Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 08:09:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bão thép - Tập 2  (Đọc 67569 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #30 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:48:45 am »

    Cái Tết năm nay của nhà bà Hạnh có phần vui vẻ hơn mọi năm. Sự vắng mặt của ông Đào trong những ngày Tết đã trở thành bình thường. Thì từ khi lấy nhau đến nay đã hơn hai chục năm nay ông cũng mới có hai lần ăn Tết ở nhà cùng vợ con, còn lại cứ biền biệt suốt. Hết chín năm kháng chiến chống Pháp đến ba năm đi học nước ngoài, về nước được hai năm thì lại xảy ra chiến tranh phá hoại. Tết này trước khi đi chiến trường ông cũng ghé về nhà được một buổi rồi thông báo ngắn gọn: “Tôi đi công tác xa, Tết này không về nhà được”. Nói Tết này nhà bà vui hơn là vì có đứa cháu ngoại con đầu lòng của Hường được mẹ đưa về ăn Tết với bà. Đứa bé đã được gần một tuổi trở thành trung tâm chú ý của cả nhà. Bận rộn hơn nhưng cũng vui vẻ, ấm cúng hơn. Vì vậy bà quyết định sẽ tổ chức bữa “hạ cây nêu” tươm tất hơn mọi năm. Thực ra từ lâu ở quê bà người ta đã thôi không trồng cây nêu vào dịp Tết nhưng vào mồng bảy Tết nhà nào nhà nấy vẫn sắm sửa cỗ bàn cúng các cụ, gọi là bữa “hạ cây nêu”.
   Cỗ bàn đã được bày biện đầy đủ trên bàn thờ, bà Hạnh sửa lại đầu tóc rồi đứng trước bàn thờ khấn vái. Bà không biết khấn bằng chữ Hán nên cứ nôm na nghĩ thế nào nói thế ấy, đại khái mong tổ tiên phù hộ độ trì cho cả nhà mạnh khỏe, may mắn, con cháu học hành tấn tới, phù hộ cho ông ấy giữa nơi hòn tên, mũi đạn được bình yên trở về với gia đình. Ngoài sân cậu Hưng và các dì đang tranh nhau bắt đứa cháu đầu tập đi, chúng hò hét động viên thằng bé váng cả nhà. Khấn vái xong bà quay ra nhìn các con và đứa cháu cười hiền hậu.
   Chợt một chiếc xe con đỗ xịch ngay trước ngõ. Thoáng nhìn qua bà biết ngay là xe cơ quan chồng. Từ trên xe trưởng ban cán bộ Hiệu bước xuống. Quái lạ, hôm 29 Tết chú ấy và bác Ngọc, bác Thu đã về chúc Tết gia đình rồi cơ mà! Bà chợt thấy một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng: “chắc ông ấy có việc gì?”.
   Linh cảm của bà đã đúng, sau một hồi vòng vo rồi Hiệu cũng phải nói thật:
   - Thưa chị! Vừa rồi đi công tác bên nước bạn anh Đào chẳng may bị ốm. Hiện anh đang nằm điều trị ở 108. Các thủ trưởng Bộ tư lệnh cho em về đón chị sang thăm và động viên anh ấy.
   Bà Hạnh nước mắt vòng quanh:
   - Anh ấy bị nặng lắm phải không chú?
   Hiệu nói tỉnh bơ như không:
   - Dạ! Cũng bình thường thôi, không nặng lắm đâu.
   Mấy chị em con Hường đã nghe thấy hết mọi chuyện, chúng xúm vào đứng sau lưng mẹ. Bà Hạnh lấy lại vẻ bình tĩnh cất tiếng dõng dạc:
   - Bố bị ốm, bây giờ Hưng và Hiển đi với mẹ sang thăm bố, còn chị Hường ở nhà cho các em ăn cơm. Chiều nay đứa nào vào việc ấy nhé!
   Thấy bà định gói ít thức ăn mang đi Hiệu nhỏ nhẹ:
   - Không cần đâu chị ạ. Bên ấy có đầy đủ các thứ rồi.
   Bà quày quả ra xe, anh con rể và cậu con nuôi lẳng lặng theo sau. Mọi người vừa lên xe chiếc xe đã nổ máy nhằm hướng phà Chèm chạy nhanh.
   Suốt dọc đường đi bà không hỏi thêm Hiệu câu nào vì bà biết rằng có hỏi cũng chỉ nhận được những câu trả lời như lúc nãy ở nhà nhưng bà biết chắc chắn là ông Đào không chỉ ốm xoàng. Lấy nhau giờ đã có bốn mặt con bà lạ gì cái tính gan lỳ, bảo thủ của ông ấy. Nếu ông ấy còn nói được chắc chắn không bao giờ cho đón mẹ con bà sang thăm. Như thế này có nghĩa là ông ấy đã “thập tử, nhất sinh” rồi.
   Bệnh viện 108 vắng hoe, có lẽ các khoa phòng đã đi sơ tán cả chỉ còn một số bộ phận ở lại. Chiếc xe con chưa dừng hẳn bà Hạnh đã thấy ông Ngọc, ông Dương và ông Thu bước lại đón. Vừa bước xuống xe bà hỏi ngay:
   - Ông ấy bị nặng lắm phải không? Cho tôi vào với ông ấy ngay!
   Chính ủy Ngọc vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh thường ngày:
   - Chị cứ bình tĩnh! Anh ấy bị cũng nặng nhưng nhờ được cấp cứu kịp thời, lại được máy bay chuyển về đây ngay nên đã qua cơn nguy kịch. Chị đợi một lát nữa để anh em người ta chăm sóc cho anh ấy xong rồi vào.
   Tham mưu trưởng Dương, chủ nhiệm chính trị Thu cũng mỗi người một câu an ủi bà. Thực ra để đi đến quyết định về đón bà Hạnh sang mấy anh em ông cũng phải bàn bạc mãi. Tham mưu trưởng Dương và trưởng ban cán bộ Hiệu thì cho rằng cứ để ông Đào tương đối bình phục rồi hãy cho gia đình biết. Chủ nhiệm chính trị Thu thì ngược lại, trong thâm tâm ông lo quyền tư lệnh Đào không qua khỏi được nên ông kiên quyết đề nghị đón bà Hạnh sang ngay. Cuối cùng chính ủy Ngọc đã ngả theo ý kiến của ông Thu.
   Các y tá đã đẩy chiếc xe chuyên dùng đi ra, chính ủy Ngọc chìa tay:
   - Chị vào đi!
   Bà Hạnh xăm xăm bước vào căn phòng trắng toát một màu lạnh lẽo. Trong phòng chỉ có mỗi một giường có người nằm lên bà đoán chắc đấy là chồng mình. Bà tiến lại gần. Hai chân bà bỗng rủn ra như muốn khụyu xuống. Hiển đi phía sau vội đưa tay đỡ và dìu mẹ vợ đến sát bên giường. Ngồi ghé xuống mép giường bà nhìn đăm đăm vào cái thân hình nhỏ nhoi như một đứa bé đang nằm bất động trước mặt: một vòng băng trắng cuốn gần kín cả đầu và mặt, một cái mặt nạ nhựa trong suốt chụp lên mũi, ló ra khỏi tấm chăn là một vòng băng từ bả vai trái xuống, một chai dịch truyền trong vắt treo ở đầu giường nối vào tay phải của ông bằng một ống nhựa đang rỉ rả từng giọt. Bà lay nhẹ vào bên vai còn lành lặn của ông:
   - Ông Đào! Ông Đào!
   Người bác sĩ trực nãy giờ vẫn đứng lặng im nay mới lên tiếng:
   - Bác đừng gọi bác ấy nữa. Hiện giờ bác ấy vẫn đang hôn mê nên chưa biết gì đâu.
   Bà Hạnh hỏi mà không quay đầu lại:
   - Nhà tôi bị có nặng lắm không?
   Người bác sĩ từ tốn:
   - Thưa bác! Bác ấy bị thương vào đầu, mặt và ngực. Nhìn chung vết thương cũng không nặng lắm và hiện tại đã qua cơn nguy kịch. Bây giờ thì bác ấy còn hôn mê, chắc một hai ngày nữa sẽ tỉnh lại.
   Bà Hạnh vẫn ngồi đăm đăm nhìn chồng. Hai mươi mấy năm lấy nhau thì hơn chục năm ông chinh chiến khắp các chiến trường, bị thương cũng đã mấy lần nhưng bà nào có biết. Thôi thì phận vợ bộ đội thời chiến chẳng biết thế nào mà nói trước được. Còn biết bao chị em khác đâu có được cái may mắn như bà. Nghĩ được như vậy bà đứng dạy cứng cỏi:
   - Bây giờ mẹ ở lại đây chăm sóc bố. Hai anh em nhờ các chú đưa về rồi còn đi làm, đi học. Nhớ nói với Hường và các em là bố bị nhẹ thôi.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #31 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:49:46 am »

    Đối với ông Đào thời gian nằm viện vừa dài lê thê vừa vô vị đến chán ngấy. Là con người của hành động lúc nào ông cũng phải có một việc gì đó để làm, để suy nghĩ, để học hỏi. Còn bây giờ nằm ở đây đã hơn tháng trời chẳng có việc gì mà làm, mà muốn làm gì cũng không được vì ngực và tay trái vẫn còn đau. Sách cũng không được đọc vì con mắt còn lại vẫn đau nhức và thị lực giảm khá nhiều. Bác sĩ bảo ông phải giữ gìn thật cẩn thận may ra mới hồi phục được. Chỉ còn mỗi cái đầu là không ai cấm được ông suy nghĩ thành ra chưa bao giờ ông có nhiều thời gian để nghĩ ngợi đến thế.
   Mặc dù tiêu chuẩn cán bộ cao cấp có người phục vụ riêng nhưng bà Hạnh vẫn thường xuyên ở lại chăm sóc ông từ ngày ấy đến giờ. Ông bắt bà về lo công việc ở nhà thì bà bảo: “các con lớn rồi, lại còn bà con cô bác nữa” nên vẫn ở lại. Lấy nhau hơn hai chục năm, có với nhau đã bốn mặt con nhưng lần đầu tiên ông và bà được ở với nhau lâu đến vậy. Cũng vì thế lần đầu tiên ông được hưởng sự chăm sóc từng ly, từng tý của người vợ hiền thục, đảm đang. Hàng ngày bà chỉ quanh quẩn bên ông, chăm chăm theo dõi xem ông có yêu cầu gì thì thực hiện. Đến giờ bà xuống nhà ăn lấy hai suất cơm về, bón cho ông xong rồi mới ăn. Nửa tháng trở lại đây thấy đã khá hơn ông bảo bà đọc sách cho ông nghe. Con Hường khi biết vậy đã gửi sang cho bố bộ “Con đường đau khổ” của A- lếch- xây Tôn- stôi mà nó mới mua. Người đàn bà nhà quê ít chữ mấy hôm đầu cứ như đánh vật với quyển sách, nhất là với những cái tên nước ngoài. Thấy thế ông bảo bà đừng đọc nữa nhưng bà không nghe. Mất vài hôm thì bà cũng đọc tương đối trôi chảy, có hôm bà đọc cho ông nghe đến bốn, năm tiếng đồng hồ. Cảm nhận được cái tình của người vợ hiền khô khan như ông cũng bật lên được câu đùa:
   - Tôi bị thương thế này đâm ra may bà nhỉ! Có bị thương mình mới được sống với nhau lâu thế chứ.
   Bà lườm ông:
   - Phải gió cái nhà ông này, chỉ nói gở!
   Nói như vậy nhưng trong sâu thẳm cõi lòng bà cảm thấy những ngày được ở bên chồng để chăm sóc, nâng giấc cho ông là chuỗi ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời hơn hai mươi năm làm vợ của bà.
   Tuy vậy bà không thể hiểu nổi những lúc không nghe bà đọc sách hay những đêm trằn trọc, cứ nhìn trừng trừng lên trần nhà thì ông nghĩ gì. Có nhắc ông đi ngủ cũng chỉ được nghe một câu quen thuộc: “tôi không ngủ được”. Thế mà xin thuốc ngủ cho lại không uống. Ông bảo: “uống vào rồi đâm quen, sau này không có thuốc thì ngủ làm sao?”.
   Bà không biết cũng phải thôi. Cuộc đời người phụ nữ nông thôn quanh năm chẳng mấy khi ra khỏi lũy tre làng, vừa mới đến tuổi trưởng thành thì đã đi làm dâu, làm vợ rồi làm mẹ, cái lo toan quanh quẩn chỉ là manh áo, miếng cơm rồi con đau, con ốm thì làm sao biết được ông nghĩ những gì! Còn ông, đúng là những tháng ngày nằm dài ở viện ông đã suy nghĩ rất nhiều về bản thân mình. Nhưng nghĩ gì thì nghĩ quanh đi quẩn lại cũng chỉ nhằm vào một câu hỏi đau đáu: mấy chục năm qua mình đã sống như thế nào?
   Về thiên chức làm chồng, làm cha xét cho cùng ông cho rằng mình đã không làm được thật trọn vẹn. Hơn hai mươi năm làm vợ, làm chồng, có với nhau bốn mặt con mà tổng cộng thời gian sống bên nhau chỉ được vài ba tháng. Mọi việc trong nhà, trong họ, chăm sóc mẹ già, nuôi dạy con cái phó mặc cho đôi vai tảo tần của vợ. Họa hoằn lắm thì gửi về nhà vài chục đồng lương, có dạy bảo con thì cũng dăm câu ba điều khuôn sáo, chúng có nghe, có làm theo hay không cũng chẳng biết. Ông cũng tự biện hộ cho mình là do hoàn cảnh thời chiến nhưng rồi từ trong thâm tâm ông đánh giá mình chưa phải là người chồng tốt, người cha tốt. Nhiều lúc nằm im nhìn cái dáng lặng lẽ, nhẫn nhục của vợ đi lại phục vụ mình mà ông thấy lòng đắng đót. Ông sẽ phải làm gì đây để đền đáp lại bà?
   Còn một điều nữa chiếm nhiều thời gian suy nghĩ nhất của ông là: ông đã là một người chỉ huy như thế nào? Là một người đã đi nhiều, đọc nhiều và chịu khó chiêm nghiệm từ lâu ông đã tự bắt mình phải phấn đấu theo những tiêu chuẩn của một người làm tướng mà sử sách đông tây kim cổ đã tổng kết. Tựu trung lại ông thấy những tiêu chí “trí, dũng, nhân, tín, trung” mà Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã nêu ra trong pho “Binh thư yếu lược” là đầy đủ và khái quát nhất. Là người rất nghiêm khắc với mình ông nhận thấy bản thân cũng đã ít nhiều theo được những tiêu chí đó.
   Nói về “trí” không dám tự nhận mình là đã có thừa nhưng ông biết mình cũng đã tích lũy được một số tri thức cũng như kinh nghiệm hết sức quý giá. Được như vậy trước hết là nhờ một quá trình học hỏi nghiêm túc theo lời dạy của Bác Hồ ngày ông được gặp Bác sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Lúc ngồi học trong trường thì cố học “hết chữ của thày”, chỗ nào chưa biết, chưa rõ thì hỏi đến cùng, hỏi cho bằng được. Lúc ra công tác thì học từ thực tế, học những người đồng đội, rồi chiêm nghiệm, tổng kết. Với sự học hỏi, nghiên cứu không ngừng ông đã cùng các đồng đội của mình đã đặt những viên gạch đầu tiên cho lý luận sử dụng xe tăng, thiết giáp mang những nét đặc thù Việt Nam khác hẳn những gì mà các ông tiếp thu được bên nước bạn. Lý luận đó đã được kiểm chứng trong trận Tà Mây- Làng Vây và một số trận đánh nữa ở Lào. Tuy vậy, với ông như thế vẫn còn chưa đủ nên ông mới quyết định đi chiến trường để trực tiếp chỉ huy, để tận mắt chứng kiến xe tăng của mình chiến đấu qua đó có thêm thực tế để bổ khuyết cho những gì còn thiếu. Ông không quá tự mãn nhưng cũng biết rằng cho đến giờ tri thức về sử dụng xe tăng ở Việt Nam thì khó có ai có thể qua được mặt ông. Tuy nhiên ông cũng biết tri thức là vô hạn mà đầu óc con người thì có hạn, trong khi đó thực tế lại thay đổi từng ngày từng giờ nên việc học hỏi phải không ngừng nghỉ. Điều đó thì ông vẫn đang thực hiện, ngay cả bây giờ khi đang nằm viện đầu óc ông có lúc nào ngừng chiêm nghiệm, suy nghĩ về những trận đánh mà ông và các đồng đội của ông đã trải qua đâu.
   Còn về “dũng” ư? Không dám nhận mình là người tung hoành ngang dọc giữa nơi trận mạc, đánh đâu thắng đó như các danh tướng xưa nay nhưng ông cũng tự thấy mình là người có dũng khí, khi nhận bất cứ nhiệm vụ gì dù khó khăn, ác liệt đến đâu cũng chẳng từ nan mà chỉ có tìm mọi cách để hoàn thành. Từ lúc làm tiểu đội trưởng, trung đội trưởng chỉ với giáo mác, súng trường nhưng cũng đã dẫn đầu anh em trong đơn vị lao vào đồn giặc mà chẳng so đo tính toán. Cho đến lúc được bổ nhiệm lên những chức vụ cao hơn ông vẫn không ngần ngại xông vào chỗ hòn tên mũi đạn. Cái dũng ở ông còn được thể hiện ở chỗ ông dám bày tỏ chính kiến của mình và cũng rất kiên quyết bảo vệ chính kiến của mình dù rằng có đôi khi chính kiến đó không hợp ý cấp trên. Ông có thể tự hào về điều đó.
   “Trung” thì không có gì phải bàn cả. Là người có chút chữ nghĩa ông đến với cách mạng một cách tự giác và bằng nhận thức của mình. Vì vậy suốt hai chục năm qua ông tin yêu và phục tùng tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ. Lý tưởng của Đảng cũng là lý tưởng sống của ông và ông đã nguyện một lòng theo Đảng đến cùng dù khó khăn gian khổ đến đâu.
   “Tín” cũng vậy. Ông là người biết giữ chữ tín đối với tất cả mọi người. Từ anh em họ mạc ở quê đến con cháu trong nhà, từ cấp trên đến cấp dưới khi ông đã hứa cái gì là quyết làm cho bằng được. Nếu không thực hiện được thì phải có giải thích rõ ràng nguyên nhân vì sao chứ không bao giờ để cho lời hứa trôi vào quên lãng.
   Chí có chữ “Nhân” là làm ông băn khoăn nhiều nhất. Có hiểu biết sâu sắc về Hán tự và văn hóa phương Đông ông hiểu chữ “Nhân” có ý nghĩa rất khái quát, rất rộng, rất sâu xa. Nhân đó là nhân văn, nhân bản, nhân đạo, là cách làm người, là cái cách đối xử giữa con người với con người. Hiểu đấy, biết đấy nhưng làm theo được thật khó. Nói cho công bằng ông là người rất thương người, thương cha mẹ, vợ con, thương đồng chí, đồng đội nhưng cái cách thương của ông cũng hơi khác thường, đúng như kiểu người xưa: “thương cho roi cho vọt”. Thương đấy nhưng bên ngoài lại tỏ ra rất nghiêm khắc, nghiêm khắc đến mức khắt khe. Cũng chẳng có mục đích gì ngoài mong muốn cho mọi người hoàn thiện hơn lên, tốt đẹp hơn lên, giỏi giang hơn lên. Có lẽ cũng vì thế mà ông là người rất hà tiện lời khen? Ngay cả con cái ông cũng vậy, chúng ngoan ngoãn, tự lập, học giỏi mà có mấy khi được nghe một lời khen của bố. Còn ông mà đã chê thì bây giờ tự ông cũng nhận thấy là... hơi quá lời, thậm chí có khi nghe như chì chiết. Và có lẽ chính vì vậy mà những người xung quanh ông chỉ sợ ông mà không yêu ông, chỉ làm theo ông vì ông là cấp trên mà không yêu quý ông như một người cha, một người anh lớn. Các con ông cũng thế, có việc gì cần nói với bố hay bố gọi hỏi cũng chỉ dăm câu, ba điều là lỉnh mất. Những lúc ấy ông cũng thấy buồn. Nhưng biết làm sao được, bản tính trời sinh mà. Phương ngôn Trung Quốc có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Ông tự dặn mình phải cố gắng sửa chữa nhưng cũng biết rằng sẽ rất khó khăn.
   Gần ba tháng trời nằm điều trị ở 108 các vết thương trên người quyền tư lệnh Đào về cơ bản đã lành. Bên mắt bị mất đã được các bác sĩ lắp vào đó một con mắt giả trông cũng không đến nỗi nào, bên mắt còn lại thị lực đã được khôi phục một phần. Mấy cái xương sườn bị gãy cũng đã liền nhưng phổi thì hơi yếu, thỉnh thoảng thở còn khó khăn. Mọi cái tiến triển có vẻ tốt nhưng khi lần đầu tiên đứng trước tấm gương trong buồng vệ sinh ông không khỏi giật mình vì những thay đổi trên khuôn mặt mình. Một vết sẹo dài từ chân tóc chẻ đôi lông mày trái và mi mắt kéo xuống tận gò má làm cho bộ mặt vốn bình thường đã khó gần của ông nay lại thêm nét dữ tợn. Biết vậy đồng chí chủ nhiệm khoa điều trị cán bộ cao cấp an ủi ông:
- Với đà này thì chẳng mấy chốc anh sẽ được ra viện thôi. Riêng về đôi mắt tôi sẽ đề nghị bên khoa mắt thửa cho anh một cặp kính đặc biệt, vừa đảm bảo tăng thị lực cho mắt phải, vừa che đi con mắt bên trái- Ông cười- Như thế cũng còn đẹp trai chán.
Ông Đào không nói gì nhưng ngay ngày hôm sau đã thấy được mời lên khoa mắt thử kính. Sau khi thử cặp kính làm riêng cho mình ở khoa mắt ông thừa nhận đồng chí trưởng khoa có lý. Đôi mắt kính to, lại hơi râm nên che đi được gần hết vết sẹo bên mắt trái làm cho ông trông đỡ dữ tướng hơn. Ngay chiều đó ông chính thức xin ra viện, lại còn yêu cầu chính ủy Ngọc và các đồng sự nói giúp. Cuối cùng, thể theo nguyện vọng của ông bệnh viện đồng ý cho ông về bệnh xá cơ quan dưỡng bệnh.
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #32 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:50:58 am »

    Quyền tư lệnh Đào về cơ quan được mấy hôm thì đến lượt tham mưu trưởng Dương nhập viện. Căn bệnh đau bụng từ hồi ở Đường Chín ra thỉnh thoảng tái phát ông cũng chỉ xin vài viên thuốc an thần, giảm đau. Nhưng lần này thì đau quá ông buộc phải xuống bệnh xá. Chủ nhiệm quân y binh chủng đã nhiều lần đề nghị ông đi kiểm tra ông không chịu. Nhân dịp này anh kiên quyết đưa ông đi khám bệnh, lại còn trực tiếp “áp tải” ông lên 108 để khám.
   Vừa mới nhìn qua tấm phim X quang và mấy bản kết quả xét nghiệm, chủ nhiệm phòng khám đã yêu cầu ông nhập viện ngay và làm tất cả thủ tục để mổ càng sớm càng tốt. Thấy bảo mình phải mổ tham mưu trưởng Dương tỏ vẻ ngạc nhiên:
   - Tôi làm sao mà phải mổ? Suốt hai năm nay thỉnh thoảng nó đau một tý, uống vài viên thuốc vào là khỏi thôi mà.
   Chủ nhiệm phòng khám lắc đầu:
   - Không được! Trước thế nào tôi không biết. Còn hôm nay anh không mổ sẽ nguy hiểm đến tính mạng đấy!
   Ông Dương vẫn cười như không có chuyện gì xảy ra:
   - Đề nghị bác sĩ cho biết tôi bị làm sao?
   Chủ nhiệm phòng khám nhăn mặt:
   - Anh bị làm sao à? Cái túi mật của anh nó sưng lên bằng nắm đấm kia kìa- Tay anh ta chỉ vào một vùng sáng trên tấm phim X quang rồi lắc đầu ngán ngẩm- Tôi cũng chẳng biết tại sao các anh lại coi thường mạng sống của mình đến vậy. Giá như hồi mới bị đau anh đến đây ngay thì bây giờ chắc không phải mổ, còn hôm nay không mổ không được.
   Biết là không thể tránh được cuộc phẫu thuật ông Dương chỉ còn biết nhăn nhó:
   - Còn bao nhiêu việc đang chất đống lên đấy!
   Người bác sĩ cười:
   - Anh cứ yên tâm! Mổ xong rồi anh về tha hồ mà làm.
   Không ai ngờ là bệnh của tham mưu trưởng Dương lại nặng đến thế. Các bác sĩ cũng định cố gắng bảo toàn cái túi mật cho ông nhưng không thể và cuối cùng đã đi đến quyết định cắt toàn bộ túi mật. Chắc là vì khi mới nhiễm bệnh không được điều trị kịp thời, kết hợp với những cơn sốt rét rừng và điều kiện sống khắc nghiệt ở chiến trường Đường Chín đã gây ra hậu quả ấy. Khi biết túi mật của mình đã bị cắt hoàn toàn ông Dương lo lắm, không biết rồi đây mình sẽ thế nào. Thấy ông lo lắng vị bác sĩ điều trị chỉ cười:
   - Anh cứ coi như mình là người tiêu hoang ấy thôi mà. Người ta làm ra dùng không hết thì cho vào đó dự trữ, lúc nào thiếu bỏ ra dùng. Còn anh bây giờ thì làm ra bao nhiêu tiêu hết bấy nhiêu không có chỗ dự trữ nữa- Anh đổi sang giọng an ủi- Nhưng không sao! Chỉ cần anh tuân theo một số quy định về ăn uống, sinh hoạt thì sức khỏe vẫn đảm bảo. Tôi đảm bảo anh còn sống đến trăm tuổi ấy chứ.
   Nghe thì nghe để đấy chứ tham mưu trưởng Dương biết rằng sắp tới đối với ông sẽ là những ngày khó khăn, nhất là khi binh chủng Thiết giáp của ông đang có triển vọng phát triển mạnh mẽ với nhiệm vụ ngày càng nặng nề, phức tạp hơn. Trong khi đó quyền tư lệnh thì bị thương chưa khỏi hẳn, còn tham mưu trưởng thì lại như thế này! 
   Ngày ra viện về cơ quan, chủ nhiệm chính trị Thu sang thăm lại nói đùa:
   - Từ nay ông bạn cứ yên tâm hoạt động ở hậu phương thôi, còn chiến trường để đấy cho chúng tôi.
   Không biết đó là câu đùa vô tình hay hữu ý nhưng tham mưu trưởng Dương thì buồn lắm.


   Không chỉ tham mưu trưởng Dương thấy buồn mà quyền tư lệnh Đào cũng vậy. Có hai cán bộ chủ chốt về quân sự mà lại đều yếu rớt như thế này thì làm sao cáng đáng nổi công việc. Kinh nghiệm hai chục năm làm chỉ huy ông biết yêu cầu về sức khỏe đối với những người cán bộ quân sự là rất cao. Có khỏe mới chịu được những áp lực của công việc, mới vượt qua được những thử thách cả về trí lực và thể lực kéo dài trong nhiều ngày của một trận đánh, một chiến dịch và nói rộng ra là của cả cuộc chiến này. Vì vậy ngoài việc thường xuyên dùng thuốc theo chỉ định của bác sỹ và tham gia những công việc vừa sức, quyền tư lệnh Đào dành nhiều thời gian cho việc luyện tập thân thể. Ông sưu tầm những bài tập thể dục dưỡng sinh cũng như những bài vật lý trị liệu để đưa vào chương trình luyện tập hàng ngày. Không biết có phải vì vậy hay không nhưng chỉ sau hơn tháng về cơ quan sức khỏe của ông đã tiến triển khá rõ rệt, lá phổi trái bị thủng giờ đây đã gần trở lại bình thường, khi hít sâu vào không còn thấy đau nữa.
   Về công việc ông không còn sùng sục đi đơn vị được nữa nhưng tất cả các cuộc họp, cuộc hội thảo ở cơ quan thì tham gia đầy đủ. Thời giờ còn lại chủ yếu ông dành để đọc và bổ cứu những tài liệu chiến thuật do anh em Tổ nghiên cứu của phòng tham mưu biên soạn để sắp tới đưa vào ban hành chính thức. Cũng may giai đoạn này các hoạt động tác chiến trên các chiến trường tạm lắng xuống, ta tạm thời không mở những chiến dịch lớn và vì vậy xe tăng cũng tạm thời án binh bất động.
   Về phía tham mưu trưởng Dương vừa ở bệnh viện về là lao ngay vào công việc chỉ đạo phòng tham mưu hoàn chỉnh bản “kế hoạch phát triển lực lượng tăng thiết giáp giai đoạn 1970- 1975” trong đó tập trung vào nhiệm vụ chính là đưa các đơn vị xe tăng vào bổ sung cho các chiến trường trọng điểm. Ngoài ra bản kế hoạch cũng đề cập đến việc xây dựng các nhà trường đào tạo cán bộ và thành viên kíp xe một cách chính quy hơn.
   Bản kế hoạch vừa được đưa sang cho quyền tư lệnh Đào, ông mới kịp xem qua một lượt thì có điện của Tổng tham mưu trưởng gọi lên gặp ở thị trấn Tam Đảo. Đút luôn tập bản thảo vào cặp quyền tư lệnh Đào gọi chủ nhiệm chính trị Thu cùng đi.
*
*    *
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #33 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:52:06 am »

     Nằm ở độ cao trên 1000 mét so với mặt nước biển thị trấn Tam Đảo với nhiệt độ trung bình vào mùa hè chỉ trên dưới 20 độ C, lại có những rừng thông ngút ngàn bao bọc xung quanh nên đã được người Pháp xây dựng thành một thị trấn nghỉ mát từ vài chục năm trước. Không quá xa Hà Nội như Sa Pa, Mẫu Sơn nên Tam Đảo rất được các quan chức người Pháp ở miền bắc ưa thích trong những dịp nghỉ cuối tuần. Cũng chính vì vậy họ đã xây dựng ở đây một loạt các biệt thự sang trọng và bề thế. Tuy nhiên trong kháng chiến chống Pháp thị trấn Tam Đảo đã bị tàn phá nặng nề, số biệt thự còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một số trong đó được dùng làm nơi nghỉ dưỡng và làm việc cho các cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước ta.
   Đường lên Tam Đảo khá quanh co, chiếc xe Bắc Kinh ì ạch leo chậm chạp. Khói từ két nước bốc lên mù mịt, cứ đi được vài cây số lái xe Năm lại phải bổ sung nước làm mát. Đã lên đây nhiều lần nhưng hôm nay quyền tư lệnh Đào mới chú ý đến đường sá, ông nói với chủ nhiệm chính trị Thu:
   - Anh Thu ạ! Con đường này cũng hiểm trở chẳng kém đường Trường Sơn bao nhiêu đâu, chỉ được cái trải nhựa và các khúc cua được mở rộng hơn thôi.
   Ông Thu đang bám chặt vào thanh sắt khung xe để chống lại những cái cua chóng mặt gật đầu:
   - Công nhận thằng Pháp ngày xưa cũng kỳ công thật.
   Quyền tư lệnh Đào chợt đột ngột thay đổi đề tài:
   - Ông có đoán được hôm nay Tổng Tham mưu trưởng gọi mình lên làm gì không?
   Chủ nhiệm chính trị Thu phán đoán:
   - Chắc là sắp có đánh lớn, các “cụ” lại muốn dùng đến xe tăng chăng.
   Quyền tư lệnh Đào tỏ vẻ đồng ý:
   - Tôi cũng nghĩ vậy! Chứ các “cụ” đang bận trăm công nghìn việc khi không gọi mình lên làm gì.
   Hai người cứ thế rỉ rả chuyện trò, chẳng mấy chốc những ngôi nhà ven thị trấn đã hiện ra. Đang là mùa hè mà thị trấn nghỉ mát vắng hoe, lác đác vai gia đình người nước ngoài đang nằm sưởi nắng ven hồ bơi. Chiếc xe rẽ vào khu A, nơi dành riêng cho các cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước lên nghỉ và làm việc.
   Đồng chí trực ban đã đón sẵn ngoài đường đưa hai người vào một ngôi biệt thự, sau khi bảo hai vị khách ngồi ở phòng chờ anh ta biến mất sau cánh cửa. Một lát sau từ phòng trong Tổng Tham mưu trưởng bước ra, trông ông vẫn rất phong độ mặc dù mái tóc đã bạc thêm nhiều. Quyền tư lệnh Đào và chủ nhiệm chính trị Thu vội đứng dạy:
   - Chào Tổng Tham mưu trưởng ạ!
   Tổng Tham mưu trưởng bắt tay hai anh em, miệng xởi lởi:
   - Chào hai cậu! Cậu Đào thế nào rồi, đã bình phục chưa?
   Quyền tư lệnh Đào xúc động:
   - Báo cáo thủ trưởng! Tôi đã khỏe rồi ạ!
   Tổng Tham mưu trưởng lắc đầu:
   - Chưa khỏe đâu! Da còn xanh lắm.
   Sau một hồi chuyện trò hỏi thăm sức khỏe và tình hình công việc Tổng Tham mưu trưởng đi vào vấn đề chính:
   - Từ sau trận Làng Vây đến nay chắc sốt ruột lắm hả?
   Như được gãi trúng chỗ ngứa quyền tư lệnh Đào sôi nổi hẳn lên:
   - Thưa Tổng Tham mưu trưởng! Quả thật chúng tôi rất sốt ruột, cứ tưởng sau Làng Vây sẽ được sử dụng nhiều hơn ai ngờ lại vẫn án binh bất động.
   Tổng Tham mưu trưởng cười hiền từ:
   - Nuôi quân ba năm dùng một giờ mà. Các cậu cứ yên trí, rồi sẽ được trọng dụng- Giọng ông trầm xuống- Thực ra sau trận Làng Vây nhận thức về sử dụng xe tăng của trên đã có nhiều thay đổi, ai cũng thừa nhận khả năng đột phá của tăng thiết giáp rất cao, nhất là trong điều kiện địch tổ chức phòng ngự vững chắc như hiện nay. Tuy nhiên cái gì cũng có thời cơ của nó, dùng không đúng lúc, đúng chỗ có khi còn có hại là đằng khác. Vì vậy trong hai năm qua Bộ chưa “sờ” đến các cậu.
   Hai anh em nhìn nhau, chủ nhiệm chính trị Thu góp chuyện:
   - Dạ! Chúng tôi cũng biết vậy nên vẫn thường xuyên giáo dục cho anh em kiên trì chờ đợi, trước mắt cứ huấn luyện cho giỏi, khi cấp trên gọi là lên đường chiến đấu được ngay.
   Tổng Tham mưu trưởng gật đầu:
   - Thế thì tốt! Bây giờ các cậu cho tớ biết ý định xây dựng, phát triển lực lượng của binh chủng như thế nào.   
   Quyền tư lệnh Đào phấn khởi ra mặt:
   - Thưa Tổng Tham mưu trưởng! Sau khi phân tích tình hình mọi mặt ý định của chúng tôi về phát triển lực lượng tăng thiết giáp như sau: Một là, phải nhanh chóng tăng cường lực lượng cho các chiến trường trọng điểm. Hai là phải khẩn trương xây dựng hệ thống nhà trường và các trung tâm đào tạo để đảm bảo sĩ quan và thành viên kíp xe được huấn luyện cơ bản, kỹ càng nhất. Ba là phải tiếp tục hoàn thiện các loại tài liệu cả về kỹ, chiến thuật để đảm bảo việc huấn luyện được chính quy, thống nhất.
   Tổng Tham mưu trưởng ngắt lời:
   - Cậu nói cụ thể hơn về mặt xây dựng, phát triển lực lượng xem nào.
   Quyền tư lệnh Đào giở tập kế hoạch của phòng tham mưu ra và hắng giọng:
   - Báo cáo Tổng Tham mưu trưởng! Vừa qua chúng tôi đã xây dựng bản kế hoạch phát triển lực lượng tăng thiết giáp giai đoạn 70- 75, hiện đang hoàn thiện để báo cáo Bộ. Hôm nay tôi xin trình bày sơ lược để Tổng Tham mưu trưởng nắm được. Trước hết, nói về quy mô các đơn vị đưa đi bổ sung cho các chiến trường chúng tôi thấy tốt nhất là ở quy mô từng tiểu đoàn. Đưa đi như vậy thì đội hình sẽ gọn hơn, công tác bảo đảm cũng đỡ cồng kềnh hơn mà không phải thành lập thêm các trung đoàn mới ở ngoài Bắc. Về lực lượng cụ thể cho từng chiến trường chúng tôi dự kiến đưa vào B2 từ năm đến sáu tiểu đoàn. Vì tại B2 hiện nay chúng tôi đã có bộ khung cán bộ vào đó từ mấy năm trước nên khi lực lượng vào đủ có thể thành lập khoảng hai trung đoàn. Còn B3, B1 chúng tôi dự kiến mỗi chiến trường từ hai đến ba tiểu đoàn, có điều kiện thì sẽ ghép lại thành trung đoàn. Riêng B4 vì ở gần hậu phương theo chúng tôi nên đưa một trung đoàn trọn vẹn vào, có thể là H03. Như vậy tổng cộng sẽ phải đưa vào chiến trường một trung đoàn và chín đến mười hai tiểu đoàn. Về lực lượng đảm nhiệm nhiệm vụ huấn luyện ở hậu phương chúng tôi đề nghị Bộ cho nâng cấp đoàn 10 thành trường sĩ quan, thành lập một trung tâm đào tạo thành viên kíp xe và một trung đoàn nữa để thay thế H03 đã vào B4.
   Tổng Tham mưu trưởng gật gù tỏ vẻ đồng tình:
   - Có lẽ được đấy! Các cậu cứ hoàn thiện đi rồi báo cáo Bộ. Đó là chuyện lâu dài, cần phải nghiên cứu thật kỹ lưỡng. Còn hôm nay tớ cho gọi các cậu lên vì một việc khác cơ, trước mắt thôi.
   Hai anh em lại nhìn nhau ngơ ngác, chủ nhiệm chính trị Thu mạnh dạn:
   - Thủ trưởng cứ nói ạ! Chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng.
   Ngừng lại một chút như cân nhắc Tổng Tham mưu trưởng hạ giọng:
   - Như các cậu đã biết, do những thất bại nặng nề Mỹ đã bắt đầu thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh từ hai năm nay. Trong các mục tiêu mà chiến lược này đề ra có một mục tiêu là ngăn chặn hoàn toàn sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam. Theo những tin tức mà ta nắm được vào Đông Xuân này có khả năng chúng sẽ mở một cuộc hành quân quy mô lớn nhằm thực hiện mục tiêu trên. Về địa bàn tác chiến gần như chắc chắn sẽ là đường Chín vì nếu làm chủ được con đường này chúng sẽ ngăn chặn được toàn bộ hành lang vận chuyển trên bộ từ bắc vào nam của ta. Với đặc điểm địa hình khu vực này Bộ cho rằng chúng sẽ sử dụng chủ yếu là tăng thiết giáp và máy bay trực thăng. Để đối phó lại ta cũng phải có lực lượng cơ giới đủ mạnh ở đó. Vì vậy các cậu hãy tính toán chuẩn bị trước đi, có thể ém sẵn một số lực lượng ở các khu vực lân cận, khi nào tình huống xảy ra sẽ nhanh chóng có mặt.
   Quyền tư lệnh Đào lẩm nhẩm như ngầm tính toán một cái gì đó, một lát sau ông ngẩng lên:
   - Báo cáo thủ trưởng! Nếu địa bàn tác chiến ở đường Chín thì tương đối thuận lợi cho chúng tôi vì hai năm qua anh em tôi cũng đã làm quen với khu vực này nhiều rồi, hiện tại chúng tôi lại đang có một tiểu đoàn nằm sẵn trong đó.
   Tổng Tham mưu trưởng ngắt lời:
   - Có phải cái tiểu đoàn đã đánh Làng Vây không?
   Quyền tư lệnh Đào gật đầu xác nhận:
   - Dạ, đúng ạ! Sau chiến dịch Đường Chín- Khe Sanh chúng tôi vẫn để tiểu đoàn này nằm trong đó. Còn bây giờ chỉ cần đưa thêm độ hai đến ba tiểu đoàn nữa vào là đủ ạ. Mà theo kế hoạch sắp tới Bộ có tổ chức một cuộc diễn tập chống đổ bộ đường biển ở nam quân khu Bốn. Có lẽ chúng tôi sẽ đưa lực lượng vào tham gia diễn tập rồi để lại trong đó chuẩn bị tham gia chiến đấu luôn.
   Tổng Tham mưu trưởng hồ hởi:
   - Ừ! Bố trí thế cũng được.
   Thấy đã gần trưa chủ nhiệm chính trị Thu ý tứ:
   - Dạ! Cũng đã muộn rồi, có lẽ chúng tôi xin phép về để thủ trưởng nghỉ ạ!
   Tổng Tham mưu trưởng cười độ lượng:
   - Hay các cậu ở lại đây mà ăn cơm. Để tớ gọi công vụ nó báo cơm cho.
   Chủ nhiệm chính trị Thu vội đứng dạy:
   - Dạ, thôi ạ! Chúng tôi ở ngay chân dốc mà, chỉ vù một tý là về đến nhà thôi.
   Tổng Tham mưu trưởng đứng dạy bắt tay hai người rồi tiễn ra tận cửa. Ra đến cửa rồi ông còn giữ hai anh em lại và dặn:
   - Nhớ là tuyệt đối giữ bí mật đấy nhé!
   Vừa mới yên vị trên xe chủ nhiệm chính trị Thu đã sôi nổi:
   - Chuyến này lại có công ăn việc làm rồi anh Đào ơi.
   Quyền tư lệnh Đào vẫn điềm đạm:
   - Trước sau gì thì cũng đến lúc thôi- Ngẫm nghĩ một lát ông quay lại- Này, lấn này có lẽ ta cho số T34 xuất quân đi. Dù sao nó cũng đã quá cũ rồi, dẫu có hỏng hết nhưng cũng được đóng góp công lao vào truyền thống của binh chủng. Ông thấy thế nào?
   Chủ nhiệm chính trị Thu gật đầu:
   - Tôi hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên đưa “anh” này đi hành quân đường dài cũng khá mệt mỏi đây.
   Quyền tư lệnh Đào cười nhẹ:
   - Cứ đưa vào được đến nơi an toàn là coi như thắng lợi được năm mươi phần trăm rồi.
   Chủ nhiệm chính trị Thu nghĩ ngợi một lát rồi hạ giọng:
   - Anh Đào này, nếu bọn chúng dùng nhiều xe tăng, thiết giáp như Tổng Tham mưu trưởng nói thì ta cũng phải đưa vào kha khá một chút. Hiện nay ta cũng có cả T54 rồi. Hay là ta cũng đưa vào đó một đơn vị để thử sức xem sao!
   Quyền tư lệnh Đào gật đầu:
   - Tôi cũng nghĩ vậy! Sơ bộ tôi định thế này: trước hết là đề nghị lên trên kéo “xê Chín” ra, sau đó ta sẽ đưa thêm một tiểu đoàn T34, một tiểu đoàn T54 vào. Như vậy cả ba loại xe trong trang bị chính của ta đều có dịp được thể nghiệm, chắc sẽ rút ra được nhiều kinh nghiệm quý.
   Chủ nhiệm chính trị Thu tỏ vẻ phấn khởi:
   - Cá nhân tôi hoàn toàn nhất trí như vậy. Nhưng vấn đề này có lẽ ta phải báo cáo thường vụ đảng ủy để quyết định.
   Quyền tư lệnh Đào gật đầu:
   - Đương nhiên rồi.
   Từ đấy về đến nhà quyền tư lệnh Đào không nói thêm gì nữa. Hình như ông đang suy nghĩ điều gì nung nấu lắm.
   Ngay chiều hôm ấy ban thường vụ đảng ủy binh chủng có cuộc hội ý đột xuất. Sau khi nghe quyền tư lệnh Đào báo cáo lại toàn bộ tình hình và dự kiến của mình thường vụ đảng ủy đã hoàn toàn nhất trí sẽ đưa hai tiểu đoàn vào tham gia diễn tập ở quân khu Bốn rồi ém luôn trong đó. Hội nghị cũng thống nhất biện pháp thực hiện: sẽ phát động một đợt thi đua đột kích với chủ đề “huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, bảo quản trang bị tốt” từ nay đến tháng Tám, qua đó lựa chọn những đơn vị xuất sắc nhất để đưa đi đợt này. Đồng thời giao cho Phòng Tham mưu làm văn bản báo cáo Bộ phê chuẩn về ý định sử dụng xe tăng trong Đông Xuân 70- 71 của binh chủng.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #34 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:54:50 am »

    Không khí thi đua lại một lần nữa sôi sục trong toàn binh chủng. Đi đến đâu cũng thấy khí thế hừng hực, một trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ viết quyết tâm thư xin được đi chiến đấu. Đơn vị nào cũng có phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật và đồ dùng huấn luyện rất sôi nổi. Khối các cơ quan Bộ tư lệnh cũng tất bật chẳng kém. Ngoài việc kiểm tra, theo dõi sát tình hình các đơn vị các cơ quan còn phải tập trung xây dựng kế hoạch bảo đảm cho các đơn vị hành quân và chiến đấu. Mặc dù đã có kinh ngiệm tổ chức đưa một số đơn vị đi chiến trường song đây là lần đầu tiên đưa xe tăng đi với quy mô lớn nhất và chủng loại cũng phong phú hơn, trong đó có hai dòng xe hạng trung, đặc biệt là số T34 đã xuống cấp nhiều. Bên tham mưu thì xây dựng kế hoạch hành quân, liên hệ với các cơ quan, đơn vị liên quan, xác định hệ thống tổ chức chỉ huy và nắm ý định của Bộ trong cuộc diễn tập ở quân khu Bốn sắp tới. Phòng Chính trị thì lo công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, đảm bảo cho bộ đội luôn có ý chí chiến đấu cao trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Bên hậu cần, kỹ thuật cũng khá nặng việc vì phải tính toán bảo đảm cho ba tiểu đoàn hành quân hàng nghìn ki- lô- mét và chiến đấu dài ngày trong chiến trường.
   Kết thúc đợt thi đua, qua sự bình chọn của các trung đoàn và kết quả theo dõi của cơ quan Bộ tư lệnh Hội đồng thi đua Binh chủng đã chọn ra được hai đơn vị tiêu biểu nhất để đưa đi đợt này là tiểu đoàn 3 của H02 và Tiểu đoàn 1 của H03. Bộ Tổng Tham mưu cũng đã có văn bản phê chuẩn kế hoạch của Binh chủng.
   Cuối tháng Tám thường vụ đảng ủy binh chủng họp để xem xét lần cuối mọi công tác chuẩn bị để đưa các đơn vị đi chiến đấu. Gương mặt ba ủy viên đều tươi roi rói, riêng quyền tư lệnh Đào vẫn giữ vẻ mặt ưu tư, lạnh lùng thường nhật. Mở đầu cuộc họp chính ủy Ngọc tuyên bố:
   - Báo cáo các đồng chí! Vừa qua Bộ đã có văn bản trả lời đồng ý với ý định sử dụng xe tăng của ta trong Đông- Xuân này. Kế hoạch bảo đảm của các cơ quan cũng đã được Bộ tư lệnh thông qua. Chúng ta cũng đã kết thúc đợt thi đua đột kích và đã chọn được hai đơn vị xứng đáng nhất đưa vào tham gia chiến đấu cùng với 198 là tiểu đoàn 3 của H02 và tiểu đoàn 1 của H03. Hôm nay thường vụ triệu tập cuộc họp nhằm xem xét lại mọi vấn đề công tác chuẩn bị đưa hai tiểu đoàn này đi chiến đấu. Trước hết đề nghị các đồng chí cho biết còn những khó khăn, trở ngại gì cần phải giải quyết ngay, sau đó ta sẽ bàn cách khắc phục.
   Tham mưu trưởng Dương là người mở đầu:
   - Thưa các đồng chí! Đây là lần đầu tiên chúng ta đưa xe tăng đi chiến trường với quy mô lớn nhất và cũng là lần đầu tiên nhiều chủng loại xe được đưa đi nhất. Tuy nhiên, với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong mấy năm qua công tác chuẩn bị của chúng ta ở cả cơ quan và đơn vị đã được tiến hành khá chu đáo. Theo tôi cái ta cần xem xét lại cho kỹ là vấn đề tổ chức chỉ huy. Phải làm sao cho thật gọn, nhẹ nhưng hiệu quả.
   Chính ủy Ngọc nhẹ nhàng:
   - Đề nghị anh Dương nói cho cụ thể hơn:
   Tham mưu trưởng Dương dường như đã có sự chuẩn bị kỹ từ trước nên ông mở sổ tay ra và tiếp tục một cách lưu loát:
   - Theo tôi, rút kinh nghiệm từ chiến dịch Đường Chín- Khe Sanh và các hoạt động bên Lào thời gian vừa qua ta phải có đại diện xe tăng ở bên cạnh sở chỉ huy các cấp. Vì vậy tôi đề nghị ta phải tổ chức một Bộ tư lệnh tiền phương bên cạnh Bộ chỉ huy chiến dịch. Các trung đoàn H02 và H03 cũng phải tổ chức một sở chỉ huy nhẹ đi theo các tiểu đoàn. Tùy theo yêu cầu từng trận đánh sẽ phái cử một tổ đại diện xuống các trung hoặc sư đoàn bộ binh làm tham mưu cho người chỉ huy binh chủng hợp thành. Có như vậy việc sử dụng xe tăng mới đảm bảo hiệu quả.
   Quyền tư lệnh Đào lạnh lùng buông một câu:
   - Cái này thì rõ rồi. Cứ thế mà làm thôi!
   Có vẻ như mọi người đều nhất trí như vậy nhưng không khí cuộc họp vẫn trầm trầm hình như có một cái gì đó khó nói. Cuối cùng chủ nhiệm chính trị Thu đột phá:
   - Tôi hoàn toàn nhất trí với đồng chí Dương. Tôi cho rằng việc tổ chức các sở chỉ huy nhẹ hiện tại với các trung đoàn thì không khó khăn lắm nhưng ở Bộ tư lệnh thì lại hơi khó khăn. Cụ thể là đồng chí Đào và đồng chí Dương hiện tại sức khỏe đều chưa được tốt, không bảo đảm để đi chiến trường được...
   Quyền tư lệnh Đào tỏ vẻ bực bội:
   - Ai bảo anh là tôi sức khỏe kém.
   Chủ nhiệm chính trị Thu vẫn giữ ý kiến của mình:
   - Xin lỗi anh Đào, tôi nói đúng sự thật khách quan thôi. Anh thì vết thương nặng như thế, nhìn người là biết yếu hay khỏe chứ còn gì nữa. Anh Dương thì rõ rồi, vừa phải trải qua một cuộc đại phẫu, giờ lại đang điều trị theo một chế độ riêng thì làm sao đi chiến trường được. Theo tôi ta nên cử anh Kiệm tham mưu phó đi cũng được, anh ấy cũng đã trải qua thời kỳ chỉ đạo tác chiến bên Lào nên cũng là người có kinh nghiệm. Còn về chính trị xin phép anh Ngọc lần này để tôi đi thay anh, cũng phải có đóng góp một chút chứ.
   Quyền tư lệnh Đào vằn con mắt lành lên:
   - Vấn đề này không phải bàn bạc lôi thôi gì nữa. Về quân sự thì tôi sẽ đi, còn về chính trị thì tùy các anh, ai đi cũng được.
   Thấy tình hình có vẻ căng chính ủy Ngọc dàn hòa:
   - Thôi! Các anh đừng tranh luận nữa. Anh Đào ạ! Anh Thu nói cũng có lý đấy! Mà tôi chắc chắn rằng khi báo cáo lên Bộ cũng không thủ trưởng nào đồng ý cho anh và anh Dương đi đâu- Liếc thấy ông Đào vẫn tỏ vẻ bực bội chính ủy Ngọc tươi cười- Thôi được! Vấn đề này ta sẽ báo cáo lên Bộ cả hai phương án, Bộ quyết thế nào ta chấp hành thế đó. Còn đối với các trung đoàn ta sẽ yêu cầu lập danh sách đưa lên đây sớm để ta phê duyệt. Nào, mời các anh xem còn vấn đề gì nữa không?
   Tham mưu trưởng Dương giơ tay:
   - Tôi xin có ý kiến! Còn một vấn đề nữa là công tác bảo đảm. Rút kinh nghiệm từ việc 198 vào đến trong kia thì không còn khí tài thay thế, đại đội 9 suýt bị liệt tôi đề nghị ta cần chú trọng hơn đến công tác này. Theo tôi ta phải chỉ đạo ngành kỹ thuật tính toán lượng dự trữ cho đầy đủ hơn. Ngay từ bây giờ có thể lót trước trong các kho của 559 các loại khí tài, vật tư hay bị hỏng hóc và các loại dầu mỡ đặc chủng. Đặc biệt là các loại khí tài của T34 vì số xe này đã cũ, lại hay bị hư hỏng. Hết ý kiến!
   Chính ủy Ngọc gật đầu:
   - Vấn đề này sẽ đưa vào nghị quyết. Tôi đề nghị anh Dương sẽ thay mặt thường vụ làm việc thật cụ thể với bên kỹ thuật- Nhìn một lượt các ủy viên thấy có vẻ như không có ai có ý kiến gì ông tiếp- Có lẽ buổi họp hôm nay ta dừng ở đây. Đề nghị anh Dương làm báo cáo về phương án tổ chức chỉ huy của binh chủng để báo cáo lên Bộ càng sớm càng tốt. Mời các anh nghỉ!
   Chợt chủ nhiệm chính trị Thu giơ tay và lên tiếng:
   - Xin các anh vài phút nữa! Đề nghị các anh cho ý kiến về việc đặt tên cho hai tiểu đoàn này. Từ mấy năm nay ta đã thành truyền thống các tiểu đoàn đi độc lập đều được đặt tên mới, vì vậy xin ý kiến các anh luôn về tên hai tiểu đoàn này.
   Quyền tư lệnh Đào thủng thẳng:
   - Thì các ông định thế nào cứ nói ra.
   Thấy chính ủy Ngọc cũng nhìn mình như khuyến khích, chủ nhiệm chính trị Thu mạnh dạn:
   - Thực ra đây cũng mới là suy nghĩ cá nhân của tôi thôi. Theo kế hoạch thì tiểu đoàn 1 của H03 lên đường vào ngày mồng Hai tháng Chín năm 1970 nên ta lấy tên là 297. Còn tiểu đoàn 3 của H02 lên đường sau một ngày nên lấy tên là 397. Các anh thấy thế có được không?
   Tham mưu trưởng Dương gật gù:
   - Chính trị các ông lúc nào chả kín kẽ!
   Thấy các ủy viên có vẻ đồng ý cả nên chính ủy Ngọc đứng dạy:
   - Tôi thấy hai cái tên ấy cũng ý nghĩa đấy. Nếu các đồng chí không ai có ý kiến gì nữa thì xin mời các đồng chí nghỉ.


Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #35 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:56:09 am »

   Đúng ngày Quốc khánh tiểu đoàn 297 làm lễ xuất quân. Một ngày sau tiểu đoàn 397 cũng lên đường. Sau hơn mười ngày hành quân cả hai tiểu đoàn đã có mặt tại nam quân khu Bốn để tham gia diễn tập. Cuộc diễn tập với đề tài “đánh địch đổ bộ đường biển” được tiến hành tại một khu vực có bãi biển tuyệt đẹp, trong đó xe tăng chủ yếu được sử dụng làm lực lượng phản kích đánh địch đột nhập tuyến phòng thủ. Ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ diễn tập hai tiểu đoàn được đưa vào miền tây Quảng Bình, bộ đội được lệnh tuyệt đối giữ bí mật về sự có mặt của xe tăng ở đây.
   Mặc dù chưa có văn bản chính thức của Bộ trả lời về việc ai đi, ai ở nhưng thường vụ đảng ủy binh chủng vẫn quyết định cử chủ nhiệm chính trị Thu cùng một số cán bộ cơ quan Bộ tư lệnh vào trước có nhiệm vụ chỉ đạo trực tiếp các đơn vị và tổ chức trinh sát chuẩn bị chiến trường. Tiễn chủ nhiệm chính trị Thu đi quyền tư lệnh Đào vẫn nói chắc như đinh đóng cột:
   - Anh cứ vào trước chuẩn bị đi! Ít hôm nữa tôi sẽ vào.
   Chủ nhiệm chính trị Thu cũng vui vẻ:
   - Tôi cũng rất mong được gặp anh ở trong ấy- Nói thì nói vậy nhưng ông thầm nghĩ: sức khỏe anh ấy thế kia không đời nào Bộ lại đồng ý cho đi chiến trường nên láy lại- Nhưng anh cũng phải chịu khó ăn uống, tẩm bổ đi cho chóng khỏe.
    Về phía H02 cũng đã tổ chức một sở chỉ huy nhẹ do trung đoàn phó Lê Quang Sỹ phụ trách. Còn sở chỉ huy nhẹ của H03 do đích thân trung đoàn trưởng Lê Quang Ẩm dẫn đầu. Binh chủng cũng đã đề nghị Bộ có ý kiến với B5 điều đại đội 9 từ A Sầu ra trở về đội hình của tiểu đoàn 198.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #36 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:57:06 am »

    Sau khi lùi sâu vào phía nam A Sầu vị trí trú quân của đại đội 9 tương đối ổn định. Mấy cuộc hành quân lấn chiếm A Sầu- A Lưới của Mỹ và quân ngụy Sài Gòn trong mùa mưa 69- 70 đều không đụng đến họ nên lực lượng không bị sứt mẻ gì. Cán bộ, chiến sĩ cũng đã quen với chiến trường nên tổ chức cuộc sống cũng không đến nỗi nào. Tranh thủ thời gian mùa khô họ đã xây dựng được một cơ ngơi khá khang trang: tất cả các hầm xe đều có lán che mưa nắng, hai vệt xích xe được kê cao bằng đá cuội hoặc thân cây. Các hầm người và hầm phục vụ sinh hoạt như hầm họp, hầm bếp đều được củng cố, thành hầm được kè bằng cành cây, có mái che, có ghế ngồi khá đàng hoàng. Xe máy thì thường xuyên được bảo dưỡng nên xe nào xe ấy sạch bong, mỗi tháng nổ máy chống rỉ mười lăm phút nên các thiết bị điện và quang học đều hoạt động tốt. Nhờ tổ chức tốt việc cải thiện nên mặc dù tiêu chuẩn hạn hẹp nhưng chất lượng bữa ăn vẫn được đảm bảo, mỗi bếp còn sấy được vài chục cân măng khô làm thức ăn dự trữ. Sốt rét thì hình như cũng đã quen, sau mùa mưa đầu gần như cả đại đội dính sốt đến nay đã bình phục cả, chỉ còn lác đác vài người. Đại đội cũng thường xuyên tổ chức huấn luyện các khoa mục kỹ chiến thuật binh chủng nên “tay nghề” của các thành viên nay đều rất vững. Nói như Hòa đen thì “mọi thứ đều “tương đối”, chỉ mỗi cái là không biết đến bao giờ mới đánh xuống Huế được thôi”. Mà cũng chẳng hiểu ở đâu ra cái từ “tương đối”, cái gì cũng “tương đối”. Gặp nhau hỏi “có khỏe không?” được trả lời: “tương đối”, “sốt rét có nặng không?” “tương đối”, “cơm ăn có đủ không? “tương đối”, quen cũng vậy mà lạ cũng vậy. Không biết có thật hay không nhưng ai đó kể trong một buổi giao ban khi được yêu cầu báo cáo tình hình, một cán bộ trung đội báo cáo hết sức ngắn gọn: “tình hình trung đội tôi cũng tương đối”...
   Thời gian này tiểu đoàn trưởng Tân đã được điều sang Lào đảm nhiệm chức vụ trung đoàn phó H02, thay anh làm tiểu đoàn trưởng là đại úy Nguyễn Văn Viên. Đại đội trưởng Nghi cũng đã chuyển công tác khác, về làm đại đội trưởng đại đội 9 là Nguyễn Đức Hiến. Nhã cũng đã được đề bạt lên trung đội trưởng. Còn lái xe Cân đã được “thăng chức” kỹ thuật viên đại đội nhưng vẫn ở cùng xe 567.
   Đang là mùa khô nên công tác tiếp vận của 559 tương đối thuận lợi. Nhờ vậy thực phẩm và các loại nhu yếu phẩm không đến nỗi quá thiếu thốn. Mỗi khi rảnh rỗi Hòa đen thường kéo Thắng và mấy cậu tre trẻ nữa ra đường tuyến nhận đồng hương hoặc lặn lội vào bản của đồng bào Pa Cô ở tít sâu trong núi để dân vận. Cũng nhờ đường vận chuyển thông suốt nên anh em trong đại đội đã nhận được những lá thư đầu tiên. Hôm ấy đồng chí giao liên mang đến cho đại đội cả một ba lô thư, anh mệt mỏi phàn nàn nhưng lại cười rõ tươi: “chưa bao giờ một đại đội mà lại lắm thư đến thế!”. Nghe tin có thư cả đại đội ùa đến xúm vào làm chính trị viên Giỏ phải ra tay bắt xếp hàng lần lượt vào nhận. Nhưng vừa mở gói thư được gói kín bằng mấy lần ni- lông ra anh đứng lặng đi, mắt rân rấn nước. Lá thư trên cùng của xấp thư ở mục người nhận được viết bằng thứ chữ rất nắn nót và tô rất đậm: Người nhận Nguyễn Anh Tú, Hòm thư.... Đám đông đang huyên náo trầm hẳn xuống, ai nấy nhận thư xong lẳng lặng đi ra nhường chỗ cho người khác, những lời cười đùa tếu táo bặt hẳn đi, đến như Hòa đen mà cũng im như thóc. Có đến già nửa số thư là thư viết cho họ theo hòm thư cũ ngoài Đường Chín.
   Kíp xe 567 hôm nay có bữa đại tiệc thư. Người nhận nhiều thư nhất là Cân, thư của “cậu tú” chủ yếu là thư bạn học. Cái lớp 10A ngày ấy của Cân quá nửa nam giới đi bộ đội, số còn lại hầu hết vào đại học, trung cấp chuyên nghiệp đến nay cũng đã ra trường. Từ khi chia tay nhau mỗi người một ngả họ vẫn thường xuyên viết thư cho nhau. Học giỏi, thơ hay, tính tình lại nhuần nhụy, dễ mến nên Cân được bạn bè cả nam lẫn nữ quý mến. Vì vậy, từ khi còn ở ngoài Bắc bao giờ Cân cũng là người nhận đwọc thư nhiều nhất của đại đội. Hôm nay, ôm cả đống thư về Cân lại chúi đầu vào cái chỗ quen thuộc của mình trong buồng lái, chắc những lá thư đều mang đến nhiều tin thú vị nên “cậu tú” cứ vừa đọc vừa tủm tỉm cười.
   Thắng thì nhận được gần chục lá thư, cũng chủ yếu là thư bạn. Cậu cứ bô lô, bô la đọc toáng cả lên. “Có gì mà phải giấu”- Cậu bảo thế. Nhưng thật ra Thắng đã giấu biệt mấy lá thư của bố mẹ gửi vào vì xấu hổ. Trong thư bố mẹ cậu vẫn coi cậu như thằng trẻ con vừa mới nứt mắt ra, lo lắng thì toàn lo chuyện không đâu. Đại loại “cơm không biết nấu lấy gì mà ăn”, hay “không biết khâu vá, quần áo mà rách thì lấy gì mà mặc”...
   Nhã nhận được hơn chục lá thư nhưng chỉ của một người gửi: đó là Hiền. Từ chỗ chính trị viên Giỏ về anh lẳng lặng chui vào căn hầm ngủ rồi thắp đèn lên. Xé một loạt phong bì ra Nhã chọn lấy mấy bức thư viết hồi cuối năm 67 đọc trước. Nhưng càng đọc mặt Nhã càng ỉu xìu: vợ chồng anh vẫn chưa có tin vui! Đọc hết một lượt hơn chục lá thư anh quay sang thổi tắt ngọn đèn rồi chắp tay sau gáy nằm thở dài sườn sượt. Tự nhiên, hai dòng nước mắt Nhã ri rỉ chảy ra, anh thầm tự nhủ: “thế này chỉ khổ cho Hiền thôi”.
   Chỉ riêng Hòa là nhận được “nhõn” một bức thư của ông chú. Cầm lá thư Nhã đưa cho Hòa chẳng tỏ thái độ gì. Thực ra, đằng sau cái vỏ tếu táo bên ngoài của Hòa là những uẩn khúc không dễ tâm sự cùng ai. Anh em cùng xe ở với Hòa cũng đã lâu chỉ biết đại loại: Hòa mồ côi bố mẹ từ nhỏ nên phải ở với ông bà và các bác, các chú cho đến khi đi bộ đội. Thực ra họ đâu có biết bố Hòa là liệt sỹ thời chống  Pháp, hy sinh từ khi Hòa mới lọt lòng. Mẹ Hòa còn trẻ nên sau đó đã gửi con lại cho ông bà nội để đi bước nữa. Suốt những năm thơ ấu lúc còn nhỏ Hòa ở với ông bà, ông bà mất thì ở với các bác, các chú. Vất vả, cơ cực đã đành nhưng Hòa vượt qua một cách khá dễ dàng. Với Hòa có lẽ cái thiếu thốn nhất là tình cảm. Khi còn bé thấy chúng bạn có cha, có mẹ Hòa hận mẹ lắm nhưng càng lớn cậu càng hiểu mẹ và thương mẹ hơn. Chính vì vậy chẳng biết tự bao giờ trong cậu đã dần hình thành một suy nghĩ như một lời nguyền: “sẽ không bao giờ để một người phụ nữ vì mình mà rơi vào hoàn cảnh như mẹ”. Chính lời nguyền đó đã làm trái tim Hòa khép lại trước rất nhiều người bạn gái, trong đó có cả cô gái người Xóm Mới là Thu. Hôm nay cũng vậy, Hòa thờ ơ bóc lá thư đọc lướt qua một lượt. Vẫn chỉ là mấy lời thông báo tình hình ở nhà và dặn dò cháu cẩn thận mà thôi. Hòa đút lá thư vào túi áo rồi ra ngoài xe tếu táo với Thắng.
   Những ngày mùa khô vui vẻ, dễ chịu rồi cũng sắp hết. Phía trước họ lại là một mùa mưa. Ở đâu không biết chứ ở chiến trường Tây Thừa Thiên này thì mùa mưa là một thử thách cực kỳ lớn đối với những người lính. Đó là đói. Là rét. Là sốt triền miên. Là mùa “ta thua Mỹ thắng”.v.v... và v.v...
   Nhưng khi những đám mây đen kịt nặng trĩu xuất hiện ngày một nhiều trên bầu trời báo hiệu một mùa mưa khắc nghiệt thì đại đội 9 nhận được lệnh “quay ra đường Chín gấp”. Cả đại đội thở phào nhẹ nhõm, chỉ một ngày sau họ đã lên đường, và chưa đến một tuần sau đại đội 9 đã có mặt tại Bắc đường Chín cùng với người anh em đại đội 3. Mới thế mà đã xa nhau hơn một năm, nay gặp lại nhau mừng vui khôn kể xiết. Niềm vui còn được nhân lên gấp bội khi họ biết được gọi ra đây để chuẩn bị tham gia một chiến dịch “cực kỳ” lớn.
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #37 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:57:59 am »

    Đúng như dự đoán của ta, cuối năm 1970 một kế hoạch hành quân đánh vào tuyến vận tải chiến lược và triệt phá hệ thống kho tàng của ta đã được Bộ Tham mưu liên quân Hoa Kỳ phối hợp với quân ngụy Sài Gòn điều nghiên và xây dựng. Địa bàn được lựa chọn là quân đoàn 1 và Hạ Lào. Mục tiêu của cuộc hành quân là làm chủ đường Chín từ Đông Hà đến Sê Pôn nhằm mục đích ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam và lực lượng cách mạng Lào, Căm Pu Chia. Tất nhiên mục tiêu sâu xa là muốn thay đổi cán cân lực lượng tại miền Nam, đảm bảo cho ngụy quân Sài Gòn có đủ sức mạnh gánh vác trọng trách tiến hành chiến tranh theo lộ trình của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh đã đề ra.
   Tuy nhiên, có một lý do nữa khiến cho Nhà Trắng hết sức quan tâm, hối thúc cuộc hành binh này diễn ra càng sớm càng tốt vì năm 1972 sắp đến là năm bầu cử ở Mỹ. Trong lời hứa khi lên nhậm chức tổng thống Mỹ Ních- xơn đã hứa với các cử tri sẽ sớm kết thúc chiến tranh ở Việt Nam. Nay đã sắp hết nhiệm kỳ thứ nhất, muốn tái cử nhiệm kỳ hai Ních- xơn phải tỏ ra là người biết giữ lời hứa, phải cho cử tri Mỹ thấy tình hình cuộc chiến ở Việt Nam đang rất khả quan, đồng minh đang thắng thế... Một cuộc tiến công qua Lào sẽ làm suy yếu Việt Cộng, làm thay đổi cán cân lực lượng có lợi cho quân đội Sài Gòn và sẽ đảm bảo tiến trình của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.
   Vì tất cả những lý do về chính trị và quân sự kể trên cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 719 đã được tiến hành rất khẩn trương với một lực lượng vô cùng hùng hậu cùng với hỏa lực yểm trợ tối đa của không quân, pháo binh Hoa Kỳ.
   Cuộc hành quân được chia thành bốn giai đoạn. Giai đoạn I mang tên Đi- uy- ca- ni- ơn II do các lực lượng quân đoàn XXIV Hoa Kỳ đảm nhiệm, chỉ huy là Thiếu Tướng Su- ther- land, tư lệnh quân đoàn. Mục tiêu của giai đoạn I là giải tỏa quốc lộ Chín từ Đông Hà tới biên giới Việt- Lào tại Lao Bảo, trong đó chủ yếu là tái chiếm Khe Sanh để thiết lập Bộ Chỉ huy tiền phương cho cuộc hành quân và tái thiết phi trường Khe Sanh làm điểm trung chuyển tiếp vận.
   Từ giai đoạn II đến giai đoạn IV do quân ngụy Sài Gòn đảm nhiệm và mang tên Lam Sơn 719 và do đích thân trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh quân đoàn I ngụy trực tiếp chỉ huy. Theo quy ước của quân lực Việt Nam cộng hòa thì Lam Sơn là các cuộc hành quân trên địa bàn quân đoàn I, cũng như Toàn Thắng là của quân đoàn III, Cửu Long của quân đoàn IV... Còn 71 là năm tiến hành, 9 là khu vực tác chiến tại đường Chín. Lực lượng tham gia cuộc hành quân bao gồm: sư đoàn 1 Bộ Binh, sư đoàn Nhảy Dù, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Ngoài ra, còn có liên đoàn 1 Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh và Thiết Giáp cơ hữu thuộc Quân Ðoàn 1.
   Trong giai đoạn II các lực lượng Việt Nam cộng hòa sẽ tiến quân theo trục lộ Chín đánh chiếm Bản Đông mà trong kế hoạch của chúng có mật danh là A Lưới- một vị trí quan trọng trên đường Chín, cách biên giới Việt Lào chừng 12 ki- lô- mét. Đây chính là nơi giao nhau giữa đường Chín với đường 16A chạy theo hướng Bắc- Nam.
   Giai đoạn III của cuộc hành quân sẽ dùng trực thăng đổ bộ quân dù xuống chiếm Sê- Pôn với mật danh trong kế hoạch là A Sầu, một thị trấn thuộc tỉnh Xa- Van- Na- Khét cách biên giới Việt- Lào chừng 42 ki- lô- mét. Đây là nơi giao nhau của nhiều tuyến đường giao thông quan trọng tại lưu vực sông Sê- Pôn và Cửu Long. Trong khi đó quân thiết kỵ vẫn tiếp tục tiến theo đường Chín và sẽ hợp quân cùng quân dù tại Sê- Pôn để đánh phá hệ thống kho tàng cũng như các căn cứ hậu cần của đối phương tại đó.
   Giai đoạn IV: sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại Sê- Pôn toàn bộ lực lượng sẽ trở về Việt Nam theo hướng Đông- Nam để tiếp tục triệt phá các căn cứ tiếp vận ở thung lũng A Sầu- A Lưới. Dự kiến cuộc hành quân kéo dài trong ba tháng, bắt đầu sau Tết Tân Hợi cho đến đầu tháng Năm, khi mùa mưa đến ở Hạ Lào.
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #38 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:58:48 am »

    Để thực hiện mục tiêu của cuộc hành quân tướng Hoàng Xuân Lãm đã phê chuẩn kế hoạch sử dụng lực lượng như sau: ngoài lực lượng xung kích tiến chiếm Sê- Pôn theo đường Chín sẽ tổ chức lực lượng án ngữ sườn bắc và lực lượng án ngữ sườn nam.
   Lực lượng án ngữ sườn Bắc do liên đoàn 1 Biệt động quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Văn Hiệp, gồm các tiểu đoàn 21, 37 và 39 đảm trách, có nhiệm vụ che chở sườn cực Bắc cho lực lượng xung kích. Bộ chỉ huy liên đoàn 1 Biệt động quân đóng tại Phú Lộc cùng với tiểu đoàn 37. Các tiểu đoàn 39 chiếm mục tiêu Biệt Ðộng Quân Bắc và tiểu đoàn 21 chiếm căn cứ Biệt Ðộng Quân Nam tại cực Bắc khu vực hành quân.
   Lực lượng án ngữ sườn Nam do sư đoàn 1 Bộ Binh đảm nhiệm dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Phạm Văn Phú, đại tá Vũ Văn Giai làm tư lệnh phó, gồm các trung đoàn 1 và 3, có nhiệm vụ tảo thanh mặt Nam đường số 9 để bảo vệ sườn Nam cho thành phần xung kích.
   Lực lượng xung kích gồm toàn bộ sư đoàn Nhảy Dù cùng với lữ đoàn 1 Thiết Kỵ tăng phái. Trung tướng Dư Quốc Ðống, tư lệnh sư đoàn Nhảy Dù chia quân làm 3 thành phần chính sau đây:
   Thành phần yểm trợ mặt Bắc do lữ đoàn 3 Dù gồm có các tiểu đoàn 2, 3 và 6 dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Văn Thọ, có nhiệm vụ thiết lập một số căn cứ hỏa lực sát mặt Bắc đường số 9 để yểm trợ cho lực lượng chính. Sau các căn cứ của Biệt động quân xa hơn về phía Bắc, các căn cứ hỏa lực của lữ đoàn Dù 3 là lớp khiên thứ hai che chở sườn Bắc vì dự tính đa số lực lượng đối phương sẽ được điều động tới từ phía này.
   Thành phần chính do chiến đoàn 1 Ðặc Nhiệm đảm trách, gồm lữ đoàn 1 Dù và lữ đoàn 1 Thiết Kỵ tăng phái, có nhiệm vụ tiến dọc đường số 9 về hướng Tây để chiếm mục tiêu chính là Sê- Pôn. Lữ đoàn 1 Dù gồm các tiểu đoàn 1, 8 và 9 do đại tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy. Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ gồm các thiết đoàn 10, 11 và 17 do đại tá Nguyễn Trọng Luật chỉ huy. Cánh quân hỗn hợp Dù và Thiết Giáp này được đặt dưới quyền chỉ huy của đại tá Nguyễn Trọng Luật.
   Thành phần trù bị do lữ đoàn 2 Nhảy Dù gồm các tiểu đoàn 5, 7 và 11 do đại tá Trần Quốc Lịch chỉ huy có nhiệm vụ đổ bộ bằng trực thăng vào Sê- Pôn khi Chiến đoàn 1 Ðặc Nhiệm khai thông được đường số 9 và tiến gần tới thị trấn mục tiêu này.
   Làm lực lượng trù bị cho cuộc hành quân gồm sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến với các tiểu đoàn Pháo Binh cơ hữu đóng tại Khe Sanh.
   Tổng quân số tham gia cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 719 này lên tới hơn ba vạn quân chủ lực Sài Gòn cùng với một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh: 460 xe tăng, thiết giáp, 250 khẩu pháo, 700 máy bay trong đó có 300 máy bay lên thẳng.
   Nhiệm vụ tiếp vận, yểm trợ cho cuộc hành quân vẫn do quân đoàn XXIV Hoa Kỳ đảm nhiệm. Ngoài ra quân đoàn này có nhiệm vụ bảo vệ an toàn đoạn đường Chín trong lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó chúng còn huy động thêm lực lượng phản động Lào cùng phối hợp hoạt động.
   Ngoài ra, để nghi binh cho cuộc hành quân này chúng còn đẩy mạnh hoạt động tại nam khu phi quân sự. Đồng thời tung một số toán thám báo, biệt kích ra nam quân khu Bốn và điều động một số tàu chiến lảng vảng ngoài khơi phía bắc vĩ tuyến 17 để chi phối sự chú ý của ta.
   Với một kế hoạch được tính toán đến từng chi tiết, với một lực lượng tham gia vô cùng hùng hậu, với sự yểm trợ không hạn chế của không quân, pháo binh Mỹ và sự phối hợp tác chiến của quân đội Hoàng gia Lào, Bộ Tham mưu liên quân Hoa Kỳ và Bộ Tổng Tham mưu ngụy quân Sài Gòn hy vọng sẽ cắt đứt hoàn toàn hệ thống đường tiếp vận của ta. Qua đó làm gián đoạn các hoạt động quân sự tại miền Nam trong vòng hai đến ba năm, ít nhất cũng là qua được kỳ bầu cử tổng thống năm 1972 và chứng tỏ cho cử tri Mỹ thấy sự đúng đắn của “học thuyết Ních- xơn”.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #39 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 09:59:56 am »

    Phán đoán được ý đồ của địch ngay từ cuối năm 1970 ta đã có sự chuẩn bị để đối phó. Quyết tâm của ta là: nắm vững thời cơ, tập trung lực lượng kiên quyết tiêu diệt thật nhiều địch, bảo vệ bằng được đường Hồ Chí Minh. Chuẩn bị sẵn sàng để đánh địch trên các hướng: đường Chín, vùng ba biên giới đồng thời có kế hoạch tác chiến bảo vệ nam quân khu Bốn.
   Để thực hiện quyết tâm này tháng Mười năm 1970 Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn B70 bao gồm ba sư đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng làm lực lượng nòng cốt có nhiệm vụ cùng các lực lượng tại chỗ như B4, B5, 559 tiêu diệt địch. Bộ còn thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương với mật danh B702 do một Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh và một Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị làm chính ủy để trực tiếp chỉ huy tại mặt trận này.
   Lực lượng xe tăng tham gia chiến dịch gồm có tiểu đoàn 198 đã ém sẵn tại Đường Chín từ cuối năm 1967 và các tiểu đoàn 297, 397 vừa được điều vào tham gia diễn tập ở nam quân khu Bốn. Cho đến trước Tết Tân Hợi hai tiểu đoàn này đã tập kết ở Tây Quảng Bình và sẵn sàng chờ lệnh. Bộ tư lệnh thiết giáp đã cử chủ nhiệm chính trị Thu, tham mưu phó Kiệm cùng một số cán bộ vào làm đại diện xe tăng bên cạnh Bộ tư lệnh B702. Bộ tư lệnh chiến dịch chủ trương sử dụng xe tăng tham gia đánh một số trận then chốt ở hướng bắc đường Chín nhằm chặn bước tiến quân địch tại Bản Đông, từ đó đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân và hoàn thành thắng lợi toàn bộ chiến dịch.
   Để tập trung cho bộ đội chuẩn bị chiến đấu tham mưu phó Kiệm bàn với chủ nhiệm chính trị Thu:
   - Sắp Tết đến nơi rồi. Có khi ta phải cho bộ đội ăn Tết trước để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu anh ạ!
   Nhẩm tính thấy chỉ còn hơn tuần nữa là đến Tết Tân Hợi chủ nhiệm chính trị Thu gật đầu:
   - Tôi đồng ý- Ngẫm nghĩ một lát ông tiếp- Ngày kia đã là 23 tháng Chạp, ngày ông Táo lên Trời rồi. Có lẽ ta cho bộ đội ăn Tết luôn vào hôm đó cũng được.
   Tham mưu phó Kiệm cười khà khà:
   - Hôm nào cũng được nhưng theo tôi phải nhanh nhanh lên. Hôm vừa rồi tôi thấy các cụ bàn bạc căng lắm, có khi nó “chơi” mình vào ngay dịp Tết này đấy!
   Trưởng ban tác huấn Phước ngồi bên nói xen vào đầy hoài cảm:
   - Thời gian trôi nhanh thật! Ngày ông Táo lên trời năm kìa chính ủy Ngọc và bọn tôi còn ăn Tết với đại đội 3 ở Cha- ki- phìn. Thế mà vèo một cái hôm nay đã lại ở đây rồi.
   Chủ nhiệm chính trị Thu thì cười:
   - Chắc ông Táo năm nay có khối chuyện để báo cáo Ngọc Hoàng đây.
   Cuối cùng thì quyết định cũng nhanh chóng được thông qua: bộ đội sẽ ăn Tết trước vào ngày 23 tháng Chạp. Thật may đang ở gần hậu phương nên cái Tết cũng không đến nỗi quá đạm bạc. Hậu cần mặt trận cấp hàng Tết có đủ măng, miến, kẹo Hải Châu, rượu Lúa Mới, chè Ba Đình. Đặc biệt nhất là có cả thuốc lá Thăng Long bao bạc. Cầm bao thuốc vàng tươi có in hình Cột Cờ Hà Nội lên mân mê, hít hít, ngửi ngửi mãi mà không dám bóc, tham mưu phó Kiệm thì thầm:
   - Thuốc này ngoài Hà Nội phải cấp tướng mới có mà hút. Đúng là “tất cả cho tiền tuyến” thật.
   Nhưng không chỉ có vậy.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM