Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:50:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thế giới: Một góc nhìn  (Đọc 55293 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #50 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 10:53:49 am »

CHUYẾN THĂM CỦA ÔNG ĐÍCH CHE-NY - NƯỚC ĐI TRONG “VÁN CỜ LỚN”

   Trong khi nữ nghị sỹ Xa-ra Pa-lin (Sarah Palin), người vừa được ông Giôn Mác-kên chọn làm ứng cử viên liên danh trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng, đang thực hiện chiến dịch tuyên truyền vận động bầu cử thu hút sự ủng hộ của các cử tri thuộc Đảng Cộng hòa bằng những lời hứa hẹn như “sẽ xây dựng các đường ống dẫn dầu và khí đốt” và “bảo đảm an ninh năng lượng” cho Hoa Kỳ, thì ông Đích Che-ni, Phó Tổng thống Mỹ, cũng đang đề cập đến chủ đề này ở một nơi cách xa nước Mỹ hàng ngàn dặm, trong “chuyến công du nóng” đến một số nước cộng hòa thuộc Liên Xô trước đây, với danh nghĩa là tranh thủ sự ủng hộ của họ đối với Gru-di-a, nhưng trên thực tế, theo các nhà bình luận quốc tế là để dọn đường cho dầu mỏ và khí đốt tuôn chảy từ Ca-xpi, khu vực giàu tài nguyên bậc nhất thế giới, sau Trung Đông, sang Mỹ và các nước phương Tây khác mà không phải đi qua lãnh thổ nước Nga.

   Phát biểu ở Gru-di-a, ông Đích Che-ni lên án gay gắt “hành động phi pháp” và “đơn phương” của Nga trong việc phong tỏa biên giới của quốc gia này và hứa sẽ ủng hộ Gru-di-a gia nhập NATO. Chuyến thăm của Phó Tổng thống Mỹ được kèm theo khoản viện trợ 1 tỉ USD để phục hồi kết cấu hạ tầng và nền kinh tế của Gru-di-a. Cũng như ở Gru-di-a, tại A-dếc-bai-dan, Phó Tổng thống Mỹ Đích Che-ni tuyên bố rằng, Mỹ “đặc biệt quan tâm đến sự thịnh vượng và an ninh” của họ. Tuy nhiên, khoản viện trợ 1 tỉ USD giành cho Gru-di-a là tín hiệu cho thấy giới hạn khả năng của Mỹ trong việc giúp đỡ các đồng minh của mình trong trường hợp họ xung đột với Nga. Dĩ nhiên, Mỹ có thể giúp Gru-di-a phục hồi nền kinh tế và viện trợ nhân đạo cho những người tỵ nạn, nhưng họ khó có thể bù đáp lại những tổn thất của quân đội Gru-di-a sau cuộc chiến tranh vừa qua. Trong tình cảnh hiện nay, đứng trước sự phản đối gay gắt của Nga đối với mọi hành động nhằm tái vũ trang cho Gru-di-a, viện trợ quân sự của Mỹ dành cho quốc gia này có thể đi sau viện trợ kinh tế nhưng chính quyền của Tổng thống G.Bu-sơ không phải không cân nhắc lời tuyên bố của Nga rằng họ không chấp nhận hành động phục hồi sức mạnh quân sự cho Gru-di-a.

   Dư luận nhận thấy lô-gic tương tự được áp dụng trong hội nghị bất thường của NATO bàn về vấn đề Gru-di-a. Hội nghị này kết thúc mà không đưa ra được giải pháp có tính quyết định nào nhằm đáp trả sự hiện diện quân sự của Nga trên lãnh thổ Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a mà phía Gru-di-a vẫn một mức khăng khăng là chủ quyền của họ.

   Về phía Nga, Mát-xcơ-va coi chuyến thăm này là bằng chứng về kế hoạch của Mỹ tiếp tục bao vây Nga, mặc dù tuyên bố của ông Đích Che-ni vẫn tỏ ra cân nhắc và thận trọng. Một thực tế không thể phủ nhận là Mỹ hiện nay đang triển khai các đội quân lớn của họ tại nhiều “điểm nóng” trên thế giới và đang bị ràng buộc bởi nhiều cam kết nên ít có khả năng họ sẽ dùng sức mạnh quân sự để bảo vệ các đồng minh của mình, Gru-di-a là một thí dụ! Ngay cả trường hợp một nước thành viên nào đó của NATO bị tấn công quân sự và có quyền nhận được sự viện trợ quân sự của tất cả các nước thành viên trong trường hợp bị tấn công theo Điều 5 của quy chế của NATO, thì khối này cũng khó có đủ khả năng thực hiện trách nhiệm chủ yếu của mình vì “lực bất tòng tâm”. Do vậy, mọi hành động của NATO hiện nay được ngụy trang dưới những tuyên bố mạnh mẽ như “bảo vệ quyền tự do”.

   Khi đến A-dếc-bai-dan, Phó Tổng thống Mỹ có cuộc gặp đầu tiên với đại diện của các hãng dầu mỏ BP và Chevron để thảo luận về tình hình năng lượng ở khu vực Ca-xpi liên quan đến hành động của nước Nga. Sự quan tâm đó là dễ hiểu, bởi tuyến đường ống dẫn dầu do A-dếc-bai-dan khai thác sẽ đi qua lãnh thổ các nước Gru-di-a và Thổ Nhĩ Kỳ, để từ đó sang các nước phương Tây. Mục đích chủ yếu trong chính sách đối ngoại của cả hai đảng cầm quyền ở Mỹ trong thời kỳ hậu Xô-viết là tước bỏ quyền kiểm soát của nước Nga đối với hoạt động cung cấp dầu mỏ và khí đốt cho các nước phương Tây từ khu vực này.

   Nước Nga cũng không chậm chân và thực tế, họ đã có những động tác tích cực để hạn chế hoạt động đó của Mỹ. Sau cuộc chiến ở Nam Ô-xê-ti-a, Tổng thống Đ.Mét-vê-đép đã có “chuyến thăm lịch sử” tới Ca-dắc-xtan nhằm cùng với quốc gia nằm bên bờ biển Ca-xpi này nỗ lực hành động phối hợp để dầu mỏ và khí đốt không lọt vào quyền kiểm soát của Mỹ và các nước Tây Âu. Chính vì kiểm soát được phần lớn dầu mỏ và khí đốt cung cấp cho các nước Tây Âu, nên Nga đã có trong tay những đòn bẩy quan trọng để tác động ngoại giao vào đa số các nước EU. Sau khi Liên Xô sụp đổ, trong quan hệ Mỹ và Nga, ảnh hưởng lớn nhất không phải là “kế hoạch xúc tiến dân chủ” và “phát triển tự do” mà là “ván cờ lớn” trong chính sách năng lượng và đường ống dẫn dầu. Cuộc chiến tranh ở Gru-di-a chỉ là tín hiệu chứng tỏ quy tắc cuộc chơi này đã thay đổi căn bản.

   Tổng thống Đ.Met-vê-đép trong tuần vừa qua đã phác thảo 5 quan điểm trong chính sách đối ngoại của Nga, trong đó có luận điểm cho rằng “Nga sẽ bảo vệ các công dân Nga và các lợi ích kinh doanh của Nga ở bất kỳ đâu” và “bảo vệ các lợi ích được ưu tiên trong các khu vực ảnh hưởng truyền thống của Nga tại các vùng xung quanh biên giới Nga”. Ngoài ra, Tổng thống Nga còn nhấn mạnh, Nga không chấp nhận vai trò dẫn đầu của Mỹ trong trật tự thế giới hiện nay.

   Tuyên bố cứng rắn về các lợi ích rộng lớn của Nga tại các nước Cộng hòa Liên Xô trước đây và tuyên bố chống lại ảnh hưởng của Mỹ đã đặt A-dếc-bai-dan trước một sự lựa chọn đầy khó khăn. Trong những năm 1990, các chính phủ cầm quyền ở Ba-cu đã thực hiện một chính sách cân bằng khá nhạy cảm nhằm duy trì quan hệ tốt đẹp cả với Mát-xcơ-va và với Oa-sinh-tơn. Tình hình phát sinh sau các biến cố ở Gru-di-a có thể buộc ông A-li-ép, Tổng thống A-dếc-bai-dan phải có sự lựa chọn dứt khoát, mặc dù quốc gia này đã cố gắng né tránh sự lựa chọn đó trong suốt hơn một thập niên vừa qua. Về phần mình, Nga cũng như Mỹ và các đồng minh của họ cố lôi kéo A-dếc-bai-dan. Thí dụ, Nga đề nghị mua khí đốt của A-dếc-bai-dan theo giá thị trường mà không phải theo giá thỏa thuận dài hạn đã được ghi nhận trong các hợp đồng với các nước phương Tây. Tuy nhiên, hiện nay Ba-cu đang chuẩn bị để trở thành nhà cung cấp khí thiên nhiên lớn nhất sang Tây Âu thông qua đường ống đi từ biển Ca-xpi đến trạm phân phối lớn nhất ở nước Áo. Đối với A-dếc-bai-dan, sự lựa chọn này không chỉ đơn giản mang tính thương mại mà có ý nghĩa địa - chính trị rất quan trọng. Tạm thời, A-dếc-bai-dan chưa quyết định bán khí đốt cho Nga thay vì bán cho các nước phương Tây. Vì thế, Điện Crem-li đang theo dõi sát tình hình, những động thái của Ba-cu. Còn, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chuyến công du lần này của Phó Tổng thống Mỹ Đích Che-ni là làm mọi cách để duy trì A-dếc-bai-dan trong quỹ đạo ảnh hưởng của Mỹ. Nhưng cái khó đối với A-dếc-bai-dan là họ có biên giới chung với Nga và I-ran, vì thế họ không muốn bị lôi cuốn và dính líu vào cuộc xung đột giữa Oa-sinh-tơn - Mát-xcơ-va - Tê-hê-ran./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #51 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 10:55:03 am »

DO ĐÂU ĐA SỐ CƯ DÂN THẾ GIỚI ỦNG HỘ ỨNG CỬ VIÊN BA-RẮC Ô-BA-MA

   Nước Mỹ và, có thể nói là cả thế giới nữa, đang trải qua những giây phút cuối cùng của cuộc bầu cử Tổng thống thứ 44 - cuộc vận động chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ: vận động tranh cử dài nhất, tốn kém nhất, kịch tính nhất và có ý nghĩa lịch sử lớn nhất ở quốc gia này.

   Lúc này, kết quả kiểm phiếu chưa được công bố và còn phải chờ tới cuộc bỏ phiếu của đại cử tri vào ngày 15-12-2008 mới biết chính xác ai sẽ là chủ nhân của Nhà Trắng, tuy nhiên, kết quả một cuộc thăm dò ý kiến hết sức thú vị của Viện nghiên cứu dư luận xã hội Ga-lớp (Gallup) về khả năng ứng cử viên nào sẽ trở thành Tổng thống Mỹ gây được sự chú ý đặc biệt. Đó là cuộc thăm dò ý kiến không phải của các cử tri Mỹ mà là của công dân ở 70 quốc gia trên thế giới.

   Kết quả thăm dò cho thấy, nếu có tới 51% cử tri Mỹ ủng hộ ứng cử viên Ba-rắc Ô-ba-ma và 43% cử tri ủng hộ ông Giôn Mác-kên (tỷ lệ 51/43), thì ưu thế của ông Ba-rắc Ô-ba-ma trên thế giới vượt xa ông Giôn Mác-kên với tỷ lệ áp đảo 4:1! Theo nhiều nhà phân tích, yếu tố nhân cách đóng vai trò không đáng kể trong việc ông Ô-ba-ma giành được sự ủng hộ của cư dân 70 quốc gia được hỏi ý kiến, mà điều có ý nghĩa quyết định là ở khẩu hiệu tranh cử “Change” (có nghĩa là “Thay đổi”) của ông. Với khẩu hiệu này, ông Ba-rắc Ô-ba-ma đã trở thành biểu tượng của nhu cầu bức thiết nhất hiện nay ở nước Mỹ và cũng là của toàn thế giới: đó là “Thay đổi”. Thế giới trông chờ sự thay đổi từ nước Mỹ!

   Ngoài ra, tỷ lệ 4:1 ủng hộ ứng cử viên Ba-rắc Ô-ba-ma còn nói lên nhiều điều khác nữa: thế giới hôm nay vừa tôn trọng nước Mỹ, vừa yêu lại vừa khó chịu với nước Mỹ. Và, nước Mỹ dường như xứng đáng với cả ba gam bậc tình cảm đan xen đó của thế giới.

   Nhiều người có nhận xét rất đúng rằng, phần còn lại của thế giới với nước Mỹ như hai anh em sinh đôi nhưng liền thân với nhau. Thế giới cảm thấy điều đó vừa bất tiện, vừa khó chịu nhưng vẫn phải cùng tồn tại, bởi hiểu rõ rằng, nếu tách ra khỏi người anh em sinh đôi đó có thể phải trả giá rất đắt. Hai người anh em sinh đôi này vừa yêu thương nhau lại vừa khó chịu, bực bội nhau. Mỗi lần họ muốn tách ra khỏi nhau lại chính là lúc họ cảm thấy cần phải giữ lấy sự gắn bó đó. Quan hệ giữa nước Mỹ và thế giới còn lại cũng tương tự. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng, một khi nước Mỹ “sổ mũi hắt hơi” thì cả thế giới không thể không bị “ho”!

   Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang hoàng hành trên thế giới lúc này xuất phát từ cuộc khủng hoảng trên thị trường nhà đất ở Mỹ. Còn cuộc khủng hoảng do ấm lên toàn cầu xuất phát từ hiệu ứng nhà kính thì do đâu? Nước Mỹ có số dân chiếm 3% dân số thế giới nhưng tiêu thụ tới 21% năng lượng, và dó đó, tương lai của nhân loại phụ thuộc đáng kể vào chuyện người Mỹ sẽ giảm bớt khí thải ra sao bằng các phát minh mới về công nghệ. Người Mỹ sẽ phải sáng chế ra kiểu xe hơi tiêu tốn ít nhiên liệu và tạo ra loại nhiên liệu mới ít tạo ra khí thải ô nhiễm môi trường.

   Công bằng mà nói, nước Mỹ đã từng là xứ sở phát minh ra xe ô tô, thuốc kháng sinh, năng lượng và bom nguyên tử; cùng với người Nga khai phá con đường tiến vào vũ trụ, phát minh ra máy tính và mạng internet, đưa loài người bước vào thời đại thông tin. Đa số các nhà khoa học nhận Giải thưởng Nô-ben trong lĩnh vực khoa học là người Mỹ hoặc người nước ngoài làm việc ở Mỹ, trong đó có Anh-xtanh - một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất của mọi thời đại.

   Thế giới bực bội nước Mỹ nhưng lại mong nhiều điều lành cho nước Mỹ. Có thể nói, nước Mỹ là một trong những “phòng thí nghiệm tạo ra tương lai”, và do đó, thế giới phụ thuộc nhiều vào chuyện nước Mỹ sẽ đi tới đâu. Điều này giống như hòn đá Xi-da có phép màu không chỉ sẽ đặt lên vai Ba-rắc Ô-ba-ma nếu trúng cử Tổng thống Mỹ, mà là cả nước Mỹ. Hòn đá đó có thể khiến nước Mỹ gẫy lưng nhưng cũng có thể làm cho nó vươn dậy mạnh mẽ.

   Vì thế, dù ứng cử viên nào sẽ trở thành chủ nhân Nhà Trắng sau cuộc bầu cử ngày 4-11-2008, kết quả cuộc bầu cử này cũng là bước ngoặt lớn. Điều quan trọng còn lại là, nước Mỹ sẽ như thế nào dưới sự chỉ huy của vị chủ nhân mới của Nhà Trắng. Vào thời điểm nước Mỹ đứng ở ngã ba đường, việc cư dân 70 quốc gia thiên về bầu chọn Ba-rắc Ô-ba-ma chứng tỏ hành tinh đang muốn một sự thay đổi. Tuy nhiên, liệu nước Mỹ có “Change” theo khẩu hiệu của ông Ba-rắc Ô-ba-ma một khi ông trúng cử lại là câu hỏi chưa có đáp án.

   Thật tình cờ, ngày 4-11-2008 diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ trùng với ngày 4-11-1938, cách đây tròn 70 năm, phát thanh viên nổi tiếng ở Mỹ Ooc-xôn Ô-oen đọc trích đoạn cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mang tựa đề “Chiến tranh giữa các nền văn minh” của nhà văn Héc-bét Ô-oen trên đài phát thanh. Chuyện kể về việc các cư dân từ Sao Hoả đột nhập xuống Trái Đất. Vì thế, dư luận ở Mỹ liên tưởng rằng, nếu sau ngày 4-11-2008, chủ nhân Nhà Trắng là Tổng thống người da đen thì điều đó cũng kỳ diệu như chuyện nền văn minh từ Sao Hỏa đổ bộ xuống hành tinh của chúng ta vậy./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #52 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 10:57:55 am »

CHƯA CÓ SỰ ĐỘT PHÁ TRONG QUAN HỆ MỸ - NGA

   Kết quả các cuộc đàm phán cấp cao nhất giữa Mỹ và Nga trong chuyến thăm Nga của Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma không đáp ứng với trông đợi của dư luận quốc tế: “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga như ông B.Ô-ba-ma đã từng tuyên bố. Câu hỏi được đặt ra: do đâu mà quan hệ giữa hai cường quốc cho đến thời điểm này vẫn chưa có sự đột phá?

   Hai dự báo khác nhau

   Trước ngưỡng cửa chuyến thăm Nga của Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma, dư luận quốc tế đưa ra hai dự báo khác nhau về kết quả chuyến thăm nhằm “khởi động lại” quan hệ của hai cường quốc hàng đầu thế giới đang đứng trước nguy cơ tái hồi “chiến tranh lạnh”.

   Một số chuyên gia phân tích chính trị quốc tế có quan điểm thận trọng cho rằng, chuyến thăm Nga lần này của Tổng thống B.Ô-ba-ma khó có thể tạo ra sự đột phá trong quan hệ Mỹ - Nga. Nhiều người trong số họ không thật tin tưởng vào kết quả cao mà hai bên có thể đạt được thoả thuận trong các vấn đề quá phức tạp như cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược, mở rộng NATO, hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu, tiến trình “dân chủ hoá” trong không gian hậu Xô-viết v.v.

   Dự báo thứ hai có vẻ lạc quan hơn, cho rằng chuyến thăm Nga lần này có thể tạo ra “một trang mới” trong quan hệ Mỹ - Nga.

   Dẫu sao, cuộc đối thoại giữa hai nguyên thủ quốc gia Mỹ và Nga lần này chỉ có thể được đánh giá là có kết quả tốt nếu Mỹ sẵn sàng đạt được thoả thuận với Nga về vấn đề cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược đồng thời với việc hai bên đạt được các thoả thuận về hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu. Rất có thể, việc Mỹ ngừng triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu sẽ được đáp lại bằng việc Nga cho phép Mỹ vận chuyển hàng quá cảnh qua lãnh thổ Nga sang chiến trường Ap-ga-ni-xan.

   Nhiều chuyên gia phân tích chính trị quốc tế không thật tin vào kịch bản này và cho rằng Mỹ khó có thể từ bỏ kế hoạch bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu. Còn về Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược, hai Tổng thống sẽ chỉ ký tên vào một văn kiện chính trị, chứ chưa phải là hiệp ước có tính pháp lý.

   Nội dung đàm phán Mỹ - Nga

   Trong các cuộc đàm phán giữa Tổng thống B.Ô-ba-ma và Tổng thống Đ.Met-vê-đép, hai bên vẫn còn nhiều khác biệt trong nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến lợi ích chiến lược của Mỹ và Nga.

   Về hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu: Quan điểm của Nga là Mỹ phải từ bỏ kế hoạch bố trí hệ thống đánh chặn tên lửa ở Đông Âu. Đổi lại, Nga sẽ cho phép Mỹ sử dụng các đài ra-đa bố trí trên lãnh thổ Nga và ở Ga-ba-la của A-dec-bai-dan.

   Phía Mỹ cho rằng, việc Nga cho phép sử dụng các đài ra-đa chỉ là thành phần bổ sung cho hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu của Mỹ. Oa-sinh-tơn chỉ sẵn sàng từ bỏ kế hoạch lá chắn tên lửa ở Đông Âu nếu không còn nguy cơ tên lửa từ phía I-ran. Tổng thống B.Ô-ba-ma khẳng định, hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu nhằm chống lại nguy cơ bị tiến công tên lửa từ I-ran, CHDCND Triều Tiên, hoặc từ quốc gia nào đó chứ không phải từ Nga. Vả lại, hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu không có khả năng chống lại tiềm lực hạt nhân quá mạnh như của Nga. Mỹ và Nga đều bác bỏ khả năng Nga gây áp lực đối với I-ran để đổi lấy việc Mỹ từ bỏ kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu.

   Về chương trình hạt nhân của I-ran: Nga không coi chương trình hạt nhân của I-ran là nguy cơ và không thấy cần thiết phải áp dụng lệnh cấm vận đối với I-ran. Nga ủng hộ các thanh sát viên của IAEA có mặt ở I-ran. Nga không nghi ngờ kết quả bầu cử tổng thống vừa qua ở I-ran.
 
   Còn Mỹ coi chương trình hạt nhân của I-ran là một trong những nguy cơ chủ yếu. Mỹ nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc bầu cử vừa qua; không chủ trương tiếp xúc trực tiếp với I-ran như Nga vẫn làm.
 
   Về Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược. Nga muốn gắn việc ký kết Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược với kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu. Mỹ chủ trương quyết tâm ký kết Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược mà không liên quan gì tới hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu.

   Về chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên. Nga giữ quan điểm dè chừng, coi việc CHDCND Triều Tiên thử tên lửa là nguy cơ, nhưng vẫn có các cuộc tiếp xúc trực tiếp tới CHDCND Triều Tiên. Mỹ có quan điểm cứng rắn và kiên quyết đối với CHDCND Triều Tiên và sẽ không thiết lập quan hệ ngoại giao với CHDCND Triều Tiên.

   Về việc mở rộng NATO. Nga kiên quyết phản đối việc mở rộng NATO. Còn Tổng thống B.Ô-ba-ma không xem xét lại chủ trương của Tổng thống Bu-sơ ủng hộ Gru-di-a và U-crai-na gia nhập NATO.

   Về cuộc xung đột ở Cap-ca. Nga khẳng định Gru-di-a là kẻ gây ra xung đột; công nhận chủ quyền của Ap-kha-di-a và Ô-xê-ti-a. Mỹ coi Nga là xâm lược mặc dù gần đây không có bằng chứng trực tiếp cáo buộc Nga; Mỹ coi Ap-kha-di-a và Ô-xê-ti-a là lãnh thổ của Gru-di-a.

   Về ảnh hưởng trong không gian hậu Xô-viết. Nga coi không gian hậu Xô-viết là khu vực lợi ích của Nga, còn Mỹ tiếp tục tăng cường ảnh hưởng ở khu vực này.

   Chưa có sự đột phá trong quan hệ Mỹ - Nga

   Mặc dù các cuộc đàm phán Mỹ - Nga diễn ra trong không khí nhìn chung là “thân thiện, cởi mở, chân thành” như nhận xét của Tổng thống Đ.Met-vê-đép, nhưng điều kiện do hai bên đưa ra có quá nhiều sự khác biệt.

   Trong khi Tổng thống B.Ô-ba-ma đưa ra chương trình nghị sự mang tính ràng buộc lẫn nhau như vấn đề Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược, Ap-ga-ni-xtan và I-ran mà trong đó Nga đóng vai trò vừa là đồng minh vừa là then chốt, thì Nga buộc phải từ chối một số đề nghị khác.

   Tổng thống Đ.Met-vê-đép tập trung nỗ lực tối đa để giải quyết các mâu thuẫn liên quan tới hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu và việc mở rộng NATO bằng cách đưa ra nhiều đề nghị nhân nhượng trong các vấn đề quan trọng khác đối với Mỹ để đổi lại việc Mỹ phải tính đến lợi ích của Nga.

   Sau cuộc hội đàm, Tổng thống Mỹ và Nga đã đặt bút ký vào một số văn kiện thoả thuận song phương liên quan tới Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược, hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu và vấn đề Ap-ga-ni-xtan.

   Văn kiện mang tựa đề “Nhận thức chung về vấn đề tiếp tục cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược” có nội dung ghi nhận, Nga và Mỹ sẽ cắt giảm số đầu đạn hạt nhân xuống tới mức 1500-1675 đầu đạn và cắt giảm phương tiện mang xuống còn 500-1100 sau 7 năm kể từ khi Hiệp ước mới có hiệu lực. Hiệp ước mới về vũ khí tiến công chiến lược có tính ràng buộc về pháp lý sẽ được ký kết trong thời gian tới và những con số cụ thể ấn định ngưỡng quy định trong Hiệp ước sẽ được thoả thuận trong các cuộc đàm phán trong thời gian tới. Tổng thống hai nước giao cho các chuyên gia hoàn thiện nội dung của Hiệp ước để có thể ký kết là trình Quốc hội hai nước phê chuẩn.

   Hai Tổng thống đã ký Hiệp ước liên chỉnh phủ về việc vận chuyển vũ khí trang bị, hàng hoá quân dụng và nhân lực đi qua lãnh thổ Nga liên quan đến hoạt động của các lực lượng vũ trang Mỹ tham gia chiến dịch bảo đảm an ninh, ổn định tình hình và tái thiết ở Ap-ga-ni-xtan. Tổng thống B.Ô-ba-ma và Tổng thống Đ.Met-vê-đép còn ký văn kiện khung về sự phát triển quan hệ hợp tác giữa quân đội Mỹ và Nga. Hai bên đã ký biên bản về kế hoạch làm việc nhằm thực hiện sự hợp tác giữa quân đội hai nước trong năm 2009.

   Kết thúc các cuộc đàm phán, hai bên đưa ra tuyên bố chung về hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu và về sự hợp tác Mỹ - Nga trong lĩnh vực hạt nhân. Tổng thống hai nước giao cho các chuyên gia nghiên cứu, đánh giá các thách thức tên lửa đường đạn trong thế kỷ XXI và chuẩn bị các kiến nghị thích hợp trong việc sử dụng các giải pháp ngoại giao và chính trị. Đồng thời, các chuyên gia sẽ tiến hành phân tích tổng hợp tất cả các phương tiện sẵn có để hai bên có thể hợp tác trong việc quản lý tiến trình phát triển các chương trình tên lửa trên thế giới. Hai bên nhất trí thành lập Uỷ ban của các Tổng thống Mỹ và Nga phụ trách về phát triển hợp tác. Đây là cơ chế mới nhằm phối hợp hoạt động hợp tác song phương, thay thế Ủy ban Go-Chec-nô-mư-đưn trước đây.

   Nhìn chung, các cuộc đàm phán cấp cao nhất giữa Mỹ và Nga lần này, khác với trông đợi của dư luận quốc tế, chưa tạo ra sự đột phá trong chủ trương “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga mà Tổng thống B.Ô-ba-ma đã từng tuyên bố.

   Do đâu chưa có đột phá trong quan hệ Mỹ - Nga?

   Rõ ràng, chuyến thăm của Tổng thống B.Ô-ba-ma và các cuộc đàm phán dù “cởi mở, thẳng thắn và chân thành” đến mấy cũng chưa thể làm ấm lại quan hệ Mỹ - Nga vốn đã rất nguội lạnh trong những năm qua.
 
   Trước khi lên đường sang Nga, Tổng thống B.Ô-ba-ma đã từng nhận xét, lãnh đạo cao cấp ở Nga vẫn còn “một chân trong quá khứ, một chân đặt ở tương lai”. Còn Thủ tướng Nga V.Pu-tin thì cho rằng, Mỹ và Phương Tây vẫn tiếp tục tư duy theo lối “khối này, khối nọ” như trong thời “chiến tranh lạnh”. Rõ ràng, quan hệ Mỹ - Nga ấm hay lạnh không xuất phát từ quan hệ cá nhân các Tổng thống của hai nước. Không phải ở Mỹ hay ở Nga thay đổi Tổng thống, thì quan hệ giữa hai nước sẽ thay đổi.

   Trong con mắt của người Nga, Mỹ vẫn ôm ấp mộng bá chủ thế giới, bằng mọi cách ngăn cản và thu hẹp ảnh hưởng của Nga tại các khu vực khác nhau trên thế giới. Còn quá trình phục hưng và mạnh lên của Nga trong con mắt của phương Tây bị coi là sự hồi sinh tham vọng của “đế chế Nga”.

   Trong bối cảnh thiếu tin cậy và xung đột lợi ích như thế, thì bằng một chuyến thăm Nga của Tổng thống B.Ô-ba-ma liệu có thể “mở ra một chương mới” trong quan hệ giữa hai nước? Trong các cuộc đàm phán vừa qua, nước Nga tỏ ra nhân nhượng Mỹ nhiều hơn. Nhân nhượng nhiều nhất là Nga sẵn sàng tạo mọi điều kiện để Tổng thống B.Ô-ba-ma thực hiện trọng tâm chiến lược bình ổn ở Ap-ga-ni-xtan. Đó cũng là điều dễ hiểu. Đối với Mỹ, chỉ có thể đạt được sự nhân nhượng ở họ một khi nước Nga đủ mạnh. Lúc này, nước Nga chưa có được vị thế như vậy, mặc dù nước Mỹ cũng đang sa lầy cả trong chính sách đối nội và đối ngoại./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #53 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:24:21 pm »

ĐỐI THOẠI CHIẾN LƯỢC VÀ KINH TẾ MỸ - TRUNG LIỆU CÓ TRỞ THÀNH DIỄN ĐÀN G2?

   Đối thoại chiến lược Mỹ - Trung được khởi động từ năm 2006, trải qua 6 lần tiến hành đối thoại chiến lược và 5 lần đối thoại chiến lược kinh tế, nhưng phải đến cuộc đối thoại lần này mới có sự khác biệt. Khác biệt không chỉ bởi lần đầu tiên Mỹ và Trung Quốc tiến hành đối thoại kết hợp chiến lược và kinh tế mà cuộc đối thoại lần này được đích thân Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma trực tiếp chỉ đạo. Thêm vào đó, vị trí của hai nước giờ đây cũng có sự đổi khác. Nếu những cuộc gặp trước, Mỹ luôn giữ vị trí của một nền kinh tế hùng mạnh thì lần này, cuộc khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ đã khiến Mỹ sa sút, kéo theo tình hình kinh tế thế giới suy thoái nghiêm trọng và cuộc khủng hoảng này còn chưa thấy đáy. Ngược lại, Trung Quốc giờ đây đã thay thế Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới với tiềm lực quân sự và chính trị to lớn.

   Tại lễ khai mạc cuộc đối thoại, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đã tới đọc diễn văn với tuyên bố thu hút sự chú ý, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hợp tác giữa Mỹ - Trung Quốc và mối quan hệ này “sẽ định hướng cho thế giới trong thế kỷ 21”. Còn Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào, trong thông điệp gửi tới phiên khai mạc đã kêu gọi hai nước thu hẹp các bất đồng, tăng cường tin tưởng và hợp tác, cùng gánh vác trách nhiệm đối với một loạt các vấn đề lớn liên quan đến hòa bình và phát triển của thế giới. Ý kiến chỉ đạo của nguyên thủ quốc gia hai nước Mỹ và Trung Quốc, cũng như nhiều lời đồn thổi trong thời gian gần đây đã khiến dư luận đặt dấu hỏi, liệu Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung lần thứ nhất diễn ra trong hai ngày, 27-7 và 28-7-2009 tại Mỹ có trở thành diễn đàn G2 và mang ý nghĩa đối với thế giới như G8, hay G20?

   Mục đích của cuộc đối thoại lần này, theo Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma là giúp hai bên giải quyết hậu quả cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, cải cách hệ thống tài chính quốc tế, duy trì sự ổn định tài chính toàn cầu, cùng giải quyết các vấn đề phát triển, đối thoại tích cực về năng lượng sạch; đạt mức tăng trưởng kinh tế cân bằng, không chỉ mang lại lợi ích cho Mỹ và Trung Quốc, mà còn cho cả thế giới. Còn với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, cuộc đối thoại lần này sẽ giúp hai nước tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, mở rộng trao đổi và hợp tác song phương, xây dựng mối quan hệ hợp tác toàn diện, tích cực giữa Trung Quốc và Mỹ. Có thể thấy, tăng cường tin cậy chiến lược lẫn nhau là các vấn đề quan trọng hàng đầu của cuộc đối thoại Trung - Mỹ lần này. Hai quốc gia sẽ thực hiện ngay các chương trình đã thỏa thuận sau cuộc đối thoại và chuẩn bị các chủ đề cho cuộc đối thoại năm 2010.

   Nội dung bàn thảo trong cuộc đối thoại chiến lược - kinh tế lần này rất rộng, hàm chứa một loạt vấn đề như các biện pháp giúp Mỹ và Trung Quốc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, triển vọng quan hệ Trung - Mỹ, nhiều vấn đề quốc tế và khu vực mang tính toàn cầu; chống chủ nghĩa khủng bố, kiểm soát vũ khí, trong đó có vấn đề hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên và I-ran. Tham vọng thì nhiều, nhưng kết quả thực tế khá khiêm tốn. Ngoài việc hai bên ký kết Bản ghi nhớ thỏa thuận hợp tác song phương trong các lĩnh vực năng lượng, biến đổi khí hậu và môi trường thì I-ran là vấn đề thứ hai đạt được sự đồng thuận giữa hai nước.

   Với Bản ghi nhớ thỏa thuận hợp tác song phương, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc đánh giá, đây là một kết quả quan trọng của vòng đối thoại. Còn Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ri Clin-tơn nhận xét, bản ghi nhớ này đã đưa ra định hướng cho Mỹ và Trung Quốc cùng nhau hợp tác nhằm ủng hộ các cuộc đàm phán về khí hậu toàn cầu và đẩy nhanh việc chuyển sang nền kinh tế có lượng các-bon thấp. Hai bên đưa ra cam kết tăng cường hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong lĩnh vực kinh tế.

   Về vấn đề hạt nhân của I-ran, Mỹ và Trung nhất trí phản đối I-ran trở thành một nước có vũ khí hạt nhân. Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ri Clin-tơn cho biết, bà rất hài lòng khi Trung Quốc chia sẻ các mối lo ngại của Mỹ về việc I-ran trở thành một quốc gia có vũ khí hạt nhân. Cả hai nước đều quan ngại rằng, một I-ran có vũ khí hạt nhân, có thể thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang ở Trung Đông.

   Ngoài ra, Mỹ và Trung Quốc đã có các cuộc thảo luận chuyên sâu về cách thức đạt tiến bộ trong vấn đề phi hạt nhân hoá trên bán đảo Triều Tiên. Mỹ và Trung Quốc đồng ý hợp tác cùng nhau để chuẩn bị cho cuộc hội nghị quốc tế trong năm 2010 nhằm đánh giá lại Hiệp ước Không phổ biến hạt nhân - một chủ đề được Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đặc biệt quan tâm trong chủ trương tiến tới một thế giới không có vũ khí hạt nhân như ông đã từng tuyên bố.

   Còn vấn đề Mỹ muốn Trung Quốc giúp một tay trong việc thực hiện dự án cải tổ hệ thống y tế rất tốn kém và mua nợ xấu của các ngân hàng; muốn thống nhất với Trung Quốc một mô hình quan hệ kinh tế mới; muốn tỷ giá đồng Nhân dân tệ tăng, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc giảm xuống để thị trường Mỹ có thêm nhiều cơ hội việc làm mới thì vẫn còn bỏ ngỏ. Trung Quốc giờ đây không chỉ là chủ nợ lớn nhất của Mỹ với việc sở hữu 801 tỉ USD trái phiếu kho bạc Mỹ mà Bắc Kinh còn được mệnh danh là “công xưởng thế giới”. Mỹ không thể chấp nhận mãi vị thế thị trường tiêu thụ hàng hoá từ “các công xưởng” của Trung Quốc để làm giàu cho Trung Quốc. Từ lâu, Mỹ đã muốn cân bằng cán cân thương mại và muốn Trung Quốc thả nổi đồng nhân dân tệ để tạo thế cạnh tranh công bằng hơn. Những cuộc đối thoại trước đây về chủ đề này rơi vào bế tắc. Còn lần này, với bối cảnh suy giảm kinh tế, việc làm trở nên ít ỏi, Trung Quốc càng không thể thả nổi đồng Nhân dân tệ, xóa bỏ bảo hộ, để mất hàng triệu việc làm của công nhân đang làm trong các lĩnh vực xuất khẩu.

   Mặc dù vậy, các chuyên gia Trung Quốc lại nhận định, sự phát triển của kinh tế Trung Quốc không chỉ phụ thuộc vào việc kích thích những nhu cầu tại thị trường nội địa mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bao gồm cả nhân tố phục hồi của thị trường tiêu thụ Mỹ. Phải chăng, trong khuôn khổ một cuộc đối thoại trong bối cảnh hai bên còn có nhiều cách biệt về quan điểm ở nhiều vấn đề, thì kết quả đạt được là rất quan trọng?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #54 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:27:03 pm »

   Đề xuất về G2 hay liên minh chiến lược Mỹ - Trung?

   Ý tưởng hình thành G2 gồm Mỹ và Trung Quốc được đưa ra trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm tiêu tan niềm tin không chỉ đối với nền tảng chính sách đối ngoại mà cả đối với các mô hình kinh tế của phương Tây. Hơn thế, trong bối cảnh quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia trong khu vực đang cải thiện như quan hệ Mỹ - Ấn Độ với thoả thuận về mua bán vũ khí, quan hệ Mỹ - ASEAN mà tiến triển gần đây nhất là Mỹ đã tham gia Hiệp ước Đối tác và thân thiện với ASEAN, quan hệ Mỹ - Nga đang được “tái khởi động”, thì Trung Quốc cũng cần quan hệ gắn bó hơn với Mỹ. Từ đây, dư luận quốc tế ngày càng quan tâm tới một trật tự thế giới đa cực không chỉ do đang hình thành các trung tâm chính trị có ảnh hưởng cạnh tranh với Mỹ mà cả các mô hình phát triển rất thành công. Thế giới đa cực này tạo ra cơ hội nhưng cũng không ít nguy cơ. Toàn cầu hoá thế giới đã dẫn tới quá trình toàn cầu hoá những vấn đề mà hôm nay không một quốc gia đơn lẻ nào có thể giải quyết được nếu thiếu sự hợp tác của tất cả các quốc gia và các lực lượng có ảnh hưởng. Trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng đó, Mỹ từ chỗ là “kiến trúc sư” và là “người thi công” trật tự thế giới đơn cực, sẽ bắt đầu bắt tay với ai để chia sẻ trách nhiệm “lãnh đạo” thế giới?

   Gần đây, hai “giáo trưởng” về tư duy đối ngoại của Mỹ là ông Zbi-nev Bre-din-xki và Hen-ry Kít-xinh-gơ, đã đề xuất cho Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma các ý tưởng thay đổi chính sách đối ngoại hay thực chất là tư duy mới về chính sách đối ngoại. Quan điểm của hai ông không toàn toàn trùng hợp nhau nhưng lại có chung một điểm tương đồng.

   Ông Zbi-nev Bre-din-xki trong những năm 1977-1981 là cố vấn của Tổng thống Mỹ Ca-xtơ về an ninh quốc gia, hiện nay là cố vấn của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma về chính sách đối ngoại, trong bài báo mang tựa đề “Nhóm hai nước có thể thay đổi thế giới”, đăng trên Báo “Financial Times” số ra ngày 13-01-2009, đưa ra chỉ định xây dựng liên minh Mỹ - Trung Quốc, hoặc chí ít là thiết lập sự hợp tác rất chặt chẽ giữa hai siêu cường hàng đầu thế giới này. Theo ông Zbi-nev Bre-din-xki, một khi hợp tác gần và chặt chẽ với Trung Quốc, Mỹ có thể giải quyết được nhiều vấn đề quốc tế nan giải. Ví như, Trung Quốc sẽ giúp Mỹ giải quyết vấn đề hạt nhân của Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, giúp Mỹ khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tham gia với Mỹ đối thoại với I-ran, hay đóng vai trò trung gian hoà giải cuộc xung đột Ấn Độ - Pa-ki-xtan và tham gia giải quyết vấn đề Trung Đông. Mỹ nên mời Trung Quốc tham gia cùng với Mỹ giải quyết vấn đề thay đổi khí hậu, thành lập các lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc để hoạt động trên lãnh thổ các nước bất ổn, củng cố chế độ kiểm soát không phổ biến vũ khí hạt nhân bằng cách khuyến khích các quốc gia không sở hữu vũ khí hạt nhân. Ông Zbi-nev Bre-din-xki đề nghị Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma thành lập Nhóm G2, gồm Mỹ và Trung Quốc, giống như cơ chế đối thoại giữa EU và Nhật Bản. Ngoài ra, Zbi-nev Bre-din-xki cũng đề nghị mở rộng G8 thành G14 hoặc G16, bằng cách kết nạp thêm các quốc gia có ảnh hưởng khác.

   Còn Hen-ry Kít-xinh-gơ trong những năm 1973-1977 là Ngoại trưởng Mỹ dưới thời Tổng thống Ri-xác Ních-xơn và Giê-mi Ca-xtơ, kiến trúc sư trưởng trong chính sách kết thân của Mỹ với Trung Quốc những năm 1970, đã đưa ra cách giải quyết tình hình trong bài báo mang tựa đề “Thế giới cần phải xây dựng trật tự mới, hoặc sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn”, đăng trên báo “The Independent”, số ra ngày 20-01-2009. Theo Hen-ry Kít-xinh-gơ, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu không chỉ làm tiêu tan niềm tin của thế giới vào các “đơn thuốc” mà Mỹ vẫn thường “kê đơn” cho các nước khác, mà bản thân các nước này cũng không tin vào đề án xây dựng hệ thống kinh tế toàn cầu thì trong tình hình đó, Mỹ cần hành động khiêm nhường hơn. Sự khiêm nhường này không chỉ củng cố ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới, nơi mà mỗi một quốc gia sẽ phải tự mình đánh giá vai trò và khả năng của họ trong thời kỳ khủng hoảng, mà còn giúp mỗi nước hiểu được rằng, để giải quyết vấn đề này chỉ có thể bằng cách thông qua sự nỗ lực phối hợp. Làm được như thế, Mỹ làm cho các nước nhận thấy họ là một phần của thế giới đang làm theo “đơn thuốc” của Mỹ.

   Theo Hen-ry Kít-xinh-gơ, vai trò mới của Mỹ là tác động để biến những mối lo ngại chung của đa số các quốc gia về cách thức thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố thành một chiến lược chung của cả thế giới. Trong tình hình đó, Hen-ry Kít-xinh-gơ đề nghị Mỹ chọn Trung Quốc làm chủ thể quan trọng nhất mà Mỹ cần thực hiện sự thỏa hiệp có tính lịch sử để đưa quan hệ Mỹ - Trung Quốc phát triển lên một tầm cao mới. Theo Hen-ry Kít-xinh-gơ, trật tự thế giới trong tương lai phụ thuộc vào tính chất tương tác giữa Mỹ và Trung Quốc. Một khi bị thất vọng với Mỹ, Trung Quốc có thể ưu tiên hơn cho các cơ chế khu vực như ASEAN+3. Ngoài ra, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ngày càng mạnh ở Mỹ sẽ biến Trung Quốc thành một đối thủ cạnh tranh muốn phân chia thế giới thành các nhóm khu vực và rút cuộc, sẽ kéo theo những hậu quả nguy hiểm đối với Mỹ. Hen-ry Kít-xinh-gơ đề nghị các nguyên thủ quốc gia mới ở Mỹ nên xây dựng quan hệ với Trung Quốc trên cơ sở “sự cảm nhận về số phận chung”, có nghĩa là giống như quan hệ hợp tác xuyên Đại Tây dương sau chiến tranh thế giới thứ hai.

   Như vậy, sáng kiến của Zbi-nev Bre-din-xki và Hen-ry Kít-xinh-gơ đều cho rằng, tương lai của thế giới chỉ có thể ổn định một khi Mỹ và Trung Quốc gác lại mâu thuẫn và thiết lập sự hợp tác có tính xây dựng. Bởi cả hai đều công nhận chính sách đối ngoại của Mỹ trước đây đã thất bại và cần thay đổi; công nhận vai trò ngày càng tăng của các mô hình phát triển khác, trong đó có mô hình Trung Quốc; và công nhận vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc trong nền chính trị thế giới, một quốc gia hiện đang vững tin sẽ vượt qua khủng hoảng kinh tế sớm hơn các nước khác.

   Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung có thể trở thành Diễn đàn G2?

   Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma gọi cuộc đối thoại này là mở ra “kỷ nguyên mới” trong quan hệ giữa hai nước và định hình thế giới trong thế kỷ 21. Một số chuyên gia Trung Quốc cho rằng, xét về tầm vóc, cuộc đối thoại lần này có thể gọi là Diễn đàn G2 vì mấy lý do:

   Một là, những vấn đề được đưa ra bàn thảo có ảnh hưởng đến sự định hình nền kinh tế và chính trị toàn cầu trong thập niên tới. Hai là, về kinh tế, Mỹ chiếm vị trí số 1 thế giới; Trung Quốc thay thế Nhật Bản ở vị trí số 2. Trung Quốc đang đại diện cho mô hình kinh tế chuyển đổi khá thành công, còn Mỹ đại diện cho mô hình kinh tế thị trường. Hiện hai mô hình này đang cạnh tranh phát triển. Ba là, xét về sức mạnh quân sự, Mỹ là cường quốc quân sự hàng đầu thế giới; Trung Quốc đang đuổi kịp Mỹ trong nhiều lĩnh vực. Bốn là, về chính trị, cả hai đều có ảnh hưởng lớn tới các quan hệ quốc tế. Do đó, quan hệ Mỹ - Trung Quốc là mối quan hệ quan trọng nhất trên thế giới.

   Nhiều chuyên gia kinh tế ở Trung Quốc cho rằng, từ G20, Trung Quốc và Mỹ có thể cùng nhau hình thành Nhóm G2. Theo họ, Mỹ và Trung Quốc có thể giúp thế giới thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế, vì thế, diễn đàn G20 được tổ chức vào ngày 2-4-2009 cũng gần như là diễn đàn G2. Ở Trung Quốc, giới nghiên cứu, giảng viên các trường đại học, cũng như dân chúng nói nhiều về G2 hơn là G20. Người Trung Quốc tin rằng, Trung Quốc tự mình và sẽ giúp Mỹ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế. Lập luận của họ dựa trên mấy luận cứ sau. Một là, trong số các nước lớn, chỉ có Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng kinh tế ở mức 6,9% theo dự báo của Ngân hàng Thế giới, mặc dù Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn mức 8%. Nhưng ngay cả mức tăng trưởng 6,5% cũng đã là tốt, bởi GDP của Nga sẽ giảm 2,2%, còn GDP của các nước châu Âu và Mỹ sẽ sút giảm mạnh hơn nữa. Hai là, trong những năm qua, Trung Quốc đã tích trữ được nguồn ngoại tệ trên 2 nghìn tỉ USD, trong khi dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản ít hơn của Trung Quốc hơn 2 lần. Ba là, Mỹ là thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ lớn nhất thế giới, còn Trung Quốc là “công xưởng của thế giới” - nơi sản xuất ra khối lựơng hàng tiêu dùng lớn nhất thế giới. Vì thế, theo các chuyên gia phân tích Trung Quốc, hai nước Mỹ và Trung Quốc hình thành “một cặp lý tưởng”. Tính lý tưởng này liên quan trước hết tới quan hệ Mỹ - Trung: Mỹ cần có tiền để mua các “nợ xấu” của các ngân hàng và các hãng, còn Trung Quốc mua trái phiếu chính phủ của Mỹ để Oa-sinh-tơn có tiền trang trải. Khi đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, Mỹ sẽ tiếp tục mua nhiều hàng của Trung Quốc và do đó sẽ góp phần tạo ra sự tăng trưởng mới cho nền kinh tế Trung Quốc.

   Tuy nhiên, nhiều chuyên gia phân tích khác trên thế giới tỏ ra nghi ngờ hiệu lực của Diễn đàn G2 Mỹ - Trung. Theo ông Vla-đi-mia Pô-chia-cốp, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và dự báo quan hệ Nga - Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga, cả Mỹ và Trung Quốc cộng lại chiếm 20% GDP toàn cầu. Tuy lớn, nhưng 20% không thể giải quyết được các vấn đề của 100%. Còn theo ông Ru-xlan Grin-béc, Giám đốc Viện Nghiên cứu kinh tế thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga, với khối lượng ngoại tệ dữ trữ trên 2 nghìn tỉ USD, Trung Quốc rất quan tâm tới sự ổn định đồng USD và cả nền kinh tế Mỹ, chứ không phải là toàn bộ nền kinh tế thế giới. Vậy nên, đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung trước hết và chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề của Trung Quốc và Mỹ, chứ không thể là diễn đàn G2 được. Thêm nữa, quan hệ Mỹ - Trung càng không thể là quan hệ liên minh để có thể “định hình thế giới trong thế kỷ 21”. Bởi, nội dung và tính chất của cuộc đối thoại này chỉ phản ánh tư duy của Mỹ về trật tự thế giới mới như Ngoại trưởng Hi-la-ri Clin-tơn tuyên bố: “Tư duy mới về thế kỷ 21 sẽ đưa chúng ta từ một thế giới đa cực tới một thế giới đa đối tác”. Nước Mỹ đã nhìn nhận thế giới một cách “khiêm nhường” hơn sau hơn một thập niên bất thành và mất uy tín trong vai trò “lãnh đạo” thế giới với cách tiếp cận được coi là khá ngạo mạn./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #55 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:32:02 pm »

“NHIỆM KỲ THỨ NHẤT” CỦA TỔNG THỐNG B.Ô-BA-MA HAY “NHIỆM KỲ THỨ BA” CỦA TỔNG THỐNG G.BU-SƠ?

   Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Tổng thống không có quyền nhậm chức quá hai nhiệm kỳ nên dù có được tín nhiệm, ông G.Bu-sơ cũng không thể tiếp tục nhiệm kỳ thứ ba. Và ngày 20-1-2009, Tổng thống G.Bu-sơ đã chính thức chuyển giao lại quyền điều hành nước Mỹ cho Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma.

   Tính từ đó đến nay, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đã nhậm chức được hơn 200 ngày kể từ thời điểm ông đọc lời tuyên thệ với lời hứa hẹn sẽ cải thiện đáng kể hình ảnh của nước Mỹ trước thế giới để bước vào Nhà Trắng (20-1-2009). Đây là khoảng thời gian chưa đủ dài để có thể nhận thấy được sự chuyển biến lớn trong chủ trương “thay đổi nước Mỹ và thế giới” mà Thượng nghị sĩ Ba-rắc Ô-ba-ma đã từng đưa ra trong cuộc chạy đua ma-ra-tông vào chiếc ghế Tổng thống Mỹ. Khẩu hiệu “Thay đổi” (“The Change”) mà ứng cử viên Ba-rắc Ô-ba-ma đưa ra trong chiến dịch tranh cử như có ma lực thu hút sự ủng hộ của các cử tri Mỹ trong bối cảnh nước Mỹ sa lầy trong hai cuộc chiến tranh dang dở, bị mất uy tín trước bạn bè và đồng minh, mất thể diện trước cộng đồng thế giới bởi nhiều vụ tai tiếng, và cuối cùng là bị lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng nhất, kể từ cuộc đại suy thoái những năm 1930. Theo kết quả điều tra của hãng thông tấn Mỹ CNN, uy tín của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma trước các cử tri Mỹ lên tới con số kỷ lục 67% vào ngày ông tuyên thệ nhậm chức. Nhưng, theo kết quả điều tra dư luận của hãng thông tấn Rasmussen Reports công bố ngày 13-8-2009, sau hơn 200 ngày cầm quyền, uy tín của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma giảm xuống còn 47%. Trong đó, số người hoàn toàn ủng hộ ông chỉ còn lại là 29%, còn số người kịch liệt phản đối chiếm 37% số người được hỏi. Có tới 77% người của Đảng Cộng hoà phản đối chính sách của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma.

   Do đâu uy tín của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma giảm mạnh đến thế?

   Theo đánh giá của chính giới phân tích ở Mỹ, câu trả lời là do sự bất lực hoặc thất bại của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma trong một số lĩnh vực chủ yếu của chính sách đối ngoại mà chính người tiền nhiệm đã từng “lực bất tòng tâm”. Hơn 200 ngày cầm quyền vừa qua, những gì mà Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma chủ trương “thay đổi nước Mỹ và thế giới” trong chính sách đối ngoại xem ra chỉ là vẻ bề ngoài, dừng lại ở những hứa hẹn và tuyên bố “đao to búa lớn”. Còn thực tế, chính sách đối với “các vấn đề nóng” hiện nay của ông chủ Nhà Trắng chẳng khác mấy so với trước. Chúng ta thử lần lượt điểm qua cách xử lý của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đối với một số “vấn đề nóng” sau hơn 200 ngày cầm quyền xem có gì “thay đổi” so với người tiền nhiệm.

   Vấn đề I-rắc. Nhớ lại chiến dịch tranh cử vào Thượng viện Mỹ năm 2004, ứng cử viên của Đảng Dân chủ Ba-rắc Ô-ba-ma có được ưu thế đặc biệt, giúp ông trở thành Thượng nghị sĩ. Đó là, ông đã từng là người kịch liệt phản đối mở cuộc chiến tranh I-rắc. Ưu thế này ghi nhiều điểm cho ông Ba-rắc Ô-ba-ma trong cuộc chạy đua vào Nhà Trăng năm 2008. Trong bối cảnh nước Mỹ đang chưa tìm ra lối thoát khỏi “vũng lầy”, mặc dù ứng cử viên Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma còn thiếu kinh nghiệm trong chính sách đối ngoại, nhưng các cử tri Mỹ tin rằng, với “trực quan chính trị nhạy bén thể hiện trong cuộc chiến tranh I-rắc”, ông sẽ giải quyết “ngon lành” các vấn đề an ninh quốc gia tốt hơn so với các “cây đa, cây đề” trên chính trường ở Oa-sinh-tơn. Nhưng hơn 200 ngày cầm quyền ở Nhà Trắng, việc mà Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đã làm là rút quân khỏi I-rắc theo lộ trình được cam kết trong một hiệp định song phương mà Tổng thống G.Bu-sơ và Tổng thống I-rắc ký kết vào tháng 11-2008. Theo đó, ngày 30-7-2009, Mỹ rút các đơn vị chiến đấu ra khỏi các thành phố của I-rắc và sẽ rút hết quân Mỹ khỏi nước này vào tháng 12-2011. Tình hình I-rắc hiện nay đang diễn ra theo hướng giống y như chuyện ông G.Bu-sơ đang ngồi ở Nhà Trắng vậy.

   Cuộc chiến chống khủng bố ở Áp-ga-ni-xtan. Trong chiến dịch tranh cử cuối năm 2008, ứng cử viên Ba-rắc Ô-ba-ma tuyên bố: “Chúng ta đã quên lãng Áp-ga-ni-xtan do quá bận tâm vào vấn đề I-rắc”. Ông Ba-rắc Ô-ba-ma khẳng định, Mỹ sẽ phải tăng quân số, bắt đầu chiến dịch chống khủng bố và chống nổi dậy. Trong tuần đầu tiên sau lễ nhậm chức, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đưa ra “chính sách mới” ở Áp-ga-ni-xtan nhưng trên thực tế, những gì được gọi là “mới” trong chính sách này của ông chỉ là thực hiện những sự điều chỉnh chiến lược chống khủng bố mà Tổng thống G.Bu-sơ đã từng đưa ra trước khi rời Nhà Trắng, như tăng quân số cho chiến trường Áp-ga-ni-xtan, gia tăng các hoạt động truy quét tàn quân Ta-li-ban trên lãnh thổ Pa-ki-xtan, v.v.. Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma có đề xuất hai điều, được một số người ở Oa-sinh-tơn coi là “mới”, đó là thuật ngữ “Afpak” và sự kết hợp “sức mạnh cứng” với “sức mạnh mềm”.

   Thuật ngữ “Afpak” có nghĩa là phải gắn vấn đề Áp-ga-ni-xtan (Af) với vấn đề Pa-ki-xtan (pak), được hiểu trên thực tế là dùng hệ thống máy bay không người lái và tên lửa tầm ngắn tiến công Ta-li-ban và An-kê-đa đang ẩn náu trên vùng biên giới giữa hai nước Áp-ga-ni-xtan và Pa-ki-xtan. Chiến lược này đã từng được Tổng thống G.Bu-sơ áp dụng trong vòng 6 tháng cuối nhiệm kỳ cầm quyền của ông và hiện nay đang được Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma tiếp tục áp dụng.

   Còn sách lược kết hợp “sức mạnh cứng” với “sức mạnh mềm” là “chuyện cũ xưa như Trái đất” của nước Mỹ, đã từng được các đời tổng thống Mỹ áp dụng và được thế giới gọi là chính sách “chiếc gậy và củ cà rốt”. Sách lược kết hợp “sức mạnh cứng” với “sức mạnh mềm” cũng đã từng được chính quyền dưới thời Tổng thống G.Bu-sơ áp dụng thành thạo “như làm xiếc” trong hai nhiệm kỳ cầm quyền của ông. Thí dụ, trong cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan (2001) và sau đó là cuộc chiến tranh I-rắc (2003), Mỹ đã dùng hàng trăm triệu USD mua chuộc một số tướng lĩnh và chỉ huy của Ta-li-an và quân đội của Sa-đam Hút-xen để họ đầu hàng quân Mỹ vào thời điểm quyết định của cuộc chiến. Nếu không dùng “sức mạnh mềm”, còn lâu các đội quân “cứng” được “trang bị đến tận chân răng” của Mỹ mới chiếm được Áp-ga-ni-xtan và I-rắc.

   Trong các cuộc “cách mạng sắc màu” ở Nam Tư sau cuộc chiến tranh Cô-xô-vô, ở Gru-di-a, U-crai-na và Cư-rơ-gi-xtan, Mỹ đã chi hàng trăm triệu USD cho các lực lượng đối lập tiến hành “cách mạng” để dựng lên chính quyền thân Mỹ. Ngoài ra, hiện nay, có hai nhân vật chủ chốt đang mẫn cán thực hiện chiến lược chiến tranh chống khủng bố là tướng Đa-vít Pê-trê-út, hiện giữ chức Tư lệnh Bộ chỉ huy trung tâm và ông Rô-béc Ghết, đương kim Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đều là người do Tổng thống G.Bu-sơ đích thân lựa chọn và bổ nhiệm, cũng là hai người trong chính phủ tiền nhiệm được Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma tin dùng để tiếp tục thực thi chiến lược của Tổng thống G.Bu-sơ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #56 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:34:35 pm »

   Vấn đề chương trình hạt nhân của I-ran. Cũng như người tiền nhiệm, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đã nhiều lần tuyên bố không thể chấp nhận chuyện I-ran sở hữu vũ khí hạt nhân. Nhưng xem ra, cũng như Tổng thống G.Bu-sơ trước đây, cả hai đều hiểu rằng họ có rất ít khả năng để hoá giải vấn đề này. Một mặt, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma tuyên bố sẽ tiến hành đàm phán với các nhà lãnh đạo I-ran mà “không cần bất kỳ điều kiện tiên quyết nào”; mặt khác, lại vừa chủ trương áp dụng “các biện pháp cấm vận mạnh tay hơn” đối với I-ran với sự hợp tác của Nga và Trung Quốc. Ông Ba-rắc Ô-ba-ma đã bổ nhiệm hai nhân vật thân I-xra-en và chống I-ran kịch liệt nhất vào những vị trí chủ chốt tại Bộ Tài chính và Bộ Ngoại giao. Đó là, ông Xti-uốt Le-vi (Stuart Levey) được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Tài chính, phụ trách tình báo tài chính và chống khủng bố; ông Đê-nít Rốt (Dennis Ross) được bổ nhiệm giữ chức cố vấn đặc biệt về Trung Đông và I-ran thuộc Bộ Ngoại giao. Cả hai nhân vật nối tiếng là hiếu chiến này đều ủng hộ hành động quân sự chống I-ran.

   Theo đuổi chính sách cứng rắn đối với I-ran, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đang đánh mất dần các cơ hội ngoại giao, kinh tế và chính trị, giúp ông củng cố lợi ích của Mỹ tại khu vực này. Vì thế, đến nay việc giải quyết vấn đề hạt nhân của I-ran chưa mở ra bất kỳ triển vọng nào được coi là sáng sủa mà vẫn chỉ là đi theo vết xe của người tiền nhiệm.

   Vấn đề hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Triều Tiên. Chính quyền của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma chưa có giải pháp gì cải thiện thêm các thỏa thuận về giải giáp vũ khí hạt nhân đã đạt được giữa chính quyền của Tổng thống G.Bu-sơ và chính phủ CHDCND Triều Tiên dựa trên cơ sở nhượng bộ lẫn nhau. Theo đó, Bình Nhưỡng đã đồng ý đưa ra lộ trình chấm dứt chương trình vũ khí hạt nhân của mình để đổi lấy viện trợ kinh tế và năng lượng từ Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nga. Bước đầu, CHDCND Triều Tiên đã thực hiện những thỏa thuận này nhưng vẫn chưa nhận được viện trợ kinh tế. Chính quyền của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma chưa có bất kỳ sáng kiến nào để thực hiện các chương trình viện trợ. Trái lại, để phản ứng trước vụ phóng thử tên lửa gần đây của CHDCND Triều Tiên, Mỹ và các nước đã có nhiều tuyên bố lên án và đưa ra các giải pháp trừng phạt khá cứng rắn đối với Bình Nhưỡng, đưa tình hình trên bán đảo Triều Tiên tới trạng thái căng thẳng chưa từng có trong những năm gần đây.

   Quan hệ Mỹ - Nga. Đến cuối nhiệm kỳ hai của Tổng thống G.Bu-sơ, quan hệ Mỹ - Nga trở nên băng giá, thậm chí đã có người nói tới khả năng tái hồi “chiến tranh lạnh”. Bước vào Nhà Trắng, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma tuyên bố sẽ “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga và ông đã làm việc đó trong chuyến thăm chính thức đầu tiên tới Nga vào ngày 6-7-2009. Nhưng những việc mà Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma làm vẫn chỉ là: yêu cầu Nga rút khỏi Nam Ô-xê-ti-a va Áp-kha-di-a; tiếp tục thực hiện Hiệp định đối tác chiến lược Mỹ - U-crai-na và Hiệp định đối tác chiến lược Mỹ - Gru-di-a, theo đó Mỹ tiếp tục ủng hộ hai quốc gia này gia nhập NATO; không công nhận các lợi ích chiến lược có ý nghĩa sống còn của Nga trong không gian hậu Xô-viết; tiếp tục kế hoạch triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu.

   Công bằng mà nói, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đã cùng Tổng thống Nga Đ.Met-vê-đép ký tuyên bố chung về Hiệp ước START mới, nhưng nội dung của nó không khác gì mấy so với Hiệp ước về tiềm năng vũ khí chiến lược đã từng được Tổng thống G.Bu-sơ và Tổng thống Nga V.Pu-tin thoả thuận năm 2003 và đã từng được hai bên đàm phán trong thời gian cầm quyền của Tổng thống G.W.Bu-sơ. Vậy là quan hệ Mỹ - Nga chưa được “tái khởi động”, thậm chí còn có phần căng thẳng hơn. Nhân đây, dư luận nhớ lại chuyện Ngoại trưởng Hi-la-ri Clin-tơn, trong khi gặp Ngoại trưởng Nga Xéc-gây La-vrốp đầu năm 2009 tại Hội nghị ngoại trưởng các nước NATO và Nga, có mang theo chiếc hộp dùng để kê giấy tờ trong văn phòng, trên đó có hình chiếc nút bấm có ghi dòng chữ “Perenagruxka” có nghĩa là điều chỉnh lại và chìa ra cho người đồng cấp Nga xem, mà lẽ ra phải là “Peregruzka” có nghĩa là “tái khởi động”. Không lẽ người Mỹ lại không thông thạo tiếng Nga tới mức nhầm lẫn đến thế, hay đây là “lời cảnh báo tế nhị” đối với Nga rằng, trong quan hệ Mỹ - Nga sẽ chẳng có sự “tái khởi động” nào hết.

   Quan hệ giữa Mỹ với châu Âu. Bề ngoài, các nước châu Âu có vẻ cảm tình với Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma hơn so với người tiền nhiệm G.Bu-sơ mà dân châu Âu gọi là “kẻ ngạo mạn” với các hành động đơn phương. Tuy nhiên, trong thực tế, quan hệ Mỹ - châu Âu chưa có gì thay đổi sau hơn 200 ngày cầm quyền của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma. Ngày 4-4-2009, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma tham dự Hội nghị NATO tại Xtra-buốc với mục đích tìm kiếm sự ủng hộ của đồng minh để mở rộng cuộc chiến chống khủng bố ở Áp-ga-ni-xtan. Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma thông báo chủ trương tăng cường triển khai quân trên 21.000 nghìn quân đến Áp-ga-ni-xtan và bổ sung 80 tỉ USD vào ngân sách 750 tỉ USD để trợ giúp tài chính cho cuộc chiến tại đây. Tại Hội nghị NATO lần này, các đề xuất của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đã bị từ chối. Các đồng minh chính của Mỹ trong NATO tuy đã đồng ý gửi thêm 5.000 quân, nhưng chỉ có tính chất “tượng trưng” vì họ sẽ không tham chiến.

   Bất đồng chủ yếu giữa Mỹ và các nước NATO ở châu Âu vẫn như trước. Đó là, các nước NATO đã không coi Áp-ga-ni-xtan là một khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với an ninh của châu Âu. Việc Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma không tìm kiếm được sự ủng hộ của NATO về việc mở rộng cuộc chiến đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ phải gánh vác toàn bộ chi phí của cuộc chiến tại Áp-ga-ni-xtan, và chịu sự lên án của toàn thế giới vì đã làm cho hàng nghìn dân thường bị thương vong và hàng triệu người phải chạy tị nạn.

   Quan hệ giữa Mỹ với các nước Mỹ La-tinh. Mặc dù Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma cũng tuyên bố sẽ cải thiện quan hệ giữa Mỹ với các nước Mỹ La-tinh, nhưng có vẻ bóng dáng của nước Mỹ dưới thời Tổng thống G.Bu-sơ vẫn còn in đậm trong tâm tưởng của các quốc gia khu vực này. Nếu trước đây, Vê-nê-xu-ê-la tuyên bố “sẽ sẵn sàng tiến hành cuộc chiến tranh 100 năm với Mỹ”, thì hiện nay dưới thời Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma, Tổng thống Hu-gô Cha-vét cho biết, Vê-nê-xu-ê-la vẫn bị Mỹ coi là “mục tiêu số 1” và để thực hiện mục tiêu này, Oa-sinh-tơn sẽ sử dụng các căn cứ quân sự tại Cô-lôm-bi-a và các căn cứ khác trên vùng biển Ca-ri-bê. Ngày 16-8-2009, phát biểu trên chương trình hằng tuần, Tổng thống Vê-nê-xu-ê-la Hu-gô Cha-vét cho biết, ông có được thông tin xác thực rằng, lệnh bắt cóc và cho đi lưu đày Tổng thống Hôn-đu-rát Ma-nu-en Dê-lây-a xuất phát từ căn cứ quân sự Pan-mê-rô-la của Mỹ tại nước này. Ngoài ra, do chưa giải quyết được xung đột về lợi ích nên Mỹ hiện không ký được bất kỳ hợp đồng kinh tế có lợi nào tại Hội nghị thượng đỉnh châu Mỹ trong tháng 4-2009. Oa-sinh-tơn vẫn bị cô lập trong việc bảo vệ chính sách của Mỹ đối với Cu-ba. Mỹ vẫn chưa dỡ bỏ cấm vận áp dụng gần 50 năm qua với Cu-ba.

   Chính sách của Mỹ đối với quan hệ I-xra-en và Pa-le-xtin. Chính sách của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma đối với quan hệ giữa I-xra-en và Pa-le-xtin là sự lặp lại “Giải pháp hai nhà nước” đã từng được Tổng thống G.Bu-sơ đề xuất, nhưng bị Chính phủ I-xra-en mới được bầu bác bỏ. Những người được Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma bổ nhiệm để đặc trách chính sách Trung Đông đều có quan hệ gắn bó với Ten A-víp và vì thế luôn ủng hộ hành động của I-xra-en phong tỏa Dải Ga-da do Chính phủ Ha-mát được bầu một cách dân chủ kiểm soát.

   Biểu hiện rõ nhất về sự bế tắc của chính quyền mới ở Mỹ trong vấn đề hoà bình Trung Đông là cuộc hội đàm với Thủ tướng I-xra-en Ben-gia-min Na-ta-ni-a-hu ngày 18-5-2009 tại Oa-sinh-tơn. Sau khi đưa ra giải pháp khu định cư “hai nhà nước I-xra-en và Pa-le-xtin”, một trong những mục tiêu lớn trong sách đối ngoại của Mỹ, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma thậm chí còn không nhận được cam kết miệng của nhà lãnh đạo I-xra-en. Sau bốn giờ đàm phán, Thủ tướng Ben-gia-min Na-ta-ni-a-hu đã bác bỏ đề nghị của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma xem xét lại thời hạn đàm phán ngoại giao với I-ran để đổi lấy việc thủ tướng I-xra-en chấp nhận “giải pháp hai nhà nước”.

   Vậy ra, hơn 200 ngày cầm quyền ở Nhà Trắng, trong một số vấn đề chủ chốt của chính sách đối ngoại, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma vẫn tiếp tục những gì người tiền nhiệm đang thực thi dang dở?!

   Với chủ trương “thay đổi nước Mỹ và thế giới”, dư luận thế giới hy vọng ông Ba-rắc Ô-ba-ma sẽ có nhiều đổi thay trong chính sách đối ngoại của Mỹ, nhưng sau hơn 200 ngày cầm quyền của Tổng thống thứ 44 của nước Mỹ, người ta có cảm nhận rằng, trong một số lĩnh vực chủ yếu của chính sách đối ngoại của Mỹ, dường như nhiệm kỳ đầu tiên của ông chỉ là sự kế tục nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống G.Bu-sơ, hay nói một cách ví von như tờ “National Interest” (Mỹ), số ra ngày 22-7-2009, hơn 200 ngày đầu cầm quyền của ông Ba-rắc Ô-ba-ma là “nhiệm kỳ thứ ba” của Tổng thống G.Bu-sơ. Điều này cũng dễ hiểu thôi, bởi dù ai cầm quyền ở Nhà Trắng, ông G.Bu-sơ hay ông Ba-rắc Ô-ba-ma cũng đều là Tổng thống Mỹ. Cho nên dù họ có năng lực cao hay thấp, diễn thuyết hùng biện hay có phần “lắp bắp”, phong cách lãnh đạo thế này thế khác, thì họ vẫn phải phục vụ các lợi ích tối thượng của Mỹ đã được xác định trong chiến lược toàn cầu. Lợi ích đó là bất di bất dịch. Cũng tương tự như vậy, những nước mà Mỹ có quan hệ, họ cũng luôn có những lợi ích bất biến và người đứng đầu nhà nước ở các quốc gia đó cũng phải hành động xuất phát từ lợi ích quốc gia của họ./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #57 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:39:29 pm »

“DI SẢN HÒA BÌNH” NGHÈO NÀN CỦA TỔNG THỐNG G.W. BUSƠ

   Ngày 19-9-2008, đại diện chính thức Bộ Ngoại giao CHDCND Triều Tiên đưa ra tuyên bố: “Chúng tôi sẽ đi theo con đường của mình”. Với tuyên bố này, CHDCND Triều Tiên chính thức thông báo trước toàn thế về quyết định tạm ngừng quá trình phi hạt nhân hoá trên bán đảo Triều Tiên; tái khởi động lò phản ứng hạt nhân Dông Piên và trục xuất các chuyên gia thanh sát của Ủy ban Năng lượng Nguyên tử quốc tế ra khỏi tổ hợp nguyên tử này. Quyết định này được đưa ra đồng thời với tuyên bố từ chối đề nghị Mỹ loại bỏ CHDCND Triều Tiên ra khỏi danh sách “các quốc gia tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố” mà Chính phủ Mỹ đơn phương lập ra, bất chấp ý kiến của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Đại diện Bộ Ngoại giao CHDCND Triều Tiên cho hay: “CHDCND Triều Tiên không những không muốn được Mỹ đưa ra khỏi danh sách “các quốc gia tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố” mà còn không hề hy vọng điều này sẽ được thực hiện trong tương lai”. Đại diện chính thức của Bình Nhưỡng cho rằng, các cuộc đàm phán sáu bên chỉ là tấm bình phong che đậy ý đồ Mỹ chuẩn bị cuộc tiến công quân sự nhằm vào CHDCND Triều Tiên.

   Trước tuyên bố khá cứng rắn từ phía CHDCND Triều Tiên, ông Xôn Mác-cô-mác, đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ, chỉ đưa ra được mấy lời tuyên bố “ngắn ngủi và yếu ớt” rằng, Mỹ vẫn hy vọng sẽ đạt được việc chấm dứt chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên. Theo bình luận của các chuyên gia phân tích chính trị quốc tế, đây thực sự là một vấn đề cực kỳ khó khăn, bởi lẽ khác với chương trình hạt nhân của I-ran, chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên đã tiến đến giai đoạn phát triển cao. Nước này đã từng tiến hành thử nghiệm thành công vụ nổ hạt nhân và ông Mác Hây-đen, Giám đốc Cục tình báo trung ương Mỹ, gần đây cũng đã từng xác nhận rằng, CHDCND Triều Tiên đã tích góp được nguyên liệu plu-tô-ni đủ để chế tạo ít nhất 6 quả bom hạt nhân. Như vậy, nếu muốn đạt được một sự tiến bộ nào đó trong tiến trình phi hạt nhân hoá trên bán đảo Triều Tiên, Mỹ phải có những động thái thực sự “biết điều” trước Triều Tiên chứ không chỉ dừng lại ở những lời hứa suông.

   Nếu nói đến “thành tựu ngoại giao” trong hai nhiệm kỳ cầm quyền của Tổng thống Mỹ G.W.Bu-sơ, thì các thoả thuận đã từng đạt được nhằm chấm dứt chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên dường như được xếp đầu bảng. Nhưng đến lúc này, “thành tựu ngoại giao” hiếm có đó xem ra đang đứng trước nguy cơ tan vỡ như bong bóng xà phòng. Xét về tất cả các động thái, nếu Bình Nhưỡng không hoàn toàn từ bỏ các thỏa thuận đã từng đạt được trong khuôn khổ các cuộc đàm phán sáu bên, thì việc thực thi những thỏa thuận đó khó có thể thành hiện thực trước khi Tổng thống G.Bu-sơ rời Nhà Trắng.

   Tuy nhiên, vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên đâu phải là thất bại ngoại giao duy nhất của Tổng thống G.W.Bu-sơ. Nhìn về Trung Đông, dư luận chỉ thấy tương lai mờ mịt. Một trong những “cam kết đầy triển vọng” của Tổng thống G.W. Bu-sơ về “sự nghiệp thế kỷ” là dàn xếp vấn đề hoà bình Trung Đông trước khi ông rời khỏi Nhà Trắng. Tại hội nghị A-na-pô-lít (Mỹ), Tổng thống G.W. Bu-sơ kỳ vọng Thủ tướng I-xra-en và Tổng thống Pa-le-xtin thoả thuận đến cuối năm 2008 sẽ thành lập nhà nước Pa-le-xtin. Đến thời điểm này, ông Ê-hút Ôn-mớt, Thủ tướng I-xra-en, đã từ bỏ “sự nghiệp dang dở” vì phải từ chức, còn bà Tờ-di-pi Li-vơ-ni (Tzipi Livnin), người có khả năng kế nhiệm ông Ê-hút Ôn-mớt, nếu chấp nhận đạt được một thoả thuận nào đó với phía Pa-le-xtin, thì chắc chắn đó cũng chỉ là thoả thuận mang tính chất “nửa vời” và chỉ dừng lại ở những cương lĩnh chung chung hơn là hành động thực tế. Sẽ không có một quốc gia Pa-le-xtin nào được khai sinh từ thoả thuận “nửa chừng xuân” này. Tình hình ở I-rắc cũng chưa có triển vọng tái lập hoà bình. Lực lượng quân sự của Mỹ hiện diện ở I-rắc không có khả năng tạo dựng một cơ chế an ninh do lực lượng của I-rắc kiểm soát. Nếu quân Mỹ rút đi, nội chiến ở đây có thể lại xảy ra.

   Ngoài hai tiến trình hoà bình mờ mịt trên đây, nước Mỹ dưới sự chèo lái của Tổng thống G.W.Bu-sơ đang đứng trước nguy cơ không thể hợp tác được với các nước trong những hướng quan trọng khác mà trước hết là trong quan hệ với Nga và quan hệ đối tác Nga - NATO. Sau các sự kiện “động trời” ở Cáp-ca-dơ, NATO gần như đã đưa ra tối hậu thư đòi Nga phải rút hết các lực lượng quân sự ra khỏi Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a, nếu không Nga sẽ không thể trông cậy vào bất kỳ một sự hợp tác nào với NATO. Một thực tế rất khó xử đối với Mỹ, là có rất nhiều nước cùng tham gia NATO và EU. Trong NATO chỉ có Mỹ và Ca-na-đa không phải là các nước châu Âu. Chính điều này đã tạo nên sự khác biệt trong cách tiếp cận của hai tổ chức này xung quanh vấn đề quan hệ với Nga. Hiện nay, Mỹ đề nghị NATO thành lập “lực lượng phản ứng nhanh” mà theo Mỹ là để bảo vệ các nước láng giềng của Nga, khỏi các đòn “tiến công xâm lược bất ngờ” của Mát-xcơ-va. Ý tưởng này đã từng được đưa ra xem xét vào ngày 19-9-2008, trong cuộc gặp của bộ trưởng quốc phòng các nước NATO ở Luân-đôn. Lực lượng phản ứng nhanh, theo đánh giá của các chuyên gia phân tích chính trị quân sự quốc tế, cần phải sẵn sàng điều động đến “những nước lo ngại bị tiến công từ phía Nga”. Trong khi Mỹ muốn tạo dựng “nguy cơ chiến tranh” từ phía Nga như họ đã từng “sáng tạo” ra “nguy cơ đe doạ hoà bình” từ phía Liên Xô trước đây để tập hợp các nước châu Âu dưới “cái ô bảo vệ” của Oa-sinh-tơn, thì không phải tất cả các nước EU đều nghĩ như vậy. Điều mà các nước này cần là mối quan hệ hoà bình, thân thiện và hợp tác với Nga trong “ngôi nhà chung châu Âu”.

   Trở lại Nam Á, tình hình ở Áp-ga-ni-xtan cũng không mấy sáng sủa. Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Rô-bớt Ghết trong tuần qua đã đưa ra tuyên bố không mấy lạc quan, và cũng chẳng có gì bất ngờ rằng, hiện nay “Mỹ không còn đủ quân để điều động đến Áp-ga-ni-xtan”. Trong số các nước thành viên NATO ở châu Âu, không một nước nào đồng ý điều thêm quân đến Áp-ga-ni-xtan. Một trong những lý do là quân đội của họ thường “được” điều động tới những khu vực nhạy cảm nhất, dễ bị lực lượng Ta-li-ban tiến công, mà theo nhận xét của nhiều chuyên gia phân tích quân sự thì những khu vực đó gần giống như “những chiếc cối xay thịt”.

   Quan hệ giữa Mỹ với Pa-ki-xtan, một đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố, cũng đang rất đáng lo ngại. Để có thể tạo lập được một “chiến công” nào đó trong cuộc chiến chống khủng bố, gần đây chính quyền của Tổng thống G.W. Bu-sơ quyết định tổ chức các mũi tiến công nhằm vào các lực lượng của Ta-li-ban và tổ chức khủng bố An kê-đa đang ẩn náu trên lãnh thổ Pa-ki-xtan. Nhưng chính phủ Pa-ki-xtan của Thủ tướng En-sa-ri mới được bầu đã tuyên bố thẳng thừng rằng, sẽ không cho phép Mỹ sử dụng lãnh thổ của họ để chống khủng bố. Nếu phía Mỹ vi phạm, Pa-ki-xtan sẵn sàng nổ súng vào lực lượng của Mỹ. Bằng chứng là trong những ngày vừa qua, các lực lượng của Pa-ki-xtan thông báo đã bắn rơi một chiếc máy bay do thám không người lái của Mỹ đột nhập vào vùng trời Pa-ki-xtan. Như vậy, Pa-ki-xtan với vai trò là một quốc gia đã từng tích cực ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến toàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố ở Nam Á, đang trở thành một vật cản nghiêm trọng trên con đường Mỹ thực hiện “sự nghiệp thiêng liêng” này.

   Xem ra, di sản đối ngoại của Tổng thống G.W.Bu-sơ sau hai nhiệm kỳ cầm quyền chẳng có gì đáng kể và dư luận chỉ còn lại một niềm hy vọng rằng ông chủ mới ở Nhà Trắng sẽ không bị sa cơ vào “mớ bòng bong” mà người tiền nhiệm để lại./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #58 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:40:39 pm »

“NGHỆ THUẬT LÀM LÀNH VỚI ĐỐI PHƯƠNG” CỦA TỔNG THỐNG MỸ BARẮC ÔBAMA

   Mỗi khi nghe và quan sát Tổng thống Mỹ Barắc Ôbama trong các buổi diễn thuyết trước đám đông, cũng như những tuyên bố của ông về các vấn đề gai góc nhất và nóng hổi nhất trong chính sách đối nội và đối ngoại của nước Mỹ, công chúng đều nhận thấy ở vị tổng thống da màu này một phong cách rất đặc biệt, khác hẳn với cách ứng xử của các nhà lãnh đạo trước đây ở Mỹ thường “lên lớp” cho cử tọa, dù đó không phải là các cử tọa tầm tầm mà là các nguyên thủ quốc gia. Những chuyến đi mới đây của Tổng thống Barắc Ôbama tới Ai Cập, Nga, Gana và tuyên bố của ông tại các diễn đàn lớn thường được giới phân tích đặc biệt chú ý về phong cách và người ta gọi đó là “nghệ thuật làm lành với đối phương”.

   Sau khi trở thành Tổng thống Mỹ, Barắc Ôbama phải đối mặt với một trong những nhiệm vụ cực kỳ gian nan trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông tại Nhà Trắng. Đó là tái xây dựng quan hệ bình thường với các nước Hồi giáo. Ngày 4-6-2009, bài phát biểu dài gần một giờ của ông tại Cairô, Ai Cập đã phần nào thuyết phục được người Hồi giáo hy vọng vào “một sự khởi đầu mới” trong quan hệ vốn đã rạn nứt nghiêm trọng từ lâu giữa họ và Mỹ. Được biết, để chuẩn bị cho chuyến công du sang Trung Đông lần này, các chuyên gia soạn thảo văn kiện cho Tổng thống Barắc Ôbama đã phải mất hàng tháng trời để chuẩn bị bài phát biểu của ông ở Cairô. Tổng thống Barắc Ôbama đích thân chỉ thị cho những người soạn thảo phải xin ý kiến của nhiều chuyên gia phân tích người Mỹ gốc Hồi giáo. Vẫn chưa yên tâm, khi đã ngồi trên chuyên cơ “Number One” chỉ dành riêng cho Tổng thống Mỹ trên đường bay sang Trung Đông, Barắc Ôbama còn mở cuốn kinh Côran (Koran) để “cảo thơm lần giở trước đèn” mong chọn cho được một câu trích dẫn vừa ý rồi đưa vào bài phát biểu của mình. Tổng thống Barắc Ôbama đã chọn câu: “Hãy tâm niệm về Đức Thánh và luôn luôn nói sự thật”. Khi đến Ai Cập, trong bài phát biểu trước sinh viên Đại học Cairô, sau khi nói một câu chào mừng bằng tiếng Arập “Salam Alaicum”, Tổng thống Barắc Ôbama đã nhắc tới nguồn gốc tổ tiên ông cũng là người Hồi giáo. Đối với nhiều người, không có cách kết hợp ngôn ngữ nào lại kỳ lạ hơn tên gọi đầy đủ của ông chủ mới của Nhà Trắng: Barắc Huxâyin Ôbama (Barack Hussein Obama). Hai từ đầu trong tên gọi này có xuất xứ từ tiếng Arập: “Barack” có nghĩa là “cầu chúc”, còn “Hussein” là tên gọi đáng yêu của những người Hồi giáo theo dòng Xiai, đồng thời cũng là tên của một giáo chủ Đạo Hồi và là hậu duệ của nhà tiên tri Môhamét. Còn từ “Obama” lại giống tên thường dùng trong một bộ tộc ở châu Phi. Câu chuyện này được người Hồi giáo truyền tụng khá hào hứng. Phải chăng điều đó tiên lượng về một triển vọng “làm lành” giữa nước Mỹ và thế giới Hồi giáo?

   Trong bài phát biểu ở Cairô, Tổng thống Barắc Ôbama tỏ ra khá thẳng thắn và chân thành khi đề cập nhiều vấn đề bằng những lời lẽ hiếm thấy ở một người đứng đầu nước Mỹ. Ông chính thức thừa nhận chủ nghĩa thực dân đã phủ nhận “quyền và cơ hội của rất nhiều người Hồi giáo”, rằng “đôi khi phương Tây đối xử với người Hồi giáo” không công bằng, rằng người Hồi giáo có lý do để cho rằng “Mỹ và phương Tây thù địch với họ” và “Mỹ không phải lúc nào cũng ứng xử đúng như lý tưởng mà họ theo đuổi , v.v. và v.v.. Barắc Ôbama đã “gãi đúng chỗ ngứa” của người Hồi giáo khi ông dành nhiều thời gian đề cập các vấn đề nóng bỏng nhất hiện nay ở Trung Đông như tình hình Irắc, vấn đề hạt nhân của Iran, cuộc xung đột giữa Palextin và Ixraen, tình hình Apganixtan. Chính ở những “điểm nón” mà ông Barắc Ôbama nhắc tới có hàng trăm triệu người Hồi giáo sinh sống, thậm chí Iran còn được gọi là “quốc gia Hồi giáo”. Theo Barắc Ôbama, chìa khoá cho tiến trình hoà bình Trung Đông là để cho người Palextin và người Do Thái có nhà nước độc lập và vì thế, Mỹ không chấp nhận việc xây dựng các khu định cư của người Do Thái trên dải Gada và kêu gọi các bên trở lại với lộ trình hòa bình. Cách nói của Tổng thống Barắc Ôbama tài tình đến mức người Hồi giáo không cảm thấy đó là những lời hoa mỹ đơn thuần mà là sự thẳng thắn và thành tâm của ông. Chính vì thế, ở Palextin, cả phái Hamát và phong trào Phata đều thừa nhận Mỹ đang thể hiện một chính sách ngoại giao mới đối với Trung Đông. Tổng Thư ký Liên đoàn Arập, ông Amơ Mâuxa (Amr Moussa) nhận định, Tổng thống Barắc Ôbama có thể chấm dứt nhiều năm đối đầu và căng thẳng giữa phương Tây và người Hồi giáo. Tuy nhiên, nhiều chính khách ở Trung Đông và các nước Hồi giáo còn chờ đợi chính sách và việc làm cụ thể của ông, bởi theo họ, nói thì dễ mà làm thì khó. Nhưng dẫu sao, bài phát biểu của Tổng thống Barắc Ôbama ở Cairô phần nào đã làm nguôi dịu “lò thuốc súng” đã được hun lên trong quan hệ giữa Mỹ và thế giới Hồi giáo mấy thập niên qua.

   Tới thăm Nga với sứ mệnh “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga vốn đã băng giá trong những năm gần đây, Tổng thống Barắc Ôbama đã chuẩn bị khá công phu cho chuyến đi này. Ông dành khá nhiều thời gian học thêm tiếng Nga và nghiên cứu văn hoá Nga. Ngay sau khi cùng vợ, bà Misen và hai cô “con gái rượu” đặt chân tới Mátxcơva, động tác đầu tiên của Tổng thống Barắc Ôbama là tới đặt vòng hoa tại Mộ những người lính vô danh. Đệ nhất phu nhân của nước Mỹ cùng hai con gái có hẳn một chương trình làm việc riêng ở Mátxcơva. Sau khi viếng Mộ những người lính vô danh, Tổng thống Barắc Ôbama vào Điện Cremli gặp mặt và hội đàm với Tổng thống Nga Đ.Métvêđép. Trong tiệc trà nhẹ kiểu Nga rất thân tình với sự tham dự của hai vị tổng thống, hai đệ nhất phu nhân và các con của hai gia đình, Barắc Ôbama đã kể cho Tổng thống Đ. Métvêđép nghe câu chuyện ông và đệ nhất phu nhân hiện nay của nước Mỹ quen nhau thế nào khi đang học ở Haoai. Hoá ra, Tống thống Barắc Ôbama và bà Misen, vợ ông, quen nhau khi hai người cùng học ngoại ngữ là tiếng Nga!

   Các cuộc đàm phán giữa Tổng thống Barắc Ôbama và Tổng thống Đ. Métvêđép diễn ra rất cởi mở. Ông Barắc Ôbama không áp dụng cung cách đối thoại của các tổng thống Mỹ tiền nhiệm là yêu cầu đối phương “phải thế này phải thế nọ”, mà chỉ nhẹ nhàng nêu ý kiến để cùng trao đổi. Vì thế, các cuộc đàm phán kéo dài tới sáu giờ, một thời lượng đối thoại chưa từng có giữa Tổng thống Mỹ và nguyên thủ quốc gia Liên Xô trước đây và Nga hiện nay. Tổng thống Barắc Ôbama dành nhiều thời gian để “nắm bắt đối phương”, cố gắng vượt qua một cách nhẹ nhàng những vấn đề còn “gai góc”. Với nghệ thuật đàm phán theo lối mới, Tổng thống Barắc Ôbama đã tạo ra bầu không khí thân thiện, cởi mở, nhưng không vì thế mà từ bỏ những vấn đề có tính nguyên tắc và cực kỳ quan trọng như việc Mỹ vẫn tiếp tục triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu, vẫn ủng hộ Ucraina và Grudia gia nhập NATO, vẫn công nhận chủ quyền của Grudia đối với hai vùng tự trị Nam Ôxêtia và Apkhadia, v.v.. Vậy nên, đa số các chuyên gia phân tích nhận định, thành công lớn nhất trong chuyến thăm Nga của Tổng thống Barắc Ôbama không chỉ là ở các hiệp định song phương đã ký kết mà quan trọng hơn là ở chỗ nhờ “nghệ thuật làm lành với đôi phương”, vị tổng thống da màu của nước Mỹ đã chính thức “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga.

   Nói đến “nghệ thuật làm lành” với thế giới của Tổng thống Barắc Ôbama, vừa qua dư luận Mỹ và thế giới không quên câu chuyện ông gặp rắc rối vì đã vô tình gọi hành động trung sĩ cảnh sát Mỹ Crâuli bắt bớ giáo sư Ghết, người da đen thuộc Đại học Havớt là “ngu xuẩn” và liên hệ chuyện này với tệ phân biệt chủng tộc đối với người da màu ở Mỹ. Câu nói “lỡ miệng” này của ông đã châm ngòi cho một “quả bom truyền thông” ở Mỹ. Ngay lập tức, Tổng thống Barắc Ôbama đã rút lại “câu nói vô tình” của mình và mời cả gia đình giáo sư Ghết và gia đình trung sĩ cảnh sát Crâuli vào dự bữa bia “làm lành” được tổ chức trong khuôn viên Nhà Trắng. Sau “bữa bia lịch sử” đó, “chiến tranh lạnh” giữa giáo sư Ghết và trung sĩ Crâuli đã được hoá giải, thậm chí hai người còn tỏ ra thân thiện.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #59 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:44:00 pm »

CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ

   Tính đến nay, Tổng thống Barắc Ôbama đã “chèo lái con thuyền nước Mỹ” được hơn 200 ngày kể từ thời điểm ông đọc tuyên thệ nhậm chức với lời hứa sẽ cải thiện đáng kể hình ảnh nước Mỹ trước thế giới. Trong tâm trạng chán chường và thất vọng của các cử tri Mỹ trước những khó khăn chồng chất trên vai người khổng lồ, chủ trương “thay đổi” của Thượng nghị sĩ Barắc Ôbama vừa giúp ông thắng cử lại vừa đưa ông vào vị thế giống như “ngồi lên lưng hổ” và không còn lối thoát nào khác là trở thành “Võ Tòng của nước Mỹ” hoặc sẽ bị lịch sử lãng quên trong sự tiếc nuối một tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ.

   Quả thật, Tổng thống Barắc Ôbama bước vào Nhà Trắng tại thời điểm ông phải đối mặt với quá nhiều thách thức mà chưa một tổng thống nào trong lịch sử nước Mỹ phải trải qua, không chỉ đang sa lầy vào hai cuộc chiến tranh dang dở ở Irắc và Apganixtan, bị chính các đồng minh chán ghét, mà còn đứng trước ngưỡng cửa tái diễn một cuộc Đại suy thoái từ những năm 1930. Ngoài ra, Oasinhtơn còn chưa tìm ra cách hoá giải được các “điểm nóng” và cải thiện quan hệ với các nước có ý nghĩa sống còn với Mỹ. Vì thế, nhiều người ví Tổng thống Ôbama không chỉ “cưỡi trên lưng một con hổ mà là cưỡi trên lưng nhiều con hổ”. Liệu ông có thể thành công?

   Con hổ thứ nhất: đưa nước Mỹ thoát khỏi Đại suy thoái

   Đây là “con hổ” được các chuyên gia đánh giá là “hung hãn nhất” trong số những “con hổ” mà Tổng thống Barắc Ôbama đang cưỡi trên lưng. Trong diễn văn đánh dấu mốc một năm kể từ ngày sụp đổ ngân hàng Lehman Brothers, mở đầu cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ, Tổng thống Ôbama đã lên tiếng bảo vệ các chính sách mà chính quyền đã đưa ra để chèo chống trước khủng hoảng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia kinh tế, các gói giải cứu sẽ không giúp nền kinh tế Mỹ thoát khỏi khủng hoảng và trụ vững được lâu, bởi cuộc khủng hoảng lần này trước hết là khủng hoảng mô hình chủ nghĩa tư bản dân chủ - tự do. Bằng chứng là lần đầu tiên Chính phủ Mỹ phải ra tay can thiệp để cứu vớt các công ty và doanh nghiệp tư nhân trước nguy cơ phá sản. Tổng thống Vênêxuêla Hugô Chavét gọi hành động đó là “xã hội chủ nghĩa” và gọi Tổng thống Mỹ là “đồng chí Barắc Ôbama”. Trong khi mô hình chủ nghĩa tư bản dân chủ - tự do ở Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản thì mô hình chủ nghĩa tư bản có sự quản lý của nhà nước điển hình ở Trung Quốc và một số nước khác tỏ ra có sức sống hơn nhiều. Vì thế, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vừa bùng phát trở lại liên quan tới quyết định của Tổng thống Barắc Ôbama tăng thuế nhập khẩu từ 5% lên 35% đối với lốp ôtô Trung Quốc chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm có tên là “cuộc cạnh tranh mang tính thời đại” giữa mô hình chủ nghĩa tư bản dân chủ - tự do và mô hình chủ nghĩa tư bản có sự quản lý của nhà nước. Để “chiến thắng” chủ nghĩa tư bản dân chủ - tự do phải thay đổi, nhưng chỉ một mình Tổng thống Barắc Ôbama khó có thể tự xoay xở được. Bằng chứng là chính sách bảo hiểm y tế cho cả hai đảng Cộng hoà và Dân chủ.

   Con hổ thứ hai: hoà giải vấn đề Irắc

   Chiến tranh Irắc đã từng chôn vùi sự nghiệp chính trị của ông G.W. Busơ nhưng cũng chính cuộc chiến này đã đưa ứng cử viên Barắc Ôbama bước vào Nhà Trắng. Song, công bằng mà nói, những gì mà Tổng thống Barắc Ôbama đang làm ở Irắc là đi theo lộ trình đã được cam kết trong một hiệp định song phương mà Tổng thống G.W. Busơ và Tổng thống Irắc ký kết vào tháng 11-2008. Theo đó, ngày 30-7-2009, Mỹ rút các đơn vị chiến đấu ra khỏi những thành phố của Irắc và sẽ rút hết quân Mỹ khỏi nước này vào tháng 12-2011. Nhưng tình hình Irắc hiện nay lại chứng tỏ lộ trình rút quân của Mỹ đang vấp phải những tảng đá khó lòng vượt qua. Các cuộc khủng bố tàn bạo liên tiếp nổ ra ở Irắc ngay sau khi các lực lượng chiến đấu của Mỹ rút khỏi các thành phố của Irắc, dẫn đến nguy cơ các lực lượng quân sự Mỹ sẽ phải có mặt lâu dài tại đây và mọi việc sẽ không diễn ra như dự kiến vào thời điểm tháng 12-2011. Lúc đó cũng là thời điểm chuẩn bị bầu cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ tiếp theo. Liệu vấn đề Irắc có ngăn cản Tổng thống Barắc Ôbama bước tiếp một nhiệm kỳ nữa hay không thì tới nay chưa một “Gia Cát Lượng thế kỷ XXI” nào có thể biết trước được.

   Con hổ thứ ba: cuộc chiến tranh trên ba mặt trận

   Để hoá giải vấn đề Apganixtan, Tổng thống Barắc Ôbama đã đưa ra cái gọi là “Chiến lược mới”, thực chất là ông phải tiến hành cuộc chiến tranh đồng thời trên ba mặt trận. Mặt trận thứ nhất là tăng quân số cho chiến trường Apganixtan. Trên mặt trận này, triển vọng là khá mờ nhạt. Trùm khủng bố Bin Lađen đã từng tuyên bố đầy thách thức rằng, ngay cả khi Mỹ điều tới Apganixtan một triệu quân, họ vẫn thất bại như chơi. Trong khi đó, Chính phủ Apganixtan do Mỹ dựng lên ở Cabun được chính Tổng thống Barắc Ôbama đánh giá là tham nhũng, đang chao đảo trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua do gian lận trong bỏ phiếu. Cũng trên mặt trận này, Mỹ đang vấp phải sự bất đồng của các đồng minh trong NATO, họ buộc phải miễn cưỡng đưa quân tham chiến vì họ coi Apganixtan là “chiếc cối xay thịt”. Ở Apganixtan, Tổng thống Barắc Ôbama dự định áp dụng sách lược kết hợp “sức mạnh cứng” với “sức mạnh mềm” và coi đó như một “sáng kiến chiến lược”. Thật ra, sách lược này là “chuyện xưa như Trái đất” của nước Mỹ, đã từng được các đời tổng thống Hoa Kỳ áp dụng và được thế giới gọi là chính sách “chiếc gậy và củ cà rốt”. Sách lược kết hợp “sức mạnh cứng” với “sức mạnh mềm” cũng đã từng được chính quyền của Tổng thống G.W. Busơ áp dụng thành thạo “như làm xiếc” trong hai nhiệm kỳ cầm quyền của ông, như Mỹ đã dùng hàng trăm triệu USD mua chuộc một số tướng lĩnh và chỉ huy của Taliban và quân đội của Xatđam Hútxen để họ đầu hàng quân Mỹ vào thời điểm quyết định của cuộc chiến. Trong các cuộc “cách mạng sắc màu” ở Nam Tư sau cuộc chiến tranh Côxôvô, ở Grudia, ở Ucraina và ở Cưrơgưxtan, Mỹ đã chi hàng trăm triệu USD cho các lực lượng đối lập tiến hành “cách mạng” để dựng lên chính quyền thân Mỹ. Mặt trận thứ hai là gia tăng các hoạt động truy quét tàn quân Taliban trên lãnh thổ Pakixtan, kết hợp với các hoạt động trên mặt trận thứ nhất. Tổng thống Barắc Ôbama đề xuất công thức tiến hành chiến tranh ở Apganixtan là “Afpak”, có nghĩa là phải gắn vấn đề Ápganixtan (Af) với vấn đề Pakixtan (Pak), được hiểu trên thực tế là dùng hoả lực không quân và lính đặc nhiệm tiến công sào huyệt của Taliban và Ankêđa đang ẩn náu trên vùng biên giới giữa hai nước Apganixtan và Pakixtan. Chiến lược này đã từng được Tổng thống G.W. Busơ áp dụng trong vòng sáu tháng cuối nhiệm kỳ cầm quyền của ông nhưng xem ra lợi bất cập hại vì phải hứng chịu thái độ phản đối kịch liệt từ phía Pakixtan. Mặt trận thứ ba là Tổng thống Barắc Ôbama đang phải “chiến đấu” với chính dư luận trong lòng nước Mỹ. Từ lâu, các cử tri Mỹ đã lo ngại nước Mỹ sẽ vấp phải “một Việt Nam thứ hai” ở Apganixtan. Nếu tin tức về các quân nhân Mỹ và dân thường ở Apganixtan thiệt mạng liên tục được phát đi. thì không loại trừ một cuộc chiến tranh dư luận sẽ bùng phát trong lòng nước Mỹ để phản đối “cuộc chiến tranh vô nghĩa” này.

   Con hổ thứ tư: hoá giải chương trình hạt nhân của Iran và Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên

   Cũng như người tiền nhiệm, rất ít khả năng Tổng thống Barắc Ôbama có thể hoá giải vấn đề này: Iran vừa chủ trương đối thoại trực tiếp với Mỹ về nhiều vấn đề toàn cầu nhưng sẽ không bao giờ đàm phán về quyền phát triển công nghệ hạt nhân của mình vì mục đích hoà bình. Vấn đề hạt nhân của Iran còn liên quan đến nhiều vấn đề địa- chính trị nhạy cảm như quan hệ chiến lược giữa Iran với Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, v.v. mà Mỹ không thể không tính đến. Ngoài ra, Iran còn là nước cộng hoà Hồi giáo. Muốn giải quyết vấn đề Iran, trước hết Mỹ phải “tái khởi động” quan hệ với thế giới Hồi giáo. Bài phát biểu dài gần một giờ của Tổng thống Barắc Ôbama ngày 4-6-2009 tại Ai Cập đã phần nào thuyết phục được người Hồi giáo hy vọng vào “một sự khởi đầu mới” trong quan hệ vốn đã rạn nứt từ lâu giữa họ và Mỹ, nhưng xem ra những bước đi cụ thể để tạo ra sự khởi đầu đó thật không đơn giản chút nào và có thể một mình nước Mỹ cũng khó lòng vượt qua được. Do đó, bài toán về chương trình hạt nhân của Iran có quá nhiều ẩn số mà phải là nhà toán học cừ khôi mới có thể hoá giải được.

   Còn trong vấn đề hạt nhân của Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, chính quyền của Tổng thống Barắc Ôbama đã phải đương đầu với một tình hình chưa có tiền lệ: Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên liên tục đi “các nước cờ chiếu tướng” thông qua các vụ thử hạt nhân mới và các cuộc phóng tên lửa dồn dập, kèm theo các tuyên bố cứng rắn. Mỹ đã bất lực trước các biện pháp trừng phạt cuối cùng Oasinhtơn phải chấp nhận đàm phán trực tiếp với Bình Nhưỡng - một điều mà Chính phủ Mỹ trước đây luôn cự tuyệt. Liệu công thức “2 trong 6”, nghĩa là đàm phán song phương Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên - Mỹ trong khuôn khổ đàm phán sáu bên (Mỹ, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản) có mang lại kết quả hay không thì vẫn là một ẩn số với nhiều yếu tố bất định.

   Con hổ thứ năm: “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga

   Khi Tổng thống Barắc Ôbama tuyên bố “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga, nhiều người lạc quan dự báo sắp mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ giữa hai đối thủ chủ chốt trong chiến tranh lạnh. Nhưng quả thật đây là một trong những bài toán chứa nhiều ẩn số nhất mà Tổng thống Mỹ sẽ phải tìm lời giải đáp. Tổng thống Barắc Ôbama đã bắt đầu làm việc đó trong chuyến thăm chính thức đầu tiên tới Nga vào ngày 6-7-2009. Nhưng ngay lập tức, ông đã không thể vượt qua được tư duy thời chiến tranh lạnh khi vẫn không công nhận các lợi ích có ý nghĩa chiến lược sống còn của Nga trong không gian hậu Xôviết. Ông vẫn yêu cầu Nga rút khỏi Nam Ôxêtia và Ápkhadia; tiếp tục thực hiện Hiệp định đối tác chiến lược Mỹ- Ucraina và Hiệp định đối tác chiến lược Mỹ - Grudia, theo đó Mỹ tiếp tục ủng hộ hai quốc gia này gia nhập NATO; tiếp tục kế hoạch triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu. Xem ra, quan hệ Mỹ - Nga chưa được “tái khởi động”, thậm chí còn có phần căng thẳng hơn. Chưa “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga, Mỹ sẽ đánh mất nhiều lợi ích chiến lược, trước hết là khó có thể giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế, chính trị và an ninh có tính toàn cầu.

   Con hổ thứ sáu: bất ổn tại “sân sau” của nước Mỹ

   Trong hơn 200 ngày cầm quyền của Tổng thống Barắc Ôbama, bóng dáng của nước Mỹ dưới thời Tổng thống G.W. Busơ vẫn còn in đậm trong tâm tưởng của các quốc gia khu vực. Oasinhtơn vẫn bị cô lập trong việc bảo vệ chính sách của Mỹ đối với Cuba do chưa dỡ bỏ cấm vận áp dụng gần 50 năm qua với quốc gia này. Nếu dưới thời Tổng thống G.W. Busơ, Vênêxuêla tuyên bố “sẽ sẵn sàng tiến hành cuộc chiến tranh 100 năm với Mỹ “, thì hiện nay dưới thời Tổng thống Barắc Ôbama, Tổng thống Hugô Chavét cho biết Vênêxuêla vẫn chuẩn bị sẵn sàng để đương đầu với nguy cơ chiến tranh từ phía Mỹ bởi Oasinhtơn đang xúc tiến xây dựng các căn cứ quân sự ở Côlômbia., Ônđurát và các căn cứ khác trên vùng biển Caribê.

   Cưỡi lưng một con hổ đã là chuyện khó khác thường, nay Tổng thống Barắc Ôbama phải cưỡi trên lưng sáu con hổ thì quả là quá sức tưởng tượng. Liệu ông có đủ tài trí và sức lực để thoát khỏi những “vấn nạn” này, có lẽ câu trả lời còn phụ thuộc vào thời gian.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM