vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #30 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 02:57:32 pm » |
|
Người chưa kịp giải bài toán GaLoa Tác giả : Hoàng Nghị
Tôi ngồi miên man chìm trong tột cùng nỗi nhớ, nỗi nhớ bạn bè, nhớ về một thời chinh chiến. Tĩnh nằm đây, mãi mãi tuổi 21, chưa một lần yêu, chưa kịp giải hết các bài toán của GaLoa... Tôi đến cổng nghĩa trang Trường Sơn trời đã ngả về chiều. Chị quản trang có nét mặt buồn buồn, nước da sạm màu nắng gió miền Trung, tận tình chỉ dẫn tôi tới mộ Tĩnh. Tôi thắp nén nhang, châm một điếu thuốc cắm lên phần mộ. Gió Trường Sơn thổi về se lạnh, đốm nhang lập lòa quấn khói quanh tấm bia, nghĩa trang bao la yên lặng chỉ nghe tiếng lá rừng xao xác, tiếng rì rào mơ hồ như vọng về từ cõi hư vô. Tĩnh nằm đây, giữa mười ngàn đồng đội, phần mộ nằm giữa những hàng lối thẳng tắp, như quân cờ trên một bàn cờ.
Tôi ngồi miên man chìm trong tột cùng nỗi nhớ, nỗi nhớ bạn bè, nhớ về một thời chinh chiến. Tĩnh nằm đây, mãi mãi tuổi 21, chưa một lần yêu, chưa kịp giải hết các bài toán của GaLoa...
Năm học nào cũng bắt đầu bằng mùa thu. Mùa thu ở Thanh Sơn đẹp kỳ lạ. Con sông Bứa chạy sát trường, ôm gọn phố Vàng rồi xuôi đổ về sông Hồng. Nước sông mùa này cạn, trong vắt, nhìn thấy từng hạt cát vàng óng ánh lẫn trong sỏi cuội. Con sông miền núi nào đáy cũng thường đầy sỏi, sỏi hai ven bờ, sỏi tràn kín bãi giữa. Mùa thu là mùa gọi tình của muôn loài, nhất là loài chim. Rừng núi Thanh Sơn nhiều chim, nhất là chim gáy. Những con gáy đực cổ đeo cườm chiều chiều đối nhau gọi bạn, tiếng nghe êm đềm da diết gợi trong ta những hoài niệm xa vắng. Cho đến bây giờ dù đã qua thời trai trẻ nhưng mỗi khi nghe tiếng chim gáy trong tôi vẫn dâng dâng một nỗi nhớ mơ hồ...
Dạo ấy, tôi đang học lớp 8B trường Thanh Sơn. Trong tốp từ Yên Sơn về có đến mấy thằng ở Hà Nội lên sơ tán, đứa nào cũng sáng sủa, cao ráo, còn lại dăm đứa là người Hà Nam lên khai hoang. Mấy xã Yên Lương, Yên Sơn ở mút đầu của huyện, giáp tỉnh Hòa Bình nên tất cả đều ở ký túc. Bọn nó gom thành một hội, nghịch nhất lớp, rất hay gạ những nhóm khác đánh nhau, cứ ra chơi là kéo nhau sang lớp 8A trêu chọc bọn con gái. Trong bọn ấy có một đứa vẻ ngoài không có gì ấn tượng là Tĩnh. Mặt xương xương, tóc mỏng, người khô gầy như cây mới trồng thiếu nước. Nó luôn mặc bộ đồ đen, chiếc quần ta ống thùng thình, áo thì xẻ tà có hai túi vuông ở đưới, cái màu đen từ thuốc nhuộm thủ công dùng lâu ngày nên đã phai bạc. Tính tôi vốn không thích nhộn nhạo, nên mỗi khi thấy nó a dua, a tòng cùng bọn kia trêu chòng, chọc ghẹo những đứa khác thì rất khó chịu. Phải thú thực là tôi không ưa nó.
Sau một thời gian học, chúng tôi đến kỳ kiểm tra các môn. Hôm ấy, cả lớp ngồi đợi trả bài kiểm tra một tiết môn địa. Thầy dạy địa lý là thày Kiếm, cũng còn trẻ, người dong dỏng cao, trắng trẻo. Thầy đọc tên từng đứa cùng số điểm được chấm, đọc được già nửa lớp bỗng thầy ngừng lại, nhìn chăm chăm vào một bài rồi đột ngột ngẩng đầu lên gọi:
- Cậu nào là Tĩnh. Nguyễn Đình Tĩnh, đứng lên!
Cả lớp quay xuống bàn cuối cùng nhìn đứa tên Tĩnh vừa bị thầy gọi. Nó đứng dậy, vừa cài khuy cổ vừa nháy mắt làm trò với mấy đứa ngồi cạnh. Thầy Kiếm chắp tay sau lưng, đi xuống giữa lớp rồi dừng lại giọng châm biếm:
- Bài của cậu đáng được điểm 5 (thang điểm Liên Xô), nhưng tôi “chiếu cố” cho cậu 1 điểm.
-Thưa thầy, tại sao ạ?
- Đấy là điểm tôi cho vì cái “công” của cậu đã chép được kín 4 trang giấy. Lần sau còn “quay” bài kiểu này thì không có điểm nào nữa đâu.
- Em không “quay” - nó cãi - bài do em tự làm.
Thầy nheo nheo mắt nhìn thằng học trò mới lớn:
- Cậu lên bảng, trình bày lại bài làm cho cả lớp nghe.
Đề kiểm tra hôm ấy hỏi về địa lý các nước Nam Mỹ, những điều kiện phát triển kinh tế từng nước. Nó lên bảng vẻ rất tự tin, tay cầm phấn, tay cầm khăn lau vừa nói vừa viết. Đến nước nào nó ghi tên lên bảng nước đó cùng tên thủ đô, dân số, diện tích lãnh thổ. Nó say sưa nói về dãy Andes, thao thao bất tuyệt về con sông Amazon, tại sao cấu tạo địa lý Trung Mỹ lại có nhiều mỏ dầu hơn Nam Mỹ... hình như trình bày miệng thế này nó còn được thể hiện kiến thức hơn cả làm bài trên giấy. Đến khi nó so sánh chiều dài bờ biển giữa Braxin và Achentina cùng sự khác biệt về động vật biển của hai nước thì thầy ra hiệu cho nó dừng lại. Cả lớp im phăng phắc nhìn lên bẳng, dõi theo nó như đang xem một bộ phim trinh thám. Những con số, những nét chữ viết bằng phấn trên bảng trơn và vẫn phóng khoáng thẳng băng như viết trên dòng kẻ. Thầy cho nó về chỗ rồi trầm ngâm ngồi giở lại bài kiểm tra để trên bàn. Không thể tin được, một đứa học trò miền núi trong điều kiện không có gì nhiều về sách báo, tài liệu mà nói về một châu lục xa lạ cứ vanh vách như tả cái xóm nó ở. Trong thầy nhiều cảm xúc đan xen, cái thông minh khác biệt cùng bộ dạng nhởn nhơ ngạo mạn ấy như dự báo điều gì trong linh cảm của thầy.
Một năm học mới lại đến, lớp tôi bây giờ là 9B, vẫn như thế, toàn con trai, toàn người Kinh, có khác là sau một năm đứa nào cũng phổng phao hơn đôi chút, nhiều đứa đã ăn diện, làm dáng nhưng phá phách nghịch ngợm thì còn tai quái hơn trước. Thầy Bùi Ngọc vẫn chủ nhiệm lớp tôi, khi chỉ định cán bộ lớp thầy có vẻ rất đắn đo. Thằng Tĩnh không làm lớp trưởng hay lớp phó mà làm trưởng ban cán sự toán, ngoài ra ban Toán còn tôi và Nguyễn Thế.
Nguyễn Thế có bố là giám đốc một lâm trường của huyện. Nhà nó khá giả nên trông nó lúc nào cũng bảnh bao. So với bạn bè cùng lứa thì nó béo tốt, đẹp trai hơn cả. Nó cũng giỏi toán, đeo kính cận từ cấp2; đứa nào cận cũng đều có dáng trí thức, nó cũng vậy, nhất là mùa rét nó quàng khăn phula xanh, áo bông cổ lông, đi học bằng xe favorit, bọn con gái lớp A nhiều đứa mê mệt vì nó. Thằng Thế không hay đầu têu như thằng Tĩnh nhưng nghịch ngầm, nó giống những đứa nhanh lớn khác: khôn sớm, yêu sớm. Bên 9A có cái Nhung, quê Hà Đông, nhà bố mẹ làm nghề may nên quần áo lúc nào cũng xúng xính. Nó đẹp thuộc diện nhất trường, nhiều đứa lớp tôi sang mon men nhưng chỉ có thằng Thế là thành công. Thằng Tĩnh không ưa thằng Thế, không hiểu sao hai thằng rất hay chạnh chọe.
Dạy toán cả hai lớp là thày Hải. Thầy nhỏ người, còn trẻ, chưa vợ, rất hay làm dáng. Mỗi khi có giờ toán là bọn lớp A rất sợ, nhất là bọn con gái. Có lần thầy vào lớp A, đi lên, đi xuống, nhìn từng đứa rồi chỉ vào cái Nhung bắt lên bảng chữa bài tập về nhà. Nó loay hoay một hồi không làm được, mặt cúi gằm, tay vân về vạt áo. Thầy nheo nheo mắt nhìn nó rồi kéo dài giọng:
- Xin được hỏi “quý cô” quê ở đâu ta?
Cả lớp không đứa nào dám cười thành tiếng, chỉ lấy tay bụm miệng rúc rích.
- Xin mời “quý cô” về chỗ, 0 điểm.
Nhưng khi sang lớp chúng tôi thì khác hẳn. Thầy giảng rất say sưa, rất hay, kiến thức rộng và điều đặc biệt là thày có niềm đam mê với toán học. Một hôm thày giải một phương trình lượng giác. Đây là một bài ngoài giáo trình thầy cho chúng tôi làm thêm để khuyến khích ai yêu môn toán thì cùng làm. Thầy giải xong cách thứ nhất thì đóng khung nghiệm số trên bảng. Thầy giải sang cách thứ hai, cái hay của lượng giác là sự biến ảo, thày chuyển từ tag sang cotag, từ sin sang cosin, đảo vế trái sang vế phải... chúng tôi chăm chú vừa nghe vừa chép liên tục, chỉ có tiếng thầy giảng và tiếng ngòi bút xoàn xoạt trên giấy. Sau một hồi biến đổi các nghiệm số được đóng khung bên trên lại xuất hiện. Thầy vừa lau tay vừa đi xuống giữa lớp và hỏi:
- Qua hai cách giải của bài toán, em nào có ý kiến gì không?
Phần lớn cả lớp còn chép chưa xong, chưa kịp ngẩng đầu lên thì tiếng thằng Tĩnh oang oang:
- Em ạ.
- Mời cậu, thắc mắc ở điểm nào?
- Không ạ, nhưng em có cách giải khác.
Cả lớp im lặng, hồi hộp.
- Cậu đình dùng phương pháp ngụy biện phải không?
- Không ạ.
- Xin mời lên bảng.
Nó lên bảng, thản nhiên xóa hết phần giải của thày, chỉ để lại đề toán ban đầu. Thêm một đại lượng vào hai vế phương trình, triệt tiêu dần từng hàm số, phương trình được rút gọn, hóa giải. Chỉ sau ít phút cho ra nghiệm số đúng nghiệm số của thầy. Thầy vừa theo dõi, vừa thẩm định tính chính xác của bài giải. Khi thầy vừa gật gật vẻ tâm đắc vừa nhìn sang thì bắt gặp vẻ mặt nhâng nhâng tự phục của nó, những cảm hứng đang dâng lên trong thầy chợt tan biến, nét mặt thầy đanh lại và nói với giọng lãnh đạm:
- Cậu về chỗ, có em nào còn cách giải khác nữa không?
Thầy đã công nhận nó như công nhận một tài năng đặc biệt nhưng thày không vui. Không phải vì nó là trò mà có cách giải bài toán ngắn gọn, đơn giản hơn thầy mà từ những gì toát ra ở nó. Vẻ khinh bạc của đứa trẻ mới lớn, cái đáng ngạo nghễ nhưng cũng rất tội nghiệp. Toán học vốn gần gũi với triết học. Thầy kết thúc bài giảng bằng một câu bâng quơ mà lúc đó chúng tôi ít đứa hiểu: “Một phương trình toán học có thể tìm nghiệm số bằng nhiều cách khác nhau, nhưng có những phương trình nếu ta không sớm tìm cách giải thì cả đời cũng không tìm ra nghiệm”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 03:00:18 pm » |
|
Tiếp : Cuối năm ấy, cả trường có một phần thưởng đặc biệt của huyện dành cho học sinh xuất sắc nhất: được mua một chiếc xe đạp mifa thiếu niên, gióng ngang, giá ưu tiên. Chiếc xe đó thuộc về thằng Tĩnh.
Những ngày ấy, chúng tôi rất thích lội ra bãi sông Bứa hái quả doi, những bụi doi dại mọc từng khóm như những khóm trúc đào, quả ăn chua chua ngọt ngọt. Tôi đi đây đó cũng nhiều nhưng chưa thấy nơi nào có loại cây này như ở dòng sông Bứa. Tôi thích nhất những hôm trời quang, nắng nhẹ nằm phơi mình trên sỏi mát lạnh, nhìn về phía xa, dãy núi có độ cao 1054m lượn vòng như lưỡi hái nên người nơi đây gọi là núi lưỡi hái. Màu xanh thẫm của núi in trên nền xanh nhạt của trời thu thật kỳ vĩ. Bên kia bờ không xa là đồi Vân phủ kín cỏ gianh và những bụi cây lúp xúp. Gọi là đồi nhưng không cao lắm, chân đồi tỏa vùng mấy xã, các cụ nói trong ấy nhiều cọp, rừng nào nhiều cỏ gianh thì thường nhiều cọp. Chúng tôi cũng chẳng sợ, đã có lần rủ nhau trèo đồi hái quả me rừng và dâu da đất. Quả me rừng tròn như bi ve, màu xanh như ngọc, ăn hơi chan chát, hợp với bọn con gái.
Nhà tôi quê gốc Thái Bình nhưng bố mẹ tôi sống ở Hà Nội. Mẹ tôi có một quầy hàng tạp hóa trong chợ Đồng Xuân, các anh tôi đều học cả trên đó và đều ham đọc truyện. Nhà có một tủ sách rất lớn chia làm hai ngăn, sách truyện của anh cả tôi thường được đóng dấu trên góc: “Tủ sách gia đình - 22 Hoàng Hoa Thám - Hoàng Phương”. Con dấu anh tôi tự khắc bằng mắt cây gạo, rất đẹp. Khi lên Thanh Sơn khai hoang, tôi xin bố tôi mang theo rất nhiều truyện. Được thừa hưởng tính ham đọc từ các anh, tôi thường đọc mê mải, nhiều lần bị thầy bắt quả tang vừa học vừa đọc truyện trong lớp. Cũng như các bạn khác, tôi trọ học ở ký túc xá, lán tự làm bằng tre nứa, có hai đứa: tôi và Trọng. Nhà thằng Trọng ở 14 Hàng Thùng, nó hay khoe trên gác nhà nó là nhà nhạc sĩ Hoàng Vân, cô Oanh và chú Vân rất quý nó. Chỉ riêng thế đã làm tôi phục lăn, trong bọn Hà Nội học ở đây nó “oai” nhất. Tính nó tẩn mẩn, hay ghi chép, sưu tầm “lời hay, ý đẹp”. Cứ rỗi rãi là tôi với nó lại bàn luận về Tam Quốc, Thủy Hử.
Một tối, tôi đang ngồi học một mình ở lán, thằng Tĩnh đi đâu qua, rẽ vào, nó hỏi:
- Có truyện gì mới không? Lâu quá không được đọc.
Tôi với trên giá nứa xuống quyển “Nhạc Phi diễn nghĩa” bản dịch theo âm giọng Sài Gòn. Sách đã cũ, giấy ngả màu vàng ròn đến nỗi chỉ gập lại là gãy nhưng chữ in vẫn rất nét. Nó ngồi đối diện, ngọn đèn dầu le lói chia ánh sáng cho hai đứa. Trong quầng sáng đung đưa ấy tôi chợt nhận thấy một khuôn mặt mệt mỏi, già trước tuổi, không còn vẻ mặt bất cần đời, không còn chút gì vẻ kênh kiệu nghịch ngợm. Ngồi trước quyển truyện nó hoàn toàn thành con người khác, trong suốt và thánh thiện. Tôi buông sách vở, lấy trong túi đồ chiếc bánh mỳ anh tôi mới đem từ Hà Nội lên, bẻ đôi đưa nó một nửa. Nói nhìn tôi rồi nhìn cái bánh như nhìn một kỳ quan của thế giới. Vừa chậm rãi ăn, vừa đọc nhưng hình như tâm trí không còn tập trung nữa. Một lát sau nó gập sách trả tôi rồi đứng dậy, vừa vươn vai, vừa đi ngó quanh lán tôi ở nó buông một câu:
- Chúng mày sướng thật!
Dừng một lát nó nói tiếp bằng một giọng rất nhẹ:
- Nhưng mày thì khác, có điều lúc nào mày cũng nghiêm túc quá.
Tôi không hiểu nó nói tôi khác cái gì, chắc là không giống phần đông đám học trò Hà Nội lên đây thường hay phô phang. Thực ra trong tôi “phần” Thái Bình nhiều hơn là Hà Nội, hơn nữa tôi vốn sống nội tâm, không ưa ồn ào chứ chưa có ý thức về sự nghiêm túc.
Rất lâu sau này khi tôi có dịp về xã Yên Sơn, nghe kể về nó tôi mới biết nhà nó nghèo, rất nghèo. Nhà đông anh em, chỉ mình nó được theo học tới cấp 3 còn chỉ hết cấp 2 đã phải nghỉ ở nhà đi nương, đi ruộng. Chiếc xe đạp được ưu tiên giá rẻ như vậy mà phải vay mượn khắp xóm mới mua được. Đã nhiều lần tôi tự hỏi điều gì đã làm cho nó luôn luôn nghiệt ngã với mọi người? Một vùng vẫy kiểu con trẻ? Một khao khát bứt phá ra khỏi mặc cảm của cảnh nghèo túng? Nhưng có lẽ no muốn khẳng định mình, muốn chứng minh một khả năng mà chỉ nó có.
Cả ba năm cấp 3 chúng tôi chỉ có một cô giáo duy nhất, cô Mỹ dạy sinh vật. Chồng cô là thày Mai dạy vật lý, nhưng cô cũng chỉ dạy một năm lớp 8 rồi cả hai vợ chồng thầy, cô chuyển về Hà Nội. Còn lại toàn bộ giáo viên ở trường là các thầy. Trong các thày thì thầy Đinh Quốc Chương dạy Trung văn là vui tính hơn cả. Thầy cao to, da ngăm đen trông dữ tướng nhưng thực ra lại rất vô tư và dễ tính. Thầy người Trong (ở Thanh Sơn đồng bào dân tộc Mường thường được gọi là người Trong), rất thích nói chuyện thời sự, chính trị trong nước, ngoài nước. Mỗi khi thầy vào lớp, cả lớp bao giờ cũng đứng lên đồng thanh chào:
- Lảo shư hảo.
Thầy đáp lại:
- Thủng xuế mãn hảo.
Khi giảng bài thày thường có thói quen kéo dài câu cuối để cả lớp đế theo kiểu như: rất chính... chính xác, rất phong... phong phú. Có lần, vào giờ của thầy, thầy đã báo trước hôm nay sẽ gọi kiểm tra miệng bài tập cho về nhà. Bọn tôi sợ nhất lên bảng môn này vì hết đường “quay”, cũng không thể “phím” cho nhau được. Sau khi đứng lên làm thủ tục chào thầy, cả lớp ngồi xuống hồi hộp. Biết chúng tôi sợ, thày có vẻ “khoái” lắm, vừa mủm mỉm cười vừa lướt từng đứa. Bỗng nhiên thằng Tĩnh đứng lên, vẻ mặt rất “quan trọng”.
- Thưa thầy, chúng em vừa nghe tin phái đoàn Mỹ đã bỏ về, không họp hội nghị Pari nữa, tình hình có vẻ rất “căng thẳng”. Thầy có tin gì mới phổ biến cho chúng em với ạ.
Cả lớp nhau nhao:
- Đúng ạ, đúng ạ, đề nghị thầy nói chuyện hội nghị bàn tròn ạ, thầy kể chuyện về bác bộ trưởng không bộ ạ...
Thầy ra hiệu cả lớp trật tự rồi dõng dạc:
- Các em hoàn toàn yên tâm. Chính phủ ta đã cử một cố vấn đặc biệt sang mật đàm, dù phái đoàn Mỹ tuyên bố bỏ họp nhưng thực chất cuộc đàm phán vẫn đang tiếp tục.
Thày say sưa phân tích những thế mạnh, thế yếu của Mỹ, những diễn biến trong chiến trường đang có lợi cho ta. Những cuộc đấu trí (được truyền khẩu) giữa Kitsingger và cố vấn Lê Đức Thọ... Khoảng 20 phút sau thầy chợt nhìn đồng hồ:
- Thôi, thôi! Hôm khác nói tiếp, còn nhiều vấn đề lắm, các em giở vở, hôm nay học bài mới.
Thầy dễ tính như vậy nên cả hai lớp đứa nào cũng quý thầy, chỉ có thằng Tĩnh là quá trớn. Hôm ấy, thầy giảng cách đặt câu có từ (Zài). Từ này đứng một mình trong câu sẽ là động từ, nếu đứng sau động từ trong câu sẽ là giới từ, cũng có khi nó lại là một tính từ. Kết thúc bài giảng thầy “chốt”.
- Ở mỗi trường hợp trong câu có từ “Zài” các em cần lưu ý vị trí của nó để câu được đúng nghĩa. Trong ngữ pháp Trung văn đây là một từ rất quan trọng...
Thầy ngắt ở đấy, chưa kịp nói nốt thì thằng Tĩnh giọng rất to đế theo:
- Quan... hệ.
Bọn con gái đỏ hết mặt, không dám cười còn tụi con trai quanh nó thì khỏi nói, chúng đập bàn khoái chí hò reo. Thầy nghiêm mặt lại, cả lớp bỗng im bặt. Thầy mắng nó hỗn, bắt đứng lên “quạt” nó một trận rất tay gắt. Nó đứng im như thóc, mặt cúi gằm, tưởng sau trận này nó thấm thía lắm ai ngờ hôm sau khi vào lớp, chúng tôi thấy một dòng chữ rất to chạy ngang trên bảng:
“Tinh quả trang, can treo lủng lẳng”, dưới có ngoặc kép “cấm xóa”. Cái chữ kia thì không còn ai vào đây nữa, mà cũng chỉ có nó mới có gan phiên âm tên thầy cùng với câu xuyên tạc bậy bạ như vậy. Chỉ có mấy đứa thường hay a dua với nó là phởn chí, vừa đọc to vừa nhấn mạnh từng âm tiết còn phần lớn cả lớp cảm thấy ngượng với thầy. Vừa lúc thoáng thấy bóng thầy chủ nhiệm vào lớp một đứa vội chạy lên xóa vội dòng chữ ấy. Có lẽ thầy Trung văn không bao giờ biết câu này. Xét cho cùng trong cái lỗi này có cả sự tòng phạm của chúng tôi.
Một chiều thứ bảy, phần lớn các lán đã về nhà để lấy gạo và thức ăn cho tuần sau. Thằng Trọng cũng về, chỉ còn tôi ở lại, đang loay hoay soạn lại bài vở thì thằng Tĩnh bước vào:
- Cuối tuần vắng vẻ buồn quá, mang cờ ra đây tao với mày làm mấy ván.
Nó và tôi đều mê cờ tướng, cứ rỗi là gạ nhau đánh. Nó hay mã, cứ vào trận là rình đấu xe, dùng pháo nổ tan sĩ, tượng đối phương rồi hai mã quấn nhau sang. Một con khóa tướng một con tìm nước chiếu. Khi đã vào thế của nó thì nghĩ đến nát cả óc cũng không thoát ra được. Tôi thích dùng pháo, nhất là thế pháo đầu mã đội. Sức công phá của pháo thật mãnh liệt, công thủ biến hóa, thế đánh đa dạng, nhiều ván tôi chuyển từ pháo đầu sang pháo lăn, nó thí gần hết quân cuối cùng vẫn chịu thua. Mỗi khi ngồi vào bàn cờ, vừa xếp quân nó vừa lẩm bẩm:
- Làm “tướng” kiểu này khổ thật, chỉ quanh quanh, không được ra ngoài, hở ra là bị chộp.
Có lần thua liền mấy ván nó càu nhàu:
- Ông nào nghĩ ra bàn cờ này vô lý bỏ mẹ. Đánh nhau gì mà hai bên quân, mã ngang bằng nhau đến từng ly từng tý.
- Muốn lệch thì một bên bỏ bớt quân đi.
- Thế thì còn gì nói nữa.
Nó là thế, tính cách của nó là thế, luôn luôn muốn phá bỏ, đảo lộn những quy ước đã có. Khi tôi và nó vừa bày xong cờ, chưa kịp đi thì thầy Bùi Ngọc bước vào vẻ mặt rất giận dữ:
- Cậu Tĩnh, cả cậu Nghị nữa, lên đây.
Tôi ngơ ngác không hiểu chuyện gì, liếc sang nó thấy mặt nó vẫn tỉnh queo. Hai đứa theo thầy về văn phòng nhà trường, đến nơi thấy có cả thầy hiệu trưởng đã ngồi ở đấy. Chưa kịp ngồi xuống thầy Ngọc đã hỏi dồn:
- Trưa nay những cậu nào ra phố Vàng, cậu nào vào cửa hàng ăn uống phá phách?
Ngày ấy cả phố Vàng chỉ có một cửa hàng ăn uống mậu dịch, thông thường hay bán phở thịt lợn, phở đu đủ, bánh bao... gọi là phở nhưng thực ra giống bánh đa nấu. Hôm ấy tan học thằng Tĩnh cùng mấy đứa ở lại rủ nhau ra ăn trưa, chẳng hiểu có chuyện gì mà nó cà khịa, cãi nhau ầm ĩ với nhân viên bán hàng. Lúc quay ra thấy cái bảng dựng ngoài cửa dùng để ghi thực đơn, nó vớ cục phấn viết luôn xuống dòng chữ. Hôm nay có: Phở thịt lợn toàn lông.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #32 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 03:03:36 pm » |
|
Tiếp theo Khi cửa hàng phát hiện ra thì bọn nó đã về rồi nhưng họ biết ngay đây là lũ học trò cấp 3 nên vào báo nhà trường. Thầy Ngọc được cử ra giải quyết, nhìn dòng chữ trên bảng thầy biết ngay là thằng Tĩnh.
- Cậu cho là mình tài giỏi nhất phải không?
Có lẽ thầy bị kích động đến tột độ, chưa bao giờ tôi thấy thày giận dữ đến như thế.
- Cậu khinh thường bạn bè, cậu khoe chữ đẹp bằng cách viết bậy, chửi thầy trên bảng à? Viết láo lếu cho cả huyện đọc à? Cậu có biết tại sao tài giỏi thế mà cả ba năm không năm nào được bầu làm lớp trưởng, lớp phó không?
Nó ngồi im chịu trận, tôi càng không dám ho he gì. Chắc thày biết tôi không tham gia vào vụ này nên chỉ xoáy vào nó. Thày hiệu trưởng lúc đầu chắc cũng định đợi nó lên để “chỉnh” nhưng thấy thầy Ngọc quyết liệt quá nên thầy thôi và cho nó về làm bản kiểm điểm.
Từ hôm ấy nó trở nên trầm lặng, không tham gia vào bất kỳ một trò tếu táo nào nữa. Nó gần như trở thành một con người khác.
Cả khối 10 bấy giờ cũng đã bị cuốn vào bài vở chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp sắp tới. Không khí học tập đã trở nên nghiêm túc rất nhiều. Sau vụ thằng Tĩnh khoảng gần một tháng, nhà trường chọn hai đội đi thi học sinh giỏi toàn tỉnh. Thằng Tĩnh là đội trưởng đội toán, thầy Hải rất kỳ vọng vào nó (sau này chuyển về làm hiệu trưởng trường chuyên ở Vĩnh Tường thầy có nói với một số bạn khi gặp là cho đến bây giờ, gần hết cuộc đời dạy học của thầy vẫn chưa có đứa nào giỏi toán hơn nó). Đội văn thì thầy Ngọc chọn mãi cũng chỉ được hai đứa, thầy liền chuyển thằng Tĩnh sang thi văn. Thầy Hải phản đối kịch liệt nhưng không xong vì dù sau thày Ngọc vẫn là chủ nhiệm lớp. Kết quả kỳ thi thật không ngờ. Nó đạt giải đặc biệt văn toàn tỉnh. Bài thi của nó hay đến nỗi Ty giáo dục Phú Thọ ngày ấy cho in làm tài liệu để các trường trong tỉnh tham khảo.
Vào đúng ngày Lonnon ở Cămpuchia làm cuộc đảo chính, ngày 8-3-1970, bọn con trai lớp tôi đi khám nghĩa vụ quân sự. Không còn là những cảm nhận mơ hồ nữa, chiến tranh đã là những gì rất rõ ràng với từng đứa chúng tôi.
Những ngày cuối cùng của năm học, những ngày cuối cùng của đời học trò, thằng Tĩnh được gọi lên văn phòng hiệu trưởng. Nó được nhà trường thông báo: Tỉnh xét đặc cách cho sang Liên Xô học đại học: thời gian tập trung: sau kỳ thi tốt nghiệp. Nó mừng lắm, cả lớp chúng tôi cũng mừng, coi đây như một niềm tự hào của cả trường, niềm tự hào vì trong bạn học có thằng giỏi như nó. Nó lại bắt đầu “bốc”: “Sang Liên Xô kiểu gì tao cũng phải đến thăm nơi ở của Lép Tônstôi, đặt hoa trên mộ thi hào Puskin” v.v... và v.v... dù biết nó đang ba hoa nhưng tôi vẫn tin ai chứ nó thì điều gì cũng có thể làm được.
Còn tuần nữa đến ngày thi thì số con trai bọn tôi đã đi khám sức khỏe được lệnh tập trung. Huyện đội về làm việc với nhà trường, hơn một chục đứa trúng tuyển bộ đội, trong số đó có thằng Tĩnh. Khi phát giấy gọi nhập ngũ cho từng người, đến nó, thầy hiệu trưởng nói:
- Riêng trường hợp của em, em có thể làm đơn đề đạt nguyện vọng, nhà trường sẽ có ý kiến để em tiếp tục đi học ở Liên Xô.
Những ngày tiếp sau nó lại thu mình như cũ, lặng lẽ không bắt chuyện với ai. Không ai biết nó đang suy nghĩ những gì. Đến cuối tuần nó lên gặp ban giám hiệu đứa lá đơn xin trả lại giấy báo đi học ở Liên Xô và tình nguyện nhập ngũ. Có lẽ đây là một quyết định vô cùng khó khăn đối với nó. Điều gì đã khiến nó chấp nhận cùng những người bạn ra trận mà bỏ qua cơ hội chỉ đến một lần trong đời. Đâu rồi cái tính ngang ngạnh, một mình một lối của nó? Đâu rồi sự ngạo mạn, tự phụ luôn luôn làm người khác khó chịu? Cơn giận dữ của thầy Ngọc chăng? Hay nét mặt buồn của thày Chương? Có thể là lâu về trước những câu nói xa xôi của thầy Hải khi nhìn dáng vẻ nhâng nháo của nó lúc lên bảng giải toán? Có thể lắm, vì nó luôn là đứa thông minh nhất trong bọn tôi. Nó rất biết thế nào là đi lính và thế nào du học ở châu Âu. Nó đã quyết định chọn cho mình cách giải của một bài toán. Nó đã trở thành một con người khác.
Cuối năm 1970, tôi rời Thanh Sơn trở về Hà Nội. Không thi đỗ đại học tôi vào làm việc trong viện Hóa. Sang năm 1972 theo lệnh động viên cục bộ tôi lên đường nhập ngũ. Sau nhiều ngày hành quân trung đoàn tăng cường thuộc Quân khu III chúng tôi rời dường mòn Hồ Chí Minh rẽ về Lệ Thủy vượt sông Long Đại và một ngày đầu mùa mưa 72, chúng tôi tới Quảng Trị.
Ôi! Quảng Trị!
Không thể nói về Quảng Trị chỉ bằng vài nét chấm phá. Những năm cuối của cuộc chiến chống Mỹ không nơi nào khốc liệt như chiến trường này. Những trận đánh đẫm máu, những cuộc hành quân, những chiến dịch lớn của cả ta và địch. Máu xối đỏ từ thượng nguồn Ba Lòng tới Cửa Việt. Những cánh rừng tưới bom napan còn khét mùi thịt cháy. Thành quách bị san phẳng, những làng mạc bị thiêu rụi. Từng tấc đất, từng ngõ ngách được giành giật. Không ai biết chính xác có bao nhiêu chiến binh của cả hai bên đã nằm lại nơi này. Đã nhiều năm rồi mà những địa danh nóng bỏng như Thành Cổ, Đông Hà, Tà Sơn, Khe Sanh... còn mãi bồi hồi trong lòng mỗi người lính chúng tôi.
Một chiều, trên đường chuyển quân từ Hương Sơn, Hướng Hóa về phía đông, đơn vị tôi nằm ém ở cứ điểm Khe Van đợi cắt đường 9 tiến vào Cam Lộ. Tôi thoáng thấy trong đơn vị bạn đang hối hả rút về phía tây một bóng dáng quen quen, chợt khi thấy nó vừa đi vừa vuốt vuốt tóc thì tôi bật lên gọi:
- Chiến, Chiến!
Nó quay lại, đúng là thằng Chiến, Đinh Quyết Chiến ở Võ Miếu. Ngày ở trường chúng tôi hay trêu nó nhất vì cái kiểu vuốt tóc điệu đà ấy. Nó mang cái học điển hình của bốn dòng họ người Mường ở Thanh Sơn: Đinh, Quách, Bạch, Hà. Nó dừng một chút rồi nhận ra tôi, hai đứa lao vào ôm lấy nhau, mặt mũi nó lem luốc, binh phục xộc xệch còn khét mùi thuốc súng.
- Tao ở 264, vừa đánh Ái Tử.
Một loáng rất nhanh nó đẩy tôi ra rồi đi ngay. Đi được mấy bước nó quay lại nói như hét:
- Tao mới gặp thằng Tĩnh, nó ở pháo, trung đoàn Bông Lau.
Không kịp trò chuyện, trong khoảnh khắc nó đã mút hút vào đoàn quân dưới chân đồi.
Từ hôm ấy, sau mỗi trận đánh, mỗi lần về nơi đóng quân mới tôi cố để ý dò hỏi về thằng Tĩnh nhưng không gặp. Lúc ấy tôi còn chưa biết rằng sẽ mãi mãi không gặp nó nữa. Nó đã ngã xuống trong một trận đấu pháo khi yểm trợ cho cánh quân đánh vào sân bay Tà Cơn. Nó đã không kịp đợi đến ngày Hiệp định Pari được ký kết, cái Hiệp định mà ngày nào nó đã dùng để “cứu” cả lớp thoát khỏi bài kiểm tra môn Trung văn...
* * *
Những người lính đang lặng lẽ nằm ở nghĩa trang Trường Sơn đông bằng một sư đoàn. Tôi cảm thấy mọi bon chen, ham hố trên đời thật nhỏ nhoi, vô nghĩa. Cái quan trọng nhất của đời người không phải là thời gian tồn tại mà là dấu ấn để lại. Đã 30 năm qua, có biết bao học sinh đã học qua trường Thanh Sơn mà cũng chưa có một trò nào giỏi như Tĩnh và cũng đầy tính cách như nó. Mỗi cuộc hội trường, hội lớp, mỗi khi bạn cũ gặp nhau chuyện gì rồi cũng lại quanh về “thằng Tĩnh”. Nó đã góp một phần trong sự nghiệp giải phóng đất nước và nó đã để lại trong lòng các thày cô trong mỗi bạn bè một cái tên. “Tĩnh”. Tĩnh ơi. Nếu có thể tao sẵn sàng đánh đổi mọi thứ có ở trong đời để chỉ một lần thôi cùng mày ngồi lại bên bàn cờ và tao hứa sẽ không dùng pháo tấn công mày nữa.
Bóng chiều đã chập choạng, tôi lần lữa không muốn đứng lên. Xa xa Trường Sơn vẫn uy nghi hùng vĩ, đâu đây phía nam dòng Bến Hải đang âm thầm chở trên mình những ký ức của một thời chia cắt. H Ng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #33 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 03:09:39 pm » |
|
NGÀY KHÔNG BÌNH THƯỜNG Tác giả : Phạm Hoa
Minh đẹp một cách yếu ớt, Bạo đẹp một cách khỏe khoắn và tháo vát. Ðó là một đôi bạn rất thân và cũng rất hay giận nhau. Thế quái nào Minh lại yêu anh đại đội trưởng pháo, to và đen nhẻm. Bạo lại yêu anh chàng sinh viên có phần yếu đuối, lịch sự và kiểu cách. Anh sinh viên ấy cùng tuổi với Bạo. Bạo rất bực với cách xưng hô "tôi" trong mỗi lá thư của anh ta gửi đến. Nhưng đó chỉ là nhược điểm nhỏ thoáng qua. Bạo vẫn yêu anh ta nhiệt tình và say đắm. Trời đã sắp sáng. Bạo biết thế vì cô đã thức được một lúc lâu. Ðêm qua, Bạo bồn chồn như đứa trẻ ngủ trong đêm ba mươi Tết, chỉ thấp thỏm mong trời mau sáng. Một loạt bom xa xa làm cô chợt tỉnh. Từ lúc đó, Bạo không nhắm mắt được nữa. Cô nằm im một lát mới nhỏm dậy. Căn nhà hầm tối, đen như trong hộp, râm ran tiếng ngáy của đồng đội. Cô rón rén bước ra cửa.
Bên ngoài, trời sáng lờ mờ mát lạnh. Bạo cảm thấy tỉnh táo và khỏe khoắn. Một cảm xúc háo hức là lạ. Cô muốn chạy vù ra sân. Muốn gọi tất cả mọi người dậy. Bạo dừng lại ngắm những giọt sương đang từ từ tròn hạt. Lúc quay vào nấu cơm ăn sáng, cô đụng đổ cây đèn, rồi lại đụng đổ cả chiếc xoong đựng nước uống trên bàn. Cô phì cười vì sự vô ý của mình.
Sạp nằm có tiếng cựa mình. Chị Thành quát:
- Ðứa nào đấy?
Bạo bịt miệng cười:
- Em đây.
Một lát sau, ở góc hầm có ánh lửa cháy bập bùng. Không riêng gì Bạo, ngay sau đó các cô gái khác đều trở dậy cả. Mới năm giờ sáng, họ dậy sớm hơn mọi khi. Căn nhà hầm nhộn nhịp, chứa đựng vẻ khác thường.
Ðó là một buổi sớm của ngày hai mươi - Ngày không bình thường của tiểu đội thông tin trên đèo Văng Mu, điểm chốt của điểm cao trên một ngàn mét. Là ngày vui của các cô gái. Hôm nay họ sẽ nhận được thư nhà, thư bè bạn, thư người yêu. Mỗi một tháng họ được nhận thư một lần vào ngày hai mươi. Thư gửi đến sẽ dồn về ban chỉ huy đại đội, cơ quan đóng cách họ những mười lăm cây số dưới thung lũng. Dưới đó, anh liên lạc sẽ dần bóc thư của từng người một đọc dõng dạc qua máy điện thoại. Họ không còn cách nào tốt hơn. Chính năm cô gái trên Văng Mu yêu cầu đại đội làm như vậy. Nếu không chờ thư đến tay các cô lại chậm thêm vài chục ngày nữa. Những lần đầu, bao nhiêu bí mật gia đình, bí mật tình yêu bị bóc trần như ban ngày, các cô rất ngượng. Lại có thêm vài anh tủm tỉm cười, chế nhạo, các cô la lối lên. Ðại đội trưởng phải ra lệnh cấm không được ai bén mảng lên nhà đại đội khi cậu liên lạc đọc thư vào máy. Tất cả quen dần thành nếp sống bình thường của năm chiến sĩ thông tin trên điểm cao. Từ đó, ngày hai mươi trở nên gần gũi thân thiết, là ngày mong chờ của các chiến sĩ. Một ngày vui thực sự, ngày họ được hòa nhập vào đời sống hằng ngày của những người thân ở phương xa. Ðó là ngày thiêng liêng và đặc biệt quan trọng đối với những người đang yêu như Bạo. Nhất là chỗ ở của các cô gái lại chót vót trên cao một ngày hàng chục trận bom giội xuống, thiên nhiên lại tàn khốc, là nơi bom đạn ác liệt, là nơi mà nhiều bạn bè không quen biết...
Bạo vẫn hí húi nấu cơm trong góc hầm. Cô mặc chiếc áo mỏng không có tay, mặt đỏ rực lên vì nóng. Sáng nay Bạo có vẻ bận rộn và vụng về. Ðánh đổ đèn, đánh đổ xoong là Bạo. Bỏ quên hộp thịt đã mở dưới đất cho kiến vào cũng là Bạo. Chốc chốc lại thấy chị Thành hỏi vọng vào:
- Ðứa nào đổ nước ra cửa hầm tràn cả vào nhà đây?
Bạo chạy ra cửa xem, tủm tỉm cười:
- Em.
- Lại em. Ðãng trí quá em ạ.
Trong hầm, các cô gái vội vã thu dọn những đống dây điện, đống cuốc, xẻng vào góc. Căn hầm sáng sủa và rộng rãi hơn. Một điều lạ nữa là hôm nay: không ai bảo ai, các cô đều chải tóc soi gương tỉ mỉ như trong ngày sẽ có khách đến chơi.
Tiểu đội có Minh là nhỏ nhắn, thanh mảnh được coi là đẹp gái nhất. Minh rất hay tỉa tót làm dáng, nhưng cô vẫn thầm ghen với nước da đỏ thau của Bạo. Minh đẹp một cách yếu ớt, Bạo đẹp một cách khỏe khoắn và tháo vát. Ðó là một đôi bạn rất thân và cũng rất hay giận nhau. Thế quái nào Minh lại yêu anh đại đội trưởng pháo, to và đen nhẻm. Bạo lại yêu anh chàng sinh viên có phần yếu đuối, lịch sự và kiểu cách. Anh sinh viên ấy cùng tuổi với Bạo. Bạo rất bực với cách xưng hô "tôi" trong mỗi lá thư của anh ta gửi đến. Nhưng đó chỉ là nhược điểm nhỏ thoáng qua. Bạo vẫn yêu anh ta nhiệt tình và say đắm.
Cả tiểu đội có năm chị em. Chị Thành không giống các cô. Chị cao và nhỏ người, nắng chiến trường làm nước da chị đen sạm và khắc khổ. Chị hơn các cô một tuổi. ý thức làm chị của Thành rất rõ. Các cô gái ở đây đều rất nể và sợ Thành. Có lẽ chỉ có Bạo là người dám nói đùa với chị. Thành cũng rất mến Bạo. Mặc dù Bạo có ngang tàng đôi chút, nhưng lại dũng cảm, việc phá mìn vướng, cả đại đội không ai giỏi hơn Bạo.
Bạo bê nồi cơm nóng hổi đặt ra tảng đá. Cùng lúc đó, chiếc máy điện thoại đặt trên bàn nứa rung lên bần bật. Một hồi chuông dài và gắt. Thành dẹp sổ theo dõi công việc sang bên, chạy tới cầm máy. "Hồng Hà đâu...". Một giọng đàn ông ồm ồm cộc lốc của ông trung đoàn trưởng pháo. Ông nói một câu ngắn của người quen ra mệnh lệnh:
- Khu vực dê sáu tám (D68) bị mìn vướng, đứt toàn bộ dây. Yêu cầu sáng nay phải nối cho họ trực chiến.
Thành buông máy nhẩm tính toán luôn. Chị có thói quen sắp xếp công việc ngay sau khi nhận điện. Tổng số dây điện khu vực tiểu đoàn pháo vị chi là hai ki-lô-mét. Vừa phá mìn vướng vừa rải dây, nối dây, mất đứt hai người một ngày vất vả. Sau đó chị giục mọi người đi ăn cơm. Trong đầu Thành thoáng linh cảm thấy rằng: công việc hôm nay sẽ rối mù lên cho mà xem. Nắng đẹp thế này, nhất định nó sẽ đánh mạnh.
Năm người con gái ngồi xúm quanh chiếc bàn ăn nhỏ. Chiếc ghế buộc bằng ba đoạn nứa võng xuống phát ra tiếng kêu kẽo kẹt. Minh sốt sắng nhất. Nhỏ người nhưng rất nhanh. Ba cô cướp được ba cái bát lành. Bát của chị Thành tất nhiên là không cô nào dám tranh. Còn lại là chiếc bát thủng trôn vì bom bi. Bạo phải dọn bếp núc nên chậm chân ra sau. Cô cầm chiếc bát hỏng lên, nhất định không chịu thua.
- Hôm nay đến lượt đứa nào ăn bát thủng !
- Cái Minh.
- ứ! Hôm qua em ăn bát thủng rồi.
- Mới có buổi chiều. Phải cả sáng nay nữa mới đủ một ngày.
- Không.
- Này.
- Không.
- Này.
Giằng nhau một lúc, Bạo cười:
- Thế mày gọi tao là chị tao nhường cho.
- Thì chị. Nào chị Bạo ơi!
- Dạ đi.
- Dạ. Ðược chưa.
- Ðược. Em ngoan ăn cơm rồi đi phá mìn cho giỏi nhé. Chị cưng, chị thương.
Bạo còn đáo để vuốt đầu Minh mấy cái, chị Thành giục, họ mới bắt đầu bưng bát. Miếng cơm vừa trôi khỏi miệng, lại có điện thoại. Lần này là điện dưới đại đội công binh gọi lên. Ðường dây từ đơn vị gọi lên sở chỉ huy sư đoàn tiền phương bị đứt. Một giờ đêm qua ở dưới đó có một quả bom nổ chậm bất chợt nổ.
Bữa ăn lại được tiếp tục. Vẫn cái đà vui vẻ một cách khác thường ấy, Bạo dọa sẽ mách tay đại đội trưởng pháo là Minh ghẻ ruồi. Bao giờ Minh cũng yếu lý lẽ hơn. Cô chỉ còn biết chê cái tên của Bạo, cái tên thô như một người lên gân. Ai lại Quang Bạo, Minh Bạo hay là Thành Bạo dù sao nghe vẫn vương vướng. Cái tên này phải hình dung ra một cô gái to béo gân guốc, đáo để...
Một loạt bom. Rồi một loạt nữa. Ba loạt cả thảy. Cả hầm lắc mạnh như sắp vỡ đôi. Sau đó là tiếng phản lực sà rất thấp, có cảm giác như các ngọn cây cũng bị gió quật tung. Các cô gái nhìn nhau, đoán:
- Chắc ở cây số mười.
- Không! Cây số mười bốn.
- Có khi sát chân đèo.
Họ còn đang xác định vị trí bom rơi thì có điện. Từ lúc đó, điện gọi tới tấp lên tổ chốt thông tin. Ðơn vị nào cũng la ầm lên đường dây liên lạc của họ bị đứt. Các cô gái phải ăn cơm nhanh hơn. Thành hết nhận điện của đơn vị này lại cắm phích nghe đơn vị khác. Anh nào cũng to mồm đòi phải nối dây ngay tức khắc, Thành phát bẳn lên, quát vào máy:
- Từ từ đã nào. Làm gì mà các ông hét ầm lên như thế? Phải hiểu cho người ta chứ.
Thành buông máy sững sờ giây lát. Chị giắt lại mấy sợi tóc vương trên má, nhẩm tính. Dê sáu tám hai người. Ðại đội công binh một người buổi sớm, buổi chiều lên sư đoàn bộ. Xuống lèn đá một người. Rồi chị tặc lưỡi thầm nghĩ: bận mấy cũng chẳng bằng đêm hôm kia. Ba lần B.52 ném bom luôn xuống đèo. Quả nổ, quả không. Vừa rải dây, nối dây mất một ngày một đêm mới xong. Cùng lắm chỉ bằng hôm đó chứ mấy? Các cô gái đã biết trước tình thế. Họ đứng dậy sau bữa ăn. Cô nào cũng trong tư thế sẵn sàng. Có cô đã đội mũ sắt, khoác súng vào người.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #34 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 03:12:04 pm » |
|
Tiếp theo: Chị Thành và miếng cơm cuối cùng rồi đứng dậy nốt... Chị phân công việc luôn. Năm người đều ra mặt đường cả. Bạo và chị sẽ xuống Dê sáu tám. Khi đi mang theo dụng cụ phá mìn vướng.
Thoắt một cái họ đã đứng ở ngã ba rẽ đi các hướng. Họ vội vã chia tay nhau. Ðến chỗ ngoặt, Minh vẫn còn ấm ức với Bạo. Cô giơ nắm tay nhỏ xíu lên dọa:
- Tối nay, nối dây về sớm "ông" nhận thư của mi qua điện thoại cho coi, "ông" sẽ nhận là Bạo.
Bạo cười to:
- Thách Minh đấy! Thách đấy!
Bạo khoác tấm lá chắn cao ngang đầu đi trước. Tấm lá chắn là vật che mảnh đạn hình tam giác, được kết bằng những nùn rơm to và chắc như bắp tay. Dụng cụ phá mìn còn có cây sào dài bảy tám mét, có chạc dùng để quơ những sợi dây mìn vướng nhỏ như sợi tóc. Loại mìn vướng này rất nhạy và rất hiểm độc. Một cơn gió thoảng qua cũng có thể làm cho mìn nổ. Hai người còn luồn qua sào phá mìn một cuộn dây điện nặng chục cân.
Bạo là cô gái siêng năng và chăm chỉ. Khi yêu, tình yêu của cô cũng rất mạnh mẽ. Trong tâm hồn cô gái trẻ này có một khoảng rộng yên tĩnh, đằm thắm và thiết tha dành cho người mình yêu. Vốn sinh ra trên đồng đất trồng màu ven sông Hồng, Bạo rất chân thật và hơi vụng về. Gần như cô không biết viết thư, không biết nói những câu hoa hòe hoa sói. ở giữa điểm cao như vùi mình trong bom đạn, đời sống đơn giản đi nhiều lắm. Công việc bình thường ở đây là ăn ngủ, phá mìn và nối dây điện. Không hề có thứ công việc nào xen lẫn, không khái niệm thứ bảy, chủ nhật. Không có một giờ rảnh rỗi. Vậy mà trong mỗi lá thư bao giờ Bạo cũng mở đề bằng câu: "Hôm nay nhân tiện ngày chủ nhật" hay "Hôm nay nhân tiện trời mưa..."; có hôm cái Minh vớ được mẩu thư viết dở, nó tò mò xem rồi đọc toáng lên. Bạo đứng đực ra nhìn, mặt đỏ gay, một lúc mới biết chạy tới giằng miếng giấy lại. Thế mà Bạo còn làm thơ gửi cho anh sinh viên rất giỏi chữ nghĩa. Ðại khái cũng câu ba câu bảy gập ghềnh như đá dưới lòng suối cạn:
Bèo hợp lại tan
Hoa nở rồi tàn
Nhưng tình yêu giữa đôi ta không đứt
Như sợi dây em nối đêm ngày...
"Tìm bảy ngày cũng không thấy vần" - Vẫn cái Minh ranh mãnh nó vớ được, đọc xong nó nói như vậy. Từ đó, mỗi lúc hậm hực điều gì muốn trả thù, Minh lại lấy giọng ê a ngâm:
"Bèo hợp rồi lại tan..." thế là đủ để Bạo toát mồ hôi, chịu thua. Mãi sau này Bạo phải mặc cả đổi chỗ nằm gần cửa hầm cho Minh, nó mới chịu quên cái đoạn thư khổ sở đó đi cho.
Thế nào chiều nay Bạo cũng có thư. Cô tin rằng lá thư sẽ rất dài. Từ chiều hôm qua Bạo đã linh cảm như vậy. Niềm tin ấy làm Bạo bồn chồn thích thú. Cô vui khác ngày thường. Bạo cảm thấy mình yêu cuộc đời hơn, yêu mảnh đất chiến trường mà cô đang sống và yêu mọi người. Cô tự hứa từ nay cô sẽ dễ dãi hơn đối với Minh. Không kể chuyện ma con khỉ độc dọa nó nữa. Cô yêu cả con đường gập ghềnh này, cả những ngọn cây cỏ xanh này, cho đến con chim đang hót xa xa...
Hai người đi sâu vào cánh rừng le tốt ngập đầu. ở đó lác đác có những cây cọ rừng mập mạp xanh tốt, lá vươn dài như lá dừa. Thỉnh thoảng mới thấy những cây khộc già nua đầu cành đang nứt những búp lá non tơ. Cho đến lúc nghe tiếng ho của một pháo thủ và con gà cục ta cục tác trong khẩu đội gần đó, thì họ dừng lại. Ðã đến khu vực mìn vướng nổ. Nhiều trái tự hủy, để lại một đám đất nát bét và một khoảng cây cối giập, gãy xơ xác.
Chị Thành quan sát xung quanh rồi nhận xét:
- Dây mìn đấy, Bạo ạ! Mắt thường mà cũng trông thấy một quả kia kìa!
Bạo nhìn theo hướng bàn tay Thành. Một trái mìn mầu xám xù xì nấp dưới một cành cây nhỏ. Cô quạt bằng mũ sắt, tắc lưỡi:
- Kệ nó chị ạ. Chọc một cái là nó nổ, sợ gì!
Bạo nói rồi vẫn ung dung ghếch AK lên đùi, cầm mũ sắt quạt. Trời nóng. Trên đôi má đỏ chín của Bạo đã có mấy giọt mồ hôi. Khi đã buộc tóc lại thật gọn, xắn quần xắn tay áo, họ mới đứng dậy bắt đầu công việc. Bạo dựng lá chắn lên, chống thật chắc chắn. Cô ngồi thụp phía sau như một đứa trẻ đi trốn. Chị Thành đứng xa hơn làm nhiệm vụ rải dây. Bạo đưa sào lên phía trước. Cô chỉ cần vung sào, khuấy động cành cây ngọn cỏ, chạm vào bốn sợi dây vướng nổ là trái mìn sẽ nổ. Trái mìn đầu tiên Bạo phá hôm đó lại không phải là trái chị Thành trông thấy. Ðó là quả vùi sâu trong đống lá mục. Cô vừa tung sào bất thần đã có tiếng nổ. Bạo giật bắn người rồi lại cười khanh khách. Bụi chưa tan, cô đã dịch lá chắn về phía trước rồi giải lao một phút. Cô hỏi chị Thành.
- Sinh viên đại học chắc họ sống sướng lắm chị Thành nhỉ? Ông bạn em ông ấy viết thư, em cảm thấy các ông ấy sang trọng lắm. Có đúng không chị?
- Ðấy là em cảm giác thế. Họ cũng vất vả lắm. Họ ở một phòng mười hai người cơ đấy!
Bạo lẩm bẩm:
- Có thể là như vậy.
Bạo lại thu mình sau tấm lá chắn. Cô đưa sào về phía trước. Trái mìn lần này gan góc hơn. Bạo phải quơ chục lần nó mới nổ. Tiếng nổ vẫn rất to làm Bạo giật nảy mình, cô đưa ống tay áo quệt mồ hôi trên mặt rồi quay về phía Thành nói chuyện tiếp.
- Em có một miếng vải hoa rất đẹp. Em sẽ cắt một chiếc áo lót thật nghịch ngợm. Cổ theo kiểu trái tim xoay về vai trái. Hàng khuyết sẽ xẻ bên hông.
Nói xong chưa kịp nghe Thành trả lời, cô lại ngồi thụp xuống, dịch tấm lá chắn về phía trước. Bạo phá mìn say mê tỉ mỉ và ung dung làm người khác đến phát thèm lên được. Ðó là cung cách phá mìn rất bình tĩnh, thông minh mà chị Thành cũng khâm phục. Công việc này rõ ràng không thể để một người vội vàng, hấp tấp làm được.
- Ngày còn ở nhà ấy mà, cái "lão" người yêu của em bấy giờ còn nhỏ và yếu hơn em cơ. Có hôm đi chăn bò ngoài bãi sông Hồng, em dọa cho sợ, phải đuổi bò về cơ đấy.
Thành cười:
- Thật là đáo để.
Thành cũng có biết qua người yêu của Bạo. Cái anh chàng quá trẻ ngồi vắt chân qua lan can thềm nhà chụp một kiểu ảnh rất điệu. Thành không chê gì anh ta. Chị chỉ thoáng ngờ vực trong lòng một điều, hình như Bạo sắc sảo hơn anh ta quá nhiều. Trong cuộc đời thực, liệu đôi trai gái này có sánh vai nhau được không? Bạo đã phá đến trái mìn thứ năm, thứ sáu... Họ đã trông thấy khẩu đội pháo xa xa. Rất lạ là hôm nay, Bạo không quen được với tiếng nổ. Mỗi một tiếng mìn dội lên Bạo vẫn giật nảy mình quay lại cười khanh khách. Chị Thành thấy Bạo có vẻ chủ quan quá, quát vọng lên:
- Bạo! Chú ý vào. Coi chừng đấy!
Bạo cười, đôi môi đỏ chót rất xinh.
- Chị yên tâm. Một mình em đã phá hàng nghìn quả mìn rồi.
Niềm vui ấy lan sang cả Thành. Phải, chị rất tin tưởng Bạo, nhưng điều ấy cũng có thể xảy ra lắm chứ? Công việc quen thuộc của Bạo là phá mìn, nhưng ai biết đâu được, bất cứ một sự chủ quan nào chẳng gây ra tai nạn? Phía trước kia, trong những bụi cây lòa xòa hiền lành, một ụ đất mấp mô, hay dưới đám lá mục, là những cái chết bất thần đang rình núp chờ đón; nhất là hôm nay Bạo lại có vẻ coi thường. Nghĩ như thế, tự nhiên Thành muốn ứa nước mắt. Chị yêu Bạo quá. Chị muốn đối xử dịu dàng với Bạo, muốn cho Bạo cái gì. Ðứng trước những người tốt người ta thường có những ý nghĩ trong lành hơn. Chị Thành đứng ngẩn người ra nhìn Bạo hồi lâu. Cô ấy vẫn cúi lom khom sau chiếc lá chắn. Và hễ cứ sau một trái mìn nổ, Bạo quay lại chuyện trò. Vẫn là dòng suy nghĩ sôi nổi của Bạo về bạn, về người yêu. Sau khi nói xong chẳng cần biết Thành có nghe hay không, cô lại quay về phía trước, dịch tấm lá chắn lên.
Họ trở lại Văng Mu lúc sương mù đã kết thành từng cụm đặc sánh trên đầu. Bất ngờ lý thú là lúc đi cả tiểu đội chia tay nhau ở chỗ rẽ, lúc về lại gặp nhau đúng chỗ ấy. Ðủ mặt cả năm người, Bạo trông thấy từ xa Minh đi trước. Nó thất thểu vì đói và nhọc.
Cứ sau một ngày lăn lộn ngoài đèo khuôn mặt đầy đặn của nó lại bị vơi đi một tí. Bạo vẫn tỉnh như không gọi rối rít:
- Tớ cứ tưởng cậu về lâu rồi!
- Thì người ta cũng tưởng đằng ấy về lâu rồi.
- Tớ làm mà cứ nóng cả gan ruột. Chỉ sợ cậu về trước mệnh danh tớ, nhận thư.
- Tớ mà về trước xem, chả phải bàn.
- Thôi thôi các cô! Chóng lên. Còn khối việc phải làm ra đấy.
Họ vào đến trước sân, chị Thành đã buộc xong hai chiếc tăng vào những gốc cây nhỏ. Những chiếc tăng xòe nặng buộc thõng xuống để hứng sương đêm lấy nước dùng. Mỗi đêm một tấm tăng rộng có thể hứng được một lít nước. Mười chiếc tăng hết đêm họ sẽ dồn được mười lít nước. Thứ nước kết tinh từ hơi sương trong ngăn ngắt. Trừ khi bom đánh gần, hơi sương qua khói thuốc đạn sẽ đắng ngắt như pha thuốc ký ninh. Các cô gái lần lượt căng những chiếc tăng ra đón nước. Sương dày làm ướt cả mặt, cả tóc. Khu đèo lạnh hẳn xuống vài độ.
Tối hôm đó các cô gái ăn cơm rất nhanh chóng. Hầu như ai cũng vội, cũng mong cho đến cái giờ phút mong chờ ấy. Các cô không đùa ầm ĩ nữa. Cái Minh nhỏ bé lại còn tỏ ra chín chắn, nó nói:
- Biết mình có thư không mà trông. Cái gì đến sẽ đến, cái gì không đến sẽ không đến.
Bạo vạch mặt:
- Rõ đồ nói khoác. Có thật không mong thư không? Thế thì cử cậu đi sửa đường dẫn lên sư bộ nhé.
- Ứ, tớ cũng có mong.
Bạo cười ha hả. Chưa đến sáu giờ tối, các cô đã xúm xít bên tảng đá. Ai cũng tỏ ra bình thản. Chỉ có Bạo vẫn xông xáo đứng trong cùng, là người cầm ống nghe máy điện thoại. Phải đến hai chục phút rồi, Bạo vẫn chưa liên lạc được với đại đội. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng sét nổ sàn sạt, rầm rầm trong máy điện thoại, cầm lấy ống nghe giật nẩy tay lên.
Bạo sốt ruột gắt:
- A-lô... Thăng Long đâu. Cắm dây cho chặt vào.
Cuối cùng sự mong chờ của các cô gái đã được thỏa mãn. Tiếng cậu liên lạc rõ mồn một trong máy. Cậu ta bảo mọi người đều có thư, trừ chị Thành. Tất cả các cô thở phào một tiếng. Thư của Bạo được đọc trước. Mặt cô đỏ ửng lên, cô đứng vào nghe máy, nụ cười bỗng nở trên môi ngượng ngập.
Mọi người chăm chú nhìn Bạo. Họ không được nghe đọc thư, nhưng tò mò muốn biết Bạo có tin lành hay dữ. Tin buồn hay vui. Bắt đầu mặt Bạo đỏ chín, nghe đọc thư, cứ thế cô tái dần đi. Một tay Bạo buông thõng xuống. Các cô ngạc nhiên sợ hãi nhìn Bạo. Giây phút căng thẳng ấy cũng chấm dứt khi Bạo chuyển ống điện thoại cho Minh. Mặt Bạo chợt đỏ bừng, mấy giọt nước mắt nóng hổi lăn rất nhanh qua má. Cô ấm ức dằn từng tiếng:
- Hắn vẫn chẳng xưng anh với mình. Cóc cần!
Các cô gái nhìn nhau rồi phá lên cười. Cứ thế lần lượt từng cô. Họ xếp hàng chờ đến lượt mình vào nghe cậu liên lạc đọc thư. Thời gian vẫn trôi. Ở Văng Mu, một tháng lại có một ngày không bình thường như vậy. Nhưng nói cho cùng, cái ngày ấy cũng chỉ là ngày bình thường trong suốt bốn năm trời dài đằng đẵng trên điểm cao Văng Mu của những người lính.
P.H
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #35 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 08:42:28 pm » |
|
Tiếng vạc sành Tác giả :Phạm Trung Khâu
Gần nhà tôi có ông Hai Râu kẽm, bị địch bắn sứt xương hàm trên và mất mũi, khi nói chuyện phải gỡ miếng vải băng trên lỗ trống đó, âm đầu phát ra thường là croọc-croọc lúc sau mới rõ tiếng người, mặc cảm mất mát khiến ông thường xa lánh gia đình và con người. Tôi và thằng con trai về ngủ miếng vườn xưa, đêm đó “tiếng vạc sành” kêu quá từ đầu đến cuối đêm. Và hôm sau tôi viết truyện ngắn này. Lời tác giả
Như đờn đứt dây...
Quát - bạn của Khản kể: Ở đây có một loại động vật kêu ròng rã suốt đêm. Tiếng kêu của nó là bản hợp tấu sự đau đớn, cô đơn, một nỗi buồn da diết, là tiếng kêu thất thanh của nỗi đau mất hạnh phúc mà không do mình gây ra.
Truyền thuyết về nó cũng không xưa lắm. Đồn rằng, xưa có một cặp vợ chồng trẻ. Người chồng như thiên thần. Vợ cực kỳ xinh đẹp. Họ sống trong một ngôi nhà nhỏ, không rời nhau một bước. Đôi vợ chồng làm lụng cật lực kiếm miếng ăn, manh quần, tấm áo. Ngày lại ngày, niềm say mê nhau càng lớn rộ khi họ có thêm một đứa con. Họ hạnh phúc thật.
Chiến tranh.
Người chồng phải xa gia đình, xa ngôi nhà đang cuốn tròn họ trong yêu thương. Hai năm sau được tin chồng chết trận. Người vợ điên loạn suốt một thời gian. Nhưng tuổi trẻ, sức sống mãnh liệt. Cơn buồn rồi cũng nguôi ngoai. Vài năm sau, người vợ tái giá với một người cùng làng. Người chồng sau một mực gắn bó với vợ, với con người chồng trước.
Lúc này ở vùng đó, dân làng đồn có một con rắn lạ về ở. Vết nó bò in xuống mặt ruộng người ta ước lượng nó lớn hơn cây cột đình. Có người khẳng định thấy nó đầu cuốn gốc cây bên này, đuôi cuốn gốc cây bên kia, mình ép dẹp lép làm cái gàu “sành sạch” tát một cái ao lớn để bắt cá. Người khác kể đã thấy đuôi nó cuốn tròn làm gốc, mình dựng đứng làm thân cây cổ thụ, lừa thú vật và người đi ngang qua bắt ăn thịt.
Cách đó mấy hôm người vợ đêm nào cũng nghe tiếng: “tọc, tọc, tọc” ở lùm cây hoang sau nhà. Chồng về, vợ kể lại và nghi chắc là tiếng huýt sáo của con rắn độc, anh quyết rình bắn.
Y như lời nói, khoảng chín giờ tối tiếng “tọc, tọc” lại vang lên. Lúc to, lúc nhỏ, lúc như van lơn cầu khẩn khiến người lính mủi lòng. Nhưng muốn trừ rắn độc anh vẫn ghìm súng chờ bên cửa sổ.
Chẳng chờ lâu, chừng hơn tiếng đồng hồ sau. Dưới ánh trăng mờ, con rắn thò đầu ra toan bò qua bụi chuối phía sau nhà.
Người lính ngắm kỹ, miết cò súng. Ba tiếng nổ vang lên. Con vật oằn oại trong ánh trăng. Nghe tiếng nổ người làng đốt đuốc chạy đến. Nhưng khi tới nơi mọi người sững sờ rồi run lẩy bẩy. Đó không phải là con rắn mà là con người. Một con người giống khuôn mặt quỷ. Ba viên đạn đều trúng vào ngực, hắn đang thoi thóp trên vũng máu. Khi gặp người vợ lính, hắn lấy tay che mặt mình lại còn tay kia chỉ vào túi áo rồi tắt thở.
Người ta khiêng anh vào nhà. Móc trong túi thì là những bức thư của vợ gởi lúc trước và cả bức thư anh mới viết cho chị. Người vợ cũng nhận ra chồng trước của mình qua cặp mắt và cái sống mũi thanh có vết sẹo từ bên trái.
Hóa ra, người chồng trước của chị bị thương rất nặng nên tất cả đồng đội tưởng anh chết. Anh sống. Lần đầu soi gương, trong kiếng hiện ra không phải gương mặt của anh mà là gương mặt dị dạng. Phía dưới cặp mắt sáng và cái mũi thanh là một phần trống hoác. Xương hàm dưới bị cắt một nửa. Răng trên gẫy gần hết. Cái lưỡi rụt vào trong làm lộ cái miệng như một cái hang sâu hoắm, đỏ lòm trông rõ cả cuống họng. Khi nói chuyện, lời nói chỉ phát ra những tiếng “tọc, tọc” liên hồi cùng với đờm dãi rớt ra.
Ba năm.
Anh không muốn trở về quê hương với hình dáng gớm ghiếc. Nhưng nhớ gia đình. Anh quyết định về ban đêm. Đứng ngoài cửa sổ gọi, để gia đình không trông thấy mặt mình, còn anh trông rõ vợ con một lần, rồi gửi lại bức thư và ra đi vĩnh viễn. Đến quê anh biết vợ mình đang sống với người khác. Mấy đêm rồi, anh núp phía sau nhà gọi vợ ra cửa sổ. Tiếng gọi tên người vợ hiền qua lưỡi trở thành tiếng “tọc, tọc”.
Người vợ khi biết người chết là chồng trước của mình nên điên loạn trở lại, ít tháng sau té sông chết đuối. Người chồng sau bị bắt. Còn đứa con không cha, không mẹ trước tuổi thơ.
Riêng anh, dân làng đồn là hồn anh hóa thành con chim vạc sành, khoác đôi cánh màu xanh của người lính. Hằng đêm, với gương mặt xấu xí anh ẩn mình trong các lùm cây “tọc, tọc” ròng rã từ lúc chạng vạng tới sáng, lên tiếng kêu đau thương để gọi vợ con. Tiếng kêu xé lòng của hạnh phúc bị số phận cay đắng tước đoạt.
Nghe bạn kể xong. Khản buồn buồn nói:
- Tao trốn công việc, trốn cái ầm ĩ của thành thị về nông thôn để tìm sự thanh thản vài bữa. Mầy kể tao nghe chi chuyện đó buồn thảm quá!
Quát vỗ vai Khản:
- Buồn vui cuộc sống chỗ nào, nơi nào cũng có - Quát cười khì rồi tiếp - Tao giao cái nhà này cho mày, một tháng, mặc sức nghiên cứu buồn vui. Gạo, nước, mắm, bột ngọt, hột vịt, lạp xường, vợ tao để sẵn trong tủ. Muốn ăn đồ tươi phải đi chợ xã. Cần cứ mần mấy con gà. Muốn giải trí thì ra ruộng bẫy chim cu. Có thể chụp được vài con, nướng nhậu cũng đã lắm. Còn lưới chụp mầy phải tập cho thành thạo. Loại này khôn lắm. Sảy một lần khó bắt lại được.
Và đây là ngày thứ hai Khản làm chủ nhà thằng bạn. Đọc sách mãi đâm buồn. Sáng nay thấy mặt trời mọc đẹp quá. Khản chợt muốn ra đồng chụp lưới bắt chim cu.
Chưa tới sáu giờ mà ông trời đã vạch đường xanh đậm ở tít xa để chui lên. Hôm nay, ông không khoác cho mình những tia sáng chói lọi như những nan quạt hình ngọc lựu mà một nhà văn nào đó đã tả. Nhưng đẹp nhất có lẽ là những đám mây phía trên. Những đám mây phiêu diêu trong cổ tích với đủ hình dạng. Màu trắng lốp, được vừng sáng đỏ viền quanh, cộng với cái xốp ướt của nước của mây làm cho nó lóng lánh khác thường. Khản nhìn nó với lòng cực kỳ thán phục và biết rằng một chút nữa cái trứng khổng lồ đó sẽ nhỏ hơn, ánh sáng đỏ bớt chói chang. Và sẽ mất đi một buổi sớm mai. Cho nên Khản bắt tay vào công việc một cách sốt sắng.
“Ở đời có bốn cái ngu. Làm mai, giải nợ, gát cu, cầm chầu”. Lại nhớ lời thằng bạn nói. Gát cu có vẻ tiêu cực và công phu. Nào phải có những cái lục, một dụng cụ gát cu, lục phải chạm trổ tinh vi, phải ngụy trang sao cho cu bổ đừng ngờ. Nhưng khó khăn nhất vẫn là chuyện cu mồi. Một con mồi gát được ít nhất cũng phải huấn luyện từ ba đến mười năm. Cũng có thể cu mồi là những con gát bắt được. Đó là những con có mã tốt, giọng gáy say. Qua thời kỳ huấn luyện, phải biết nhận ra hơi chủ. Biết gióng lểu đôi, lểu ba. Biết chiêu, bo, gù rút khi người chủ ra hiệu lệnh.
Con mồi giỏi nhất là khi thấy con bói đến gần lục, phải “rút” cho kỳ được đồng loại nhảy vào bẫy.
Thuyết xong về cách gát cu, bạn Khản nói tiếp:
- Cách gát này tao nghĩ thụ động quá. Lựa một cành cây, gát cái lục có con mồi lên, ngồi chờ. Cả ngày được một vài con là nhiều, thậm chí không có con nào nữa. Bởi vậy người đời mới xếp vào loại ngu thứ ba.
Nghe Khản nói, Quát ngồi hẳn xuống chiếc ghế dựa. Bật lửa, đốt thuốc. Quát nhả những vòm khói tròn bay lên trần nhà, mơ màng nhìn nó.
- Không đâu mày. Trò chơi nào cũng có cái đam mê của nó. Đời sống không có ý vị gì, khi mình không có một đam mê. Biết rằng sẽ mất nhân cách khi uống rượu. Cha tao hồi trước làm nghề hạ bạc, giàu lắm. Sau bỏ nghề về đây mua hàng mấy trăm công ruộng. Lên bờ ông lại sanh ra đam mê nghề gát cu. Ông đổi hai mẫu ruộng lấy con cu mồi. Một mẫu lấy một cái lục. Và hàng trăm công ruộng khác bay theo nghề gát cu của ông. Gia đình sa sút. Bệnh tật kéo đến đeo đẳng như rẫy bìm bịp. Đến lúc hấp hối ông vẫn ra dấu cho mồi rúc lên từng hồi gióng giả mới chết.
Nói xong thằng bạn Khản lại mơ màng nhìn theo khói thuốc. Ánh mắt đăm đăm về xa xăm. Khản biết nó cũng đang đeo đuổi theo một đam mê nào đó. Khản cắt ngang dòng suy nghĩ của nó.
- Sao mầy không theo nghiệp ổng?
- Cùng là loài cu thôi. - Quát trả lời - Nhưng có chút ít bổng lộc, chút gạo trắng nước trong, chút lồng son gác tía, thì lại dùng đúng ngôn ngữ loài mình sát hại đồng loại mình. Những thứ đó tao khác ba tao, một cắc cũng không mua.
- Vậy chứ chụp cu khác với gát như thế nào?
- Tao thực dụng hơn. - Quát nói - Chụp kiếm mồi nhậu. Con mồi không có tội khi đồng loại sa lưới. - Nói xong Quát lại nhìn khói thuốc.
Lưới chụp sẵn. Soạn thêm đồ nghề, cu mồi, cơm nước cho cả ngày. Khản vác, xách các thứ đó ra đồng.
Đi một hồi tới khu vườn hoang. Nghe tiếng chân người, bầy trao trảo trên cây ớt hiểm bay loạn xạ. Một con rắn hổ ngựa giật mình, chạy phăng phăng trên mặt nước của một ao to.
Chui qua đám nhãn lồng. Ruộng hiện ra. Những vạt lúa vừa cắt xong còn trơ rạ vàng tươi, mập mạp.
Khản chọn chỗ như lời bạn dặn, cắm cột, chăng lưới, giựt thử. Hai mảnh lưới chụp vào nhau nhanh như chớp. Các thanh tre nằm song song rất đều, hứa hẹn không sảy con bổi nào.
Làm xong cái tum bằng lá dừa, thả cu mồi, buộc dây nhà. Khản chui vào tum ngồi chờ.
Nghe theo lời Quát, Khản chừa bốn năm khe hở để quan sát.
Sáu con bồi từ hướng Bắc bay tới. Khản giựt dây nhá. Bầy cu trên không đang ngon trớn, bỗng thấy con mồi chớp cánh, nên đảo vòng. Khản chụp dây nhá giựt lia lịa, ý thúc bọn chúng đáp nhanh xuống. Bầy bồi định đáp xuống lưới, chợt thấy con mồi chớp cánh liên hồi. Con đầu đàn cất cánh bay lên, kéo theo năm con sau bay thẳng.
Khản tiếc rẻ. Ngồi chờ hồi nữa. Hơi nản, nên lục tìm túi hộp quẹt đốt thuốc hút. Khi quay lại, hai con cu đất không biết từ hồi nào, đã đứng gọn trong lưới. - “Đố trời cho mày thoát” - Khản nghĩ và chụp dây giựt thật mạnh. Vút. Hai cánh lưới úp nhanh vô cùng. Quá đà Khản té ra sau. Khi ngồi dậy được, anh thấy hai con cu đất đang thảnh thơi bay về phương Nam. Nó lẹ hơn lưới chụp. Không hiểu tại sao nó thoát được. Sửa lại lưới, Khản ngồi chờ một hồi lâu nữa. Ngồi một lúc không thấy con nào. Anh định cuốn lưới. Trong lúc đang tính, anh chợt nghe bên tai mình có làn hơi thở mạnh và mùi mồ hôi pha mùi đất khen khét.
Quay lại, sát Khản, một gương mặt xương xương đen ngòm hiện ra. Nhưng ghê nhất là hai hàm răng. Nó nhỏ, đều, nhưng nhọn một cách kỳ lạ và đóng bợn vàng khè khiến Khản liên tưởng đến ma cà rồng.
Hắn cười tự tin và nói nho nhỏ nhưng chắc chắn, như ra lệnh với Khản.
- Xê ra chút coi, để tui chụp cho vài con. Chớ giờ tới chiều chú không bắt được con nào đâu. Tối thắc mắc tức chết mẹ!
Tự động Khản xê ra, nhường chỗ cho thằng nhỏ. Và không biết sao mình lại nghe lời nó.
Thằng nhỏ lại ra lệnh:
- Xê ra chút nữa, ngồi sát vào vách tum.
Khản lật đật làm theo.
Bấy giờ, nó mới chễm chệ ngồi vào chỗ Khản. Nó vạch rộng hai lỗ quan sát, giựt thử dây nhá, rồi tỉnh bơ nó rút một điếu trong gói thuốc thơm của Khản, quẹt lửa, thản nhiên thả khói.
Nó rít từng đợt thật sảng khoái. Khản nghe như cả tiếng khói đảo giòn giã trong hai lá phổi của nó.
Chậm rãi rít thuốc, độ nửa điếu, Khản nghe nó nói nhỏ:
- Cu đất ba con, phía Bắc.
Chú ý dữ lắm mới thấy ba chấm đen lao tới, Khản quay lại nhìn thằng nhỏ. Nó vẫn phì phả khói, đoạn đặt điếu thuốc xuống ruộng, hơi xê mình ra sau một chút.
Ba con cu trên cao, đang đà bay hướng khác.
Khản nóng lòng định giựt dây nhá. Nhưng thằng nhỏ quyết định nắm tay Khản lại:
- Đừng!
Nó nói và đợi ba con mồi gần đến, thò tay kéo một cái, con mồi ở giữa chớp nhẹ đôi cánh, chỉ có một lần. Nó buông dây nhá, nắm sợi dây giựt.
Ba con mồi trên đà bay, thấy con mồi chớp cánh. Chúng đảo lại sà bay xuống lưới chụp. Đợi chúng còn cách lưới bốn năm tấc, thằng nhỏ nắm sợi dây giựt một cái. Hai mảnh lưới ụp vào nhau cũng không nhanh lắm nhưng ba con cu đất đã nằm gọn trong lưới, chúng nhảy lung tung tìm đường bay lên. Không kiềm được sự vui mừng, Khản khoái trí vỗ tay đèn đẹt.
Thằng nhỏ mỉm cười và ra lệnh:
- Chú lại gỡ đi. - Nói vậy, nhưng nó vẫn cùng đi.
Khản định thò tay kéo lên.
- Chú đừng kéo vậy rách lưới.
Một tay lồng phía dưới nắm gọn con cu đất mập ú, tay trên cầm cái mỏ ấn xuống và ngón út đưa xuống mắt lưới kéo lên. Con cu đất sút khỏi lưới. Nhẹ nhàng nó kéo ra đưa cho Khản và dặn:
- Coi chừng sẩy.
Bỏ xong mấy con cu vào lồng, giờ Khản mới quan sát thằng nhỏ với vẻ thích mến thực sự.
Nó độ mười ba, mười bốn tuổi. Người khô đét. Móng tay, móng chân đầy ngấn bùn đen. Bộ đồ nó mặc, chẳng có hình dáng gì gọi là quần áo. Giẻ lau nhà Khản sạch hơn gấp trăm lần.
Khản ái ngại nhìn nó.
Riêng thằng nhỏ, biết Khản đang đánh giá mình. Mặt chẳng để lộ cảm xúc nào, nó nhìn Khản nói:
- Tui lạ lắm không?
Khản chợt giật mình khi nghe câu hỏi đó và hơi thẹn.
Nó móc bịch thuốc rê, quấn hút. Khản đưa cho nó điếu thuốc thơm.
- Thuốc đó thơm nhưng của chú. Giúp chú khi nãy lấy một điếu là huề. Còn tôi quen thứ rê chảng này rồi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #36 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 08:47:10 pm » |
|
Tiếp : Nó đứng dậy nói tiếp:
- Cu đàn mỗi ngày ăn ba lần. Hừng đông, trưa và sẩm chiều. Trừ ngày nào có mưa lớn, sau mưa chúng mới đi ăn trộm, nhưng ít khi gặp lắm. Chú có thể ăn cơm hoặc ngủ đợi trưa chụp nữa. Nhưng chắc chú không chụp được đâu. Nó khôn hơn quỷ. Tui mắc vào nhà anh Bầu chịu mối mai đào mương. Chớ không tui lại chỉ cho chú. Chú ở xa đến phải không? - Nói xong chẳng chờ Khản trả lời, nó đứng dậy phủi đít rồi đi về phía cái nhà lá bên kia ruộng. Khản muốn rủ thằng nhỏ ăn cơm, nhưng nhìn bộ răng nó, Khản không giữ lại. Đồng trống, gió từng cơn phẩy vào người. Hương rạ ngát. Một khoảng trống mênh mông yên ắng. Bữa cơm đạm bạc nhưng ngon.
Ăn xong. Khản lấy miếng vải bạt trải ra. Nằm nghỉ đợi trưa chụp tiếp. Anh quyết phải bắt được vài con chớ không bao giờ chịu thua loài hải cánh tầm thường này.
Nằm thoải mái trên rơm, Khản mới tức cười. Lâu nay, không nói ra nhưng Khản vẫn tự hào với học vị tiến sĩ của mình và đã từng lệnh cho người ta. Nhưng hôm nay nơi thôn dã, Khản lại răm rắp nghe theo lệnh một chú nhóc lên mười. Và, phải học khôn nhiều hơn mới có thể bẫy được loài động vật có cánh chỉ sinh tồn bằng bản năng tự vệ. Khản lại mỉm cười và nằm yên lặng. Xa, lũy tre xanh cuối làng, có tiếng gà eo óc. Một con gáy, hai con gáy. Tiếng gà lưa thưa đếm bước chân thời gian đưa hồn Khản bay về giấc kê vàng xa xôi trầm lắng.
Đến gần hai giờ chiều mới thức giấc. Khản cố nằm nán lại và hé mắt nhìn. Năm sáu con se sẽ. Bốn con dòng dọc đầu vàng nghệ đang xúm xít chung quanh chân mổ những hột lúa của bọn cu mồi làm rơi. Chúng xem Khản như khúc gỗ vô tri chứ không phải một con người mà mỗi chữ ký quyết định hàng trăm số phận người khác. Khản vui vẻ ngồi dậy “hù” một tiếng. Cả bọn bay toán loạn.
Anh chui ra khỏi tum, vươn vai, khoan khoái hít lấy những luồng không khí trong lành.
Xa xa, bụi chuối xiêm ra hoa đỏ khiến anh chú ý. Dưới gốc có một người đang nằm. Hình dáng ấy, không ai khác, chính thằng nhỏ hồi sáng.
Khản đi đến đó.
Nó xê ra những cái thân cây chuối cho Khản ngồi.
- Hồi nãy, tui có lại thấy chú ngủ mê quá. Có hai bầy khá đông, nếu chú thức sẽ chụp giùm được. - Nó nói.
Chụp nhiều hay ít Khản không quan tâm. Cái háo hức chính của Khản là muốn biết tại sao mình làm như nó, mà không chụp được dù là hai con cu đã đứng gọn trong lưới.
Khản hỏi:
- Cháu tên gì?
- Tui tên Nhọn.
- Nhà gần đây không?
- Nhà cháu cách nhà thầy Quát bảy cây cầu.
- Cháu biết chú ở đó?
- Tui còn biết chú ở đây chơi cả tháng nữa. Anh Bầu nói lại.
Khản sang chuyện khác:
- Tại sao chú cũng làm như cháu mà không chụp được con nào hết?
Nhọn cười. Khản tránh không dám nhìn hàm răng nó.
- Tui đã ngồi xem chú chụp từ khi vác lưới ra kia. Nghề chụp cu dở ẹt.
- Tại sao chú cũng nhả mồi mà nó không đáp xuống lưới?
- Cái ngoắc tay gọi bạn với các ngoắc tay cầu cứu nó khác xa lắm. Con cu mắt nó tinh, trên cao nó thấy con khác xa hàng cây số. Đợi nó lại gần chú giựt dây nhá cho con mồi chớp cánh một cái nhẹ. Đó là cái chớp gọi bạn. Còn chú giựt liên tục, bắt buộc con mồi chớp cánh liên tục vì sợ hãi. Đó là cái chớp cánh báo hiệu sự nguy hiểm. Dù giống vật nhưng nó có thèm sà xuống chỗ chết đâu!
Khản thấy tim mình thắt lại vì sự thiển học ở cuộc sống nông thôn của mình và bắt đầu thán phục sự am hiểu của Nhọn.
Khản móc thuốc mời Nhọn với vẻ trân trọng đặc biệt. Lần này nó cầm.
- Cháu năm nay bao nhiêu tuổi?
- Tui mười hai, mười ba gì cũng quên mất.
- Còn mẹ cha cháu?
Nhọn vờ mượn cái hộp quẹt thuốc và khen nó đẹp. Khản biết nó không muốn nói về chuyện gia đình. Nên đặt vấn đề khác.
- Có con đã đứng sẵn trong lưới rồi, sao chú giựt nó vẫn thoát được?
Nhọn rít hơi thuốc, thong thả:
- Đã nói với chú nó khôn hơn quỷ. Chú để ý xem khi nó đậu xuống đất không bao giờ mổ lúa ăn liền. Nó đứng liếc mắt quan sát xem có nguy hiểm không mới mổ ăn. Cho nên khi nó đậu xuống lưới, khó mà chụp được nó vì lưới nhanh, nhưng không bằng đôi chân, đôi cánh của nó. Chỉ động một chút là nó bay mất. Muốn bắt được, phải canh lúc nó xuống cách độ vài tấc, chú giựt đố con nào thoát. Cái trớn nó đang sà xuống muốn đảo lên thì không được, vì sát đất nếu đảo lên bất ngờ, nó cũng phải té xuống. Cuối cùng nó phải nằm gọn trong lưới chú.
- Vậy mà chú tưởng dễ xơi nó lắm. Hèn chi...
Ở đây tụi tui không có tiền. Nên bắt buộc phải theo dõi bọn nó để kiếm cái ăn hàng ngày. Chú phải biết cách sinh sống mới bắt được nó. Tui đố chú tháng ba tìm được ếch ngoài đồng hay dưới mương rạch. Còn người sành ăn ếch chỉ ăn có lúc này vì thịt nó ngon và thơm hơn thịt gà. Nhưng muốn bắt, chỉ có tụi tui thôi.
Và để chấm dứt câu chuyện Nhọn nói:
- Giờ chúng sắp sửa đi ăn buổi chiều, chú rình chụp được rồi.
Khản lắc đầu, vỗ vai Nhọn:
- Chú chụp chơi chứ không muốn bắt nhiều. Cháu lại đây.
Nhọn theo, Khản bắt ba con cu chụp được lúc sáng đưa cho Nhọn. Nhọn lắc đầu:
- Không! Chú đem về nướng đi. Tụi cháu ăn hoài.
Khản nhìn Nhọn, tiếp:
- Cháu xách về làm sạch treo đó. Chiều chú lại chơi. Chú cháu mình nướng nó và tâm sự thêm về chuyện chim cò. - Khản cười.
Nhọn e dè cầm lấy, rồi hỏi:
- Chừng nào chú lại?
- Chiều chiều.
- Làm món gì để tui lo. Chú uống rượu không?
Khản lưỡng lự một chút rồi nói:
- Có chút rượu cũng được. Tiền đây. Còn cu thì nướng.
Khản nghĩ chắc gia đình Nhọn có trục trặc gì đây, nên có ý muốn tối nay đến chơi. Vả lại ở nhà Quát một mình cũng buồn. Và Nhọn đang thực sự thu hút Khản.
Khản lui cui cuốn lưới, nhổ cọc rồi đưa mắt tìm Nhọn.
Cái dáng nhỏ thó của nó đã khuất sau đám bắp xanh rờn.
Sự sạch sẽ, giàu sang lịch sự của người khách lớn tuổi làm Nhọn chăm lo chút đỉnh cho bản thân mình.
Cái áo rách lúc sáng được thay bằng cái áo mầu đỏ, đỏ trông đến kỳ cục, và cũng đã có vài chỗ vá. Cái quần dài sờn hai đầu gối, ở mông có một miếng vá. Còn hàm răng được nó đánh kỹ.
Ba con cu được làm sạch sẽ treo ở chái bếp. Còn nhà chẳng ra nhà. Vì nó có mái không có cửa, có vách không có ván lợp. Một bàn thờ, một giường nằm. Trên cái bàn ăn nhỏ bằng tre, dọn sẵn chén đũa ra, nước mắm. Một ly uống rượu. Toàn bộ chỉ có bấy nhiều. Riêng đĩa rau mới nhìn đã thấy rất ngon lành.
Khản đến. Nhọn cười vẻ thèn thẹn vì sự nghèo nàn của mình.
- Chú ngồi chơi nghen. Tui nướng nó, chim nướng một lửa mới ngon.
- Sao cháu không ướp cho thơm?
- Nó ướp gia vị, mất mùi chim. Để tui làm lát chú ăn sẽ biết.
Nhọn gạt lửa bắt đầu nướng.
Ngồi không, Khản đi vòng quanh nhà người bạn nhỏ.
Dưới bàn thờ, có một hộp thiếc cũ khá to. Trong đựng đồ chơi Nhọn nặn bằng đất. Khản ngồi xuống lấy từng vật trong đó ra quan sát.
Một con trâu cỡ cườm tay nằm thảnh thơi ngơi nghỉ. Nó đưa cặp mắt bằng hai hột đậu đen nhìn xa vẳng nhớ lại thời làm lụng cực nhọc đã qua. Miệng nó ngoạm ngang một bông lúa nhỏ. Bông lúa hơi khô chứng tỏ con trâu này được nặn cách đây không lâu.
Thầy trò Tam Tạng đi Tây Trúc thỉnh kinh. Đường thiên lý xa xôi muôn dặm mà thân hình Đường Tăng lớn hơn ngón chân cái. Gương mặt thầy hiền hòa đầu đội mũ tỳ lư làm bằng những hột lứa dựng ngược thật đều và khéo. Thầy đang cưỡi con ngựa trắng, tay cầm gậy thiên trượng bằng nhánh trúc nhỏ, trên cắm ruột trái mù khô. Cạnh là chú Sa Tăng đeo một sâu sọ đầu bằng hột thầu dầu trông rất dữ tợn. Còn anh Trư Bát Giới ham dâm với hai còn mắt ti hí, hai lỗ tai heo bằng lá nhãn khô dựng đứng, hai tay ôm cái bụng phệ nung núc mỡ, có cái lỗ rún sâu hoắm. Trư đang lười biếng nằm cạnh gốc cây khò khò ngủ. Riêng bác Tề Thiên có lẽ tác giả tốn công với bác nhiều nhất. Bác vận quần da hổ, áo thầy Tam Tạng may cho, y như trong phim. Hai tay bác cầm ngang cây thiết bảng bằng một cành tre nhỏ. Cây thiết bảng được nối với một thanh nứa dài và uốn cong theo lưng bác bằng một sợi dây nhợ. Thấy ngộ, Khản cầm ngang lưng bác đưa lên cao. Bất ngờ thanh nứa động đậy giựt sợi dây lia lịa. Thế là, hai chân bác Tề Thiên đong đưa. Tay bác nâng cây thiết bảng lên, lúc thì gạt bên này, lúc thì gạt bên kia. Lúc giơ lên cao, lúc thẳng tay đập xuống. Bác đang đi một bài hầu quyền tuyệt diệu. Nếu lúc này nam tài tử Lục Tiểu Linh Đồng thấy cũng chắc phải khen tài đối với bác. Khản say mê nhìn. Quên luôn Nhọn, quên luôn mùi cu nướng thơm lừng. So với xe hơi, chiếc máy bay điều khiển bằng điện tử từ xa Khản mua cho những đứa con, nếu mang vật này về thì chắc chắn chúng sẽ bỏ hết để chọn bác Tề Thiên.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 08:49:31 pm » |
|
Tiếp : Khản quỳ một chân bên con trâu, tay nâng nó như một báu vật. Con trâu đất bỗng hỉn mũi như nhận được hơi người chủ cũ, nó phình to lên như con trâu thật ngoác miệng nhìn Khản cười. Nụ cười kéo tận mang tai, nửa thương, nửa khinh. Nó nói:
- Có phải ông tiếc những ngày xưa phải không? Khi ông cười tôi, nhàn nhã rong chơi khắp đồng không mông quạnh. Lúc đó lòng ông trong sạch như bông sen trắng. Còn bây giờ... ha ha... ha ha...
Nói đến đây, đầu nó ngước cao và cười thành tiếng “ha ha” “ha ha”. Nó cười đến hàm răng trên ta tả rụng xuống hết nó mới thôi cười và ngâm nga:
Con trâu có một hàm răng
Ăn cỏ đất bằng, uống nước bờ ao.
Ngậm xong miệng lại cắn ngay bông lúa và từ từ biến nhỏ lại thành đất nằm gọn trong lòng bàn tay Khản.
Ôi! Cái thời xa xưa của Khản, cái thời quá vãng ào qua lạnh buốt. Khản thấy rưng rưng và day dứt trong lòng.
Tiệc bày xong.
Nói là tiệc nhưng chỉ có hai người.
Hai chú cháu ngồi ngang nhau. Không ngần ngại Khản làm một ly rượu nếp rặc vừa nồng vừa thơm, khà một tiếng nhỏ. Đoạn, Khản xé một đùi chim béo múp, nóng hổi chấm nước mắm, bỏ vào miệng. Ngắt thêm vài đọt rau thơm, cắn nửa trái ớt hiểm, Khản bắt đầu nhai. Mỡ chim tươm ra đầy môi. Cái béo, cái ngọt, cái nồng, cái cay cộng với mùi chim nướng nó quyện tê đầu lưỡi.
Khản uống luôn hai ly với hai đùi chim. Anh bạn nhỏ, ngồi nhìn Khản ăn, mỉm cười nói:
- Tui nói đâu có trật, chú ướp rồi nướng ăn không ngon hơn đâu.
Vị ngon của rượu nếp rặc vẫn chưa tan, Khản gật gù:
- Không bữa tiệc nào ngon hơn.
Nhọn sung sướng nói:
- Nhằm nhò gì chú. Chim này thịt long nước ăn không ngọt hung. Bữa nào ra giữa đồng đem rau rượu, nước mắm theo. Cháu làm cho chú món chim ướp sình nướng rơm. Món đó còn ngon hơn nữa.
Đợi cơn khoái cảm qua, Khản mới trở lại ý chính là mình muốn tìm hiểu hoàn cảnh người bạn nhỏ ở đợ này, vì càng lúc càng thấy mến nó hơn.
Nhưng hỏi thẳng thì nhớ lại cái lẩn tránh của nó lúc ban trưa, Khản suy nghĩ tìm cách khác. Anh vào đề:
- Rượu ở đây ngon quá!
-Cái nầy là của thằng bạn, nó gởi cho tui và chú. Rượu nếp rặc. Nó còn gởi thêm một mớ phèo heo đang luộc nữa kia. Đợi hết chim tui chú sẽ làm tới món đó.
- Nãy giờ cháu chưa uống ly nào. - Khản muốn Nhọn uống vài ly. - Vậy mà cháu nói, cháu với mấy thằng bạn uống hoài.
Con chim nướng trong chén rượu Nhọn còn nguyên. Nó rót rượu thật gọn. Bọt rượu sôi tràn thành ly và nổ tanh tách nhưng không rớt ra ngoài một giọt. Nó xé một đùi chim đút vào mõm con chó cò, rồi mới xé đùi kia bỏ vào miệng, đánh ực một ly rất thạo.
Giờ Khản mới chú ý đến con chó.
Con chó háo hức nhai miếng thịt chim, đuôi ngoáy lia lịa. Toàn bộ cơ thể nó thật thiểu não, có thể nói chỉ còn một bộ khung xương với dúm da bọc. Chỉ có cặp mắt nó sáng quắc. Khản biết nó đói và chợt nhớ tới người bạn đã nhận xét là khi đói mắt người ta sáng lạ thường và trở nên hung dữ hơn. Ăn xong nó thè lưỡi liếm mép rồi liếm bàn tay Nhọn.
- Bạn tui đó chú. Thầy trò tui không lúc nào rời nhau. Nó giỏi lắm, nhưng lúc này thiếu cơm nên ốm nhom, ốm nhách, tội nghiệp. Nó bắt “ông đen” số một. Chú biết không, bữa hôm nó bắt một con lớn hơn cườm tay chú nữa, dài gần hai thước. Con rắn hổ đen phùng bàn nạo với nó, cháu thấy cháu còn sợ. Hai con thủ thế. Con rắn trườn tới, nó thối lui; con rắn thối lui nó nhào tới. Một hồi, nó đưa chân trái tới miệng con rắn, dứ một cái con rắn mắc lừa mổ liền xuống đất. Lợi dụng phút đó, nhanh như chớp nó nhào tới cắn ngang cổ cúp con rắn, quay qua, quay lại lia lịa. Nó nhả ra, con rắn nằm im không nhúc nhích được. Tôi chỉ cần lấy cái mác vớt khứa cổ đem về. Thầy trò nấu nồi cháo đậu xanh rồi cùng với mấy thằng bạn làm một bữa bí tỷ.
- Tiền đâu mấy cháu mua rượu?
- Đứa nào dư thì mua, không có thì thôi. Tụi cháu làm mướn. Ngày nào không ai mướn thì săn chuột, thối quốc, hay nặn đồ chơi chơi.
- Cháu làm gì?
Thằng Nhọn đưa bàn tay to bè, chai sần. Những đốt tay phù to như những đốt tre, cười hồn nhiên:
- Đủ nghề hết, mần cỏ, đào mương, cuốc đất.
Nói xong, để chứng minh, nó vào buồng ôm ra lỉnh kỉnh vá, cuốc, dao, cái nào cái nấy sáng giới vì cọ sát với đất. Chứng tỏ lao động cật lực. Nhọn tiếp.
- Bây giờ ít ai mướn làm quá. Người lớn như anh Bầu làm một ngày, ăn cơm chủ, chủ trả mười ngàn. Tui làm giỏi như ảnh nhưng chủ chỉ trả sáu ngàn mà anh Bầu phải lãnh dùm người ta mới mướn. - Nói xong, nó ôm con chó lên. Con chó thè lưỡi liếm gò má nó. - Nhọn tiếp - Tội nghiệp con này nó theo cháu hàng ngày. Nhưng mình ăn cơm chủ, cho nó ăn nữa thì chủ không chịu, thỉnh thoảng cháu lén đổ vài muỗng, nên nó ốm nhom - Nhọn lại cười.
- Còn ba má cháu đâu?
Nhọn nhìn xuống đất hồi lâu nói:
- Ba má cháu thôi nhau bảy năm rồi. Cháu ở với ba, nhưng ba buồn đi rượu chè đôi ba tháng mới về. Còn mẹ thì đi luôn. - Nói xong, nó vẫn nhìn xuống đất.
- Cháu sống như vậy thì sao sống nổi?
- Biết làm sao giờ chú! Cháu van vái ba má cháu về. Rồi, cháu sẽ làm cật lực để có tiền mua bộ đồ hớt tóc. Nghề đó học nhanh và dễ làm ra tiền lắm. Với lại nó ít cực hơn nghề làm mướn của cháu. Chớ chú nghĩ, cháu có học hành gì đâu mà làm nghề khác được?
Khản nhìn mãi ngọn lửa bập bùng trong bếp, thằng Nhọn đứng dậy nói tiếp: - Cháu xắt lòng heo, chú cháu mình làm tiếp.
Khản đưa tay ngăn:
- Không! Chú không uống nữa. Cháu dẹp đi. Đêm nay chú ở đây chơi với cháu:
- Phèo non ngon lắm.
- Không - Khản trả lời dứt khoát.
Nhọn nghe lời:
- Nếu chú ở thì chú ngủ giường cháu. Cháu ngủ ngay bàn này.
- Cháu ngủ chung với chú. - Khản nói.
- Không, cháu nằm chỗ nào cũng được, với lại cháu ngủ đâu con chó cò này theo ngủ đó.
Dọn dẹp xong, nó trải chiếu cho Khản nằm, rồi ra sàn ôm mấy khúc củi bự vào.
Khản hỏi:
- Cháu làm gì vậy?
- Hun muỗi. Ở đây muỗi nhiều lắm chú.
Khản nằm im trên giường. Men rượu nồng lâng lâng mạch máu. Những ngày trước uống cỡ này dễ ngủ say lắm. Đêm nay lạ chỗ Khản trằn trọc mãi.
Đêm sâu, ánh trăng lại rớt ở hiên nhà. Những lùm cây xung quanh không còn trông rõ hình dáng, bếp củi Nhọn nhóm gần tàn, thỉnh thoảng cơn gió thoáng qua, nó bùng lên uốn éo một điệu múa lạ rồi tắt ngay. Qua ánh lửa, Khản thấy Nhọn nằm co ro trên chiếc ghế ăn cơm, con chó cò nghếch cổ nằm ngủ trên kheo chân Nhọn.
Khản chắc mấy ly rượu đã làm nó ngủ say. Anh định đi về thành phố, anh sẽ mua tặng liền cho nó một bộ đồ hớt tóc hiệu Pháp, loại tốt nhất. Chợt có tiếng Nhọn ho. Khản hỏi:
- Cháu chưa ngủ à?
- Đêm nào cũng vậy chú - Nhọn trả lời - Buồn quá. Nhất là tiếng con vạc sành nó kêu “tọc, tọc” suốt đêm. Cứ nghe hoài cháu không ngủ được. Đó, chú có nghe không?
Từ lúc chiều đến giờ Khản không chú ý, giờ nó nói, Khản yên lặng nghe “tọc, tọc, tọc”. Tiếng kêu đều đều phát ra từ những lùm cây quanh nhà.
Nằm nghe nó kêu Khản thao thức mãi, chợt đầu anh chạm vào một gói gì nho nhỏ dưới gối. Đó là một tấm ảnh cũ của ba Nhọn và Nhọn. Người đàn ông trong ảnh đang cười, để lộ những chiếc răng nhỏ đều, nhọn một cách kỳ lạ y như hàm răng của Nhọn.
Khản rùng mình choàng dậy.
“Tọc, tọc, tọc”. Khản biết giải quyết vấn đề Nhọn bây giờ không phải đơn giản là mua một bộ đồ hớt tóc loại tốt, mà chính là tiếng vạc sành của truyền thuyết ngày xưa.
Khản len lén đứng lên lấy cái mền đắp cái hình hài tiều tụy của nó. Rồi anh bước hẳn ra ngoài trời trở về nhà bạn mình.
Ánh trăng khuya làm ướt cả đường đi.
“Tọc, tọc, tọc” đâu đâu cũng có bản hợp tấu đau đớn, da diết, bi thương đó. Tiếng kêu thất thanh của nỗi đau nhất đời người, nhưng không do mình gây ra. “Tọc, tọc, tọc”. “Tọc, tọc, tọc” Khản chợt nhìn thấy chùm tóc lòa xòa trước trán mình bỗng bạc trắng và nghe ngàn tiếng vạc sành như những tiếng răng nhọn hoắt cắn xé trong tim mình.
“Tọc, tọc, tọc”. “Tọc, tọc, tọc”. Anh đi như chạy dưới ánh trăng tai tái
Ph Tr Kh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #38 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:19:16 pm » |
|
Thăm chồng nơi chiến trận Tác giả :Hàn Thị Trang
Hơn 40 năm trong quân ngũ quả là thời gian khá dài đối với cuộc đời một người phụ nữ. Có biết bao nhiêu chuyện vui, buồn xen lẫn trong khoảng thời gian ấy. Có chuyện dễ dàng phai mờ theo năm tháng. Nhưng cũng có những kỷ niệm càng chôn chặt trong ký ức, lại càng sáng ngời lên trong đời sống hiện tại. - - - - - - - Vợ chồng tôi tạm chia tay nhau đầu năm 1964. Anh vào chiến trường miền Nam. Tôi ở lại miền Bắc tiếp tục học thêm chuyên môn và chăm sóc ba con nhỏ. Hơn một năm sau, cuối năm 1965, tôi cũng theo bước chồng vào chiến trường, với cương vị quân y sĩ khoa sản. Nhiệm vụ là chăm sóc sức khỏe trung đoàn nữ thanh niên xung phong trên đường dây 559. Trung đoàn toàn những cô gái khỏe mạnh từ Thanh Hóa, Quảng Bình, Nam Định, Ninh Bình và một số tỉnh miền Bắc tuyển chọn vào. Vậy mà chỉ trong một thời gian, bom đạn, ốm đau, bệnh tật, đói khát và biết bao khó khăn, phức tạp của giới nữ đã làm chúng tôi xuống sức nhanh chóng. Chỉ mới một năm làm việc ở Trường Sơn mà các cô trẻ, đẹp đã mất đi phần lớn vẻ duyên dáng, mượt mà của giới mình.
Biết được sức khỏe và khó khăn của trung đoàn, cấp trên đã điều động toàn đơn vị trở ra miền Bắc điều dưỡng và công tác ở tuyến ngoài. Tôi được các anh cấp trên cho biết, chính Bác Hồ sau khi nghe báo cáo về cuộc sống của chúng tôi ở Trường Sơn đã chỉ thị đưa trung đoàn ra Bắc.
Cuối năm 1967, sau khi tốt nghiệp bác sĩ, tôi tiếp tục làm đơn xin vào chiến trường miền Nam một lần nữa. Tôi tâm niệm rằng, mình sinh ra trên đất miền Nam thì không có lý do gì lại vắng mặt trong cuộc chiến tranh giải phóng chính quê hương mình. Một điều khác cũng không kém sức lôi cuốn, thôi thúc là vào đó sẽ có cơ hội gặp chồng. Các anh trong Cục quân y và Bộ Quốc phòng không muốn cho tôi đi, với lý do chồng tôi đã đi rồi, các con tôi còn nhỏ. Một vài bạn thân cũng khuyên can, nhưng ý đã định, tôi quyết thực hiện cho bằng được. Và thế là tôi trở lại chiến trường lần thứ hai. Chồng tôi - anh Lư Giang - khi đó là Sư đoàn trưởng Sư đoàn Sao Vàng, đang chiến đấu ở Bình Định.
Sau một thời gian công tác ở Quảng Nam, tôi đề nghị quân khu cho phép vào Bình Định thăm chồng. Anh Chu Huy Mân, anh Giáp Văn Cương, anh Đặng Hòa, anh Nam Khánh và các anh trong Bộ Tư lệnh hồi đó tính toán mãi, cuối cùng mới đồng ý. Anh Chu Huy Mân còn nói vui: “Nếu sư Ba cần, cô Trang cứ ở lại, chúng tôi không truy tìm đâu mà lo”.
Được các anh đồng ý cho đi, tôi mừng chảy cả nước mắt. Tôi vội thu xếp khăn gói lên đường cho kịp với đoàn anh Nam Khánh, cũng về sư đoàn.
Quãng đường từ Quảng Nam vào Bình Định thật khó khăn, cực nhọc. Suốt ngày leo dốc, lội suối đá, tránh bom tọa độ. Càng vào sâu các tỉnh ở miền trong, mức độ ác liệt, khó khăn càng không thể tưởng tượng nổi.
Mấy ngày đầu còn theo kịp anh Nam Khánh, sau tôi sợ ảnh hưởng đến kế hoạch của đoàn, nên lùi lại đi một mình. Cứ như vậy, ngày đi, đêm nghỉ. Có ngày đến được trạm giao liên, nhưng cũng nhiều lần mới đi được nửa đường thì trời đã tối. Nghe anh em giao liên nói, nếu phải dừng lại giữa đường thì nên ngủ ở một hòn đá giữa suối nước, nếu không sẽ bị hổ ăn thịt. Vậy là hôm nào không tới được trạm, tôi tìm một tảng đá lớn ở giữa suối, ngồi, tựa ba lô mà ngủ gà ngủ gật cho hết đêm.
Khắc đi, khắc đến. Vào một buổi trưa, tôi tới sở chỉ huy Sư đoàn Sao Vàng. Một anh cán bộ còn trẻ nhưng đôi mắt trũng sâu, thâm quầng, có lẽ vì mất ngủ, xem tờ giấy rồi nói với tôi: - Mời chị tạm nghỉ ở nhà khách, họp xong thủ trưởng sẽ ra ngay. “Nhà khách”, nói cho sang vậy thôi, thực ra chỉ là cái lán lợp lá nón nấp dưới lùm cây, giống như lán nghỉ của chị em chúng tôi ở đường dây 559. Nhưng không hề gì, tôi đã quen với chiến trường từ lâu. - Từ đây đến chỗ anh Giang còn bao xa, đồng chí? - Gần thôi chị ạ! Chỉ năm phút đi bộ. - Vậy thì cho tôi vào có được không? - Dạ, không được, Tư lệnh nguyên tắc lắm. Chị thông cảm. - Chả lẽ nguyên tắc quân sự lại áp dụng luôn đối với vợ - Tôi vừa nói vừa cười. Anh cán bộ trẻ vui vẻ đáp: - Chị cũng là cán bộ, lại là vợ thủ trưởng, chắc chị hiểu tính nguyên tắc của thủ trưởng. Nhất là ở thời điểm này, đơn vị đang triển khai tác chiến.
Nghe chừng thuyết phục anh cán bộ bảo vệ không xong, tôi đành vào lán mắc võng nghỉ. Bấy giờ trong đầu óc tôi bâng khuâng một câu hỏi: Tại sao biết vợ lặn lội vào đến đây mà anh ấy không ra đón? Trước đó mấy phút, tôi tưởng tượng khi biết vợ đến, anh sẽ dừng họp ra đón ngay. Mấy năm rồi còn gì. Lúc đó, tôi sẽ sà vào lòng anh mà khóc, mà kể anh nghe về hai lần vào chiến trường, chuyện các con gửi quà cho bố. Chuyện bị phục kích ở sông E-mơ, bị đạn bắn vỡ hết cả ba lô, kính lão mà người không việc gì. Rồi chuyện xe ô tô bị đổ ở trạm Buôn Phiên mà anh em gọi đùa là trạm “Buồn Phiền” bị gãy xương vai và bàn chân, chị Tùng vợ bí thư tỉnh uỷ Đắc Lắc chết tại chỗ… Còn một chuyện khác nghĩ lại rất buồn cười mà tôi cũng muốn kể cho anh. Đó là chuyện khi tôi làm đơn tình nguyện vào chiến trường, lẽ ra phải “Kính gửi đồng chí Phạm Ngọc Mậu", không hiểu thế nào tôi lại viết kính gửi đồng chí Hồ Tùng Mậu. Anh Mậu gặp tôi vừa cười vừa nói đùa: “Này cô Trang ơi, tôi là Phạm Ngọc Mậu, còn Hồ Tùng Mậu đã đi lâu lắm rồi, muốn gửi đơn cho cụ ấy, cô phải gặp Diêm Vương chớ sao lại đưa cho tôi”.
Biết mình nhầm lẫn một cách ngớ ngẩn, tôi ngượng chín cả người.
Thế rồi cái câu hỏi: “Tại sao anh ấy không ra đón tôi” lại xuất hiện trong đầu. Tôi bỗng tủi thân. Cổ họng nghẹn đắng, nước mắt trào ra lúc nào không biết. Giận hay ghen, tôi không rõ. Tôi có nghe nói các thủ trưởng thường được những cô y tá, công vụ tuyển chọn từ đồng bằng lên, chăm sóc rất tận tình. Và biết đâu đấy, anh Giang cũng chỉ là một người đàn ông bằng xương bằng thịt…
Mỗi một phút chờ đợi lúc này sao mà nó dài đằng đẵng. Tôi bỗng giở toàn bộ ba lô rồi xếp lại, để giết thời gian. Nhưng thực ra, trong ba lô chẳng có gì nhiều. Vài bộ quần áo. Một hộp thuốc quân y. Nhưng khi xếp đến gói quà của các con tôi gửi cho bố, thì tôi thấy bủn rủn cả chân tay. Ôi, các con bé bỏng đáng thương của mẹ. Hiện các con đang sống ra sao… Tôi bần thần giở ảnh của Chinh (con lớn), của Lê (con thứ Hai), của Phương (con gái út) ra xem. Các con tôi đang mỉm cười như khích lệ lòng kiên nhẫn. Các con còn hát, còn đọc thơ thu vào băng cát-sét gửi cho bố. Cho đến chiều, đồng chí liên lạc mới ra trạm mời tôi vào gặp “thủ trưởng”. Tôi vẫn bực mình nghĩ: “Anh ấy quan cách quá, chỉ dăm phút đồng hồ mà không thèm ra đón. Còn mình… mình đã lặn lội hàng ngàn dặm đường…”.
Đúng như anh cán bộ ở trạm nói, năm phút sau tôi đã vào tới sở chỉ huy tiền phương sư đoàn. Nhìn thấy anh Giang, tôi định nhảy đến ôm chầm lấy anh sau những năm xa cách. Nhưng nhìn ánh mắt không vui, của anh tôi sững lại ngay. Tôi cố kìm nén để khỏi bật ra tiếng khóc, vì tủi thân. Cũng may, anh Nam Khánh, anh Huỳnh Hữu Anh, anh Sơn Diệp trong Bộ Tư lệnh sư đoàn đều có mặt, chúc mừng buổi hội ngộ đặc biệt của vợ chồng. Mới nói chuyện qua loa được một lúc, anh Giang bỗng đứng dậy nói với mọi người: “Thôi, ta hành quân cho kịp”.
Vậy là hành quân. Anh Giang và Bộ Tư lệnh đi trước, tôi đi sau với cơ quan. Một đồng chí cán bộ tác chiến cho biết, chiến dịch đã bắt đầu rồi. Sở chỉ huy đang rời đến một quả đồi gọi là Hòn Nọc, để chỉ huy hai hướng Mỹ Trinh, Mỹ Lộc (huyện Phù Mỹ) và khu thung lũng Hoài An. Anh cán bộ giải thích, thời điểm này chiến trường Bình Định đặc biệt gay cấn. Sư đoàn không vận số 1 Mỹ qua hai mùa khô đã rút đi, nhưng chúng lại đưa lữ đoàn xe tăng thay thế. Vậy là hết “không vận”, ta lại phải đối phó với “Thiết xa vận”. Hết “Kỵ binh bay” lại phải đánh với “Kỵ binh thiết giáp”.
Vốn làm nghề y, nên khi nghe anh cán bộ tác chiến nói về chiến thuật, về vũ khí, về cách đánh, tôi chỉ hiểu được một phần. Nhưng tôi biết đại thể, tại khu vực giáp ranh này đang diễn ra một cuộc đọ sức rất quyết liệt. Một bên là Sư đoàn Sao Vàng mà chồng tôi đang làm sư đoàn trưởng và các lực lượng địa phương tỉnh Bình Định. Một bên là hàng trăm xe tăng, hàng ngàn lính Mỹ, chưa kể đến lực lượng quân nguỵ.
Vừa hành quân tôi vừa tìm cách hỏi dò về tình cảm của chồng tôi đối với mọi người xung quanh, đặc biệt là các cô gái phục vụ còn rất trẻ. Biết đâu, ở chiến trường lâu ngày, xa vợ xa con lại là người chỉ huy cao nhất. Tôi cố nén cơn ghen tức vừa chợt bùng lên làm như vô tình hỏi anh cán bộ đi cùng. - Này, khi thủ trưởng nghỉ ngơi, các cô y tá, công vụ có phục vụ chu đáo không? - Có chứ - Anh cán bộ hồn nhiên trả lời. - Vậy khi ngủ…? - Không, cái đó thì không. Thủ trưởng ở hầm riêng, cần gì thủ trưởng mới gọi. Thế cũng đủ rồi. Tôi không hỏi thêm gì nữa, hèn gì anh ấy lạnh nhạt đến thế. Cái máu “nữ nhi thường tình” lại nổi lên như một cơn lốc khiến tôi hết sức đau đớn.
Sở chỉ huy tiền phương sư đoàn đóng trên mỏm một quả đồi cây xanh. Ở giữa có thể quan sát được cả khu vực đồng bằng và giáp ranh rừng núi. Tôi không thông thạo địa hình, nhưng anh Giang nói điểm cao này rất bất ngờ, có thể tránh được bom B52 và thuận tiện cho việc chỉ huy tác chiến. Đêm ấy, mồng 3-5-1968, sư đoàn đã dàn đội hình chuẩn bị nổ súng. Vợ chồng tôi nghỉ ở một căn hầm bò. Các chú vệ binh, công vụ khéo tay đã ken những cây rừng thành bàn ghế và cả chỗ nghỉ lưng, nom rất phẳng phiu xinh xắn. Vốn đã sống ở Trường Sơn mấy năm, tôi thấy chỗ nghỉ thế này cũng là sang lắm rồi. Dưới ánh đèn dầu nhỏ tôi nhìn anh, anh nhìn tôi… rồi bỗng dưng anh ôm chầm lấy tôi. Tôi khóc. Bao nhiêu nghi ngờ phiền muộn như được bù đắp. Anh gầy tọp. Tôi xúc động đến ngột thở, một lát sau mới tỉnh táo được trở lại. Tôi cười, tay với chiếc ba lô định khoe với anh món quà của các con gửi cho bố mà tôi đã giữ gần một năm nay. Nhìn nét mặt, tôi thấy anh nghiêm hẳn và trầm lặng. Tôi thầm hiểu anh có điều gì đó băn khoăn chưa tiện nói ra. Im lặng một phút, anh hỏi: - Em vào đây làm gì?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #39 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 09:21:41 pm » |
|
Tiếp : - Em vào đây làm gì? Chao ôi, nghe anh hỏi mà tim tôi se thắt lại. Tôi thầm nghĩ: Ba năm trời xa nhau, hôm nay mới gặp mà sao anh lạnh lùng đến thế. Song tôi vẫn giữ vẻ bình thản trả lời: - Em đến thăm anh. Nếu có điều kiện em sẽ ở lại công tác và gần gũi chăm sóc anh. Vừa nói, tôi vừa trao gói quà của các con gửi cho anh. Anh cầm gói quà một cách thờ ơ, rồi để ngay xuống bàn. Nhìn cử chỉ và nét mặt của anh, tôi bỗng choáng váng, nghẹn ngào: - Sao lại thế, anh Giang? - Anh Giang ơi, chả lẽ mấy năm mới gặp nhau, có biết bao nhiêu chuyện cần nói, cần bàn anh không muốn nghe sao? Biết thế, em chẳng cần xông vào nơi bom đạn, xa xôi này làm gì… Hay anh đã thay lòng đổi dạ với mẹ con em. Anh cứ nói đi. Em đủ sức chịu đựng tất cả. Tôi dằn hắt, hờn dỗi. Anh không nói chỉ lắc đầu và ôm chặt tôi hơn như sợ tôi tuột khỏi vòng tay. Một lúc sau, anh mới nhỏ nhẹ nói: - Hãy hiểu cho anh, Trang. - Từ trước tới nay em hiểu, nhưng bây giờ thì em không thể hiểu. - Anh thương yêu em, thương yêu các con hơn bao giờ hết, đặc biệt là lúc này. - Thương mà anh lạnh nhạt với mẹ con em như vậy đó. Thương mà không muốn cho em ở gần. Thương mà anh chẳng hỏi han gì đến các con từ khi anh vào chiến trường. Thương mà anh… - Tôi chì chiết. Anh vẫn ngồi yên. Bất giác tôi nhìn lên mắt anh. Anh khóc. Đây là lần thứ hai tôi thấy anh khóc. Lần thứ nhất anh khóc trước mẹ tôi. - Vào thăm thì được, nhưng ở lại thì không được. - Vì sao? - Chiến tranh mà. Chúng mình còn có các con nhỏ. - Em đã thu xếp đâu vào đó cả rồi. - Cũng không ổn, ở chơi với anh đêm nay, sáng mai em phải về quân khu ngay. Anh thở một hơi dài như lấy sức trước khi làm một công việc nặng nhọc, rồi nói tiếp: Trang ơi, em đừng day dứt anh mà tội nghiệp cho cả hai người. Không lúc nào anh quên em và các con. Khi vào chiến trường anh đã giấu một tấm ảnh em và các con vào gấu áo để lúc nào anh cũng có em và con bên cạnh.
Anh nói nhỏ nhẹ, từ tốn khiến lòng tôi dịu đi. Anh nhắc tới những kỷ niệm khi tôi còn là một y tá phục vụ ở viện Quân y 108, vì thương yêu anh mà tôi bất chấp hoàn cảnh để kết tóc xe tơ cùng anh. Hoàn cảnh anh ngày đó thật éo le. Anh đi Nam Tiến năm 1946, vợ ở nhà bị bọn cường hào ức hiếp đến chết. Đứa con gái duy nhất của anh, cháu Lê Chinh côi cút, đói rách, bệnh tật không nơi nương tựa… Sau khi tập kết ra Bắc năm 1957, anh là trung đoàn trưởng nhưng chưa có chế độ lương, mỗi tháng được hai mươi lăm đồng phụ cấp. Tôi làm ở khoa phụ sản trong bệnh viện. Có lần, do sơ ý để mất tiền của bệnh nhân, anh đã phải bỏ số phụ cấp ít ỏi của mình trừ nợ dần cho tôi. Nhưng cái đó không quan trọng, khó khăn nhất là mẹ tôi không chịu nhận anh làm có rể, vì anh đã có một đời vợ và có con. Mẹ tôi nói: “Mẹ rất thương nó nhưng mẹ không đồng ý con làm vợ lẽ”. Một buổi sáng, tôi đưa anh đến gặp mẹ. Với một nét mặt buồn, anh nói: - Thưa mẹ, chúng con thương yêu nhau thực sự. Trang đã rất hiểu hoàn cảnh của con. Mẹ cho phép chúng con xây dựng với nhau. Con không còn cha, còn mẹ, cháu nhỏ cũng mất mẹ - Nói đến đó anh khóc. Mẹ tôi ngồi yên như một pho tượng. Anh nói tiếp: “Nếu xây dựng được với Trang, đời con còn có thêm tình thương của người mẹ mà bao năm con đã mất”. Nghe nói đến đó, mẹ tôi đứng dậy ra ngoài sân lấy khăn chấm nước mắt. Khi vào trong nhà mắt mẹ cũng đỏ hoe. Mẹ cầm tay anh và cầm tay tôi chập lại với nhau.
Ngọn đèn dầu trong hầm lúc mờ, lúc tỏ. Thi thoảng gió lọt vào lay động khiến nó nghiêng ngả làm cho khuôn mặt anh vốn gầy càng trở nên hốc hác. Nhìn chồng, tôi như đứt từng khúc ruột. Còn anh, anh vẫn đăm chiêu nhắc lại chuyện cũ.
Nói chuyện với tôi trong hầm, nhưng chốc chốc anh phải dừng lại, im lặng nghe ngóng. Bên ngoài sở chỉ huy có tiếng lao xao. Tôi đoán chừng các anh trong Bộ Tư lệnh cũng không ngủ, đang giải quyết công việc khi vắng anh. Biết vậy nhưng tôi tảng lờ như không có chuyện gì xảy ra, mong cho giây phút êm ả bên nhau được kéo dài thêm. Khoảng giữa đêm, có tiếng bom bay B57 rải và tiếng pháo biển gầm rít, rền rĩ ở dãy núi bên cạnh. Anh đứng dậy đi ra ngoài, nét mặt lộ rõ vẻ lo lắng. Lát sau, anh trở vào ngồi xuống, buồn rầu nói với tôi: “Không khéo nó đánh trúng đội hình hành quân của ta…”.
Gần sáng, không gian có lúc im lặng dễ sợ. Không tiếng súng, không tiếng người, không tiếng côn trùng, không cả những ánh pháo sáng vàng bợt từ phía Phù Mỹ rộ sang. - Em có điều gì băn khoăn nữa không?
Anh hỏi tôi. Được dịp, tôi thổ lộ rõ ý định của mình. Trước tiên, tôi giở gói quà của các con gửi cho anh. Trong đó có ba lá thư, ba tấm ảnh, một cuộn băng cát-sét. Con gái út gửi cho bố một con búp bê ngộ nghĩnh nữa. Anh chăm chú lật từng trang thư. Tay run run, hình như anh khóc. Tôi không nói gì, cứ để cho cha con anh tâm sự với nhau. Khi thấy anh thẫn thờ xếp lại những tấm ảnh, tôi mới ngỏ ý định xin ở lại sư đoàn. Vừa nghe anh đã nhìn thẳng vào mắt tôi, như trách móc, như thương cảm. Anh bảo rằng, đời anh có hai việc lớn phải làm. Việc thứ nhất là chiến đấu giải phóng quê hương. Anh có hai quê hương, Hà Bắc là nơi anh sinh ra, còn miền đất Phú Yên, Khánh Hòa là nơi anh trưởng thành. Việc thứ hai là chiến đấu giải phóng hoàn toàn miền Nam. “Đấy cũng là lời nguyền của anh, không thể không làm được. Vì vậy anh cần em giúp anh…”. - Thì em có cản trở gì anh đâu. Em chỉ mong được ở gần, giúp đỡ anh dù ở cương vị nào cũng được. - Tôi vội bám lấy anh, hấp tấp.
Anh ngồi bần thần ngẫm nghĩ một lúc lâu. Tôi mừng là mình đã thuyết phục được anh. “Nếu ở sư đoàn bộ không tiện, em xin xuống bệnh xá”. Tôi nói thêm. Anh thở dài, không trả lời thẳng vào đề nghị của tôi: - Em biết không, sư đoàn này đã chiến đấu liên tục ba năm. Ba năm trời cướp đi gần một vạn sinh mạng, tương đương với quân số của một sư đoàn. Mới mấy ngày nay thôi, cũng có hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thương vong. Nếu cứ cái đà này, sự tổn thất của đơn vị còn đến mức độ nào nữa?... Anh rất thương yêu em và các con, nhưng anh không thể chấp nhận em ở lại - Rồi anh nói về bộ đội: Sau đợt tiến công đầu năm, địch có phần hồi phục và dồn, đẩy sư đoàn đến giai đoạn khó khăn hơn. Ngay bữa cơm của sư đoàn trưởng cũng chỉ được một phần ba là gạo. Bộ đội hy sinh bằng hàng trăm cách khác nhau. Đánh đồn hy sinh, chống càn hy sinh. Lấy gạo hy sinh. Đi công tác hy sinh. Mưa lũ, núi lở cũng hy sinh. Bắn nhầm nhau, hy sinh. Đói quá tự động đi nhổ sắn của đồng bào dân tộc trúng cạm bẫy cũng hy sinh. Trong chiến đấu trực tiếp với địch hy sinh một phần, thì hy sinh ngoài chiến đấu có khi đến hai, ba phần - Rồi anh nói tới công việc của người chỉ huy, mỗi ngày có tới hàng trăm báo cáo điện khẩn của cấp dưới và tới hàng chục mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, cái nào cũng phải xem ngay, giải quyết ngay. Mỗi khi bước vào chiến dịch thì không có thời gian để buồn và để làm bất cứ việc gì riêng tư… Nghe anh nói, tôi không nghi ngờ gì về tình cảm tốt đẹp và sâu sắc của anh. Nhưng tôi vẫn muốn ở lại sư đoạn với động cơ hoàn toàn khác. Tôi muốn chia sẻ với các chiến sĩ mọi gian khổ, ác liệt một cách chân thành. Nghĩa là sống cùng sống, chết cùng chết với anh em. Thoạt nghe, anh có vẻ dìu dịu, gật đầu. Anh nói tôi có thể về bệnh xá và không có một ưu tiên nào so với mọi người. Tôi cũng chỉ mong có vậy. Tôi thở phào đinh ninh chuyện ở lại sư đoàn đã xuôi. Nhưng vài phút sau, anh bỗng đứng dậy xua xua tay: - Không được, không thể được! Dù sao anh em ở bệnh xá cũng không nỡ dể em khổ sở, vất vả, như vậy sẽ không công bằng. Thôi, anh đề nghị em dừng ngay ý kiến đó lại - Rồi anh nói như ra lệnh: Đêm nay thăm anh là được rồi. Sớm mai em phải trở ra quân khu ngay. Cũng từ ngày mai, chiến dịch chuyển sang đợt hai, chúng mình không còn điều kiện chuyện trò nữa đâu - giọng anh chùng xuống, tha thiết: Nếu em còn thương yêu anh, còn tin anh, em hãy nghe anh! Anh không muốn bàn tới chuyện này nữa.
Một loạt pháo nổ như sấm rền chung quanh sở chỉ huy, khói lại mù mịt tràn vào hầm. Đèn vụt tắt. Hết loạt pháo nổ, khói tan tôi nhìn ra cửa hầm thì trời đã sáng.
Bên ngoài, tiếng anh Nam Khánh, anh Huỳnh Hữu Anh và các anh trong cơ quan gọi nhau đi giao ban.
Anh lặng lẽ đứng dậy phủi đất trên tóc, trên vai tôi, rồi bất chợt anh ôm ghì tôi vào lòng. Anh nói giọng đượm buồn: “Thôi, ta chia tay ở đây. Anh không đưa tiễn em được, hãy hiểu cho anh”. Tôi chưa kịp phản ứng thì anh đã quay ra thật nhanh. Tôi bàng hoàng, sững sờ đứng nhìn cái dáng cao gày của anh chui ra khỏi căn hầm. Tôi cũng thu xếp ba lô chuẩn bị lên đường. Cậu Thành, y tá cơ quan lúc ấy đã đứng ở lại một gốc cây chờ tôi. Tay Thành xách hai cái gói nhỏ bọc ni lông xanh, Thành nói với tôi: “Sư đoàn nghèo lắm, chỉ có vài lạng đường và ít gạo rang tặng chị. Chúng em chúc chị và các cháu mạnh khỏe. Chị đi đường an toàn”.
Hôm ấy là sáng mồng 4-5-1968.
Một đêm ở sở chỉ huy sư đoàn sao mà ngắn ngủi. Nó ngắn ngủi tới mức tôi tưởng như trong đời không có đêm ấy. Sau này, khi đất nước thống nhất, tôi đã có hàng ngàn đêm được gần chồng. Nhưng cái đêm hôm ấy để lại một dấu ấn sâu đậm nhất trong suốt cuộc đời của tôi.
HÀN THỊ TRANG
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|