số những nước không ủng hộ có cả những nước mà quân đội của họ đã từng tích cực chiến đấu chống lại chính quyền Hút-xen 12 năm về trước. Điều đó giải thích vì sao ở I-rắc không ai đón chào người Mỹ, thậm chí ngay cả những người vui mừng trước việc ông Xat-đam Hút-xen bị lật đổ.

   Oa-sinh-tơn giờ đây công khai thú nhận rằng, họ không có bất kỳ kế hoạch hành động nào sau khi lật đổ Xat-đam Hút-xen. Để tái thiết I-rắc, Mỹ đã không có những nội dung giống như “Kế hoạch Marshall”. Mỹ cũng tỏ ra không thấy hết tính chất phức tạp của các mâu thuẫn giữa các sắc tộc, tôn giáo và các phe phái ở I-rắc, cũng như không hiểu bản sắc, tính chất văn hoá của người A-rập.

   Người I-rắc tuy thua cuộc trên chiến trường nhưng sau đó đã tiến hành một cuộc chiến tranh du kích - khủng bố rộng khắp nhất không chỉ chống lại các lực lượng chiếm đóng mà còn tiến hành cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn”. Chính cựu Tổng thống R.W.Bu-sơ cũng phải công nhận những sai lầm đã mắc phải trong chiến dịch quân sự ở I-rắc và hoàn toàn nhận trách nhiệm về phía mình.

   Liệu I-rắc có tự đứng vững?

   Sau niềm vui bắt đầu thoát khỏi thời kỳ chiếm đóng của quân đội nước ngoài, I-rắc phải đối mặt với những vấn đề không dễ giải quyết êm thấm trong một sớm, một chiều để bảo đảm ổn định xã hội và phát triển.

   Thứ nhất, những nguy cơ tiềm ẩn gây xung đột sắc tộc, tôn giáo trong cuộc chạy đua giành quyền lực ở Bat-đa trong thời gian tới. Tháng 1-2010, ở I-rắc sẽ diễn ra cuộc bầu cử Quốc hội, sự kiện Mỹ rút quân được coi là “thắng lợi lớn trong sự nghiệp giải phóng I-rắc khỏi sự chiếm đóng của quân xâm lược nước ngoài” sẽ mang lại lá phiếu nặng ký cho Thủ tướng Chính phủ I-rắc Ma-la-ki và là Tổng bí thư Đảng “Al Đa-va” của người Xi-ai.

   Đối thủ của Thủ tướng Ma-la-ki và chính phủ của ông, trong đó có những thế lực tôn giáo cực đoan theo dòng Xi-ai, gần đây cũng bước vào cuộc tranh giành quyền lực ở Bat-đa. Quân Mỹ rút đi, người Xi-ai như được giải thoát và được tự do hơn trong cuộc chạy đua sắp tới.

   Các tổ chức khủng bố, trước hết là mạng lưới “Al-Qaeda” và các thế lực cực đoan khác đã từng tuyên bố, ngay cả khi Mỹ điều đến I-rắc hàng triệu quân cũng không thể chiến thắng được “Al-Qaeda”.

   Thứ hai, Mỹ rút quân, nhưng vẫn tiếp tục hiện diện ở I-rắc dưới dạng cố vấn quân sự. Trong thời gian qua, Mỹ đã huấn luyện và trang bị cho quân đội, cảnh sát và các cơ quan mật vụ của I-rắc, và tới đây, Mỹ và Anh sẽ tiếp tục giúp đỡ cho I-rắc dưới dạng cố vấn quân sự...

   Hiện tại, chỉ có các đơn vị chiến đấu trong số hơn 130.000 quân Mỹ rút khỏi các thành phố. Còn các cố vấn quân sự Mỹ và nhiều đơn vị chiến đấu vẫn được duy trì trong các vùng ngoại vi các thành phố.

   Tướng Đa-vít Pê-trê-út, Tư lệnh các lực lượng của Mỹ ở Trung Đông, tuyên bố, tại 3 thành phố lớn nhất I-rắc là Bat-đa, Mô-xun và Ba-xra sẽ thành lập các trung tâm phối hợp hoạt động giữa Mỹ với các cơ quan an ninh của I-rắc. Các đơn vị chiến đấu của Mỹ sẽ bố trí ở một số căn cứ quân sự bên ngoài thành phố. Họ có thể trực tiếp tham gia chiến đấu theo đề nghị chính thức của Chính phủ I-rắc.
 
   Ông Cri-xtốp-phơ Hin, Đại sứ Mỹ ở I-rắc, bày tỏ quan điểm chính thức của Oa-sinh-tơn về khả năng chiến đấu của các lực lượng an ninh I-rắc như sau: “Chúng tôi cho rằng, I-rắc đã sẵn sàng cho khả năng tự vệ và phía I-rắc cũng cho là như vậy”. Còn tướng Giooc-giơ Cây-xi, Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ có quan điểm hơi khác: quân Mỹ sẽ có thể ở lại I-rắc tới 10 năm nữa và các kế hoạch tương tự đang được soạn thảo.

   Giả thuyết này về cơ bản không mâu thuẫn với kế hoạch của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma được công bố vào tháng 2-2009, theo đó, quân Mỹ sẽ phải rút khỏi I-rắc vào cuối năm 2011. Đến tháng 9-2010, số quân Mỹ ở I-rắc sẽ giảm xuống còn 50.000 người. Đến thời điểm đó, quân Mỹ sẽ chấm dứt các chiến dịch quân sự quy mô lớn trên lãnh thổ I-rắc. Dư luận gọi các biện pháp đó là “Kế hoạch I-rắc của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma”.

   Tuy nhiên, trong Hiệp định về quy chế quân Mỹ ở I-rắc đã được Tổng thống G.W.Bu-sơ và chính phủ I-rắc ký kết vào tháng 11-2008 có một điều khoản quy định quân Mỹ rút khỏi I-rắc ngày 30-6-2009. Chính phủ của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma không thể đơn phương thay đổi nội dung của Hiệp định. Còn phía I-rắc cũng rất chăm chú theo dõi quá trình thực hiện Hiệp định và đã từng kịch liệt phê phán Bộ chỉ huy quân sự Mỹ vi phạm các thoả thuận ghi trong Hiệp định. Ngoài việc rút quân Mỹ, Hiệp định còn ghi rõ quân Mỹ không được phép tiến hành các chiến dịch quân sự trên lãnh thổ I-rắc.

   Thứ ba, nhưng quan điểm khác nhau về khả năng tự đứng vững của các đơn vị an ninh của I-rắc vừa được thành lập. Nếu Thủ tướng Ma-la-ki và Oa-sinh-tơn cho rằng, quân đội và cảnh sát I-rắc đã trưởng thành và đủ sức tự bảo đảm an ninh thì đại diện của những người theo dòng Xun-ni thiểu số, như Phó Tổng thống Ta-ric An Ha-si-mi, tuyên bố, mức độ an toàn của dân chúng giảm đến mức đáng lo ngại và kêu gọi mọi người hãy cảnh giác cao độ.

   Nhiều tướng lĩnh cũng có ý kiến tương tự. Thí dụ, tướng Ma-hơ-mút Mu-xây, cho rằng việc quân Mỹ rút khỏi các khu vực dân cư đông đúc sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các cuộc xung đột đẫm máu giữa người Xi-ai và người Xun-ni. Theo nhận xét của một trong những cố vấn của cựu Tổng thống Ca-xim Đao-đơ, ở I-rắc hiện nay không có các lực lượng an ninh đủ mạnh.

   Nhiều chuyên gia bình luận chính trị thế giới cho rằng, việc Mỹ rút quân khỏi các thành phố của I-rắc là “phép thử”, là “kỳ sát hạch” nghiệt ngã nhất đối với Mỹ - tác giả của một hệ thống chính trị mà Oa-sinh-tơn đã tổn hao không ít tiền của và xương máu của binh lính Mỹ và cả của hàng ngàn sinh mạng người dân lương thiện của I-rắc để dựng lên. Trong kỳ sát hạch này, người Mỹ không có cơ hội để “thi lại”. Nếu ở I-rắc bùng nổ nội chiến và quân Mỹ phải quay trở lại I-rắc thì nó sẽ hoàn toàn khác với chiến dịch quân sự mà Oa-sinh-tơn tiến hành vào ngày 20-3-2003. Đó cũng có thể sẽ là một thảm kịch ngay từ đầu đối với nước Mỹ.

   Hoà giải dân tộc - giải pháp duy nhất để ổn định tình hình ở I-rắc

   Tính chất đặc biệt phức tạp và rất khó hoá giải ở I-rắc hiện nay là do sự đan xen của các yếu tố như sự đối đầu giữa hai giáo phái dòng Xi-ai ít và Xun-ni; khát vọng giành quyền tự trị của người Cuốc; ảnh hưởng của nước láng giềng; các thế lực Hồi giáo cực đoan; chủ nghĩa khủng bố; nguồn lợi từ tài nguyên dầu mỏ được phân chia không đều v.v.. Ngay cả trong hàng ngũ những người cùng một giáo phái như người Xi-ai cũng bị phân chia thành phái ôn hoà và cực đoan, đã từng giao tranh đẫm máu trong nhiều năm.

   Tất cả những yếu tố này phụ thuộc hầu như rất không đáng kể vào trình độ chuyên nghiệp cao của quân đội và cảnh sát. Do đó, vấn đề sức mạnh hay khả năng chiến đấu của các đơn vị quân đội và cảnh sát I-rắc có lẽ không phải là yếu tố quyết định. Trong tình hình hiện nay, khó có một lực lượng quân sự và an ninh nào có thể ngăn chặn được cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” ở I-rắc nếu không xây dựng được ở đây một thể chế chính trị đủ mạnh, có khả năng làm trọng tài để các bên đối địch nhau có thể đối thoại, hợp lực giải quyết nhiều vấn đề nổi cộm, tích tụ bấy lâu nay ở I-rắc. Do đó, lời giải cho bài toán vô cùng phức tạp này, nếu quả thực có thể tìm ra được, sẽ nằm ở các giải pháp chính trị và đối thoại, chứ không phải bạo lực./.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM