Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:33:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Pi-e Đệ nhất  (Đọc 159055 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #330 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:35:11 pm »

Chương 131

Viên sĩ quan thường trực trên thềm lâu đài Preobrazenskoe trả lời tất cả mọi người:

- Có lệnh không cho một ai vào. Mời ngài về cho!

Trong sân tụ tập vô số xe trượt tuyết có mui kín và xe ngựa. Gió tháng chạp đem mưa đá nhỏ đến lấp đầy các rãnh bánh xe đen ngòm. Cây cối bị giá phủ xào xạc chong chóng xem chiều gió cót két trên các mái hư nát của lâu đài. Các vị thượng thư và các quan đại thần ngồi trong xe trượt tuyết có mui và xe ngựa chờ đợi suốt ngày ròng rã, từ sáng. Melsikov đi xe thếp vàng đóng sáu ngựa đến, muốn vào; nhưng cả hắn cũng bị bắt quay lại

Buổi tối, quá mười giờ, Romodanovski tới. Viên sĩ quan thường trực run bắn cả người khi thấy vị vương hầu chấp chính mặc chiếc áo cầu lông gấu, lắc lư leo các bậc gạch đã mòn. Để ông ta vào là trái lệnh Sa hoàng; không để ông ta vào thì vị vương hầu chẳng cần thỉnh thị Sa hoàng, sẽ lấy quyền lực của mình sai người quất cho hắn một trận đến tan nát thịt da.

Romodanovski đi vào lâu đài; tới mỗi cửa, lính gác nghe thấy bước đi nặng nề của lão đều lẩn tránh. Trước khi tới phòng ngủ của Sa hoàng, lão phải ngồi lại ba lần để thở. Lão lấy móng tay gãi cửa rồi bước vào và cúi chào nhà vua theo kiểu cổ.

- Ngươi đến có việc gì thế, ông chú của ta? - Vua Piotr, khói thuốc lá mù mịt kín người, đi đi lại lại trong phòng, mồm ngậm tẩu; nhà vua quay lại, tỏ vẻ không bằng lòng và không chào lại. - Ta đã nói là không để ai vào kia mà?

- Tâu bệ hạ, họ đã làm đúng như thế: không ai dám vào cả. Nhưng thần đây, ngay thái thượng hoàng
cũng để thần vào mà không cần phải báo trước.

Vua Piotr nhún vai và lại tiếp tục đi lại, miệng nhấm nhấm cán tẩu.

- Bệ hạ nghĩ gì suốt cả ngày ròng rã như vậy? Thái thượng hoàng và hoảng hậu đã căn dặn bệ hạ nghe lời khuyên bảo của thần. Ta cùng nhau suy nghĩ chứ, bệ hạ? Có lẽ ta sẽ tìm được giải pháp nào chăng?

- Thôi đừng nói suông nữa… Tự nhà ngươi cũng biết rõ… là ta đang nghĩ gì?

Fedor Yurievich không trả lời ngay; lão ngồi xuống phanh rộng chiếc áo cầu - trong cái không khí ngột ngạt nầy, lão thấy khó thở - rồi lấy chiếc mùi soa màu thấm mồ hôi trên mặt:

- Có lẽ thần đến đây không phải là để nói suông.

- Biết đâu đấy, biết đâu đấy?

Bỗng nhiên, vua Piotr như thể không nghe thấy chính tiếng nói của mình, hét to đến nỗi tên lính gác đứng trong phòng Ngai vàng tối om kề đó, đánh rơi khẩu súng vì hoảng sợ.

- Bọn giàu sụ ở Hội đồng xã trưởng lý luận như sau: trước thành Narva, ta đã tỏ ra là không thể đánh nhau với quân Thuỵ Điển được… Cần phải ký hoà ước. Chúng không dám nhìn thẳng vào ta nữa… Ta đã nói với chúng như thế nầy… - Nhà vua túm lấy áo nẹp của Fedor Yurievich lắc mạnh - Chúng khóc thút thít:
"Muôn tâu đại đế hãy chặt đầu chúng thần đi, nhưng chúng thần không có tiền, chúng thần đã bị phá sản…". Ta nghĩ đến cái gì à? Ta cần tiền! Suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ qua, ta tự hỏi không biết lấy đâu ra tiền. - Nhà vua buông Fedor Yurievich ra - Thế nào? Ông chú?
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #331 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:35:59 pm »

- Thần đang nghe đây. Tâu bệ hạ, thần sẽ xin nói sau.

Vua Piotr chớp chớp mắt: "Hừ!" Nhà vua đi đi lại lại một lát, liếc nhìn vương hầu, dịu giọng nói:

- Ta cần đồng… Có nhiều chuông thừa - chẳng cần gì đến một tiếng kêu rỗng tuếch - ta sẽ tháo chuông xuống, đem đúc… Từ Ural, Demidov viết thư cho ta: đến mùa xuân sẽ có năm mươi nghìn pud gang thỏi

- Nhưng tiền? Lại moi tiền của dân các đại xã, của nông dân chăng? Liệu có được nhiều không? Ngay bây giờ họ đã thở không được rồi, vả chăng một năm nữa cũng chưa chắc đã thu thuế xong… Thế mà có vàng, có bạc, có cả đấy nhưng bị cất giấu, vô dụng…

Piotr Alekseevich chưa nói hết lời, cặp mắt của Fedor Yurievich đã trợn tròn xoe.

- Ta biết là nhà ngươi sẽ trả lời ta như thế nào rồi ông chú của ta ạ. Chính vì thế mà ta đã không cho
người đi tìm nhà ngươi… Nhưng chỗ tiền đó nhất định ta sẽ lấy.

- Tâu bệ hạ, vào lúc nầy, không thể chạm đến kho tàng của các tu viện được!

- Tại sao? - vua Piotr thét lên như tiếng gà trống.

- Không phải lúc… Bây giờ… nguy hiểm đấy… Thần không nói với bệ hạ về những người bị dẫn đến chỗ thần hàng ngày, hoặc gần như thế… - Các ngón tay múp míp của Fedor Yurievich, đặt trên đầu gối, động đậy, có vẻ lo ngại - Bọn thương gia Moskva là đày tớ trung thành của bệ hạ, trong lúc nầy… Narva đã làm chúng sợ… Mà kể ra ai mà chẳng sợ… Chúng lải nhải một thời gian rồi chúng sẽ thôi… Chiến tranh có lợi cho chúng. Chúng sẽ bỏ tiền ra, nhưng xin bệ hạ dừng bực bội… Còn nếu như ngay bây giờ, bệ hạ đụng đến các tu viện, thành luỹ của chúng… Những tên dở người sẽ la lên khắp nơi những điều mà Griska Talitski(1) đứng trên mái nhà đã gào lên hôm vừa qua ở chợ. Bệ hạ biết chứ? Bệ hạ thấy đấy… kho tàng của các tu viện ta phải lấy dần dần, lặng lẽ.

- Nhà ngươi định mưu mẹo với ta đấy?

- Thần đã già, thần mưu mẹo làm gì?

- Ta phải có tiền ngay tức khắc. Nếu cần ta sẽ cướp!

- Bệ hạ cần nhiều không?

Fedor Yurievich đặt câu hỏi đó, miệng thoáng mỉm cười kín đáo. Nhà vua lại "hừ" một tiếng rồi lồng lộn đi lại trong phòng ngủ, châm tẩu vào cây nến, thở ra một hơi khói, một hơi nữa, và dằn giọng kiên quyết nói:

- Hai triệu!

- Có thể kém một ít chăng

Vua Piotr bỗng ngồi thụp xuống trước Fedor Yurievich, lắc mạnh đầu gối lão.

- Đừng làm ta nóng lòng sốt ruột nữa… Ta hãy thoả thuận với nhau: trong lúc nầy, ta sẽ không đụng đến kho tàng của các tu viện… Được chứ? Nhà ngươi có tiền không? Nhiều không?

- Để mai xem sao?

- Không, ngay bây giờ… Nào đi!

Fedor Yurievich cầm lấy mũ, nặng nề đứng dậy:

- Thôi được… Bệ hạ đã cần quá như vậy… - Vương hầu đi ra cửa, dáng đi như một con gấu - Nhưng đừng cho ai đi theo bệ hạ. Chỉ hai chúng ta đi thôi.

Trên tháp Xpaskaia, đồng hồ điểm một giờ, chiếc xe trượt tuyết có mui của vương hầu chấp chính chạy vào điện Kreml, rẽ vào các ngõ chật hẹp và tối om, giữa những ngôi nhà cũ kỹ của các bộ và dừng lại trước một toà nhà thấp bè bè, bằng gạch. Một ngọn đèn đặt ở bậc thềm. Một người mặc áo lông cừu ngả mình vào cổng sắt đang ngáy khò khò. Vương hầu từ trên xe trượt tuyết bước xuống sau Piotr Alekseevich, nhấc ngọn đèn lên, cây nến mỡ bò chảy nước, khói um và lấy chân đá chiếc giầy gai thò ra ngoài cái áo khoác lông cừu.

Người kia còn ngái ngủ nói: "Anh muốn gì, anh muốn gì?". Hắn ngồi lên, bẻ cổ áo bằng lông cừu xuống, nhận ra các vị khách vội choàng đứng dậy.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #332 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:36:50 pm »

Vương hầu chấp chính gạt hắn ra, lấy chìa khoá của mình mở cửa để vua Piotr đi qua, rồi bước vào theo và khoá cửa lại. Giơ cao ngọn đèn, lão lặc lè đi qua căn phòng ngoài lạnh toát, qua một phòng khác ấm áp, rồi một phòng thấp trần hình vòm, tường đã tróc vôi vữa, của Bộ Cơ mật do Sa hoàng Aleksey Mikhailovich lập ra. Mùi bụi bậm, mùi mốc khô, mùi chuột xông lên. Hai khung cửa sổ nhỏ có chấn song phủ đầy mạng nhện.

Một cánh cửa hé mở, đầu một lão già sợ sệt ló ra; đó là người gác bên trong, một người tin cẩn.

- Ai đấy? Ông là ai?

- Mitrits, đưa ta một cây nến, - vương hầu chấp chính nói.

Những tủ thấp bằng gỗ sồi, đóng bằng khoá sắt rèn, sắp thành hàng sát bức tường bên trong cùng. Không những cấm không ai được sờ mó vào các tủ ấy, mà còn cấm cả tò mò dò hỏi bên trong đựng những hồ sơ gì, trái lệnh sẽ bị xử tử.

Người gác đem đến một cây nến cắm trên một cái giá bằng sắt. Vương hầu chỉ vào chiếc tủ giữa:

- Kéo chiếc tủ nầy ra… - Người gác lắc đầu - Ta ra lệnh cho ngươi… Ta chịu trách nhiệm

Người gác đặt cây nến xuống đất. Hắn tì cái vai hom hem vào tủ rồi đẩy: chiếc tủ không nhúc nhích.
Vua Piotr vội vàng cởi bỏ áo cầu ngắn, bỏ mũ, và ghé người vào chiếc tủ, lấy hết sức đẩy mạnh - cổ nhà vua đỏ ửng lên - và đẩy lùi chiếc tủ. Một con chuột nhắt từ dưới gầm tủ vọt ra. Bức tường có đục một cánh cửa nhỏ bằng sắt, phủ kín mạng nhện bám đầy bụi bậm.

Fedor Yurievich vừa thở vừa rút trong túi ra một chiếc chìa khoá nặng hai livrơ(1) và nói: "Mitrits, soi cho ta, ta chẳng trông thấy gì hết". Lão vụng về đút chìa khoá vào lỗ. Đã ba mươi năm nay không mở, ổ khoá hoen gỉ, không vặn được. "Phải dùng đòn bẩy mới mở được; Mitrits, đi tìm cho ta một cái đòn bẩy".

Vua Piotr cầm cây nến soi, xem xét cánh cửa:

- Có cái gì trong đó?

- Bệ hạ sẽ thấy… Theo các bản kê khai của lâu đài, những hồ sơ mật được cất trong đó. Trong chiến dịch của vương hầu Golixyn ở Krym, bà chị Sofia của bệ hạ một đêm có đến đây. Thần cùng đi với lệnh bà…
Nhưng thần không mở được cửa, cũng như bây giờ… - Lão khẽ cười gằn dưới bộ ria kiểu Tarta - Lệnh bà Sofia đứng đó một lúc rồi ra về.

Người gác đem đến một cái đòn bẩy và một cái rìu. Vua Piotr phá khoá - nhưng đánh gãy cán rìu và bị xước một ngón tay. Nhà vua lấy chiếc đòn bẩy nặng nện mạnh vào cánh cửa. Những tiếng nện vang lên choang choang trong căn nhà vắng lặng. Fedor Yurievich lo ngại, nhìn qua cửa sổ. Cuối cùng, vua Piotr đút được đòn bẩy vào khe. Nhà vua ấn mạnh đòn bẩy, làm bật ổ khoá - cánh cửa sắt hé ra, rít ken két. Sốt ruột, nhà vua nắm lấy cây nến và tiến lên trước, bước vào căn phòng xép, trần vòm, không có cửa sổ.
Mạng nhện, bụi bậm. Trên các giá chạy quanh các tường, xếp những bình có quai chạm trổ từ thời Ivan Hung đế và Boris Godunov; những bình rượu lớn chân cao của Ý; những chậu bạc nhỏ để Sa hoàng rửa tay trong những buổi chiêu đãi lớn; hai con sư tử bạc bờm bằng vàng và răng bằng ngà; hàng chồng đĩa vàng, những giá nến nhà thờ bằng bạc đã gãy, một con công lớn bằng vàng khối, mắt ngọc bích, đó là một trong hai con công đặt bên ngai các hoàng đế Bizăngxơ thời cổ; bộ máy của nó đã hỏng. Trên các giá bên dưới có để những túi da: qua những đường khâu đã bục của nhiều túi, lòi ra những đồng florin Hà Lan. Dưới những ghế dài, xếp hàng đống lông hắc điêu thử, nhung, lụa, tất cả đều bị mối nhấm, mục nát.
Vua Piotr cầm lấy những đồ vật đó, nhấm nước bọt vào ngón tay xoa xoa: "Vàng đây? Bạc đây?" Nhà vua đếm các túi tiền vàng, có bốn mươi lăm túi, có thể nhiều hơn… Nhà vua cầm lấy những bộ lông hắc điêu thử, những bộ đuôi cáo, rũ mạnh.

- Nầy ông chú, nhưng những cái nầy mục nát cả rồi!

- Mục đấy nhưng không phải là bỏ đi

- Tại sao trước đây nhà ngươi không nói với ta?

- Thần đã có lời hứa… Đức Thái thượng hoàng Aleksey Mikhailovich mỗi lần đi chiến dịch đều giao cho thần giữ những kho dự trữ tiền bạc và châu báu của Người. Đến cuối đời Người, Người có gọi thần đến và dặn dò là không được đem cho một người kế vị nào của Người, trừ trường hợp Nhà nước tối cần thiết, trong thời chiến.

Vua Piotr vỗ mạnh vào đùi:

- A, quả thực nhà ngươi đã giúp ta thoát khỏi cơn bí… Như thế là đủ rồi… Bọn tu sĩ sẽ cảm ơn nhà ngươi! Hãy nhìn con công nầy? Đủ để mua giầy, quân phục, vũ khí cho các trung đoàn và nện cho vua Charles một trận nên thân… Nhưng còn các chuông, ông chú ạ, dù thế nào đi nữa ta cũng sẽ cứ lấy, không nên vì thế mà giận ta.
 
Chú thích:

(1) "Nhà chép sử" razkonic, tác giả các "cuốn vở" trong đó Piotr đệ nhất bị gọi là "Quỷ vương". Bị xử tử năm 1700. (Chú thích của tác giả).

(2) Một livrơ bằng 0,453kg.

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #333 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:37:45 pm »

Chương 132

Ở châu Âu, người ta chế diễu nhưng rồi cũng nhanh chóng quên vị Sa hoàng của bọn dã man suýt nữa đã làm cho các dân tộc vùng Baltic phải hoảng sợ - tựa những bóng ma, bầy khố rách áo ôm của ông ta đã tan tác. Sau trận Narva, vua Charles, người đã dồn chúng về xứ Moskovi man rợ của chúng, nơi chúng sẽ phải sống vất vơ vất vưởng mãi mãi trong cảnh tối tăm ngu dốt từ ngàn xưa - vì qua lời tường thuật của các nhà thám hiểm nổi tiếng, ai cũng biết bản chất hèn hạ và bất lương của người Nga, - chỉ trong một thời gian ngắn, vua Charles đã trở thành người anh hùng lừng danh các thủ đô châu Âu. Ở Amsterdam toà Thị sảnh và Sở giao dịch chứng khoán kéo cờ mừng chiến thắng Narva; ở Paris, tại các hiệu sách, người ta trưng bày trong tủ kính hai kỷ niệm chương bằng đồng - một cái mang hình thần Vinh quang đang đội mũ miện cho vua Thuỵ Điển trẻ tuổi: "Chính nghĩa đã chiến thắng!", còn chiếc kia ghi cảnh Sa hoàng Piotr đang chạy trốn, rơi cả chiếc mũ Kamys: tại Viên, Inhatiux Garien, cựu sứ thần Áo ở Moskva, cho xuất bản những ghi chép, hoặc nhật ký riêng, của viên thư ký của ông ta là Johan George Kooe, tả lại một cách hào hứng những phong tục tức cười và man, rợ của xứ Moskovi, cùng là cuộc hành hình bọn xtreletz đẫm máu năm 1698. Tại triều đình Viên, người ta công nhiên bàn tán về tin thất bại mới của quân Nga trước thành Pskov, vua Piotr phải chạy trốn chỉ có vài người theo sau, về cuộc nổi loạn ở Moskva, về tin công chúa Sofia được giải thoát, đã từ tu viện ra nắm lại chính quyền.

Nhưng tất cả những sự kiện nhỏ nhặt đó liền bị lu mờ ngay trước cơn bão táp chiến tranh rút cuộc đã bùng nổ. Vua Tây Ban Nha băng hà, - Pháp và Áo mưu đồ tranh nhau kế vị. Anh và Hà Lan nhúng tay vào.
Các vị tướng soái lừng danh: Jhon, Churchill, quận công Malbro, vương hầu Ogien xứ Xavoa, quận công Vangdom bắt đầu tàn phá các nước và đốt các thành phố. Tại Ý, tại Bavie, tại xứ Flandre xinh đẹp, trên tất cả các nẻo đường, bọn cầu bơ cầu bất có vũ khí đi lang thang khủng bố dân lành, cướp bóc thực phẩm và rượu. Những cuộc nổi loạn nổ ra ở Hungary và ở miền Xeven. Vận mệnh các cường quốc đến lúc quyết định: nước nào, hạm đội nào sẽ làm bá chủ các đại dương? Do đó họ đành bỏ mặc các công việc của phương Đông.

Sau Narva, vua Charles say sưa với chiến thắng, muốn đuổi theo vua Piotr đến tận cùng xứ Moskovi. Nhưng các tướng lĩnh van nài nhà vua chớ có cầu may đến hai lần.

Quân đội mệt mỏi và bị tiêu hao được đưa về doanh trại mùa đông tại Laixa, gần Dorpat. Từ đó, nhà vua viết cho Thượng nghị viện một lá thư ngạo mạn, đòi viện binh và tiền. Ở Stockholm, những người trước đây không tán thành chiến tranh bây giờ đều im lặng. Thượng nghị viện ký pháp lệnh ban hành những thuế mới và đến mùa xuân, gửi tới Laixa hai mươi nghìn bộ kinh và kỵ binh. Một cuốn sách bằng tiếng La tinh được xuất bản - nguyên nhân cuộc chiến tranh của Thuỵ Điển chống Sa hoàng xứ Moskvi. Tại các triều đình châu Âu, mọi người khoái trá đọc cuốn sách đó.

Hiện giờ vua Charles có một đạo quân vào loại mạnh nhất châu Âu. Chỉ có quyết định xem nên đánh về hưởng nào: về phía Đông - xứ Moskovi hoang vu, thành phố thưa thớt, cùng khổ, hứa hẹn những chiến lợi phẩm nghèo nàn và ít vinh quang - hay về phía Tây Nam, chống tên vua Auguste tráo trở, đánh vào tận nội địa nước Ba Lan, vào xứ Xăc, ngay trung tâm châu Âu?

Tiếng súng đại bác của các vị tướng soái lừng danh đã nổi vang ở đó. Vua Charles ngây ngất nghĩ đến vinh quang của một Cséza thứ hai. Binh lính dội cận vệ của vua Thuỵ Điển, vốn dòng dõi trộm cướp, đã mơ tưởng đến lụa là lộng lẫy xứ Florence, vàng bạc trong các hầm ở Excurian(1) những cô thiếu nữ xứ Flandre tóc vàng óng các quán rượu ở các ngã tư đường miền Bavie.

Đến mùa hạ, khi đường xá đã đi lại được dễ dàng, vua Charles cử một đạo quân mạnh tám nghìn người do Slipenbac chỉ huy và ra lệnh tiến về biên giới Nga.

Đích thân nhà vua cầm đầu toàn đội binh mã, hành quân gấp, vượt qua xứ Livoni; cách Riga hai dặm về mé thượng lưu gặp địch, nhà vua vượt qua sông Dvina bằng thuyền và đánh tan đội quân xứ Xăc của vua Auguste. Trong trận nầy, xảy ra ngày mồng tám tháng bảy, Johan Patkun bị thương: y chỉ vừa kịp lên ngựa chạy trốn, thoát khỏi tay quân giáp kỵ của vua Thuỵ Điển đuổi theo; lần nầy y thoát được cảnh bị cầm tù và nhục hình.

Trước thành Riga, không phải là đám lính Nga rách rưới mà là đội quân oai hùng của xứ Xăc nổi tiếng khắp châu Âu đã, bị đánh bại. Đôi cánh của Vinh quang như dng rộng trên lưng vua Charles. "Vua Charles chẳng còn nghĩ đến gì khác ngoài chiến trận… - Tướng Xtenboc đã nói về vua Thuỵ Điển như vậy trong những bức thư gửi về Stockholm - Nhà vua không còn nghe những lời khuyên can khôn ngoan nữa… Nhà vua nói năng cứ như là chính Chúa trời trực tiếp truyền đạt cho mình mọi dự định. Nhà vua hết sức tự phụ và vô lý… Tôi cho rằng dù chỉ còn một nghìn người, nhà vua vẫn cứ cùng với họ lao vào cả một đạo quân. Nhà vua chẳng hề bận tâm về chuyện quân lính ăn uống ra sao, khi một người trong chúng ta chết, nhà vua cũng chẳng hề mủi lòng nữa…"
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #334 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:38:35 pm »

Từ Riga, vua Charles đuổi theo Auguste. Ở Ba Lan, một cuộc nội chiến đẫm máu bùng nổ giữa bọn quý tộc: một phe theo Auguste chống lại người Thuỵ Điển phe kia la lớn rằng chỉ có người Thuỵ Điển mới thiết lập được trật tự và giúp người Ba Lan lấy lại vùng hữu ngạn xứ Ukrain cùng với Kiev, và nước Ba Lan cần có vua mới.

Vua Auguste chạy trốn khỏi Warsawa. Không phải giao chiến, vua Charles tiến vào thủ đô. Tại Krakow, vua Auguste vội vã tập hợp một đạo quân mới.

Một cuộc săn đuổi kỳ lạ bắt đầu - một ông vua rượt theo một ông vua khác. Tại các triều đình châu Âu - một lần nữa người ta lại ca ngợi vị anh hùng trẻ tuổi tên vua Thuỵ Điển được nêu lên bên cạnh tên vương hầu Ogien và quận công Maolbro. Người ta nói rằng vua Charles không để một người đàn bà nào tới gần, thậm chí để nguyên cả ủng mà ngủ; trước cuộc chiến đấu, nhà vua ra mắt bá quan, - cưỡi ngựa, đầu không mũ, mặc chiếc áo chẽn màu xám xanh muôn thuở cúc cài đến tận cổ, và miệng cầu Chúa, xông trước tiên vào kẻ thù, cuốn theo cả đoàn quân. Nhà vua đã giao nhiệm vụ cho tướng Slippenbac đánh bại Sa hoàng Piotr ở miền Đông chán ngắt.

Suốt mùa đông, vua Piotr khi thì ở Moskva, khi thì ở Novgorod hoặc Voronez, nơi đây đang ráo riết tiếp tục đóng tàu cho hạm đội Hắc Hải. Người ta đã nấu các quả chuông, chở đến Moskva chín mươi ngàn pud đồng. Viniux, viên lục sự già của viện Duma vốn thông thạo về khoa luyện, được chỉ định làm quản đốc xưởng đúc súng đại bác mới. Viniux đã tổ chức, cạnh xưởng đúc ở Moskva, một trường gồm hai trăm năm mươi học sinh: con các nhà quý tộc, dân các đại xã và thanh niên dòng dõi thấp hèn nhưng thông minh, học nghề đúc, học toán, học cách xây dựng đồn luỹ và sử học. Thiếu đồng đỏ để pha vào đồng chuông. Vua Piotr cử Viniux đi Siberi tìm quặng. Ở Liege, Andrey Artamonovich Matveev, con vị đại thần Matveev đã bị giết chết trên Thềm Đỏ, mua mười lăm ngàn khẩu súng trường kiểu mới, súng đại bác bắn nhanh, ống nhòm và lông đà điểu cho mũ sĩ quan. Năm nhà máy sản xuất da và vải hoạt động ở Moskva; người ta mộ thợ cả ở khắp châu Âu với giá cao. Binh lính tập tành từ sáng đến tối. Việc khó khăn nhất là đào tạo sĩ quan.

Họ phải huấn luyện binh lính và đồng thời tự huấn luyện cho mình; hễ được thăng cấp một cái là quyền hành làm họ say sưa choáng váng; hoặc họ ăn chơi phè phỡn hoặc sinh ra rượu chè be bét.

Hai tuần sau trận thất bại ở Narva, vua Piotr viết thư cho Boris Petrovich Seremetiev, đang tập hợp tàn quân của các trung đoàn kỵ binh ở Novgorod, người thì mất ngựa, kẻ mất gươm, kẻ thì chẳng còn mảy may gì hết:

"Để mất hết trong cảnh bất hạnh thì thật là vô lý. Vì vậy ta ra lệnh cho nhà ngươi tiếp tục nhiệm vụ ta đã giao phó, tức là chỉ huy kỵ binh. Trong tương lai, nhà ngươi sẽ giữ các miền kế cận, sẽ tiến lên đánh cho quân địch thiệt hại nhiều hơn. Nhà ngươi không có lý do gì để từ chối: nhà ngươi có đủ quân lính; sông ngòi và đầm lầy đã đóng băng… Ta nhắc nhà ngươi một điều nữa; đừng có tìm cách lẩn tránh với bất cứ lý do gì ngay cả lý do bệnh tật… Nhiều kẻ bỏ trốn đã mắc bệnh đó. Tên thiếu tá Lobanov đã bị treo cổ vì lý do ấy đấy Nhưng vì đạo kỵ binh quý tộc chế ngoại không được chắc chắn, người ta mộ quân tình nguyện ở mọi tầng lớp - nông dân và nông nô: họ sung vào quân đội với lương mười một rúp một năm kể cả ăn. Mười trung đoàn long kỵ binh được thành lập. Người xin đăng vào kỵ binh để trốn tránh cuộc đời nông nô, đông quá đến nỗi phải lựa chọn những người cao lớn khỏe mạnh nhất.

Các trung đoàn long kỵ binh vừa được huấn luyện xong được đưa ngay đến Novgorod: ở đó tướng Anikita Repnin tập hợp và huấn luyện các sư đoàn đã tham trận Narva.

Trước ngày năm mới, người ta đã hoàn thành việc củng cố Novgorod, Pskov và tu viện Peseski. Ở phía Bắc, Khomogory và Arkhagensk cũng được xây thành đắp luỹ. Cách thành phố Arkhagensk mười lăm dặm, tại cửa sông Berezovski, một thành trì bằng đá được xây dựng cấp tốc, thành Novo-Dvinka. Đến mùa hạ, nhiều tàu buôn từ Anh và Hà Lan cặp bến Arkhagensk để dự hội chợ tháng sáu. Năm ấy, Ngân khố đã giữ độc quyền: những hàng hoá mới về ngoại thương: hải sản, keo cá, hắc ín, bồ tạt, sáp ong. Thương nhân của Sa hoàng vơ vét cho Ngân khố, các nhà buôn tư nhân chỉ con buôn bán các đồ da và ngà chạm. Ngày 20 tháng sáu, hạm đội Thuỵ Điển đột nhập vào cửa sông Dvina miền Bắc. Trước thành trì mới xây dựng, hạm đội đó không dám vượt qua để tiến về phía Arkhagensk, chỉ nã hết súng trên tàu vào các pháo đài của Novo-Dvinka.

Trong trận đánh ấy, một trong bốn chiếc thuyền Thuỵ Điển mắc cạn trên bãi cát trước thành; rồi đến lượt một chiếc thuyền buồm. Quân Nga nhảy xuống xuồng và sau một cuộc chiến đấu, đã chiếm được chiến thuyền và thuyền buồm các tàu khác liền quay đầu chạy và nhục nhã tiến ra Bạch Hải.

Suốt mùa hạ; luôn luôn có các cuộc giao chiến giữa các đơn vị tiên phong của Seremetiev và của Slipenbac.

Quân trinh sát Thuỵ Điển tiến đến tận tu viện Peseski nhưng chỉ đốt phá được các làng mạc xung quanh, không chiếm được thành. Slipenbac lo lắng, đòi thêm tám ngàn quân nữa và viết thư cho vua Charles: "Quân Nga ngày càng táo bạo hơn; thật không ngờ, chúng có vẻ đã phục hồi nhanh chóng sau thất bại tại Narva, thậm chí lại còn có nhiều tiến bộ trong nghệ thuật quân sự và về vũ khí là đằng khác; hiện nay khó mà đánh thắng được quân Nga với hai lữ đoàn…". Trong khi đó, vua Charles đã chiếm được Krakow, dồn vua Auguste về xứ Xăc cứ làm ngơ trước tiếng nói của lẽ phải.
Tình hình cứ như thế cho tới tháng chạp năm 1701.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #335 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:39:22 pm »

Giữa mùa đông, qua lời khai của một tù binh, Boris Petrovich Seremetiev được biết là tướng Slipenbac đang đóng doanh trại mùa đông tại ấp Erexfe, gần Dorpat.

Ông liền nảy ra một kế hoạch táo bạo mà ngay bản thân ông cũng phải kinh sợ: bất ngờ đột nhập vào sâu trong đất địch để đánh úp kẻ thù đang nghỉ ngơi. Cơ hội hiếm có. Xưa kia, chắc có lẽ Boris Petrovich chẳng ưa mạo hiểm như vậy: nhưng năm đó, Piotr Alekseevich trở nên khó tính hơn bao giờ hết: nhà vua chẳng để cho ai yên ổn nghỉ ngơi, quở mắng về chuyện làm sai việc nầy việc nọ ít hơn là quở mắng việc bỏ lỡ một cơ hội tốt.

Cho nên Seremetiev buộc phải liều một phen may rủi. Boris Petrovich cho mười ngàn quân mặc áo cầu lông, đi ủng dạ - số quân mới mộ nầy vừa mới được tổ chức - và bổ sung cho họ mười lăm khẩu pháo nhẹ đặt trên xe trượt tuyết; ông tiến nhanh nhưng hết sức thận trọng, phái những trung đoàn kỵ binh nhẹ người Cherkassy, Kalmys và Tarta đi tiên phong; sau ba ngày, ông tới Erexfe. Khi quân Thuỵ Điển nhìn thấy trên bờ cao đầy tuyết của dòng sông nhỏ Aa, những mũ chụp có tai của đoàn kỵ binh cầm cung và giáo đầu có buộc túm lông đuôi ngựa thì đã quá muộn. Trung tá Lieven chạy ra sông với hai đại đội và một khẩu pháo. Bờ bên kia, những con người man rợ, mắt xếch người, giương cung lên, bắn ra một trận mưa tên; một tiếng hú như tiếng chó sói vang lên, mỗi lúc một to hơn; từ bên phải và từ bên trái, quân Tarta mặc áo kẻ sọc, cầm gươm cong và quân Cherkassy mặc áo nẹp xanh, tay cầm giáo và dây thòng lọng, lao xuống dốc lởm chởm những đống tuyết dày, vượt qua dòng sông đóng băng trong bốc lên mù mịt, quân Kalmys thét lên những tiếng kêu chói tai, tấn công chính diện. Ba trăm quân mang súng trường người Estonia của Lieven và ngay cả viên trung tá đều bị chém chết, bị cắt cổ và lột hết quần áo.

Toàn thể doanh trại Thuỵ Điển chuyển động. Một đơn vị mới, có sáu khẩu pháo yểm hộ, đẩy lui đám kỵ binh trinh sát sang bên kia sông. Slipenbac phi nước đại khắp trại, có lính kèn chạy theo sau; quân Thuỵ Điển mặc vội quần áo, vớ được gì mặc nấy, từ các ngôi nhà gỗ và các hầm trú ẩn nhảy ra, chạy về đơn vị trên lớp tuyết dày. Toàn quân sắp hàng trước ấp và đón quân Nga đang tiến lại bằng một loạt đạn đại bác. Boris Petrovich, chỉ mặc áo nẹp dạ thường, băng tam tài quàng chéo vai, phi ngựa giữa đội quân bày trận theo hình vuông.

Hoả lực của quán Thuỵ Điển reo rắc sự rối loạn trong các đơn vị long kỵ binh tiến lên trước, các đơn vị nầy chưa hề biết mùi lửa đạn. Quân Thuỵ Điển tiến công. Nhưng mười lăm khẩu khinh pháo trên xe trượt tuyết xông lên và khạc ra một trận mưa đạn ghém dày đặc và nhanh đến nỗi quân Thuỵ Điển kinh ngạc, ngần ngừ dừng lại. Các trung đoàn long kỵ binh của Krovotop, Zybin và Gulitxa đã trấn tĩnh lại, từ hai bên cánh xông vào.

- Anh em! - Seremetiev đứng ở giữa ô vuông thét lên, giọng khản đặc, - Anh em! Giã mạnh vào quân Thuỵ Điển!

Quân Nga xông lên, lưỡi lê trên cắm đầu súng. Ánh lửa đạn chiếu sáng buổi hoàng hôn đang đổ xuống nhanh. Slipenbac ra lệnh lùi lại, nấp vào sau những ngôi nhà của ấp. Nhưng tiếng kèn não nuột vừa vang lên báo hiệu rút lui thì từ tứ phía, quân long kỵ binh, Tarta, Kalmys, Cherkassy càng thêm phần hung dữ ập tới những ô vuông của quân Thuỵ Điển lởm chởm gươm súng đang lùi, đánh chúng tan vỡ hàng ngũ, đè bẹp chúng. Cuộc tàn sát bắt đầu… Nhờ đêm tối tướng Slipenbac chỉ vừa kịp phóng ngựa trốn thoát với ba người đi theo và chạy về Revan.

Tại Moskva, nhân dịp chiến thắng đầu tiên nầy, người ta đốt lửa ăn mừng và thắp đèn lồng. Ở Hồng trường, hàng thùng vodka và bia được đưa ra; người ta quay cừu cả con trên lửa, phân phát bánh cho dân chúng. Cờ Thuỵ Điển được trưng bảy ở tháp Xpaskaia. Melsikov phi ngựa tới Novgorod trao tặng Boris Petrovich bức chân dung của Sa hoàng nạm kim cương lấp lánh và hơn nữa, chức đại nguyên soái, xưa nay vốn chưa hề có. Mỗi người lính tham gia trận chiến thắng đều được thường một rúp bạc - những đồng rúp nầy đã được đúc lần đầu tiên ở nhà tiền Moskva, thay thế tiền bạc cũ.

Boris Petrovich ứa nước mắt cảm ơn và nhở Melsikov chuyển một bức thư đệ lên nhà vua, yêu cầu được phép trở về Moskva vì có công việc cấp bách.

"Cho đến nay - ông viết, - tiện nội không có nơi ở, thần phải tìm cho tiện nội một ngôi nhà nhỏ nào đó để tiện nội có được nơi ăn chốn nằm…"

Nhà vua trả lời: "Ngài đại nguyên soái, nhà ngươi chẳng cần phải trở về Moskva. Nhưng trẫm để nhà ngươi suy nghĩ và tự quyết định lấy việc đó… Và nếu nhà ngươi có về thì về trong tuần Khổ nạn để trở lại vào Tuần lễ Thánh".

Sáu tháng sau, Boris Petrovich lại một lần nữa gặp tướng Slipenbac trước thành Humenshop: trong trận đánh đẫm máu nầy, trong số bảy nghìn quân Thuỵ Điển, năm nghìn đã bị tiêu diệt. Chẳng còn ai để bảo vệ xứ Livoni nữa: con đường dẫn đến các thành phố miền duyên hải đã thông suốt. Và Seremetiev cho quân tàn phá miền đó, tản phá các xóm làng, các trại ấp, các lâu đài cố của các hiệp sĩ… Vào khoảng mùa thu, ông viết cho vua Piotr:

"Đức thượng đế và Đức Bà Đồng trinh Rất Thánh đã thực hiện ý muốn của bệ hạ: trên đất địch chẳng còn gì mà cướp nữa. Chúng thần đã cướp phá, huỷ hoại hết. Chỉ có các thành phố Marienburg, Narva, Revan và Riga là toàn vẹn. Và giờ đây, thần chỉ còn một nỗi lo âu: làm gì với bọn tù binh? Các trại giam, các nhà tù đã chật ních cả rồi, thậm chí phải nhốt chúng cả vào nhà các sĩ quan… Bọn nầy dữ tợn, nghĩa là nguy hiểm. Thần cúi xin bệ hạ ký một sắc chỉ: trong số các tù binh, chọn lấy những tên tốt nhất, những tên biết sử dụng rìu, hoặc là nghệ sĩ, và đưa chúng đến Voronez hoặc Azop, để có thể dùng chúng…"
 
Chú thích:

(1) Cung điện của vua chúa Tây Ban Nha, gần Madrid (Chú thích của tác giả).

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #336 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:41:00 pm »

Chương 133

Suốt mười hai ngày, người ta nã pháo vào pháo đài Marienburg cổ kính. Không sao tới, gần được: pháo đài sừng sững trên một hòn đảo nhỏ ở giữa hồ Poip, tường thành bằng đá xây ngay từ dưới nước nhô lên, chiếc cầu bắc từ cổng thành sang bờ - bên cạnh cổng có một vọng lâu - đã bị chính quân Thuỵ Điển phá huỷ.

Trong một pháo đài có nhiều kho lớn dự trữ lúa mạch. Quân Nga đói ăn trong cái xứ Livoni đã bị tàn phá, rất cần đến những kho lúa nầy. Boris Petrovich ra lệnh tập hợp quân tình nguyện; ông đến gặp họ và nói với họ như sau: "Trong pháo đài có rượu vang và đàn bà. Cố gắng đi các anh em, ta sẽ cho phép các ngươi hai mươi bốn giờ hoan lạc". Binh lính liền rỡ ngay nhiều ngôi nhà gỗ của xloboda bên sông, đem đóng thành những bè gỗ và khoảng một nghìn quân tình nguyện chống sào chèo về phía tường pháo đài. Đạn trái phá của quân Thuỵ Điển nổ tung giữa đám bè.

Boris Petrovich ra đứng ở thềm ngôi nhà gỗ ông đang ở và giơ ống nhòm lên quan sát. Quân Thuỵ Điển điên khùng, tức tối. Nếu chúng đẩy lùi được đợt tấn công thì sao? Bao vây ư? Không, bao vây nhất định sẽ dằng dai đến tận cuối mùa thu. Bỗng nhiên một ngọn lửa lớn từ mặt đất phụt lên; gần bên cổng pháo đài ngọn tháp nhỏ bằng gỗ tròn bên trên vọng lâu nghiêng ngả. Một phần tường sụp đổ. Các bè gỗ đã tiến đến gần lỗ hổng. Lúc bấy giờ một lá cờ trắng xuất hiện ở một cửa sổ lâu đài, treo lủng lẳng ở đó. Boris Petrovich xếp ống nhòm lại, bỏ mũ ra và làm dấu.

Dân trong pháo đài leo qua những cọc của chiếc cầu đã bị phá huỷ, chạy vào bờ. Họ bồng bế con cái trên tay, kéo lê những bọc áo quần, làn đồ. Đàn bà quay lại nhìn nơi ăn chốn ở họ phải bỏ mà đi, nức nở khóc: họ kinh hoảng lấm lét nhìn quân Nga đang kiểm kê chiến lợi phẩm. Nhưng những người bị nạn cuối cùng vừa rời khỏi pháo đài thì cánh cổng nẹp đai sắt bỗng đóng sầm lại, từ những lỗ châu mai nhỏ phụt ra những tia khói nhỏ - viên trung uý đi thuyền vào để kéo cờ Nga lên trên thành bị bắn chết ngay trước tiên. Từ bờ, súng cối bắn trả lại. Dân chúng đi ngang trên cầu hoảng hốt đánh rơi những bọc quần áo, làn đồ xuống nước. Một ngọn lửa khổng lồ hất tung mái lâu đài lên không; tiếng nổ làm rung chuyển cả mặt hồ, đá từ trên không rơi xuống đập vào mọi người. Thành và các kho tàng bốc cháy. Sau nầy người ta được biết là trung uý Wulf không kịp chạy thoát. Gã quý tộc bị bỏng và máu me đầm đìa, xuất hiện ở lỗ hổng của bức tường thành và rơi xuống nước; người ta vớt hắn lên thuyền.

Viên tư lệnh pháo đài có các sĩ quan đi theo, bước vào ngôi nhà gỗ, nơi đại nguyên soái Seremetiev đang ngồi, vẻ quan trọng, lưng quay ra cửa sổ, trước bàn đã dọn sẵn bữa ăn chiều. Viên tư lệnh bỏ mũ, lễ phép cúi chào và dâng kiếm. Các sĩ quan của y cũng làm theo.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #337 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:42:29 pm »

Boris Petrovich ném kiếm lên chiếc ghế dài và quát mắng bọn Thuỵ Điển tại sao chúng không chịu đầu hàng sớm, tại sao chúng đã làm hại bao nhiêu người, tại sao chúng đã để bao nhiêu người khác chết, và tại sao chúng đã thâm hiểm làm nổ tung thành? Các viên đại tá kỵ binh Nga can trường, da rám nắng, râu tóc rối bù, lúc đó đang ở trong ngôi nhà gỗ, hầm hầm nhìn bọn Thuỵ Điển. Tuy nhiên, viên tư lệnh vẫn dũng cảm trả lời đại nguyên soái:

- Trong số người của chúng tôi có nhiều người đàn bà trẻ con, có cả viên binh lương tổng giám, mục sư Ecxte Gluc đáng kính cùng vợ và các con gái… Tôi đề nghị ngài cho họ được tự do ra khỏi thành, đừng giao họ cho quân lính… Phụ nữ và trẻ con chắc chẳng làm ngài vinh dự gì.

- Ta không cần biết gì hết!- Boris Petrovich quát.

Trong cơn thịnh nộ, bộ mặt ông ta nhẵn nhụi, ẻo lả, có lẽ quen với cuộc sống gia đình hơn, vã mồ hôi. Thót bụng lại, ông đứng dậy rời khỏi bàn.

- Ngài tư lệnh và các ngài sĩ quan, tôi ra lệnh giam các ngài!

Ông xốc lại tấm băng tam tài, hùng dũng khoác lên vai chiếc áo choàng ngắn bằng dạ màu đỏ sẫm rồi bước ra ngoài để ra mắt ba quân, có các đại tá đi theo.

Khói đen từ pháo đài cuồn cuộn bốc lên, che lấp cả mặt trời. Khoảng ba trăm tù binh Thuỵ Điển đứng ủ rũ bên bờ sông. Quân Nga chưa biết sẽ đối xử với chúng ra sao, đi đi lại lại trước đám nông dân xứ Livoni quàu quạu - hai tuần trước đây, đám nông dân nầy đã rời bỏ xóm làng vào nương náu trong thành Marienburg đang bị bao vây để tránh cuộc xâm lăng, - lên tiếng hỏi đám phụ nữ đang ngồi trên bọc quần áo của họ, buồn bã gục đầu vào đầu gối. Tiếng kèn vang lên. Đại nguyên soái trịnh trọng bước đi, vòng hoa thị ở đầu đinh thúc ngựa dài hình sao kêu lách cách.

Từ phía sau một nhóm long kỵ binh đã xuống ngựa, một cặp mắt sáng rực tựa than hồng nhìn ông chằm chằm: ông cảm thấy như tim mình cháy bỏng… Trong thời chiến, một cặp mắt đàn bà đôi khi còn sắc hơn cả một lưỡi dao… Boris Petrovich nghiêm trang đằng hắng "hừm!". Đằng sau những bộ quân phục bụi bậm là một chiếc váy màu xanh da trời… - Seremetiev cáu mặt, nhô hàm ra phía trước và bắt gặp đôi mắt ấy: đội mắt âm thầm, long lanh giọt lệ, một lời cầu khẩn thiết tha, vẻ thanh xuân mơn mởn… Một thiếu nữ khoảng mười bảy tuổi đứng kiễng trên đầu ngón chân, nhìn vị dại nguyên soái qua vai đám quân lính. Một gã long kỵ binh rậm ria đã khoác lên lưng cô gái chiếc áo choàng nhàu nát. Nàng chỉ còn một chiếc áo tàng che thân và thời tiết tháng tám đã chớm lạnh; lúc nầy người lính cố lấy vai đẩy nàng lùi lại để đại nguyên soái khỏi trông thấy. Cô gái chẳng nói chẳng rằng, cứ nghểnh cổ lên; khuôn mặt tươi tắn, bị nỗi hoảng sợ dày vò, cố gắng nhếch cặp môi mỉm cười. Một lần nữa, Boris Petrovich lại "hừm" một tiếng và tiếp tục bước đi về phía đám tù binh.

Vào lúc hoàng hôn, sau khi ngủ trưa, Boris Petrovich ngồi trên ghế, thở dài. Trong ngôi nhà gỗ, chỉ có ông và Yaguzinski đang ngồi viết, ngòi bút sột soạt trên góc bàn:

- Cẩn thận không hỏng mắt đấy, - Boris Petrovich khẽ nói.

- Thưa đại nguyên soái, tôi viết xong rồi đây ạ.

- Ừ được được nếu thế thì viết cho xong đi… - Và tự nói với mình - Đấy bọn ta thì bây giờ thư thế đấy! Hừ… A, lạy Chúa tôi?

Vừa nhẹ nhẹ gõ ngón tay xuống bàn, ông nhìn qua tấm kính mờ mờ của cánh cửa sổ nhỏ. Trên mặt hồ, lửa còn cháy trong pháo đài… Yaguzinski, đôi mắt giễu cợt liếc nhìn vị đại nguyên soái: chẳng hiểu ông ta làm sao vậy? Cổ ông bạnh ra, mặt mầy ngơ ngác.

- Anh đem lệnh nầy đến cho đại tá. - Boris Petrovich nói - Rồi anh tới trung đoàn hai long kỵ binh. Ở đó anh sẽ gặp viên hạ sĩ quan Oska Đemin, Hắn có giữ một người đàn bà trẻ, trong đoàn xe quân lương.
Bọn long kỵ binh sắp đem cỏ ta ra hành đấy. Như thế thì thật đáng tiếc… Dẫn cô ta về đây… Khoan… Đây cho Oska đồng rúp nầy, nói là ta thưởng cho hắn.

- Thưa đại nguyên soái, xin tuân lệnh!
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #338 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:43:40 pm »

Boris Petrovich ngồi lại một mình trong ngôi nhà gỗ rầu, rĩ lắc đầu. Làm thế nào được: cố gắng giữ gìn cũng không thể nào sống mà không phạm tội… Năm chín mươi bảy, ông ta đã tới Naple… Một nàng tóc nâu bé nhỏ đã chiếm đoạt trái tim ông… Thật khóc lên được. Boris Petrovich đã leo lên ngòn núi Veguve, đã ngắm nhìn ngọn lửa địa ngục: ở đảo Capri, ông đã trèo lên những ngọn núi đá kinh khủng, đã tới thăm đền các vị thần La Mã ô trọc, và các tu viện Thiên Chúa giáo. Ông đã nhìn thấy và đã tận tay sờ vào tấm ván xưa kia Đức Chúa đã ngồi để rửa chân cho các tông đồ, miếng bánh sữa ăn cuối cùng của Chúa với các tông đồ một cây thập ác gỗ trong đựng một mẩu rốn và da bọc quy đầu của Chúa, một trong hai chiếc dép của Người đã mòn nhẵn, đầu nhà tiên tri Zacari, thân sinh ra Thánh Jean người Tiên khu, và nhiều vật khác rất lạ lùng và kỳ diệu… Thế mà, không, nàng Julia với đôi mắt lanh lợi đã làm lu mờ tất cả; nàng múa theo nhịp một chiếc trống nhỏ và hát… Ông muốn đưa nàng về Moskva, ông đã lê gối dưới chân đứa con gái bé nhỏ ấy… A, lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi!

Yaguzinski đi một mạch trở về theo thường lệ, y khẽ đẩy vào trong ngôi nhà gỗ người thiếu nữ trẻ tuổi lúc nãy, mình mặc áo màu xanh da trời, đi đôi tất trắng sạch sẽ, một chiếc khăn vuông buộc chéo trên ngực, mấy cọng rơm vương trên mái tóc sẫm và quăn. Rõ ràng là trong đoàn xe quân lương, bọn long kỵ binh đã vày vò cô gái dưới gầm xe ngựa… Trên ngưỡng cửa, người con gái quỳ xuống, cúi rạp đầu, tỏ rõ một thái độ ngoan ngoãn, van nài.

Yaguzinski láu lỉnh húng hắng ho và quay ra. Boris Petrovich ngồi im một lát ngắm nhìn người con gái. Thân hình cân đối, rõ ràng là khéo chân khéo tay, cổ và cánh tay trắng nõn nà… Thật là gợi tình. Ông hỏi nàng bằng tiếng Đức:

- Tên em là gì?

Người con gái khẽ thở dài:

- Helen Catherine(1)

- Catherine… Tốt… Bố em là ai?

- Tiện tì là con mồ côi… hầu hạ ở nhà mục sư Ecxte Gluc.

- Em là người hầu… Tốt lắm… Em giặt được quần áo chứ?

- Tiện tì biết giặt giũ… biết làm nhiều việc… Giữ trẻ

- Ra thế kia đấy… Thế mà ta thì chẳng có ai để giặt quần áo. Nầy, cho ta hỏi em, em còn là con gái phải không?

Catherine nấc lên một tiếng và không ngẩng đầu lên, trả lời:

- Không ạ… Tiện tì đã lấy chồng cách đây không lâu.

- A? Chồng em là ai?

- Johan Rap, lính giáp kỵ của nhà vua.

Boris Petrovich sa sầm mặt. Ông hỏi giọng khó chịu.

- Anh ta giờ ở đâu? Có trong số các tù binh không? hay có lẽ anh ta bị giết chết rồi?

- Tiện tì đã trông thấy Johan và hai người lính bơi qua hồ… Từ đó tiện tì không thấy anh ấy nữa

- Đừng khóc, Catherine… Em còn trẻ… Rồi em sẽ tìm được một người khác… Em có muốn ăn không?

- Thưa có ạ - cô gái nhỏ nhẻ đáp. Nàng ngẩng khuôn mặt hốc hác lên, rồi lại mỉm cười, một nụ cười kính cẩn, tin cậy.

Boris Petrovich bước tới, nắm lấy vai nàng, nâng nàng dậy và hôn lên mái tóc tơ ấm áp. Đôi vai nàng cũng ấm, thanh tú.

- Ngồi vào ăn đi! Ta sẽ cho em ăn. Ta không làm hại gì em đâu. Em có uống rượu không?

- Tiện tì không biết có…

- Vậy thì uống đi!

Boris Petrovich gọi người lính hầu; vẻ nghiêm nghị (để người lính đừng nghĩ gì quá quắt, và lạy Chúa, để hắn đừng có nhăn răng ra cười), ông ra lệnh dọn bữa ăn tối. Trong bữa ăn, ông ăn thì ít mà nhìn Catherine thì nhiều. Trông cô ta mới đói làm sao chứ! Cô gái ăn một cách gọn ghẽ, khéo léo; đôi lúc, nàng đưa đôi mắt ướt nhìn Boris Petrovich, hé mở đôi hàm răng trắng tỏ lòng biết ơn. Thức ăn và rượu đã tô hồng đôi má nàng.

- Ta cuộc rằng quần áo của em đã cháy hết.

- Mất hết cả ạ, - nàng trả lời, tỏ vẻ không hề bận tâm.

- Không sao, ta sẽ mua quần áo khác. Tuần nầy, ta sẽ rời đến Novgorod, ở đó em sẽ dễ chịu hơn… Hôm nay, thời chiến đành phải ngủ ở ổ trên lò vậy…

Catherine người đôi mắt ủ rũ liếc nhìn ông; nàng đỏ mặt, quay đi và lấy tay che mặt.

- Nào, sao lại thế… Em Catherine…

Boris Petrovich không kìm được nữa, ông thích cô bé hầu phòng nầy quá… Ông vươn tay qua bàn, nắm lấy cổ tay nàng. Nàng vẫn lấy tay che mặt, mắt long lanh một cách tinh quái qua kẽ ngón tay.

- Nào, nào, ta sẽ không coi em như nông nô đâu, đừng sợ… Em sẽ sống ở trong phòng… Đã lâu ta cần một người quản gia.
 
Chú thích:

(1) Sau nầy là vợ thứ hai của Sa hoàng Piotr và là nữ hoàng Catherine đệ nhất kế vị chồng, trị vì nước Nga từ 1725 đến 1727.

Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #339 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2011, 02:44:38 pm »

Chương 134

Trong khi đoàn quân bại trấn trước thành Narva trở về Novgorod, nhiều binh lính đã bỏ trốn - người thì lên phía Bắc vào các tu việnrazkonic, kẻ thì đi về phía các con sông lớn, miền sông Đông, phía bên kia sông Volga, miền hạ lưu sông Dniep… Cả Fetka Mõm bẩn, gã mugic lầm lì đã trải qua đủ mùi gian truân cũng bỏ trốn… Nếu không hắn sẽ có thể bị xử tử vì tội glết chết trung uý Mirsac - Hắn đã kéo cả Andriuska Golikov cùng chạy trốn: dù sao họ cũng đã cùng nhau làm nghề kéo thuyền trên sông Sesna, đã ăn chung một nồi trong một thời gian dài. Sau những ngày khủng khiếp ở Narva, Andriuska sẵn sàng đi bất cứ đâu miễn là người ta đừng bắt hắn lại cầm súng nữa.

Một đêm, tại một chỗ nghỉ, họ đã đánh cắp một con ngựa cái của trung đoàn, đem bán cho một tu viện lấy năm mươi kopeik rồi chia nhau tiền, bọc tiền vào những mảnh giẻ. Họ đi từ làng nầy sang làng khác, tránh các đường lớn; khi thì xin ăn, khi thì ăn cắp; trong sân nhà một cha cố, họ đã ăn cắp một con gà giò; tại nhà xã trưởng Oxtaskov, họ đã xoáy một bộ yên cương khảm bạc, đem bán cho một chủ quán. Hai lần họ đã cạy được hộp tiền quyên giáo ở nhà thờ, nhưng một hộp thì rỗng không, còn một hộp thì chỉ có mỗi một đồng kopeik.

Họ đã gặp chăng hay chớ sống qua mùa đông ở miền Vandai, trong nhưng ngôi nhà gỗ bị vùi sâu dưới tuyết. Nhà không có ống khói, khói làm trẻ em nhiễm độc. Kèm theo tiếng trẻ sơ sinh khóc thét trong nôi là tiếng gió đêm hôm gào thét bên ngoài… Thường khi, Andriuska Golikov, giữa đêm tỉnh giấc ngồi dậy hai tay ôm lấy đôi bàn chân để trần. Bên cạnh, trong một góc nhà, một con bê đang nhai lại trên đống rơm hôi thối đến lộn mửa. Người mugicnằm ngáy trên ghế dài. Vợ anh ta nằm co con tôm, ngủ trên mặt đất, trước lò. Bọn trẻ con nằm trên ổ, choáng váng vì khói, ú ớ trong giấc ngủ. Gián cắn đầu ngón tay và má đứa bé sơ sinh đang kêu trong nôi: u-a, i-a… Nó sinh ra làm gì? Tại sao gián lại nhấm tay nó? Bí hiểm…

- Mầy không ngủ à, Andrey? - Fetka hỏi, hắn cũng không ngủ, nằm nghĩ ngợi miên man.

- Nầy, Fedia, ta đi thôi!

- Đi à? Đi đâu hở thằng ngốc, đang lúc bão tuyết đêm hôm thế nầy?

- Tao chán lắm, Fedia ạ!

- Ở đây sao mà hôi thối thế, không thở được. Họ sống bẩn hơn súc vật. Đấy mầy xem lão chủ nhà ngáy.
Khi đã ngáy no nê, hắn sẽ nốc hết một gầu nước rồi đi làm như một con ngựa, suốt ngày… Hôm nay, tao sẽ hỏi hắn - tất cả làng đều phải đi phu. Tên lãnh chúa trẻ đã vào quân dội, nhưng tên lãnh chúa già vẫn ở đây, trong lòng, đằng sau khe. Nó ở một ngôi nhà đẹp đẽ. Nó là một thằng già keo bẩn mà lại hay đánh người. Nó vơ vét hết cả của nông dân chỉ để lại cho họ có rau lê… Mà đám nông dân của nó đều ngu cả. Có được đứa nào thông minh, lanh lợi, là nó liền ném lên xe ngựa, đích thân đưa ra Vandai đem bán ở chợ.

- Nó đã trừ tiệt đám mugic thông minh: như vậy nó yên tâm hơn. Đến cả trẻ em ở đây sinh ra cũng ngớ ngẩn nhẫn nhục.

Andriuska vẫn ngồi vậy, tay nắm chặt đôi bàn chân để trần lạnh buốt, người lắc lư. Tất cả những điều Andrey đã chịu đựng trong hai mươi bốn năm ròng thừa đủ cho đời của mười con người. Hắn sống dai thật… Mà không phải nhờ ở thân hình gầy còm của hắn mà nhờ ở lòng khao khát thoát khỏi cảnh tăm tối, không gì dập tắt được. Như thể hắn len lỏi qua một rừng cây đổ gãy, qua những nơi khủng khiếp chầy da, tróc thịt, bụng đói meo, hết năm nầy qua năm khác, hết dặm nầy đến dặm khác - mà vẫn tin là ở đâu đó có một đất nước kỳ diệu, một ngày kia trên đường đời nhất định thế nào hắn cũng sẽ tới. Đất nước đó ở đâu? Đất nước đó như thế nào?

Ngay lúc nầy, lơ đãng ngồi nghe Fetka nằm bên cạnh trên ổ rơm đang nói, Andrey càng mở mắt đăm đăm nhìn vào đêm tối. Hắn nhớ tới, hoặc hình như trông thấy: một ngọn đồi xanh rờn, một cây phong cành lá rung rinh dưới ngọn gió ấm hiu hiu thổi… Ôi, khoan khoái làm sao! Nhưng cây phong đã biến mất.

Một bộ mặt, một bộ mặt hắn chưa hề trông thấy bao giờ, bồng bềnh tiến lại gần, sát ngay bên, mở mắt nhìn Andriuska, sống hơn cả một bộ mặt sống… Nếu Andriuska có sẵn trong tay một tấm ván, một chiếc bút vẽ và thuốc vẽ, hắn sẽ vẽ chân dung nầy… Nhưng bộ mặt mỉm cười rồi mờ đi… Trong làn sương mù màu lan nhạt, hắn tưởng như nhìn thấy một thành phố. Lộng lẫy kỳ diệu, ôi, một thành phố mới đẹp làm sao!

Nhưng tìm đâu thấy thành phố nầy, tìm đâu ra cây phong cành lá rung rinh, bộ mặt tươi cười, kỳ lạ?
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM