Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:27:21 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thế giới: Một góc nhìn  (Đọc 55340 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #60 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:46:24 pm »

“TÔN TRỌNG” KIỂU MỸ

   Theo báo Nga Chào buổi sáng số ra ngày 25-10-2009, trong trạm đừng chân cuối cùng của chuyến công du ba nước Đông và Trung Âu là Ba Lan, Rumani và Cộng hoà Séc ngày 23-10-2009, Phó Tổng thống Mỹ Giô Baiđơn (Joe Biden) tuyên bố rằng, trên thế giới không có các khu vực ảnh hưởng. Mỹ không chấp nhận bất kỳ khu vực ảnh hưởng nào và cũng sẽ không tham gia vào việc tranh giành các khu vực ảnh hưởng; và không ai có quyền phủ quyết bất kỳ quốc gia nào ở bất kỳ đâu trên thế giới tự quyết định tham gia hay không tham gia các liên minh hoặc các tổ chức nào họ muốn. Vậy nên “giải mã” tuyên bố của ông Giô Baiđơn thế nào?

   “Không có khu vực ảnh hưởng” hay là đang mất dần khu vực ảnh hưởng?

   Chắc hẳn ai cũng hiểu rằng, trên thế giới xưa nay luôn tồn tại các vùng hoặc các khu vực ảnh hưởng. Bởi sức mạnh của một quốc gia có tác động và ảnh hưởng mạnh nhất đến những nước có vị trí địa lý gần kề. Điều này gần giống với ý nghĩa trong câu phương ngôn thịnh hành ở Tây bán cầu: “Điều bất hạnh đối với Mêhicô là ở chỗ: Chúa trời thì ở xa, mà Hoa Kỳ lại ở gần kề”. Còn ở phương Đông có câu: “Nước xa không cứu được lửa gần”. Vậy nên, ở thời đại nào, ở khu vực nào trên trái đất này, đều luôn luôn có các vùng hoặc các khu vực ảnh hưởng. Nhân đây, nhớ lại thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng nguy hiểm nhất thời chiến tranh lạnh, khi Liên Xô bố trí tên lửa ở Cuba, sát nách nước Mỹ, đã được tháo ngòi bằng một cuộc dàn xếp êm thấm: Mỹ và Liên Xô đều công nhận khu vực ảnh hưởng của nhau, theo đó, Mátxcơva đồng ý dỡ bỏ tên lửa khỏi lãnh thổ Cuba, còn Oasinhtơn dỡ bỏ các tên lửa tương tự ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Mặc dù khi đó Thổ Nhĩ Kỳ đã là thành viên của NATO rồi nhưng quốc gia này vẫn nằm trong khu vực ảnh hưởng của Liên Xô bởi Mátxcơva thì ở gần kề, còn Oasinhtơn thì ở mãi bên kia Đại Tây Dương. Vì thế, nếu nói rằng, Mỹ không công nhận “khu vực ảnh hưởng” chỉ là gián tiếp công nhận rằng, ngày nay ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới đã suy giảm đáng kể và các khu vực ảnh hưởng của Mỹ đang thu hẹp dần. Thậm chí, không ít chuyên gia phân tích chính trị quốc tế dự báo là đã tới lúc hoàng hôn của “kỷ nguyên Mỹ”. Lẽ đời là thế. Một khi người ta đánh mất cái mình vốn có thì chẳng muốn công nhận ai có được cái mà lẽ ra chỉ có mình có.

   Có nhiều chuyện xảy ra gần đây chứng tỏ Mỹ dù có muốn tranh giành các khu vực ảnh hưởng thì cũng khó có thể làm gì được. Cuộc chiến tranh năm ngày giữa Grudia và Nga cách đây hơn một năm (8-8-2008) là minh chứng rõ ràng nhất. Được Mỹ cam kết ủng hộ, Grudia chủ động gây chiến tranh, nhưng khi bị Mátxcơva phản ứng mau lẹ và đáp trả đích đáng, Oasinhtơn cũng chỉ khoanh tay nhìn. Tống thống Grudia Saakasvili (Saakashvili) đã phải ngậm bồ hòn làm ngọt với ý nghĩ chua xót: “Chúng ta đã bị Mỹ phản bội!”. Cũng phải thôi. Mỹ đang ở vào tình thế lực bất tòng tâm. Grudia ở quá xa, quân Mỹ lại đang sa lầy ở Apganixtan và Irắc. Để tăng viện cho chiến trường Apganixtan, Mỹ buộc phải rút quân khỏi Irắc chứ tình hình ở đó đâu đã ổn định. Theo tính toán của các chuyên gia quân sự, hiện nay Mỹ chỉ có thể đồng thời triển khai 200.000 lính trên các chiến trường ngoài nước Mỹ. Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ triển khai tới hơn nửa triệu quân mà vẫn hoàn thất bại. Rồi chuyện, Mỹ định xây dựng lá chắn tên lửa ở Ba Lan và Cộng hoà Séc, nhưng trước sự phản đối kịch liệt của Nga, Tổng thống B.Ôbama đã phải tuyên bố ngừng triển khai kế hoạch này. Mặc dù trong chuyến thăm ba đồng minh “then chốt” ở Đông và Trung Âu vừa qua, Phó Tổng thống Mỹ Giô Baiđơn ra sức giải thích rằng quyết định đó “không liên quan gì tới Nga” nhưng nếu Nga không phản đối thì liệu Oasinhtơn có quyết định ngừng kế hoạch đó hay không. Chắc hẳn là không.

   Năm 2001, nước Mỹ đã từng phiêu lưu dấn thân vào một cuộc chiến tranh ở Apganixtan nhằm tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Trung Á - tâm điểm của ván cờ địa - chính trị và địa - kinh tế trong thế kỷ XXI. Đã thế, Mỹ còn kéo các đồng minh cùng sa lầy. Khi tổn thất về người ngày một tăng, tiền của đổ vào đó để mua chuộc các phần tử Taliban theo chiến lược “dùng đôla đổi lấy hoà bình” ngày một nhiều, thì dư luận xã hội ở Mỹ và các nước NATO bắt đầu lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh mà họ cho “vô nghĩa” này. Lúc này, các nước NATO đều đang nghĩ tới chiến lược Apganixtan hoá chiến tranh. Tại Hội nghị NATO tháng 4-2009, một quan chức cấp cao của châu Âu tuyên bố. “Chúng ta sẽ phải rút khỏi Apganixtan. Có thể phải mất tới vài năm, nhưng chúng ta cần tìm cách ra đi”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rôbớt Ghết (Robert Gates) tuyên bố: “Muốn nhanh chóng rút khỏi Apganixtan thì chiến lược của chúng ta (tức Mỹ) lúc này là bề ngoài phải tỏ ra như thể chúng ta đang quyết tâm ở lại”. Còn tướng Đavít Risác (David Richards), người vừa giữ chức Tổng Tham mưu trưởng quân đội Anh, thì tuyên bố. “Nếu phải tiếp tục cuộc chiến ở Apganixtan, nước Anh sẽ phải dính líu tới 40 năm!”.

   Tại khu vực “sân sau” của Mỹ, mấy năm nay Mỹ xúc tiến thành lập Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ nhằm phát huy ảnh hưởng của Oasinhtơn ở khu vực nhưng các nước tại đây đều kiên quyết phản đối. Ở Trung Đông, ngay cả đồng minh tin cậy của Mỹ là Ixraen cũng không muốn nghe theo Mỹ. Mỹ không còn đủ ảnh hưởng để thúc ép nên con đường dẫn tới hoà bình ở Trung Đông vẫn còn mờ mịt. Rõ ràng, ảnh hưởng của Mỹ tại các khu vực then chốt trên thế giới đang suy giảm, ngay cả trong các đồng minh của Mỹ. Chẳng thế mà 'tân Thủ tướng Nhật Bản Yukiô Hatôyama (Yukio Hatoyama) vừa qua đưa ra chủ trương xây dựng Cộng đồng Đông Á trong đó không có Mỹ mặc dù xét về mặt địa lý thì Mỹ hoàn toàn có quyền gia nhập cộng đồng này. Có lẽ Oasinhtơn cũng biết mình đang bị “gạt ra rìa” ở nhiều khu vực ảnh hưởng, nên từ chỗ vác đôla và vũ khí đi tranh giành ảnh hưởng như trước đây thì tạm thời và tốt hơn hết là không công nhận bất kỳ khu vực ảnh hưởng nào của bất kỳ ai.

   “Tôn trọng” quyền tự quyết hay tự mình phá vỡ nó?

   Còn về nguyên tắc, không ai có quyền phủ quyết bất kỳ quốc gia nào tự đưa ra quyết định tham gia các liên minh hay tổ chức nào họ muốn, giá như xưa nay Mỹ nói và  làm được theo kiểu “tôn trọng” như thế thì thế giới này có  lẽ đã đổi khác. Chính người Mỹ đã “giải mã” nguyên tắc này của ông Giô Baiđơn. Báo The New York Times (Mỹ), số ra ngày 25-10-2009 đăng bài viết của tác giả Ami Chua (Amy Chua), trong đó nhận xét: “Về thực chất, chính sách  đối ngoại của chủ nghĩa bảo thủ mới ở Mỹ dựa trên việc sử dụng sức mạnh quân sự để tiến hành chiến tranh xâm  lược được phép của Liên hợp quốc hoặc đơn phương hành  động, để tiêu diệt một số chế độ cầm quyền và dựng lên  các chính quyền khác, hay còn gọi là dựng lên chính phủ mới”. Đương nhiên, những chính phủ đó phải bảo vệ khu  vực ảnh hưởng và lợi ích chiến lược của Mỹ. Trong chiến tranh Nam Tư cuối năm 1998 đầu năm 1999, Mỹ và NATO đã dàn dựng kịch bản nhằm tách vùng tự trị  Côxôvô ra khỏi lãnh thổ thuộc chủ quyền của Nam Tư trước đây và Cộng hoà Xécbia (Serbia) hiện nay. Năm  2001, Mỹ lấy cớ tiến hành cuộc chiến tranh chống khủng  bố, đập tan chính quyền của Taliban và dựng lên chính  phủ thân Mỹ ở Apganixtan. Năm 2003, lấy cớ Irắc tàng trữ vũ khí sát thương hàng loạt và có quan hệ với tổ chức khủng bố Ankêđa (Al Qaeda)”, Mỹ tiến hành chiến tranh nhằm xoá bỏ chính quyền của Tổng thống Xátđam Hútxen (Saddam Hussein), dựng lên chính quyền thân Oasinhtơn ở Bátđa (Baghdad). Sau khi Liên Xô sụp đổ, năm 1996, Mỹ lôi kéo các nước cộng hoà Xô viết trước đây gồm Grudia, Ucraina, Udơbêkixtan, Adécbaigian và Mônđôva, dựng lên tổ chức GUAM, nhằm hạn chế và thu hẹp ảnh hưởng của Nga trong không gian hậu Xôviết. Chưa dừng lại ở đó, thông qua các tổ chức phi chính phủ, Mỹ đã ủng hộ các lực lượng đối lập tiến hành các cuộc “cách mạng sắc màu” để dựng lên các chính quyền sẵn sàng bảo vệ các khu vực ảnh hưởng của Mỹ ở Grudia và Ucraina và sẵn sàng gia nhập NATO do Mỹ đứng đầu. Thử hỏi, nếu các quốc gia cũng hành động theo kiểu “tôn trọng quyền tự quyết” như Mỹ đã làm thì không biết thế giới này sẽ còn đi tới đâu?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #61 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:48:25 pm »

CHUYẾN THĂM “LÀM LÀNH” VỚI CÁC ĐỒNG MINH CHÂU ÂU CỦA PHÓ TỔNG THỐNG MỸ GIÔN BAI-ĐƠN

   Từ ngày 21 đến ngày 24-10-2009, Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn thực hiện chuyến công du tới ba nước là đồng minh “then chốt” của Mỹ sau “chiến tranh lạnh”, gồm Ba Lan, Ru-ma-ni và Cộng hoà Séc. Đây là chuyến công du có tác động không nhỏ tới tình hình châu Âu nói chung và quan hệ Mỹ - Nga nói riêng.

   Thời điểm rất nhạy cảm của chuyến thăm

   Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn thực hiện chuyến thăm “con thoi” này trong thời điểm Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma vừa đưa ra quyết định bất ngờ ngừng triển khai kế hoạch bố trí lá chắn tên lửa ở Ba Lan và Cộng hoà Séc mà Tổng thống Mỹ tiền nhiệm đã “lao tâm khổ tứ” dàn dựng. Vì thế, một lần nữa, quyết định của Tổng thống B. Ô-ba-ma đã làm dấy lên mối lo ngại của các nước trong khu vực về vai trò của Mỹ trong việc đối phó với “nguy cơ” từ phía nước Nga láng giềng.

   Nói là “nguy cơ” bởi đây chỉ là cớ để Mỹ gây chia rẽ Nga với các đồng minh của họ trước đây, còn trên thực tế, đó là “nguy cơ ảo” bởi trong khi nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ, đã sẵn sàng xây dựng quan hệ đối tác thân thiện với tất cả các nước châu Âu, thì kỳ lạ thay, các đồng minh của Liên Xô trước đây trong khối Vác-sa-va như Ba Lan và Cộng hoà Séc lại bỗng nhiên quay sang chống lại Nga và luôn lớn tiếng nói về “nguy cơ bị tiến công” từ phía Nga (!).

   Việc một số người trong chính các đồng minh cũ của Liên Xô và nay là đồng minh mới của Mỹ ở Đông Âu tuyên truyền xuyên tạc trắng trợn về lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai, đổ lỗi cho Hồng quân Liên Xô tội “xâm lược” trong chiến dịch giải phóng các nước châu Âu khỏi thảm họa diệt chủng của phát-xít Đức, được diễn ra sau khi các nước này trở thành đồng minh “then chốt” của Mỹ, không thể không làm cho Nga lo ngại.

   Hơn cả chuyện “làm lành”

   Tới cả ba nước, Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn đã có các cuộc gặp với nguyên thủ các nước chủ nhà, gồm thủ tướng và tổng thống để làm yên lòng các nước này rằng vẫn như trước đây, Mỹ sẽ trung thành với “sứ mệnh” bảo đảm an ninh cho các đồng minh của họ, đưa chuyến thăm này thành dấu mốc quan trọng trong quá trình thắt chặt quan hệ giữa Mỹ với các nước “châu Âu mới” trong bối cảnh các nước “châu Âu cũ” đang dần xa lánh Mỹ.

   Ban đầu, Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn tưởng sẽ được nguyên thủ các nước chủ nhà đón tiếp “linh đình”, nhưng rồi ông đã phải chật vật lý giải về sự xích lại gần nhau giữa Mỹ và Nga theo chủ trương “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga của Tổng thống B. Ô-ba-ma, trong đó có chuyện Mỹ ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Ba Lan và Cộng hoà Séc.

   Theo nhận xét của ông Đa-môn Uyn-xơn (Damon Wilson), Giám đốc Chương trình an ninh quốc tế trong Hội đồng Đại Tây Dương của Mỹ, nội dung chủ yếu của chuyến thăm không chỉ là giải thích về quyết định của Mỹ ngừng lá chắn tên lửa, mà quan trọng hơn, là khôi phục lòng tin đang suy giảm dần giữa Mỹ với các đồng minh. Sự suy giảm lòng tin này hình thành trước khi Tổng thống B. Ô-ba-ma bước vào Nhà Trắng. Các đồng minh mới của Mỹ ở Đông Âu đã “mất công” trong việc ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến ở I-rắc năm 2003, đưa quân tới tham gia các hoạt động bảo đảm an ninh ở Áp-ga-ni-xtan và phải chịu cảnh rơi vào “chiếc cối xay thịt” trên cả hai chiến trường.

   Tình hình hiện nay như đang diễn ra theo hướng chính quyền của Tổng thống B. Ô-ba-ma coi Đông Âu là “ưu tiên hạng thấp” trong chính sách đối ngoại. Trong khi đó, dư luận trong các nước Đông Âu bắt đầu phản đối quyết định của chính phủ đã hùa theo Mỹ trong các cuộc chiến tranh “vô tích sự” đó. Vì thế, dư luận các nước Đông Âu có cảm tưởng rằng, Mỹ đang hành động theo cung cách “mang con bỏ chợ”.

   Không phải ngẫu nhiên mà chính quyền mới ở Mỹ chọn Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn thực hiện chuyến công du nhạy cảm này tới các đồng minh của họ ở Đông Âu. Trước khi được chọn xếp vào ghế Phó Tổng thống Mỹ, ông Giôn Bai-đơn đã có hàng chục chuyến công du tới Trung Âu và có quan hệ thân thiết với nguyên thủ nhiều nước Đông Âu. Ngoài ra, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Thượng viện Mỹ, ông Giôn Bai-đơn đã từng nổi danh là “người bảo vệ tin cậy” cho an ninh và sự thống nhất châu Âu.

   Theo nhận xét của ông Đa-ni-en Ha-min-tơn (Daniel Hamilton), cựu Thư ký Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề châu Âu, không có ai xứng đáng hơn Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn trong việc thực hiện chuyến thăm “tế nhị” sang các đồng minh của Mỹ ở Đông Âu vào thời điểm này.

   Trong các cuộc hội đàm và tiếp xúc với lãnh đạo các nước Đông Âu, Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn tái khẳng định quyết tâm của Mỹ là tiếp tục xây dựng lá chắn tên lửa để bảo vệ an ninh cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ, “chống lại mối đe dọa đến từ các phía” (không chỉ từ I-ran). Ngoài ra, Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn còn giải thích cho lãnh đạo các nước Đông Âu biết rõ cấu trúc của hệ thống phòng thủ tên lửa mới mà các nước Đông Âu có thể tham gia. Thay vì bố trí tên lửa đánh chặn ở Ba Lan và trạm ra-đa ở Cộng hoà Séc, Mỹ sẽ xây dựng lá chắn tên lửa gồm phần lớn là các thiết bị đặt trên các tàu chiến cơ động, và một phần tên lửa đánh chặn SM-3 rất hiện đại được bố trí tại một số điểm khác nhau ở châu Âu.

   Vẫn biểu hiện rõ sự đối đầu với Nga

   Nguyên thủ các nước Ba Lan và Cộng hoà Séc đã đồng ý tham gia cùng với Mỹ xây dựng lá chắn tên lửa mới hiện đại hơn. Hiện tại, trên lãnh thổ Ba Lan, Mỹ đã quyết định bố trí các dàn tên lửa Patriot có khả năng bắn rơi tên lửa tầm ngắn và tầm trung của đối phương. Đến năm 2018, Ba Lan sẽ tiếp nhận các tên lửa đánh chặn kiểu mới SM-3 của Mỹ.

   Theo thông báo từ Bộ quốc phòng Mỹ, Oa-sinh-tơn đã quyết định xây dựng hai căn cứ quân sự ở Ru-ma-ni và Bun-ga-ri với chi phí 110 triệu USD. Căn cứ quân sự ở Ru-ma-ni sẽ bố trí được 1.600 quân, còn căn cứ quân sự ở Bun-ga-ri chứa được 2.500 quân. Cả hai căn cứ quân sự này đều nằm trong chiến lược của Tổng thống tiền nhiệm G. Bu-sơ nhằm chuyển các căn cứ quân sự của Mỹ từ Đức sang hướng đông.

   Lầu Năm Góc tính toán, sự điều chỉnh này vừa tiết kiệm, vừa đưa các căn cứ quân sự của Mỹ gần với các “điểm nóng” ở Áp-ga-ni-xtan và Trung Đông, vừa thể hiện quyết tâm của Mỹ “sẵn sàng bảo vệ các đồng minh mới chống lại sự bành trướng ảnh hưởng của Nga”. Còn người Nga nhìn nhận kế hoạch mới của Mỹ ở Đông Âu theo một cách khác. Theo nhận xét của Thượng tướng Vích-to E-xin, cựu Tổng tham mưu trưởng Lực lượng tên lửa chiến lược của Nga, việc Mỹ triển khai các thành phần thuộc lá chắn tên lửa ở Đông Âu và các căn cứ quân sự ở Ba Lan, Ru-ma-ni, Bun-ga-ri là mắt xích quan trọng trong chiến lược toàn cầu đưa hạ tầng cơ sở chiến tranh sát biên giới Nga.

   Ngoài những nội dung trên đây, Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn còn thảo luận với nguyên thủ các nước chủ nhà nhiều vấn đề khác như: khả năng phối hợp hành động nhằm ngăn chặn và giáng trả những nguy cơ chung trong lĩnh vực an ninh trên cơ sở song phương cũng như trong khuôn khổ Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO); cuộc chiến chống khủng bố tại Áp-ga-ni-xtan; chiến lược mới của NATO; lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu hiện nay; biến đổi khí hậu và an ninh năng lượng. Tuy nhiên, điều khiến dư luận quan tâm hơn cả là trong chuyến thăm này, Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn muốn khẳng định, chủ trương của Mỹ “tái khởi động” quan hệ với Nga không ảnh hưởng đến lợi ích của các đối tác và đồng minh của Mỹ.

   Có thể thấy, chuyến thăm của Phó Tổng thống Mỹ Giôn Bai-đơn một lần nữa chứng tỏ, Mỹ chưa bao giờ từ bỏ tư duy đối đầu với Nga từ thời “chiến tranh lạnh”, mặc dù trên lời nói, họ vẫn tuyên bố sẵn sàng “tái khởi động” quan hệ Mỹ - Nga./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #62 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:50:36 pm »

ĐẰNG SAU QUYẾT ĐỊNH NGỪNG TRIỂN KHAI LÁ CHẲN TÊN LỬA Ở ĐÔNG ÂU CỦA MỸ

   Ngày 17-9-2009, Tổng thống Mỹ B. Ôbama đã chính thức quyết định ngừng triển khai kế hoạch xây dựng lá chắn tên lửa của Mỹ ở Ba Lan và Cộng hoà Séc, thay vào đó Mỹ sẽ phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa cơ động hiện đại, hiệu quả và kinh tế hơn. Quyết định này sẽ có tác động nhiều mặt tới quan hệ quốc tế, ngay lập tức nhận được cả ý kiến phản đối và sự ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế.

   Một mũi tên bắn trúng nhiều mục tiêu

   Ngay sau khi bước vào Nhà Trắng, tân Tổng thống Mỹ B. Ôbama đã từng tuyên bố sẽ xem xét lại kế hoạch lá chắn tên lửa của Mỹ ở Đông Âu vốn đang bị Nga kịch liệt phản đối và gây chia rẽ các đồng minh của Mỹ bên kia bờ Đại Tây Dương. Trong chuyến thăm Nga (đầu tháng 7-2009), Tổng thống Mỹ B. Ôbama vẫn còn bất đồng với người đồng cấp Nga trong vấn đề này và hai bên chỉ thống nhất được ở một kết luận chung là sẽ đánh giá lại nguy cơ tên lửa trên thế giới để có giải pháp đối phó thích hợp. Cuối tháng 7-2009, Tổng thống Mỹ B. Ôbama giao cho các chuyên gia trong vòng hai tháng đánh giá lại nguy cơ tên lửa từ Iran và Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, kết quả sẽ được báo cáo lên Tổng thống Mỹ vào cuối tháng 9-2009. Không chờ tới lúc đó, ngày 17-9-2009, Tổng thống Mỹ B. Ôbama đã ra tuyên bố ngừng triển khai lá chắn tên lửa của Mỹ ở Đông Âu và quyết định xây dựng lá chắn tên lửa mới, cơ động, bố trí trên các chiến hạm và trên đất liền nhằm đối phó với nguy cơ tên lửa tầm ngắn và tầm trung từ Iran. Có thể thấy, đây là thời điểm thích hợp nhất để Tổng thống Mỹ B. Ôbama đưa ra quyết định, được dư luận rộng rãi ửng hộ, bởi ngoài mục tiêu thay đổi một lá chắn cũ bằng một lá chắn mới có hiệu quả, kinh tế và hiện đại hơn, nó còn nhằm nhiều mục đích chính trị quan trọng.

   Một là, nhấn nút khởi động cài đặt lại quan hệ Mỹ - Nga. Thực tế cho thấy, trên danh nghĩa, lá chắn tên lửa của Mỹ ở Đông Âu được giải thích là nhằm đánh chặn tên lửa từ Iran và Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, nhưng thực chất là nhằm đánh chặn tên lửa của Nga trong giai đoạn vừa rời khỏi bệ phóng. Vì thế, Kế hoạch phòng thủ tên lửa của Mỹ ở Đông Âu bị Nga kịch liệt phản đối và đã trở thành rào cản lớn trong quan hệ Mỹ - Nga. Trong chuyến thăm Nga đầu tiên của Tổng thống Mỹ B. Ôbama, hai bên đã đạt được thoả thuận quan trọng là sẽ xem xét để đưa các nội dung liên quan đến các phương tiện phòng thủ tên lửa vào chương trình đàm phán về Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược (START) mới. Tuy nhiên, quá trình đàm phán về Hiệp ước START mới đang rơi vào bế tắc liên quan tới lá chắn tên lửa và đứng trước nguy cơ không thể ký kết được vào cuối năm nay. Để Mỹ và Nga có thể ký kết Hiệp ước START mới vào tháng 12 - 2009 và xa hơn nữa là cài đặt lại quan hệ Mỹ - Nga, Mỹ không thể không đáp ứng yêu cầu của Nga là ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu. Do đó, tuyên  bố của Tổng thống Mỹ B. Ôbama về việc ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu (ngày 17-9-2009) là dấu hiệu chứng tỏ quá trình cài đặt lại quan hệ Mỹ - Nga đã thực sự khởi động và khai thông bế tắc trong các cuộc đàm phán về Hiệp ước START mới.

   Hai là, tạo ra sự thống nhất của các đồng minh NATO ở châu Âu nhằm giải quyết vấn đề Apganixtan. Cựu Tổng thống Mỹ G. Busơ trước đây đã từng đưa ra tuyên bố gây  tranh cãi rằng, châu Âu bị chia rẽ sẽ dễ cai quản hơn một  châu Âu thống nhất, hơn nữa lại là một châu Âu có thể bao gồm cả Nga. Do chính sách của Mỹ, ở châu Âu hình thành hai khối: châu Âu cũ gồm Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Italia... đang có xu hướng li khai khỏi quỹ đạo của Mỹ và châu Âu mới gồm các nước Đông Âu vừa mới gia nhập  NATO như Ba Lan và Cộng hoà Séc, nên kế hoạch lá chắn  tên lửa do cựu Tổng thống Mỹ G. Busơ đề xuất còn nhằm  chia rẽ các nước châu Âu mới với các nước châu Âu cũ. Trong tình thế hiện nay, Tổng thống Mỹ B. Ôbama rất cần  sự thống nhất tất cả các đồng minh NATO ở châu Âu để  giải quyết vấn đề chiến tranh ở Apganixtan và cài đặt lại quan hệ với Nga, vì thế Mỹ không thể không xem xét lại  động cơ chính trị của lá chắn tên lửa. Tổng thư ký mới của NATO cũng đã từng tuyên bố rằng, hiện nay NATO có hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng là giành chiến thắng ở Apganixtan và củng cố quan hệ đối tác với Nga. Do đó, đây là thời điểm thích hợp nhất để Tổng thống Mỹ B. Ôbama đưa ra quyết định nhổ bỏ rào cản đã từng chia rẽ các đồng minh của Mỹ ở châu Âu.

   Ba là, góp phần hạ nhiệt làn sóng phản đối của các cử tri Mỹ đối với một số vấn đề trong chính sách đối nội. Trong hơn 200 ngày cầm quyền, trong chính sách đối nội, Tổng thống Mỹ B. Ôbama đang vấp phải sự phản đối khá mạnh mẽ của các cử tri Mỹ trong chính sách cải cách hệ thống y tế vốn được coi là có ý nghĩa then chốt đối với sự nghiệp chính trị của ông trong nhiệm kỳ đầu tiên. Trong khi đó, có nhiều người cho rằng, thật vô nghĩa khi phải chi hàng tỷ USD để phát triển một lá chắn tên lửa nhằm  chống lại một mối đe dọa không tồn tại trong lúc cuộc khủng hoảng kinh tế đang đè nặng lên vai nước Mỹ. Trong chính sách đối ngoại, Tổng thống Mỹ B. Ôbama bị chỉ trích là chỉ tiếp tục những gì mà cựu Tổng thống Mỹ Busơ đã làm, thậm chí báo Lợi ích quốc gia của Mỹ đã gọi nhiệm kỳ đầu tiên của ông là nhiệm kỳ thứ ba của cựu Tổng thống Mỹ G. Busơ. Do đó, quyết định của Tổng thống Mỹ B. Ôbama ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu được dư luận Mỹ ủng hộ rất cao, có 72% số người được hỏi tán thành quyết định này, đồng thời đã góp phần tạo ra niềm tin của các cử tri Mỹ vào chính sách thay đổi của Tổng thống Mỹ B. Ôbama.

   Bốn là, tạo vị thế mới cho Mỹ hoàn thành sứ mệnh Chủ tịch kỳ họp Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc được tổ chức vào ngày 24-9-2009 tại Oasinhtơn bàn về vấn đề giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí hạt nhân. Bằng quyết định ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu, Tổng thống Mỹ B. Ôbama hy vọng tranh thủ được sự ủng hộ của Nga và các thành viên khác trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với các đề xuất của Mỹ.

   Năm là, triển khai kế hoạch xây dựng lá chắn tên lửa mới, hiệu quả hơn cả về mặt kinh tế và quân sự mà không gây căng thẳng về chính trị. Đúng như tuyên bố của Tổng thống Mỹ B. Ôbama, Mỹ sẽ xây dựng lá chắn tên lửa mới có hiệu quả hơn. Ngay sau khi tuyên bố của Tổng thống Mỹ B. Ôbama được đưa ra, một nhóm nghị sĩ của Đảng Cộng hoà đã trình Quốc hội Mỹ một dự án xây dựng lá chắn tên lửa mới trên lãnh thổ Grudia gồm hai thành phần trên bộ và trên biển. Theo kế hoạch, dự án sẽ được trình lên Quốc hội Mỹ vào năm 2015. Như vậy, rất có thể sau Ba Lan và Cộng hoà Séc, Grudia sẽ trở thành vật cản mới trong quan hệ Mỹ - Nga. Quyết định cuối cùng còn phụ thuộc vào Tổng thống Mỹ B. Ôbama.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #63 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:52:59 pm »

   Ngừng triển khai nhưng chưa phải là kết thúc

   Quyết định của Tổng thống Mỹ B. Ôbama ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu không có nghĩa là hoàn toàn huỷ bỏ lá chắn tên lửa, mà sẽ tiếp tục phát triển lá chắn ở dạng khác, hiệu quả hơn, kinh tế hơn, tin cậy hơn, và điều quan trọng là sẽ không cần bố trí ở Đông Âu. Trên thực tế, Tổng thống Mỹ B. Ôbama chỉ thay đổi lá chắn tên lửa cũ bằng hệ thống mới được xây dựng theo bốn giai đoạn.

   Giai đoạn thứ nhất (kết thúc vào khoảng năm 2011): bố trí ở châu Âu các hệ thống đánh chặn tên lửa đã qua thử nghiệm, như tên lửa SM-3 và hệ thống rađa tiên tiến. Các hệ thống này sẽ được bố trí trên các tàu chiến Aegis cơ động trên biển nhằm đánh chặn tên lửa đường đạn tầm ngắn và tầm trung.

   Giai đoạn thứ hai (kết thúc vào năm 2015): sẽ thử nghiệm tên lửa đánh chặn SM-3 hiện đại hơn bố trí trên biển và cơ động trên mặt đất có khả năng đánh chặn tên lửa tầm trung và tầm ngắn;

   Giai đoạn thứ ba (kết thúc vào năm 2018): tiếp tục thử nghiệm và triển khai tên lửa SM-3 cải tiến nhằm đánh chặn tên lửa tầm gần, tầm trung và tầm xa;

   Giai đoạn thứ tư (kết thúc vào 2020): triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (NMD) có khả năng đánh chặn tất cả các loại tên lửa, kể cả tên lửa đường đạn xuyên lục địa. Theo kế hoạch, Mỹ sẽ triển khai các loại rađa và tên lửa đánh chặn mang nhiều đầu đạn hoàn toàn mới, nên Mỹ sẽ không cần phải bố trí các trạm rađa trên mặt đất như kiểu trạm rađa dự kiến bố trí ở Đông Âu. Vì thế, hoàn toàn loại trừ khả năng Mỹ sẽ tái bố trí lá chắn tên lửa ở Đông Âu. Tổng thống Mỹ B. Ôbama cho rằng, lá chắn tên lửa mới sẽ có khả năng bảo vệ các lực lượng vũ trang Mỹ và các đồng minh của Mỹ tốt hơn nhiều so với hệ thống dự định triển khai ở Đông Âu.

   Dư luận quốc tế

   Theo điều tra dư luận, có tới 72% số người Mỹ được hỏi ủng hộ quyết định của Tổng thống Mỹ B. Ôbama, nhưng cũng có không ít người phản đối và hoài nghi. Dư luận trong nước Mỹ cho rằng, quyết định của Tổng thống Mỹ Ôbama giống như trao một món quà cho nước Nga mà không nhận lại được gì, thậm chí còn tỏ ra lo sợ các nước Tây Âu sẽ không được che chắn nếu như không có hệ thống này. Một số quan chức trong chính quyền của của Tổng thống G. Busơ thì tỏ ra hết sức lo ngại rằng, kế hoạch mới của Tổng thống Mỹ B. Ôbama sẽ làm các nước đã từng ủng hộ Mỹ tức giận. Vì các nước này đã hy vọng nhiều vào hệ thống phòng thủ chung, khi hệ thống này không còn tồn tại, họ sẽ phải gánh chịu rủi ro.

   Tại Ba Lan, các tờ báo số ra ngày 18-9-2009 ngay sau khi quyết định của Mỹ được cộng bố đã chạy những hàng tít lớn bày tỏ sự lo ngại trước việc Mỹ rút khỏi kế hoạch đã được thỏa thuận với nước này. Cũng giống như việc gia nhập NATO, với Ba Lan và Cộng hoà Séc,  thống phòng thủ tên lửa của Mỹ được coi là sự đảm bảo về an ninh trước các mối đe dọa. Tổng thống Ba Lan Lêch Cadunxki đã bày tỏ lo ngại về quyết định của Tổng thống  Mỹ B. Ôbama rằng, nó sẽ đặt Ba Lan vào một vùng xám  không được đảm bảo về an ninh giữa Tây Âu và nước Nga.  Còn cựu Tổng thống Ba Lan Lêch Valesa thì phản ứng gay  gắt hơn nhiều: “Tôi không thích chính sách kiểu như thế  này. Không phải vì chúng tôi quá cần hệ thống phòng thủ  tên lửa này. Chúng tôi chỉ cảm thấy như đang bị lừa dối. Mỹ không thể xử sự như sen đầm quốc tế của thế giới như  vậy được”. Ở Cộng hoà Séc, phản ứng có vẻ bình tĩnh hơn  và kiềm chế hơn. Thủ tướng Cộng hoà Séc Gian Phisơ nhận định tuyên bố trên của Mỹ có tác động tích cực tới quan hệ với Nga, nhưng sẽ không có tác động gì đến mối quan hệ giữa Mỹ và Cộng hoà Séc, cũng như một số quốc gia Đông Âu khác vì Mỹ và họ là những đồng minh và đối tác thân thiết.

   Tổng thống Nga Đ. Métvêđép tuyên bố, Nga đánh giá cao thái độ đầy trách nhiệm của Mỹ trong việc hiện thực hóa thỏa thuận mà hai bên đã đạt được: Nga sẵn sàng tiếp tục đối thoại với Mỹ. Các chuyên gia quân sự của Nga thì cho rằng, việc Mỹ quyết định ngừng kế hoạch triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu được coi như một thắng lợi của Nga. Tổng thư ký NATO Anđơ Phốc Rátmuxen nhận xét rằng, đây là một quyết định sáng suốt, phù hợp hoàn toàn với nguyên tắc đoàn kết trong NATO và tính bền vững của nền an ninh tại châu Âu. Lãnh đạo các nước châu Âu tham dự một hội nghị thượng đỉnh khu vực tại Brúcxen (Bỉ) cũng có phản ứng tích cực vê quyết định của Tổng thống Mỹ B. Ôbama. Thủ tướng Anh G. Brao tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ quyết định của Tổng thống Mỹ B. Ôbama và dự đoán sẽ còn có một số tiến triển trong vấn đề giải trừ hạt nhân trên thế giới trong thời gian tới. Thủ tướng Đức Angiêla Mécken cũng khẳng định quyết định này của Mỹ là một hành động hiệu quả có thể góp phần tháo gỡ  những trở ngại trong quan hệ với Nga, đặc biệt là xung quanh vấn đề chiến lược chung nhằm chống lại những mối đe dọa từ Iran. Tổng thống Pháp Nicôla Sáccôdi khẳng định, đây là một quyết định tuyệt vời và sẽ đóng vai trò tích cực trong việc cải thiện các mối quan hệ Nga - châu Âu - Mỹ.

   Triển vọng cài đặt lại quan hệ Mỹ - Nga sau khi Mỹ ngừng triển khai lá chắn tên lửa

   Các nhà phân tích cho rằng, quyết định ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu của Mỹ chứng tỏ Mỹ biết lắng nghe ý kiến của Nga. Trước đây, Nga đã từng một mực khẳng định tên lửa của Iran không phải là mối đe  doạ và việc Mỹ triển khai NMD ở Đông Âu là nhằm vào  Nga. Trong tuyên bố ngày 17-9-2009, Tổng thống Mỹ B.  Ôbama cũng đã chấp nhận lập luận này của Nga. Có thể dự báo, quyết định của Tổng thống Mỹ B. Ôbama ngừng triển khai lá chắn tên lửa ở Đông Âu sẽ tạo ra những thay đổi có tính nguyên tắc trong quan hệ Mỹ-Nga và trong chính sách đối ngoại của Nga. Nga được Mỹ công nhận là một cường quốc lớn và có khu vực ảnh hưởng trong không gian hậu Xô viết, theo đó kế hoạch kết nạp  Ucraina và Grudia vào NATO sẽ được hoãn lại trong một thời hạn bất định.

   Ngoài ra, Tổng thống Mỹ B. Ôbama còn tuyên bố, Mỹ sẵn sàng hợp tác với Nga trong lĩnh vực lá chắn tên lửa. Với sự ủng hộ mạnh mẽ của các đồng minh NATO trong châu Âu cũ như Anh, Pháp, Đức đối với quyết định của  Tổng thống Mỹ B. Ôbama, Nga có cơ sở và niềm tin quay trở lại với đề xuất của họ đã từng đưa ra trước đây về việc Nga cùng với các nước châu Âu xây dựng lá chắn tên lửa chung nhằm bảo vệ toàn bộ các quốc gia trên châu lục này. Nga đã từng đề xuất sáng kiến xây dựng lá chắn tên lửa phối hợp này nhưng đã bị các nước châu Âu bác bỏ sau khi cựu Tổng thống Mỹ G. Busơ tuyên bố Mỹ sẽ bố trí tên lửa đánh chặn và rađa ở Ba Lan và Cộng hoà Séc vào năm 2006. Hiện nay, có nhiều khả năng Nga và các nước châu Âu sẽ phối hợp xây dựng lá chắn tên lửa chung, hoặc sẽ tham gia cùng với Mỹ xây dựng lá chắn tên lửa mới theo quyết định của Tổng thống Mỹ B. Ôbama. Thực tế cho thấy, Nga. là quốc gia đầu tiên làm chủ công nghệ đánh chặn tên lửa và hiện nay vẫn là nước đứng ở vị trí hàng đầu trong lĩnh vực này. Hiện nay, Nga đang phát triển tên lửa phòng không và phòng thủ vũ trụ S-500 siêu hiện đại, có nhiều tính năng ưu việt hơn hệ thống tên lửa đánh chặn SM-3 của Mỹ. Vì thế, các cố vấn quân sự của Tổng thống Mỹ B. Ôbama đã đề xuất nhiều phương án hợp tác với Nga để xây dựng lá chắn tên lửa chung trên phạm vi toàn cầu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #64 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:54:10 pm »

GIẢI TOẢ VẬT CẢN GIỮA LÒNG CHÂU ÂU

   Ngày 17-9-2009, Tổng thống Mỹ B. Ôbama đã có một quyết định rất quan trọng là ngừng triển khai kế hoạch xây dựng lá chắn tên lửa của Mỹ ở Ba Lan và Cộng hoà Séc thay vào đó Oasinhtơn sẽ phát triển hệ thống cơ động phòng thủ tên lửa hiện đại hơn, hiệu quả hơn và kinh tế hơn, nhằm bảo vệ châu âu trước nguy cơ tên lửa. Quyết định này sẽ có tác động nhiều mặt tới quan hệ quốc tế, trước hết là giữa các nước châu Âu và ngay lập tức nhận được cả ý kiến phản đối cũng như ủng hộ rộng rãi của dư luận.

   Nói tới quan hệ giữa các nước châu Âu, có thể nhận thấy có hai mối mâu thuẫn. Một là, giữa các nước “châu Âu cũ” gồm Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, v.v. đang có xu hướng “ly khai” khỏi quỹ đạo của Mỹ, với các nước trong khối “châu Âu mới” gồm các nước Đông Âu vừa mới gia nhập NATO như Ba Lan và Cộng hoà Séc, v.v. có xu hướng gắn bó ngày càng chặt chẽ với Mỹ. Trong khi các nước “châu Âu cũ” từng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Irắc, thì các nước “châu Âu mới” nhiệt tình ủng hộ cuộc  chiến đó của Mỹ. Hai là, mâu thuẫn giữa các nước trong “châu Âu cũ” và “châu Âu mới” với Nga. Trong đó, kỳ lạ thay, các nước trong “châu Âu mới” một thời đã từng là đồng minh của Nga thì nay mâu thuẫn gay gắt hơn nhiều so với mâu thuẫn giữa các nước “châu Âu cũ” với Nga. Do đâu có tình hình đó? Để hiểu được động thái này, nhiều người hẳn không quên tuyên bố “nổi tiếng” của Tổng thống G. Busơ trước đây, rằng, châu Âu bị chia rẽ sẽ dễ “cai quản” hơn một châu Âu thống nhất, hơn thế nữa lại là một châu Âu có thể có Nga gia nhập vào trong đó. Vì thế, kế hoạch lá chắn tên lửa do Tổng thống G. Busơ đề xuất bố trí trên lãnh thổ hai nước Ba Lan và Cộng hoà Séc thuộc “châu Âu mới” mà không cần tham khảo ý kiến của các đồng minh trong “châu Âu cũ” được ví như “cái gai” không chỉ nhằm chia rẽ hai khối đồng minh của Mỹ ở châu Âu mà còn khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa các nước “châu Âu mới” với Nga. Việc Oasinhtơn lập luận rằng, lá chắn tên lửa ở Đông Âu nhằm đối phó với nguy cơ tiến công bằng tên lửa tầm xa từ phía Iran chỉ là ngụy biện, còn thực chất là dùng cái “ô an ninh” như thời Chiến tranh lạnh để tập hợp các nước “châu Âu mới” vào vòng ảnh hưởng của Mỹ.

   Hiện nay, Tổng thống B. Ôbama đang cần sự thống nhất giữa Mỹ và các đồng minh ở châu Âu và cả sự hợp tác với Nga để cùng đối phó với những nguy cơ mang tính toàn cầu. Do đó, việc Tổng thống B. Ôbama tuyên bố ngừng triển khai kế hoạch lá chắn tên lửa ở hai nước “châu Âu mới” được giới phân tích đánh giá như một quyết định giải toả vật cản ngay giữa lòng châu Âu và được đa số đồng minh chủ chốt của Mỹ trong NATO hoan nghênh. Ông Anđơ Rátmasen, Tổng Thư ký NATO nhận xét: “Tôi đánh giá rất cao sáng kiến này, tôi cho rằng nó hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc đoàn kết trong NATO và tính bền vững của nền an ninh tại châu Âu.” Lãnh đạo các nước châu Âu tham dự một hội nghị thượng đỉnh khu vực tại Brúcxen cũng có phản ứng tích cực về quyết định của Tổng thống B. Ôbama. Thủ tướng Anh Gớtđơn Brao tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ quyết định của Tổng thống B. Ôbama và dự đoán sẽ còn có những tiến triển trong vấn đề giải trừ hạt nhân trên thế giới thời gian tới. Thủ tướng Đức Angiêla Mécken cũng khẳng định quyết định này của Mỹ là một “dấu hiệu đầy lạc quan”, có thể góp phần “khắc phục những trở ngại trong quan hệ với Nga, đặc biệt là xung quanh vấn đề chiến lược chung nhằm chống lại những mối đe dọa từ Iran”. Tổng thống Pháp Nicôla Sáccôdi mô tả đây là “một quyết định tuyệt vời” và sẽ đóng vai trò tích cực trong việc cải thiện các mối quan hệ Nga - châu Âu - Mỹ. Tuy nhiên, quyết định này phần nào làm “cụt hứng” một số giới lãnh đạo ở Ba Lan và Cộng hoà Séc thậm chí dư luận ở Ba Lan còn cho rằng “người Mỹ đã mang con bỏ chợ”.

   Ở châu Âu, Nga là quốc gia tỏ ra “mừng” hơn cả trước quyết định của Tổng thống B. Ôbama, bởi quyết định đó không chỉ là ấn nút “cài đặt lại” quan hệ Mỹ - Nga, mà còn mở ra giai đoạn mới, có thể bớt xung đột hơn, trong quan hệ vốn cơm chẳng lành canh chẳng ngọt giữa Nga với các nước châu Âu khác. Tổng thống Nga Đ. Métvêđép tuyên bố: “Chúng tôi đánh giá cao thái độ đầy trách nhiệm của Tổng thống Mỹ trong việc hiện thực hóa thỏa thuận mà hai bên đã đạt được. Tôi sẵn sàng tiếp tục đối thoại”. Ông Paven Phengenhau, chuyên gia quân sự Nga, nhận định: “Ở nước Nga, quyết định này được coi như một thắng lợi. Ở Ba Lan, quyết định này cũng được coi như một thắng lợi của nước Nga”. Giờ đây, các nước châu Âu bắt đầu bàn tới đề xuất của Tổng thống Nga Đ. Métvêđép xây dựng hệ thống an ninh chung cho châu Âu, trong đó có lá chắn tên lửa chung cho châu lục này. Ngày 21-9-2009, Thượng tướng Nga Víchto Exin, cựu Tham mưu trưởng lực lượng tên lửa chiến lược của Nga tiết lộ với hãng RIA Novosti rằng, Nga và Mỹ có thể phối hợp xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa tại châu Âu. Công bằng mà nói, Nga là quốc gia đã từng dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ phòng chống tên lửa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #65 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:57:30 pm »

CHIẾN TRANH THÔNG TIN CỦA MỸ - TỪ CÔ-XÔ-VÔ ĐẾN NAM Ô-XÊ-TI-A

   Trong cuộc chiến ở Nam Ô-xê-ti-a vừa qua, ngoài cuộc đọ súng trên chiến trường, dư luận quốc tế được chứng kiến một cuộc chiến tranh khác có phần còn quyết liệt hơn, gay cấn hơn giữa các bên. Đó là cuộc “chiến tranh thông tin” giữa Mỹ và các nước phương Tây với Nga, mà ưu thế vượt trội không thuộc về Nga.

   CHIẾN TRANH THÔNG TIN CỦA MỸ

   Theo ý kiến của nhiều chuyên gia phân tích chính trị quốc tế, trong quan hệ với nước Nga và các nước châu Âu khác, giới lãnh đạo ở Mỹ đặt “chiến lược không can thiệp trực tiếp” lên hàng đầu, trong đó, hoạt động chiến tranh thông tin - tâm lý đóng vai trò và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

   Trong tác phẩm “Thế nào là chiến tranh thông tin”, một trong những chuyên gia lý luận hàng đầu về chiến tranh thông tin của Mỹ đã xác định 7 hình thức của loại hình chiến tranh này là chiến tranh chỉ huy - quản lý; chiến tranh tình báo; chiến tranh tâm lý; chiến tranh virus; chiến tranh kinh tế; chiến tranh điện tử; và chiến tranh điều khiển.

   Theo tác giả, riêng chiến tranh tâm lý có bốn nhiệm vụ: làm suy sụp tinh thần dân chúng, làm băng hoại đạo đức - tinh thần của quân đội đối phương, định hướng sai đối với ban lãnh đạo cấp cao và chiến tranh văn hoá. Vũ khí chủ yếu để tiến hành “chiến tranh thông tin” là các phương tiện thông tin đại chúng quốc gia và xuyên quốc gia, mạng thông tin toàn cầu. Đây là những phương tiện thông tin rất hữu hiệu để tác động đến thế giới quan, quan điểm chính trị, nhận thức pháp luật, lý tưởng và các quan niệm giá trị của từng con người cũng như toàn xã hội nói chung.

   Áp đặt tiêu chuẩn kiểu Mỹ

   Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng hàng đầu ở Mỹ đang trải qua sự chuyển hướng căn bản trong hoạt động, nhằm tác động trực tiếp vào dư luận xã hội. Sử dụng biện pháp làm sai lệch nhận thức, thậm chí làm thay đổi hẳn nhận thức về tình hình thực tế, áp đặt cách giải thích một chiều về các quá trình chính trị - xã hội và thực trạng kinh tế lên dư luật quốc tế, tung ra các quan điểm đánh giá sự kiện ngược hẳn với quan niệm của dân chúng. Nền tảng tư tưởng chủ yếu ở đây là quan điểm cho rằng mô hình phát triển của Mỹ, lối sống kiểu Mỹ là tiêu chuẩn chân lý, còn bất kỳ sự lựa chọn nào khác đều “tiềm ẩn nguy cơ phá hoại trật tự thế giới”. Do vậy, Mỹ phải “đấu tranh” với những lựa chọn đó bằng tất cả các phương tiện, kể cả tiến công quân sự!

   Để tăng cường hiệu quả tác động thông tin - tâm lý, các chuyên gia chiến tranh thông tin ở Mỹ chủ trương tăng đến mức tối đa số lượng các kênh tác động thông tin như văn học, điện ảnh, công nghệ thông tin, tôn giáo v.v.. Nội dung thông tin cần truyền tải sẽ được nhào nặn sao cho phù hợp với yêu cầu của các loại hình kênh thông tin khác nhau, để chuyển tới dân chúng một cách tự nhiên nhất. Những thông tin có tính cảm xúc và giải trí trên các kênh truyền hình được ưu tiên hơn cả. Trong đó, thông thường yếu tố tư tưởng chỉ được đứng ở vị trí sau, có vẻ thoáng qua, nhưng chính vì thế mà mức độ tác động của thông tin tăng lên gấp bội. Vì thế, một số chương trình giải trí xem ra có vẻ vô hại, nhưng theo chiến lược “mưa dầm thấm lâu”, sẽ được hình thành ở con người mối quan hệ gắn bó với bạo lực và hình thành cách giải quyết xung đột bằng bạo lực, bất chấp giá trị đích thực của con người.

   Biện pháp tác động

   Truyền hình được xem là phương tiện tác động có hiệu quả hơn nhiều so với đài phát thanh và báo chí, trước hết, vì nó có khả năng độc nhất vô nhị trong việc xoá nhòa ranh giới giữa cái thật và cái giả. Ngay cả những điều giả dối trần trụi một khi được thể hiện qua kênh truyền hình cũng ít khi gây nên phản ứng nghi ngờ ở người xem. Từ đó, tâm lý cảnh giác, tự vệ, hoặc “khả năng miễn dịch” của người xem bị tê liệt dần và con người mất dần khả năng nhận xét, phê phán. Một khi các kênh thông tin nói, nghe và nhìn đồng thời kết hợp với nhau trong truyền hình thì hiệu quả nhào nặn thông tin tác động vào nhận thức sẽ tăng lên gấp bội. Cùng một nội dung văn bản do một phát thanh viên đọc trên đài phát thanh khi được phát kết hợp với hình ảnh trên truyền hình sẽ được dư luận tiếp nhận như một chân lý hiển nhiên, đặc biệt là khi các hình ảnh đó được quay tại hiện trường.

   Để tăng hiệu quả tác động thông tin - tâm lý, các chuyên gia chiến tranh tâm lý Mỹ sử dụng hàng loạt các thủ pháp như im lặng miễn bình luận, làm giả, khuếch đại, lựa chọn văn bản v.v.. Thí dụ, hiện nay các phương tiện thông tin đại chúng sử dụng rộng rãi một thủ pháp đơn giản được gọi là “định vị”. Thủ pháp này tập trung trình bày những khía cạnh của đối tượng mà người xem quan tâm nhất, rồi biến một đối tượng không quen biết và lạ lùng thành quen biết và cần thiết đối với người xem. Thí dụ đơn giản nhất minh họa cách đưa tin theo kiểu “định vị” là thủ pháp sử dụng thuật ngữ khác nhau. Tổng thống G.Bu-sơ - cha gọi hàng nghìn người Mỹ ở Cô-oét là những “con tin”, và Mỹ phải dùng sức mạnh quân sự để giải thoát họ. Một ví dụ khác tương tự là, phương tiện thông tin đại chúng đã chuyển hoá hàng loạt các thuật ngữ mô tả xung đột quân sự: thay vì sử dụng các thuật ngữ thông thường để miêu tả các hoạt động quân sự của Mỹ ở nước ngoài như “chiến dịch quân sự”, “đột nhập”, “tiến công”, thì lại dùng các thuật ngữ nghe “mềm mại” hơn như “chiến dịch gìn giữ hoà bình”, “sứ mệnh nhân đạo”, “kiểm soát tình hình”.

   Hiện nay, trong dư luận thế giới, ngay cả khái niệm “chiến tranh” dường như cũng đã thay đổi. Các cơ quan thông tin ở Mỹ từ chiến tranh Vùng Vịnh tới nay đã xây dựng khái niệm “chiến tranh công nghệ cao” hoặc “chiến tranh giải phẫu”, “chiến tranh phi sát thương”, trong đó, sử dụng vũ khí giết người có độ chính xác chưa từng thấy, nhằm làm cho nhận thức của con người quên đi khái niệm chiến tranh đồng nghĩa với huỷ diệt và chết chóc. Từ đó, làm cho dư luận cảm thấy quân đội Mỹ ngày nay được trang bị vũ khí có trình độ công nghệ hiện đại nhất, đang tiến hành các chiến dịch quân sự “sạch”, không gây sát thương và tàn phá nhà cửa. Những khái niệm đó được sử dụng rộng rãi, phổ biến nhằm định hướng dư luận xã hội, theo hướng có lợi cho Mỹ.
   Một thủ pháp nữa mà các phương tiện thông tin đại chúng ở Mỹ cũng thường sử dụng khi đưa tin về các xung đột quân sự là hạn chế thông tin toàn diện về các khía cạnh của vấn đề mà người xem quan tâm. Thí dụ, trong cuộc chiến tranh ở Nam Tư, các phương tiện thông tin đại chúng chỉ đưa tin một chiều về những người tị nạn Cô-xô-vô, không quan tâm đến người tị nạn Xéc-bi. Các kênh truyền hình chỉ đưa tin về những cuộc di tản hàng loạt của đàn ông, phụ nữ, trẻ em bị người Xéc-bi “xua đuổi”. Họ im lặng và không đưa tin về chuyện hàng loạt người Cô-xô-vô chạy tị nạn khi Mỹ và NATO bắt đầu ồ ạt tiến công Nam Tư.
   Một trong những thủ pháp phổ biến nhất được sử dụng là “cảm tình hoá” và “hệ thống hoá” cách đưa tin. Các khối tin tức về cuộc xung đột ở Nam Tư hàng ngày được bắt đầu bằng phóng sự về nỗi khổ của những người tị nạn, rồi sau đó mới đưa tin về các vụ ném bom và bắn phá tên lửa của NATO. Trình tự đưa tin đó làm người xem có cảm tưởng binh lính quân đội NATO là “những người cứu tinh” của người Cô-xô-vô.
 
   Trong chiến dịch thông tin - tâm lý tuyên truyền ủng hộ chiến dịch quân sự ở Áp-ga-ni-xtan, các nhóm tàn quân Ta-li-ban được mô tả như “một lực lượng còn mạnh”, có khả năng “đe doạ trật tự thế giới”! Trong khi đó, lại hoàn toàn không đề cập đến những thiệt hại về dân thường trong các cuộc ném bom, bắn phá của Mỹ. Chiến dịch này trước hết nhằm biện minh cho việc có mặt quân sự của Mỹ và NATO ở Trung Á và chuẩn bị dư luận quốc tế ủng hộ các cuộc can thiệp của Mỹ chống lại các nước khác. Đây là chiến dịch thông tin - tâm lý tuyên truyền lớn nhất của các phương tin thông tin đại chúng Mỹ. Nhận xét về hoạt động của Mỹ ở Áp-ga-ni-xtan, một số nhà chính trị cho rằng, trên thực tế, người Mỹ chỉ giành chiến thắng trong “một cuộc chiến tranh không đáng kể”, nhưng họ đã làm cho cả thế giới tin rằng, chiến thắng của họ vô cùng to lớn.

   Một thí dụ khác là, với thời lượng đưa tin không cân đối, các kênh thông tin tạo ra một bức tranh hoàn toàn khác thực tế khi đưa tin về các sự kiện ở Che-xnia. Thí dụ, trong một phóng sự 10 phút về chuyến đi của đoàn đại biểu cộng đồng châu Âu đến Che-xnia, người ta chỉ dành 3 phút đầu để đưa tin về các cuộc gặp gỡ chính thức với lãnh đạo chính trị và quân sự của Nga, về các nỗ lực bình thường hoá tình hình ở nước cộng hoà này, 7 phút còn lại đưa tin về dân chúng Che-xnia chạy tị nạn và “tội ác” của các lực lượng Liên bang Nga đối với dân thường.

   Mỹ hoá các phương tiện thông tin đại chúng

   Gần đây đang có xu hướng Mỹ hoá các phương tiện thông tin đại chúng của nhiều nước, không chỉ do hành động “xâm lược” của các phương tiện thông tin đại chúng Mỹ mà còn do “sáng kiến” của lãnh đạo một số nước đang muốn gia nhập “thế giới văn minh”. Quá trình Mỹ hoá các phương tiện thông tin đại chúng còn do tính cuốn hút của các chương trình truyền hình Mỹ. Do đó, người xem của nhiều nước tự coi mình là lạc hậu nếu không tiếp cận với truyền hình Mỹ(!).

   Việc xây dựng hình mẫu truyền hình như một phương tiện quan trọng, chủ yếu để bành trướng tư tưởng, có tác động phá hoại đối với nền văn hoá dân tộc và cả xã hội nói chung. Chính từ đó có sự thay đổi quan niệm về giá trị, về hình thành các kiểu “anh hùng dân tộc” có trí tuệ siêu phàm và quan niệm thiếu phân tích đối với cuộc sống. Sẵn sàng sử dụng vũ khí và sức mạnh chính là sự bần cùng hoá tinh thần và hun đúc cách sống bạo lực trong xã hội. Điều đó sẽ dẫn đến cuộc khủng hoảng sâu sắc ngay cả trong phạm trù giá trị xã hội, chuyển từ nhận thức biện chứng đối với hiện tượng xung quanh sang nhận thức chấp nhận.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #66 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 03:59:26 pm »

   Công nghiệp điện ảnh - công cụ tuyên truyền có hiệu quả

   Công nghiệp điện ảnh vẫn là công cụ tuyên truyền có hiệu quả của Mỹ. Trong thời gian gần đây, công nghiệp điện ảnh đã trải qua một cuộc “uốn nắn” tư tưởng. Trong các bộ phim được dàn dựng những năm trước đây như “Vách đá”, “Chiếc cung tên bị gãy” và “Trong vòng vây”, cơ sở kịch bản là bạo lực và khủng bố. Trong các phim những năm gần đây như “Người gìn giữ hoà bình”, “Ba vị hoàng đế” hoặc “Bên kia chiến tuyến”, hình ảnh các “anh hùng” trong phim không những đã có tác dụng đáng kể nâng cao “uy tín” của các quân nhân Mỹ, mà còn hình thành nhận thức và quan điểm tốt đẹp của dân chúng tại các nước phát triển đối với chiến tranh Vùng Vịnh, chiến tranh Nam Tư và chiến tranh Áp-ga-ni-xtan.

   Trong một số tác phẩm điện ảnh của Mỹ vẫn theo đuổi quan niệm hoàn toàn lệch lạc đối với Nga, vốn là đối thủ trước đây của Mỹ. Thí dụ, trong phim “Người gìn giữ hoà bình”, nhân vật phản diện chủ yếu là một viên tướng Nga đánh cắp một số đầu đạn hạt nhân để bán sang các nước thứ ba, còn những người lính Nga trong phim giống như những anh hề trong rạp xiếc. Các “anh hùng” trong phim là những người Mỹ cứu nhân loại khỏi thảm họa hạt nhân.
 
   Một trong những tác phẩm điện ảnh ăn khách nhất của Hô-li-út gần đây mang tựa đề “Diều hâu đen gãy cánh”. Nội dung cốt truyện dựa trên cơ sở một sự kiện có thật. Đó là sứ mệnh thất bại của lực lượng đặc nhiệm Mỹ ở châu Phi năm 1993 làm chết 19 người Mỹ và gần 500 người Xô-ma-li. Đó là thảm họa quân sự thực sự của Mỹ nhưng đã được đạo diễn nhào nặn lại thành một hình ảnh có sức cuốn hút. Các “anh hùng” trong phim lại chính là những lính Mỹ. Họ đã hoàn toàn bưng bít một thực tế, đó là cuộc chiến tranh của một đế quốc công nghệ cao chống lại những con người được trang bị thô sơ chỉ toàn bằng những khẩu súng trường. Hoặc bộ phim bạo lực nổi tiếng “Ram-bo” kể về chiến công của một lính đặc nhiệm. Kịch bản của tập thứ 4 trong bộ phim này rất giống với kịch bản các tập phim trước đây, trong đó một người Mỹ đã từng trải qua chiến tranh Việt Nam, sau đó tham chiến trong lực lượng chống đối ở Áp-ga-ni-xtan, chống lại quân đội Xô-viết.

   Đánh lạc hướng thông tin

   Một trong những công cụ để tác động vào dư luận xã hội là tạo ra tin đồn và thông tin sai lệch nhằm đánh lạc hướng đối phương. Mạng thông tin toàn cầu và không gian thông tin mở làm cho hình thức tuyên truyền này trở nên rất đơn giản và hữu hiệu. Trong quá trình triển khai quân đồng minh ở Vùng Vịnh, Nam Tư hoặc Áp-ga-ni-xtan, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ sử dụng phương tiện thông tin đại chúng để đưa tin sai lệch về hoạt động chuẩn bị chiến tranh và ý đồ chiến lược của họ. Cơ quan này giảm đến mức thấp nhất số các nhà báo nước ngoài được có mặt tại các bộ chỉ huy và tham mưu của Mỹ, đồng thời tuyển một nhóm phóng viên đặc biệt chuyên đưa tin sai lệch về tình hình chiến sự, kiểm duyệt gắt gao các bản tin được phát đi. Các phương tiện thông tin đại chúng còn tổ chức các cú để lọt “thông tin mật”, và “tiết lộ” quan điểm của các nhân vật cấp cao rất thạo tin trong bộ máy cầm quyền của Mỹ để tung tin sai lệch về chiến sự.

   Bộ chỉ huy quân sự Mỹ đã từng thành lập cái gọi là Cục tác động chiến lược với nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức các chiến dịch thông tin đánh lạc hướng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài tại khu vực Trung Đông, châu Á và Tây Âu. Tuy nhiên, dưới tác động của các cơ quan thông tin hàng đầu thế giới chống lại hành động đó, Cục tác động chiến lược đã buộc phải giải thể. Tuy vậy, một số thế lực ở Mỹ vẫn chưa từ bỏ chính sách sử dụng hoạt động thông tin - tư tưởng để tác động vào cộng đồng thế giới nhằm đạt được các mục đích địa - chính trị, tác động vào diễn biến các sự kiện theo hướng có lợi cho Mỹ và biện minh cho sự có mặt quân sự của Mỹ trên khắp thế giới.


   CHIẾN TRANH THÔNG TIN Ở CÔ-XÔ-VÔ

   Cuộc chiến tranh này là nguồn tư liệu quan trọng để các chuyên gia nghiên cứu và phân tích chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý “dọn đường” cho chiến dịch quân sự. Cuộc “dọn đường” này có vai trò vô cùng quan trọng để tạo dư luận có lợi cho hành động quân sự tiếp theo đó, vì thế được chuẩn bị hết sức chặt chẽ, kỹ lưỡng, chi tiết, và, hiệu quả đạt được không thể nói là nhỏ.

   Xây dựng kế hoạch tuyên truyền bài bản

   Các định hướng cơ bản trong hoạt động chiến tranh thông tin - tâm lý phục vụ chiến dịch quân sự này được soạn thảo và hoàn tất ngay từ giai đoạn thông qua quyết định mở đầu cuộc can thiệp vào một quốc gia có chủ quyền. Mục đích chủ yếu của hoạt động thông tin này là tạo lập dư luận quốc tế ủng hộ Mỹ và NATO ở Ban-căng, vô hiệu hóa ảnh hưởng của Nga, Trung Quốc và các nước khác trong việc phản đối các hành động quân sự của Mỹ và NATO.

   Với mục đích như vậy, Mỹ và NATO xác định ba mục tiêu cụ thể trong định hướng nội dung tuyên truyền. Thứ nhất, thông tin để gây mất ổn định tình hình chính trị - xã hội bên trong Nam Tư, hạ thấp uy tín của chính phủ trong con mắt của nhân dân, làm rối loạn hệ thống quản lý và điều hành nhà nước, làm suy sụp tinh thần dân chúng và các lực lượng vũ trang Nam Tư, khuyến khích hành động của các nhà hoạt động chính trị và các phương tiện thông tin đại chúng thuộc các lực lượng chống đối ở Nam Tư.
 
   Thứ hai, tạo lập hình ảnh gây thiện cảm về người An-ba-ni ở Cô-xô-vô, bằng cách đưa tin về tính tự hào dân tộc và tính độc lập của người An-ba-ni, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của mình, sẵn sàng giải quyết vấn đề xung đột thông qua con đường đàm phán. Ủng hộ và khuyến khích tư tưởng ly khai của người An-ba-ni ở Cô-xô-vô bằng các khẩu hiệu như “yêu cầu dân chủ của An-ba-ni”, “quyền tự quyết của người Cô-xô-vô gốc An-ba-ni”.
 
   Thứ ba, giải thích mục đích “nhân đạo” của hành động quân sự là nhằm thực hiện “mục tiêu cao cả” cứu người Cô-xô-vô gốc An-ba-ni thoát khỏi “thảm họa diệt chủng” và các hành động “vô nhân đạo” đối với quê hương họ; làm cho dư luận thế giới tin rằng, chính NATO chứ không phải là Liên hợp quốc hoặc Tổ chức hợp tác và an ninh châu Âu có thể duy trì một nền hòa bình và ổn định ở Ban-căng cũng như trên toàn thế giới; việc phải triển khai một đội quân quốc tế ở Cô-xô-vô dưới ngọn cờ của NATO là cần thiết.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #67 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 04:03:37 pm »

   Xác định rõ lộ trình triển khai

   Cường độ, quy mô tuyên truyền được bắt đầu và tăng dần kể từ khi chuẩn bị chiến dịch đến khi không kích, trong thời gian không kích và hậu không kích.

   Chiến tranh tâm lý được thực hiện vào năm 1998 (trước thời điểm không kích khoảng 1 năm), mở đầu bằng chiến dịch tuyên truyền về chuyện người Xéc-bi có các hành động “thanh lọc sắc tộc dã man” đối với người An-ba-ni ở Cô-xô-vô. Các kênh truyền hình, báo chí và đài phát thanh trong cả năm 1998 đến đầu năm 1999 liên tục đưa tin về các “hành động thanh lọc sắc tộc dã man của người Xéc-bi” và “nỗi bất hạnh của dân chúng người An-ba-ni”.

   Khi mở đầu chiến dịch không kích, các biện pháp tuyên truyền chiến tranh tâm lý chống Nam Tư được tăng cường mạnh mẽ hơn. Lãnh đạo của nhiều nước NATO phát biểu giải thích và ủng hộ hành động quân sự chống Nam Tư, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và được phát đi qua các kênh truyền hình và đài phát thanh.

   Đến thời điểm bắt đầu chiến dịch không kích, báo chí Mỹ công bố hàng loạt bài báo về lịch sử đất nước này, trong đó người Xéc-bi bị coi là “kẻ xâm lược”, là người đi “đàn áp” các dân tộc láng giềng.

   Khi bắt đầu các cuộc ném bom, các bản tin về “hành động dã man” của người Xec-bi ở Cô-xô-vô được phát đi với thời lượng và khối lượng thông tin nhiều hơn, mặc dù lúc đó, ở Nam Tư đã không còn phóng viên báo chí của Mỹ.

   Sau khi mở màn cuộc chiến, các đài phát thanh phương Tây đột ngột đưa tin bằng tiếng Xéc-bi, An-ba-ni, Bun-ga-ri và Mác-kê-đô-nhia. Đài phát thanh “Tiếng nói Hoa Kỳ” và “Châu Âu tự do” tổ chức đưa tin suốt ngày đêm hướng về phía Nam Tư.

   Kết quả mà cuộc chiến tranh tâm lý này mang lại là, dư luận Mỹ có cái nhìn tiêu cực về Nam Tư, dù cho, Tổng thống Mỹ khi đó cũng công nhận rằng, đa số người Mỹ lúc đó thậm chí không biết Cô-xô-vô ở đâu trên bản đồ thế giới, và họ cũng không quan tâm cái gì có thể và cần làm ở khu vực này. Còn dư luận phương Tây gần như đã sẵn sàng chấp nhận phương án sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Cô-xô-vô. Các cuộc điều tra dư luận xã hội được tiến hành trước chiến tranh tại các nước NATO cho thấy, hành động tiến công đường không vào Nam Tư đã nhận được sự ủng hộ của khoảng 55-75% dân chúng các nước này.

   Tổ chức chặt chẽ việc thông tin một chiều

   Một công cụ quan trọng của chiến tranh thông tin chống Nam Tư là cơ quan báo chí của NATO. Sau khi mở màn chiến sự, đội ngũ phóng viên báo chí của khối NATO được đột ngột tăng lên gấp bội. “Văn phòng báo chí quân sự” gồm 40 chuyên gia được thành lập chuyên làm nhiệm vụ phối hợp với dư luận xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiệm vụ cụ thể của tổ chức này là phân tích các bản tin của phương Tây, Nam Tư và các nước khác về tình hình Ban-căng, từ đó đề xuất các giải pháp cho Bộ chỉ huy và lãnh đạo của khối này trong việc xác định chiến lược chung đối với các phương tiện truyền thông trong quá trình diễn ra chiến dịch; chuẩn bị các bản tin để họp báo tại Bộ chỉ huy của NATO. Đội ngũ các nhà báo, phóng viên và các cơ quan chính thức của NATO được quản lý và chỉ huy chặt chẽ trong các hành động phản ứng trước tình hình.

   Khi có thông tin bất lợi bị rò rỉ, thì thái độ phản ứng trước dư luận sẽ được thực hiện thống nhất theo các bước: trước hết, là chính thức phủ nhận và cho rằng những thông tin đó bị bóp méo, tiếp theo, là đổ lỗi cho chính phủ Nam Tư có hành động khiêu khích. Cách làm đó đã được áp dụng khi các mục tiêu dân sự ở Nam Tư bị tiến công, như đoàn tàu chở khách, đoàn người tị nạn và ngay cả tin về các máy bay của NATO bị bắn rơi. Các phương tiện thông tin đại chúng thường đưa thông tin làm cho dư luận hiểu rằng, dường như An-ba-ni thích thú với việc máy bay NATO ném bom làng mạc và thành phố của họ, không có ai trong số hàng trăm nghìn người tị nạn phản đối các cuộc ném bom.

   Theo đánh giá của các chuyên gia độc lập, hoạt động báo chí của khối thường đưa tin một chiều, bóp méo sự thật và “minh oan” cho các đón tiến công “nhầm” của NATO vào dân thường bằng cách giải thích mập mờ: “không thể nào tránh được tổn thất trong quá trình chiến tranh”.

   Huy động và phát huy thế mạnh các phương tiện truyền thông

   Sau khi phân tích tài liệu của các phương tiện thông tin đại chúng ở phương Tây trong thời gian chuẩn bị chiến dịch can thiệp của Mỹ và NATO ở Cô-xô-vô, các chuyên gia quân sự rút ra kết luận, đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí và INTERNET ở các nước này đã được sử dụng rộng rãi để tiến hành một chiến dịch thông tin rộng lớn trên quy mô chưa từng có, đưa hàng loạt sự kiện chưa được kiểm chứng, thậm chí là hoàn toàn bịa đặt, nhằm chống lại Nam Tư.

   Theo nhận xét chung, thái độ của dư luận xã hội Mỹ đối với vấn đề Cô-xô-vô trong những ngày đầu chiến tranh là do các phương tiện thông tin đại chúng của Mỹ tạo dựng nên, mà trước hết là truyền hình. Ưu thế đặc biệt của phương tiện này là, nếu chỉ đưa những thông tin một chiều về cuộc chiến thì sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong việc tạo ra quan niệm sai lệch trong dân chúng đối với sự thật khách quan.

   Một phương tiện đặc biệt nữa cũng được khai thác là INTERNET - “INTERNET cũng trở thành chiến trường”. Trên mạng, chiến tranh thông tin được tiến hành dưới hai dạng. Một mặt, các bên nỗ lực phá hoại hạ tầng thông tin của nhau bằng cách phá hoại các mạng máy tính. Mặt khác, cả hai bên xúc tiến phát huy lợi thế của INTERNET để đưa đến dư luận tin tức chiến sự.

   Thí dụ, để đối phó với các trận ném bom và bắn phá của tên lửa NATO, các chuyên gia máy tính của Nam Tư đã tấn công vào các máy chủ của khối này, làm tắc nghẽn đường truyền trong vòng 3 ngày. Theo thông báo của đại diện báo chí chính thức của NATO, trong vòng 3 ngày, từ ngày 28-3-1999, trang web của NATO trên INTERNET bị ngừng hoạt động. Thông qua INTERNET, các chuyên gia máy tính Xec-bi đã đưa ra danh mục khá dài về các tội của nhóm khủng bố người An-ba-ni chống lại cảnh sát và dân thường người Xec-bi; thông báo về số tài khoản trợ giúp cho cái gọi là “Đội quân giải phóng Cô-xô-vô”; thông báo về vụ bắt cóc hai nhà báo của hãng thông tấn “Tanhuc” và bắn chết các con tin người Xec-bi. Nhiều phương tiện thông tin đại chúng của Nam Tư đã sử dụng INTERNET để truyền tải thông tin khi phần lớn các trạm phát sóng đã bị không quân của NATO phá hoại.

   Các thông tin về tình hình chiến sự ở Ban-căng cũng xuất hiện trên nhiều trang web, kể cả các trang web của quân đội Mỹ. Thông tin trên đó được dùng để tuyên truyền quan điểm chính thức và hình thành dư luận xã hội thuận lợi cho Mỹ và NATO. Mỹ còn tăng cường ủng hộ những người sử dụng INTERNET trong các lực lượng chống đối ở Nam Tư. Thí dụ, một hãng của Mỹ tổ chức cho người An-ba-ni gốc Cô-xô-vô, người Xéc-bi và tất cả những ai có quan điểm chống Nam Tư khi đưa tin về Cô-xô-vô được miễn phí kỹ thuật và được giữ kín địa chỉ khi sử dụng INTERNET.

   Theo đánh giá của các chuyên gia phương Tây, trong điều kiện tất cả các kênh thông tin khác bị phong tỏa, thì khả năng truyền thông tin qua mạng INTERNET đã biến INTERNET trở thành một vũ khí lợi hại nhất, có khả năng ảnh hưởng đến diễn biến của chiến sự ở Cô-xô-vô.

   Với cách thức huy động tổng lực các kênh thông tin vào cuộc, áp dụng các thủ pháp nhào nặn thông tin, hình ảnh phù hợp với mục đích tuyên truyền, những thông tin đã bị bóp méo được chuyển đến dư luận một cách hết sức khéo léo, nên có vẻ rất khách quan, tự do, không chịu sự áp đặt, định hướng của ai, và vì thế, được tiếp nhận một cách rất tự nhiên, tự giác, từ đó hình thành dư luận có lợi, phù hợp với ý đồ của người đưa tin. Hiệu quả của nó là, tỷ lệ người Mỹ ủng hộ chiến dịch sử dụng quân bộ ở Ban-căng để lật đổ chính phủ của tổng thống Mi-lô-sê-vich và đưa ông ta ra xét xử như một tội phạm chiến tranh, và cho rằng Mỹ có “sứ mạng cao cả” là thiết lập hòa bình ở Cô-xô-vô, đã tăng lên khá cao trong thời gian diễn ra cuộc tấn công: từ 47% tăng lên 57%, sau đó tăng lên 65% và cuối cùng dừng lại ở con số 71%.

   Những điều rút ra

   Thứ nhất, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, trong hệ thống các kênh thông tin truyền thống đã được bổ sung thêm một kênh thông tin mới - hữu hiệu và rất có lợi thế. Đó là mạng thông tin toàn cầu: INTERNET. Việc đưa tin chiến sự trong chiến dịch thông tin của NATO lần đầu tiên đã vượt ra khỏi khuôn khổ các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua sử dụng INTERNET.

   Thứ hai, hoạt động thông tin, tuyên truyền được thực hiện thông qua các kênh thông tin có vai trò hết sức quan trọng trong việc tác động vào tư tưởng, hình thành nhận thức, quan niệm của dư luận.

   Thứ ba, hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền phụ thuộc vào khả năng xây dựng chiến lược, xác định mục tiêu, lên kế hoạch, lập lộ trình, huy động các kênh thông tin vào cuộc, và nội dung thông tin được truyền tải./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #68 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:39:33 pm »

CHUYẾN THĂM LẤP KHOẢNG TRỐNG CHIẾN LƯỢC Ở CHÂU Á CỦA TỔNG THỐNG MỸ

   Chuyến công du châu Á của Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma kéo dài tới 10 ngày kết hợp với tham dự Hội nghị cấp cao APEC 17 năm 2009 tại Xin-ga-po không chỉ khẳng định và nhấn mạnh cam kết của Oa-sinh-tơn đối với khu vực nói chung mà còn thắt chặt hơn nữa mối quan hệ truyền thống với các đồng minh chiến lược và tăng cường quan hệ với các đối tác quan trọng trong bối cảnh châu lục này đang trở thành trung tâm phát triển nhanh và năng động nhất thế giới.

   Những thay đổi trong cách tiếp cận của Mỹ đối với châu Á

   Trong hơn hai thập kỷ qua, sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ quá bận tâm tới chuyện khai thác “chiến lợi phẩm” sau khi giành “chiến thắng” trong Chiến tranh lạnh ở châu Âu, không ngừng mở rộng NATO sang phía Đông, tiến hành “cuộc thập tự chinh” để thiết lập trật tự thế giới đơn cực, thì các nước châu Á chớp lấy cơ hội để phát triển, trở thành châu lục phát triển mạnh và năng động nhất thế giới. Sự lớn mạnh của châu Á thể hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự.

   Bằng chứng rõ ràng nhất về sự phát triển kinh tế của châu Á là trước đây, khi kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng thì các nền kinh tế ở châu Á chịu tác hại nặng nề, thậm chí còn trầm trọng hơn cả ở “tâm chấn”. Giờ đây, tình hình đã khác, châu Á sớm thoát khỏi khủng hoảng và trở thành một trong những động lực kéo nền thế giới tiếp tục phát triển. Ngày 29-10-2009, Quỹ Tiền tệ Quốc tế công bố dự báo về kinh tế châu Á - Thái Bình Dương với nhận định tương đối lạc quan: tăng trưởng kinh tế khu vực sẽ là 5,75% trong năm 2010, so với 2,75% dự kiến cho năm 2009. Trong khi đó, tăng trưởng các quốc gia trong Nhóm G-7 chỉ là 1,25% trong năm 2010. Dự báo, năm 2010, Trung Quốc tăng trưởng khoảng 8,5%, còn năm 2010 sẽ là 9%. Nhật Bản cũng sẽ tăng trưởng trở lại vào năm 2010, tuy ở mức khiêm tốn hơn, khoảng 1,75%. Các nước ASEAN, như Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin cũng sẽ tăng trưởng trở lại: ở mức 2,5% của Ma-lai-xi-a, 3,5% của Phi-líp-pin và 3,7% của Thái Lan. Riêng In-đô-nê-xi-a và Việt Nam có tăng trưởng cao hơn: từ 4,6% năm 2009, Việt Nam sẽ đạt 5,3% vào năm 2010; In-đô-nê-xi-a, từ 4% năm 2009 sẽ đạt 4,8% năm 2010. Trong bản cập nhật về kinh tế Đông Á, công bố ngày 4-11-2009, Ngân hàng Thế giớicũng khẳng định đà phục hồi nhanh của châu Á.

   Châu Á là khu vực rộng lớn, với diện tích 41,5 triệu km2, dân số hơn 4 tỉ người, chiếm hơn 2/3 dân số thế giới. Đây cũng là nơi có cường quốc kinh tế thứ hai và thứ ba thế giới là Nhật Bản và Trung Quốc. Châu Á còn có Ấn Độ với hơn một tỉ dân và cũng là nền kinh tế quan trọng trong Nhóm các nước có nền kinh tế mới nổi (BRIC). Khu vực châu Á còn được biết đến với những “con rồng”mới nổi, như Hàn Quốc, Đài Loan và nhiều nước Đông Nam Á như Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Thái Lan. Châu Á cũng có các nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập và vươn lên trong nền kinh tế toàn cầu như Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Băng-la-đét, Mông Cổ, v.v.. Châu Á không chỉ phát triển với tốc độ tăng trưởng cao mà còn góp phần không nhỏ vào sự phát triển nền kinh tế Mỹ và do đó cũng phụ thuộc nhiều vào nền kinh tế Mỹ. Chỉ tính riêng Trung Quốc đã sở hữu tới gần 800 tỉ USD trái phiếu chính phủ Mỹ. Rõ ràng, trong điều kiện đó, đã đến lúc Mỹ phải tăng cường ảnh hưởng và quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn nữa với các nước châu Á.

   Nói theo cách của nhiều nhà phân tích chiến lược quốc tế, đã đến lúc Mỹ phải khỏa lập khoảng trống ảnh hưởng ở châu Á. Tại Tô-ky-ô, sáng 14-11-2009, trong bài diễn văn về chính sách đối với châu Á của Mỹ, Tổng thống B. Ô-ba-ma nhấn mạnh, Mỹ muốn tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương thông qua mối quan hệ liên minh chiến lược truyền thống với Nhật Bản và Hàn Quốc, mở rộng quan hệ đối tác với các nước trong khu vực, trước hết và quan trọng nhất là Trung Quốc.
 
   Tổng thống B. Ô-ba-ma kêu gọi châu Á đi theo đường lối tăng trưởng “cân bằng và bền vững”, giúp bảo đảm đà phục hồi của toàn cầu sau cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ qua. Tổng thống B. Ô-ba-ma tuyên bố rõ rằng, Mỹ là một “cường quốc Thái Bình Dương” và sẽ gia tăng các cam kết của mình trong khu vực. Theo ông, Mỹ sẽ củng cố quan hệ với các đồng minh cũ, xây dựng quan hệ với các đối tác mới, tham gia các nỗ lực đa phương và các thể chế khu vực nhằm thúc đẩy an ninh, thịnh vượng trong khu vực.

   Có thể thấy, chuyến công du châu Á đầu tiên của Tổng thống B. Ô-ba-ma là minh chứng về sự coi trọng châu Á, đặc biệt là Đông Á, trong chính sách đối ngoại của Mỹ, cũng như những thay đổi trong cách tiếp cận của Oa-sinh-tơn đối với khu vực.

   Tái khẳng định và nhấn mạnh cam kết của Mỹ với các đồng minh

   Phần mở đầu và kết thúc chuyến công du đầu tiên tới châu Á lần này, Tổng thống B. Ô-ba-ma dành cho hai đồng minh chiến lược của Mỹ là Nhật Bản và Hàn Quốc.

   Quan hệ đồng minh với Nhật Bản tuy đang “có vấn đề” nhưng vẫn là hòn đá tảng trong quan hệ Mỹ - Nhật

   Không phải ngẫu nhiên mà Nhật Bản là chặng dừng chân đầu tiên của Tổng thống Mỹ. Bởi hơn ai hết, chính quyền Mỹ đã xác định, liên minh Mỹ - Nhật là “hòn đá tảng” trong chính sách đối ngoại của Nhà Trắng và điều khiến Chính phủ Mỹ quan tâm là quan hệ song phương với “xứ sở mặt trời mọc” kể từ khi Thủ tướng Y. Ha-tô-y-a-ma lên cầm quyền đang có một số điều chỉnh bất lợi đối với chính sách của Oa-sinh-tơn, trong đó “gai góc” nhất là Tô-ky-ô đang xem xét lại tương lai căn cứ quân sự Mỹ ở Ô-ki-na-oa, cũng như sắp xếp lại toàn bộ việc đóng quân của các lực lượng Mỹ tại đảo này. Tháng 10-2009, sau nhiều tranh cãi, nội các Nhật Bản tuyên bố ngừng thực hiện sứ mệnh tiếp nhiên liệu cho tàu hải quân Mỹ trên Ấn Độ Dương vào đầu năm 2010. Đối với Mỹ, căn cứ quân sự tại Phu-tê-ma trên đảo Ô-ki-na-oa là một căn cứ chiến lược, đã từng được mệnh danh “hàng không mẫu hạm không thể chìm”, với tầm hoạt động dễ dàng vươn tới Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan và Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Triều Tiên, giúp Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự tại khu vực. Liên minh Mỹ - Nhật dưới thời tân Thủ tướng Y. Ha-tô-y-a-ma đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là mâu thuẫn giữa hai nước về các thỏa thuận an ninh đã được ký kết trước đây.

   Tổng thống B. Ô-ba-ma khẳng định, Oa-sinh-tơn coi quan hệ chặt chẽ giữa Mỹ và Nhật Bản là “nền tảng” cho an ninh và thịnh vượng của hai nước, đồng thời nhấn mạnh không thay đổi những cam kết của Mỹ đối với an ninh của Nhật Bản.

   Tiếp tục tăng cường quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ - Hàn Quốc

   Có thể thấy, chuyến thăm Hàn Quốc lần này của Tổng thống B. Ô-ba-ma gặt hái được nhiều kết quả rất quan trọng, tạo ra bầu không khí mới mẻ để tăng cường liên minh chiến lược giữa Xơ-un và Oa-sinh-tơn. Hai bên đã đạt được sự đồng thuận trong một số vấn đề lớn như tiếp tục tăng cường quan hệ đồng minh chiến lược Mỹ - Hàn Quốc; thúc đẩy đàm phán để ký kết Hiệp định tự do thương mại (FTA) song phương; tích cực tham gia giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và I-ran. Đồng thời, hai bên tái khẳng định quyết tâm xây dựng hệ thống an ninh chung bền vững giữa hai nước, trước hết là thực hiện đầy đủ những cam kết trong “Tầm nhìn chung về liên minh giữa Hàn Quốc và Mỹ” vừa ký kết tháng 6-2009. Về thỏa thuận tự do thương mại song phương, hai bên muốn tăng kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều hằng năm thêm khoảng 20 tỉ USD từ mức 83 tỉ USD hiện nay. Tuy nhiên, hiện các bên vẫn chưa hóa giải được bất đồng liên quan đến xuất nhập khẩu ô-tô trước khi ký kết Hiệp định tự do thương mại.

   Theo một số nguồn tin, Hàn Quốc và Mỹ muốn CHDCND Triều Tiên hoàn toàn chấm dứt chương trình hạt nhân quân sự và nhận được sự bảo đảm về an ninh và viện trợ kinh tế, mà không thực hiện theo kiểu “nhỏ giọt” hoặc “hành động đổi lấy hành động” như từ trước tới nay họ vẫn làm.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #69 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 04:41:08 pm »

   Tăng cường quan hệ với các đối tác ở châu Á theo chủ trương hướng tới một thế giới “đa đối tác”

   Với ASEAN: Tham dự Hội nghị cấp cao APEC 17 và Hội nghị cấp cao ASEAN - Mỹ tại Xin-ga-po là đích quan trọng trong chuyến thăm châu Á của Tổng thống B. Ô-ba-ma. Hội nghị cấp cao ASEAN - Mỹ với chủ đề “Quan hệ đối tác tăng cường vì hòa bình và thịnh vượng bền vững” tập trung thảo luận các chủ đề chính như chống phổ biến vũ khí hạt nhân, cách thức đối phó thảm họa thiên tai, kiểm soát dịch cúm A/H1N1, biến đổi khí hậu và chống khủng bố. Hội nghị cấp cao ASEAN - Mỹ lần đầu tiên đã từng được lên kế hoạch vào tháng 9-2007, nhưng Tổng thống Mỹ khi đó là G.W. Bu-sơ đã tuyên bố hoãn hội nghị vào phút chót, viện cớ “quá bận rộn với công việc trong nước”. Bởi vậy, sự có mặt của Tổng thống B. Ô-ba-ma tại hội nghị lần này chứng tỏ, Mỹ coi trọng mối quan hệ với ASEAN với tư cách là một thành viên đầy đủ.

   Tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Mỹ, các nhà lãnh đạo đồng ý với việc tổ chức các hội nghị cấp bộ trưởng ASEAN - Mỹ về kinh tế - thương mại, tài chính, năng lượng cũng như hội nghị hằng năm của Bộ trưởng Ngoại giao các nước Hạ lưu sông Mê Công - Mỹ. Các bên cũng đồng ý việc lập các nhóm công tác về hợp tác năng lượng sạch và y tế trong năm 2010 để thúc đẩy và triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể trong từng lĩnh vực; lập Nhóm các nhân vật nổi tiếng ASEAN - Mỹ, gồm đại diện chính khách, doanh nghiệp, học giả để nghiên cứu và đề xuất biện pháp tăng cường hợp tác hai bên. Tổng thống B. Ô-ba-ma khẳng định, Mỹ coi ASEAN là một đối tác chủ chốt ở châu Á - Thái Bình Dương và mong muốn tăng cường quan hệ nhiều mặt; cam kết hỗ trợ ASEAN xây dựng Cộng đồng, thu hẹp khoảng cách phát triển và thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ.

   Với Trung Quốc: Sau ba mươi năm kể từ khi Mỹ và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao, quan hệ Mỹ - Trung đã trải qua nhiều bước thăng trầm và giờ đây đang có dấu hiệu thắt chặt hơn. Trước đó, trong bài phát biểu tại Tô-ky-ô (Nhật Bản) ngày 14-11-2009, Tổng thống B. Ô-ba-ma tuyên bố rằng, Mỹ hoan nghênh và ủng hộ sự vươn lên của Trung Quốc về kinh tế và chính trị, công nhận Trung Quốc là một quốc gia đang phát triển mạnh, với nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, là một thị trường rộng lớn và sinh lời đối với các hàng hóa và dịch vụ Mỹ, đồng thời là “chủ nợ” lớn nhất của Mỹ. Với tình hình thế giới đang có nhiều biến chuyển mạnh như hiện nay và những thách thức của nền kinh tế toàn cầu khiến Mỹ phải tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác Mỹ - Trung theo chủ trương hướng tới “một thế giới đa đối tác”. Vì vậy, Mỹ chọn cách tiếp cận với Trung Quốc theo hướng tích cực, khuyến khích Trung Quốc cùng liên kết với Mỹ và những nước lớn khác để giải quyết những vấn đề cấp bách có tính toàn cầu như tình trạng suy thoái kinh tế, hiệu ứng nhà kính, chống khủng bố, hợp tác phát triển lĩnh vực năng lượng sạch và chống phổ biến vũ khí hạt nhân.

   Trong tình hình hiện nay, Trung Quốc được Tổng thống B. Ô-ba-ma coi là ưu tiên hàng đầu trong chuyến thăm châu Á của ông. Mục tiêu then chốt trong chuyến thăm Trung Quốc là khẳng định mối quan hệ Mỹ - Trung Quốc trong bối cảnh cuộc tranh chấp thương mại giữa hai nước đang có chiều hướng gia tăng. Cuộc hội đàm được cả thế giới quan tâm giữa Tổng thống B. Ô-ba-ma và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tại Bắc Kinh tuy không đưa ra cam kết cụ thể nào nhưng hai bên đều khẳng định rằng, lãnh đạo hai nước sẽ tiếp tục hợp tác trong nhiều lĩnh vực. Có thể nói, chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống B. Ô-ba-ma đã phần nào “định vị” được quan hệ Mỹ - Trung dưới thời chính quyền của ông.

   Tổng thống B. Ô-ba-ma cho rằng, đối với cả Trung Quốc và Mỹ, việc xây dựng mối quan hệ đôi bên cùng có lợi và dựa trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau là hoàn toàn có thể. Ông bày tỏ hy vọng mối quan hệ giữa hai nước sẽ phát triển sâu rộng hơn, vì “thành công của một nước sẽ trở nên vô ích nếu không có lợi cho nước kia”. Về phía Trung Quốc, việc Mỹ sẽ công nhận nền kinh tế thị trường của Trung Quốc sau chuyến thăm của Tổng thống B. Ô-ba-ma là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với họ, vì một khi Trung Quốc đạt được mục đích này thì sự giám sát thương mại giữa hai nước sẽ được nới lỏng và theo quy định chung của quốc tế, từ đó quan hệ thương mại song phương sẽ được tự do hơn. Đồng thời, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống B. Ô-ba-ma mở ra triển vọng Mỹ sẽ nới lỏng quy chế xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc.

   Hợp tác quân sự là hướng quan trọng trong quan hệ Mỹ - Trung. Với nhiều lợi thế, Trung Quốc buộc Mỹ phải xem xét lại khái niệm “Trung Quốc - đối thủ” và thay thế bằng khái niệm “Trung Quốc - đối tác”. Trong tuyên bố chung được đưa ra sau cuộc hội đàm, hai bên cam kết sẽ tiến hành những bước đi cụ thể để thúc đẩy các mối quan hệ quân sự song phương theo hướng ổn định và tin cậy hơn trong tương lai, nhằm mục tiêu cải thiện khả năng của hai nước trong hợp tác và thúc đẩy sự hiểu biết rõ hơn những ý định của nhau trong việc bảo đảm môi trường an ninh quốc tế. Hai nước cũng cam kết tăng cường các cuộc tham vấn về mọi hoạt động của nhau trên vũ trụ và khẳng định hai bên có những lợi ích chung trong việc thúc đẩy sử dụng khoảng không vũ trụ một cách hòa bình, đồng thời cam kết sẽ có những bước đi cụ thể để củng cố an ninh trên vũ trụ.

   Dù chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống B. Ô-ba-ma đạt được kết quả nhất định, nhưng giữa hai bên còn nhiều bất đồng, như rào cản do thâm hụt thương mại giữa hai nước quá lớn nên chưa thể giảm bớt được một sớm một chiều, trong khi chưa có các giải pháp xử lý có thể đáp ứng được yêu cầu của cả hai phía; Trung Quốc tuy ủng hộ các biện pháp nghiêm khắc nhằm hạn chế chương trình vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên nhưng vẫn chưa hoàn toàn đồng thuận với việc Mỹ và các nước châu Âu áp đặt biện pháp trừng phạt mạnh đối với I-ran. Đồng thời, Mỹ và Trung Quốc - vốn là hai quốc gia “sở hữu” khối lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất thế giới - vẫn chưa đạt được sự thống nhất về các biện pháp cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, và về các vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo, tranh chấp ảnh hưởng trên biển, v.v.. Phát biểu trong cuộc gặp Tổng thống B. Ô-ba-ma ngày 18-11-2009, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cho biết, Trung Quốc không nhất trí với ý tưởng thành lập G2 (gồm Trung Quốc và Mỹ). Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho rằng, Trung Quốc vẫn là nước đang phát triển với dân số đông và phải trải qua một chặng đường dài trước khi trở thành nước hiện đại hóa, và do vậy, Trung Quốc theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập và sẽ không liên kết với bất cứ quốc gia hay nhóm quốc gia nào.

   Với Mi-an-ma: Đứng trước quan hệ ngày càng được cải thiện giữa Mi-an-ma và Trung Quốc cũng như với các nước ASEAN khác, Mỹ không thể chậm chân trong quan hệ với quốc gia này - nơi mà Mỹ trong nhiều năm liền luôn lên ấn gay gắt về “vấn đề nhân quyền”. Tổng thống B. Ô-ba-ma đã có một hành động chưa từng có là gặp Thủ tướng Mi-an-ma Thên Xên (Thein Sein) tại Hội nghị giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Mỹ vào ngày 15-11-2009 tại Xin-ga-po. Phát biểu với các phóng viên sau Hội nghị, Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma nhắc lại đề xuất của ông hướng tới xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa Mỹ và Mi-an-ma. Trước đó, trong bài phát biểu về chính sách đối với châu Á tại Tô-ky-ô (Nhật Bản), Tổng thống B. Ô-ba-ma cho biết, Oa-sinh-tơn đang tiếp xúc trực tiếp với các nhà lãnh đạo Mi-an-ma nhằm hướng tới triển vọng về mối quan hệ tốt đẹp hơn với quốc gia Đông Nam Á này. Tuy nhiên, Tổng thống B. Ô-ba-ma nhấn mạnh, các biện pháp trừng phạt hiện nay đối với Mi-an-ma sẽ được duy trì nếu chính quyền nước này không có những bước đi cụ thể nhằm “hướng tới cải cách dân chủ”.

   Nhìn chung, chuyến thăm châu Á lần này của Tổng thống B. Ô-ba-ma là nhằm cố gắng khỏa lấp khoảng trống ảnh hưởng của Mỹ tại châu lục này, và hy vọng mở ra một trang mới trong quá trình tạo dựng khu vực châu Á - Thái Bình Dương mà trong đó Mỹ là thành viên trong một “kỷ nguyên thế giới đa đối tác”, chứ không phải là “kỷ nguyên thế giới đa cực”./.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM