Thầy Lê Hảo reo to:
- Quân ta xung phong rồi!
Đạn đại bác từ đồn Giao Thuỷ câu xuống, từ Ái Nghĩa bắn vào. Đạn bay vèo vèo như tiếng rú ma quỷ. Những đường đạn như những rắn lửa sáng rực chồng chéo, thọc xuống bãi dâu, nổ “đoàng” lại biến mất. Moi vật đều dần trở lại im lặng. Tất cả nín thở. Dọc Hoà Phước một vài ánh lửa chạy dồn về phía lô-cốt. Lô-cốt im lìm. Có tiếng reo hò từ bên kia sông. Tiếng reo hò rõ dần. Ông Bảy ra lệnh:
- Qua đò anh em ơi! Qua đò đưa thương binh về trạm!
Ông Bảy nhảy khỏi hầm. Chúng tôi vạch bụi lôi ra một chiếc xuồng, đẩy xuồng xuống nước, chèo gấp qua sông. Trong ánh đèn chập choạng, bến Hoà Phước rộn rịp khác thường. Một toán lính giặc bị áp tải cố trèo lên một chiếc đò đã chờ sẵn. Tôi thoáng thấy anh Bảy Hoành và chú Tám cầm súng nhảy lên theo. Một chiếc cáng thương vừa ra đến bến. Có tiếng ông Kiểm Lài đang khiêng cáng hỏi to:
- Đò thương binh đâu ?
- Có đây! Có đây!
Nhiều xuồng đã đến trước, đã chờ sẵn. Có tiếng thằng Cù Lao gọi tôi, nhưng rồi biến mất. Tiếng anh Bốn Linh gọi ông Bảy rất gấp đi chặn viện. Đã có ông Tư Đàm thế chân ông Bảy. Từ chỗ lô-cốt, tiếng reo hò, tiếng kêu gọi vang động khắp xóm làng. Đồng bào đang xông vào đập tan lô-cốt. Có bóng bà Bảy Đá chạy ra chạy vào chuyển vũ khí… Tôi toan nhảy lên bờ, nhưng ông Tư Đàm đã gọi lại, xuồng phải rời bến gấp. Xuồng ra đến giữa sông, trời bắt đầu sáng. Tôi quay nhìn lại Hoà Phước. Bãi sông, bến nước, cây sung hiện ra mỗi lúc càng rõ nét. Bóng dáng cái lô-cốt đã mất. Cái lô-cốt quái dị sống ở Hoà Phước được mười tám tháng. Lễ khai tử của nó như vậy vừa làm xong. Đây cũng chỉ là lễ giáo đầu, một quả đấm đầu tay vào bọn giặc, vì bà con Hoà Phước cùng đồng bào toàn quốc còn phải đánh giặc suốt hai mươi năm sau này nữa.
Tôi nhìn ra xa. Mưa tạnh! Quê nội thương yêu dần dần hiện ra rực rỡ! Sông Thu Bồn vẫn long lanh. Núi Phước Tường, dãy Cu Đê, núi Cà Tang, hòn Đền hiện lên thành một dãy dài như những anh em bá vai nhau đi về một phía. Sông với núi với bãi dâu cồn cát càng thấy rõ nét, như sít gần nhau lại.
Hết