Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:03:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pi-e Đệ nhất  (Đọc 158747 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #240 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:05:37 pm »

Chương 114

Murtaza không còn bày trò gì thêm được nữa: thôi thì đành để họ đi. Chúa Alla hãy tha tội cho con!
Vua Piotr trở về Taganrok với hạm đội. Ngày 28 tháng tám tàu La Sitadell chở sứ thần, một viên lục sự và các phiên dịch, đi, rồi có bốn tàu chiến Thổ Nhĩ Kỳ đi kèm, vượt qua mũi Kesk và thuận theo chiếu gió, chạy dọc theo bờ biển phía Nam xứ Krym.

Các tàu Thổ Nhĩ Kỳ chạy theo sau sát lái, ngay trên làn nước sủi bọt. Một phái viên đi trên chiếc tàu đầu tiên. Haxan thì ở lại Kesk. Đến phút cuối cùng hắn chỉ yêu cầu cấp cho hắn một giấy chứng nhận viết rõ rằng sứ thần của Sa hoàng đã tự ý đi theo đường biển còn chính hắn, Haxan, đã can ngăn. Nhưng yêu cầu nầy cũng bị khước từ.

Khi đã trông thấy Balaklava, người phái viên xuống một chiếc xuồng, đi đến ngang tàu La Sitadell và yêu cầu thuyền trưởng vào Balaklava để lấy nước dự trữ.

Hắn vừa vung cánh tay áo một cách tuyệt vọng vừa chỉ chỏ những ngọn đồi đỏ hoe. "Đây là một thành phố tốt, xin mời ngài tạt vào thăm". Thuyền trưởng Pambur, tì khuỷu tay lên lan can, từ trên cao lầu bầu:

- Cứ làm như ta không biết là thằng phái viên muốn vào Bakaklava để bắt dân nộp tiền. Hà! thùng chúng ta đầy ắp nước.

Người ta từ chối yêu cầu của tên phái viên. Gió trở lạnh. Pambur nhìn trời và ra lệnh kéo thêm buồm.
Tàu Thổ Nhĩ Kỳ nặng nề, rõ ràng là mỗi lúc một tụt lại. Chiếc tàu đầu kéo cờ hiệu: "Hạ bớt buồm".
Pambur giương ống nhòm nhìn và rủa bằng tiếng Bồ Đào Nha. Hắn bổ xuống cầu thang dẫn vào phòng sĩ quan lát bằng gỗ bồ đào rất sang trọng. Sứ thần Emelian Ukrainsev say sóng ngồi bên bàn, trên chiếc ghế dài đánh xi bóng, mắt nhắm nghiền, y nắm chặt trong tay bộ tóc giả đã bỏ xuống Pambur giận dữ bảo:

- Bọn quỷ ấy đòi tôi hạ bớt buồm. Đời nào tôi nghe chúng tôi cho tàu ra khơi đây.
Ukrainsev chỉ khẽ phe phẩy bộ tóc giả.

- Ông muốn đi đường nào thì đi.

Pambur leo lên cầu chỉ huy trên sàn tàu, vuốt ria vểnh lên để khỏi vướng khi thét:

- Tất cả mọi người lên boong! Chú ý nghe lệnh! Kéo buồm lớn trên cùng. Buồm lớn… Buồm lớn thứ hai…
Buồm lớn thứ ba, buồm tam giác… Lái sang phải Thẳng tiến!

Tàu La Sitadell kêu răng rắc, nghiêng về một bên, lái ngoặt; buồm bắt gió căng phồng, tàu chạy xa dần các tàu Thổ Nhĩ Kỳ, tốc độ nhanh đến nỗi tưởng như các tàu Thổ đứng im một chỗ, rồi vượt qua Cầu Exin, tiến thẳng đến Constantinop.

Chiếc tàu nghiêng hẳn về một bên, lướt nhanh như bay trên mặt biển xanh thẫm, lô xô dưới làn gió Đông Bắc. Sóng nghểnh cao đầu đầy bọt sủi như để xem còn phải lăn lộn bao lâu nữa trên biển cả mênh mông hiu quạnh trước khi tới những bờ nóng bỏng ánh mặt trời: Mười sáu người trong đoàn thuỷ thủ - Hà Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch - đều là những người đã từng vẫy vùng khắp các mặt biển, vừa nhìn sóng vừa hút tẩu: cuộc hành trình thật là dễ dàng, như một trò chơi.

Trái lại, nửa số quân lính trên tàu, bộ binh và pháo thủ nằm la liệt ở hầm tàu, giữa những thùng nước và thức ăn muối. Pambur ra lệnh phát vodka cho tất cả những người ốm ba lần một ngày. "Phải quen với biển đi".

Một ngày, rồi một đêm trôi qua; sang ngày thứ hai qua vùng đá ngầm, tàu chòng chành mạnh, nước tràn vào một làn sóng bọt bỗng tràn khắp boong. Pambur không hề nao núng, thổi những hạt nước lấp lánh trên bộ ria.

Đoàn sứ thần rất khổ sở vì say sóng. Ukrainsev và viên lục sự Sheredeev, nằm trong một ca-bin mới sơn xong ở đằng lái, ngóc đầu khỏi gối, đưa mắt nhìn qua một ô cửa vuông… Ô cửa hình như tụt dần xuống vực sâu; nước xanh rờn réo sèo sèo, dâng lên tới bốn ô kính nhỏ với một tiếng vỗ nặng nề, bịt kín ánh sáng làm căn phòng tối om. Vách phòng kêu răng rắc, cái trần thấp như muốn sụp xuống. Vị sứ thần và viên lục sự rên rỉ nhắm mắt lại.

Vào một buổi sáng quang đãng ngày mồng hai tháng chín, chú thuỷ thủ nhỏ, một chú bé Kalmys, đứng trên thùng canh ở cột buồm dưới, hét lên: "Đất liền!" Những hình gò đống ngổn ngang, xanh nhạt của hai bên bờ eo biển Bosfo mỗi lúc một gần. Xa xa, những cánh buồm hình tam giác. Chim hải âu lượn quanh vừa kêu trên đuôi tàu cao trầm trồ. Pambur gọi mọi người lên boong: "Rửa ráy đi, chải áo nẹp, đội tóc giả vào".

Đến trưa, tàu La Sitaden trương hết buồm, đi vào eo Bosfo, vượt qua những tháp canh cổ kính. Trên tường pháo đài, những tín hiệu xuất hiện trên đỉnh một cột buồm: "Tàu nào?" Pambur cho trả lời: "Phải biết lá cờ xứ Moskovi chứ". Từ bờ đánh hiệu: "Hãy lấy một người hoa tiêu". Pambur cho kéo tín hiệu: "Ta đi không cần hoa tiêu".

Ukrainsev mặc áo nẹp màu đỏ thẫm, có lon vàng và đội mũ cài lông chim; viên lục sự Sheredeev. - người xương xẩu, mũi mỏng, hệt một vị thánh tử vì đạo như người ta thường vẽ ở Xuzdan - mặc áo màu xanh lục, thêu bạc và cũng đội mũ cài lông chim. Pháo thủ đứng bên súng đại bác, binh lính đeo súng dài đứng trên sàn tàu phía sau.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #241 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:06:38 pm »

Tàu lướt trên eo biển phẳng lặng như gương. Bên trái, giữa những ngọn đồi khô cằn, người ta nhìn thấy những cánh đồng ngô chưa bẻ, những bể chứa nước, những đàn cừu trên đồi, những lều ngư dân bằng đá mái phủ thân ngô khô. Bên hữu ngạn là những khu vườn sum suê, những bức tường trắng, những mái ngói, những bậc thang chạy xuống bờ nước… Những cây trắc bá cao, màu xanh đen, trông giống những con quay kéo sợi. Những tàn tích của một toà lâu đài bị cây cỏ phủ kín. Bên kia lùm cây là một mái tròn và một tháp nhà thờ Hồi giáo… Tới sát bờ hơn, người ta nhìn thấy những trái quá tuyệt đẹp lủng lẳng trên cành, không khí toả hương ôliu và hoa hồng. Người Nga ngạc nhiên trước cảnh đất Thổ Nhĩ Kỳ tươi tốt:

- Ở ta, mọi người gọi họ là đồ trọc đầu và đồ tà giáo. Thế mà hãy nhìn xem, họ sống khá lắm đấy chứ?

Ánh chiều tà đỏ ối lan ra xa, tưởng như lan tới cùng trời cuối đất, rực đỏ lên rất nhanh rồi giảm dần nhuốm nước vùng Bosfo một màu đỏ máu. Tàu La Sitaden thả neo cách Constantinop ba hải lý. Trong ánh đêm xanh thẳm xuất hiện vô vàn các vì sao lớn mà người ta không hề thấy ở Moskva. Sông Ngân hà in bóng dưới nước, tựa một đám mây mù.

Trên tàu không ai muốn ngủ. Ai cũng nhìn xuống hai bờ giờ đây thanh vắng, lắng tai nghe tiếng kéo nước cót két từ giếng lên, tiếng ve sầu inh ỏi. Ngay cả chó ở đây cũng sủa một cách khác thường. Dòng nước cuốn dưới đáy những con cá kỳ lạ ngời sáng. Binh lính yên lặng ngồi trên nòng súng đại bác, nói: "Đất nước mới giàu có làm sao! Người ở đây sống hẳn là dễ chịu…"

Mơ màng nhìn một ngọn nến, ánh sáng che lấp nhiều ngôi sao lớn trên ô cửa sổ nhỏ tối om của căn phòng,
Emelian Ukrainsev thận trọng chấm chiếc bút lông ngỗng vào lọ mực. Y kiểm lại xem có chút gợn, nhỏ nào ở đầu bút không. - nếu có, y chùi ngòi bút vào bộ tóc giả, và chậm rãi viết một lá thư cho Piotr Alekseevich bằng mật mã:

"Chúng thần đã đỗ ở đây gần hai mươi bốn tiếng đồng hồ… Ngày 3 tháng chín, những tàu Thổ Nhĩ Kỳ tụt lại sau, nay đã tới nơi. Tên phái viên vừa khóc vừa trách móc chúng thần đã bỏ họ đi trước và nói với chúng thần là hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ sẽ chặt đầu hắn. Hắn yêu cầu chúng thần đợi hắn ở đây để hắn có thể đích thân báo tin cho hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ biết là chúng thần đã đến. Chúng thần có dặn hắn chú ý đến việc làm thế nào để hoàng đế tiếp chúng thần với đầy đủ nghi lễ. Đến buổi chiều, hắn từ Constantinop trở lại và tuyên bố là hoàng đế sẽ tiếp chúng thần với mọi nghi lễ và sẽ cho thuyền của họ đến đón. Chúng thần đã trả lời: không, chúng thần sẽ tới bằng tàu của mình. Chúng thần đã trả lời như vậy nhưng cuối cùng đã đồng ý lên thuyền của họ, với điều kiện là tàu La Sitadell đi trước chúng thần.

"Ngày hôm sau, ba chiếc thuyền của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ trải đầy thảm đón chúng thần. Chúng thần xuống những thuyền đó và tàu La Sitaden chạy trước. Chẳng bao lâu, chúng thần đã nhìn thấy Constantinop, một thành phố kỳ lạ. Tường thành và các tháp tuy đã cũ nhưng vững chắc. Thành phố hoàn toàn lợp bằng ngói, các giáo đường bằng đá trắng đều rất lạ lùng và lộng lẫy. Nhà thờ đức Thánh bà Sofia thì bằng sa thạch. Từ biển nhìn vào trông rõ Stambul và vùng ngoại ô Pera như ở trong lòng bàn tay. Trên bến, hàng loạt đại bác bắn chào chúng thần và thuyền trưởng Pambur đã cho tất cả các khẩu đại bác của ta bắn đáp lễ. Chúng thần dừng lại trước cung hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ: từ trên tường cao, hoàng đế nhìn xuống, có người phe phẩy một cái quạt trên đầu.

"Một trăm môn vệ cưỡi ngựa và hai trăm thị vệ binh cấm gậy tre đứng đón chúng thần ở trên bờ. Họ có dẫn đến cho thần và cho viên lục sự hai con ngựa yên cương rất sang trọng. Khi chúng thần ở thuyền bước xuống, tên chỉ huy môn vệ của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ đến hỏi thăm sức khỏe. Chúng thần lên ngựa và đi qua nhiều phố nhỏ, rất hẹp và quanh co tới dinh thự dành cho chúng thần. Dân chúng chạy theo hai bên.

"Tàu của bệ hạ làm mọi người ở đây rất kinh ngạc: người ta muốn biết ai đã đóng tàu đó và làm thế nào đã ra được khỏi sông Đông vào kỳ nước cạn. Người ta hỏi thần xem bệ hạ có nhiều tàu không và kích thước thế nào. Thần có trả lời là bệ hạ có rất nhiều tàu, sống tàu không phẳng như ở đây người ta tưởng và đi biển rất tốt. Hàng ngàn người Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Armenia và Do Thái đến xem tàu La Sitaden. Chính hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ cũng đi thuyền đến và đi vòng quanh tàu ba lần. Người ta đặc biệt khen buồm và dây cáp bền, khen gỗ làm cột buồm. Tuy nhiên cũng có kẻ cho là tàu đóng không được chắc. Xin bệ hạ tha thứ cho thần, nhưng theo thần thì hình như thế nầy: trong cuộc hành trình trên biển, gió lúc đó thổi không mạnh lắm vậy mà tàu La Sitaden đã kêu răng rắc, chòng chành và bị nước tràn vào. Những người đóng tàu - Iosif Ney và Jhon Dey đã ăn lãi nhiều, thần nghĩ như vậy. Một chiếc tàu không phải là một vấn đề nhỏ, nó đáng giá một thành phố lớn. Ở đây người ta ngắm nhìn nhưng không hỏi giá và chẳng có thương nhân nào hỏi mua… Xin bệ hạ tha thứ cho thần, thần biết sao viết vậy. Người Thổ Nhĩ Kỳ, họ đóng tàu của họ rất cẩn thận và rất vững chắc: tàu của họ thấp hơn tàu của ta nhưng không bị nước tràn vào.
"Một người Hy Lạp nói với thần: người Thổ Nhĩ Kỳ lo sợ trong trường hợp Sa hoàng bịt Hắc Hải thì ở Constantinop sẽ có nạn đói, vì họ nhập lúa mì, gỗ làm nhà và củi đun của các thành phố trên sông Dunai. Ở đây có tin đồn là bệ hạ đã chỉ huy hạm đội tới Tribizond và Xinov. Họ có hỏi thần về vấn đề đó và thần có trả lời: Tôi không biết, trong khi tôi ở đó thì Sa hoàng không làm thế…"

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #242 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:07:38 pm »

Pambur và các sĩ quan của hắn đi đến Pêra thăm viếng một sứ thần các nước châu Âu và hỏi thăm sức khỏe của họ. Các sứ thần Hà Lan và Pháp tiếp người Nga rất ân cần, cảm ơn họ và uống rượu chúc mừng sức khoẻ Sa hoàng. Rồi Pambur và những người đi theo đến sứ quán Anh.

Họ xuống ngựa trước thềm danh dự và gõ cửa. Một tên hầu cao hai thước, râu đỏ bẻm bước ra. Một tay giữ cánh cửa, y hỏi họ muốn gì. Pambur, mắt đỏ ngầu, nói cho y biết mình là ai và mục đích cuộc thăm viếng.

Y đóng sập cửa lại và sau một lát khá lâu, y mới trở ra mặc dù những người Moskva phải đứng đợi ở ngoài phố. Y nói, giọng chế giễu:

- Sứ thần đã ngồi vào bàn ăn trưa và cho ra nói với các ông là ngài không thấy cần gặp thuyền trưởng Pambur.

- Thế thì, - Pambur hét lên - ngươi vào nói với sứ thần là ta cầu cho hắn hóc phải xương mà chết. - Rồi Pambur giận dữ nhẩy lên ngựa, phi nước đại, qua những bậc thang bằng gạch, trước mặt những người hàng rong, những trẻ em trần truồng và những con chó, phóng về phía Galats, nơi lúc nãy, hắn đã trông thấy nhiều bạn cũ của hắn trong các cửa hàng chả nướng và cà phê, và trước cửa những nhà thổ.
Pambur và các sĩ quan của hắn uống rượu Hy Lạp duzic say khướt cho đến khi không còn biết trời đất gì nữa; họ làm ầm ĩ và gây sự với thuỷ thủ Anh. Bạn bè của hắn đến gặp hắn - những hoa tiêu đường biển, những tên cướp biển nổi tiếng thường trốn tránh trong những ngôi nhà lụp xụp ở Galata, đủ mọi loại người không rõ tung tích. Pambur mời tất cả những người đó lên chè chén trên tàu La Sitaden.

Ngày hôm sau, thuỷ thủ nhiều nước: Thuỵ Điển, Hà Lan, Pháp, Bồ Đào Nha, Morơ đáp thuyền đến, người thì đội tóc giả, đi tất lụa và đeo gươm, người thì đầu bịt một chiếc khăn đỏ, chân đi giầy tã, không tất, súng ngắn giắt ở thắt lưng to bản; có người mặc áo ngắn bằng da và đội mũ vải dầu sặc mùi cá mắm.
Mọi người ngồi dự tiệc trên boong, ngoài trời, dưới ánh nắng ấm áp tháng chín. Người ta nhìn thấy ở bên kia các bức tường, hoàng cung âm u, với những lưới sắt đan mau ở các cửa sổ; phía bên kia eo biển là những lùm cây và các khu vườn sum suê của thị trấn Xcutari.

Binh lính các trung đoàn Preobrazenski và Xemionovski thổi kèn, gõ thìa, hát lện những điệu vũ, và bắt chước tiếng hót đủ mọi loại chim, huýt sáo "cảnh mùa xuân".

Pambur, đầu đội tóc giả rắc phấn bạc, áo dài đỏ đính dải và đăng-ten, một tay cầm cốc, tay kia cầm chiếc mùi-soa nhỏ, - mỗi lúc một thêm bốc, nói với khách khứa:

- Nếu chúng tôi cần đến một nghìn chiếc tàu, chúng tôi sẽ đóng một nghìn… Chúng tôi đã có ở công trường đóng tàu những tàu tám mươi và một trăm khẩu đại bác. Năm tới hãy đợi chúng tôi ở Địa Trung Hải, hãy đợi chúng tôi ở biển Baltic. Chúng tôi sẽ thâu nạp tất cả những thuỷ thủ giỏi. Và chúng tôi sẽ ra đại dương.

- Một loạt đại bác! - Các thuỷ thủ mặt đỏ bừng bừng kêu lên. - Một loạt đại bác mừng thuyền trưởng Pambur.

Khách khứa hát các bài ca thuỷ thủ, dậm chân. Khói thuốc lững lờ bay trong không khí yên tĩnh, bên trên boong tàu. Chẳng ai nhận thấy là mặt trời đã lặn, các ngôi sao trên bầu trời chiếu sáng bữa tiệc khác thường nầy. Đến nửa đêm, khi nửa số sói biển đã ngáy khò khò người thì nằm lăn lóc dưới gầm bàn, người thì đầu bạc trắng vì giông tố, bão táp, gục xuống giữa các đĩa ăn, Pambur chạy lên cầu chỉ huy:

- Chú ý! Pháo thủ, ai nấy về chỗ! Nạp đạn! Châm ngòi. Chú ý? Cả hai mạn tàu - một loạt đạn… Bắn!
Bốn mươi sáu khẩu trọng pháo khạc lửa. Bầu trời hầu như đổ ụp xuống Constantinop đang yên ngủ.

Tàu La Sitaden, khói phủ kín, bắn một loạt đạn thứ hai.

Emelian Ukrainsev viết bằng mật mã:

"Chính hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ và tất cả dân chúng đều kinh hoảng: thuyền trưởng Pambur đã suốt ngày uống rượu trên tàu với các thuỷ thủ, và đến nửa đêm, say khướt, đã ra lệnh nổ tất cả các khẩu pháo trên tàu nhiều lần. Trận bắn pháo nầy khiến khắp thành Constantinop xì xào và có tin đồn lan truyền đi là thuyền trường cho bắn đại bác ban đêm để báo cho đoàn tàu của bệ hạ đang chạy trên Hắc Hải biết có thể tiến vào eo biển được.

"Đêm đó hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ hoảng sợ, cứ để nguyên quần áo ngủ, bỏ phòng ngủ chạy ra ngoài, nhiều vị thượng thư và tổng đốc cũng sợ, và cuộc bắn pháo lạ lùng của thuyền trưởng đã làm cho hai vương phi ở thượng cung đẻ non. Hoàng đế rất tức giận Pambur và cho người đến yêu cầu chúng thần bắt thuyền trưởng lên bộ để chặt đầu. Thần có trả lời hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ là thần không rõ tại sao thuyền trưởng lại cho bắn súng, thần sẽ hỏi ông ta về vấn đề nầy và nếu trận bắn pháo đó đã làm phiền đến hoàng đế, thần sẽ nghiêm khắc cấm chỉ thuyền trưởng từ nay trở đi không được bắn nữa, nhưng thần không có một lý do nào bắt ông ta lên bộ được. Sự việc đến đó thì chấm dứt.

"Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ sẽ tiếp chúng thần vào ngày thứ ba. Người Thổ Nhĩ Kỳ chờ đợi thuyền trưởng Metzomo nguyên đầu cướp ở Angie, để hỏi ý kiến hắn: ký hoà ước với bệ hạ hay tuyên chiến".

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #243 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:08:44 pm »

Chương 115

Mặt trời tháng chín xế tà trên bờ sông cây cối um tùm. Ngày lại ngày, càng đi người lên phương Bắc càng thấy vắng vẻ. Hàng đàn chim cất cánh từ mặt sông yên tĩnh bay lên. Cây đổ ngổn ngang, đồng lầy, hiu quạnh. Thỉnh thoảng lại thấy một túp lều ngư dân và một con thuyền nhỏ kéo lên bờ. Phải bảy ngày nữa mới đến hồ Beloie.

Mười bốn người kéo một sà-lan nặng chở đầy lúa mì. Đầu cúi gằm, hai cánh tay buông thõng, họ dùng ngực kéo quai dây. Họ đã đi như vậy từ Yaroslav. Mặt trời đang lặn sau rặng tùng đen ngòm nhấp nhô như một hàng lỗ châu mai, buổi chiều tà cứ bảng lảng mãi không tắt trong một ánh đỏ rực hải hùng. Từ sà-lan có tiếng gọi: "Ô-hê, vào bờ thôi!"

Phu kéo thuyền đóng một chiếc cọc xuống đất hoặc cột dây vào một thân cây. Họ kiếm củi nhóm lửa. Trên bờ sông sình lầy, rừng tùng dần dần chìm trong làn sương mù trắng như sữa. Đàn vịt trời lướt qua, in bóng vươn cố dài trên nền trời hoàng hôn. Những con nai phương Bắc, lênh khênh như những con ngựa, dẫm lên cành khô lần ra sông uống nước. Trong rừng đầy những loài thú chưa từng biết sợ người, chưa hề có ai bắn giết.

Có tiếng mái chèo vỗ nước. Chính chủ nhân, thánh lão Andrey Denixov, chèo thuyền từ sà-lan vào bờ. Lão mang cho phu kéo thuyền bánh khô, bột mì, đôi khi có cá - và những ngày ăn mặn còn có cả thịt muối nữa. Lão xem neo có chắc không. Lão luồn hai tay vào thắt lưng da, dừng lại trước đống lửa. Lão còn tráng kiện, bận áo dài thầy tu, đội mũ bằng dạ, râu xoăn, mắt sáng. Lão hỏi: "Anh em khỏe cả chứ? Phải chịu thương chịu khó, Chúa ưa ta siêng cần. Cứ vui lên, mọi công lao của anh em sẽ được đền bù. Anh em đã thoát khỏi vòng xú uế của bọn Nikon, riêng điều đó cũng đã là một đại phước rồi. Và khi chúng ta tới được hồ Onega, thì, chà chà, phong cảnh nơi đó tuyệt đẹp. Thực là cảnh thiên đường

Lão cựa mình, rút tay ra khỏi thắt lưng, ngồi xổm xuống trước đống lửa. Đám phu thuyền mệt mỏi lắng nghe lão kể:

- Xưa kia, ở vùng đó, có một lão đạo sĩ sống bên bờ sông Vyga. Cũng như bọn ta ngày nay, Người đã bỏ trốn đi để trốn tránh mọi cám dỗ của Quỷ vương. Người vốn là một thương gia, có cửa cao nhà rộng, nhiều cửa hiệu và kho hàng. Một lần Người thấy hiện lên một đám lửa trong có một người, và có tiếng nói của Người: "Ta đã sa vào vòng cám dỗ, đời đời kiếp kiếp bị đầy đoạ". Người liền trao tất cả của cải cho vợ và các con trai, rồi ra đi. Người dựng một căn nhà bằng gỗ cây sống một mình, cảm giao với Chúa, dập tắt mọi dục vọng còn bừng bừng cháy trong lòng. Người xới đất bằng chiếc que cời than, gieo hai mũ đầy lúa mạch giống, Mùa hè cũng như mùa đông, Người khoác một tấm da dê tươi; tấm da khô dần ttên mình. Đồ đạc chỉ có một chiếc âu gỗ, một cái thìa và một quyển kinh đạo chính thống. Chẳng bao lâu quyền phép của Người vượt xa các ma quỷ, đến nỗi xem chúng chẳng hơn gì một bầy ruồi nhặng… Người người tìm đến. Người rửa tội cho họ, dùng một chiếc lá hoặc một trái cây rừng để làm lễ ban thánh thể cho họ. Người dạy rằng: thà chết thiêu trong lửa hồng còn hơn bị khổ ải đời đời. Năm nầy sang năm khác, người người tìm đến vùng người ở đề sinh cơ lập nghiệp. Họ đốt cây rừng, cầy chỗ đất đã phá hoang. Họ săn thú, đánh cá, hái nấm và trái cây. Mọi việc đều làm chung, kho tàng, hầm chứa đều là của chung. Người để đàn ông, đàn bà sống riêng..

Có tiếng nói nghiêm nghị chêm vào:

- Làm như vậy rất đúng, vì nếu ở chung với đàn bà thì chẳng dành dụm được gì hết!

Lão Denixov đưa con mắt hân hoan nhìn vào khoảng tối xem ai đã nói. Rồi lão tiếp tục kể:

- Nhờ những lời cầu nguyện của lão đạo sĩ, thú vật cứ việc để cho người ta bắt; và đôi khi đánh được những mẻ cá kỳ lạ? Nấm lành, quả ngọt mọc đầy. Người chỉ cho biết những nơi có mỏ sắt, mỏ đồng. Người ta dựng lò luyện kim… Thuở ấy, nơi đó trở thành một thánh địa, đời sống yên lành.

Andriuska Golikov ngồi sau đóng củi khô đứng dậy đến ngồi cạnh Denixov, nhìn thẳng vào mắt lão. Golikov làm phu kéo thuyền vì đã có phát một lời nguyện. - Ngày hôm trước, tại nhà Reviakin, vị thánh lão đã làm lễ rửa tội cho Golikov; lão lấy thừng quất anh và bảo anh đến Yaroslav đợi chiếc sà-lan chở lúa mì của Denixov - Trong số mười bốn phu thuyền, có chín người cũng như Golikov, đã tìm đến để thực hiện một lời nguyện hoặc sám hối.
Denixov kể tiếp:

- Trước khi tịch, người đã ban phước lành cho chúng ta, Xemion, anh ta và ta, Andrey; Người cử chúng ta làm thầy cả ở tu viện Vyga. Người làm lễ thông công cho chúng ta, rồi chúng ta ra đi. Căn lều Người ở hơi riêng biệt, khuất trong một thung lũng nhỏ. Vừa đi khỏi thì, ô kìa, chúng ta đã thấy gì? Chúng ta thấy sáng rực lên. Lều của Người bốc cháy như một bụi cây rực lửa. Ta định bỏ chạy Xemion níu tay ta lại: đứng im? Từ đống lửa vẳng lên một tiếng hát du dương, và ở bên trên ngọn lửa, trong đám khói, một bầy ma quỷ đen như bồ hóng đang quằn quại kêu sủa. Anh em thấy có lạ không? Anh ta và ta liền quỳ xuống và cũng hát theo… Sáng hôm sau, chúng ta trở lại nơi đó. Từ đống tro tàn, chảy ra một dòng suối trong vắt. Chúng ta đẵn cây dựng lên một nhà nguyện có cả khung cho một bức tranh thánh nhỏ, trên bờ suối… Nhưng chúng ta không mướn được thợ để vẽ tranh như ý chúng ta muốn.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #244 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:09:48 pm »

Golikov thốt lên một tiếng nức nở. Denixov nhẹ nhàng đưa tay vuốt những mớ tóc dài loà xoà trên đầu anh.

- Anh em ạ? Điều không may là cứ ba năm lại có một lần mất mùa lúa mì. Mùa hè vừa qua, trời mưa ngập hết mùa màng, rơm rạ cũng chẳng được cắt. Cho nên phải chở lúa mì từ xa đến… Nhưng việc chúng ta đang làm đây là một việc công đức, các con ạ. Chúng ta không uổng công đâu.

Denixov tiếp tục kể một lát nữa, rồi lão đọc kinh cầu nguyện cho tất cả mọi người. Lão xuống thuyền bơi về sà lan; con thuyền lướt qua dải sông phản chiếu ánh hoàng hôn nhợt nhạt. Đêm đến trời lạnh; đoàn người chịu rét nằm ngủ trong manh áo rách.

Trời vừa tảng sáng, Denixov lại trở vào bờ đánh thức mọi người dậy. Họ húng hằng ho, tay gãi sồn sột.
Đọc kinh xong, họ nấu cháo. Khi mặt trời mọc, tựa một quả bóng lầy nhầy đục dây vào vai, lê giầy gai trên bờ sông ẩm ướt. Dặm nối dặm, ngày lại ngày. Trên trời, từ phương Bắc mây ùn ùn tuôn xuống. Một cơn gió mạnh nổi lên. Nước sông Sesna dâng tràn bờ.

Giờ đây mây bay là là trên mặt hồ Beloie động sóng. Đoàn người đi ngoặt sang phía Tây, hướng về
Belozesk. Sóng ập vào bờ hồ vắng vẻ, xô ngã những người phu thuyền. Kéo được chiếc sà-lan đi lúc nầy thật và vất vả. Đến giờ ăn, họ trú vào một túp lều ngư dân để hong quần áo cho khô. Ở đây, hai người phu mướn cãi nhau với Denixov về chuyện ăn uống; họ đòi thanh toán tiền công - mỗi người được bảy mươi lăm kopeik, rồi bỏ đi thẳng

Sà lan bỏ neo trên chỗ đá ngầm, trước thành phố. Gió đã trở lạnh, thổi xói vào mọi người, buốt đến tận xương. Nghĩ đến nông nỗi phải kéo thuyền lên phương Bắc, ai nấy đều ngao ngán trong lòng. Cả bọn phu mướn đều cãi lộn với Denixov rồi bỏ đi, tản mát vào các làng ngư dân. Cả những người phu tình nguyện cũng vậy: người thì gặp bạn, kẻ thì biến mất lúc nào không ai biết, bằng cách nào chẳng ai hay.

Ba người ngồi trên một chiếc thuyền úp trên đá cuội ướt: Andriuska Golikov, Iliuska Dekhtiarev - một nông dân vùng Kasira đi trốn - và Fetka, biệt danh là Mõm bẩn, một anh chàng gù lưng sống lang thang nay đây mai đó, nguyên trước là nông nô trong một tu viện và đã từng nhiều lần bị đánh đập tra khảo. Ba người đưa mắt nhìn quanh.

Nơi đây cảnh vật tiêu điều: mặt hồ vẫn đục, sóng bạc đầu trắng xoá, từ phương Bắc mây lớp lớp ùn về; bên kia bờ để, trên dải đồng bằng phẳng lì, một thành phố nhà gỗ cũ nát tứ bề mây phủ như bưng: nóc tháp thì thủng, gác chuông hình củ hành của nhà thờ thì hoen gỉ, mái những ngôi nhà gỗ cao thì sụp đổ. Những con sào phơi lưới lung lay trước gió. Trước sau không một bóng người. Đâu đây, chuông nhà thờ buông từng tiếng não nuột

- Denixov chỉ khéo nuôi người bằng nước bọt. Đợi cho đến được thiên đường của lão ta thì bọn mình chỉ còn phần hồn thôi, - Mõm bẩn vừa nói vừa lấy ngón tay gãi vào cái chai ở gan bàn tay.

- Mầy phải có đức tin! Mầy phải có đức tin chứ, - Golikov tức giận quát; rồi anh buồn rầu nhìn những làn sóng trắng xoá. Sao mà buồn thảm, cô quạnh, lạnh lẽo nhường nầy… Có lẽ cả ở đây cũng vậy. Chúa cũng vẫn xa vời.

Iliuska Dekhtiarev, một nông dân lực lưỡng, miệng rộng, đôi mắt vui vẻ, chậm rãi khẽ kể:

- Tớ liền hỏi anh ta: tại sao xã anh trống rỗng, tại sao đến một nửa số nhà cửa bị bịt kín? Anh ta trả lời:
"Xã chúng tôi trống rỗng vì bọn thầy tu bóc lột chứng tôi… Biết bao lần, chúng tôi đã gửi đơn kiện lên Moskva! Nhưng trên ấy, hẳn là người ta còn lo đến nhiều việc khác… Trong Tuần lễ Thánh, thôi thì bọn chúng thả sức hoành hành, kể sao cho xiết… Bọn thầy tu ở tu viện kéo ra trên mười chiếc xe trượt tuyết, mang theo các tranh thánh - đứa thì đổ ra phố, đứa thì kéo vào thị trấn, đứa thì sục vào làng… Chúng ập vào từng nhà ấn thánh giá vào mồm gia chủ, ra lệnh: "Giơ ba ngón tay lên làm dấu, hôn thánh giá đi!". Chúng hạch đủ thứ: nào bánh, nào kem, nào trứng, nào cá. Chúng vơ vét sạch sành sanh. Chúng lại còn nã tiền nữa… "Mầy là một thằng razkonic, một tên vô giáo trưởng - chúng bảo thế; mầy giấu những sách kinh cựu của mầy ở đâu? Rồi chúng bắt khổ chủ giải về tu viện, xích lại tra tấn".

Bỗng nhiên, Mõm bẩn ngửa cổ phá lên cười ồ ồ:

- Thôi thì chúng ta tha hồ ăn, thôi thì chúng ta tha hồ uống? Hừ, bọn thầy tu ấy, cầu sao cho chúng chết
toi đi cả lũ!

Dekhtiarev hích đầu gối vào người Fetka. Một tên thầy tu, để râu như người di-gan, mũ tròn kéo chụp xuống ngang lông mày, đi người gió tiến lại gần chiếc thuyền, tay giữ tà áo cho khỏi tốc. Y trừng cặp mắt dữ tợn nhìn chiếc sà-lan đang kêu ken két lắc lư trên sóng. Rồi y quay về phía ba người hỏi:

- Sà-lan nầy ở đâu đến?

- Thưa cha, từ Yaroslav đến, - Dekhtiarev uể oải trả lời.

- Sà lan chở gì?

- Có ai nói cho biết là chở gì đâu.

- Chở lúa mì à?

- Có lẽ thế!

- Chúng mầy kéo sà-lan đi đâu?

- Ai mà biết được? Người ta sai chúng tôi kéo đến đâu thì chúng tôi kéo đến đấy!

- Mầy nói dối, mầy nói dối, mầy nói dối! - Tên thầy tu xắn phắt tay áo phải lên. - Sà lan nầy của Denixov. Bọn mầy chở lúa mì đến Povenez tiếp tế cho các tu viện razkonic, đồ khốn!
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #245 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:11:06 pm »

Bất thình lình, y xông vào túm lấy ngực Iliuska Dekhtiarev lắc lấy lắc để, khiến anh nông dân sợ xanh mặt. Rồi tên thầy tu quay về phía thị xã, gân cô gào thật to:

- Ra giúp tôi một tay với?

Golikov vùng dậy, theo ven bờ hồ chạy tháo về phía các lều ngư dân.

- Ra giúp tôi một tay với - tên thầy tu gào lên lần thứ hai, rồi nghẹn cổ. Mõm bẩn đã túm lấy tóc y, gỡ
Dekhtiarev ra, quật tên thầy tu ngã uống đất, rồi nhìn quanh tìm một hòn đá. Tên thầy tu nhanh chân đứng phắt dậy, đánh vào sườn Fetka. Nhưng Fetka nổi hung cứ trơ trơ như đá, không hề nao núng; hắn lại túm lấy tên thầy tu, vít đầu y xuống, nhè cổ mà đánh. Tên thầy tu rên lên. Bốn người vác gậy nhọn từ một đường phố nhỏ xông tới.

Golikov khiếp đảm, núp sau một lều ngư dân nhìn ra. Mõm bẩnmột mình địch năm tên; hắn giằng lấy gậy trong tay một tên, chồm lên đánh trả, vừa đánh vừa la hét dữ tợn. Cả đời, Golikov chưa từng thấy ai nổi hung đến như vậy… "Một con quỷ, quả là một con quỷ! Dekhtiarev cũng xông vào cuộc hỗn chiến: hắn nhanh tay đánh vào mang tai tên thầy tu; tên nầy ngã quay xuống đất, lần nầy là lần thứ ba. Bộ hạ y bắt đầu lùi. Trong phố lác đác có vài người thập thò ở ngưỡng cửa theo dõi cuộc ẩu đả, đếm từng đòn: "Đánh nữa đi, thật đáng kiếp, thật đáng kiếp!".

Iliuska và Fetka đã thắng thế, đuổi theo bọn hung đồ; nhưng chỉ một lát sau hai người đã quay trở lại bờ sông, chùi máu mũi đang chảy rồi đi thẳng về phía túp lều nơi Golikov đang run như cầy sấy.

Mõm bẩn báo Golikov:

- Thật ra, cả mầy nữa, cũng đáng sửa cho mầy một trận. Đồ ngu, ngữ mầy mà cũng đòi lên thiên đường
Một cái đầu rối bù, với bộ râu màu khói mọc lan lên tận mắt, thò ra ở cửa túp lều đất vách bằng đất nện, quay lưng ra hồ. Một người béo lùn, chân đi đất, mình đầy bồ hóng, bước ra khỏi lều, mắt nhấp nháy. Anh ta nhìn về phía phố: không còn bóng dáng ai nữa.

- Mời các anh vào, - anh ta nói và bước trở vào căn nhà lụp xụp. Ánh sáng lọt vào khe khoét ở phía trên cửa. Gian nhà sực mùi cá tanh ngòm, nửa nhà ngổn ngang chài lưới. Ilya, Andrey và Fetka bước vào nhà, và giơ hai ngón tay làm dấu. Anh dân chài nói:

- Mời các anh ngồi. Các anh vừa đả ai các anh có biết không?

- Suốt đời tôi bị đánh đập, có lần nào người ta hỏi tôi là ai đâu, -Mõm bẩn thủng thẳng trả lời.

Các anh vừa đả thằng Feodoxi, thủ từ tu viện Tôn sùng Thánh giáđấy. Nó là một tên kẻ cướp, một tên kẻ
cướp thực thụ, tưởng chừng như quỷ Satan hiện hình! Một con chó dại!

Thấy họ là người đồng hội đồng thuyền, anh dân chài liền ngồi xuống ghế xen vào giữa, hai tay khoanh trước ngực, bàn tay thọc vào nách, lắc lư nói:

- Vùng nầy lắm cá, lẽ ra ở đây có thể làm ăn khấm khá được, ấy thế mà tôi cũng muốn bỏ đi… Không thể sống được, thằng quỷ Satan ấy chiếm đoạt tất cả cái hồ nầy… Mùa đông đánh được bao nhiêu cá đã phải nộp cho bọn thầy tu một phần tư rồi, đến mùa cá vược mỗi mẻ cá cũng phải nộp cho chúng một phần nữa.

- Thế mà nó vẫn chưa cho là đủ. Chợt thấy một cánh buồm, là nó chạy ngay ra bãi, vơ vét tất cả, chỉ để lại cho vài con cá đủ ăn một bữa… Ai cưỡng lại, nó liền hạch: "Mầy thử làm dấu xem nào?" Tất nhiên, đành chịu tội với Chúa mà giơ ba ngón tay lên làm dấu. "Không phải thế, thằng nầy khéo vờ! Theo tao, đi!". Theo nó đi, còn lạ gì nữa: nó giải anh về tu viện giam vào hầm kín, xích lại. Biết bao lần nó xé rách lưới của anh em, nó đập vỡ biết bao thuyền của anh em… Anh em kêu lên tên tống trấn. Nhưng chính tên tổng trấn cũng chỉ lo ăn cướp của dân. Điều vô phúc là chính đại chủ giáo đã thông tri cho bọn thầy tu ở đây thủ tiêu tất cả tín đồ đạo gốc. Các anh ơi, các anh nên bán xới vùng nầy mà đi cho sớm.

- Ồ không, bọn tôi đi với Denixov - Golikov nói, sợ sệt đưa mắt nhìn Dekhtiarev và Fetka.

- Denixov có thế lực, lão sẽ nộp tiền chuộc… Dù có vứt lão vào lửa, lão cũng không chết cháy đâu… Ở phương Bắc xuống, lão chở lông thú, ngà và đồng, và lão nộp tiền. Trên đường về lão cũng nộp tiền. Lão đã quen nghề rồi… Đâu đâu lão cũng có tay trong

Mõm bẩn mỉm cười chua chát, nói:

- Lão là một tay thợ nói! Trong suốt chuyến đi, lão cho chúng tớ ăn toàn bánh khô. Thế mà lão nói khôn nói khéo cứ như là lão cho chúng tớ ăn thịt gà ấy!

Nghe bạn nói thánh lão của vùng Vyga chẳng ra gì Golikov nhăn nhó méo xệch cả mặt. Anh nhớ lại đôi khi Denixov đưa tay âu yếm viết nhẹ tóc anh mà hỏi: "Thế nào con, phần hồn con tươi tỉnh chứ? Tốt lắm…" Anh nhớ lại những câu chuyện kỳ lạ lão kể bên đống lửa: anh hình dung thấy lão ngồi trên con thuyền - chiếc mũ tròn nhọn chỏm in bóng đen trên mặt nước long lanh ánh chiều tà. Chính trong các bức tranh thánh thời cổ cũng có vẽ hình các thánh ngồi trên một con thuyền nhỏ như vậy. Vì Denixov, có phải nhảy vào đống lửa anh cũng không từ.

Mấy người ngồi thừ trên chiếc ghế dài, bàn đi tính lại: làm gì đây? Chạy đi đâu? Cứ tiếp tục đi lên phương Bắc?
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #246 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:12:33 pm »

Anh dân chài can: kéo bộ lên phương Bắc, tới tận Vyga mà không có thuyền phải mất hai tháng; họ có thể bỏ mạng trong rừng

- Hay là các anh tìm đến những miền ấm áp hơn, vùng sông Đông chẳng hạn

- Vùng sông Đông, tớ đến rồi, - Mõm bẩn đáp, giọng khàn khàn. - Ở đó, chẳng có tự do như xưa đâu. Bọn Cô-dắc ở các xtanitxa(làng Cô dắc) bắt nông dân đi trốn đem nộp. Đã hai lần tớ bị chúng xích và giải đến các xưởng của Sa hoàng ở Voronez.

Chẳng tìm thấy chước nào ổn, họ bảo Golikov đi tìm Denixov: lão sẽ định liệu ra sao?

Vừa bước chân đến cổng thành cũ kỹ, nghe thấy tiếng kêu "Bắt lấy chúng, bắt lấy chúng!" Andriuska sợ hết hồn. Nhiều người chân đi đất, quần áo tả tơi, đang tháo chạy; có người nhảy qua hàng rào. Hai tên lính, mặc áo nẹp màu lục, tay giữ mũ, đang đuổi theo. Thở hồng hộc, bọn người biến vào một phố nhỏ ngoằn ngoèo.

Một ông già, người nhỏ nhắn, vẻ đạo mạo, đứng trước cửa vườn nói: "Họ lùng bắt bọn nầy đã hai ngày rồi đấy!". Golikov hỏi thăm ông cụ có biết lái buôn Andrey Denixov, có trông thấy Denixov ở đâu không?

Ông già người bé nhỏ suy nghĩ và bảo:

- Đến quảng trường, tìm Denixov ở nhà quan tổng trấn ấy.

Trên quảng trường nhỏ hẹp, đầy những đống phân, có nhiều dẫy cửa hiệu đóng kín, cột xiêu mái đổ. Chỉ có hai ba cửa hiệu bán kẹo giòn và bao tay. Ngôi nhà thờ cổ, tường đã rạn nứt, đứng trơ trọi không có hàng rào vây quanh. Trước tiền đình mái thấp lè từ, những người đàn bà hành khất, mình quấn manh áo rách nằm ngủ trên bãi cỏ. Một anh chàng dở người đặt cạnh mình ba chiếc gậy cời than, miệng ngáp đến chảy nước mắt; cái đầu to tướng lắc lư. Cuộc sống ở đây chẳng có vẻ sầm uất chút nào.

Giữa quảng trường, một tên lính gác vác giáo dẫm chân tại chỗ trước cột hành hình. Golikov sợ sệt đi về phía tên lính gác. Một tay chủ hiệu cáo già, thò đầu ra cửa gian hàng bằng gỗ, giọng ngọt như đường:

- Chà kẹo giòn ngon lắm!

Golikov khúm núm chào tên lính gác, hỏi đường đến nhà quan tổng trấn. Thân hình ngắn ngủn, chiếc áo nẹp của lính xtreletz vá đụp dài đến gót, tên lính gác quay đầu lại, vẻ bực bội. Một bản sắc chỉ bằng sắt tây vẽ hình chim ưng đóng ở cột hành hình. Tên lính hét: "Đi, đi!". Golikov lảng xa và đưa mắt nhìn quanh: đâu đâu cũng rào mục, nhà xiêu… Mây vướng vào mấy cây thập ác trên nóc nhà thờ. Một người, thắt lưng trễ bụng, chân mang ủng dạ, tiến lại gần Golikov, đôi môi dày nứt nẻ hau háu chề ra. Tên lính gác đứng bên cột hành hình và các người bán hàng trong các cửa hiệu nhìn ra: có chuyện gì đây?

- Mầy ở đâu đến? Mầy là ai? Mầy đi lang thang phải không? - Người đó thở mùi tỏi nồng nặc vào mũi Golikov. Anh khiếp sợ, ấp úng nói không ra lời. Hắn túm cổ anh.

Từ một cửa hiệu có tiếng kêu ra:

- Nó là người của Denixov đấy!

Từ một cửa hiệu khác, một giọng the thé nói:

- Nó dẫn chín đứa đi thiêu đấy!

Người kia lắc Golikov hỏi:

- Mầy đã đọc sắc chỉ của Sa hoàng đóng ở cột hành hình chưa? Theo tao, đi, đồ chó đẻ

Và hắn lôi Golikov sềnh sệch. - mà nào anh có dám cưỡng lại - đến cuối quảng trường, vào dinh tổng trấn.
Andrey Denixov, áo quần bảnh bao, râu tóc chải chuốt, tay cầm chiếc mũ lông điêu đặt trên đầu gối, đang ngồi ở phòng khách của tổng trấn Maxim Lupandin, một dapife đã sa sút, nghèo túng. Viên tổng trấn buồn rầu nhìn đôi ủng lịch sự bằng da dê của lão lái buôn, chiếc áo nẹp màu xám bằng dạ Hamburg, mà có lẽ cũng có thể là bằng dạ Anh, lót lụa tía. Còn bản thân hắn thì mặc chiếc áo lông sóc tàng đã sờn, người hắn ốm o, hói đầu, mặt đầy mụn trứng cá. Dưới triều cố Sa hoàng Fedor Alekseevich, hắn được làmdapife, nay dưới thời Piotr Alekseevich, hắn cậy cục lắm mới xin được chân tổng trấn để vừa đủ sống ở Belozesk.
Hai người trò chuyện loanh quanh không muốn đi thẳng vào vấn đề: Denixov cứ đận đà mãi mà viên tổng trấn thì cũng vậy. "Chà, chiếc áo nẹp đẹp quá, - viên tổng trấn nghĩ thầm. Nếu y cho mình thì hay quá. Hắn đã ngầm sai một gia nô đến tu viện Krextovozơvizenski gọi cha Feodoxi. Nhưng Denixov cũng có ngón của lão để trả miếng.

- Trời xấu, trời xấu, không sao, - Denixov nói. - gió sẽ đổi chiều, và chúng tôi sẽ dong buồm vượt qua hồ… Còn như nếu gió không đổi chiều thì chúng tôi sẽ tiếp tục kéo bộ, men theo bờ. Miễn là đến được Kopza.
Đến đó, chúng tôi sẽ thuê người đến tận Povenez.

- Tất nhiên, đó là việc của ông, - viên tống trấn trả lời lấp lửng, mắt không rời chiếc áo nẹp.

- Maxim Maximys, ông hãy làm ơn đừng giữ thuyền của tôi lại mà cũng đừng giữ người của tôi.

- A, nếu không có chiếu chỉ của hoàng đế thì còn phải nói gì nữa. - Viên tổng trấn rút ở túi ra chiếu chỉ của Sa hoàng đã được cuộn lại, quét bộ râu lên trên, như một người cận thị. "Chiểu theo chiếu chỉ của Đại Quận công và Sa hoàng của toàn thể… Đã quy định… Tất cả những kẻ biếng nhác và những kẻ ăn bám trong các tu viện và tất cả các tiểu, đều bắt ra lính…"
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #247 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:13:30 pm »

- Việc tu viện không liên quan gì đến chúng tôi; Chúng tôi đây, chúng tôì làm nghề buôn bán.

- Hãy khoan… "… và cũng bắt ra lính các mã phu và gia nô của các lãnh chúa, những kẻ hành khất, những kẻ đào vong lang thang…". Andrey, tôi biết giúp ông thế nào được? Tôi chưa nghĩ ra cách gì… Giả sử lệnh nầy do một tên thừa phái quèn mang lại đây thì còn đi một nhẽ. Đằng nầy chính trung uý Aleksey Brovkin ở trung đoàn… Preobrazenski, có binh sĩ đi theo, đã mang lệnh nầy đến cho tôi… Ông thừa biết đấy, thời buổi nầy nói chuyện với các ông trung uý đâu có dễ.

Denixov khép tà áo lại, làm cho tiền trong túi kêu xủng xẻng. Viên tổng trấn đâm lo Denixov không nộp lễ hậu. Hắn luôn luôn liếc nhìn ra cửa: Feodoxi có lẽ sắp đến chăng? Nhưng lại chính là tên cảnh sát môi dầy bước vào, đẩy Golikov đi trước. Y hấp tấp bỏ mũ, gập người xuống chào:

- Thưa quan, tôi lại bắt được một thằng nữa

- Quỳ xuống! - viên tống trấn giận dữ quát. - Tên cảnh sát đẩy vào lưng Golikov; đầu gối xương xẩu của
anh đập xuống sàn - Bố mầy là ai? Mầy là đày tớ nhà ai? Mầy ở đâu trốn đến đây? - Vanka, đưa bút mực cho ta

Denixov ngọt ngào nói:

- Maxim Maximys, xin ông để yên nó, nó là nhân viên của tôi đấy.

Mắt viên tổng trấn sáng lên. Hắn lấy móng tay lật nắp lọ mực bằng đồng, lấy đầu ngòi bút vớt một con ruồi ra, miệng rên rỉ. "Mà cái thằng thủ từ sao vẫn không thấy dẫn xác đến", hắn thầm nghĩ. Nhưng vừa lúc đó có tiếng gỗ sàn cót két ở phòng ngoài. Vanka mở cửa. Tên thầy tu có chòm râu kiểu di-gan bước vào, mặt hầm hầm, một bên mắt sưng húp. Trông thấy Denixov, hắn gõ chiếc gậy thầy tu xuống sàn:

- Gia nhân nó đã đánh tôi bị thương, suýt nữa chúng đập chết tôi, - tên thầy tu nói oang oang. - Thế mà ông Maxim, ông lại để nó ngồi cạnh! Tôi hỏi ông, nó là ai, là ai? Một tên razkonic khốn kiếp! Giao nó cho tôi, ông tổng trấn, giao nó cho tôi, tôi nói với ông ba lần rằng ông phải giao nó cho tôi!

Hai bàn tay bắt tréo trên đầu gậy, tên thầy tu trừng con mắt dữ tợn khi thì nhìn chòng chọc vào Denixov, khi thì nhìn chòng chọc vào Maxim Maximys. Golikov sợ cuống cuồng đã bò đi nằm phục vào một xó. Vanka nóng ruột chỉ đợi lệnh là xông ra vặn tay anh. "Chiếc áo về tay ta rồi", tên tổng trấn tự nhủ.

- Mầy là đứa nào mà đến đây sủa nhặng lên, thằng thầy tu kia? Tao không biết mầy là ai và tao cũng không cần biết mầy là ai, - Denixov dằn từng tiếng. Lão đứng dậy. - Hai bàn tay Feodoxi tì trên đầu gậy tím lại.

Denixov cởi cúc áo lót, lấy ra một cái túi buộc vào cây thánh giá bằng đồng có tám nhánh. - Maxim Maximys, ơn đền ơn, công trả công, tôi đã có ý định biếu ông một phần lãi còm của tôi… Nhưng xem ra chúng ta không thể thoả thuận với nhau được.

Lão mở túi, lấy ra một tờ thông lệnh, thận trọng giở ra:

- Chính hội đồng xã trưởng đã cấp thông lệnh nầy cho đích danh chúng tôi, Andrey và Xemion Denixov.
Thông lệnh nói rõ rằng chúng tôi có quyền buôn bán ở bất cứ nơi nào, và không ai được gây thiệt hại cho chúng tôi là Andrey và Xemion… Chủ tịch hội đồng Mitrofan Sorin đã tự tay ký thông lệnh nầy

- Thằng Mitrofan của mầy thì làm đếch gì được tao? - Feodoxi gào lên, một tay bỏ chiếc gậy. - Đây tao có cái nầy cho thằng Mitrofan của mầy, có cái lõ chó!(1)

- Ơ! - tên tống trấn khẽ thở dài. Denixov đỏ mầy đỏ mặt.

- Chống lại vị chủ tịch do các nhà buôn lớn ở Moskva bầu ra, mầy dám giơ lõ chó ra à? Đấy chính là thủ đoạn côn đồ, kẻ cướp!

- Cho mầy tắc cổ nổ hầu, đồ khốn kiếp? - Feodoxi điên cuồng nhắc đi nhắc lại, chòm râu vểnh lên. Hắn túm lấy cây thánh giá bằng đồng của tín đồ razkonic trên ngực Denixov. - Đây, với cái nầy, thằng vô giáo trưởng kia, tao sẽ cho thiêu sống mầy! Thông lệnh của mầy thì nước gì, tao có cái mạnh hơn kia!

- Thôi, tôi can hai người hãy giảng hoà với nhau, viên tổng trấn rền rĩ, - Andrey, đưa cho y hai mươi rúp, y sẽ dẹp chuyện nầy lại.

Nhưng Denixov và tên thầy tu nhất định không chịu, lỗ mũi họ phập phồng. Tên cảnh sát len lén nhích lại gần. Denixov liền giật cây thánh giá khỏi vuốt tên thủ từ, chạy vùng ra cửa sổ, nâng cánh cửa lên và gọi chõ ra sân:

- Ngài trung uý, đây là một sự phản bội?

Tức thì mọi người trong phòng im bặt và nín thở.

Có tiếng đinh thúc ngựa loảng xoảng ở phòng ngoài, Aliosa Brovkin bước vào, chân đi đôi ủng to, lưng thắt đai trắng, kiếm đeo bên sườn, đôi má đỏ hồng trên khuôn mặt trẻ măng, chiếc mũ ba cạnh sụp xuống tận lông mày.

- Việc gì mà kêu la ầm ĩ thế?

- Thưa ngài trung uý, thủ từ Feodoxi và tổng trấn dùng những lời rác rưởi và giơ lõ chó phỉ báng thông lệnh của ông chủ tịch. Họ túm ngực tôi và doạ thiêu sống tôi.
Brovkin nghiêm nghị, tròn xoe mắt, cặp mắt trô trố y hệt vua Piotr, nhìn tên thầy tu, rồi nhìn tên tổng trấn.
- tên nầy tì hai tay xuống ghế để đứng dậy - Brovkin đập gậy xuống sàn ra lệnh cho một tên lính vừa nhảy vào:

- Bắt lấy chúng, cả hai đứa!

Chú thích:

(1) Giơ năm tay, ngón tay cái kẹp vào giữa ngón tay trỏ và ngón giữa, để thò đầu ngón tay cái ra.

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #248 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:14:41 pm »

Chương 116

Cư dân ở xloboda Kukui khi nói đến Anna Monx thường bảo: "Thực lạ lùng? Sao mà cô ta khôn ngoan thế" Phải như người khác thì đã lên mặt hợm từ lâu. Anna thật giống hệt mồ ma ông cụ thân sinh".
Vua Piotr, ở Hắc Hải về, tỏ ra rất rộng rãi.

"Mình ơi, - đã nhiều lần Ansen trách yêu vua Piotr, - mình làm em quen thói phung phí sắm những đồ nữ trang nhảm nhí. Mình cho phép em viết thư về Revan thì hơn. Em đã hỏi dò rồi, ở Revan có bán giống bò một ngày vắt được hai thùng sữa, giá phải chăng. Rồi thỉnh thoảng mình sẽ đến ăn sáng ở nếp trại xinh đẹp, ngăn nắp của em, và mình sẽ nếm sữa đánh kem".

Trại dựng trong một khu rừng bạch dương, trên khoảnh đất Sa hoàng tặng, kéo dài một vạt từ cổng sân sau theo con suối Kukui đến tận sông Yauza. Trại có: một nếp nhà nhỏ quét vôi nhìn xa trông như xây bằng gạch những cuồng bò mái ngói, vựa thóc và kho rơm.

Trên ngọn đồi bên bờ sông, đàn bò sữa lang trắng béo mập đang gặp cỏ, mỗi con mang tên một nữ thần
Hy Lạp; có cả những con cừu lông mịn, lợn giống Anh Cát Lợi và vô số gà vịt đủ các loại. Vườn trồng các giống rau ngoại quốc và khoai tây.

Sáng tinh sương, Ansen quàng chiếc khăn len angora(1), bận áo lông cừu thường, theo con đường nhỏ rải cát đi đến tận trại. Nàng trông coi việc vắt sữa, cho gà vịt ăn; nàng đếm trứng, tự tay hái rau cho bữa ăn sáng.

Nàng rất nghiêm khắc với người làm, nhất là trong việc quét dọn nhà cửa, chuồng trại cho sạch sẽ tinh tươm. Đã đến mùa muối dưa bắp cải. Chưa đâu trồng được những bắp cải như vậy, ngay cả ở vườn mục sư Xtrum. Người Đức đến xem, trầm trồ: những bắp cải và xu hào nầy có thể gửi vô nhà bảo tàng Hamburg được. Họ nói đùa: "Hẳn là cô Ansen biết phép cầu nên hoa quả mới tươi tốt thế kia trên mảnh đất mới đây còn bỏ hoang nầy".

Những cô gái người Nga vừa hát vừa thái bắp cải vào một chiếc chậu bằng gỗ bồ đề mới tinh. Ansen mướn những cô gái khỏe mạnh nhất và vui tính nhất ở làng của Melsikov hay làng của đô đốc Golovin. - dinh cơ và những toà lâu đài mới xây của Melsikov và Golovin sát ngay xloboda Đức - Dao thái phập phập; các cô gái má đỏ, thơm mùi cuống cải tươi. Bóng nhà kho dụng cụ in dài trên bãi cỏ còn phủ sương muối; những con ngỗng trắng như tuyết ra khỏi chuồng, bệ vệ đi ra cái hồ nhân tạo nhỏ. Trên nóc nhà trại mái nhọn, một dải khói bay lên bầu trời thu xanh biếc. Hai anh thợ làm bánh mì ăn mặc sạch sẽ khiêng một bồ đầy bánh mới ra lò, đi qua sân đã được quét tước sạch sẽ.

Anna vui sướng dẫm mạnh đôi chân rét cóng trên mặt đất; nàng ngắm nhìn cơ ngơi khang trang hạnh phúc nầy mà lòng vui sướng khôn cùng. Than ôi, về đến nhà thì cảm giác đó lại tiêu tan mất. Không được lấy một ngày yên thân. Nàng luôn luôn nơm nớp đón chờ những chuyện bất ngờ của Piotr Alekseevich. Khi thì khách khứa người Nga say mèm kéo đến: họ làm bẩn sàn, hút thuốc, đập cốc, dỗ điếu đổ tàn vào chậu hoa. Khi thì, dù muốn hay không, nàng cũng phải trang điểm đi dự hội để khiêu vũ đến mòn cả gót giầy.
Những buổi chiều thu ảm đạm trong dịp những ngày hội mùa đông, thỉnh thoảng đi dự tiệc và khiêu vũ là một điều thú vị. Nhưng đối với lớp công hầu quý tộc người Nga, thì ngày nào cũng là phè phỡn, nhảy nhót. Điều khiến Anna Ivanovna phiền muộn hơn cả là tính khí kỳ cục của chính vua Piotr: chẳng bao giờ nhà vua chịu báo cho nàng biết trước ngày đến ăn bữa trưa hay bữa tối, có bao nhiêu khách. Có khi, giữa đêm, nhà vua kéo cả một bầy phàm ăn tục uống đến. Thế là phải vớ được gì làm nấy, luộc rán biết bao đồ ăn, nhiều đến nỗi Ansen phải xót ruột; và thường khi lại phải đem đổ tất cả cho lợn.

Một hôm Ansen, đã nói khéo với vua Piotr: "Mình ơi nếu như mỗi lần đến với em mình cho em biết trước, thì đỡ được biết bao khoản chi tiêu vô ích". Nhà vua ngạc nhiên nhìn nàng, sầm mặt lại, lặng thinh không nói. Nhưng rồi đâu vẫn hoàn đấy.

Mặt trời mọc trên hàng bạch dương đã trút hết lá vàng. Các cô gái đi tới nhà bếp. Anna nhìn vào kho thực phẩm có treo những con ngỗng nhốt trong túi vải thô thò đầu ra ngoài, người ta nhồi hạt dẻ vỗ béo ngỗng mười lăm ngày trước khi làm thịt. Con ngỗng bị nhồi nhiều quá thành ra đờ đẫn. Anna tự tay nhồi cho mỗi con một quả hạt dẻ đế cả vỏ; nàng lấy ngón tay út ấn quả hạt dẻ vào họng con ngỗng. Nàng coi người làm rửa chân những con gà mái có lông ở chân(2), - sáng nào cũng phải rửa chân cho gà. Đến chuồng cừu, nàng ôm lấy những con cừu non, hôn vừng trán phủ lông xoăn của chúng. Rồi nàng miễn cưỡng trở về nhà. Linh tính của nàng báo không sai: một cỗ xe ngựa đỗ ở ngoài phố: người quản gia đợi Anna ở thềm xép. Hắn khẽ thưa với nàng:

- Có tôn ông Kornigxeg, sứ thần xứ Xăc.

- Tưởng là gì ghê gớm lắm… - Ansen khẽ cười; nàng nâng váy chạy lên một chiếc cầu thang hẹp để thay áo.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #249 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 03:15:30 pm »

Kornigxeg đang ngồi, một chân co vào dưới gầm ghế, tay trái cầm hộp thuốc lá, tay phải để không, cứ chỉ duyên dáng. Hắn xen những chữ Pháp vào tiếng Đức, chuyện nhát gừng đủ thứ: chuyện vui, chuyện phong cảnh, chuyện chính trị, chuyện chủ hắn là vua Auguste tuyển hầu xứ Xăc và vua nước Ba Lan. Bộ tóc giả sức mùi sạ hương dài gần quá vai; mũ và găng tay đặt trên thảm. Mỗi lần pha trò, hắn nhăn cái mũi hếch coi rất ngộ; hai con mắt biếc, táo tợn và vô tư lự, như vuốt ve Ansen. Nàng ngồi đối diện với hắn. - trước lò sưởi củi đang cháy hồng - người rất thẳng, bận áo chẽn lồng khung, khuỳnh đôi cánh tay, bàn tay đặt ngửa trên đầu gối. Nàng ngồi nghe, mắt nhìn xuống, nhếch mép cười một cách hóm hỉnh theo đúng cung cách của phép xã giao lịch sự.

Sứ thần kể:

- Ai cũng phải quý mến ngài. Ngài khôi ngô, hoà nhã, dũng cảm… Vua Auguste là một vị thiên thần, giáng thế. Trong mọị dục vọng và các cuộc truy hoan ngài không hề mệt mỏi. Chán thành phố Warsawa, ngài phóng đến Krakow. Giữa đường, ngài săn lợn lòi, yến tiệc linh đình ở lâu đài một vị chúa đất, hoặc giả, giữa đêm khuya, lần đến kho rơm yêu một cô thôn nữ hốt hoảng… Ngài lấy giấy tờ mang tên kỵ sĩ Winter, làm một khách giang hồ du hành qua châu Âu, đến thủ đô Paris. Trong các cuộc nổi loạn đả ban đêm ở các ngã tư thành phố Paris, với thanh kiếm nầy đây, tôi đã nhiều lần gạt những đường kiếm phóng vào ngực ngài. Chúng tôi phi ngựa tới lâu đài Vecxay dự dạ hội. Vua Auguste trá hình làm một sĩ quan lang thang. Ồ, Vecxay: Chà Fraulein(3) Monx, nương nương cần phải đến thăm nơi tiên cảnh ở hạ giới nầy mới được… Hàng triệu cây bạch lạp soi sáng những khung cửa sổ rộng thênh thang; dọc hàng hiên, đèn lồng thắp sáng trưng. Trên sân, những chàng kỵ sĩ cùng các tiểu thư và phu nhân dạo chơi bên những khóm cây, Đèn xếp treo trên cây như những trái quả ở động tiên. Bên kia hồ, pháo bông bay vọt lên trờt, tia lửa tóe xuống mặt nước: tiếng đàn địch trên những con thuyền vọng tới. Người ta nhìn thấy rõ vòi nước đang phun và bướm đêm đang bay. Qua cành lá, những pho tượng cấm thạch hiện lên như những vị thiên thần sống. Vua Louis rất ngoan đạo ngồi trên ghế tựa. Bộ tóc giả toả bóng che khuôn mặt phương phi của ngài, nhưng tôi cũng nhìn thấy nét mặt trông nghiêng kiêu kỳ, môi dưới trễ ra và đường ria thanh thanh mà cả thế giới đều biết. Một vị phu nhân bận vũ y trá hình màu đen, mũ bồ đài, chụp đến mắt, tựa khuỷu tay vào ghế nhà vua. Đó là De Maintenon phu nhân. Ngồi trên ghế bên phải nhà vua là cháu ngài, ông hoàng Philip xứ Engiu, tương lai sẽ lên ngôi vua nước Tây Ban Nha; ông hoàng trông có vẻ buồn bã.
Xung quanh, hàng ngàn khuôn mặt che mặt nạ một nửa, lâu đài, hoa viên tất cả đều như rực ánh vinh quang vàng son. Ngón tay Anna run run, đôi vú trong áo chẽn chật dâng lên:

- Chao ôi, tôi khó tin rằng đó không phải là một giấc mơ… Nhưng cái bà De Maintnon đứng sau ghế nhà vua đó là ai vậy?

- Vị phu nhân sủng ái của ngài… Các quan thượng thư và các vị sứ thần đều run sợ trước người đàn bà ấy.
Chủ tôi, vua Auguste, đi qua mặt bà De Maintnon nhiều lần, và đã được bà để ý.

- Ngài sứ thần, sao vua Louis không lấy bà De Maintnon làm vợ?

Câu hỏi làm Kornigxeg sửng sốt; trong khoảnh khắc bàn tay lanh lẹn của hắn rơi thõng xuống giữa hai đầu gối, tỏ sự bất lực. Đầu Anna càng cúi thấp xuống: một nét nhăn hiện trên mép.

- Ồ Fraulein Monx… Vai trò của một bà hoàng hậu có thể nào so sánh được với thế lực vô biên của một nữ sủng thần. Hoàng hậu chỉ là một nạn nhân bị sợi dây triều thống ràng buộc. Người ta quỳ gối trước hoàng hậu, nhưng vội chạy nhanh đến nhà nữ sủng thần, bởi vì cuộc đời là chính trị và chính trị là vàng bạc và danh vọng. Ban đêm nhà vua kéo rèm không phải của giường hoàng hậu mà là giường nữ sủng thần, giữa cuộc ái ân, trên nệm gối nóng bỏng

Má Anna ửng đỏ bộ tóc giả thơm nức của sứ thần nhích lại gần.

- Trên nệm gối nóng bỏng, những ý nghĩ thầm kín nhất đều được thổ lộ ra. Người đàn bà ôm ấp nhà vua lắng nghe tim ngài đập. Nàng đã thuộc về lịch sử.

- Ngài sứ thần, - Anna ngẩng cặp mắt xanh ướt, điều quý báu hơn cả là biết chắc được rằng hạnh phúc sẽ vững bền… Xiêm áo sang trọng, lược gương quý giá nầy mà làm gì, nếu tôi không nắm chắc được gì cả…
Tôi cam chịu một cuộc đời kém huy hoàng, miễn là chỉ có Chúa có quyền định đoạt chút hạnh phúc bé nhỏ của tôi… Tôi đang bơi trên một con thuyền lộng lẫy nhưng mong manh

Nàng từ từ rút trong áo ra một chiếc khăn ren nhỏ, rũ nhẹ và đưa lên mặt. Cặp môi nàng run run dưới chiếc khăn, như miệng trẻ thơ.

- Nương nương cần có một người bạn chung thuỷ, cô nàng xinh đẹp của tôi ạ, Kornigxeg âu yếm xiết chặt khuỷu tay nàng. - Nương nương không có ai để thổ lộ tâm tư thầm kín,… Xin nương nương hãy thổ lộ cùng tôi! - Tôi sung sướng được dâng tấm lòng tôi cho nương nương… Tôi xin đem tất cả sự từng trải của tôi ra giúp đỡ. Cả châu Âu đang chiêm ngưỡng nương nương… Trong bức thư nào Đức vua của tôi cũng đều hỏi đến "nàng tiên ở suối Kukui".

- Ông muốn giúp đỡ theo nghĩa nào, tôi thực không hiểu - Ansen bỏ chiếc khăn tay xuống, và né xa sự gần gũi nguy hiểm của ngài sứ thần. Thốt nhiên nàng lo hắn sẽ quỳ xuống chân nàng… Nàng vội đứng phắt dậy, giầm phải gấu áo, loạng choạng suýt ngã.

- Tôi không biết thậm chí có nên ngồi nghe ông nói không

Rất đỗi hoang mang, nàng chạy đến bên cửa sổ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM