Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:27:35 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tảng sáng  (Đọc 45446 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #30 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:45:40 pm »

Thuyền dượng Hương Thư ngủ gà ngủ gật, mãi đến chiều xế mới đến Phú Đa. Tôi và thằng Cù Lao xuống bến hỏi thăm vào nhà dì Cửu Phan. Một con đường đất đỏ đưa đến nhà dì. Chúng tôi dừng trước một ngôi nhà gạch mốc meo như ngôi đình làng. Một con chó gầy nhom nhảy xổ ra sủa. Một người đàn ông đang vê lúa, hỏi sau làn bụi:

- Các chú nhỏ có việc chi?

- Tôi hỏi bà Cửu Phan.

Người đó gọi to:

- Bà Cửu ơi! Có con nít hỏi!

Một bà già nhăn nheo bước ra:

- Ai hỏi?

Tôi bước đến, hai tay đặt lên rốn:

- Tôi xin hỏi bà Cửu Phan.

- Cửu Phan là tôi đây.

Bà già trả lời xong, gọi với vào bên trong:

- Bà Hai ơi! Con nít hỏi bà!

Lại một bà già khác hiện ra. Bà này cũng không kém nhăn nheo hơn bà trước:

- Ai hỏi tôi?

Tôi thưa:

- Tôi hỏi bà Cửu Phan.

- Cửu Phan là tôi đây,

Bà nào cũng xưng mình là Cửu Phan. Tôi không thể tưởng dì tôi lại nhăn nheo đến vậy. Trước đây gặp dì, tôi nhớ loáng thoáng, dì như cô con gái. Không lẽ dì tôi mới đó đã biến thành bà già. Có một tiếng ho. Một ông già hiện ra. Ông già có vẻ quắc thước, khạc nhổ om sòm. Hai bà già nói với ông già có hai đứa con nít đến hỏi bà Cửu Phan. Ông già khịt mạnh:

- Các chú ở đâu?

- Thưa, ở Hoà Phước.

- Con ai?

Tôi khai lí lịch:

- Thưa, Nguyễn Văn Khương, sinh con đầu lòng đặt tên là Côn. Người làng cũng gọi cha tôi là anh Côn. Mẹ tôi tên là Có. Đó là tên quai nôi. Tên kí giấy là Lê Thị Trang.

- Chú bà con với bà Cửu Phan nhà này thế nào?

Tôi cố nhớ những buổi nói chuyện của mẹ:

- Xưa kia, ông cố ngoại của tôi sinh được hai người con trai. Người thứ nhất đẻ ra ông ngoại tôi. Ông ngoại
tôi đẻ ra mẹ tôi. Người con thứ hai đẻ ra một ông con trai. Ông đó đẻ ra dì Cửu Phan.

- Còn tên hai chú?

- Tôi tên là Cục, họ Nguyễn, lót chữ Văn. Nguyễn Văn Cục là tôi.

Tôi chỉ vào thằng Cù Lao:

- Còn thằng này là họ Nguyễn, bà con với tôi về phía nội. Nó tên là Lao lót chữ Cù. Nó ở xứ cù lao Chàm dưới biển Đông, về làng sau cách mạng. Cha nó nhận công tác trong quân giới, phải gởi nó ở với anh Bốn Linh.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #31 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:47:00 pm »

Tôi đánh bạo:

- Dì tôi còn trẻ, xinh đẹp, chớ không phải già khú đế như những bà kia!

Ông già đang cau có thoáng mỉm cười:

- Biết rồi!

Nói xong, ông già biến mất. Một chốc sau, một người đàn bà đầu bù tóc rối, chân tay dính đầy cám lợn hiện ra trước cửa. Tôi không thể đoán người đó bao nhiêu tuổi. Có thể là ba mươi hoặc bốn năm mươi tuổi. Người đó mở to mắt:

- Con chị Tư Trang đó hả?

- Dạ, tôi!

Người đàn bà bước đến một bước, ngồi xuống, lặng im một lúc. Tôi biết đó là dì Cửu. Dì nhìn tôi rồi cúi xuống. Khi ngước lên, nước mắt dì tràn ra. Dì cố nén không để tiếng khóc bật ra, nói ấm ức không rõ lời. Dì hỏi về mẹ tôi. Dì trách mình lâu lắm không về thăm mẹ. Dì thút thít, tủi thân vì cái số cực của mình. Suốt ngày, dì phải quần quật không đi đâu được nửa bước!

Tôi thưa với dì tất cả những việc mẹ tôi và anh Bốn Linh đã dặn. Dì hỏi tôi bao giờ mẹ lên. Dì sẽ dành nhà trên cho mà ở. Ngoài vườn còn có một căn nhà bỏ trống. Gia đình chú Năm Mùi và anh Bốn Linh ở đó rất tiện.

Tôi đi theo dì ra nhà sau. Chuồng lợn xếp thành dãy dài. Dì có nhiều lợn nái. Con nào cũng gầy nhom, da nhăn như mặc áo quá rộng. Chúng vừa đi vừa ịt ịt kéo theo sau một đàn con đen trũi, đuôi cứ ngúc nga ngúc ngắc. Nhà sau ngập ngụa rác rưởi, khác hẳn phía trước, rộng rãi và phong quang, giữa sân còn hòn non bộ. Hàng chè tàu thẳng tắp chạy từ ngõ đến sân được xén rất ngay ngắn. Tôi và thằng Cù Lao ngắm nghía hòn non bộ. Chợt có tiếng kêu la về phía nhà dưới.

Thằng Cù Lao kéo tôi chạy vào. Dì tôi và bà già Hai đã biến thành hai sư tử lông lá dựng đứng chực vồ lấy nhau.

Bà già sùi bọt mép nhảy xổ đến trước mặt dì:

- Đây tao không có chiếu giường!

Dì tôi mặt đổ lửa gầm lên:

- Phải có!

- Đây không tiếp!

- Cứ tiếp!

- Nhà này là nhà của tôi!

- Nhà này là nhà của tôi!

Dì tôi nghiến răng rít từng tiếng một:

- Con này về đây có đủ cheo, cưới! Chẳng khác gì các người! Lớn nhỏ nay như nhau cả. Bình quyền, bình đẳng rồi! Không còn bắt nạt ai được! Hãy coi chừng! Con này vạch mặt cho mà coi!

Bà già cặp mắt trợn trừng:

- Mày vạch ai hở con kia? Phận lẽ mọn phải biết phận lẽ mọn! Mày vạch mặt ai hả?

Bà già xông đến chộp đầu tóc dì tôi. Dì tôi cũng chộp cổ bà già. Hai sư tử vồ nhau, quần nhau, còn khoẻ bằng mười bọn chăn trâu đánh vật. Bà già kêu thất thanh:

- Ông Cửu ơi! Ông Cửu ơi! Con này nó giết tôi rồi! Ông cưng nó, để nó giết tôi rồi!
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #32 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:47:46 pm »

Thằng Cù Lao xông vào ôm chặt bà già kéo ra. Tôi bắt chước xông vào ôm chặt dì kéo ra nơi khác. Ông già lại hiện ra, tay vung chiếc roi mây. Ông quắc mắt, dặng hắng một tiếng to chưa từng thấy. Ông vung roi quất vun vút, những ngọn roi như vậy phải toạc máu ra, rứt từng thớ thịt! Tôi khiếp vía nép sát một bên. Nhưng rất lạ! Ông không quất vào ai cả mà chỉ quất vào cây cột. Cũng rất lạ! Cặp sư tử trở lại lặng im, ngoan ngoãn, thôi không nhảy nhót gào thét nữa. Họ buông nhau ra, lặng lẽ rút lui mỗi người một ngả. Cơn bão táp bỗng chốc lại tan. Chỉ có ông Cửu dằn từng tiếng:

- Không biết giữ thể thống gì cả! Người ta ngó vào còn ăn nói ra sao hử?

*

*   *

Tôi và thằng Cù Lao đón đò xuôi về Hoà Phước, bụng cứ lo lo vì mọi việc không rõ ra sao cả! Dì bảo tản cư lên. Bà già lại chống lại. Ông Cửu Phan chưa có ý kiến dứt khoát. Mẹ tôi rất hoang mang. Chị Ba càng hoang mang hơn nữa. Chị cho chuyến đi của chúng tôi đã hoàn toàn thất bại! Chỉ cần thưa lại một lời với ông Cửu, tôi cũng không làm được! Như vậy chưa thể tản cư lên nhà dì. Mẹ tôi thở ra:

- Tội nghiệp dì! Cũng do cái số! Mình dọn đến, dì thêm khổ!

Gặp chú Năm Mùi, chú đánh giá mọi việc khác hẳn chị Ba. Chú cho tôi và thằng Cù Lao đã thành công hết sức xuất sắc. Bất kì ai cũng không thể làm việc chu đáo như vậy. Chỉ trong hai ngày, tôi và thằng Cù Lao đã biết rõ nhà dì, biết mẹ và chị Ba có thể ở nhà trên, biết có một ngôi nhà bỏ trống, biết sân trước rất rộng. Tài giỏi hơn là chúng tôi nắm được tình hình bên trong gia đình ông Cửu, tính nết của hai bà, địa vị của ông Cửu. Ông Cửu là người có đầy đủ uy lực trong gia đình. Chỉ mới ra oai, quất roi vào cây cột mà các bà vợ đã kinh hoàng phải chịu phép, rút lui lặng lẽ. Như vậy ông Cửu nói gì các bà phải nghe theo tuốt. Dì tôi còn trẻ. Vợ trẻ được chồng cưng, xưa nay đều vậy. Đã cưng vợ thì phải nghe theo vợ. Dì Cửu phải được ông Cửu nghe theo. Dì Cửu đã thuận thì ông Cửu phải thuận. Ông Cửu đã thuận thì có “bà trời” cũng không cãi lại được!

Chú Năm Mùi bảo phải thu xếp đồ đạc để đi tản cư. Cả gia đình ông Cửu Phan đang sẵn sàng đón tiếp.

*

*   *

Mẹ tôi, chị Ba, chị Bốn Linh và thím Năm Mùi đi Phú Đa trước. Tất cả đồ đạc trong nhà, quanh hè, ngoài sân, ngoài chuồng trâu, chuồng gà, ở xó bếp đều được tôi và thằng Cù Lao xốc lên, lôi ra. Cái gì mang đi, cái gì bỏ lại, giấu ở đâu, chôn chỗ nào, phải dọn lại hết. Chị Ba rút sào, quơ hết chiếu chăn quần áo xếp lại. Tôi rúc vào các xó xỉnh lôi ra những hũ mắm, vại cà, chai tương, kéo ra một thùng gỗ chứa toàn những đồ đã bị gỉ, bị sứt, bị long. Những đồ đó vào nhà tôi lúc nào, bị thải ra khi nào, không nhớ nữa. Tất cả đã bị lãng quên, nay được tôi lôi ra để “xét” lại. Tôi tìm thấy một chiếc ấm tích bằng sứ hình quả bí. Màu sứ trong như ngọc, vẽ hoa và chim óng ánh. Tôi giơ cao chiếc ấm. Cả nhà trầm trồ:

- Ờ! Cái ấm, cái ấm!

Có lẽ chiếc ấm này đã từng là niềm tự hào của một gia đình giàu có. Sau đó, chiếc ấm bị sứt ở đầu vào đã rơi vào gia đình tôi, giữa những ấm đất, chén đất như một vị vua bị phế truất sống giữa đám dân đinh, nhưng còn giữ được sự trọng vọng, vì từng có một cuộc sống huy hoàng. Mẹ tôi bảo phải để tất cả lại, chỉ mang theo mấy con dao, một lưỡi búa. Nong nia, cày cuốc, thúng mủng, giường ghế, giỏ trẹc, tất cả những đồ dùng làm tằm phải bỏ lại. Những đồ mang đi được xếp lại, được cột, được nhét vào bị, vào bầu.
Con chó Vàng tưởng có đám giỗ ngoắc đuôi sủa gâu gâu. Chị Ba ôm nó vào lòng chép miệng:

- Tội nghiệp quá! Trên có lệnh giết chó! Thôi mày phải ở lại với ông Bốn Rị, hoá kiếp làm người.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #33 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:48:39 pm »

Nước mắt chị Ba chảy dài. Chị khóc thật sự! Con trâu Bĩnh hoá khó xử. Cả nhà đều muốn nó tản cư theo, nhưng không biết đi bằng cách nào. Chú Năm nói với chị Ba:

- Đưa con trâu Bĩnh đi tản cư, mày tưởng đâu dễ! Đến ở chỗ mới, rồi chuồng trại ra sao đây, cỏ rác như thế nào? Trâu là giống hay nhớ chuồng. Tao giả thử khi nhớ chuồng nó bứt dây mũi, chạy tuốt về đây, vậy thì bỏ mẹ! Chỉ còn một cách là đem nó trả ngay cho ông Phó Xáng, nói như cha mày trong thư vừa rồi, tao cho là phải đem trả ngay.

Chú Năm nhìn thằng Cù Lao:

- Mày với thằng Cục đã đi sứ lên ông Cửu Phan. Mọi việc điều đình đã tốt. Nhưng tao cũng lên đó cái thử…
Chú Năm Mùi nhìn sang tôi:

- Còn mày, ngày mai dậy thật sớm. Chú cháu ta cùng lên Phú Đa, dạo xem phong cảnh cho sướng!

*

*   *

Tôi đang nằm mơ mơ màng màng, bỗng có tiếng gọi:

- Cục! Cục! Cục! Dậy đi!

Tôi mở choàng mắt. Chú Năm đã đứng bên cạnh.

Tôi nói ú ớ:

- Trời chưa sáng mà!

- Ối! Sáng mới ra khỏi nhà vậy còn ra cái chi nữa! Rồi đây phải đi đêm hết cả.

Tôi rướn mình ngáp to, bẻ các ngón tay rắc rắc, cố ngồi dậy. Chung quanh còn tối om. Tôi theo chú Năm
Mùi ra ven Hoà Phước gọi dượng Hương Thư dậy, nhờ lấy xuồng đưa qua sông. Xuồng cập bến, chú Năm xắn quần nhảy xuống trước, tôi nhảy theo sau. Chú Năm reo lên:

- Ối dào! Gió mát quá! Sướng chưa!

Thuyền cập bến. Chú Năm nhảy lên bờ rảo bước. Tôi không hiểu chú Năm đang đi hay đang chạy, vì tôi phải chạy theo mới kịp.

- Đợi tôi với, chú Năm!

- Mày đi như rùa bò! Đi mau cho nó quen.. Cái chi cũng phải luyện mới giỏi được.

Tôi chạy được một lúc lại gọi:

- Mệt quá, đợi tôi, chú Năm ơi!

- Đi quen hết mệt.

Qua hết đường cái, chú Năm chui vào xóm. Tôi vấp vào hàng rào. Chó nổi sủa. Người trong nhà tưởng có trộm nổi đằng hắng rất to. Trời dần sáng, mặt trời ló ra rồi cao dần. Chú Năm càng bước nhanh. Tôi gào to:

- Không chạy được nữa đâu!

Chú Năm quay lại cười hì hì:

- Trâu tơ đi bắt ách cũng giống như mày. Nó vùng lên, muốn bẻ ách. Nhưng có luyện mới cày được đất. Phú Đa kia rồi. Ghé vào quán kiếm cái gì bỏ bụng cái đã!
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #34 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:49:23 pm »

Chú Năm ghé vào quán bên đường, ăn khoai, uống nước. Chú mở bọc lấy ra một chiếc áo dài đen mặc vào, cài cúc cẩn thận, khoan thai tìm vào nhà dì. Vào đến nhà, chú ngỏ ý muốn gặp ông Cửu Phan. Dì ra đón. Dì xin lỗi chú Năm là ông Cửu vừa bị trúng gió độc, không ngồi dậy được. Dì vồn vã mời chú Năm ngồi vào ghế, nói ngay với chú là cả nhà ông Cửu đang đợi. Mọi việc dì đã chuẩn bị sẵn sàng, nhà cửa đã quét dọn sạch sẽ. Bà cả, bà hai cũng đang đợi. Chú Năm trả lời là mọi sự trông đợi đó, chú đều đoán biết. Chú có lên lần này cũng chỉ để thăm bà con một chút cho phải lẽ. Chú Năm hỏi kĩ về tình hình bệnh tật của ông Cửu. Chú tưởng bệnh gì chứ bệnh cảm gió, chú chỉ chích cho ông Cửu vài huyệt là ông Cửu lành ngay. Chú Năm vào gặp ông Cửu, đỡ ông nằm lật lại, chú lấy đèn soi khắp vùng lưng ông Cửu, chú sai tìm một tí mảnh chai, chú đập mảnh chai lấy một mũi nhọn. Chú vuốt mạnh dọc cột sống ông Cửu, chích bốn huyệt sau lưng. Thật là màu nhiệm! Ông Cửu liền nghe hết tức, người thấy khoẻ ra. Cả nhà mừng rỡ tưởng vừa gặp một vị lương y cứu nhân độ thế. Câu chuyện càng trở nên thân mật đậm đà, khác hẳn lần tôi vào thằng Cù Lao đến nhà dì lúc trước, chỉ nghe tiếng roi quất vào cột nhà và tiếng thét la inh ỏi.

Chú Năm tuy rất vội, phải về ngay, nhưng cũng phải ngồi lại nếm cho xong món gà luộc kẹp với bánh đa, sau đó ông Cửu Phan mới chịu để chú quay về Hoà Phước!

*

*   *

Tôi và thằng Cù Lao theo chị Ba, chị Bốn và thím Năm Mùi vừa tản cư lến Phú Đa thì đột ngột chú Năm cũng theo lên. Chú Năm ở lại Phú Đa chỉ hai hôm mọi việc đã được sắp xếp chu đáo. Chú xin bốn thân cau bị ngã. Chú sai tôi và thằng Cù Lao cùng cưa, cùng đục làm thêm giường. Chú lấy lá cau lót làm nệm. Chỉ một cây tre, chú làm cho mỗi gia đình những móc, những ống đựng đũa, đựng thìa. Chú che chỗ tắm, căng dây phơi. Chú cần gì, ông Cửu Phan đưa ra một cách vui vẻ. Chú Năm không chỉ thuộc làu chuyện Lục Vân Tiên, hát bài chòi hay, mà còn là một kĩ sư lành nghề. Chú biến một lọ mực thành cây đèn dầu, biến cái chai thành cây đèn gió… Những tài đó nở rộ khi đi sơ tán. Chú Năm mua những cây củi dài to bằng ngón chân, đóng thành kệ, thành ghế trệt, thành chạn để bát. Chú Năm nhìn vào tôi:

- Hễ mình biết chú ý học tập thì cái khó mấy cũng làm được!

Chú Năm ra chợ, lội quanh vùng Phú Đa một lúc. Khi về chú cho biết ở ngoài bến sông có bán loại cối xay ngô làm bằng đá xanh rất tốt. Chú phải mua một cối xay như vậy. Mẹ tôi, chị Bốn và thím Năm sẽ đi mua ngô hạt đem về phơi thật giòn, xay nhỏ làm gạo ngô, gọi là nghề hàng xáo. Cứ lấy công làm lời, dư được hạt cám càng tốt. Cái cối xay ngô mở ra cách sinh sống cho ba gia đình. Chú Năm bảo chú trằn trọc mãi mới tìm ra cách làm ăn mới đó. Nghề xay ngô hợp với các bà nhất.

Thằng Cù Lao hỏi:

- Thế nghề chi hợp với bọn tôi nhứt?

Chú Năm trả lời ngay:

- Hợp với các chú có nghề lấy củi. Ở đây thiếu củi, phải đi lấy củi trong núi.

Thằng Cù Lao hỏi:

- Người ta bảo con trai phải nhập Vệ quốc đoàn chớ chú?

- Mày nói tao nghe phải! Nhưng phải có lệnh bên trên. Nay trên có lệnh phải giúp việc tản cư, ta phải giúp việc tản cư cho tốt. Nhất hô bá ứng mới thắng được giặc!

Tôi nói lơ lửng:

- Ở đây gần núi có nhiều cọp. Ta đi săn cọp lấy bộ xương làm rượu hổ cốt. Uống rượu hổ cốt sẽ khoẻ như cọp.

Chú Năm cười:

- Ừ! Cũng được! Muốn săn được cọp trước hết phải luyện cách đi rừng. Phải lội rừng cho giỏi cái đã. Đi lấy củi trong rừng cũng là cách tập săn cọp.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #35 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:50:23 pm »

*

*   *

Ở Phú Đa có một số đồng bào đi lấy củi để bán. Tôi và thằng Cù Lao mài lưỡi mác thật bén, chọn một chiếc đòn xóc thật cứng, chẻ những dây lạt thật dài. Có như vậy mới gánh được nhiều củi, bán được nhiều tiền.

Sao mai chưa mọc, cả xóm đã hú hí gọi nhau đi lấy củi. Tôi và thằng Cù Lao mang đòn xóc, cùng theo vào núi Thạch Bàn để lấy củi. Trời còn tối, sao trời như một đàn ong tung khắp phương trời bay đi tìm mật. Tôi và thằng Cù Lao bước thoăn thoắt trên cỏ đẫm sương. Tôi sẽ lấy nhiều củi. Tôi sẽ bán củi lấy nhiều tiền. Uy tín của tôi trước mặt chị Ba sẽ lên ngang hàng với các đội viên tự vệ. Đi được một quãng, trời hé sáng.
Những đồi thoai thoải hiện ra, thấy rõ được cả những chỗ lồi lõm.

Tôi hỏi một người cầm đòn xóc đi phía trước:

- Lấy củi chỗ mô chú?

Chú đó quay lại chỉ về phía trước:

- Kia kìa!

Đi được một chốc, tôi lại hỏi. Vẫn câu trả lời:

- Kia kìa!

Những cánh đồi giăng ra trước mặt để rồi khép lại sau lưng. Một con đường hẹp khúc khuỷu cứ lượn qua lượn lại quanh những đồi trọc. Mãi đến nửa buổi mới đi đến một bãi hoang đầy bụi rậm. Người đi trước quay lại chỉ vào những bụi cây lúp xúp:

- Muốn lấy củi cành thì kia kìa. Muốn lấy củi tấm còn phải đi xa.

Chúng tôi bước vào, đặt đòn xóc, rút mác ra chặt, chặt những cây bằng ngón chân. Chặt xong rong hết cành, bó thành bốn bó. Xong đâu đó, mới mở mo cơm ra ăn. Ăn xong, tôi cởi áo lót vai, kê vai vào gánh. Tôi biết gánh gồng nhưng thường gánh bằng đôi gióng. Nay gánh bằng đòn xóc, bó củi ngang vai cứ lúc lắc. Đường núi khúc khuỷu, khi tuột xuống, khi leo lên, gánh củi càng lắc, vai nghe càng đau. Đến một lúc, nghe đau quá, tôi thả gánh:

- Đau quá! Cù Lao ơi!

Thằng Cù Lao cũng thả gánh:

- Nặng quá! Cục ơi!

Chúng tôi thả gánh, tháo lạt, bỏ bớt củi lại bên đường, tiếp tục gánh đi. Đi được một chốc, gánh củi nặng dần. Đòn xóc càng xiết vào cổ. Tôi lại kêu to:

- Nặng quá Cù Lao ơi!

Thằng Cù Lao lại thả gánh xuống, lại giúp tôi lấy bớt củi ra. Đi được một quãng, gánh củi lại lắc, lại xiết, lại càng nặng. Cái nắng ở vùng đồi núi nghe như lửa. Thằng Cù Lao cũng phải bớt củi đến ba lần. Về phần tôi, đi một quãng lại phải vứt bớt năm mười cành. Hai bó củi của tôi cứ teo dần. Ra đến Phú Đa, bó củi chỉ còn bằng ống chân. Ai gặp cũng cười:

- Củi kiếc chi mà bằng ống thổi lửa rứa?

Mẹ và chị Ba cũng cười. Nhưng có một điều là tha củi về đến nhà, ăn xong, tôi đánh thẳng một giấc. Sáng hôm sau thức dậy, thấy gân cốt khoẻ ra. Một thằng Cục khi đi lấy củi vật ngã mười thằng Cục trước khi đi lấy củi. Tôi và thằng Cù Lao cứ ngày ngày đi lấy củi, gánh củi hoá nhẹ và to dần. Đường cũng bớt khúc khuỷu gập ghềnh. Củi đủ để đun, thỉnh thoảng bán được vài bó. Việc đi củi làm cho chị Ba phải chuyển cách nhìn đối với tôi. Có lúc chị nhìn tôi ngang hàng với trưởng thôn chứ không ít!
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #36 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:51:36 pm »

7

Cả nhà không ai muốn bán trâu Bĩnh. Nhưng rốt cuộc phải bán, vì nó… không nuôi được chúng tôi nữa. Đi tản cư, nó hoá kềnh càng. Cỏ lại hiếm. Mẹ tôi chịu bán giá rẻ nếu người ta mua để làm trâu cày mà không đem về thịt. Chị Ba đã thút thít khi lão mua trâu dắt nó đi. Trâu Bĩnh trì lại không chịu bước… Bán xong trâu Bĩnh, đi đâu tôi không phải lo lắng gì nữa.

Tôi và thằng Cù Lao ở Phú Đa đi Hoà Phước xem như đi chợ. Sau khi gánh được củi từ núi ra, chặng đường Phú Đa – Hoà Phước không còn nghĩa lí gì nữa. Mít ở Phú Đa rẻ, tôi và thằng Cù Lao mang mít về cho anh Bốn, chú Năm. Mắm ở Hoà Phước rẻ, chúng tôi cõng mắm lên cho thím Năm, cho chị Bốn. Chị Bốn dặn:

- Hai đứa nhớ nói với anh Bốn là chị Bốn bị nhức đầu. Anh Bốn phải mua một ve dầu Nhị Thiên gửi lên, nghe chưa?

Thím Năm dặn:

- Nói với chú Năm phải mua cho thím vài ang bắp bột với năm bảy lon đỗ nành để làm tương, nghe chưa?

Chị Ba dặn:

- Mua cho mẹ một chai mắm nước, nhớ chưa? Tiền đây, cột cho kĩ trong lưng quần.

Và cứ thế, mỗi bà chợt nhớ cái gì lại dặn mua dặn tìm cái đó. “À quên! Còn cái này, nhớ chưa?... Nhớ chưa?” Tôi và thằng Cù Lao ra đi với hàng chục nhiệm vụ khác nhau. Lúc về đến Hoà Phước, hàng mắm, hiệu thuốc vắng tanh, làng xóm quạnh hiu, mọi việc không còn như trước. Anh Bốn Linh và chú Năm Mùi lại đi đâu mất, hôm sau mới mò về, râu ria mọc dài trông hoá khác. Anh Bốn vừa gặp tôi liền ra lệnh:

- Hai đứa phải đi ngay Phú Đa. Bảo con Ba nội nhật chiều mai phải có ngay đây.

- Chi nôn vậy anh?

- Lệnh khẩn cấp! Về để họp, để đi chiến đấu! Lại việc này nữa. Cha mày nhắn về bảo mẹ mày phải tản cư
mau lên Bến Dầu. Ở Phú Đa không xong đâu. Giặc sẽ tràn đến đây, ở đây chúng nã đại bác lên tới Phú Đa như chơi. Cha mày nói phải. Ở Bến Dầu có nhiều dâu, có nghề tằm, có dì Hương Chi của mày trên đó. Nên dời mau lên đó.

Chú Năm Mùi ở ngoài bước vào:

- Lên đó là phải. Tôi biết vợ chồng Hương Chi. Lòng họ như biển. Ta nuôi tằm, Hương Chi cũng nuôi tằm. Tiện lắm.

Anh Bốn Linh ra dáng nghĩ ngợi:

- Chà! Phải tin cho mẹ mày và mấy bà trên đó biết. Phải đi xa một chặng nữa, ở Bến Dầu yên như bàn thạch. Nay mai tôi phải đi Phú Đa cái đã.

Chú Năm Mùi vẻ sửng sốt:

- Nay mai chi nữa! Giặc đến bên lưng, chần chừ đâu được anh Bốn! Phải tính gấp chớ! Như thế này mới kịp: Thằng Cù Lao và thằng Cục phải đi ngay lên Phú Đa. Một là để cho chị Ba nó biết phải về gấp để họp. Hai là nói cho mẹ thằng Cục biết ý kiến của cha nó, là phải tản cư mau lên Bến Dầu. Sau đó hai đứa ở Phú Đa cứ đi thẳng lên Bến Dầu, phải tin trước cho dì Năm Chi nó biết để kịp lo liệu. Giữ được chỗ trước vẫn hơn!

Chú Năm Mùi nhìn sang tôi, sờ vào râu mép:

- Chi chớ đi Bến Dầu, thằng Cục và thằng Cù Lao coi như đi chơi! Lần trước đi Phú Đa khó khăn biết mấy, chúng làm tốt như trời!
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #37 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:52:22 pm »

Chú Năm Mùi đã khen chúng tôi đến vậy, làm sao có thể không đi Bến Dầu!

Anh Bốn Linh cho chú Năm nói rất phải.

Chú Năm nhìn ra ngoài trời:

- Hai chú phải đi ngay.

Tôi ngần ngại:

- Trời xế rồi chú!

- Đi đêm được rồi, sợ chi trời xế! Lần này có bịt mắt Cục cũng lên được Phú Đa. Đi ngay cho kịp!

Tôi và thằng Cù Lao ăn xong vài miếng, thằng Cù Lao xách nón ra đò, tôi xách nón chạy theo. Tôi và thằng Cù Lao đi hoả tốc. Đến Phú Đa vào lúc đỏ đèn, chúng tôi ập vào nhà như một cơn lốc, nổ súng ngay:

- Gấp lắm! Gấp lắm! Giặc đã đến bên lưng, đến Tuý Loan rồi! Nội chiều mai chị Ba phải có mặt ở Hoà Phước để đi… chiến đấu. Lệnh khẩn cấp, không được trễ.

Tin giặc đến Tuý Loan đã đánh động cả nhà. Giặc còn ở Phước Tường, có nghĩa là giặc còn ở đâu trên núi, rất xa. Nay giặc đánh đến Tuý Loan, ai cũng tưởng giặc đã bên nách. Vì Tuý Loan có chợ, có đò, Tuý Loan nghe rất quen thuộc. Trong lúc cả nhà hỏi đi hỏi lại có thật địch đã đến Tuý Loan không thì tôi thả thêm một quả lựu đạn, sức nổ không kém, là cha tôi có nhắn về bảo tất cả phải tản cư ngay lên Bến Dầu. Vì địch sẽ nã đại bác lên Phú Đa. Đã là đại bác thì tất cả đều tan hoang. Chỉ có Bến Dầu mới yên ổn. Như vậy cha tôi, anh Bốn Linh, chú Năm Mùi mới yên tâm được! Phải lên ngay nhà dì Năm Chi. Dì dượng lòng rộng như biển. Chị Ba sáng sớm phải xuống Hoà Phước. Còn tôi và thằng Cù Lao phải lên ngay Bến Dầu, “đi sứ” lên chỗ dì Năm Chi điều đình chỗ ở.

Những tin của tôi làm mọi người bật dậy. Ai cũng muốn hỏi thêm việc này việc nọ. Cả nhà xôn xao tưởng giặc đã kéo vào Phú Đa vậy.

*

*   *

Tôi và thằng Cù Lao quá giang thuyền chở mắm lên nguồn để đi Bến Dầu. Thuyền bò dọc sông được một lúc lại phải cắm sào nghỉ xả hơi lấy sức vượt thác. Con sông Thu Bồn ở đoạn trên này tính nết khác hẳn. Nó không khoan thai, hiền lành như tôi thường thấy ở Hoà Phước. Nó vung vẩy, nhảy nhót, chốc chốc chơi trò nhào lộn. Những con sóng lực lưỡng quất thẳng cánh vào vách đá dựng ngược. Chúng nhảy chồm chồm tung bọt, gào rống rồi kéo nhau vụt chạy. Cảnh tượng như ở một thế giới nào lạ. Sông Thu Bồn tả xung hữu đột ra khỏi Phường Rạch mới thở phào, xả hơi, bước những bước khoan thai, lượn giữa những ngàn dâu xanh xuống Hoà Phước, dang đôi tay ôm vào lòng vùng Gò Nổi. Tôi và thằng Cù Lao xuống Bến Dầu, vốc nước sông uống thoả thích. Nước ngọt như nước mía. Bến Dầu ở giữa núi nhưng bãi dâu khá rộng. Tôi hỏi thăm vào nhà dì Năm Chi. Đường vào xóm là một lối mòn, cỏ ngập đến gối. Nhà dì giống như một tổ chim làm giữa cây cối um tùm. Một hàng rào vây quanh, mọc toàn các thứ cây có gai nhọn. Một con đường nhỏ quanh queo trong vườn dẫn đến một sân đất. Nhà trên, nhà dưới toàn bằng tranh. Vách nhà ghép bằng tre tấm. Chum vại, nồi niêu, cày bừa, quang gánh nằm lăn lóc dưới gốc mít, gốc chuối, gốc ổi lộn xộn. Một con chó vện mắt lim dim nằm gác mõm lên lưỡi cuốc, bật dậy nổi sủa. Một bà trạc bốn mươi tuổi, khoẻ mạnh, hồng hào, tay cầm chiếc đũa bếp chạy ra. Tôi đoán đó là dì Năm Chi. Hai đứa bé tí xíu từ trong nhà vụt theo níu chân mẹ, nhìn thằng Cù Lao vẻ lấm lét. Người đàn bà huơ chiếc đũa bêp xua chó.

Tôi bước đến vòng tay thưa:

- Thưa dì, chúng tôi ở Hoà Phước lên.

- Chớ các em con ai?

- Tôi là con của Tư Trang. Thằng này là con ông Hai Quân, bà con với tôi về phía nội.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #38 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:53:01 pm »

Hai tiếng Tư Trang như có mãnh lực làm dì sững sờ một lúc. Dì ú ớ rồi kêu lên:

- Trời ơi! Con chị Tư Trang đây hở? Chớ cháu lên đây bao giờ ?

- Dạ, mới lên!

Dì bước lên ngồi thụp xuống đất, kéo tôi lại gần. Dì nhìn sát vào mặt, lại đẩy tôi ra để nhìn cho rõ hơn, lại kéo tôi sát gần lại. Sau ba lần đẩy ra kéo vào như vậy, dì mỉm cười:

- Con của Tư Trang giống mẹ như tạc!

Dì buông tôi ra, gọi to:

- Chúng bay ơi! Vào hết đây tao bảo!

Từ quanh nhà một lũ trẻ ùa vào. Có đến sáu đứa. Đứa nào mặt mày cũng nhem nhuốc, mũi dãi thò lò. Thấy tôi, chúng dừng lại. Dì giới thiệu:

- Anh của chúng mày đó!

Chúng đứng thành một hàng, mắt tròn vo nhìn tôi từ đầu đến chân. Hết nhìn tôi lại nhìn thằng Cù Lao. Chợt một đứa vụt chạy, vừa chạy vừa nhại lại dì: Anh, anh của chúng mày đó! Nhại xong, nổi cười toe toét. Tất cả bắt chước nổi cười. Tôi đi ngay vào vấn đề. Tôi thưa với dì việc mẹ cùng chị Bốn và thím Năm
Mùi muốn tản cư lên trên này. Sự vui sướng của dì tràn ra khắp mặt, khắp mũi. Dì hể hả, nói rối rít:

- Phải rồi! Đúng rồi! Tránh giặc phải lên đây. Lên đây cho có chị có em. Phải rồi! Nói với mẹ là dì bảo phải lên ngay. Dì nhường hết chỗ cho mẹ ở. Nhà trên đó! Nhà dưới đó! Ở mấy cho hết. Đám cạn có. Đám sâu cũng có. Trâu heo cũng có. Trên này làm ăn dễ lắm!

Chợt sực nhớ đến mẹ, dì vội vàng:

- À, chớ còn mẹ ra sao?

Dì trách núi non hiểm trở, đã lâu không gặp được mẹ. Dì hỏi tất cả, từ việc lớn đến việc nhỏ. Mẹ đang làm gì, có già đi không? Năm nay, làm ăn ra sao? Mía được mấy mẫu, mấy sào? Có được mấy trâu, mấy lợn, mấy nồi đồng mâm thau? Mẹ có bệnh đau bụng, nay ra sao? Uống thuốc gì? Cắt thuốc nơi đâu? Có yếu lắm không? Đi đâu đã chống gậy chưa? Hệt như một cơn mưa tháng mười ở Hoà Phước, hễ đã mưa thì mưa thật sự, mưa suốt buổi… Chị Ba đã dặn tôi, nếu ai hỏi gì phải trả lời cho rõ, không được nói không biết. Tôi phải nhớ, phải tìm, phải nói những chữ đại để như: có thể, tuồng như, nghe đâu… để trả lời cho kịp. Trong lúc đó dượng Hương Chi ở ngoài đồng về.

Tôi và thằng Cù Lao đứng lên vòng tay chào. Dượng chỉ thoáng gật đầu. Vẻ lạnh lùng, dượng đi thẳng xuống nhà bếp, rút thuốc lá khô trên giàn, đem hơ lên ông táo rồi vấn hút. Rút kinh nghiệm lần trước lên Phú Đa, thằng Cù Lao nhắc tôi nhớ thưa với chủ nhà. Tôi lấy hết can đảm thưa với dượng việc ba gia đình muốn xin tản cư. Dì chen nói trước. Dượng nghe xong “ừ” một tiếng, làm như đó là việc tất nhiên, việc dượng đã biết trước.

Dượng hút thuốc xong, bước ra sân vớ chiếc cuốc vác lên vai, yên lặng đi ra ngõ.

Dì chạy vào bếp, thổi tro bay mù mịt, ho lẹc khẹc. Dì nhóm bếp, thổi lửa, vừa hỏi chuyện vừa nấu cơm. Dượng lại về. Dượng vác về một vác sắn, củ to vặn vẹo, cây lá còn nguyên. Dượng vứt sắn xuống sân:

- Nấu cho chúng ăn một bữa!

Dì nhìn chúng tôi:

- Dượng nhổ sắn về đãi đó.

Tôi và thằng Cù Lao chưa bao giờ ăn sắn được nhiều và ngon như hôm đó. Tôi ở lại nhà dì đến chiều hôm sau để nghe dì hỏi và để trả lời những câu hỏi của dì.
Logged
the_samsara
Thành viên
*
Bài viết: 1017



« Trả lời #39 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2011, 08:57:13 pm »

Thuyền về xuôi không ghé Bến Dầu. Dượng Hương Chi thân hành đưa tôi lên bến Trung Phước. Dượng tìm thuyền trên đó, xin cho tôi xuôi Phú Đa. Mẹ tôi, chị Bốn và gia đình thím Năm chuẩn bị đi một khúc nữa lên Bến Dầu. Họ gửi lại một số đồ đạc ở Phú Đa. Lại phải xếp, phải gói, phải cột, phải gánh ra bến sông.
Thuyền đi Bến Dầu nhổ sào. chúng tôi quay về Hoà Phước.

*

*   *

Tôi và thằng Cù Lao phải gặp ngay ông Bảy Hoá để giúp ông làm một công tác đặc biệt của đội giao. Chú Năm Mùi nói đây là một công việc ít ai làm được, và chỉ có tôi và thằng Cù Lao được biết mà thôi.

- Việc chi hở chú?

- Đó, lại hỏi! Tao đã dặn phải hết sức giữ mồm. Giặc đến, chúng lấy đầu bọn bay đó! Việc mày mày biết, Việc tổ nào tổ ấy biết. Việc toàn đội chỉ đội trưởng và mình tao biết. Nhớ vậy thôi.

Tôi và thằng Cù Lao đến gặp ông Bảy Hoá. Ông Bảy Hoá đã cạo bộ râu dài, nay ông Bảy lại để râu. Ông Bảy đang loay hoay mài mực tàu, pha đủ các loại phẩm tím, xanh, đỏ, vàng. Loại nào cũng đầy bát.

- Đến vẽ đó hả? Chúng bay tay học trò, mềm mại, vẽ được đó!

Ông Bảy vừa nói vừa tháo một cuộn giấy to, đem căng rộng trên ván:

- Tao phải phác ra vài nét cái đã.

- Vẽ chi ông Bảy?

- Rồi sẽ biết.

Ông Bảy ngồi chồm hổm cầm bút vẽ nguệch ngoạc một lúc. Ông vừa vẽ vừa nghĩ ngợi. Thỉnh thoảng, ông đứng lên nhìn nhìn, lại ngồi xuống vẽ thêm vài nét. Vẽ bằng bút chì xong, ông Bảy lấy mực tàu kẻ lại.

Thằng Cù Lao kêu to:

- Ông Bảy vẽ ta đánh giặc!

Ông Bảy kẻ một vành tròn. Trong vành ông Bảy vẽ thêm ba cái lỗ, hai cái to bằng nhau, một cái ở phía dưới thật to, méo xệch. Ông thêm vài nét. Tôi phân biệt được đó là cặp mặt và cái mồm. Ông Bảy kẻ lỗ mũi, vẽ tóc dựng ngược, vẽ thêm hai tay hai chân co quắp. Ông Bảy đứng lên, nheo mắt ngắm nghía. Ông vẽ thêm một người thứ hai. Người này có mõm dài, có đôi tai cao quá đầu, lỗ miệng lỗ mũi quá cỡ, rất kì dị.
Ông Bảy Hoá vẽ thêm những tay chân đầy lông lá. Người này đè lên người kia. Bất giác tôi reo lên:

- Tranh Thập điện Diêm Vương!

Rõ ràng ông Bảy đang vẽ một quỷ sứ của Diêm Vương cắt lưỡi một người phạm tội nói láo. Tôi reo quá to làm ông Bảy giật thót như vừa thấy quỷ Diêm Vương xuất hiện.
- Vẽ chi thứ đó ông Bảy? Ông đốt tranh Thập điện, thôi làm thầy chùa rồi mà!

- Ừ! Tao đã đệ đơn từ chức lên Phật tổ, đi chơi cho sướng! Nay Phật bắt làm lại. Tao phải đặt lại bàn thờ,
thờ chư vị Thập điện Diêm Vương!

- Đó là mê tín. Ông bảo phải bỏ mê tín. Vì…

- Hiểu rồi! Hiểu hết rồi! Cứ vẽ đi cái đã! Thằng Cù Lao bôi xanh cặp mắt này cho tao, thằng Cục phết đỏ cái lưỡi này cho tao. Lưỡi bị cắt nhất định máu phải trào ra! Bôi đỏ nhiều vào!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM