Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 01:33:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 132125 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #50 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 02:35:30 pm »

                                        Thung lũng hoa vàng    
                                        Tác giả : Huỳnh Thạch Thảo


Tôi có dịp làm quen với người cựu binh phía Nam thời 1975 khi về Củng Sơn viết bài kinh tế miền núi. Đêm Thị trấn heo hút này vẫn nhấp nháy dãy điện và cũng như bao phố núi khác, cũng có quán đèn mờ, karaôkê văng vẳng, video xập xình và các dãy quán nhậu đèn dầu ngọn lu ngọn tỏ

Đám thanh niên mới lớn chập chững làm theo thiên hạ cũng phì phèo thuốc lá, văng tục, đi lang thang và tụ tập từng nhóm đàm tiếu các cô nàng đang mua vé vào xem cải lương Sài Gòn ra Trung biểu diễn.

Thấp thoáng vài mái tóc quăn tít, đen cóc cáy trong bộ quần bò, áo pul trắng thơm sực mùi camay của đám thanh niên Êđê. Bên tôi, thằng bạn cũ ở quê nhà sót lại, giải phóng vào du kích xã, vào đoàn thanh niên và đến nay chễm chệ ngồi ghế chính quyền. Bên cạnh, còn vị khách phương xa mái tóc điểm bạc đang cúi đầu đếm bước và cô con gái trắng trẻo, dễ thương đến dịu dàng đang tò mò tròn mắt nhìn quang cảnh xa lạ trước mặt. Duy, bạn tôi khẽ nói: “Đây là chú Nam, người mà cách đây hai mươi năm trong đoàn người tháo chạy toán loạn ở trận mở màn đánh Ban Mê, tin sống đấy, cậu ráng khai thác”. Rồi nó bảo nhỏ vị khách. Người đàn ông nhìn tôi cười nửa miệng, khẽ gật với khuôn mặt chữ điền, ánh mắt sâu kín trên sóng mũi thẳng. Thả bộ cũng hết thị trấn trong 15 phút, chúng tôi quay về nhà khách. Duy chiêu đãi bia lon cho thằng bạn lâu ngày gặp mặt và tế nhị cáo từ. Ngồi bên cạnh người cựu binh ngày trước, cả hai yên lặng nghe gió núi lồng lộng thổi về từ phía xa như ngàn con chiến mã băng băng tung vó đổ về đồng bằng, rồi lao đến, ồ ạt, cuộn tung lá cỏ rồi vút đi bỏ lại phía sau âm thanh của hàng cây nghiêng ngã roàn roạt.

 Người lính cũ trên bờ Nam vào buồng buông mùng cho con gái, trở ra với chai rượu trên tay, nhỏ giọng:

- Hai mươi năm qua rồi, nhưng hình ảnh cũ luôn để lại trong tâm trí tôi. Đau đớn, dằn vặt, khổ tâm dù tôi đã sang phía bên kia bờ đại dương để sống. Tôi biết anh thích nghe câu chuyện tôi kể. Ừ. Thì tôi kể, nói anh nghe. Đừng viết gì trên mặt báo. Có tội cho người đang còn sống và những người đã mất đi, thân xác trải dài theo đường Năm, đường Bảy, dọc thượng nguồn sông Ba mênh mông, cả trên những cánh rừng heo hút từ Hậu Bổn, Cheo Reo, và cả những con đường mòn phủ ngập cỏ tranh mơ hồ trên sơ đồ tác chiến. Đêm nay, ngồi cùng anh dù quá lâu mới có dịp trở lại nhưng tôi vẫn còn cảm giác như ngày nào cùng tháo chạy...

Ông thở dài. Phía xa, đợt gió của đại ngàn tiếp tục đổ xuống ào ạt và gió từ thung lũng sông Ba thổi lên réo rắt, để hợp lại vun vút, cuồng nộ như thít chặt không trung, như tái hiện hàng loạt bước chân rầm rập, hỗn loạn, nức nở, ai oán và lại yên lặng. Ông cúi đầu, trầm buồn kể...

“ Tháng ba năm một chín bảy lăm.

Một tiếng nói vang lên không đúng mật ngữ:

- Ê Kỷ, tao chuồn đây!

Lại tiếng trả lời khẩn thiết :

- Khoan đã, mày...

Nam đã vứt vội ống bộ đàm cho thằng hạ sĩ truyền tin rồi nhoài người trườn vào cánh cửa trực thăng HU.1A vừa hạ xuống và đang hối hả nhấc càng bốc khỏi mặt đất. Cánh quạt tạo cơn xoáy lốc cuốn tung cát bụi, xoáy tròn từng đám cỏ tranh. Khi máy bay đảo vòng lượn, anh ngồi thở dốc vuốt vầng trán đẫm mồ hôi, mắt nhìn xuống bóng gã lính ban nãy đang khom người chạy lúp xúp tránh gió giật rồi mất hút trong đám lau sậy. Hết rồi. Xong rồi. Cả tiểu đoàn đóng rải rác các cứ điểm phía Tây nam Ban Mê Thuột bị nướng sạch. Đại đội tiếp viện của Kỷ vừa đổ xuống bị giập pháo nặng nề lúc chiều vừa sập tối. Bọn bên thông tin đã cung cấp số liệu trinh sát cho quân báo. Vậy mà cả lũ không tin ở hướng này, làm gì có T.54, cũng chẳng thấy vết môlôtôva lẫn dép lốp. Giờ đây thì có thật khi Nam được lệnh đi thị sát. Tội Kỷ. Chờ bọn nhảy dù đến thì nó nằm trong poncho phủ bụi đất đỏ hoặc tan xác nơi rừng rậm. Nam lắc đầu thở dài. Thằng lái phụ chuyển gói salem sang anh, hét to át tiếng động cơ rung lắc ầm ĩ: “Hút đi, Đại úy. Hú vía hả?”. Anh khẽ gật, châm thuốc, vị đắng cay xòe nơi cổ. Nhìn qua khung kính phía bên dưới là những trảng rừng ngút mắt, từng cụm khói bốc lên từ từ và hiện dần nhánh sông Sêrêpốc lấp lánh trong nắng buổi sáng. Nam biết, phía đó quân giải phóng dày đặc. Nam thẩn thờ chợt nhớ Kỷ cho đến khi thằng lái hạ dần độ cao đưa máy bay từ từ tiếp đất làm khói bụi bốc lên vần vũ. Nó lột mũ lái, mỉm cười quay sang bảo nhỏ lúc khóa xong hệ thống điều khiển cần: “Đến rồi, Đại úy”. Anh đẩy nhẹ cửa, nắng lóa mắt trải dài trong sân cỏ cháy sém nham nhở đất cát. Từng ụ đất chống đạn trong bao cát đặt dài bên cạnh những cụm thép gai xen kẽ với vỉ sắt PSP. Nam bước tránh hàng máy bay lên thẳng và bọn kỹ thuật đang ngồi hút thuốc trò chuyện to nhỏ bên cạnh. Trung sĩ trực ban nhô đầu kêu từ hầm số 1: “Đại úy, đại tá cho gọi...”. Anh quay lại đã thấy Hiền, bạn Kỷ chờ sẵn từ lúc nào bên cửa phòng trực. Quần Jean sẫm, áo pul vàng bó sát khuôn ngực đầy đặn, trông cô nhỏ nhoi khác lạ và không hợp với khung cảnh chiến trận này. Hiền đến sát bên, nghe rõ tiếng thở dồn, đôi mắt tròn ngơ ngác, khẩn cầu: “Kỷ không về sao anh?”. Nam khẽ lắc: “Nó ở lại, về sau”. Hiền khóc, bíu chặt Nam: “Sao anh không đưa Kỷ về? Hai người dối em”. Nam mệt mỏi quay sang hướng khác, nói chậm: “Nó kẹt, ít bữa sẽ về, em nên quay lại Sài Gòn”. Hiền lắc đầu, khóc nấc: “Không, em sẽ ở lại”.

 Anh nín lặng, từ xa chiếc Jeep phóng hết tốc lực, xoáy tung bụi đến sát chỗ anh trong tiếng phanh gấp, có tiếng gọi: “Nam lên xe, về phòng tác chiến”. Đại úy Phi nhô người ra ngoài kéo vội Nam: “Ổng đợi, gầm gừ trên đó, tan nát hết rồi hả ?”. Nam nhìn Hiền rồi cúi đầu lúc xe trở ngược tay lái nghiến rít lên đá sỏi dằn sốc để chạy về Bộ chỉ huy. Chao! Kỷ ơi, con Hiền lên thăm mày. Cô bé văn khoa gặp chàng sĩ quan Đà Lạt trong đêm “Hát cho đồng bào tôi nghe” tại Sài Gòn ba năm về trước. Thôi hết.

Một giờ sau từ phòng tác chiến bước ra, Nam được tin cả đại đội Kỷ kể như xóa sổ trên bản đồ hành quân.

2

Trong tiếng pháo rít róng dồn dập nổ, chớp nhoáng ùng oàng, tiếng AK nhịp dài, B40 toang toác, ầm ào và hỏa tiễn rú rít chụp xuống phía sân bay chính. Tiếng la hoảng loạn của đội cảnh vệ trong tiếng trực thăng quạt cánh rời khỏi mặt đất. Nam vứt vội ống nghe, chụp lấy mũ sắt khi được lệnh di tản khẩn cấp để lao vội ra ngoài. Trời mờ sáng, sương mù dày đặc bóng người lom khom hối hả qua lại, anh nghe rõ tiếng Thiếu tá Hoàng: “Zoọt thôi. Bám theo bọn bọc hậu. Mẹ kiếp, bọn sĩ quan tham mưu họ tẩu từ lúc nào rồi, còn lính nữa, chạy sạch!”. Nam quay lại vừa lúc Phi đến, gọi giật: “Đi Nam, theo tao...”. Chiếc Jeep Phi dự tính còn đó, cả hai liền hòa vào dòng xe đang chen nhau xuống phố. Nam chợt nhớ Hiền đang ở khách sạn Anh Đào liền nhắc: “Qua ngã sáu, đón Hiền, rồi vù thẳng ra sân bay”. Phi trợn “Đ.m, tan nát sân bay rồi. Việt cộng giập gớm thiệt, không khéo xuống đó bị nghẽn”. Rà sát cửa thềm khách sạn, Nam nhảy vội từng bậc, từng bậc thang xoắn ốc rồi đạp tung cửa phòng kịp thấy Hiền cuốn mình trong chăn run rẩy, tím ngắt. Nhận ra anh, cô càng ôm chặt. Nam nói vội: “theo anh, lẹ lên, trễ rồi”. Xe lại trở đầu cho Phi rước thêm gia đình người bạn. Cuống cuồng, vội vã, va lách, chen lấn rồi hối hả theo dòng người xuôi hướng đồng bằng bởi sân bay không còn bọn lái. Tuồn chạy. Nháo nhào. Phía ngã sáu đã dày đặc từng cụm khói lan tỏa trong tiếng đì đùng của súng, lựu đạn, kho tiếp liệu, trung tâm hành quân. Tiếng khóc, tiếng réo như át hẳn tiếng gầm rít của từng loại máy bay tiêm kích, của bom tọa độ, của Cachiusa, ĐKZ, của muôn vàn kim khí va chạm nhau loảng xoảng. Rồi nghẽn đường. Rồi thông đường. Rồi chà đạp lên nhau để chạy. Gã thiếu tá Thanh, bạn Phi đã vung súng ngắn mở đường và lăm lăm súng phóng lựu bên hông xe canh chừng trước mọi sắc lính lúc Nam lo thay lái để Phi nắm tiểu liên. Một tên rằn ri rớt xuống từ chiếc GMC chật cứng vội chạy theo đu bám càng xe Nam van nài: “Thiếu tá, thiếu tá cho em lên với”. Gã bạn Phi lạnh lùng lắc đầu: “không được”. Tên rằn ri nhỏ giọng lần nữa liền bị vẩy nhẹ phát đạn vào ngực ngã đập xuống đường và đoàn xe phía sau đang rú ga đến cháy lốp bình thản đạp lên. Một chiếc, hai chiếc, đoàn quân xa đi qua không để vết tích gì của tên lính ban nãy, chỉ còn chiếc thẻ mã hiệu KBC sũng máu trơ trọi dưới lòng đường. Nhà cửa tan nát, súng ống vứt lăn lóc cùng xác chết, vật dụng vung vãi như cơn bão lớn vừa quét qua. Từng dòng người vẫn chạy, máu vẫn đổ sủi bọt trên đường nhựa hâm hấp nóng, trên các hành lang với những đôi mắt mở trừng không còn sự sống.

Xe qua khỏi thị xã. Dừng lại trong cái nắng hanh của tháng ba Tây Nguyên, từng cơn gió khô khốc thổi bốc từng đám đất đỏ tạt vào những người đã kiệt sức. Mọi người mồ hôi bết bụi, lào phào từng tiếng ngắt quãng và nhìn lại phía sau thị xã Buôn Mê Thuột khói lửa ngùn ngụt. Thiếu tá Thanh chửi đổng: “Mẹ nó. Cả bầu đoàn thê tử cuốn sạch, không nói một tiếng”. Nam yên lặng, lục túi cá nhân tìm khăn tay đến mở nắp capô xả nước bình. Nóng, nóng cùng khắp thùng xe, lốp xe, mặt đường, từ thân thể trong cơn hỗn độn, nháo nhào. Anh đem khăn lại cho Hiền. Cô ngồi rũ rượi trong góc, mắt nhắm nghiền và miệng cầu kinh nho nhỏ. Nam khẽ lay vai, cô hốt hoảng mở choàng mắt và thờ thẫn cầm lấy: “Đi đi đâu nữa anh?”. Nam lắc đầu khi nghe xa xa vọng lại những tiếng nổ đanh giòn: “Cứ theo dòng người, hẵng hay”. Thiếu tá Thanh đóng máy bộ đàm, cáu kỉnh: “Lộ béng, thông tin bị nhiễu, phía Việt cộng đào mã tao trong máy. Thôi, chuẩn bị tuồn về Cheo Reo, mấy cha ở dưới”. Gã đến bên vợ con, người đàn bà đầy đặn sau mấy giờ tuôn chạy mắt đã thâm quầng, đôi tay trắng múp ôm choàng hai đứa nhỏ ngơ ngác, bàn chân đặt trên chiếc Sansonal đã ố bụi vàng và xung quanh đồ đạc hòm xiểng chất đầy. Gã nhìn với khuôn mặt đờ đẫn thoáng chốc rồi nghiến răng: “Đi tụi mày”. Nam, Phi ngồi băng trước, gã cầm thêm M.16 bọc hậu phía sau. Xe lại chuyển bánh hướng theo đoàn xe đang chen nhau cuốn bụi cả một vùng. Anh mường tượng cảnh đàn bò rừng đang rùng rùng di chuyển tìm vùng đất sống trong cơn lốc mịt mù khói xăng, lửa đỏ, trong những triền cỏ úa vàng và cả những bụi dã quỳ bầm máu.

Buổi chiều xe Nam bám kịp đoàn xe của các sĩ quan bên quân đoàn. Đủ sắc lính còn áo mũ cân đai, có cả xe bọc thép M.113 và M.48 tuôn xích rào rạt. Trên từng thùng xe GMC, DOG, cả xe của hãng Phi long, quân nhân khu gia binh và dân chúng đang chen chúc đu bám cùng vẻ mặt kinh hoàng. Họ ngước nhìn từng phi đội máy bay đang rà sát yểm trợ rồi sãi cánh sang ngã Ban Mê. Thiếu tá Thanh nối được ban tham mưu, thúc Nam vượt gấp, lách qua từng dòng xe dày đặc để rẽ ngang vào trảng trống trước mặt. Sáu chiếc Jeep phủ bụi có dãy ăng ten tua tủa châu đầu vào nhau và trước nó túm tụm nhiều người. Gã phóng xuống, lao đến gằn giọng: “Mẹ! Các ông chạy giỏi dữ vậy. Sao...”. Đại tá Quảng, tham mưu phó quân đoàn, khẽ nạt: “... xuống được đây là may rồi. Còn bao người đang kẹt trên đó, có giỏi về Tuy Hòa mà xỉ vả”, rồi... đùng đoàng, chớp nhoang nhoáng lé, bầu trời như chao đi bên mặt đất đưa võng. Lưỡi gươm khổng lồ đột ngột phạt xuống bởi tiếng rít của hỏa tiễn, của pháo, của tiếng hô xung phong ồ ạt từ những quả đồi trọc xung quanh vang lên trong trận tập kích đột ngột. Cắt xé, banh nát đội hình với tiểu liên, trung liên, đại liên quất chéo cánh sẻ, với M.79, B.40, B.41, cối không giật và cả lựu đạn bùng nổ dữ dội. Từng chùm bom từ F.5, F.111 không giúp nổi phản kích mà thêm phần hỗn loạn làm cả không gian bùng vỡ, sôi réo trong tiếng hô, tiếng rên, tiếng gào, tiếng khóc... Mọi người từ ngơ ngác sang kinh hoàng chỉ kịp chúi đầu vào xe mình để nhìn bánh xích M.113 và nòng pháo quay cuồng, cấp tập. Lại ngừng, không gian im ắng chỉ tồn tại từng cụm khói, bãi lửa cuồn cuộn, mùi khét của thây người chết cháy và những đống thịt xương vung vãi, nhòe nhoẹt với đồ đạc. Rồi lại ồn ào, la khóc, tiếng gào thét chửi bới gọi tìm nhau văng vẳng. Tốp sĩ quan bật dậy, tức tốc đảo vòng xe rời trảng, vẫy tay cho cả đoàn quân xa còn lại tiếp tục tuôn xuống đồng bằng. Bỏ lại phía sau lưng di thể cuộc chiến với mảnh đất một thời đã sinh sát.

Ông Nam ngừng lời kể lơ đãng nhìn ra ban công nhà khách, nhìn những tàn cây đang nghiêng ngã vì gió và lắng tai nghe lời thì thầm của đất. Như từ trong sâu thẳm nỗi nhớ đang dần hiện về, ông lại cúi đầu thì thầm kể: “Tôi nhớ đoàn quân rút chạy bị chặn vào buổi trưa ngày hôm sau tại chân đèo Cheo Reo. Lúc những loạt A.K bất thần tuôn xuống xối xả và B.40 bắt nhịp chặn đứng chiếc chiến xa mở đường máu. Vậy là tán loạn, không còn sự chỉ huy, mạnh ai nấy chạy. Đoàn rồng rắn của hàng trăm ngàn dân thường cộng thêm lính và mấy ngàn xe pháo đạp lên nhau tìm đường thoát. Bọn biệt động và thiết giáp liều chết xông lên bị đánh bật xuống chân đèo cộng thêm bọn không quân từ sân bay Thành Trung- Phan Rang đổ bom phá vây trúng phải đội hình. Vậy là tan nát rệu rã. Xe tôi tuồn rừng sang Phú Bổn. Đói, khát, tuyệt vọng chưa kịp nghỉ ngơi thì chập tối những loạt pháo kích dập xuống ngay lòng thị xã. Lại hỗn loạn cực điểm và kéo cả người dân ở đây vào con đường địa ngục.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #51 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 02:37:10 pm »

                                      Tiếp theo:
Con đường địa ngục 7B cả gia đình thiếu tá Thanh đã chết ở đó, khi xe chúng tôi cạn kiệt xăng, nước. Phía trên đầu là những chùm đèn dù lơ lửng của máy bay ném xuống soi đường. Tôi bỏ xe dẫn Hiền bám theo đoàn người khi gã thiếu tá nấn ná ở lại vẫy xe cho vợ con đi nhờ. Tôi nghe gã kêu rống liền ngẩn nhìn. Bọn lính kỵ binh từ chiếc GMC đang pha đèn nhảy xuống cả tốp, chúng bâu lại, chửi bới : “ĐM. Sao không tử thủ...”. Rồi đạp gã ngã nhào. Khi gã còn lê la dưới đất chúng xô đến chiếc Jeep cười khả ố lôi người phụ nữ và hai đứa nhỏ ra ngoài. Gã rút súng nhả đạn làm hai thằng bật ngửa, còn gã nhận nguyên băng M.16 nát bấy, hai đứa nhỏ chúng nhét lại chiếc Jeep bật chốt lựu đạn trước khi đẩy bà mẹ lên xe chúng. Buổi sáng tiếp theo trận bom lạc hướng nhằm vào con đường địa ngục, xóa sổ thêm lũ người hành hương tìm đất sống. Tụi tôi lại luồn rừng, nhổ trộm sắn mì và uống nước suối nơi bản Thượng. Những bản này cũng bị bọn lính đến trước tàn phá, cướp bóc, nát sạch.

Trưa hôm sau chúng tôi đến thung lũng Sông Ba, thoáng nghe gió thổi mát rượi dù trời đang chan nắng. Ở đây đã có nhiều người, nhất là cấp chỉ huy quen mặt chạy xuống sớm đang ngồi kêu trời bởi dòng sông rộng trên 300 mét trở thành: “Thung lũng chết” vì không có một cầu phao nào như công binh báo trước. Phía sau, dòng người vẫn đổ đến. Tôi nghĩ, chỉ cần một trận pháo nữa thì hủy sạch. Đoàn người vẫn đổ đến trước dòng sông Ba cuộn chảy loang loáng nắng. Rồi máy bay Chinooc đổ vỉ sắt PSP, rồi hàng đàn trực thăng bu đen đặc trên thung lũng sông Ba để ném bánh mì, lương khô, sữa hộp xuống những con người lả đi vì đói khát, vì hoảng loạn cứ lịm dần gục xuống mặt sông gợn nước. Những xác người từ thượng nguồn lững lờ trôi cộng những người hoảng loạn đến điên dại đang thất thểu đi lại thành một hình ảnh khủng khiếp. Phi cũng chết nơi đấy bởi Hiền bị ốm. Cô ấy đã cạn kiệt sức lực không lê bước nổi. Phi đi  tìm sữa trong lúc máy bay tiếp tế đổ thực phẩm thưa dần. Sự giằng co đến ẩu đả và chốt lựu đạn đã bật. Phi bò về người đầy máu với lon sữa trên tay và đuối hơi dần bởi thi gan cùng mặt trời trút lửa lúc ban ngày và hơi đất, sương núi bốc mù mịt vào ban đêm. Ngày rưỡi sau công binh bắt xong cầu phao chở hàng vạn con người để họ ào lên, bám lên và rơi xuống dòng sông cuộn chảy. May sao, không có cuộc pháo kích lớn xảy ra nhưng tôi vẫn biết, thung lũng sông Ba đã trở thành nghĩa trang khổng lồ vì đói, bệnh tật, vì thanh toán nhau để giành sự sống dù là đoạn cuối cùng để đặt chân đến đồng bằng”.

Ông Nam đứng lên, bước chếch ra ban công hướng mắt đăm đăm về phía có nhánh rẽ của dòng sông Ba đang lặng chảy và mờ trong sương mù. Tôi bước đến sát cạnh để nghe ông nói: “Tôi không qua được bởi Hiền đã ốm. Để ngày hôm sau trông thấy từng bầy quạ đen dày đặc bãi sông. Trên khúc sông dài, xác người vẫn trôi xuống và từ phía tỉnh lộ 7B dòng người vẫn còn thất thểu, ùn ùn kéo xuống cầu phao qua sông.

Hiền là cô gái Sài Gòn lần đầu va chạm với tiếng súng khởi điểm cuộc tấn công và bị kéo vào cơn lốc hoảng loạn của sự sụp đổ. Tôi tưởng cô ấy không thể qua được dù một phần ba chặng đường máu lửa. Nhưng không, từ cơn kinh hoàng tột độ của phi pháo đổ xuống lòng Ban Mê Thuột đến khi thấy vợ gã thiếu tá bị quẳng lên xe, thì cô ấy bình tĩnh trở lại để bám theo tôi từng bước, ngủ vùi trên vai tôi dưới tán lá rừng lạnh lẽo đầy ánh lân tinh và mơ thấy Kỷ về hiện hữu cùng cô ấy trên chặng đường dài. Lúc bên bờ suối cạnh buôn Thượng bị tàn phá, tôi đứng canh cho cô ấy tắm và nghe có tiếng nấc tắt nghẹn nên đã lao vào để sững lại. Bên dòng nước róc rách chảy, ba cô gái Thượng bị lính hãm hiếp nằm trần truồng trên gờ đá mắt trừng trừng nhìn mây trời và dòng máu đen thẩm còn đọng nơi khóe miệng. Tôi ôm chặt cô ấy, sợ cơn ức chế lâu ngày bùng phát. Nhưng không, Hiền vẫn yên lặng và bình thản hái lá cây rừng che phủ”.

Lúc Hiền sốt ven bờ sông Ba. Bên tôi, cô ấy nói: “Bạn anh chết, Kỷ chết, em thì theo anh. Có vướng bận không hở Nam?”. Tôi lắc đầu, Hiền cầm tay tôi, khá lâu để nói: “Em để ý mỗi khi bên kia đánh, họ chỉ nhằm vào đám lính, ta phải đi le hoặc hòa vào dân chạy nạn”. Cũng đúng, mỗi lần tập kích, mỗi lần bắn chéo cánh sẻ họ thường quạt tơi bời vào những ai còn mang quân phục nên sau này sắc lính lại hợp cùng áo dân. Rồi chúng tôi thoát được khi còn kẹt bên này sông Ba. Tôi đưa Hiền lên quả đồi có nhiều bụi sim tím và lũ chuồn chuồn cánh đỏ. Trực thăng cánh quạt quần đảo chờ bốc người di tản bị lạc đã đáp xuống khi tôi vẫy rối rít chiếc áo lót của Hiền và tay cầm vài thẻ vàng mang theo sáng lóe trong nắng chiều. Máy bay đảo vòng bốc thêm vài gia đình khá giả để quay về bệnh viện tiểu khu Phú Yên. Trên trực thăng tôi nhìn xuống đồng bằng Tuy Hòa xanh rì ruộng lúa và bỏ lại sau lưng thung lũng tử thần, quên đi con đường chết. Hiền đã ngất khi nhìn thấy bãi biển lấp lánh những cơn sóng bạc vỗ về bãi cát phía xa...”.

Người đàn ông ngừng kể, chậm rãi đi vào trước phòng đứa con gái và nhẹ đặt người xuống ghế. Ông nhìn tôi, nói nhỏ:

“Hoài Niệm đã ngủ, nó không biết mình và con của cha Kỷ mẹ Hiền. Ngày Kỷ về Sài Gòn học khóa huấn luyện cấp tốc khi trở lên Kỷ đâu biết đã để lại giọt máu và khi Hiền lên thì Kỷ đã chết. Lúc chúng tôi rời Tuy Hòa vào thẳng Cam Ranh sang hạm đội  bên Phú Quốc thì Sài Gòn bị tấn công và giải phóng. Tôi đưa Hiền qua Mỹ và liên lạc cho gia đình nhưng không một tin tức. Tôi thành người chồng hờ bên đứa con người bạn vừa sinh ra. Khi con bé đủ tuổi, cô ấy bên những cơn strees đầy bấn loạn phải vào viện Tâm thần và mất ở đó. Hai mươi năm tôi trở lại chiến trường xưa cùng con đường máu lửa. Từ Ban Mê Thuột  lên dòng Sêrêpốc thả nhẹ nắm tro của Hiền như lời ước nguyện cuối cùng là về bên Kỷ và xuôi đường tỉnh lộ 7B qua thung lũng sông Ba hiền hòa đâu còn thung lũng tử thần như tên gọi thuở nào. Giờ đây, mọi vật đã khác hẳn, những nhịp cầu sắt xưa kia bị đánh sập nay đã thay bằng trụ xi măng vững chắc. Dòng sông Ba mơ màng với những cánh buồm lộng gió nhẹ nhàng xuôi ngược. Đôi bờ thấp thoáng cỏ lau, hoa vàng của mướp, những nương bắp trổ cờ. Nó trở thành thung lũng hoa vàng dù trong lòng đất một thời chứa đựng máu xương và nước mắt. Bởi chiến tranh nào cũng có kết quả của nó”.

Ông im lặng. Ngoài kia, gà rừng đã gáy. Sương núi tràn xuống bay la đà. Đã hết những cơn gió lộng thổi từ thung lũng phía xa và của đại ngàn. Tất cả vẫn yên lặng như chìm vào cõi vô thức đầy hoài niệm.

 

Huỳnh Thạch Thảo
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #52 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 02:48:49 pm »

                              Chiều vô danh
                                Tác giả : Hoàng Dân

Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lạ là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời mới vô duyên làm sao?
Nhìn vợ tôi tất bật với bữa ăn tươi chiều nay, tôi nghĩ: “Đàn bà các vị chúa là hay cầu toàn! Cần quái gì phải chẻ hành chẻ ớt cho mất thì giờ? Tống vào dạ dày thì còn đẹp cái nỗi gì?”. Nghĩ vậy, nhưng tôi chỉ mỉm cười, không dám nói ra thành lời.

Thằng Long, con trai tôi hỏi:

- Bố cười cái gì thế?

Tôi ôm nó vào lòng, thủng thẳng:

- Bố buồn cười vì mẹ con chiều bố con mình quá thành ra phải đợi món “mầm đá” khí lâu.

Vợ tôi lườm:

- Người đâu mà háu đói hơn cả trẻ con!

Tôi cười:

- Biết làm sao được! Đời lính đã rèn cho anh thói quen phải ăn nhanh, chạy nhanh và hôn cũng nhanh nốt.

Thằng Long cười khanh khách:

- Ê, bố nói bậy nhá!

Vợ tôi bê nồi sườn bung với dọc hà và nghệ vào, nói:

- Xong rồi! Anh vớt cho con mấy miếng sườn để nó gặm thịt.

Tôi loay hoay đảo ngoát vớt ra một bát sườn đầy, những miếng sườn giẻ quạ ninh nhừ nom đã thấy ngon. Thằng Long vừa thổi phù phù vừa gặm mút một cách thích thú. Nó nhai xương và nhã bã ra đầy một góc mâm. Vợ tôi cằn nhằn

- Con phải cho bã xương vào cái bát con kia kìa, không được nhả ra mâm.

Tôi gạt đi:

- Kệ nó, có khách khứa gì đâu mà ngại.

Đã đói thì chớ, vợ tôi lại chẳng chịu bớt một thao tác nào của cái quy trình ăn bún bung rất là rườm rà: gắp bún vào bát, trần nước sôi, rắc hành và rau thơm, chan nước sườn bung...

Tôi sốt ruột, gắt khẽ:

- Thôi đưa đây, anh làm lấy cũng được.!

Nhận bát bún nóng từ tay vợ, chưa kịp ăn, tôi chợt cảm thấy nôn nao lơm giọng. Tôi đặt bát bún xuống, nhắm mắt để cố trấn tĩnh lại, nhưng không thể nào chịu nổi cái cảm giác buồn nôn đang dâng lên cuồn cuộn. Người tôi ớn lạnh, ghê ghê như bị tái phát một cơn sốt rừng. Tôi cố gắng đứng dậy lảo đảo bước tới cái giường và nằm vật ra hổn hển.

Vợ tôi hốt hoảng quăng tuốt cả đũa với muôi, vội chạy ra đỡ tôi nằm xuống. Một bàn tay đặt lên ngực tôi, một bàn tay sờ trán tôi, vợ tôi run run:

- Anh làm sao thế?

Tôi nhắm nghiền mắt, khẽ nói:

- Em cứ ra ăn với con đi. Anh chỉ chóng mặt qua loa thôi. Chắc là anh bị thiếu máu não thật. Có lần bác sĩ đã bảo thế nhưng anh không tin.

Vợ tôi càng lo lắng hơn:

- Bệnh ấy có nguy hiểm không hả anh?

Tôi trả lời quấy quá:

- Nó cũng vớ vẩn như cảm cúm thôi mà!

Thằng Long chợt nheo nhéo gọi:

- Mẹ ơi, nhiều kiến đen quá. Nò bò đầy mâm đây nay!

Trời ơi! Kiến đen! Chính đám sinh vật li ti ấy đã khiến tôi suýt ngã gục trên bát bún bung. Chúng đang nhe răng gặm sồn sột trong óc tôi...

Vợ tôi tất tả trở lại mâm và kêu lên:

- Trời ơi, sao con nhã bã xương lung tung ra cả sàn thế này? Tại con nên kiến mới bò vào nhiều đến thế đấy.

Thằng Long cãi:

- Ứ phải tại con. Tại nhà mình nhiều kiến thì có.

Thằng Long nói đúng. Nhà tôi ở trên một gò đất nên ai cũng bảo nhà tôi là thiên đường của các loài kiến. Tôi đã từng tưới dầu hoả, rắc thuốc diệt kiến mà xem ra chẳng ăn thua gì. Có lần tôi đã xoắn cả mớ giấy để đốt chúng, nhưng không xuể. Không thể nào tiêu diệt nổi đám sinh vật quái quỷ ấy. Mà hễ nhìn thấy chúng là tôi như bị dị ứng và buồn nôn.

Để khỏi phụ công vợ đã mất cả buổi chiều cho một bữa ăn tươi, tôi bèn vùng dậy, hùng dũng bước ra mâm và ngồi xuống:

- Nào, bố con mình tiếp tục đi!

Nhưng rồi, đầu óc tôi bỗng loé sáng những chùm đèn dù ma quái, lơ lửng... Tiếng bom nổ. Tiếng đạn rít. Tiếng gào thét của những người đã chết. Một mớ âm thanh ầm ầm náo động trong tâm tưởng tôi. Tôi chỉ còn nhìn thấy hàng triệu con kiến đen đang xâu xé những mẩu xương thịt của đồng đội tôi trong cái buổi chiều ảm đạm ấy. Tôi bỗng nhớ lại tất cả những gì mà tôi đã cố quên đi.

*

... Trường Sơn, những chiều mưa rấm rứt. Những cánh rừng đại ngàn âm u, ẩm ướt. Vắt rào rào quăng mình trên lá mục vừa bén hơi người.

Tôi ì ạch bám sát đội hình hành quân. Đầu chúi xuống hai vai tê bại, đầm đìa mồ hôi, ớn lạnh. Dù đã độn lót khá kỹ, những cành đạn cối 60 ly vẫn cứ thản nhiên và vào lưng tôi đau thon thót.

Một tiếng chửi bật lên khe khẽ: “Tổ cha...”. Tôi ngẩng đầu lên. Vũ đang quài tay ra phía sau sờ mó cái ba lô vuông nhầy nhợt mỡ. Chết cha rồi! Cái thùng mỡ 10 ký đã bục vỡ trong ba lô. Mỡ nhểu giọt xuống lá rừng. Mỡ chảy theo lưng áo, ống quần và luồn qua gót chân, chui vào mặt dép đúc, trơn tuột. Vũ hơi cúi người, lột dép cầm tay và lại chửi: “Tổ cha bay!”.

Tôi buồn cười, nhưng không cười nổi. Mệt quá. Chỉ khẽ nhếch mép. Phải nói Vũ là thằng tốt nết nhất tiểu đội. Chỉ có nó mới chịu đeo cái “của nợ” ấy trên lưng mà đi ròng ròng ngày này qua tháng khác. Mồ hôi trộn vào mỡ khét mù. Lúc nào cũng nhớp nháp ngứa ngay. Có môt đêm, trong lúc đang mò mẫm lao người xuống một cái dốc đứng, Vũ túm phải một cây nứa tép dập, cây nứa cứa lòng bàn tay vũ tướp máu. Máu, mỡ, mồ hôi quyện vào nhau lầy nhầy. Nghĩ mà sởn gai gà!

Vũ lầm lũi bước đi trước mặt tôi. Cái thằng chân đi vòng kiềng mà khoẻ và lì số một. Hắn là con dân chài nòi vùng biển Nghệ An mà! Ôi chiến tranh kỳ diệu. Con người sinh ra và lớn lên trong bão tố biển khơi bỗng nhiên nhảy lên rừng sâu núi thẳm để tải bộ thế này? Tôi chợt nghĩ đến Thời. Hắn là một gã lính ba trợn ba trạo. Có thói quen nói mà không bao giờ thèm để ý đến người nghe. Những ngày đầu sống với hắn, tôi cứ chờn chờn ghê ghê. Người đâu mà băm bổ, thô lỗ?

Có lệnh tạm dừng, triển khai đào hầm, dựng lán. Tôi thở phào. Sẽ được xả hơi vài ba ngày đây. Không ai bảo au, tất cả đều nặng nề thả người đánh phịch xuống đất, xoạc rộng hai chân, ngả người vào chiếc ba lô và lim dim đôi mắt. Không ít chàng lính đã ngoẹo đầu ngủ rũ. Tôi cũng thèm ngủ kinh khủng. Đầu óc cứ mê mụ, bồng bềnh... Bỗng tôi giật thót. Một cái bàn chải sắt nào đó đang chà sát lên má tôi. Tôi tỉnh hẳn. Thời! Chính hắn! Hắn đang nhăn nhở cười. Dù biết hắn chính gốc Khâm Thiên – Hà Nội, tôi vẫn cứ ngờ ngợ. Hắn có bộ râu tua tủa rất đàn ông. Hắn không giấu giếm niềm tự hào về bộ râu rễ tre ấy. Hắn thường cao giọng kể đi kể lại mối tình đầu của mình. Hắn bảo sau mấy đêm đi chơi với bé (hắn gọi người yêu là “bé”), hắn hỏi: “Em có biết anh yêu em từ bao giờ không?” Bé đáp: “Chưa thấy!”. Thế là hắn lia râu túi bụi vào mặt bé. Hắn bảo bé cứ sướng rên lên... Mỗi lần kể xong, hắn lại cười khùng khục: “Cái hôn không râu như cà phê không đường!” Chẳng hiểu sao, các chiến hữu nghe mãi cái chuyện vặt ấy mà không chán? Ngược lại, hễ hắn dứt lời là tất cả ôm bụng cười ngả nghiêng, ngặt nghẽo, cười đau quặn thắt cả ruột gan. Đứa thì tung hô Thời là “lãnh tụ của ái tình”. Đứa lại gọi hắn là nhà “Ma sát thịt”. Còn tôi thì buột mồm gọi nôm là “Thời râu!” Xem ra Thời có vẻ ưng ý với cái tên của tôi hơn cả. Hắn chộp ngực tôi, day thật lực và hùng hồn tuyên bố: “Thời... râu! Được đấy. Vừa nho nhã, vừa đời và cũng rất...đực! Ô hô! ông Nghĩa thánh thật!...”

Vừa nói Thời vừa làm động tác nhún nhảy. A! Tôi thoáng bối rối, nhưng kịp trấn tĩnh ngay. Cái phản xạ đầu tiên của người lính mà tôi cũng quên phắt đi mất. Đi thì thôi, hễ dừng là phải đào hầm, cưa cây.

Tôi vừa ngật ngưỡng kéo cưa vừa lơ mơ ngủ và rồi lăn ra đất lúc nào không hay. Thời hì hục cắt gỗ một mình. Sau khi bó gỗ thành hai ccọ to, Thời mới đánh thức tôi dậy. Tất nhiên vẫn là bằng... bộ râu!

Hắn cất giọng khàn khàn:

- Về thôi!

Dứt lời, hắn xốc vác gỗ to tướng lên vai và lắc lư bước đi như con gấu. Tôi nhìn theo và thèm khát một sức vóc cường tráng như hắn. Hắn khoẻ phát sợ. Hai bên nách kẹp hai bao gạo 50 ký, hắn có thể ung dung bước đi như kẻ nhàn tản dạo mát. Dạ dày hắn có sức chứa bảy lần vục đầy cơm bằng loại bát B.52 và cao hứng lên, có thể tráng miệng thêm hai phong lương khô nữa. Hắn ăn như hùm, nhưng làm khoẻ như voi nên mọi người đều vui vẻ nhường nhịn hắn và hắn cũng sẵn lòng gánh vác giúp anh em những công việc nặng nhọc. Cái sức lực hơn người của hắn còn được chính hắn oang oang tô vẽ không chút ngượng ngùng rằng: “Mẹ kiếp! Đêm nào tao cũng mơ thấy bé. Và đêm nào tao cũng đánh mất một thằng Thời con. Biết đâu trong đám những thằng Thời con chưa kịp làm người ấy, chẳng có đứa sẽ là thi sĩ. Hô hố...”

Sau khi đào xong hầm thì tất cả đều mệt lử. Tôi cảm thấy cơ thể rệu rã, miệng đắng ngắt, mắt nảy đom đóm. Vẫn còn một việc nữa là lấp đất, Thời thở dốc, tì ngực vào cái cán xẻng, lầu lầu:

- Mẹ kiếp! Toàn nhữmg việc nặng nhọc, khốn khổ. Thằng lính mà phải làm cả thợ sơn tràng, thợ đấu, ngựa thồ... thì đến đá cũng phải xỉu, nói đếch đến người!

Nhìn đôi mắt đỏ ngầu đờ đẫn của Thời, tôi biết hắn đang phải vật lộn với con đói ngủ dữ dội lắm. Tôi giằng cái xẻng trong tay hắn, bảo:

- Ngủ đi! Giờ thì đến lượt tao làm việc chứ.

Có lẽ chỉ đợi thế, Thời đổ vật xuống đất, ngáy luôn. Bộ râu lem nhem đất và đầy những cọng lá khô quăn queo rung lên đều đều sao mà ngon lành?

Vừa phủ xong đất lên nóc hầm, chưa kịp chui vào ngồi thở thì có lệnh hành quân gấp. Cha mẹ ơi! Nước sông công lính. Chúng tôi lần ngược trở  lại co đường vừa mới đi hôm trước. Nghe đâu địch đã đánh hơi thấy một cuộc di chuyển lớn của binh đoàn. Tôi lắng nghe tiếng rên “eo...u u” dai dẳng của thằng OV-10 và buột mồm hỏi một câu bầng quơ:

- Chẳng lẽ nó ở tít trên cao kia mà cũng nhòm thấy cái thùng mỡ trên lưng Vũ khoèo hay sao?
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #53 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 02:51:56 pm »

                            Tiếp theo :

Chiến dịch lớn đã bắt đầu. Nó cuốn những người lính vào một cơn lốc chóng mặt. Nó thổi bay những ý nghĩ vụn vặt từng đeo bám trong đầu, nhưng cũng thổi bùng lên một nỗi khát thèm được sống tưởng đã bị vùi lấp trong vô vần những biến cố, những sự kiện chồng chéo lên nhau xô bồ, hỗn tạp.

Sống - đó là niềm hy vọng mỏng manh của những người lính trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào, nhưng dường như càng mỏng manh nó càng hối thúc người lính phải suy nghĩ về nó một cách nghiêm chỉnh.

Chúng tôi hối hả hành quân giữa các làng quê và đô thị. Những bàn chân quen bước thấp bước cao trong rừng, nay nện gót trên mặt đường nhựa phẳng lỳ cứ tức anh ách. Máu tụ lại, da phồng rộp, vỡ toét, bỏng rát lên tận óc. Vừa đi vừa chạy vừa chạy vừa thở và xuýt xoa đau đớn. Dừng chân là nổ súng. Nổ súng xong lại chạy xuốt đêm ngày. Chiến tranh kết thúc đến nơi rồi. Một cuộc chiến dù dài lâu đến đấu vẫn có ngày kết thúc! Và sẽ có một viên đạn cuối cùng dành cho một người lính cuối cùng ngã xuống trước giờ phút khải hoàn.

Chúng tôi đi suốt đêm và dừng lại ở một trảng cát. Phía sau lưng là một cánh rừng cao su bạt ngàn. Còn trước mặt là căn cứ địch rộng tám kilômet vuông. Đó là mục tiêu phải đánh chiếm của đơn vị chúng tôi.

Một tổ ba người moi một cái hố chiến đấu. Tôi, Vũ và Thời cũng âm thầm đánh vật với cát. Tiếng lưỡi xẻng bập vào cát sột sẹ. Tiếng thở nặng nhọc, gấp gáp. Những chùm pháo sáng của địch lơ lửng trên bầu trời, thứ ánh sáng lạnh lẽo ma quái. Thỉnh thoảng, một loạt đạn lửa từ trong căn cứ địch vọt lên bầu trời, loằng ngoằng những đốm lửa ma trơi.

Đang moi sâu dưới hố, Thời bỗng nhảy phắt lên, thở hồng hộc. Tôi ghé sát vào hắn, thì thào:

- Sao thế?

Thời lia cái cằm bàn chông vào má tôi, giọng rin rít:

- Xương! Xương người!

Tôi và Vũ ngớ ra. Thời lẩm bẩm:

- Dép đúc, dây lưng...

Vũ buột miệng, lào thào:

- Quân ta à?

Tôi lẳng lặng lấy ra tấm ni lông màu cỏ úa và trải rộng trên cát. Thời nhảy xuống hố. Hắn thận trọng moi dần từng cái xương vùi trong cát ướt đưa lên cho chúng tôi. Tôi và Vỹ loay hoay xếp đặt. Tất cả là ba bộ hài cốt. Một tổ ba người bị bom vùi từ bao giờ? Chắc là từ hồi F9 trừng trị sư đoàn “Tia chớp nhiệt đới” của bọn Mỹ. Ngày ấy, bị địch giội bom rải thảm, nã pháo cực nhanh và dùng hàng đàn xe tăng bọc kín sau lưng, các chiến sĩ F9 đã quyết tử trên mảnh đất đẫm máu này. Mai sau, chẳng biết có ai đến đây để cắm một tấm bia với dòng chữ: “Nơi yên nghỉ của hàng trăm liệt sĩ vô danh thuộc sư đoàn 9 – QGPMN”? Thời chống hai tay vào mép hố, nhảy lên. Hắn vừa buộc túm tấm ni lông thành một bọc trông lởm khởm vừa thì thầm:

- Dám thưa hương hồn các anh. Bọn em gồm ba đứa là Thời râu, Vũ khoèo và Nghĩa thư sinh trói gà không nổi...

Nghe Thời khấn khứa, tôi chạnh lòng. Khoé mắt cay cay. Vũ cũng xúc động lắm. Hắn dụi nhanh mắt vào tay áo. Còn Thời khấn xong thì ngồi xổm, bần thần. Bộ râu bê bết cát ướt của hắn như dài ra, tua tủa, rung rung. Lát sai hắn chỉ tay xuống hố, giọng khàn đục:

- Phải mai táng theo nghi lễ nhà binh!

Tôi và Vũ còn đang ngơ ngác chưa hiểu ý định của Thời thì hắn đã gắt khẽ:

- Mỗi thằng nộp ba viên đạn AK thay cho ba loạt súng bắn vĩnh biệt.

Thời đặt cái bọc xuống đáy hố, xếp chín viên đạn thành một hàng ngay ngắn bên cạnh cái bọc và nhảy lên.

Sau khi lấp đầy cát vào hố, Thời bảo:

- Ngày mai, đứa nào còn sống phải nhớ đánh dấu ngôi mộ này. Nếu quên thì thằng Thời râu mang trọng tội lừa dối các linh hồn chết, hiểu chưa?

Chúng tôi hì hục moi cát đào một cái hố khác. Vừa buông xẻng thì pháo binh ta cũng khai hoả.

* 

Hàng nghìn quả đại bác và hàng chục phi đạn ĐKB gầm rít vang trời. Không gian như vỡ toác và rùng rùng chuyển động. Cùng lúc, các cỡ súng của địch cũng thi nhau khạc đạn. Cả một vùng trời đất bị nung nóng ngùn ngụt lửa khói. Không thể phân biệt nổi tiếng nổ của súng ta và súng địch. Chỉ còn một mớ âm thanh hỗn độn ù ù như xay lúa, chát chúa như muôn vàn cặp đe búa gõ đập loạn xạ bên mang tai.

Nép sát vào nhau dưới hai làn hoả lực khủng khiếp, chúng tôi tưởng như ngạt thở trong trạng thái cảm xúc đầy mâu thuẫn. Chợt thấy sung sướng là vì được chứng kiến đoạn kết ngoạn mục của một cuộc chiến tranh kéo dài ba thế hệ. Lại thoắt run bởi thấm thía nỗi sợ hãi xon người. Chao ôi, những ngày thiếu đói triền miên của cuộc đời sinh viên, những cơn nguy khốn cùng cực giữa vòng vây kẻ thù, những lời khen chê vô bổ, những soi mói đố kỵ tầm thường của người đời... Tất cả, phỏng có nghĩa lý gì khi chỉ lát nữa thôi, có thể sẽ bị vùi sâu dưới cát? Vào khoảnh khắc yếu đuối nhất của bản năng con người khi phải đối mặt với tử thần, tôi bất giác nhìn sang Thời. Hắn nghiến răng trèo trẹo, quai hàm bạnh ra, những sợi râu đen bóng dựng đứng lên như con nhím xù lông. Nhưng, không hiểu sao, tôi thấy hắn rất đẹp. Một vẻ đẹp ngạo nghễ gai góc, hình như hắn bất cần? Và vì thế, có lễ hắn không có những phút yếu đuối như tôi? Tôi bỗng nôn nao thèm khát có được phẩm chất liều lĩnh như hắn. Tôi bị thuyết phục trước vẻ đẹp ngang tành, dữ dằn của Thời. Tôi ôm lấy hắn. Khác với mọi lần, bộ râu của hắn không hề gây cảm giác khó chịu, mà hình như những sợi râu cắm vào da thịt tôi khiến tôi có thêm sức mạng, giúp tôi can đảm hơn! Đột nhiên, Thời quàng tay riết chặt cả tôi và Vũ. Tôi nghe rõ nhịp đập không bình thường của cả ba con tim. Thời nói. Lần đầu tiên, tôi được nghe hắn noi bằng một giọng run run, ngập ngừng:

- Nếu còn sống, chúng mày phải ra Hà Nội. Tao có hai đứa em gái...

Hoả lực của ta đột ngột chuyển làn, bắn sâu vào căn cứ địch. đó là hiệu lệnh mở cửa. Đại đội chủ công chúng tôi bắt đầu phần việc của mình.

Người thứ nhất ôm bộc phá lao lên. Một tiếng nổ rung chuyển trận địa. Cát bụi, mẩu dây thép gai, ống bơ... bay lên tung toé.

Dường như địch cũng nín thở, căng tai căng mắt chờ đợi cái biến cố sinh tử này?

Cửa mở chìm trong lưới đạn dày đặc của kẻ thù. Chớp lửa loang loáng chói mắt. Tiếng nổ rền rĩ vô tận. Cát bị quyện vào khói lửa vón cục thành từng cây nấm xám khổng lồ từ từ bay lên không trung, tản ra, che kín cả một góc trời vần vũ...

Con số thương vong tăng lên chóng mặt. Hầu hết các cán bộ trung đội, tiểu đội đã hy sinh. Đồng đội của chúng tôi lần lượt gục ngã ở các hàng rào vòng ngoài. Vẫn còn hai hàng rào dây thép gai nữa.

Chính trị viên trưởng Toán rướn cổ thét to, giọng khản đặc:

- Đồng chí Hào dẫn bộ đội lên mở cửa!

- Rõ ... o õ!

Lát sau đã thấy hai người trườn ngang qua mép hố của chúng tôi. Đó là Bê phó Hào và chiến sĩ Bình. Hào động viên Bình:

- Bình tĩnh nhé! Ôm chặt bộc phá, chuẩn bị lao lên áp sát mục tiêu.

Bình ngẩng mặt lên, lý nhí: “Rõ!”. Bỗng “hự” một tiếng, Bình ngoẹo đầu sang bên phải. Một viên đạn xuyên qua trán Bình. Máu và óc trắng phun ra xối xả. Hào giật khối bộc phá trong tay Bình, đứng bật dậy, vọt lên. Nhưng cả một băng tiểu liên cực nhanh AR15 của địch đã hất anh ngã ngửa. Đầu Hào thõng xuống vai Thời. Thời nâng gáy Hào, vuốt mắt cho anh. Thời xoay xác Hào nằm dọc theo mép hố, lẩm bẩm: “Thế là toi một cây tiếu lâm!”. Những sợi râu dựng đứng của Thời chợt giãn ra nom dễ sợ.

Chiến sĩ  Ngọ từ phía sau bò lên, tiếp tục công việc dang dở của Bình và Hào. Ngọ bị trúng đạn vào chân nhưng vẫn cố lết lên. Chúng tôi dán mắt vào Ngọ. Hai mươi thước. Mười thước. Năm thước... Một vồng lửa tròn lăn tới và trong nháy mắt đã nuốt chửng Ngọ. Súng phun lửa! Thời chửi toáng lên: “Đ. mẹ! Chúng nó xịt súng phun lửa!”... Nhưng, Ngọ vùng đứng đậy. Toàn thân Ngọ rừng rực như một bó đuốc. Bó đuốc khét lẹt ấy lừng lững tiến về phía hàng rào. Một tiếng nổ kinh thiên động địa. Thịt xương người chiến sĩ bị hút vào cây nấm xám khổng lồ, bay lên trời và tan biến trong khoảng không mờ mờ, vô định.

Thắng, cậu liên lạc đại đội chạy ào đến chỗ chúng tôi như một cơn lốc. Thắng nằm sấp, hổn hển:

- Các anh trong Ban chỉ huy đại đội bị thương và hy sinh ba người rồi. Chỉ còn chính trị viên phó Huấn. Cấp trên chi viện xe tăng. Anh Huấn bảo anh Nghĩa cử người ra rừng cao su dẫn xe tăng vào vị trí chiến đấu. Hết!

Truyền xong lệnh, Thắng chồm dậy và lao vụt đi. Tôi bật lên tiếng kêu thảng thốt. Những con rắn lửa loằng ngoằng đang quấn lấy người Thắng. Chúng nó đổ đạn vào một mục tiêu trần trụi trên mặt đất. Trời ơi! Thắng còn trẻ quá. Chưa đầy mười tám tuổi và mới suýt soát ba mươi sáu ký!

Thời thở dài:

- Tôi và ông phải đi bộ đội và đi bộ đội là phải. Còn nó? Ai bắt nó tống gạch đá vào túi quần. Ai bắt nó khai gian ngày sinh tháng đẻ?

Đến lượt tôi thở dài. Thời nhăn nhó:

- Ông đa cảm bỏ mẹ. Sao không ở nhà mà làm thơ? Thôi, xin chào!

Dứt lời, Thời đứng dậy sửa lại bao đạn chuẩn bị vọt lên khỏi hố. Tôi vội vàng:

- Không! Việc này của tao.

Thời nheo mắt nhìn tôi. Những sợi râu của hắn giật giật như thể có một bàn tay vô hình nào đó đang túm những chân râu kéo tụt vào trong da. Tôi hiểu, đó là dấu hiệu của sự điên khùng. Mặc! Tôi vụt đứng dạy. Vũ cũng lập tức đứng dậy. Tôi ấn vai hai chiến hữu:

- Ngồi xuống! Nó xơi gọn cả tổ bây giờ!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #54 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 02:54:02 pm »

                              Tiếp theo :


Vừa kịp thụt xuống thì “oành”, một quả đạn cối 81 ly rơi sát mép hố. Oành! Oành! Oành... Mảnh cối rít lên lạnh gáy. Cát bụi trút ào ào xuống đầu khiến chúng tôi tối tăm mặt mũi. Thời khạc nhổ ầm ầm và văng ra một câu chửi rất tục.

Cối địch bắn lui dần về phía sau lưng chúng tôi. Hình như chúng muốn ngăn chặn quân ta ở trong rừng cao su?

Bỗng “xoẹt – rầm – oành! Oành oành oành...” Những tiếng nổ loạn xạ đã nuốt chửng tiếng gào thét của Thời. Chúng tôi đều ôm đầu, nhắm mắt. Chúng nã pháo 155ly. Những quả đạn réo lên như xé màng nhĩ và nổ từng chuỗi như bom chùm. Thời lắc đầu rũ đất cát, rác rưởi đầy tóc đầy râu, gào lên:

Nghe đây! Sau này chúng mày chịu khó lang thang khắp 36 phố phường Hà Nội tìm “bé” cho tao. Còn bây giờ, tao ra dẫn xe tăng. Đứa nào cãi, tao rút chốt lựu đạn US cho chết luôn cả ba ở đây!

Tôi gai người trước những lời lẽ quyết liệt của Thời. Đầu óc sách vở của tôi còn kịp hiểu rằng Thời là một hiệp sĩ mà chúng tôi phải chịu ơn suốt đời. Vũ rơm rớm nước mắt:

- Anh Thời ơi, anh cầm nốt chỗ bông băng cá nhân của em...

Rồi Vũ run rẩy móc túi ngực ra mấy viên tăng lực ấn vào miệng Thời, nói vội: “Anh ăn đi để lấy sức”...

Tôi ôm lấy Thời, âm thầm gạt nước mắt. Những sợi râu xuyên qua áo lính, mơn man trên da thịt tôi buồn buồn, nao nao. Mắt tôi nhoè nhoẹt, cay xót. Thời buông tôi. Đôi mắt hắn đỏ ngầu, nhưng không phải màu đỏ của cơn đói ngủ hôm nào. Hình như hắn cũng khóc? Theo cách của hắn. Những mao mạch trong mắt hắn vỡ ra thành nước mắt. Hắn cất giọng khàn khàn, là lạ:

- Vĩnh biệt!

Thời phốc lên và mất hút trong biển cát bụi mịt mù. Tôi căng mắt dõi theo bóng Thời. Không thấy gì cả. Chỉ có khói lửa cuồn cuộn. Một cảnh tượng tan hoang, hỗn độn. Có cái gì đang sụt lở ầm ầm trong tâm tưởng? Lòng đầy mặc cảm, tôi muốn được hét lên gọi tên Thời. Hắn thế đấy! Dám sống thật với con người thật của mình. Đùa bỡn với tất cả!

Tôi mệt mỏi ngồi thụt xuống hố và lại bồn chồn đứng bật dậy. Vũ nhìn tôi, đôi mắt đỏ hoe, thẫn thờ. Cái hố cát nơi chúng tôi đang đứng chợt như rộng ta, toang hoác, trống trải lạ lùng - Ước gì nó rộng nữa, rộng mãi và tan biến thành biển cả hay sa mạc.

Mặt đất bỗng rung lên cùng với những tiếng động lạ. Xe tăng! Tiếng ai đó reo lên. Tôi và Vũ cùng dán mắt vào cánh rừng cao su. Đúng là xe tăng rồi!

Bốn chiếc xe tăng T34 từ trong rừng cao su lừ lừ bò ra. Xe tăng ta vừa hành tiến vừa nã đạn yểm trợ cho bộ binh mở cửa. Chúng tôi nhìn rõ Thời ngồi chễm trệ trên chiếc xe tăng đi đầu.

Bàng hoàng vì sự xuất hiện đột ngột của bốn chiếc xe tăng, súng địch chợt im bặt khoảng mấy giây đồng hồ. Nhưng, ngay lập tức, quân địch điên cuồng giáng trả. Một cơn mưa đạn cấp tập ác liệt trùm lên bốn chiếc xe tăng. Mặt đất chao đảo. Không gian như bị nung nóng hàng ngàn độ trong cuộc đọ sức của sắt và lửa. Tưởng như tất cả sẽ hóa lỏng trong chớp mắt.

Bỗng, một quầng lửa màu da cam bùng lên, phủ kín chiếc xe tăng đi đầu. Một tiếng nổ long óc... Chiếc xe tăng bốc cháy đùng đùng. Con mãnh thú bị tử thương còn kịp gửi lời chào vĩnh biệt bằng mấy phát đạn cuối cùng. Không có chiến sĩ nào bật nắp tháo pháo nhảy ra! Bi tráng thay là cái chết của những người lính xe tăng. Họ tự đến, tự đi, tự bắn chào vĩnh biệt và tự mai táng cho mình! Mắt tôi hoa lên, chập chờn... Lửa vàng rừng rực... khói đen cuồn cuộn... Tiếng nổ âm u, văng vẳng... Mười ngón tay vô tri của tôi chới với bấu vào bờ cát đang sụt lở... Thời ơi!

* 

Tôi cũng không nhớ nổi, sau cái chết của Thời cùng năm chiến sĩ xe tăng, tôi và Vũ đã xông lên như thế nào và vì sao tôi còn may mắn sống sót?

Tôi còn sống? Sống ngơ ngác giữa bãi chiến trường ngổn ngang bao nhiêu đồng đội đời đời im lặng! Tại sao kẻ may lạ là tôi? Nếu tất cả những kẻ hay do dự và sĩ diện hão như tôi đều sống sót cả thì cuộc đời mới vô duyên làm sao? Ờ, tại sao kẻ thù lại bắn tồi đến thế? Tôi cũng xông lên, cũng phơi mình lù lù trên bãi trống kia mà! Sao tôi không dính một viên đạn? Ôi, Thời, mày thiêng lắm! Bom đạn tránh người mà! Nhưng mày đâu biết nó tránh những ai?

Chiến tranh đến trời long đất lở và ra đi lặng ngắt như thế này ư? Tôi lẳng lặng bước đi như một kẻ mộng du. Tôi lẩm bẩm gọi tên từng người đang yên nghỉ theo những tư thế rất khác nhau. Vũ đây! Chàng trai vùng biển chất phác vô tư, chỉ nghe nói đến chuyện người ta hôn nhau đã thẹn thùng ngượng nghịu. Tôi quỳ xuống vuốt mắt cho Vũ và cúi đầu vĩnh biệt. Nước mắt tôi ứa ra, ròng ròng. Bên má tôi còn ấm nóng hơi thở của Vũ đêm nào, gần đây lắm, chỉ vài chục tiếng đồng hồ thôi... Bây giờ... Tôi nấc lên nghẹn ngào và lảo đảo đứng dậy. Tôi vừa loạng chạng bước thấp bước cao vừa lảm nhảm gọi tên đồng đội. Bình này, Ngọ này, Hảo này, Lân này, Hùng này, Phong này, Khương này... Bỗng tôi khựng lại. Thắng! Chú liên lạc đại đội nằm ngửa, giang rộng hai tay hai chân, đôi mắt mở to nhìn bầu trời cao xanh vòi vọi. Tôi ngồi xụp xuống, vuốt mắt cho Thắng nhưng vô ích. Thi thể người lính trẻ đã lạnh ngắt, cứng đờ. Chẳng lẽ Thời luôn luôn đúng? Đôi mắt trong veo của Thắng chưa kịp hiểu gì hết! Cả cuộc đời và cả chiến tranh. Thế mà lồng ngực bên trái của Thắng đã hứng trọn một loạt đại liên bắn vỗ mặt?

Tôi cúi đầu im lặng. Không gian cũng im ắng lạ thường. Chỉ có giò ù ù bên tai. Bầu trời quang đãng bao la. Và con người sao mà bé bỏng? Và tôi ngậm ngùi hiểu ra rằng, khi buông vũ khí, tôi mới là kẻ đáng thương đến chừng nào?

Bất giác, tôi vồ lấy khẩu AK, lên đạn và chĩa thẳng nòng súng lên trời. Tôi nghiến răng bóp cò. Có tiếng ai đó quát to. Mặc! Tôi quẳng cái hộp đạn rỗng và lắp tiếp một băng khác. Lại lên đạn và xiết cò. Ai đó bóp mạnh vào vai tôi, quát:

- Điên hả? Không được bắn nữa!

Tôi mắm môi, miết cứng vòng cò. Một tiếng “đoàng” lẻ loi, khô khốc. Hết đạn. Đó là viên đạn cuối cùng trong đời lính của tôi. Tôi thẫn thờ buông thõng khẩu súng. Tôi bỗng thèm được nghe tiếng gầm của hàng ngàn khẩu trọng pháo. Thiếu vắng những âm thanh đó, tâm hồn tôi như hụt hẫng?

Chính trị viên phó Huấn đứng trước mặt tôi. Nom anh hốc hác, nhợt nhạt. Anh buồn rầu, nói:

- Không tìm thấy xác Thời, ông ạ!

Tôi giật nẩy người:

- Sao? Mất xác à?

Huấn gật đầu và lầm lũi bước đi. Tôi chạy như bay tới chỗ chiếc xe tăng bị bắn cháy đen thui. Không còn dấu vết gì của Thời, kể cả một vệt máu cháy đen.!

Chúng tôi dàn hàng ngang tìm kiếm. Mười phút. Hai mươi phút. Rồi ba mươi phút. Bất chợt, tôi dừng lại trước một đám kiến đen lổm ngổm, xúm xít. Tôi vội ngồi xuống, dán mắt vào cát. Không có gì cả. Đàn kiến đang kiếm ăn trên một vũng máu tím bầm đầy cỏ rác và bụi bặm. Tôi thất vọng đứng dậy đảo mắt nhìn đám kiến đen đang tầng tầng lớp lớp bu quanh một miếng mồi. Một miếng mồi tua tủa râu đen.

Tôi qùy đầu gối xuống cát, chống hai tay, chổng mông, phồng má lấy hơi thổi đám kiến đen đang lăn xả vào phần thi thể của Thời. Vô ích! Chúng cứ ỳ ra không chịu buông tha miếng mồi. Và hình như chúng còn cố tình trêu ngươi tôi? Chúng chúi đầu rúc sâu vào các chân râu, ngoáy chân, một cách ngạo mạn. Mắt tôi long lên nhức nhối. Những con kiến đen to dần, to dần đến khủng khiếp. Những sợi râu của chúng oằn oại như những cái vì bạch tuộc. Những chiếc răng của chúng nhọn hoắt như răng cá mập. Người tôi chợt đờ ra, lạnh toát. Một nỗi sợ hãi xen lẫn sự kinh tởm dâng lên khiến tôi nghẹt thở và buồn nôn. Kiến đen, những con vật nhỏ bé hiền lành vụt trở thành những tên đồ tể khổng lồ say máu một cách điên dại. Chúng đang gặm sồn sột khiến tôi đau đớn và bất lực. Nhưng, chính vào cái thời khắc yếu đuối một cách quái gỡ ấy, hàng ria vểnh lên ngạo nghễ của Thời đã hối thúc tôi hành động. Tôi dùng bàn tay phải cướp lại mảnh thi thể của Thời. Những con kiến đen túa ra trên mu bàn tay và các kẽ ngón tay của tôi. Chúng tràn cả lên trên phía cổ tay. Tôi điên tiết dùng bàn tay trái miết mạnh giết từng con cho đến khi không còn một mống kiến đen nào trên tay tôi nữa. Giá có một nắm rơm hoặc một can xăng, tôi sẽ phóng hỏa thiêu sạch lũ kiến nhung nhúc trên mặt đất. Tôi dùng hai đế dép đúc chà đi xát lại đám kiến đàn chạy trốn náo loạn. Tôi biết là không thể nào tận diệt được những sinh vật nhỏ bé này bởi vì chúng có mặt ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. Và bởi vì tạo hóa sinh ra chúng cũng như đã sinh ra con người vậy. Mọi tính toán nhằm tận diệt lẫn nhau đều có kết cục đáng buồn. Tôi thốt rùng mình như bị lên con sốt rét ác tính...

... Trong cơn mơ chập chờn mộng mị, tôi nghe văng vẳng một lời ai đó rất mơ hồ: “Không khéo tay này bị bệnh thiếu máu não cũng nên!”.

H.D
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #55 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 03:05:01 pm »

                                     Đất
                                     Tác giả : Anh Đức

LỜI TÁC GIẢ: Truyện ngắn Đất được tôi viết vào khoảng tháng 3 năm 1964, trong chuyến về Cà Mau. Đó là một chuyến đi vô cùng ấn tượng, tôi được chứng kiến cảnh quân và dân đất mũi đánh bại chiến dịch dồn dân lập ấp chiến lược của Mỹ – Ngụy, giành lại tự do ngay trên mảnh đất cha ông khai khẩn. Truyện được viết trong bối cảnh đêm trừ tịch, gợi lên không khí linh thiêng của ngày Tết. Đối với tôi điều quan trọng của truyện ngắn là hình tượng, chi tiết. Trong Đất tôi đã dựng hình tượng người nông dân Nam Bộ với cá tính rất đặc sắc, tình yêu đất đai, làng mạc đến quên mình. Tôi cũng đưa vào không khí Tết Nguyên Đán ở Nam Bộ. Tưởng như mới đó, vậy mà truyện ngắn ra đời đã 44 năm rồi, chóng thiệt.
                                    _ _ _ _ _ _ _ _ _

Hồi gần tết Giáp Thìn, đâu tối hăm ba tết thì phải, anh Định phụ trách tờ báo tỉnh bảo tôi:

- Nè hay là cậu đi Xẻo Đước một chuyến đi. Ấp chiến lược Xẻo Đước đã bị dứt điểm rồi. Cậu viết một bài nói về cái Tết đầu tiên của bà con mới thoát vòng kiềm kẹp ở đó thì hay lắm. Nhân tiện cậu giải quyết luôn chuyện chiếc xuồng...

Tôi nói:

- Ờ, được để tôi đi!

Và hôm sau tôi sửa soạn lên đường, với niềm vui xen lẫn hồi hộp. Trở lại Xẻo Đước giải phóng, tôi sẽ gặp lại những bà con quen suốt mấy năm ròng lăn lộn trong đấu tranh. Thế là, với thói quen thường có, trong đầu tôi chưa đi đã phác ra những tình tiết: bà con nông dân trở về ôm chầm lấy những gốc cây bị giặc đốn mà khóc, những bờ luỹ ấp chiến lược bị san bằng, từng đống dây thép gai bị vo cuộn lại, và tôi còn mường tượng ra cả tiếng mái chèo vỗ nhịp trên sông vv… Theo tôi, trong một thiên phóng sự về sự tự do của đất thì không thể nào không đả động mọi thứ ấy.

Những mà, hỡi bạn đọc thân mến của tôi ơi, còn một điều tôi chưa nói rõ với các bạn. Đấy là chuyện về chiếc xuồng mà Định vừa căn dặn tôi giải quyết trong chuyến đi này. Nguyên do thế nào mà Định căn dặn tôi như vậy? Thưa các bạn, vì chiếc xuồng ấy mà bấy nay lòng tôi cứ thấp thỏm không yên. Cũng chẳng phải chỉ riêng tôi, cả anh phụ trách toà soạn nói trên, phải chính Định đấy, anh ta đã cùng tôi mượn một chiếc xuồng của bà con Xẻo Đước đi mấy năm nay mà chưa có dịp đem trả.

Xẻo Đước vào năm ấy tình hình thật hết sức khó khăn. Ban đầu chúng tôi còn ở ngoài xóm, về sau bọn giặc tổ chức “tự vệ hương thôn” lùng riết quá, chúng tôi không ở xóm được nữa. Vào ở trong cứ rừng với một cái “Rađio” cổ lỗ sĩ và một cái máy quay “Rônêô” lâu đời, chúng tôi vừa bắt vọp ăn vừa chép tin, in tin. Làm công việc đó được năm sáu tháng, tới cuối tháng chạp ta năm 59, chúng tôi nhận được lệnh của cấp ủy bảo phải cấp tốc di chuyển về một vùng khác để xây dựng công tác in ấn. Thư cấp ủy dặn chúng tôi tối hôm ấy ra bờ sông sẽ có xuồng đón. Hai chúng tôi vác máy lội từ trong cứ rừng ra bờ sông. Quần áo hai đứa đều ướt hết cả. Chúng tôi chui vào một lùm ráng ngồi đợi. Nhưng đợi mãi mà chẳng có xuồng nào đến đón. Một tiếng đồng hồ trôi qua… Rồi hai tiếng. Cũng chẳng thấy bóng xuồng. Tôi và Định sốt ruột quá. Ở đây không thể đi đường bộ được. Mà thư thì dặn phải đi gấp. Bấy giờ giữa đêm hai mươi tám Tết, chúng tôi cứ lom khom bò ngược bò xuôi trên bờ sông, ngóng đợi, Định nói:

- Tôi e anh em đi đón mình gặp chuyện không hay rồi!

Tôi lưỡng lự đáp:

- Có thể… Nhưng rán đợi một chút nữa coi!

Sương đêm cuối năm xuống mới lạnh lẽo làm sao. Bờ sông quạnh vắng. Đêm tối ngửa bàn tay không thấy. Trời lạnh nhưng chúng tôi không dám đốt thuốc hút. Muỗi cắn không dám đạp mạnh. Tôi và Định ngồi trong lùm ráng dõi mắt nhìn ra sông. Vẫn không thấy gì cả. Định khẽ nói:

- Hết hy vọng rồi Bảy à. Có lẽ phải vô xóm kiếm mượn một chiếc xuồng thôi!

Tôi tán thành ý kiến đó của Định và xung phong đi. Định dặn tôi:

- Phải cẩn thận nghe. Lúc này không phải là lúc chúng ta hy sinh hoặc để bị bắt đâu!

Tôi cầm trái lựu đạn, nhón bước ra khỏi lùm ráng. Cái nhà trước tiên tôi nghĩ tới chuyện mượn xuồng là nhà ông Tám, một gia đình quyết không rời bỏ Đảng và Cách mạng những ngày đen tối nhất. Ông Tám là một ông già chạc ngót bảy mươi, hãy còn gân guốc, và là người duy nhất ở Xẻo Đước còn để đầu tóc. Ông già này tới Xẻo Đước từ thuở heo rừng còn vô ỉa trong chòi, lúc cọp còn rình rập những người tới khẩn đất, và con chim đi theo cọp đêm đêm cứ kêu nghe “boong boong… krỏi… krỏi”. Nói không ngoa , ông Tám chính là một cuốn sử biên niên của xứ rừng U Minh Hạ này đó vậy. Ông là một tay bẫy heo rừng và chồn cáo thật kỳ tài. Trời ban cho ông một cái mũi tinh nhạy đến nỗi chỉ cần ngửi nước rạch buổi sáng ông cũng biết ngay là có heo rừng hay chồn đến đây uống nước hồi đêm. Đứng gần người ông, lắm lúc tôi cứ nghe như toát ra mùi vị của rừng nê địa, của cây đước, dòng kinh biển, ngọn lửa không bao giờ tắt dưới đất xốp mỡ màu.

... Khi tôi lần đến cái ụ xuống nhà ông thì thấy có xuồng đậu trong ụ. Dưới xuồng có cả chèo nữa. Tôi định lên nhà có tiếng chân hấp tấp đi ra. Tiếng ông Tám quát:

- Ai đó?

Tôi khẽ đáp:

- Tôi…

Ông Tám ôm chầm lấy tôi trong bóng tối. Ông cho tôi biết tụi tự vệ hương thôn mới đi tuần ngang. Tôi liền trình bày tình cảnh chúng tôi và hỏi mượn xuồng. Ông Tám nói ngay:

- Được, được, cứ việc lấy đi!

Tôi quay trở lại lấy xuồng. Rủi cho tôi, dây buộc xuồng là dây xích sắt. Lúc tay tôi với lấy, sợi xích bật kêu rủng rẻng. Kế đó là tiếng chân tình thịch đi tới. Ông Tám đằng hắng. Tôi biết ngay là có động. Chắc bọn tự vệ hương thôn đi tuần đã trở lại. Ghìm sợi dây xích trong tay, tôi nín thở, hồi hộp. Bọn tự vệ hương thôn đi qua, tôi nhè nhẹ tháo từng mắt xích một. Xong rồi, tôi kéo chiếc xuồng ra khỏi ụ, dong về phía bờ sông mà Định đang ngồi đợi.

Giữa đêm trừ tịch đó, tôi với Định vượt khỏi Xẻo Đước trên chiếc xuồng của ông Tám. Dọc đường, trong lúc tìm quai chèo, tôi phát hiện sau lái xuồng còn có bốn đòn bánh tét lớn và hai gói trà “Thiết La Hán” giấu kỹ dưới sạp. Tôi cầm đòn bánh lên, thấy vẫn còn ấm. Thật là lạ. Chẳng biết ông Tám để bánh và trà dưới xuồng làm gì. Chúng tôi đoán chắc ông Tám tính đem cho bà con.

Sau khi rời Xẻo Đước, chúng tôi không đem trả chiếc xuồng ngay được. Một phần vì công việc ngày đồng khỏi quá nhiều. Lẽ khác là sau đó ít lâu Xẻo Đước bị đóng thêm bốt, đồng bào bị giặc vây ép gắt gao hơn. Cho tới lúc Xẻo Đước trở thành ấp chiến lược, tôi chẳng biết sự thể đó ra sao nữa.

Mãi đến hôm nay, tôi mới về lại Xẻo Đước. Cơ quan xuất cho tôi một số tiền tương đương với chiếc xuồng để tôi hoàn trả lại ông Tám.

 

 

Tôi về Xẻo Đước vào hôm hai mươi tám Tết. Xóm làng ở ven sông có vẻ huyên náo hẳn lên. Dưới các bến, mấy thím mấy chị đang kỳ cọ tách đĩa, cười cười nói nói. Trên bờ các em túm tụm múa hát. Một cái lò bún đang ồn ào. Trong buổi trạng vạng, tôi nhìn thấy những cọng bún trắng nõn thòng xuống miệng ảng. Trên các mái nhà, khói ấm bốc lên. Quả nhiên, tôi nhìn thấy cả dây thép gai. Nhưng dây thép gai không vo cuộn lại, mà dàn ra, vây kín lấy xóm ấp. Cả những bờ luỹ cũng còn sờ sờ trước mặt. Một tấm biển cắm sát bên sông. Tôi chèo sát, và nhìn thấy dòng chữ “Quyết tử giữ làng”. Tôi tự nhủ: “Vậy là ấp chiến lược đã xoay ngược chiều lại rồi!”.

Cho dù trời tối, tôi vẫn không quên cái bến nhà ông Tám, chỗ tôi đã rón rén kéo chiếc xuồng dạo nọ. Bây giờ trên bờ án ngữ một bức thành đất dày, cao có tới bốn lỗ châu mai sâu hun hút. Bên ngoài ụ xuồng, dây thép gai ràng rịt sát mặt nước, chỉ còn để hở một lối nhỏ vừa đủ chen lọt mũi xuồng.

Tôi lách xuồng vào ụ, buộc dây. Sợi xích sắt nay cũng rủng rẻng khua lên trong tay tôi. Nhưng tôi không hồi hộp nín thở như trước nữa. Giờ đây, giá tôi có vung sợi dây xích xuồng lên, cho nó tha hồ kêu thì việc gì ấy chỉ có nghĩa là báo cho ông Tám biết là có khách tới mà thôi. Chính bây giờ cái ý niệm về hai chữ tự do trong tôi mới thật rõ, thật cụ thể. Tự do như có thể sờ nắn được trong tiếng động thoải mái của sợi dây xích. Tự do ở bước chân tôi đặt lên con đường đất. Và tự do được đánh dấu chỗ cồng nhà ngày trước bọn giặc vẫn thường rậm rịch kéo qua.

Người tôi gặp đầu tiên trong nhà không phải là ông Tám mà là anh Hai Cần, con của ông, và một số anh em du kích. Họ đang ngồi quây quần trên bộ ván giữa, ăn uống, súng ống để bên cạnh.

Tôi bước vào. Mọi người ngẩng lên. Nhưng họ chưa nhận ra được tôi. Mãi một lúc sau, anh Hai Cần vụt kêu “a” lên một tiếng rồi nhảy từ trên bộ ván xuống, vồ chụp lấy hai vai tôi. Anh ngó tôi với đôi mắt như bị loá đèn và la:

- Trời ơi, chú Bảy…

- Phải, tôi đây anh Hai!

- Trời đất, chú đi đâu mà đi biệt Xẻo Đước mấy năm nay vậy chú Bảy?

- Đi công tác chớ đi đâu… Sao, cả nhà mạnh giỏi bình yên hết hả? Bác Tám đâu rồi?

- Ba tôi?

Anh Hai Cần chỉ nói thế, rồi đứng sững. Đoạn anh nói tiếp giọng buông thõng:

- Ba tôi chết rồi!

Ông Tám chết. Tôi chưng hửng đứng lặng. Anh Hai Cần không nói thêm tiếng nào nữa. Anh nắm tay tôi kéo lại bộ ván, ra ý bảo tôi ngồi xuống. Một anh ngồi phía trong nói:

- Thôi, chuyện cũ để rồi nói sau… Bây giờ chú Bảy ngồi đây nhậu chơi với tụi tôi vài ly đã…

Tôi ngồi ghé xuống. Giờ tôi mới nhận ra từng người. Người vừa nói là chú Tư Đương. Chú này hồi đó cũng ở trong đội tự vệ của địch, có lần bị xua đi lùng “cứ”, chính chú đã bước giẫm lên người tôi, kéo ráng phủ kín cho tôi và nói: “Nằm cho kỹ một chút nghe!”. Tất cả mấy anh em ngồi nhậu tôi đều biết cả. Hầu hết anh nào trước kia cũng bị bắt ép vào đội tự vệ hương thôn, anh nào cũng từng vác gậy rượt chúng tôi, nhưng cũng chính họ là những người bảo vệ chúng tôi tích cực nhất. Họ là những người trải qua cái thời kỳ xóm làng bị chìm trong tăm tối, bị vậy bọc bởi dây thép gai, và bây giờ thì họ là những người du kích đứng sau luỹ chiến đấu. Khi họ nâng ly rượu trao cho tôi, tôi nhận ra rượu Xẻo Đước vẫn trong vắt như xưa. Nhìn những tăm rượu trào lên trong ly, tôi thẫn thờ nghĩ đến ông Tám. Ông Tám chết trong trường hợp nào tôi chưa được rõ. Anh Hai Cần vẫn chưa nói cho tôi biết. Một anh nào đó lại cất tiếng giục tôi:

- Làm đi, chú Bảy!

Tôi uống ly rượu làm nhiều lần, uống từng hớp một. Cái chai lít sau đó lại ghé vào miệng ly tôi, rót nữa. Tôi giơ tay ngăn lại:

- Nói thiệt với mấy anh, tôi còn phải đi…

- Đi đâu, Tết nhứt mà còn lặn lội đi đâu?

Anh Hai Cần nài nỉ thành thực:

- Ở lại chơi chú Bảy. Ở ngủ với tôi một đêm, rồi tôi nói chuyện cho nghe…

Tiệc rượu nhỏ cuối năm không kéo dài bao lâu. Anh em du kích lần lượt vác súng đi hết, người đi bám lộ, kẻ đi gác. Chị Hai Cần dọn cơm cho tôi ăn và nói với chồng:

- Ở nhà chơi với chú Bảy, tôi đi họp phụ nữ tính chuyện ngày mai đem bánh trái ủy lạo anh em bộ đội coi…

Chị Hai Cần đi rồi, chỉ còn lại có tôi với anh Hai. Tôi hỏi chuyện về cái chết của bác Tám. Anh Hai Cần lặng thing. Lát sau anh chậm rãi bảo tôi:

- Chú Bảy à, tối đó ba tôi tính đem bánh, trà vô “cứ” cho mấy chú. Ba tôi ổng lo lắm, sợ Tết nhứt mấy chú ở trong “cứ” buồn. Chiều đó vợ tôi luộc bánh chín rồi, ba tôi liền lấy bốn đòn đem ém dưới sạp xuồng… ổng sợ tụi nó thấy. Tính khuya là chống xuồng vô mấy chú. Ai ngờ khuya tụi nó cứ đi rỏn hoài.

Tôi nói:

- Hèn chi tôi rờ mấy đòn bánh tét thấy còn nóng. Anh Hai ơi, vậy là tụi tôi có lỗi với bác Tám lắm. Bữa nay chẳng giấu gì anh, tôi đem hoàn lại gia đình một số tiền. Chiếc xuồng dạo nọ…

Anh Hai Cần im lặng, không nói gì hết. Hồi sau, anh ngước lên, mắt đỏ hoe. Anh không nhắc nhở tới chuyện chiếc xuồng nữa:

- Ba tôi mất hồi năm ngoái, chú Bảy à. Lúc đó tụi nó ráo riết dồn bà con vô ấp. Không ai chịu đi. Chú biết nhà tôi thì lại ở ngay đầu xóm nên mỗi lần tụi nó kéo vô là ghé trước. Năm lần bảy lượt o ép, ông già tôi đều kiếm cách lướt qua hết. Ba tôi nói: “Nhà mình ở đầu xóm mà không núng thế thì không làm gương được cho lối xóm!”. Thật, nhà tôi không động đậy, cả xóm cũng không nhúc nhích. Lính tráng gặp ba tôi thảy đều ngán. Ban đầu ba tôi nói: “Nhà tôi cũng như nhà mấy chú, đừng có nghe lời người ta đến đây đòi dọn đòi dời, tôi không đi đâu!”. Lượt sau chúng lại vô, hùng hổ dỡ nhà, ba tôi đem cây mác mài bén ngót ra phóng cắm giữa nhà, nói:

- Tôi nói thiệt chớ không phải giỡn đâu. Chú nào leo lên rút một cọng lá tôi chém cho coi! – Ba tôi nói tỉnh khô vẫn gọi tụi lính bằng “chú”. Không thằng nào dám leo lên dỡ nhà hết. Tụi nó nhắm không êm, bỏ nhà tôi kéo sang nhà thím Sáu Ơn, tưởng đâu đàn bà goá thì dễ ăn hiếp. Nào ngờ thím Sáu Ơn cũng không chịu đi. Tụi nó bật lửa đòi đốt nhà. Thím Sáu bồng bế kêu hết mấy đứa con ra ngồi giữa nhà nói:

- Đốt cho mẹ con tôi chết luôn thể!

Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #56 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 03:07:50 pm »

                                 Tiếp :
Thằng lính sắp đốt nhà nghe thím nói thì buông mồi lửa, ngẩn ngơ. Vậy là lần đó, tụi nó cũng bó tay kéo về. Thằng quận trưởng Sông Đốc tức lắm. Nó cách chức thằng đồn trưởng Xẻo Đước, đổi thẳng khác tới. Thằng đồn trưởng mới này tên là thằng Đởm, chánh cống ác ôn. Mới về nó tuyên bố:

- Tôi không lùa được dân Xẻo Đước thì tôi chết sao?

Rồi mới tới ngày hôm trước, hôm sau nó đã dắt lính vô. Hay tin, ba tôi vẫn ngồi điềm tĩnh tại bộ ván gỗ này. Cử chỉ ba tôi lúc đó khác lắm chú Bảy à. Phần tôi, tôi biết lần này gay go, vì thằng Đởm là thằng gian ác có tiếng. Cho nên, tôi luôn ở sát bên ba tôi, mắt không rời cây búa bửa củi giấu sau cánh cửa. Tất nhiên nhà tôi là cái nhà đầu tiên tụi nó ghé. Chưa vô tới sân, thằng đồn trưởng Đởm đã nổ súng. Sau phát súng, nó kề miệng thổi phù phù vô nòng cây “côn 12” rồi thét:

- Ai là chủ nhà đây?

- Tôi!

Ba tôi đáp gọn.

Tên đồn trưởng xộc vô. Nó ngó quanh quất, ngó tôi và ba tôi, đoạn vẫy súng nói:

- Ê, ông là chủ nhà hả? Ông biết tôi tới đây có chuyện gì không?

Ba tôi từ trên ván bước xuống đất:

- Được, chuyện chi cũng được. Nhưng mấy người đình đãi cho tôi một chút…

Tên đồn trưởng nghe nói, tưởng đâu ba tôi ngán nó rồi, nên nó đắc chí ngó mấy tên lính, nháy mắt. Đoạn nó ngồi lên ván, tréo ngoảy chân, đốt thuốc thơm hút:

- Được, ông già lo cụ bị đồ đạc đi. Có nghe chớ?

Ba tôi đáp:

- Có, tôi có nghe!

Nhưng ba tôi không đi cụ bị đồ đạc, cũng không đi lấy ghe. Ba tôi mở tủ thờ lấy cái áo dài bằng xuyến đen ra. Đây là cái áo ba tôi chỉ bận khi giỗ kỵ. Bấy giờ ba tôi thong thả bận vô. Ba tôi bận áo rất kỹ lưỡng, vuốt từng nếp nhăn trên áo. Xong rồi ba tôi đưa tay xổ đầu tóc, xoã  ra. Tụi nó không biết ba tôi làm cái gì. Mà ba tôi cũng chẳng ngó ngàng để ý gì tới tụi nó. Hình như bấy giờ ba tôi chỉ biết có việc ba tôi làm. Sau khi bận áo và xoã tóc, ba tôi rút mấy nén nhang, bảo tôi:

- Hai, con đốt đèn lên!

Tôi rùng mình quẹt lửa đốt đèn. Cái ống quẹt cứ run lên trong tay tôi. Ba tôi đốt nhang quỳ xuống trước bàn thờ, lầm rầm khấn:

- Thưa ông bà, cha mẹ, thưa các hương hồn liệt sĩ, nhà cửa đất đai đây là của ông bà, cha mẹ và cách mạng đã tạo lập cho con. Bữa nay người ta tới ép buộc con phải bỏ đi. Con không thể phụ bạc công ơn cha mẹ, công ơn cách mạng. Vậy con xin chết để cho cha mẹ và các liệt sĩ ngó thấy. Khấu đầu xin cha mẹ và các vị chứng giám cho...

- Ông già câm miệng!

Thằng đồn trưởng la lên. Nó không chịu nổi những giây phút rùng rợn đó nữa. Cũng vừa lúc ba tôi khấn vái xong. Bước tới góc nhà chụp cây mác, ba tôi quay phắt tới trước mặt tên đồn trưởng:

- Việc của tôi đã xong, bây giờ mấy người muốn gì?

Thẳng đồng trưởng xanh mặt. Nó không nói rằng nó muốn gì cả. Nó đưa khẩu súng “côn 12” lên, chĩa vô ngực ba tôi. Tức khắc ba tôi cũng chĩa mũi mác nhọn hoắt về phía nó. Và tôi, không chần chờ, lập tức vớ ngay cây búa bửa củi giấu sau cánh cửa. Bọn lính lên đạn rốp rốp. Ba tôi nhích mũi mác tới. Thằng đồn trưởng lùi lại. Tay súng nó run lẩy bẩy. Thình lình tôi thấy nòng súng trong tay nó gặc mạnh một cái. Phát súng nổ “đùng”. Ba tôi đưa tay lên mặt. Một dòng máu chảy xuống mặt ba tôi. Nhưng ba tôi vẫn đi tới. Thẳng đồng trưởng cứ lùi. Bỗng nhiên, nó buông rơi khẩu súng, hoảng hốt rú lên, quay người bỏ chạy. Nhưng tôi đâu để nó chạy. Cây búa trong tay tôi đã bay theo. Lưỡi búa cắm ngập vô gáy thằng đồn trưởng. Nó kêu trời ơi rồi té sấp, hai tay vã xuống nền nhà…

… Kể tới đây, anh Hai Cần dừng lại. Anh chụp chai rượu rót vô ly. Anh rót rượu tràn cả ra ngoài. Nhắc ly rượu uống cạn, anh dằn cái ly không đánh cốp xuống ván, ngó chằm chằm ra đêm tối. Bóng anh in trên vách, bất động. Tôi khẽ hỏi:

- Còn tụi lính, nó không bắn à?

- Không, họ không bắn tôi. Khi đó tôi cũng không chém họ. Tôi vứt búa, bước tới đỡ lấy ba tôi. Ba tôi đã tắt thở. Chợt một người lính cầm ngọn mác của ba tôi đưa cho tôi và bảo:

- Chạy trốn đi, để đây tụi tôi tính.

Tôi sửng sốt nhìn anh ta. Nhưng hai anh lính khác cũng giục tôi:

- Chạy mau đi!

Nói rồi họ khiêng ba tôi đặt dựa vô vách. Một anh đi lượm cây búa tôi chém thằng đồn trưởng ban nãy, đem lại đặt kế bên ba tôi. Tôi hiểu, liền cầm cây mác vọt ra vườn. Lúc chạy một đỗi, tôi nghe họ la:

- Tụi bây ơi, thằng già nó chém chết ông trung úy rồi!

Anh Hai Cần đưa tay lên quào quào ngực:

- Sau đó cả tháng tôi mới bị bắt. Nhưng không có đứa nào nghi tôi chém chết thằng đồng trưởng, trừ mấy người lính kia. Lúc tôi được thả, về đến nhà thì tất cả xóm ấp đều bị nó dùng dây thép gai bủa chặt lại rồi. Sau cái chết của ba tôi, cũng không có ai chịu dời đi. Lùa bà con không được, tụi nó mới đem dây thép gai tới rào thành ấp chiến lược luôn. Gần một năm, bà con bứt nài tháo ống cả chục lần. Có lần tụi nó đưa cả đại đội về kềm giữ. Rốt cuộc …

Anh Hai Cần dừng lại, hỏi tôi:

- Chú có biết tụi tôi phá ấp ra sao không?

- Chỉ nghe nói sơ sơ chớ không rõ lắm!

Anh Hai Cần cười hà hà:

- Nè, phá khác hơn mọi chỗ hết thảy, nghe, phá ban ngày!

- Phá ban ngày? – Tôi hỏi lại.

Anh Hai Cần gật đầu:

- Ừ, vậy mới “đã chớ”. Tụi tôi tính nếu làm ban đêm thì khó ém anh em lực lượng.

- Anh em lực lượng nào?

- Anh em bộ đội vô tiếp chớ lực lượng nào. Chú nên biết, sự phá ấp ở đây không phải phá “ên” mà được, phải đi đôi với sự đánh bót. Tụi tôi móc nối với anh em địa phương quận huyện. Gay nhứt là làm sao đưa anh em lọt vô ấp

- Ém quân ngay trong ấp?

- Chớ sao. Coi vậy mà cũng không khó lắm đâu. Nhà nào tụi tôi thương lượng thu xếp để ém quân cũng đều đồng ý. Bà con nói: “Xin miễn là phải đánh cho dứt mới được”. Tôi nói: “Đã đánh là phải đánh cho dứt, bà con đừng lo!”. Họ nói: “Nếu làm thiệt thì tụi tôi xin chứa ngay anh em ở trong mùng, để anh em bắn chết mẹ tụi nó, rồi mình tháp tùng phá ấp luôn!”. Đêm đó, tụi tôi đưa anh em vô ém. Sáng ngày, bọn lính thả ra khỏi bót đi nghễu nghện bị anh em tốc mùng nổ súng. Tụi nó bị bắn gục trong các ngõ, có thằng vừa kêu “trời” vừa chạy về bót mà chạy không kịp. Tụi tôi réo mấy thằng trong bót ra hàng. Bà con áp phá bót tanh banh, nhưng không phá ấp. Ấp chiến lược về mình thì mình xài, không thèm phá …

Anh Hai Cần thôi nói.

Anh thôi nói đã lâu. Ấy thế mà trong đêm tối, tôi vẫn còn nghe. Tôi nghe đây là nghe tiếng súng nổ giữa ban ngày, tiếng rú của lũ giặc, và tiếng của ông Tám, tiếng nói của ông già nông dân ngót bảy mươi tuổi ấy cất lên vang rợn:

- Thưa ông bà, cha mẹ, thưa các hương hồn liệt sĩ, nhà cửa đất đai đây là của ông bà, cha mẹ và cách mạng tạo lập cho con …

Cứ thế, tôi nghe tiếng nói ấy. Và thưa bạn đọc, tôi xin nói ra cái điều kỳ lạ là cũng ngay bấy giờ tôi cảm thấy như đất nền nhà dưới chân tôi nóng hâm hấp, cơ hồ như đất đang động cựa, tái hiện lại những vũng máu tươi. Thế rồi, khi tôi quay lại, tôi không thấy anh Hai Cần ngồi cạnh tôi nữa. Anh đang qùy trước bà thờ. Cái bàn thờ mà cha anh đã qùy dạo đó. Mùi nhang lại toả lên.

Giữa lúc năm cũ đi qua. Và một năm mới đến.

3-1964
A Đ
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #57 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:18:51 am »

                         Chuyện cũ kể lại
                         Tác Giả : Phan viết Dũng    

“Đó là mối tình đầu của mình”, ông trầm giọng, “và cho đến bây giờ, đã mấy chục năm qua rồi, mình vẫn không thể nào quên được”…

Ông ngồi đấy, mái tóc điểm bạc, giọng cứ rủ rỉ. Ông kể:

Như phần đông trong đơn vị, mình nhập ngũ vào những ngày đầu tiên khi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đánh phá miền Bắc. Vừa tốt nghiệp cấp ba, bọn con trai hăng hái viết đơn tình nguyện ra mặt trận. Có đơn được viết bằng máu. Tuổi học trò thời ấy thật vô tư trong sáng.

Trong ba lô, mình vẫn mang theo tập lưu bút của lớp 10c. Nguyệch ngoạc là chữ bọn con trai, nắn nót tròn trĩnh là chữ bọn con gái. Có những dòng lưu bút viết bằng mực tím, bên cạnh là một cánh phượng lấy từ sân trường, được ép khô và tấm hình của người bạn gái. Những ngày ở đơn vị huấn luyện là những ngày  vất vả. Nhưng tất cả rồi cũng đi qua. “Một hòn gạch là một thằng giặc”, mấy cái ba lô đan bằng tre ngày một to ra bởi số lượng gạch trong bao ngày càng nhiều hơn và sức chịu đựng của mình ngày càng tăng theo những cuộc hành quân dã ngoại. Đầu tiên là những ngày leo trèo trên những dãy núi đá vôi Vĩnh Lộc. Hai đôi giày cao cổ rách mướp đá vì tai mèo. Tiếp đến là những ngày chạy bở hơi tai, khói ra lỗ mũi dưới cái nắng tháng tám hun hút gió Lào trên đồi trập trùng ở vùng Minh Sơn - Đô Lương. Sau sáu tháng huấn luyện, đôi phù hiệu binh nhì được gắn thêm một ngôi sao để trở thành binh nhất. Ấy cũng là lúc cất sao, gửi tư trang lại hậu cứ, nhận quân phục mới vào chiến trường.

 

Ông dừng lại, như suy ngẫm về những người lính thời ấy. Thỉnh thoảng, một cơn gió ào qua trên tán cây rừng. Có tiếng vượn hú, xa lắm những nghe rõ cũng tiếng chim, tiếng gió như hoà tấu theo câu chuyện kể:

Trên đường vào Nam, đơn vị dừng chân ở một làng nhỏ ven sông. Con sông chảy qua trước làng nước ngọt và xanh đến nao lòng. Phía sau là những dãy núi điệp trùng, nhấp nhô, xanh đậm trong ráng chiều. Tên rất đẹp: Lệ Sơn. Cái tên đó có thể có nghĩa là “núi đẹp”, hay có nghĩa là “giọt nước mắt của núi”. Sau những ngày bom đạn đầu năm 1965, đây là khoảnh khắc bình yên ở làng quê hẻo lánh này. Đêm qua, khi đơn vị vừa đến làng bọn mình được phân công về nghỉ tại nhà dân. Các chị, các mẹ, các em vui vẻ đưa anh em về từng nhà một. Mình cùng thằng Luy, thằng Bao trong tổ ba người đi theo một cô gái. Không nhìn rõ mặt, chỉ thấy trên tấm lưng thon thả là mái tóc đen dày, mượt óng ả, thỉnh thoảng lại lấp lánh dưới ánh trăng. Ông bà chủ nhà đang thức đợi bọn mình. Trên tấm phản đặt giữa sân là một rổ khoai mới luộc còn bốc hơi và một ấm nước chè xanh hãm với gừng. Ông chủ nhà bảo: “Đưa các anh ra bến tắm rửa, Hiếu”. Hiếu đưa bọn mình xuống bến sông trước nhà. Nước sông mát lạnh, lấm tấm sao trời. Rửa chân tay xong, mình thấy tỉnh táo lạ thường, một ngày hành quân vác nặng biến mất. Chén hết rổ khoai luộc, ba thằng đánh một giấc tới sáng.

 

Một buổi sáng thật bình yên. Tia nắng đầu tiên chiếu qua những tàu cọ, mang theo màu xanh của lá và tiếng chim cu gay sớm với mình vừa xa lạ, vừa thân quen đến thế. Ông bà chủ nhà và Hiếu ra đồng, Tuấn, em trai Hiếu chuẩn bị đến trường.Ăn sáng xong có lệnh triệu tập cán bộ tiểu đội lên đại đội họp. Lúc này mình đã là tiểu đội trưởng

Nội dung cuộc họp thật ngắn gọn. Bình thường, như những trạm dừng chân khác, đơn vị chỉ nghỉ lại một ngày, chiều lại tiếp tục hành quân. Nhưng ở đây đơn vị sẽ nghỉ lại một thời gian, chờ lệnh mới. Hai ngày đầu tiên được nghỉ ngơi, ngày thứ ba bắt đầu có việc. Đại đội giúp dân đào giao thông hào, làm hầm chữ A, lại có thêm mấy ngày thu hoạch mùa nữa. Công việc khá bận nhưng mà vui. Mình còn vui hơn vì được tất bật bên người con gái mà ngay từ cái nhìn ban đầu đã có nhiều cảm mến. Em không đẹp rạng rỡ, không mạnh mẽ đến táo tợn như những cô gái mà mình gặp ở những vùng quê khác. Hiếu hiền thục, chăm chỉ, duy chỉ có một điều… em ít nói, không một thằng nào trong tiểu đội, kể cả những thằng đẹp trai chai mặt tiếp cận được. Ngoài công việc chung của đơn vị, riêng mình có một công việc khá lý thú là giúp cậu Tuấn ôn thi tốt nghiệp cấp hai. Lúc đầu chỉ một mình Tuấn, sau đó thêm hai đứa bạn cùng lớp. Mình giúp Tuấn những lúc rỗi. Thường là những buổi chiều cơm nước xong, có khi là buổi đêm bên ngọn đèn phòng không đã được che bớt ánh sáng. Những lúc đó mình thấy Hiếu ngoài sân, luôn tay luôn chân. Lúc thì hái rau, lúc thì xay, giã, giần, sàng. Thỉnh thoảng Hiếu lại liếc nhìn vào trong nhà. Bất chợt mình bắt gặp đôi mắt em mở to, trong sáng lạ thường. Cánh áo nâu lúc nào cũng ướt đẫm mồ hôi bó chặt lấy tấm thân chắc lẳn của người con gái đang thì. Những lúc đó, lòng mình xao xuyến lạ. Mấy cái hằng đẳng thức đáng nhớ của lớp bảy dễ thế mà cứ quên ngược, quên xuôi. Phải mở sách ra xem lại mới giảng giải được cho mấy cậu học trò nhỏ. Kể ra, từ ngày đến đây Hiếu đối xử với mình chẳng có gì đặc biệt, cũng giống như thằng Luy, thằng Bao ở cùng nhà. Ông bà, Hiếu và cả cậu Tuấn nữa coi bọn mình như những đứa con trong nhà. Mấy ngày đầu, lấy cơm từ bếp đại đội về bọn mình ăn riêng. Cơm lính, tháng hai mươi bốn cân có phần dư dả. Thức ăn thì lúc nào cũng thịt hộp, bột trứng, ngán đến tận cổ. Biết ý, hôm thì Hiếu cho bọn mình cơm hến nấu với rau mùng tơi. Hôm thì bát canh rau tập tàng nấu với cua đồng, ba đứa tranh nhau không thừa cặn. Canh rau với cà ghém, với quả trám chần qua nước sôi, có ít rau thơm lùa với cơm, bát mắm. Một lần mình đề xuất, buổi sáng cả nhà bận công việc đồng áng không theo giờ giấc của bộ đội được, còn buổi chiều anh em xin được ăn chung với gia đình. Ông bà, đặc biệt là Hiếu không chịu nhưng bọn mình bê cơm về cứ đợi gia đình cùng ăn luôn thể. Vui nhất là Tuấn, lúc đầu cậu còn sợ chị Hiếu, sau được bọn mình động viên, có vẻ hợp với mấy món cơm hộp của các anh. Nhìn rá khoai cõng cơm của gia đình mình thấy thương quá. Lúc đầu hơi ngại, nhưng sau đó cứ mỗi lần nhận được cơm về mình lại vội vàng trộn lẫn cơm bộ đội vào rá cơm gia đình với lý do là thực hiện khẩu lệnh “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” Hiếu mới chịu. Em nguýt mình một cái rõ dài. Mà cơm độn khoai cũng có hương vị của nó. Vừa ngọt, vừa bùi, chén mãi không biết no. Ăn quen đâm nghiện, mình cứ nhặt những lát khoai nhấm nháp với cà ghém cũng phải được mấy lần xới. Mê nhất là món khoai xéo mỗi sáng. Lát khoai thái mỏng, phơi được nắng, trắng thơm, nấu với ít đỗ đen, ăn với vừng không biết no. Biết ý, sáng nào Hiếu cũng dành phần cho mình một bát cái hương vị làng quê ấy.

 

Giặc Mỹ bắt đầu đánh mạnh miền Bắc, chiến trường miền Nam quân ta đang đánh lớn. Lính ta bắt đầu sốt ruột. Kể ra chờ đợi lâu cũng chán, nhưng đợi đơn vị phải thay đổi nhiệm vụ. Mỗi ngày, bọn mình phải lên lớp  một buổi về phong tục, tập quán và học cả tiếng nước bạn Lào. Lính tráng bắt đầu tập tọng đánh vần những con chữ loằng ngoằng, lạ lẫm. Lính ta nhanh lắm, nhác thấy các em trong làng đã xổ ra hàng tràng. Nào là noong ngăm lai (em đẹp lắm, nào là noong hắc ái bò (em yêu anh không). Chị em trong làng chỉ biết cúi mặt, đấm vào lưng nhau thùm thụp rồi té chạy xuống bến nước, thùng xô va nhau loảng xoảng. Biết ngày sắp lên đường, nhưng chưa một dịp nào được nói chuyện với Hiếu lâu một chút. May quá, sáng đó đơn vị được nghỉ, Hiếu rủ:

- Các anh đi bẻ bắp với em đi.

Thằng Luy, nháy mắt về phía thằng Bao:

- Anh với anh Bao phải viết cho xong báo tường. Em đi với tiểu đội trưởng đi.

Lý do chính đáng gớm, nhưng mình cũng thầm cám ơn hắn cho mình có dịp được gần Hiếu. Băng qua đường tàu sau làng là một con đường mòn dẫn vào một thung lũng giữa những dãy núi đá vôi điệp trùng. Vừa đi em vừa kể:

- Lệ Sơn có tới 99 ngọn núi. Ông bà kể rằng, xưa có 100 con phượng bay đi vào đất kế đô. Tiếc là chỉ thiếu một ngọn núi, một con không có chỗ đậu, cả đàn phải bay đi. Nếu không làng này là đất đế đô đó anh.

- Sao gọi là Lệ Sơn?

- Em nỏ biết. Nghe nói xưa làng trồng vải để tiến vua, trong núi còn nhiều gốc vải to lắm.

- Đúng rồi, lệ chi là cây vải. Người ta gọi quả vải là giọt nước mắt của cây. Chắc vậy mới có tên là Lệ Sơn.

- Thiệt hả anh? - Em lắng lại, nhìn xa xăm lên những chóp núi. Mặt trời lên rực rỡ nhưng nét mặt em thoáng buồn. Tự nhiên mình cũng thấy nao lòng, buột miệng hỏi:

- Sao em không học tiếp?

- Học răng được anh. Hết lớp bảy là gắng lắm rồi. Cả nhà chỉ mong cho cu Tuấn học đến nơi đến chốn. Còn em… con gái mà.

Đến rẫy, em thoăn thoắt bẻ những bắp ngô chắc hạt. Chỉ một loáng đã đủ gùi của em và của tôi. Trên đường về, em vui trở lại:

- Anh còn trở lại, khi nào em đưa anh đi thăm động Chân Linh, thiêng lắm. Tục truyền trong động có cái tráp bằng vàng của tiên nữ bị chìm xuống đáy nước. Một vị đạo sĩ muốn cướp lấy, vì vậy đã xảy ra một cuộc quyết chiến. Dấu tích còn lại là những vết chém dưới Lèn đứt chân và trên núi vẫn còn hình của nàng tiên và vị đạo sĩ hóa đá. Trong động có đủ hoa thơm cỏ lạ đẹp lắm. Nhưng người ta bảo vô nó phải là người có thiện tâm. Bởi vậy có mấy câu thơ truyền khẩu: “Động môn vô tỏa thược/ Tục khách bất tằng lai”. Cha em giảng, có nghĩa là: “Cửa động không then khóa. Tục khách chẳng dễ qua”, đúng không anh?

- Đúng vậy - Mình trả lời em.

 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #58 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:21:08 am »

                             Tiếp theo :
Về đến nhà, câu chuyện của Hiếu cứ ám ảnh. Mình liên tưởng đến nàng tiên nữ Chân Linh với người con gái của cái làng Lệ Sơn ấy. Rồi tự hỏi, có phải lòng em cũng không cửa khóa, mong sao anh không phải là tục khách. Nhiều lần mình mỉm cười với cái ý nghĩ vớ vẩn ấy làm cho hai thằng cứ cật vấn mãi về cái buổi sáng đi bẻ bắp trên rẫy ấy.

Tháng Chạp, không khí những ngày giáp tết đến gần, cũng là lúc đơn vị được lệnh lên đường. Sáng sớm, đại đội thông báo nhận quân trang, lương thực, vũ khí. Để lại những bộ quần áo đi B, chiếc mũ tai bèo của bọn mình được thay bằng bộ quân phục Pa-thét Lào với chiếc mũ lưỡi trai lạ mặt. Chiến trường C đang vào mùa khô, đơn vị phải lên đường gấp. Bộ đội khẩn trương, cả làng cũng nhộn nhịp. Hiếu ra đồng từ sớm, nửa buổi cày đã thấy em về, thì thụp giã cối gạo mới. Cậu Tuấn định bỏ buổi học, nói mãi mới cắp sách đến trường. Được hai tiết học thấy cu cậu có mặt ở nhà, hăng hái đi bẻ lá nguỵ trang cho bọn mình. Mình xoa đầu cu Tuấn:

- Phải thi cho đỗ Tuấn nhé.

- Nhất định em sẽ lên đại học - Tuấn trả lời mình rồi hắn quay về phía Hiếu - Phải không chị Hiếu?

Hiếu vẫn lúi thúi trong bếp. Mình tần ngần trước cửa bếp, rồi mạnh dạn nói với vào:

- Anh đi nghe Hiếu.

- Dạ - Em ngước nhìn, đôi mắt đỏ hoe. Không biết vì khói bếp hay là vì em đã khóc.

Nơi tập kết là sân kho hợp tác. Bộ đội, dân làng bịn rịn chia tay. Những gói cơm mới được bọc lá chuối tươi từ tay các cô gái làng cứ dúi vội vào tay những chàng lính trẻ. Mình cố ý đợi, rồi cuối cùng Hiếu cũng đến. Em ngơ ngác, dõi tìm từng hàng quân. Em chạy đến chỗ bọn mình. Hiếu trao cho Bao và Luy hai đứa hai gói mo cau. Mình chỉ nghe loáng thoáng: “Hai anh đi mạnh khỏe”. Còn mình đứng đầu tiểu đội, em cúi đầu chạy lướt qua, không một lời tạm biệt. Mình buột miệng gọi:

- Hiếu!

Em vẫn không quay đầu lại. Bóng em lúi chúi, hấp tấp trên con đường làng và xa dần… Đi một quãng, mình ngoái lại, Lệ Sơn lặng im trong chiều tím. Có lẽ mình sẽ không bao giờ trở về cái làng quê ấy nữa.

 

Mười lăm phút nghỉ tại chỗ. Đơn vị tản ra hai bên đường. Hương rừng đặc quánh sương đêm. Mình tựa lưng vào một ổ mối, chẳng buồn cởi ba lô, súng đạn.

- Tiểu đội trưởng ăn cơm với chúng tôi. - Một giọng ai đó mời chào.

- Cơm nếp của chị Hiếu, ngon lắm - Giọng thằng Bao lém lỉnh.

- Cám ơn, tôi không đói, các cậu cứ tự nhiên.

Mà có đói làm sao mình nuốt nổi, thật ê chề, buồn chán. Mình biết đó là mo cơm được nấu bằng hạt lúa nương. Tháng mười đói nước, no nắng, hạt lúa sắt lại được em tuốt bằng tay rồi xay, giã dần sáng, cơm dẻo và thơm lắm. Giá như mình cũng có được một mo cơm em trao, tối nay mình cũng sẽ không ăn, chỉ ngửi thôi. Ngửi đến no mùi hương của em. Mùi sương, mùi của nắng, của cả hương bồ kết mỗi tối em trải trước sân, rồi quay quay mái tóc hong gió. Nhưng mình đâu được diễm phúc đó…

 

Nửa đêm, đến trạm nghỉ ngơi. Đơn vị rời khỏi đường lớn đi vào một nhánh đường mòn. Qua một sườn đồi thoai thoải, trạm giao liên đóng bên bờ một con suối cạn trong cánh rừng già. Đội hình tản ra, phát cây, căng võng. Mình mở ba lô… Trời ơi, cái gì thế này? Một chiếc mo cau căng tròn còn hơi ấm. Mình nâng lên áp vào mặt, vào má, vào môi. Không phải cơm nếp. Một mo khoai xéo, thơm bùi, thứ mà mình thích nhất trên đời. Một phong thư rơi trên cỏ, mình nhặt lên. Móc vội tăng võng, mình chui vào chăn bấm đèn pin lần mở phong thư. Một lọn tóc nho nhỏ, đen huyền, quấn gọn như một chiếc vòng tay. Một trang giấy học trò chỉ vỏn vẹn có mấy chữ: “Em chờ anh! Hiếu”. Mình áp phong thư vào ngực rồi  mở ra mở lại, đọc đi đọc lại. Chỉ có mấy chữ đó thôi. Nét chữ của em như hạt lúa nương mẩy tròn.

Mùa mưa năm bảy hai đơn vị về hậu cứ an dưỡng, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Dừng chân ở một làng cách Lệ Sơn không xa mình hăm hở trở lại tìm em. Thằng Tuấn đã vào đại học. Cha mẹ Hiếu đón mình giàn giụa nước mắt. Còn em, từ tấm hình trên bàn thờ nhìn mình như ngày nào, không nói, e ấp và thoáng buồn. Bà mẹ kể, mấy tháng sau khi bọn mình đi, Hiếu vào thanh niên xung phong. Một năm sau gia đình nhận được giấy báo tử. Em nằm lại dưới chân núi Phu-la-nhích ầm ào bom dội. Mình thắp nén hương, nhắn gọi: “Hiếu ơi, anh đã về”. Rồi mở túi áo ngực, mình đặt lên bàn thờ vòng tóc nhỏ, một phần máu thịt của em…

 

Ông kể chuyện này vào một buổi chiều cuối năm, trong một lần chúng tôi có mặt trên trọng điểm ATP, gần nơi Hiếu ngã xuống. Đó là một ngày đã đóng cửa rừng. Tết đến, rừng cô quạnh lắm. Biết là chuyện cũ nhưng cứ mạn phép ông mà chép lại như thắp một nén hương cho những mối tình mãi còn với người còn sống.
  P V D .
 

 

Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #59 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:30:42 am »

                                   Mười ba bến nước

                                   Truyện ngắn. Sương Nguyệt Minh

 Người xưa bảo: “Con gái mười hai bến nước”. Mười hai bến nước là bến nào? Là: Công, hầu, khanh, tướng, sĩ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục. Cũng có khi người ta thay “sĩ, nông, công, thương” bằng: “Nho, y, lý, số” hoặc thay bằng: “Cầm, kỳ, thi, họa”. Dù quan niệm thế nào thì đó cũng là 12 địa vị cao thấp khác nhau trong xã hội; hoặc có thể là 12 nghề, tượng trưng cho 12 cái bến đời. Phận đàn bà, con gái như con thuyền nan mong manh, trôi dạt; người chồng coi như bến đậu. May nhờ rủi chịu.

Nhưng, thời hiện đại thì khác, chiến tranh “ba mươi năm không đêm nào ngủ được”; hòa bình lâu rồi, người lính vẫn thường trực trong quân ngũ đến mức nhiều thế hệ khai ở mục nghề nghiệp hai chữ: BỘ ĐỘI. rõ ràng người lính là bến nước thứ 13 rồi. Neo đậu ở cái bến người lính thì coi như đằng đẵng xa vắng chồng, coi như chịu cái bến đời chiến tranh mất mát hy sinh, cùng cực khổ đau, bất hạnh.

Tháng 8. 2004, tôi đi dự Trại sáng tác Văn học chiến tranh và người lính ở Đại Lải, và truyện ngắn MƯỜI BA BẾN NƯỚC ra đời trong cảm thức như thế. Một tâm trạng thật lạ lùng, vừa rõ ràng rành mạch vừa mông lung như đi trong mù sương, làm tôi quên không gian tự nhiên bên ngoài để bước hẳn vào không gian nghệ thuật mười ba bến đời. Suốt một tuần ngòi bút trôi cùng con thuyền số phận người phụ nữ, rồi neo đậu ở bến Người lính – bến chiến tranh.

                                    Nhà văn Sương Nguyệt Minh

1.Tôi lấy vợ mới cho chồng.

Một chuyện lạ chưa từng xảy ra ở làng Yên Hạ. Cô dâu là bạn thân của tôi đã quá lứa lỡ thì. Cô ấy đang cần tấm chồng và khao khát một đứa con hợp pháp. Tôi làm bà mối, tôi cùng nhà trai đi ăn hỏi, đi xin cưới, đi rước dâu.

Đám cưới có vui, có buồn, có sượng sùng. Và đúng lúc cô dâu mới vào buồng hạnh phúc thì tôi lặng lẽ ra lối cửa sau đi tắt qua vườn. Túi đồ ôm vào lòng, vừa đi vừa khóc, tôi chạy cùn cụt ra bến nước, ới đò sang sông về nhà với mẹ.
Người ta ví: Con gái mười hai bến nước. Tôi khốn nạn hơn những người đàn bà khác. Tôi những mười ba bến nước.
 2.
Tôi sinh nở lần đầu vào một buổi trưa.
Tháng năm âm lịch, cuối vụ gặt, tôi đem cơm ra đồng cho thợ. Cào cào, muồm muỗm dồn đến đám lúa cuối cùng nhiều quá. Thợ gặt bỏ liềm hái vồ tới tấp. Tôi cũng đạp gốc rạ lội sòm sọp đến chộp. Tự nhiên, bụng đau lâm râm, rồi cồn lên đau dữ dội. Tôi vội bỏ nắm cào cào đã vặt càng vào nón và ôm bụng. Ch­­ưa kịp lên bờ thì ối vỡ, nước ối chảy ư­ớt sũng hai ống quần. Tôi ới chồng. Anh bỏ đon lúa đang bó dở, hốt hoảng chạy đến bế tôi lên bờ. Mẹ chồng tôi quýnh quáng sai đứa cháu gọi bà đỡ đẻ. Nhưng không kịp, tôi đẻ ngay trên bờ ruộng ẩm ướt ngổn ngang lúa tươi và cuống rạ vừa cắt.

“ối giời cao... đất dày ơi...ời!” Mẹ chồng tôi gào lên và xỉu ngay bên đon lúa. Tôi chỉ kịp cố gồng sức ngẩng lên nhìn xuống giữa hai háng mình, rồi ngật đầu sang một bên.

Mãi mãi, không bao giờ tôi quên được tiếng mẹ chồng kêu và cái cục thịt tôi đã đẻ ra ấy. Mẹ chồng tôi líu lưỡi, giọng hoảng loạn, kinh hoàng. Cục thịt đỏ hỏn chỉ có cái miệng tròn tối om, há ra ngậm vào như cá mắc cạn ngáp lúc sắp chết. Thợ gặt chân tay xước sát lấm bùn đất, đứng, quỳ châu quanh tôi. “Về lấy cái liễn sành, bỏ Nó vào đem đến gò Mã Giáng mà chôn.” Tiếng người láo pháo. “Đừng... Đặt Nó lên bè chuối cho trôi sông.” Và xa gần bước chân đạp trên gốc rạ lẫn tiếng lội nước gấp gáp ọp ọp.

Tôi không ra khỏi nhà. Lúc nào mắt cũng đỏ hoe. Chồng tôi ít nói. Anh lầm lì, nâng giấc, săn sóc tôi như chăm bẵm con nhỏ. Mẹ chồng tôi nhìn con dâu tiều tụy quá, nước mắt bà ứa ra. Mẹ chồng rất thương tôi, mẹ chồng nàng dâu mà y như mẹ đẻ và con gái. Tôi vừa nấc vừa nói, giống hệt đứa bé gái ngoan bị đòn oan:

- Bu ơi! Sao ... con... đến nỗi này?

Mẹ chồng tôi thở dài:

- Nhà ta đời đời ăn ở hiền lành, có ác với ai bao giờ đâu mà để tội để nợ cho con!

Chồng tôi đang xách siêu thuốc bắc. Anh giật mình, đánh rơi bộp xuống nền nhà. Siêu vỡ, nước thuốc vàng sẫm chảy lênh láng, hơi nước bốc khói mù mịt.

Tôi thường mất ngủ. Trong giấc mơ đêm tối trời, tôi thấy đám thợ gặt đội nón mê, ngồi bệt xuống cỏ hút thuốc lào chờ cho Nó hết ngáp. Rồi họ bỏ Nó vào cái liễn sành màu da lươn, đậy nắp đem đến gò Mã Giáng chôn. Lại có đêm tôi mơ thấy Nó trên bè chuối thả trôi ở bến nước sông Hoàng Long. Và con Thuồng Luồng tóc đen dài xoã sượi, vai trần trắng, vú căng mẩy như vú con gái, nhưng mình rắn, bàn chân tay nhái có màng mỏng bơi đến đẩy bè chuối vào bờ. Tôi vùng vẫy, hò hét: “Trả con tôi. Trả con tôi đây...” Tỉnh dậy, mới biết mình trong vòng tay chồng. Người lạnh toát, mồ hôi vã ra. Vai áo chồng cũng đẫm mồ hôi, anh đã rất vất vả giữ tay chân vợ vùng vẫy khi mơ...
3.
Tôi nhớ, mùa hè năm Giáp Thìn. Trời không mưa, nhưng nước thư­ợng nguồn đổ về một tuần liền. Quê tôi lụt to. Nư­ớc cuốn rều rác, cành tư­ơi, củi khô... cuồn cuộn. Nửa đêm, vỡ đê sông Hoàng Long. Nước réo ồ ồ. Chó tru. Gà quác. Trâu, bò phá gióng. Dê phá chuồng kêu khản giọng. Dân kinh hoàng, nháo nhác chạy lụt như­ chạy loạn. Tôi kịp trèo lên cây đa đầu làng. Suốt đêm ở ngọn cây, gọi mẹ ời ời; lo lũ cuốn thì ít, lo con Thuồng Luồng bắt kéo xuống nư­ớc thì nhiều.

Đêm trăng suông. Cây đa gồng mình chống chọi  lũ xiết. Tôi đói, kiệt sức. Nửa đêm, n­ước xói bật gốc cây đa, tôi bị lũ cuốn theo.

Sáng hôm sau, tỉnh dậy, thấy mình nằm trơ trơ trên gò Thuồng Luồng. Xung quanh nước réo ùng ục. Đám đông đứng ngồi lố nhố. Tiếng người nói lao phao. Con Vện cắn nhanh nhách, nghe sốt ruột. Mẹ tôi cư­ời mếu máo, bảo: “Con Thuồng Luồng vớt mày ở bến nư­ớc đưa lên đây đấy, con ạ”. Tôi ngạc nhiên quá...

Năm tôi mười sáu tuổi, có ông giáo sư sử học dẫn sinh viên về điền dã ở làng tôi. Họ thuê bọn đánh dậm chúng tôi đến đào đất khai quật gò con Thuồng Luồng. Tôi nhận ra anh Tào người làng Yên Hạ trong số người lạ này. Anh Tào có vẻ rất mến và hay trêu đùa tôi. Đào, bới, cả tuần chẳng có gì chỉ thấy vỏ hà vỏ hến, xương động vật và một tấm ván thôi. Lúc lấp đất, anh Tào cầm nộm rơm giống hình con gái quẳng xuống hố. Tôi hỏi: “Anh Tào làm cái gì đấy?” “Tao yểm. Đó là cốt đứa con gái, hồn con Thuồng Luồng. Đứa nào yêu tao mà bỏ thì phát điên, thành con Thuồng Luồng.” Những người lạ bật cười. Còn tôi vừa ngượng chín mặt vừa ngơ ngác. Về sau, yêu nhau rồi, tôi hỏi về cái nộm rơm ấy, anh chỉ cười cười bí ẩn, không nói.

Lại ồn: Vào một đêm trăng. Sương mù bay la đà mặt sông. Sóng óc ách vỗ vào hang núi. Thằng ăn trộm người làng Yên Hạ về khuya, đò nghỉ. Hắn định cởi áo, đội gói đồ ăn trộm lên đầu, bơi qua sông thì thuyền đánh cá đêm chở đầy sương mù chui từ trong hang nước ra, lướt nhẹ đến. Cô gái khoác hờ cái áo, ngồi phía đuôi thuyền, bảo: “Anh lên đi. Tôi chở qua sông cho.” Thằng trộm ôm đồ nhảy xuống thuyền. Ra giữa sông vắng vẻ, thấy thuyền chỉ một mình cô gái, hắn dở trò sàm sỡ. Cô gái nhảy tòm xuống sông. Thằng trộm kịp nhận ra cô gái chỉ có phần ngực trở lên là giống người, còn thân mình rắn, bàn chân tay nhái có màng. Hoảng quá, hắn biết vừa chạm phải con Thuồng Luồng. Chưa biết xoay sở ra sao thì cô gái nhô cả vai trần và bầu vú lên khỏi nước. Đôi tay nhái bám lệch mạn thuyền. Nước ào vào, thuyền đắm. Thằng ăn trộm bị dìm uống no nước sông, rồi được đẩy lên bờ. Run quá, hắn co chân chạy thì tiếng gọi giật sau lưng: “Anh gì ơi! Của anh này.” Hắn quay lại. Vẫn cô gái ban nãy. Nhưng mặc gọn gẽ, áo khô, quần khô sắn tận gối lộ bắp chân tròn trắng. Gói đồ hắn thó trộm bỏ quên dưới thuyền cũng khô nguyên, cô ta đưa cho hắn rồi chèo thuyền chui luôn vào sương mù. Chẳng thấy con Thuồng Luồng đâu. Hãi quá! Từ đêm đó, thằng trộm mất hồn, ngơ ngẩn nửa năm...

Thuồng Luồng và bến n­ước như làn sương mù huyền thoại, bí ẩn vô cùng với tuổi thơ tôi.
4.
Chồng tôi tên là Lãng, bộ đội thời chiến nghỉ phép trước ngày ra mặt trận. Anh chư­a muốn cưới vợ, những ngày đầu đi chơi loăng quăng, gần hết phép, mẹ giục quá mới nháo nhào tìm. Lúc đó, tôi chưa hết buồn vì tin người yêu chết ở chiến trường thì gặp anh.

Đám rước dâu bằng thuyền. Cập bến, mọi người lên bờ, đứng chờ tôi lấy nậm nước đem về rửa chân mẹ chồng. Cái lệ này có từ bao giờ tôi chẳng biết. Người ta bảo: Mẹ chồng nàng dâu vốn truyền đời xung khắc. Con dâu mới múc nước rửa chân mẹ chồng để lấy lòng. Trước lúc rước dâu, mẹ tôi đưa cho cái nậm nhỏ làm bằng vỏ quả bầu be khô giống cái hồ lô và dặn những điều cần thiết về làm dâu nhà người.

Người ta hay ví bến đời với bến nước. Con gái mười hai bến nước. Lúc ấy, tôi chẳng biết mình đang ở bến thứ bao nhiêu.

 Đám rước dâu đi tiếp. Bất chợt, mọi người giật mình và ồn ào bởi tiếng hô:“Thanh niên cả như tôi thì mất nước.” Tôi nhận ra anh Tào. Trước ngực anh đeo cái mẹt tròn, quét vôi trắng viết dòng chữ: “Tôi là thằng đào ngũ.” Tôi không tin sau cái mẹt kia là người mình đã từng yêu. Bom đạn mù trời miền Bắc. Cả trường anh đóng cửa, nhập ngũ. Người ta ồn: anh chết nơi bom đạn một năm rồi. Nay họ lại nói: anh sợ chết, ghí đầu nòng súng CKC vào gót chân trái... bắn. Người thì cãi: anh Tào lau súng bị cướp cò. Đơn vị tước quân tịch đuổi, về quê đã mấy ngày rồi. Xã bắt lao động cải tạo đóng gạch. Chiều tối, dân quân giải anh Tào đi dong, bêu khắp làng. Anh Tào chân thọt chấm phẩy đi trước, dân quân khoác súng K44 nòng rỗ đi sau. Lũ trẻ con lốc nhốc theo sau nữa đồng thanh hô lại: “Thanh niên cả như tôi thì mất nước.” Tôi đi bên cạnh chồng, lòng rối bời.

Anh Lãng cưới tôi hôm trước thì ngay hôm sau phải về đơn vị. Anh đi xa không biết ngày nào về. Chồng tôi cố dấu nỗi buồn vào lòng. Anh chào lần lượt từng người rồi quay lưng, đi rất nhanh, như chỉ sợ nấn ná sẽ ở nhà luôn.
5.
Người vợ xa chồng có trăm ngàn cơ cực, chẳng nỗi khổ nào giống nỗi khổ nào. Có những đêm dài ghê gớm, tôi lục sục không ngủ. Nằm một mình ôm gối, nhớ chồng, trằn trọc chờ sáng. Tôi lôi cái áo cũ bạc màu của chồng ra ấp vào mặt, nỗi nhớ càng nôn nao, da diết hơn. Khốn khổ nhất là mấy ngày áp kỳ kiêng kị sử dụng sô màn của đàn bà. Hai bầu vú tôi cứng nhưng nhức. Nhũ hoa sân lại. Má đỏ hồng tươi tắn. Mắt long lanh... Lúc nào cũng chỉ mong chồng về.

Con gái chưa biết hơi trai thì tò mò, dụt dè; nhưng đã phải hơi trai rồi thì nghiện. Đêm đêm, tôi nằm tưởng tượng ra đủ điều, vò gối ấp áo vào mặt tìm hơi chồng. Không chịu nổi lại đổ lúa vào xay, xay đến sáng, hoặc múc nước giếng khơi đổ ào ào tắm cho lửa lòng dịu đi, hoặc sang ngủ chung giường tìm hơi mẹ chồng.

Mẹ chồng tôi biết. Bà đã trải qua những năm tháng chờ chồng nên hiểu lòng con dâu. Mẹ chồng tôi lặng lẽ lục tìm trong hòm lấy quần lót cũ của con trai bỏ vào chã đất rang, tay khoả miệng lẩm bẩm. Bà làm theo cách riêng nhuốm màu sắc dân gian giúp con dâu vững lòng lúc con trai mình đi xa.

Làng Yên Hạ của chồng tôi có hai bến tắm. Bến tắm đàn bà phía đầu nguồn, bến tắm đàn ông phía hạ nguồn, cách nhau vài trăm b­ước. Bọn con gái cứ để nguyên áo quần dài, lội dò dẫm ra xa bờ, n­ước đến đâu vén áo đến đó; nước dâng qua bầu ngực thì đội áo lên đầu hoặc cởi ra vo viên ném vèo vào triền sông. Tôi đã gặp chuyện ầm ĩ ở bến tắm này. Bắt đầu từ lúc ông xã đội trưởng và hai dân quân bất chợt nhìn xuống bến thấy đầu tóc con gái loã xoã, vai trần nhô lên tụt xuống. Lại tiếng quẫy nước um ũm và cái đầu đàn ông. Cứ ngỡ Thuồng Luồng quần nhau với người. Té ra là anh Tào với tôi dưới bến nước. Ông xã đội rất ghét những thằng đào ngũ, hoặc chân thọt, mắt chột, tay khoèo, thấp bé nhẹ cân...không phải ra trận, ở nhà hay chim chuột vợ lính khi họ đang nơi hòn tên mũi đạn. Vợ ông chửa hoang với thằng công nhân lái xà lan. Ông ta căm lắm, chuyên rình bắt gái làng ra bến nói chuyện với thợ thuyền sông nước. Tôi kêu oan:

- Tôi tắm, không may bị chuột rút...

Anh Tào lúng túng, sợ sệt:

- Tôi đánh xe trâu đến đây. Bỗng nghe tiếng người chết đuối kêu cứu...

 Ông xã đội nhếch mép, khinh khỉnh:

 - Đã phạm tội tự thương, đào ngũ làm mất thành tích năm năm liền “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của xã nhà; lại vi phạm chính sách hậu phương quân đội, làm người lính ở chiến trường không yên tâm chiến đấu. Còn bịa cả chuyện con Thuồng Luồng. Từ xưa đến nay, ta chỉ nghe chuyện Thuồng Luồng cứu người chứ chưa bao giờ nghe chuyện người cứu Thuồng Luồng. Ta đồ rằng: Thuồng Luồng là đứa con gái nần nẫn này ở dưới nước mày mới nhảy xuống... 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM