vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #60 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:35:34 am » |
|
Tiếp theo : Dân quân dẫn anh Tào và “con Thuồng Luồng” là tôi về trụ sở uỷ ban xã lập biên bản. Anh Tào vẫn cởi trần, chỉ mặc quần đùi thập thễnh đi sau. “Con Thuồng Luồng” mặc quần lụa đen ướt dính bết vào đùi, không được mặc áo, trên mình chỉ độc cái xu chiêng ướt sũng nước. Vai “con Thuồng Luồng” trần rờ rỡ dưới trăng. Đang đi, bỗng dưng ông xã đội cho “con Thuồng Luồng” đứng lại mặc áo, rồi thả cho về. Ông bảo: “Nể cái thằng lính đang sống chết ở chiến trường đánh nhau với Mỹ - Ngụy, ta tha.” Tôi đi một đoạn còn nghe ông rủa sau lưng: “Rạc rài. Giống cái là giống bạc tình.”
“Giống cái là giống bạc tình?”. Tôi đã nhìn thấy bờ tre nhà mình: bầu ngựa đực bụng bé trèo lên lưng bầu ngựa cái bụng to. Bầu ngựa đực lẹo xong, mệt quá gác càng, vừa rời lưng bầu ngựa cái, liền nằm ệch ra. Nó bị ngay đôi kiếm nhiều răng cưa của bầu ngựa cái bổ vào bụng và móc ra từng miếng thịt trắng đến tận khi sồi ruột mới thôi. Người ta bảo, loài bò cạp cũng thế. Chúng nó âu yếm, lẹo nhau xong, con đực bao giờ cũng mệt hơn vì bị rút hết sinh khí. Con cái liền quay lại ăn thịt luôn bạn tình.
Tôi chưa nhìn thấy bò cạp cái ăn thịt bò cạp đực bao giờ. Chỉ thấy rắn nước ở đầm Vạc. Khi con cái lột xác, con đực luôn phục ở bên bảo vệ và đi kiếm mồi về nuôi. Lúc con đực lột xác còn bấy dậy, thì con cái dẫn con đực khác về tổ. Chúng làm tình với nhau trước mũi con rắn vừa lột xác. Và chén luôn bạn tình cũ đang bấy bớt, không còn khả năng tự vệ.
Tôi là đàn bà, là giống cái. Người ta cũng coi tôi là giống bạc tình a?
6.
Chiến tranh kết thúc, chồng tôi về. Nguyên vẹn, thân thể không sất síu tí nào. Mừng ơi là mừng. Mẹ con, anh em, vợ chồng gặp nhau mừng mừng tủi tủi bao nhiêu thì anh Lãng hậm hực bấy nhiêu. Không biết bằng cách nào, anh Lãng biết người ta ồn vợ mình trăng gió. Buổi tối, mọi người đến chơi về hết, nhà tôi lẽ ra vui như tết thì lại buồn hơn đám ma. Mẹ chồng bảo:
- Bu không giữ được danh tiếng vợ anh.
Anh đay nghiến:
- Tôi bao nhiêu năm, bom đạn không chết lại chết vì điều tiếng thiên hạ đấy.
Đến lượt tôi, giọng sẽ sàng, nhưng hơi lạnh:
- Em là vợ anh. Chỉ anh mới biết em chung thuỷ hay là không.
Anh Lãng mặt nghệt ra. Rõ ràng anh không ngờ tôi nói thế. Anh chưa biết sẽ định liệu số phận cuộc hôn nhân thời chiến rất mong manh của mình ra sao. Tin vợ hay không là một quyết định không dễ đối với người lính đã nhiều năm xa nhà...
Đêm ấy, cả làng Yên Hạ không ngủ. Trăng sáng lắm. Gió núi thổi về mát rười rượi. Bọn choai choai rủ nhau đi hóng trăng dọc đường làng. Ngoài sông Hoàng Long, đèn sáng đỏ, tiếng gõ cắc... cắc... vào mạn thuyền thúng đánh cá đêm vọng về. Đêm chồng vợ, chúng tôi quấn vào nhau như đôi thuồng luồng quần nhau trong hang nước.
Sáng hôm sau.
Mẹ chồng tôi dậy thật sớm, ngồi ở thềm hè chải tóc, chốc chốc ngóng vào cửa buồng con dâu. Anh Lãng bước ra, se sẽ ngồi bên mẹ:
- Hôm qua, con không kìm lòng thì gây án mạng với thằng Tào đào ngũ rồi, bu ạ. May nhà con nhẫn nhịn. Suýt nữa tan đàn sẻ nghé.
- Anh nói thế nghĩa là làm sao?
- Bu không nhớ a? Ngày trước, con gần gũi nhà con chỉ một đêm rồi đi vào Nam đánh giặc. Cái đêm tân hôn ấy, nhà con đúng kỳ kinh nguyệt. Vợ chồng con chỉ nằm ôm nhau, rồi khóc...
- Anh nói thế nghĩa là đến đêm qua, vợ anh vẫn còn trinh nguyên?
- Vâng! Vẫn là con gái. Vợ con thì con biết chứ.
Mẹ chồng tôi sững sờ, chẳng nói thêm được câu gì. Bà không ngờ con trai và con dâu ở hoàn cảnh oái oăm ấy. Tôi nằm ì trong buồng lúc đó mới ra. Hai tay vấn tóc. Mắt ngời ngời hạnh phúc. Tôi dụt dè ngồi bên mẹ chồng. Lúc đó, bà lại lên tiếng:
- Bu cũng không muốn tin. Nhưng chuyện con dạo ấy thì tình ngay lý gian. Con bỏ qua đừng giận bu, nhá.
- Con không giận ai cả. Con không sợ gì sất. Con chỉ sợ anh Lãng đi đánh giặc không về. Con vừa mất chồng lại chẳng có người minh oan cho con. 7.
Tôi sinh nở lần thứ ba, thứ tư vẫn ra cục thịt đỏ hon hỏn. Mẹ chồng tôi đau buồn, và sợ hãi quá, suốt ngày niệm Phật và đi chùa. Phật vẫn cứ ở đâu đó chưa hiện về phù hộ chúng tôi. Người ta bảo: Trăm cái phúc nhà vợ không bằng cái nợ nhà chồng. Đời đời gia đình chồng tôi ở hiền, nhưng tôi phải gánh nợ. Vậy cái nợ này ở đâu giáng xuống?
Tôi sinh nở lần thứ năm lại là một bọc có nhiều cục thịt đỏ, như thuồng luồng đẻ bọc trứng non. Chúng Nó không phải kiếp người, cũng chẳng phải kiếp ngợm. Nhưng là các hình hài tôi mang nặng, tôi dứt ruột đẻ ra. Đến lúc này, dân làng có người ghẻ lạnh, xa lánh tôi. Tôi mụ mị dở tỉnh dở điên.
Chồng tôi kể lại: Có lần tôi bỏ nhà đi lang thang ra bờ sông Hoàng Long. Rồi nhảy xuống bến nước vớt những đám lục bình hoa tím nổi nênh đênh. Vớt đặt lên bờ rồi lại vớt, chẳng biết để làm gì... Tôi cũng chợt nhớ lần đi ra gò Mã Giáng. Gò vắng lạnh. Dứa dại viền quanh tốt bời bời. Chó hoang chạy lông nhông kiếm ăn, cắn oăng oẳng. Mèo dại mắt xanh lét, lông xơ xác, gừ gừ. Tôi đến góc gò phía Bắc, nơi chôn trẻ con yểu mệnh. Những nấm đất sè sè, nhỏ nhoi. Chẳng biết nấm mộ nào có liễn sành màu da lươn.
Tôi ngẩn ngơ đến vãn chiều. 8. Đêm nước ròng.
Vợ chồng tôi ra vó bè kéo tôm. Đèn ló sáng lấp loáng. Mắt tôm bắt đèn ánh lên các chấm li ti đỏ đòng đọc. Kéo một lúc được lưng lưng giỏ. Mệt, tôi để cho chồng kéo rồi xách chiếu manh vào lều cỏ. Anh Lãng làm cái lều dưới chân gò Thuồng Luồng để coi vó. Lúc mệt hoặc tôm cá không đi thì gác vó, lên lều đánh một giấc đến tận rạng đông, nghe tiếng láo pháo của người đi chợ sớm mới dậy. Chẳng biết từ bao giờ, người đi chợ, đi kéo vó, mò tôm... qua đây, ai cũng nhón một hòn đất bỏ lên gò. Bao nhiêu đời rồi, gò cứ rộng ra và cao lên như quả đồi con.
Gió nồm hiu hiu. Bốn gọng vó thỉnh thoảng thả chọp... chọp... xuống bến. Mắt tôi díp lại, mơ màng... Nửa đêm về sáng, tôi giật mình bởi tiếng đàn bà gọi:
- Đò ơi....ơi! Cho mẹ con tôi sang sông vớ....i.
Tiếng gọi đò rõ mồn một. Rồi lại tiếng kêu:
- Trả con cho tôi. Trả con cho tôi đâ... ây...
Tiếng gọi, tiếng hời vọng vào đêm khuya vắng lặng. Bỗng dưng, một người đàn bà bước đi nhẹ như gió thoảng từ đỉnh gò xuống.
- Người ta bắt con tôi đem trôi sông. Làm ơn cứu con tôi với.
Tôi nhận ra người quen:
- Chị Sao này mê rồi. Chưa bao giờ chị có con. Tỉnh lại đi.
- Các con tôi đang trôi dưới bến nước kìa. Làm ơn vớt chúng nó lên với.
Tôi nhìn xuống bến. Một màu trăng bàng bạc. Sương giăng mờ ảo. Tôi bàng hoàng không tin ở mắt mình: Anh Tào đào ngũ! Thật rồi, anh Tào đang đặt những hài nhi đỏ hon hỏn lên mấy cái bè chuối và dùng tay đẩy ra xa bờ. Các bè chuối quay tròn, nhẩn nha trôi... Rồi chị Sao nhảy ùm xuống nước, chìm ngỉm. Khi các vòng sóng lặng, bất chợt Thuồng Luồng nhô lên, tóc dài đen, vai vú con gái, nhưng mình rắn. Nó đột ngột quẫy lộn đầu xuống, hai bàn chân nhái có màng giơ khỏi mặt nước. Lại ngoi lên. Con Thuồng Luồng bơi, đẩy bè chuối vào bờ...
Hoảng quá, tôi căng mắt nhìn, không thấy anh Tào nữa. Mấy cái bè chuối cũng biến mất. Chỉ thấy đàn vịt trời lông trắng bay vọt lên, kêu váng mặt sông.
- Sao ơi! Sao ơi! - Anh Lãng vỗ bồm bộp vào vai tôi. - Hết cả hồn. Em mơ à?
Mặt mũi toát mồ hôi. Tôi nhìn xuống bến nước. Vó bè nằm im đổ bóng bốn gọng xuống sông. Trăng sáng vẫn bàng bạc.
- Rõ ràng chị Sao gọi đò, rồi nhảy xuống sông biến thành con Thuồng Luồng.
- Thần hồn nát thần tính, điên à? Em là Sao, là vợ anh chứ còn chị Sao nào nữa. Thôi, nửa đêm về sáng rồi, xuống kéo vó với anh.
Tôi ngồi thừ ra, không biết đâu là thực đâu là mơ. Vợ chồng tôi kéo vó đến tận sáng chẳng được con tôm nào. Chỉ toàn củi mục với rều rác.
Tôi đi chợ bán tôm, nửa đường gặp anh Tào đánh xe trâu chở chã đất và liễn sành màu da lươn.
- Khiếp quá! Từ mai, anh đừng chở thuê những thứ này nữa.
- Thì thôi vậy. Vài năm nay người ta dùng liễn sành nhiều quá, Sao ạ.
Tôi kể chuyện giấc mơ, rồi bảo:
- Anh Tào còn nhớ dạo đi điền dã, anh chôn cái nộm rơm ở gò Thuồng Luồng không? Em với anh chuyện cũ qua lâu rồi...
Anh Tào cười giả lả, cắt lời tôi:
- Anh nhớ ra rồi. Đấy là chuyện tầm phào láo toét. Nhưng chuyện này là có thật này:
Cô Sao không biết là: Ngày xưa, quân Chiêm Thành thường đi biển ra cướp phá nước Đại Việt ta. Thời Trần Nghệ Tông, có một cánh thuỷ chiến Chiêm Thành đi theo cửa biển vào sông Hoàng Long. Chúng đi đến đâu là đầu rơi máu chảy, lửa cháy ngút trời, nhưng đến địa phận làng ta thì tịnh như không. Khi thượng tướng Trần Khát Chân đại thắng Chế Bồng Nga thì quân Chiêm Thành rút chạy. Cánh thuỷ chiến này cũng giong buồm chuồn ra biển. Lúc chúng đến làng ta thế nào, lúc đi cũng vậy. Làng ta bình yên trong chiến tranh. Nhưng ba tháng sau xảy ra chuyện lạ: Vài chục con gái, đàn bà không chồng mà chửa. Chẳng binh đao mà làng loạn. Làng đau thương còn hơn làng khác bị nạn “nước lửa và ống đồng” tàn phá. Lệ làng rất hà khắc. Vài chục người đàn bà ấy bị gọt trọc đầu bôi vôi, rồi đóng bè chuối đem ra bến nước trôi sông. Có điều lạ: Buổi sáng thả trôi về phía biển thì đến la lá tối lại thấy các bè chuối đậu ở bến nước. Hoá ra, theo nước thuỷ triều lên, tôm, cá, cua, rắn nước, rùa, giải, thuồng luồng, ba ba,... bơi quanh đẩy, kéo các bè chuối trôi về bến. Cứ vậy, thả rồi lại trôi về. Làng chịu bất lực trước các loài thuỷ tộc và thuỷ triều, đành cho số đàn bà khốn khổ khốn nạn ấy lên bờ. Đủ ngày đủ tháng, họ sinh ra những đứa bé tóc xoăn, da ngăm ngăm, mắt hoang dã, không mang huyết thống các dòng họ ở làng. Chuyện còn lạ nữa: Trong số đàn bà ấy, có một người đẻ ra cục thịt đỏ lòm, có cái miệng tròn như đồng sèng, cứ kêu: khẹc... khẹc. Người mẹ trẻ sợ quá ngất luôn. Dân làng cho là quỷ quái, lại đóng bè chuối trôi sông. Người mẹ trẻ hoá điên, luôn miệng kêu: “Trả con đây... Trả con cho tôi...” Đang đêm, tóc tai rũ rượi, chạy bịch bịch ra sông Hoàng Long, nhảy xuống nước cuống cuồng bơi, ngụp lặn vớt con mình. Khốn nạn quá! Gái đẻ ngâm nước lạnh, chết, biến thành xác con Thuồng Luồng trôi dạt vào bến nước. Tiền đồng, xương trâu, mo rùa, hình nộm con gái,... được chôn theo. Cái gò con Thuồng Luồng cũng chính là mộ người mẹ trẻ ấy. Người ta ồn: hồn người đàn bà lang thang ở hang nước, mặt sông, thấy người chết đuối là hoá thành con Thuồng Luồng bơi đến cứu...
Thế đêm hôm qua cô Sao có bỏ hòn đất nào lên gò không?
- Không! Anh Lãng em chắc cũng không nốt.
- Giời ạ! Thảo nào giỏ tôm của vợ chồng Sao chẳng đầy thêm là phải. Nhặt ngay một hòn đất chạy đến đó mà thả. Đoảng quá. 9. Vợ chồng tôi dắt díu nhau đi bộ mười hai cây số xuống bệnh viện thị xã khám. Thầy thuốc bảo: Anh chị sinh lý bình thường, sức khoẻ tốt... Hiện thời chưa tìm ra nguyên nhân. Chúng tôi giới thiệu lên một Quân y viện ở Hà Nội, nhưng tốn kém và xa lắm, anh chị đi được không? Đi chứ. Trường Sơn, Tây Nguyên, Nam Bộ đi được thì Hà Nội sao lại không. Anh Lãng bảo tôi về bán con bò. Mẹ anh cho đôi khuyên tai. Mẹ tôi cho tạ thóc. Em gái anh lấy chồng ở làng bên cho đôi lợn giống. Đôi khuyên tai giữ lại còn bán sạch lấy tiền chữa bệnh. Người còn là của còn.
Chúng tôi được khám, làm hơn một chục xét nghiệm. Ông bác sỹ quân y kết luận: Sức khoẻ tốt. Sinh lý bình thường... Ông bảo tôi ra ngoài chờ, ông có chuyện nói riêng với chồng tôi. Hoá ra, ông dẫn chồng tôi đến một phòng trắng lạnh lưu giữ vài trăm cái bình thuỷ tinh đựng các quái thai và xác hài nhi dị dạng để nghiên cứu. Ông cho xem ảnh, giảng giải và chỉ vào một cái bình, bảo: Đây là trường hợp cha bị nhiễm chất độc màu da cam vẫn đẻ con lành lặn, bình thường; nhưng đến khi đứa con gái lấy chồng thì lại sinh ra một chùm cục thịt như chùm vải chín đỏ. Cái hậu quả này nặng nề lắm, chẳng bao giờ mới hết. Ông căn dặn, an ủi, động viên đến khi chồng tôi hoa mắt, ù tai và không chịu được mùi phoóc môn, hai người mới ra.
Về nhà, chồng tôi nằm lì ba ngày không dậy. Ngày thứ tư, anh gọi tôi vào. Anh già thêm đến chục tuổi. Thương vô cùng. Tôi nằm gối đầu tay chồng, anh nói:
- Bây giờ, anh không giấu em nữa. Bác sỹ bảo anh bị nhiễm chất độc màu da cam. Chửa đẻ trăm lần thì cũng trăm lần quái thai, dị dạng.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #61 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:44:19 am » |
|
Tiếp theo : Anh tưởng tôi sẽ bàng hoàng đau đớn, vật vã. Nhưng mắt tôi ráo hoảnh. Còn nước mắt đâu nữa mà khóc. Dù anh bị nhiễm chất độc màu da cam hay tôi đẻ quái thai bẩm sinh thì nỗi đau nào cũng như nhau cả thôi. - Nhiễm chất độc da cam lúc nào? Anh phải biết chứ! - Lúc đó làm sao biết được. Nghe ông bác sỹ giải thích, rồi mấy ngày nằm nhớ lại: Có lẽ do hành quân qua những cánh rừng trụi lá. Bọn anh uống nước suối ở đó lúc khát, còn múc đầy bi đông mang theo. Lại có lần, đơn vị đóng quân trong rừng già, thấy những chiếc máy bay Mỹ bay rất chậm phun ra chất gì đó như sương mù trắng đục. Vài ngày, lá ngả màu đồng loạt, gió rất nhẹ lá cũng rụng lả tả. Cây trụi lá chỉ còn trơ thân cành. Cả cánh rừng một màu chết chóc. Đi đường thỉnh thoảng thấy những vỏ thùng sắt hoặc thùng nhựa, có đai xung quanh nằm lăn lóc trong rừng. Có đứa ở tiểu đội ước ao mang về quê làm thùng đựng nước ăn cho mẹ. Thì ra là thùng đựng chất diệt cỏ máy bay Mỹ ném xuống mà đến bây giờ có người còn không hề biết. Tôi vùi đầu vào ngực chồng. Chưa bao giờ tôi thương anh như lúc này. Nhưng quả thật trong lòng rất đau đớn, chán chường. 10. Chồng tôi nhận được thư anh Hà Văn Nênh, đồng đội cũ báo tin vợ mới đẻ con trai. Chồng tôi bảo chọn chục trứng gà, năm ống gạo nếp đi thăm. Nhà sàn chon von một mình trên quả đồi nhỏ thấp tè. Cửa man khép hờ, trẻ con oe oe khóc. Tã lót phơi trắng bờ rào. Dưới gầm sàn, có con bé cởi chuồng, đầu tròn ủng không sợi tóc, không có tay, hàm hô răng lợi nhe như khỉ. Tôi nem nép sát hông chồng, sợ nó cắn. Lại thấy con trăn hai đầu nằm cuộn như khoanh chão bên chân cột nhà... Chồng tôi và anh Hà Văn Nênh ngỡ ngàng một lát rồi nhận ra nhau. Anh Nênh gọi vợ bế con ra chào khách quý. Tôi đón thằng bé, khen vợ anh Nênh trẻ. Anh bảo: Con vợ trước đẻ ba lần đều quái thai, dị dạng; sợ quá nó bỏ tôi, bỏ cả cái đứa không thành người đang ngồi ở gầm sàn kia đi rồi. Đây là cô vợ mới. Chuyện đang say, bỗng dưng chồng tôi tái mét mặt. Anh kéo anh Nênh, chỉ mấy thùng đựng nước ăn: - Mày lấy ở đâu? - Giải phóng xong, đi quy tập mộ liệt sỹ em nhặt được ở rừng. Lúc ra quân, quẳng nhờ lên xe tải đơn vị về Bắc. Tiện thể rủ mấy thằng lính “rửa tay gác kiếm” cùng đợt về nhà chơi, nhờ chúng nó gùi luôn về. Anh chị cõng được, lấy một cái về nhà mà đựng nước ăn. Chồng tôi kêu giời kêu đất. Điếc không sợ súng, bạn anh mang cái chết về nhà. Đấy là những thùng đựng thuốc diệt cỏ, thuốc phát quang. Con bé dị dạng kia là hậu quả chất độc màu da cam nhiễm người cha hay từ những thùng này? Bấy giờ mặt anh Nênh dúm dó lại, sợ hãi thực sự. 11. Từ hôm ở nhà anh Hà Văn Nênh về, nói chuyện với mẹ, chồng tôi thường khen bạn mình tốt số gặp may. Sau nhiều ngày đắn đo, anh quyết định nói với tôi rằng anh muốn “giải phóng” cho tôi. Anh mong tôi tìm hạnh phúc mới và đẻ những đứa con lành lặn. Tôi ra đi như con thuyền rời bến cũ, có phúc sẽ có phần, biết đâu gặp bến mới thì cắm sào đậu. Cho là rổ dá cạp lại, tôi cũng có chốn ấm mà nương thân... Quả thật, có lúc tôi nghĩ đến điều này. Nhưng khi đó, tôi choáng váng, cảm thấy bị bỏ rơi. Tôi lại hiểu: thấy vợ hai anh Hà Văn Nênh sinh đẻ mẹ tròn con vuông nên anh đang hi vọng vào cuộc hôn nhân mới. Tôi tủi thân. Anh không biết rằng tôi đã tắt kinh hơn một năm. Tắt kinh vì sợ hãi, vì sức lực kiệt quệ. Những lần phơi xô màn trắng dây phơi chỉ để nhắc mình không phải đàn ông, mà là đàn bà đang độ tuổi ba mươi; để chồng tôi đã chán chường rồi đừng ê chề thêm. Tôi giận anh vô cùng. Một hôm, anh Lãng đi vắng, mẹ chồng tôi gạn hỏi: - Từ hôm vợ chồng đi thăm bạn về, con tính sao? - Chả tính sao. Tôi giận, nói nhát gừng, chỏng lỏn, dù là biết vô lễ. Nhưng bà vẫn nhẫn nhịn: - Sao ơi! Không phải mẹ bảo thằng Lãng bỏ con lấy vợ mới đâu. Mẹ nghĩ kỹ rồi: Con thương con, thương thằng Lãng, con thương dòng họ nhà chồng thì con... - Thì con bỏ anh Lãng chứ gì? - Tôi khóc bù lu bù loa. Bao nhiêu đau khổ, giận dỗi kìm nén bùng lên. - Thôi mẹ chồng ơi, xin mẹ chồng đừng nói nữa. Mẹ chồng có chắc chồng con cưới vợ mới sẽ đẻ ra đứa con bụ bẫm lành lặn như vợ hai anh Nênh không? Bất ngờ, mẹ chồng tôi quỳ hẳn trước mặt con dâu: - Bu lạy con. Bu lạy con... Con ơi! Con nghĩ được vậy là cả nhà ta ơn con trời biển. Nhưng con chưa hiểu hết ý bu. Con cũng cần có đứa con do mình dứt ruột đẻ ra. Nhà ta không thể bắt con làm người ở con hầu trong nhà suốt đời được. Tội lắm. - Thôi, bu không phải nói nữa! Con sẽ làm ngay... Con làm ngay theo ý chồng con và bu... Lúc đó, không một lời nói chân tình nào lọt tai tôi cả. Và tôi âm thầm chuẩn bị một kế hoạch của riêng mình... 12. Tôi li hôn như chạy trốn khỏi chồng. Mẹ tôi buồn, thương con gái chỉ thầm thũi khóc. Khi mọi việc đã như ý định, lại thấy mình là con ngốc. Nửa năm rồi, tôi cố quên đi đoạn đời đau khổ đã trải qua, nhưng chẳng thể nào quên được. Càng cố quên, các hình ảnh, kỷ niệm xưa cũ càng hiện về: Những đêm vò võ chờ chồng đi xa. Mẹ chồng con dâu chấy rận cho nhau như ruột thịt. Mùi mồ hôi chua chua trên áo và khuôn mặt sạm nắng của chồng. Đêm vợ chồng đi cất vó tôm. Năm lần sinh đẻ không ra hình người. Mụ mị cứ nghĩ mình là con Thuồng Luồng... Tất cả đều như vừa mới hôm qua. Tôi thường ra bờ sông nhìn về phía nhà chồng cũ, khói chiều đang bay trên mái dạ. Tôi đoán, con bạn tôi hôm nay cho anh ăn cái gì? Đêm qua, nằm bên vợ mới anh có chợt nhớ tôi không? Người ta bảo: đàn bà đã trao thân cho người đàn ông nào là suốt đời sống chết với người đó. Sao tôi không sống chết với chồng tôi? Tôi đã biết mình khổ vì đâu. Nhưng cái bùa anh Tào yểm ngày xưa vẫn ám ảnh không dứt. Tôi sang sông, vác cuốc xẻng đến gò Thuồng Luồng đào. Tôi quyết phá tan cái bùa nộm rơm hồn con Thuồng Luồng cốt con gái để lòng tôi thanh thản. Tôi đào cuốc như con dở hơi. Trời xui đất khiến anh Tào đánh xe trâu đi qua đúng lúc tôi lôi lên một bộ xương, chẳng biết xương gì. Tôi khóc hu hu. - Tôi biến thành con Thuồng Luồng rồi! Anh Tào ơi...ời! - Em dại dột quá, Sao ạ. Ai lại tin lời nói vu vơ của anh cái thời nông nổi ấy. - Thế thì... bộ xương... nào... đây? - Có dễ xương... con Thuồng Luồng. Tôi sây sẩm mặt mày: - Tôi với anh duyên phận đâu vào đấy rồi. Sao anh cứ ám tôi mãi thế? Vẫn chân thọt chân lành tập tễnh, nhìn anh Tào vừa giận vừa thương. Không đáp lại lời tôi trách móc, anh ngần ngừ một lát rồi nói:
- Sao này. Vợ mới của anh Lãng vừa sảo non ra một bọc, bà đỡ đếm được mười một cục thịt đỏ lòm. Cứ như Thuồng Luồng đẻ trứng ấy. Sao ạ... Tôi rùng mình. Hai tai ong ong như có ngàn vạn tiếng chuông dồn dập dội vào. Anh Lãng và tôi, không biết ai khổ hơn ai? 13. Tôi lại sang sông. Con bạn tôi yếu đuối quá, không gánh nổi “cái nợ” nhà chồng. Cô ấy đã bỏ anh Lãng đi thật rồi. Anh Lãng đang âm thầm, lạnh tanh chịu đựng. Mẹ anh ốm rất nặng, có dễ không qua khỏi. Bà và anh Lãng đang cần tôi. Thực ra, lúc này chúng tôi rất cần nhau. Đã đến nước này thì... tôi phải gắng qua nốt bến nước thứ mười ba thôi. Tôi chọn lúc la lá tối sang sông. Đò đi chuyến cuối ngày. Sương mù đã bay đầy trên mặt nước. Một cái thuyền buôn đỏ lửa nấu ăn tối, đậu dềnh dàng sát bờ. Tôi nhận ra rất nhiều chã đất nung và liễn sành màu da lươn xếp đầy khoang thuyền buôn. Tôi bủn rủn chân tay. Khiếp quá! Mấy năm nay người ta dùng những thứ ấy nhiều quá. Ra đến giữa sông, đò chạm phải những cái bè chuối. Cô lái đò bảo: “Chị chịu khó ngồi, em chở! Từ chiều đến giờ, bè chuối ở đâu đó trôi về bến đông lắm.” Tôi nghi có thuồng luồng, ba ba, rùa, giải bơi theo đẩy; liền lấy sào khua dưới nưới thì không thấy vướng. Đò cố lách bè chuối lướt nhẹ. Vào gần bến, không tài nào đi được nữa. Bè chuối san sát chặn đằng trước đằng sau, vây chung quanh. Cô lái đò bỏ chèo, lấy sào đẩy bè chuối này ra, bè khác lại trôi áp vào: “Không cập bến này được đâu! Quay lại thôi. Hay là cập bến khác, chị nhá.” “Cô gái ơi! Bến này đã chót sang thì sang đến cùng.” Tôi cúi thò tay đẩy các bè chuối ra. Bè tản dần xa. Đò cập bến. Thật lạ kỳ! Tôi không cắt nghĩa được chuyện gì vừa xảy ra. Lần sang sông này vất vả quá. Tôi lên hẳn bờ, không thấy cái bè chuối nào dưới sông nữa. Đò và cô lái đã chui vào mù sương bến nước. Trên thuyền buôn chở chã đất nung và liễn sành màu da lươn, lửa vẫn lập loè sáng đỏ.
Trại sáng tác Đại Lải, tháng 8.2004
S.N.M
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #62 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:46:32 am » |
|
Con chị Lộc Tác giả:Anh Đức
Trời đang có mưa. Những người tù biết trời mưa khi họ vừa bị lùa ra khỏi khám. Họ đón lấy giọt mưa với nỗi sung sướng thầm lặng. Ngót một năm rồi họ bị nhốt kín. Sống với roi vọt và bóng tối, họ thèm ánh mặt trời, thèm mưa, thèm cỏ cây. Họ khao khát mọi thứ tầm thường nhất mà xưa nay thiên nhiên vẫn rộng lòng ban phát cho mọi người. Quả là ai cũng muốn bước thật chậm. Người nào cũng muốn đặt bàn chân lâu lâu trên đất. Bởi vì họ hiểu rằng chẳng mấy chốc nữa họ sẽ xa đất rất lâu. Và có thể là sẽ xa đất mãi mãi. Côn Đảo với họ ngày nào còn là một hòn đảo ghê rợn trong tưởng tượng thì bây giờ tất cả mọi hiện thực ghê rợn về hòn đảo ấy đã gần gũi lắm. Nhưng cái khoảng cách giữa cổng khám và những chiếc xe đợi chờ họ đi đâu có xa. Nên dẫu họ có đi chậm mấy, dẫu họ có nuối tiếc, cuối cùng rồi cũng không thể giữ được mãi hơi hướng của đất dưới đôi bàn chân. Người tù lê bước đi sau hết là một phụ nữ có mang. Trong bóng tôi, chị thu hai cánh tay bị còng lên ngực, ngửa mặt đón lấy hạt mưa. Một người đi trước ý chừng sợ chị té, quay lại hỏi: - Chị Lộc, chị đâu rồi? - Tôi đây! Chị đáp, và đi tới ánh sáng của một chiếc đèn "pin" chiếu thẳng vào mặt chị. Tên lính vừa bấm đèn đó quát: - Sao đi chậm vậy, hả? Dĩ nhiên là tên lính ấy không hiểu lý do về sự đi chậm của chị. Hắn đâu hiểu nỗi mừng rỡ của chị khi bắt gặp những giọt mưa rơi xuống. ánh đèn pin vẫn chưa tắt trên khuôn mặt người phụ nữ. Trông chị chưa quá hăm tám. Khuôn mặt trái xoan thon thả và xanh xao kia, cái đôi mắt sáng không chớp kia có cái gì rất đỗi trang nghiêm, vượt lên trên số phận tù tội của chị. Dường như chị không thấy có tên lính cùng tiếng quát của hắn. Tên lính thì lại nhận ra đó là một thái độ bướng bỉnh. Hắn vung khẩu tômxơn lên. Nhưng có tiếng người nói sau lưng: - Đừng, chị ấy có thai! Cũng chẳng rõ ai nói. Một người tù nào đó. Sau câu nói, mọi người đinh ninh một trận đòn sẽ xảy ra. Nhưng không, tên lính không đánh ai cả. - Chị Lộc, chị mệt lắm không? - Không sao. Giờ tôi thấy dễ chịu hơn. Mưa mát quá! Xe hơi chở họ chạy đi. Mưa rơi lộp độp trên mui xe phủ vải bạt. Trận mưa đêm gợi cho người đi đày nhiều nỗi nhớ. Người nào cũng im lặng nghĩ đến vợ, đến con, nghĩ đến những người đồng chí thương mến đã cùng sống với mình qua những phút gian lao. Chị phụ nữ mang thai ngồi bẹp dưới sàn xe. Hai tay chị đặt nơi bụng. Chị nghe tiếng mưa rơi rõ hơn tiếng ù ù của xe chạy. Từng giọt mưa cứ thấm vào lòng chị nỗi lo âu lạnh giá. Chị đang nghĩ đến đứa con. Đêm nay lại bắt đầu những thử thách mới, gian khổ khôn lường. Một câu hỏi luôn luôn ám ảnh chị: "Liệu con mình còn sống được không? Liệu mình còn gìn giữ được nguồn hy vọng tươi sáng mà bấy lâu mình mong đợi không? Thật mong manh quá. Sự sống của người đi đày vốn đã mỏng manh rồi, nói chi đến sự sống của đứa bé phải ra đời trong cảnh đi đầy. Cách đây mươi bữa, cơn phong ba ở Phú Lợi đã thổi qua đầu chị. Nay sẽ là biển cả nổi sóng, là hòn đảo chết cứ mỗi lúc một hiện ra, đen sạm. Nay không những chị phải vượt biển mà chị còn phải vượt cạn, vượt qua tất cả những gì tàn bạo nhất của kẻ thù dành cho chị và đứa con của chị. Đứa con! Ôi hai tiếng ấy có những mãnh lực gì, hai tiếng ấy có những tình yêu và hy vọng gì mà tự thuở còn con gái chị đã nghe nó từ xa. Có chồng rồi, chị Lộc nghe tiếng ấy gọi dậy trong lòng. Có lẽ như hầu hết những người con gái Việt Nam khác, trời đã phú sẵn cho chị tấm lòng của người mẹ ngay từ lúc chị chưa biết tình yêu. Chị không thể hiểu được khi nghe nói có những người đàn bà thành phố không muốn đẻ con, nuôi con. Họ chỉ thích kéo dài cuộc sống son rỗi, nhàn hạ. Chị không hẳn là những người phụ nữ thành thị, cũng không hẳn là người phụ nữ nông thôn. Chị có sống ở cả hai nơi. Nhưng bất kỳ ở đâu, sao chị cũng ham bế đứa con trẻ trên tay. Với chị, tiếng khóc của đứa trẻ nào mới sinh chị nghe cũng nô nức. Chị có chồng hơi muộn. Hứa hẹn với nhau thì lâu, nhưng làm lễ cưới chậm. Có chồng được vài tháng, trong một đêm vợ chồng nằm áp mặt vào nhau, chị thủ thỉ bảo chồng rằng: "Anh ơi, nếu có đẻ con nhiều thì hai đứa mình rán nuôi nghe, đừng để sơ sẩy đứa nào nghe!" Anh Lý, chồng chị, chẳng nói sao cả. Nhưng chị biết, dù đêm tối, chị biết anh ấy cười. Người tỉnh ủy viên đó hay có cái nụ cười tủm tỉm như thế. Bây giờ anh ấy ở đâu? Chị cũng không rõ. Đời cách mạng, chồng một nơi, vợ một nẻo. Lúc thụ thai được một tháng chị bị bắt. Trước những miếng đòn khảo tra của bọn công an, chị cố tìm cách tránh né sao cho đừng trúng bụng. Có hai cái chị gìn giữ cẩn thận nhất. Đó là những bí mật của Đảng và đứa con. Nhưng bí mật của Đảng thì chắc chắn giữ được, chớ miếng đòn kẻ địch đánh lên thân thể thì không sao tránh xiết được. Sau những lần bị tra tấn, chị thường soát lại coi mình có nói câu gì có hại cho đoàn thể không. Rồi chị bình tĩnh để ý nghe coi cái thai có bị hề hấn gì không. Độ này đứa bé chòi đạp mạnh khiến chị đau lói, choáng váng. Tính ra thì cũng đã gần ngày. Đứa bé đi vào nhà tù khi nó chớm tượng hình người. Thế là những dự định nho nhỏ của chị cũng không thể có được nữa rồi. Một chiếc nôi đan bằng mây, một cái mũ len xanh da trời nếu chị sanh con gái. Cái mũ sẽ đỏ tươi nếu chị đẻ con trai. Làm sao có thể có được trong cái cảnh đi đày này những tấm tã trắng, chùm vải ngũ sắc treo trên nôi, nhịp võng đưa nghe kẽo kẹt, và nhất là nụ cười của chồng khi anh ấy cúi xuống bên con...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #63 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:48:45 am » |
|
Tiếp theo : Ngồi trên xe dẫn ra cái bến biển đày ải, chị Lộc chụm hai khuỷu tay bị còng lại đặt lên bụng, như giữ lấy đứa con cho nó khỏi bị xốc. Cơn mưa mỗi lúc một to. Trong xe tối quá, ngột ngạt quá. Chị Lộc ước: "- Phải chi tấm vải bạt kia trụt hở ra một chút thì thật là sướng". Chị muốn thở một cái. Nhưng biết làm sao. Tấm vải bạt nọ móc vào mui xe bởi những chiếc móc sắt rất khít khao. Mà tay người nào cũng bị xiềng cả. Có muốn mở cũng không được. Lát sau chị Lộc chợt thấy có tay ai quờ quạng chạm lên tay mình. Tiếp theo đó là một giọng nói khàn khàn. - Con có mệt lắm không? Chị Lộc nhận ra ngay ông Sáu, người tù cao niên nhất đã ở tù chung với chị tại Phú Lợi. Chị đáp: - Con hơi ngột... Bác Sáu có ngột không? Ông già an ủi: - Rán một chút nữa cháu. Gần tới rồi! - Tới đâu? - Chắc là nó đưa mình tới bên Ba Son. Ông già trả lời. Mấy ngón tay gầy của ông đưa đi đưa lại vuốt vuốt bàn tay Lộc. Một nỗi xúc động kỳ lạ dâng lên trong người chị. Khi những ngón tay gầy guộc khô chai đó rờ rẫm tay chị, và cái còng nơi cổ tay ông già chạm phải cái còng trên cổ tay chị bật lên một tiếng kêu. Còng số tám U.S.A. Cái nào cũng hệt như nhau. Nhưng hai bàn tay thì thuộc hai thế hệ khác. "Đứa con trong bụng mình lại là một lớp người sau nữa". Chị Lộc nghĩ. Trong một chuyến đi đày mà có tới ba lớp người đẻ trước sinh sau. Chị tự hỏi: "Liệu cái còng trên tay mình và tay bác Sáu sau này có còn siết lấy cổ tay con mình nữa không?" Trả lời câu hỏi đó của chị là tiếng xe hãm rít ở phía trước. Rồi chiếc xe chở chị cũng đột ngột dừng lại. Mọi người bị ngã quỵ vào nhau. Có tiếng giày đinh từ trên xe nhảy xuống, giẫm lạo xạo trên đá sỏi. Tên lính đi ra sau xe mở tầm vải bạt. Mọi người trong xe nhỏm dậy. Tên lính gầm gừ: - Chưa xuống đâu, đợi đó! Chị Lộc đã thở được một hơi. Chị thấy trong người dễ chịu hơn. Ông Sáu kêu: - Đúng là bến Ba Son rồi! Dưới ánh sáng của những bóng điện mắc trên lưới thép gai giăng quanh, chị Lộc thấy những tên lính gác cắp súng đứng liền nhau. Sóng sông Sài Gòn vỗ ì oạp vào bờ đá. Hai chiếc tàu sắt đậu lù lù dưới bến, mõm há ra. Những xe trước rú lên, ghé đít vào sát bửng sắt của con tàu bây giờ biến thành cái cầu. Những người tù nhảy xuống, hai tay bị còng cứ thu thu nơi ngực. Chiếc tàu nuốt lấy hết người này đến người khác. Cái mõm tham lam ấy chứa đến bảy tám xe người mà vẫn chưa chịu đóng lại. Chiếc xe chị Lộc quay đầu, chạy lùi về mõm tàu. Tên lính thét: - Xuống! Mọi người đều nhảy, trừ chị Lộc. Chị không dám nhảy. Có hai anh ghé vào đỡ chị xuống. Tên lính liền thúc báng súng vào lưng họ, khiến họ ngã chúi. Họ coi đó là sự thường, lồm cồm ngồi dậy. Đám người bị lùa xuống tàu sau những họng súng garăng lắp lê sáng loáng. Chị Lộc lần đầu bước lên tàu há mồm. Chạy trên tấm sắt dày, chị nghe lạnh ngắt bàn chân. Xuống đây đèn bật sáng lên, tù được tháo còng, để rồi liền đó họ bị cùm chân vào những thanh sắt dài thượt sơn đen đặt trên sàn tàu. Đó là những thanh quyện văn minh nhất mà người Mỹ đã chế tạo. Chị Lộc đút chân vào cái quyện sắt ấy rồi, bỗng thấy trong người bần thần khó chịu. Chị khẽ tựa vào lưng một người ở phía sau. Hầm tàu quả là một cái dạ dày háu đói đến tàn nhẫn. Nó cứ nuốt lấy những người tù bị lùa chạy qua tấm sắt. Đến lúc nó không thể nào chứa thêm được nữa thì hai sợi dây lòi tói lớn bằng bắp tay từ từ móc lôi tấm bửng sắt lên. Mõm tàu khép lại. Tiếng lòi tói, tiếng sắt khua động rền rĩ. Đó là tiếng còi chào giã bến của những tàu loại này. Đèn trong hầm tàu cũng tắt nốt. Tàu xình xình lướt đi trên mặt sông Sài Gòn. Chị Lộc cắn chặt môi giữ cho mình khỏi khóc. Bị tra tấn chị chẳng hề ứa một giọt nước mắt. Vậy mà bây giờ chị muốn khóc làm sao. Chị rưng rưng nhớ tuổi nhỏ, nhớ má chị, nhớ tình yêu hé ra trong những ngày đen tối. Giây phút ấy chị thấy lại cái bến sông mà chị thường giặt giũ gội tóc. Chị cảm thấy tay mình như còn ấm nóng cái bàn tay âu yếm vụng về của anh Lý, mới ngày nào vừa cầm dắt chị đi qua một cánh đồng. Chị còn nhớ gió chiều thổi lật những gốc rạ, và phía chân đồng như hãy còn ầm ĩ vọng lại bên tai chị tiếng sấm báo hiệu trời sắp sa mưa. Con tàu sình sình trườn đi trong đêm tối. Tiếng ồn ào của thành phố im dần. Cuối cùng Sài Gòn chỉ còn dậy lên rào rào như một tổ ong. Sóng nước vã lách chách vào mạn tàu. Cứ mỗi lúc chị Lộc nghe tiếng sóng vỗ mạnh hơn. Tàu bắt đầu bị nhồi lắc. - Biển rồi! Một người trong hầm tàu kêu lên. Tiếng kêu như một lần nữa báo cho những người đi đày biết rằng cái gì ở lại sau lưng đều đã ở lại. Gió lùa qua các cửa sổ tròn. Chị Lộc sợ nhận lầm, nên chị nhổm lên nhìn. Sau cửa, chỉ có đêm đen, với những lượn sóng bổ nhào, đầm đìa ánh sáng. "Ra tới biển thật rồi!". Chị tự nhủ và ngồi xuống. Nhưng bấy giờ chị thấy bụng hơi đau. Rồi cơn đau bất ngờ oằn lên khiến chị lặng người đi. Hai tay chị bíu lấy thanh sắt quyện chân, mồ hôi vã ra hai bên thái dương. Trạng thái cơ thể báo cho chị biết rằng đây không phải là một cơn đau bụng thường. Chị gắng chịu cho tới lúc không dám im chịu nữa. Chị phều phào gọi: - Mấy anh ơi! - Gì đó? - Tôi đau quá! - Ai? Chị Lộc hả, sao? Những đôi bàn chân đưa tới, sờ soạng trong bóng tối tìm chị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #64 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:50:27 am » |
|
Tiếp theo : Những đôi bàn chân đưa tới, sờ soạng trong bóng tối tìm chị. Tiếng ông Sáu hỏi: - Con Lộc hả? Sao đó con? - Dạ, con đau bụng quá. Có lẽ... Ông già không đợi Lộc nói nữa, quát luôn: - Ai ở gần cửa đập cửa kêu tụi nó coi! Nói có người chuyển bụng đẻ... Tấm cửa sắt ngăn hầm tàu và những căn phòng ở phía trước bị gót chân người giậm rầm rầm. Người giậm cửa có lẽ mỏi cả chân rồi mà cánh cửa vẫn không động đậy. - Chắc tụi nó ngủ. Đạp mạnh nữa đi! Tấm cửa sắt lại bị những người gần đấy đạp dữ dội. Lát sau cánh cửa kêu rít lên. Đèn trong hầm tàu bật sáng. Tên lính thò đầu qua khe cửa mở hé, hỏi: - Làm cái gì om sòm vậy? - Có một người phụ nữ chuyển bụng đẻ. Tên lính trố mắt: - Đẻ hả! Ai đó? - 1090 - Thiệt là rắc rối quá. Thôi để tôi báo trung úy. Tên lính rụt đầu vào. Những người trong hầm tàu sốt ruột chờ hắn trở lại. Chị Lộc bây giờ đã nằm xuống hầm tàu. Mà chân trái chị vẫn bị giữ trong quyện sắt. Tên lính đã trở lại. Lần này có cả tên trung úy đi theo. Hai tên lách mình qua cửa. Tên trung úy quay sang nói gì với tên lính. Tên lính liền móc xâu thìa khóa cúi xuống ở thanh cùm bên phía chị Lộc và hất hàm: - Số 1090, rút chân ra nghe! Chị Lộc từ từ rút chân mình ra. Thanh cùm lại đóng khép những bàn chân kia lại. Tên trung úy nói: - Trên tàu không lo được chuyện chửa đẻ! - Y tá của các ông đâu? - Không có y tá! Giữa đám đông người bỗng có một cánh tay giơ lên: - Tôi làm việc đó được. Mở cùm cho tôi! Người vừa nói ngồi tận trong xó tàu. Sự lên tiếng của anh ta đem lại hy vọng cho cả hầm tàu. Tên trung úy ngó lơ chỗ khác một lúc rồi day lại hỏi: - Thằng nào mới nói đó? - Tôi, 1212! - Mày biết làm cái nghề đó à? - Biết. Tên trung úy đứng lưỡng lự một chốc rồi bảo tên lính: - Mở cho nó ra! Chùm chìa khóa lại khua lên. Tên lính mở thanh cùm sắt trong vách tàu cho người tù số 1212 rút chân ra. - Chúng tôi xin đi thêm hai người nữa! Hai anh ngồi cạnh anh 1212 vừa nói vừa rút chân ra luôn. Tên trung úy thét: - Không, không được! Tên lính nói nhỏ vào tai tên trung úy: - Thưa trung úy, cứ cho tụi nó đi. Hai thằng đó có thể nấu nước. Mọi người lao xao:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #65 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 10:54:45 am » |
|
Tiếp theo : Mọi người lao xao: - Ông không có y tá thì để chúng tôi giúp đỡ nhau. Tên trung úy cười gằn: - Mấy người giỏi gánh vác cho nhau lắm... Thì cứ đi theo mà gánh vác. Nhưng tôi cho hay phải lo chỗ nằm cho chị ta đó.Ở trên đẻ thì được chớ không nằm được đâu! Ba người tù bước ra. Họ tiến đến chỗ chị Lộc, đỡ chị dậy, dìu đi. Sóng biển bây giờ xô mạnh hơn. Con tàu chao lắc quá, nên bước đi của họ cũng rõ là vất vả hơn. Họ miết ngón chân xuống sàn tàu, người nghiêng nghiêng. Cánh cửa sắt khép lại. Khi bốn người đã đi, không khí trong hầm tàu có cái gì không giống trước. Đành là tên lính không tắt đèn. Do đó mà hầm tàu có ánh sáng. Nhưng cái khác trước đây là mọi người đều ngồi dậy cả. Những tiếng nói lào xào: - Cho hai người đi thêm là rất hay! - Phải rồi, tin tụi nó đâu được. - Quân khốn nạn quá. Chị em có chửa xin hõan lại đẻ cũng không được. Thằng Diệm mà chết thì mả của nó rồi cũng bị trời đánh tét hai như mả ông già nó thôi! - Tôi sợ thằng nhỏ khó sống. Cô ta bị nó đánh cũng nhiều... - Trời ơi... Mong sao mẹ tròn con vuông. Ra đảo rồi thì tụi mình cố mà đùm bọc cho hai mẹ con... Mọi người nguyền rủa, bàn bạc lo lắng. Ngót ba trăm con người ấy đang hồi hộp đón đợi sự ra đời của một con người. Họ chờ cánh cửa nhích ra. Khi mà biển cả trong đêm thâu vẫn gào lên. Và gió rú dữ dội. Gió xát vào mạn tàu, thổi hù hù qua các cửa sắt. Những người đi đày chợt quên khuấy cái hòn đảo khủng khiếp mà con tàu sẽ đưa họ đến trong ngày mai. Bây giờ hầu như không ai nghĩ tới hòn đảo chết chóc ấy nữa. Cả hầm tàu nghĩ tới đứa bé, và người mẹ của nó. Họ hy vọng và họ ngờ vực. Đêm đi đày không im lìm tăm tối nữa. Hình như đêm bị đánh thức, sáng lòa từ lúc ông già Sáu thét người đạp cửa, anh 1212 lên tiếng - "Tôi làm việc đó được!" và hai anh khác tự động rút phắt chân ra khỏi cùm, đứng dậy. Một người ở cạnh chỗ chị Lộc nằm ban nãy nói: - Giờ phải sửa soạn chỗ nằm cho hai mẹ con chớ! Người đó nói đoạn liền cởi áo của mình ra, lặng lẽ trải lên khoang tàu. Người thứ hai bên cạnh cũng làm y như vậy. Người thứ ba, rồi người thứ tư cởi áo mình chuyền lại. Cứ thế, loáng sau chỗ đó đã lợp thành nệm. Một cái nệm tạo nên bằng những tấm áo tù có in ba chữ tắt C.T.P. Đến lúc người tù trải áo kêu lên: "Thôi, thôi, nhiều quá rồi!" Thì những tấm áo vẫn còn chuyền tới trên tay. Và người ta vẫn còn cởi áo. Những ai sau khi đã cởi áo của mình ra quả là họ thấy có lạnh hơn, nhưng lại thấy yên lòng hơn lúc còn mặc áo. Không biết con tàu đã vượt thêm bao nhiêu dặm biển nữa rồi. Thời gian có vẻ đi chậm lại. Ai cũng bồn chồn tự hỏi: - Sao lâu quá chẳng biết có chuyện gì xảy ra không? Mọi người nôn nao muốn chạy lại kéo cửa mà tìm tới chỗ chị Lộc. Nhưng thanh quyện sắt giữ chặt chân họ. Làm sao mà chạy đi cho được. Bọn người ở Bắc Mỹ chế cây cùm phải nói là khéo. Chỉ vài thanh sắt thôi mà giữ được cả trăm con người. Nhưng những con người ở đây không chạy được thì họ cũng chẳng chịu yên. Họ dùng một chân còn lại đạp cửa. Cánh cửa sắt lại tung lên rầm rầm. Nhưng nó vẫn không mở ra. Thình lình giữa lúc ấy có tiếng thét từ bên cửa vọng lại. Rồi có ai ngã dúi vào cửa. Mọi người trong hầm tàu đều nhổm lên. Bên kia cửa hình như có tiếng giày đinh nện xuống sàn tàu lốp cốp, tiếng đấm đá huỳnh huỵch, tiếng giằng xé, la lối, gầm ghè. Đột nhiên, cánh cửa mở xịch ra. Người mở cửa không phải tên lính mà là một trong số hai người tù ban nãy. Anh ta rán sức kéo cánh cửa. Còn tên trung úy và mấy tên lính thì đang cố ghì lại. Thừa cơ hội đó, anh tù 1212 bế đứa bé đỏ hỏn chun lòn qua cửa. Anh ta chạy bổ vào giữa đám người trong hầm tàu. Tên trung úy và mấy tên lính lảo đảo rượt theo. Nhưng mọi người đã cản chúng lại. Anh tù 1212 nói qua hơi thở hổn hển: - Nó... nó tính liệng thằng nhỏ xuống biển. - Trời... Cả hầm tàu gầm lên. Tức khắc tên trung úy và mấy tên lính bị lôi té sấp xuống. Chúng bị những người tù đè chặt. Tên trung úy bị một bàn tay siết lấy cổ họng. Hắn kêu ằng ặc. Khi ông già Sáu quay lại thì thấy đôi mắt tên trung úy đã trợn ngược. Ông nói: - Buông nó ra! Bàn tay đang bóp cổ tên trung úy từ từ nới nhẹ. Tên trung úy nghẽo vật cổ, lưỡi thè lè trông rất ghê sợ. Hắn đã tắt thở. Chiếc tàu đó không bao giờ đi tới Côn Đảo. Cơn phẫn nộ đã đẩy những người tù tới hành động mà họ không tính trước. Sau khi chuồi cái xác tên trung úy qua cửa sổ, những người tù bắt tên lính mở cùm. Họ trèo ra khỏi hầm tàu, bắt hết bọn lính trói lại, rồi kề súng buộc tên cầm lái chạy về hướng mũi Cà Mau. Đến trưa hôm sau, chiếc tàu rướn vào bãi cạn Viên An, mỏm đất chót vót của Cà Mau. Những người tù đổ xăng đốt chiếc tàu. Họ lùa bọn lính lên bãi đước mới mọc, và bồng theo cả đứa bé oa oa khóc. - Cho đến bây giờ, đứa bé cũng hãy còn. Nó đã lên bảy, mập mạnh và rất nghịch ngợm. Giá như mẹ nó không nói thì tôi cũng chẳng biết nó được sinh ra trong cái đêm dữ dội ấy đâu.
1964 Anh Đức
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #66 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 12:41:21 pm » |
|
Lính CKC Tác giả :Trần đức Tĩnh .
Nếu ai có hỏi, anh làm nghề gì thì tôi sẵn sàng nói một câu ngắn gọn “lính”. Tôi không biết cái từ “lính” bắt nguồn từ đâu, nhưng chắc chắn nó có xuất xứ từ rất lâu rồi, và đến bây giờ nó đã trở thành một từ nghe khá thân thuộc đối với tất cả mọi người. Dù anh có là một vị tướng hay một cậu chiến sĩ trẻ đều có thể dùng cái từ đó để chỉ về nghề nghiệp của mình một cách giản dị và dễ hiểu.
Tôi rất tự hào vì mình đã từng là một người lính của Binh đoàn Hương Giang. Cái tên Hương Giang là tên của một dòng sông, nghe dịu dàng nhưng mạnh mẽ làm sao! Với truyền thống “Thần tốc - Táo bạo - Quyết thắng” đủ biết bước đi của binh đoàn có sức mạnh bạt sông xẻ núi như thế nào! Tôi không bao giờ quên những kỷ niệm của mình gắn bó với Trung đoàn Lê Trực suốt một thời trai trẻ. Thời gian bảy năm chưa phải là dài nhưng cũng không quá ngắn ngủi, nó đủ nuôi dưỡng tâm hồn và rèn luyện ý chí cho một con người như tôi. Có thể nói tôi đã khôn lớn trưởng thành là nhờ công lao dạy dỗ của Binh đoàn. Sau mỗi mùa huấn luyện là diễn tập dài ngày, hành quân mang vác nặng, vượt qua cái loại địa hình. Nếu bạn chưa bao giờ được đi trong hàng ngũ của những cuộc hành quân lớn thì nên đăng ký nhập ngũ để được chứng kiến, những bước chân rầm rập ngày đêm khiến núi rừng ngả nghiêng. Đoàn quân đi như một cơn lốc, cát bụi mù mịt, cỏ cây tan tác dưới gót giầy.
Và tôi đã quay trở lại hòa mình cùng những người lính ở đơn vị cũ vào một ngày cuối năm.
Mùa này không gian ở núi rừng Lục Ngạn đẹp lắm, đứng trên đỉnh núi nhìn xuống những vườn vải thiều đang chờ đến vụ ra hoa lốm đốm như những chấm màu tối làm dịu bớt độ chói lóa của không gian, dịch lên một tí nữa là những cánh rừng dẻ đang trổ hoa trắng, xen lẫn vào đó là những bông hoa chàm thơm ngát, trên cao là những trảng đồi cỏ tranh vàng rực trong cái nắng mùa đông.
Thật tình cờ trên chuyến xe từ Hà Nội ngược lên phố Chũ tôi quen một cậu chiến sĩ trẻ. Chúng tôi ngồi cùng một hàng ghế. Cậu chiến sĩ trẻ ấy tên là Trần Văn Chiến, cấp bậc trung sĩ, quê ở Cổ Nhuế - Từ Liêm - Hà Nội. Tuy nước da có phần hơi đen nhưng Chiến mặc bộ quân phục màu xanh đeo quân hàm trên ve áo trông rất chững chạc. Lên xe Chiến bắt chuyện với tôi trước vì lý do chiếc ba lô quá cồng kềnh:
- Làm ơn, anh có thể dịch bớt cái chân sang một bên cho em để nhờ ba lô được không?
- Ồ! Không có gì, anh rất sẵn sàng. Em ở đơn vị nào?
- Trung đoàn M8? Thế anh làm nghề gì?
- Lính.
- Ơ! Thế anh cũng là bộ đội, nhưng sao em trông chả thấy giống chút nào! Anh đeo kính trắng, mặc dân sự, em đoán anh chỉ có thể là một cán bộ công chức ở một cơ quan nào đó.
- Em nhầm to rồi đấy, chẳng lẽ cứ nước da đen, mặc quân phục mới là lính à?
- Không phải thế, trông anh…
Chúng tôi quen nhau bắt đầu bằng những câu đối đáp sôi nổi như vậy. Khi tôi móc túi áo lấy chứng minh sĩ quan đưa cho Chiến, cậu ta không giấu được vui mừng:
- Trước đây anh cũng ở Trung đoàn à?
- Chính xác.
- Thế anh ở tiểu đoàn nào?
- Tiểu đoàn 9.
- Ơ! Thế đúng là tiểu đoàn em rồi. Anh lên đơn vị cũ chơi à?
- Cậu chỉ được cái nói đúng.
- Em mới về phép. Hôm nay hết thời hạn.
- Không có bạn gái đưa tiễn à? - Chưa! Em làm gì có, mà yêu sớm làm gì cho mệt. Sau này ra quân về kiếm công việc làm ổn định rồi hãy tính.
- Năm nay em bao nhiêu tuổi rồi?
- Em sinh năm 1987.
Câu chuyện giữa hai chúng tôi dần chuyển sang lịch sử ra đời và trưởng thành của đơn vị. Được thành lập ngày 12 tháng 9 năm 1945 tại huyện Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình, Trung đoàn M8 mang tên của một vị sĩ phu yêu nước - người anh hùng Lê Trực - mãi mãi ăn sâu vào tâm khảm của nhiều thế hệ cán bộ chiến sĩ. Bước chân của những người lính trung đoàn đã trải qua khắp các chiến trường và cả trên nước bạn Lào. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước những người lính trung đoàn đã từng được mệnh danh là chiến sĩ “thép gang” đánh thắng đội quân “gang thép” tại Đà Nẵng. Ngày 17 tháng 5 năm 1974 Binh đoàn Hương Giang được thành lập, Trung đoàn M8 nằm trong đội hình chiến đấu của Sư đoàn B25, là một đội quân chủ lực tham gia cuộc hành quân thần tốc vào giải phóng Sài Gòn. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước những người lính trung đoàn vẫn tiếp tục tham gia nhiều trận chiến đấu khác tại biên giới Tây Nam, Tây Bắc. Sau khi tình hình biên giới ổn định trung đoàn về đứng chân tại mảnh đất Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.
Quãng đường từ Hà Nội lên thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn dài hơn một trăm km nhưng vì mải nói chuyện với Chiến nên chẳng mấy chốc đã đến nơi. Cuộc vui nào cũng sẽ phải đến lúc tàn, con người nào cũng phải lớn lên trưởng thành rồi bay đi tìm những khát vọng cho riêng mình. Tôi chia tay đồng đội đã hơn ba năm nhưng không lúc nguôi nỗi nhớ đơn vị. Tôi nhớ những buổi thao trường nắng như đổ lửa, nhớ con đường đất đỏ bụi mù, những cuộc hành quân rừng mưa lép nhép, nhớ những lần ngồi trên đỉnh núi chia nhau nắm cơm vắt trộn lẫn nước mưa. Ôi! Vất vả mãi rồi đến khi nhàn hạ, ít việc lại cảm thấy bứt rứt khó chịu.
Tôi đặt chân đến Tiểu đoàn 9 đúng vào lúc đơn vị đang tiến hành huấn luyện chiến sĩ tân binh. Mới có ba năm nhưng cơ sở vật chất đã có nhiều thay đổi, những dãy nhà xây kiên cố lợp mái tôn xen kẽ vườn hoa cây cảnh, giống như một khu du lịch sinh thái. Không khí huấn luyện lúc nào cũng nhộn nhịp khẩn trương. Hôm nay đại đội 10 tiến hành đại hội chi đoàn, các cô giáo trẻ ở trường PTCS xã Giáp Sơn cũng đến giao lưu kết nghĩa cùng những đoàn viên thanh niên trong tiểu đoàn. Ở trung đoàn đã có nhiều cán bộ sĩ quan “nên duyên” cùng những cô giáo dạy học gần đơn vị. Về đến sân tiểu đoàn Chiến bảo tôi lên nhà chỉ huy gặp Thiếu tá Xuân Thịnh - Chính trị viên tiểu đoàn. Trước kia anh Thịnh là chính trị viên đại đội của Trung đoàn M01, được bổ nhiệm lên tiểu đoàn làm chính trị viên phó rồi mới lên chính trị viên. Bạn bè cũ của tôi đã nhiều người chuyển đi nơi khác nhận nhiệm vụ mới, lớp người cũ chuyển đi, lớp mới lại kế cận vào đó. Hệ thống nhà ở của cán bộ chiễn sĩ tiểu đoàn được bố trí khép kín, nhà chỉ huy tiểu đoàn nằm giữa trung tâm có thể bao quát toàn bộ hoạt động dưới các đại đội.Tôi ngồi uống nước trên tiền sảnh thỉnh thoảng lại nhìn thấy những đồng đội thân quen đi qua sân. Lúc tạm biệt tôi, Chiến bảo: “Em ở đại đội 12, lúc nào anh xuống chỗ chúng em chơi, em là tiểu đội trưởng anh cứ hỏi Chiến a trưởng là mọi người biết ngay”.
Bất chợt có tiếng còi toét lên ở khoảng giữa sân bóng tiểu đoàn. Tiếp theo là một tràng khẩu lệnh: “Đại đội - Thành đội hình hàng ngang, trung đội ba hàng dọc - Tập hợp”. Khi khẩu lệnh vừa dứt thì chiến sĩ từ trong dãy nhà của đại đội 9 chạy ùa ra đứng thành hàng ngũ ngay ngắn. “Nghiêm - Nhìn bên phải thẳng”. “Thôi - Chỉnh đốn trang phục. Nghỉ”. Anh Thịnh bảo tôi đấy là Thượng úy Lê Đức Dục cũng mới chuyển từ Trung đoàn M01 về làm đại đội trưởng, đợt vừa rồi tham gia bắn thử nghiệm vũ khí mới, Dục được cấp trên đánh giá cao. Ngồi trên nhà chỉ huy tiểu đoàn nhìn những chiến sĩ đang tập đội ngũ ngoài sân khiến chất lính trong tôi bắt đầu bừng bừng cháy, tôi lại muốn được hòa mình vào trong số những chiến sĩ trẻ kia. Tôi xin phép anh Thịnh xuống các đại đội thăm anh em. Anh Thịnh mỉm cười, gật đầu đồng ý. Tôi đang định xuống đại đội 12 thì nhìn thấy Chiến đi ngang qua sân nhà chỉ huy tiểu đoàn. Chiến bảo: “Em cầm gói quà sang đại đội 10 cho thằng bạn, chị gái nó gửi. Anh cứ xuống chỗ anh Tùng, đại đội trưởng ngồi chơi, lát nữa em về”.
Nói xong Chiến đi ngay, còn tôi thong thả bước xuống khu vườn cây có hàng ghế đá vì nhìn thấy một tốp cán bộ đang ngồi giải lao ở đó. Vừa mới ló mặt qua bảng tin thi đua của đại đội tôi đã giật mình vì tiếng chào phát ra từ nhóm cán bộ trẻ: “Chào đại ca! Hôm nay về thăm đơn vị à?”. Tôi nhận ra Tùng và vui vẻ đáp lại: “Đúng rồi. Các chú đang tranh luận đề tài gì đấy?”. “Báo cáo đại ca! Bọn nó đang tập trung mũi nhọn công kích em về chủ đề lấy vợ”. À ra thế. Đúng là phải thông cảm cho Tùng nhiều lắm. Làm cán bộ quản lý quân số lấy đâu ra thời gian mà đi tán gái. Quê Tùng lại ở mãi Nghệ An, một năm nghỉ phép về thăm nhà một đến hai lần. Những người ngoài ba mươi chưa lấy vợ như Tùng ở trong đơn vị không phải là hiếm. Quản lý quân số lúc nào cũng lo ngay ngáy sợ đơn vị xảy ra vụ việc là cán bộ phải liên đới trách nhiệm, đi chơi với bạn gái mà trong lòng mang tâm trạng không thoải mái thì rất khó thành công. Chưa kể, lính tráng nhà ta quen tiếp xúc với điều lệnh nên nói năng cứng nhắc khó thuyết phục các cô nàng ưa dịu dàng trìu mến. Tùng cũng không hơn gì trong cái khoản “ăn nói” này. Đang ngồi nói chuyện bỗng Tùng sực nhớ ra điều gì đó, vội lấy điện thoại xem giờ:
- Trực ban! Thổi còi cho bộ đội chuyển nội dung, gọi quân khí mở tủ lấy vũ khí trang bị ra thao trường.
Đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu là luôn thực hiện mười một chế độ trong ngày. Cũng từ những chế độ được duy trì chặt chẽ, kín mít như vậy nên người lính tự đặt ra cho mình cái danh hiệu “Lính CKC”. Chế độ bắt đầu của một ngày là thức dậy, trực ban phải thổi còi rồi đôn đốc các bộ phận khẩn trương ra sân tập thể dục. Đến giờ hành chính thì kẻng của tiểu đoàn gõ báo hiệu cho các đại đội thực hiện theo kế hoạch huấn luyện trong ngày. Và một chế độ trong ngày quan trọng nhất nữa là ăn cơm, khi đến giờ cơm tất cả chiến sĩ xếp hàng xuống nhà ăn theo đúng vị trí quy định. Cái từ CKC được những người lính ở tiểu đoàn 9 gọi có nghĩa là; “Còi”, “Kẻng”, “Cơm”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #67 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 12:43:30 pm » |
|
Tiếp theo : Tùng vừa mới dứt lời thì chiến sĩ trực ban đại đội đã tuýt một hồi còi rồi hô:
- Chuyển nội dung huấn luyện, các bộ phận vào lấy vũ khí trang bị.
Trực ban vừa phát khẩu lệnh xong tôi đã thấy Chiến có mặt trước cửa tủ súng rồi. Chiến nhìn tôi bằng ánh mắt thân thiện ngầm ý nói, em phải đi huấn luyện mất rồi, anh thông cảm, lính “CKC” mà anh.
Buổi chiều tôi đi đến đại đội nào cũng thấy cán bộ chiến sĩ đang tham gia huấn luyện. Tiếng hô khẩu lệnh vang rền như sấm trên nhịp bước dồn dập xung phong của những chiến sĩ trẻ. Chỉ còn hai ngày nữa thôi những chiến sĩ tân binh sẽ tuyên thệ dưới lá cờ thêu dòng chữ vàng “Quyết thắng”. Thật tự hào khi những tiếng “xin thề” đồng loạt vang lên từ dưới hàng quân. Chỉ có ở những đơn vị chủ lực khí thế của cán bộ chiến sĩ mới hừng hực được như thế, đoàn quân đi như thác đổ, dù có gập ghềnh khó khăn nhưng chỉ cần một nhịp hô đồng lòng là sẽ vượt qua tất cả. Tôi lại gặp Chiến trong trường hợp như thế. Lúc đấy tôi đang đứng ở ngoài bãi vật cản của tiểu đoàn thì thấy Chiến đang chỉ huy tiểu đội luyện tập các tư thế vận động trên chiến trường. Chiến làm động tác mẫu cho anh em quan sát. Bóng của Chiến ẩn hiện thoăn thoắt lẫn trong cái nắng vàng của mùa đông. Bất ngờ ba hồi còi vang lên kèm theo khẩu lệnh: Thôi tập - Giá súng - Nghỉ giải lao. Biết tôi đang có ý định viết một bài bút ký về đời sống của các chiến sĩ trẻ nên lúc giải lao anh em quây đến hỏi chuyện. Hầm bà làng những chuyện tầm phào. Câu chuyện của anh em chúng tôi nói hoài không hết. Tôi nghĩ vì cán bộ nể mình nên mới để cho thời gian nghỉ lâu quá. Ngày mai sư đoàn sẽ đi kiểm tra các nội dung huấn luyện dưới đơn vị, tôi tự thấy mình là người vi phạm điều lệnh vì đã làm ảnh hưởng đến thời gian biểu. Thôi! Chào các chiến sĩ trẻ nhá, chúc các chiến sĩ luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.
Hết giờ huấn luyện tiểu đoàn có kế hoạch cho tất cả cán bộ chiến sĩ tham gia chơi các môn thể thao theo sở thích. Thật khó mà phân biệt được đâu là cán bộ và đâu là chiến sĩ! Có một người tôi không thể nhầm lẫn được đó là Chiến. Chiến mặc quần đùi, đá bóng giữa sân. Giờ này mà ở nhà thì chắc Chiến đang chúi mắt vào màn hình máy tính “game, chat”. Con người vốn là sản phẩm của tự nhiên, nếu không có môi trường hoạt động sẽ gây hậu quả cho sự phát triển tư duy và thể chất. Nhiều cu cậu quá say sưa với đời sống ảo trên mạng nên ngoài đời sống ngu ngơ như gà công nghiệp. Vào quân đội đúng là vào một trường rèn luyện lớn. Nhiều thanh niên lúc mới nhập ngũ còn lơ ngơ nhưng khi kết thúc nghĩa vụ đã nhanh chóng hòa nhập với đời sống một cách chủ động hơn. Tôi nhớ lúc ngồi trên xe từ Hà Nội về đơn vị Chiến bảo: “Hết nghĩa vụ em sẽ đăng ký đi học nghề Điện tử - Điện lạnh. Ở Hà Nội cái nghề đấy cũng dễ kiếm ăn lắm anh ạ”. Nghĩ như Chiến cũng phải, sống trên đời này bắt buộc mỗi con người phải chọn cho mình một cái nghề để tồn tại. Nhưng trước mắt Chiến phải hoàn thành xong nghĩa vụ của một công dân đã. Cả tiểu đoàn chỉ có một cái sân bóng lớn nằm giữa trung tâm, ngoài ra còn có thêm một sân bóng chuyền và nhiều bàn bóng bàn nữa. Chỗ nào có khoảng trống là có thể tạo thành sân thể thao cho anh em cán bộ chiến sĩ, những ai không chơi bóng thì tụ tập thành từng nhóm đẩy tạ dưới gốc cây. Tôi đang ngồi ở chiếc ghế đá xem trận bóng đá không trọng tài thì Chiến chạy đến nói thầm vào tai: “Tối nay sau giờ sinh hoạt mời anh xuống chỗ em chơi nhá”. Chiến mới về quê lên đơn vị nên có mấy món quà mời anh em liên hoan. Ôi! Thật là vui, tôi lại cảm thấy tiếc thời trẻ trung của mình. Sao mà mọi thứ trôi qua nhanh thế, mới ngày nào tôi còn là một cậu binh nhì! Tôi cũng hay “tùm la tùm lum” với đám bạn cùng tiểu đội. Thời ấy đời sống lính tráng chưa được như bây giờ, có hôm tôi được về tranh thủ mang lên đơn vị một bao tải sắn khiến cả tiểu đội xì sục ăn uống, suýt phải tập trung báo động ra sân sinh hoạt. Thật ra chẳng mấy khi con người ta quên được những kỷ niệm của đời lính. Mỗi người lính gắn với đơn vị thường có một biệt danh để nhớ. Tôi hỏi một chiến sĩ trẻ ngồi ngay bên cạnh mình xem lính đặt biệt danh cho Đại đội trưởng Tùng là gì? Cậu ấy nhìn tôi cười không dám nói nhưng có một chiến sĩ khác ngồi ngay bên cạnh nhanh mồm đáp: “Chúng em vẫn gọi anh ấy là Tùng Pheng”. Tôi hỏi rõ lai lịch cái từ “Pheng” ở đâu ra thì vẫn chiến sĩ đó nói: “Anh Tùng nói xong là “pheng” ngay, tác phong làm việc rất dứt khoát, ăn nói phải tròn vành rõ chữ, lập luận phải bảo đảm một cách vuông góc, léng phéng là anh ấy “pheng” ngay cho một quyết định kỷ luật, bọn em vừa mới định lộn xộn nghe thấy tiếng anh ấy ho một cái là xẹp ngay. Anh ấy còn bảo chúng em phải thực hiện nghiêm túc chế độ CKC, mới đầu em tưởng là súng tiểu liên CKC nhưng được anh em chiến sĩ cũ bảo khi nghe thấy hiệu lệnh Còi - Kẻng - Cơm phải nhanh, cái từ CKC cũng chính từ anh Tùng đặt ra cho chúng em thực hiện”.
Trận bóng trên sân được kết thúc bằng một hồi còi, không có khẩu lệnh nào phát ra nhưng tất cả các cầu thủ đều giải tán, đi thẳng ra khu bể nước tắm của các đại đội. Trước lúc ra đi tắm Chiến còn quay lại chỗ tôi ngồi dặn thêm một lần nữa. “Anh nhớ nhá”. Nói xong Chiến chạy nhanh rồi mất hút phía sau nhà.
Bữa cơm tối tôi ăn cùng ban chỉ huy tiểu đoàn. Cán bộ tiểu đoàn không phải xếp hàng xuống nhà ăn, nhưng không thể ăn cơm trước chiến sĩ vì phải kiểm tra xem chế độ của anh em có được bảo đảm không? Đợi những tốp chiến sĩ từ nhà ăn lác đác về đại đội bữa cơm của chúng tôi mới bắt đầu. Cơm tập trung không thật ngon nhưng mà vui, làm việc khẩn trương rồi đến ăn cũng “tốc hành”. Sau bữa cơm mỗi người lại tập trung vào một việc.
Tôi sinh ra từ một vùng quê nghèo ở Tuyên Quang, được đào tạo trong môi trường quân ngũ từ ngày mới học hết phổ thông, đã quá quen với những khoảnh khắc sinh hoạt đời lính. Nhớ lời mời của Chiến, sau giờ sinh hoạt đại đội tôi xuống phòng chơi cùng anh em chiến sĩ đại đội 12. Đời lính đúng thật là đáng nhớ bởi món quà mang hương vị quê nhà. Chiến ở Hà Nội nên những cây nhà lá vườn chủ yếu thu hoạch trong siêu thị, nào là bánh kem, xúc xích cùng những món mà tôi cũng chưa một lần được biết. Tôi ấn tượng nhất là cà phê tan pha trong cốc nhựa, dùng bàn chải đánh răng làm que ngoáy. Lính tráng lấy đâu ra đầy đủ cốc, chén mà pha cho đủ từng ấy người. Gọi là bữa cỗ cho lịch sự, chừng ấy bánh kẹo cũng vừa đủ cho mỗi người nhóp một lần là hết, nhưng dư âm phía sau còn phảng phất mãi trong lòng mỗi chàng trai trẻ…
Lâu lắm rồi tôi mới có dịp được dạo dưới con đường tràn đầy ánh trăng của đơn vị. Trăng mỗi nơi có một kiểu đẹp khác nhau. Ở đơn vị chủ lực ban ngày nhộn nhịp náo nhiệt là thế nhưng đến tối lại chìm sâu vào một thế giới khác. Những khuôn mặt, những giọng điệu ẩn sâu dưới nhiều đường nét riêng tư. Dưới ánh trăng mờ mờ ảo ảo, con đường bê tông chạy dọc trước các dãy nhà như nổi bật, dâng lên cao, lớp mái tôn lấp lánh trong sương lại chìm sâu như tấm chăn bao bọc cho chiến sĩ trong giấc ngủ bình yên. Đứng từ xa tôi nhìn thấy bóng một chiến sĩ đang “mang súng” đứng gác. Đêm hôm nay làm sao tôi có thể ngủ được! Tôi tiến thêm mấy bước nữa thì người chiến sĩ gác quay phắt lại:
- Hà Nội?
- Bắc Giang.
Đi lại trong khu doanh trại vào ban đêm phải nắm chắc mật khẩu. Biết tôi là người trong đơn vị nên chiến sĩ gác không hỏi nữa. Vì không ngủ được, đi lại nhiều trong doanh trại đã là vi phạm quy định rồi nên tôi không dám bắt chuyện. Tôi ngồi một mình trên chiếc ghế đá trước nhà đại đội, lặng im ngắm nhìn đơn vị chìm trong màn đêm. Ngồi ở đấy một lúc thì chiến sĩ gác đổi ca. Chỉ còn tối nay nữa thôi, ngày mai tôi phải về Hà Nội nhận nhiệm vụ khác. Liệu đến bao giờ tôi mới lại có dịp trở lại cái không gian tươi đẹp, đầy xao xuyến này…?
Không ngờ chiến sĩ ra đổi gác lại là Chiến. Chiến nhận ra tôi và đến gần hỏi chuyện:
- Mai anh về Hà Nội à?
- Có gì gửi gắm về gia đình không?
- Cái gì mà gửi gắm nhiều thế anh. Em vừa mới lên phép xong! Với lại cũng chỉ còn mấy tháng nữa là em ra quân rồi.
- Bao giờ về Hà Nội thì vào chỗ anh chơi nhá?
- Nhất định là anh em mình phải gặp nhau chứ.
Tôi ngồi gác cùng Chiến cho hết ca thì đêm cũng đã cạn. Bình minh le lói phía chân trời…
Tiểu đoàn 9, mùa huấn luyện 2010 TRẦN ĐỨC TĨNH
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #68 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 12:47:17 pm » |
|
Tâm sự người chiến sĩ quản tượng Tác giả : Xuân Thiều
Anh Kiên thân mến!
Thế là Pắc Chăn của chúng ta chết mất rồi!
Nó chết vào trưa ngày 27 tháng 12, ngày mà tổ chúng tôi vừa kết thúc đợt vận chuyển đột xuất. Ôi, con voi đáng thương! Ngày nào anh thường bảo bọn lính trẻ chúng tôi "Phàm con vật gì có chút ít trí khôn, ta thương yêu nó, nó khắc biết thương yêu ta". Có phải vì thế mà Pắc Chăn - cho đến cái chết - nó cũng biết chết đúng lúc.
- Giá nó không thương chúng ta, lăn đùng ra chết trước đó dăm bảy hôm, thì chúng ta không biết sẽ xoay xỏa ra làm sao để "lo liệu" cho nó.
Cậu Xuyển thường nghĩ đến lòng tốt của Pắc Chăn như vậy. Anh lạ gì tính cậu Xuyển. Nó vẫn thế, vẫn hay tư lự và mau mủi lòng. Tuy nhiên nó nói đúng. Những ngày trước đó, lúc anh em ở các binh trạm khác phải vớt nòng nọc đi, chắt từng ca nước trong các hốc đá của cánh rừng mùa khô, thì ở đây nước suối Nậm Bu bò lên gần đến chân sàn, chỗ chúng tôi gác bành tre. Gió mưa sùi sụt. Rừng lúc nào cũng gào thét như điên như dại. Đám đất trước lán đầy lá vàng, lá xanh và cành khô gãy, nom chẳng còn dáng dấp cái sân tí nào nữa. Mà đâu còn thì giờ để dọn dẹp, chúng tôi đi suốt ngày. Áo quần ướt giăng đầy vách. Cả tuyến đường vận chuyển bị nghẽn suối lũ chỉ trông cậy vào mấy tổ quản tượng chúng tôi. Xe thồ đành bó tay. Cầu qua suối trôi gần hết, chỉ còn cái cầu mây vắt qua hai ngọn dẻ chỗ Đá Đen là còn đứng vững - cái cầu mây mà mỗi lần chúng ta đi qua, cậu Kên thường dạng chân ra nhún nhảy đánh võng làm cho cậu Xuyển cứ ngồi xuống mà kêu như bò chọc tiết. Nhưng riêng chiếc cầu mây Đá Đen còn đứng vững cũng bằng thừa. Thanh niên xung phong phải gác xe, xoay ra vận tải bộ, nhưng vượt suối lũ cũng không phải chuyện dễ dàng và chóng vánh. Họ cử đến mấy người phụ việc với chúng tôi, phục vụ cái ăn cái uống cho voi. Trong thời gian vận chuyển đột xuất ấy, voi được ăn theo tiêu chuẩn bồi dưỡng, có thêm cơm, đường, mía và nõn chuối loại hảo hạng. Cung đường đi hàng xa gấp đôi ngày thường, và yêu cầu trọng tải cho từng con có tăng thêm. Mờ đất ra đi, tối mịt mới về. Mấy con voi, chừng như cũng biết nhiệm vụ chở hàng ra tiền tuyến lúc này thật khẩn trương, chúng tôi đều bận rộn vất vả, nên chúng trở nên ngoan nết hơn. Con Pắc Chét khảnh ăn và lười biếng nhất đàn, đã mang được bốn tạ hàng - điều mà từ trước nó không sao kham nổi. Chú voi không ngà nổi tiếng tham ăn, mồm miệng lúc nào cũng chóp chép - chú Pắc Mạy ấy, dạo này không tùy tiện dừng lại quờ cái ăn lúc trên đường đi hàng nữa. Còn chú Pắc Đo một ngà - ra vẻ voi đầu đàn ngay sau khi Pắc Chăn ốm. Nó không hay bông phèng như mọi dạo, nét mặt nghiêm trang, chỉ phải cái tội đâm ra làm dáng. Nó bắt chước Pắc Chăn - mỗi khi nghe tiếng động lạ, hai tai đang phe phẩy bỗng dừng phắt lại, căng ra như hai chiếc buồm đón gió. Nó nghe ngóng, bước rất khẽ và có lúc dừng lại đột ngột. Chú chàng biết tỏng mấy hôm nay trời mưa gió, rất ít tiếng máy bay địch nhưng vẫn tỏ ra quan tâm tới đàn em, nghe ngóng xem sao. Cậu Kên chăm chú nhìn Pắc Đo rồi nháy mắt với tôi. Tôi chưa kịp ngăn Kên, hẵng để mặc kệ chú chàng, thì Kên đã nện cho chú một búa, quát:
- Ê, đừng có làm phách nữa ông nội! Pa…ay(1)!
Cái tiếng "pay" Kên rít lên như còi. Tôi bực Kên lắm. Tuy Pắc Đo có điệu một tí thật, nhưng nó chở hàng nặng nhất đàn, lại không hay phun nước vào anh em thanh niên xung phong hoặc khoèo chân Pắc Chét như mọi dạo. Dù sao cái cách làm dáng của Pắc Đo cũng có chỗ đáng yêu. Nó biết trách nhiệm đầu đàn của nó, hoặc nó tưởng rằng đã là voi đầu đàn thì phải có cái lối nghe ngóng động tĩnh nhạy bén như Pắc Chăn mới được. Khi bị Kên mắng, Pắc Đo vẫn im lặng đi. Tôi tưởng chú sẽ dở chứng tự ái, bước đi khệnh khạng, vòi lủng lẳng đung đưa bên này sang bên nọ. Nhưng không phải. Pắc Đo biết mình sai hoặc là biết nín nhịn. Chính vì thế mà Kên hối hận. Không đợi chúng tôi phê bình, anh đã thú nhận rằng mình nóng nảy, ngứa mắt vặt vãnh, không hiểu tâm lý chú Pắc Đo. Khi đến chỗ trả hàng, Kên chạy ù vô rừng chặt cho Pắc Đo một cây chuối non tước vỏ trắng lốp, và vuốt ve nó ra ý xin lỗi.
Suốt mười lăm ngày mưa gió, cả voi lẫn người tuy vất vả bận rộn, nhưng không khí làm việc vui như nhà có đám. Chỉ khổ thân cho Pắc Chăn. Nó ốm. Nó buồn. Nó không ngủ được nên cũng cùng đàn dậy sớm. Cả đàn thích thú ngoạm từng nắm cơm nóng to bằng cái mũ cứng, rồi xúm lại quanh đống lá tươi cao như cồn rơm. Tiếng vòi đập lá giũ kiến, rồi tiếng nhai rau ráu, Pắc Chăn nhìn chúng bạn ăn uống ngon lành mà thèm, nhưng nó không ăn được. Khi chúng tôi xếp hàng hóa lên bành và các chú voi thích thú rung rinh làm các kiện hàng khẽ va vào nhau lắc cắc, thì Pắc Chăn nghiêng người đi, đôi mắt khép hờ, mệt mỏi. Hình như nó không dám nhìn cái cảnh lên đường đi hàng của chúng bạn, chỉ sợ mình ứa nước mắt ra. Mà nó ứa nước mắt ra thật, nó khóc thầm. Ấy là lúc chúng bạn đã ra đi. Ấy là lúc tiếng hú dài của cậu Phờng vang lên đầu suối, rồi vọng mãi trong các cánh rừng. Phờng là một thanh niên người Thượng miền Tây Quảng Bình mới bổ sung về tổ chúng tôi - một thanh niên tóc dày và quăn, đôi mắt to, có cái nhìn thật dữ dội. Không ai có bộ ngực đồng hun như Phờng, và trong tổ, mặc dầu đa số là anh em dân tộc ít người, cũng không ai thổi khèn bè hay như cậu ta. Phờng có thói quen, là lúc ra búa cho voi đi, cậu ta thường hú lên. Rồi hát:
"Voi ơi voi! Ta cùng voi ra đi
Chở hàng ra chiến trường
Nơi nhiều ngọn núi của ông bà
Nơi lắm khúc sông của mẹ cha…"
Bài hát do Phờng tự đặt ra, không có làn điệu nhất định, hát rất tùy tiện. Tuy vậy tiếng hát dường như từ trái tim sôi nổi của cậu ta bay ra làm tâm hồn chúng tôi cũng trở nên phấn chấn, chúng tôi cảm thấy càng thêm yêu nghề nghiệp. Còn tiếng hú của cậu thì thật tuyệt diệu. Nó là tiếng vang của bộ ngực đồng hun, là tiếng của rừng núi. Bao giờ cũng thế, nghe tiếng hú của Phờng cất lên, đàn voi được kích thích. Chúng rảo bước, vòi giương cao, mắt nhìn ra xa y như chúng đang nhớ lại thời kỳ sống hoang trong rừng sâu, phóng khoáng và hung dữ. Và cũng khi tiếng hú của Phờng cất lên, thì chú Pắc Chăn đau khổ rên một tiếng khô khan và ngắn ngủi, rồi tựa cái hông gầy nhom vào thân cây lim tróc vỏ, vòi thõng xuống rũ rượi. Cứ thế, hai hàng nước mắt trào ra. Chao ôi, lòng tôi đau như xé. Trong đời tôi, tôi chỉ mới thấy Pắc Chăn khóc vài lần, nhưng lần này chính tôi cũng không cầm được nước mắt. Có lẽ hôm nào nghe tiếng hú của Phờng nó cũng khóc như thế. Hôm đó, nếu như tôi không có ý định ở nhà để săn sóc Pắc Chăn và luôn thể có tí việc với trạm giao liên, thì không làm sao biết được. Nó khóc vì tủi thân và bất lực. Tôi chạy lại vuốt ve an ủi nó. Nó vờ làm ra vẻ vui cho tôi yên lòng. Tấm mía tôi róc vỏ sạch sẽ đưa cho, nó quờ lấy nhanh chóng, nhưng chỉ gặm một tí rồi nhè ra. Nó không muốn ăn nữa.
Anh Kiên thân mến!
Đã đành là Pắc Chăn biết nó không sống nổi nữa, nhưng như cậu Xuyển nói, nếu nó không thương chúng tôi, lăn đùng ra chết giữa những ngày rối bận, thì thật chúng tôi không biết sẽ xoay xỏa ra làm sao, vừa bảo đảm công tác vừa phải lo chôn cất nó. Pắc Chăn đã biết chết đúng lúc - khi mưa rừng tạnh được vài hôm và chúng tôi đã "liên hoan" một nồi chè nếp mừng công hoàn thành vượt mức kế hoạch vận chuyển đột xuất do binh trạm đề ra. Bấy giờ, cầu đã sửa xong, các cô các cậu thanh niên xung phong lại kìn kịt thồ hàng đi. Nắng lên ấm áp. Nước suối Nậm Bu đã rút xuống, để lại hai ngấn nước bạc phếch hai bên bờ - trên những dãy dứa dại và tầm xuân rừng. Qua dòng nước trong vắt như trước, người ta thấy rõ những rọ đá xếp kè chắn ngang suối làm lối đi bị xộc xệch; có nhiều rọ bị cuốn trôi đâu mất để lại những hố nước xoáy sâu hoắm. Cái sân rác rưởi trước lán được quét dọn quang quẻ bốc lên một làn hơi mỏng mảnh khi nắng lên. Nền trời không còn vương vấn những đám mây xám, trở lại xanh mịn màng - một màu xanh nhìn lâu chói mắt. Những ngày đó, không phải chúng tôi rỗi rãi, nhưng đỡ bận rộn hơn trước. Và Pắc Chăn đã chết một cách thảnh thơi, y như là nó tự nguyện chết vậy.
Giờ đây, chúng tôi đã chôn Pắc Chăn sau khu rừng nứa. Bộ ngà đẹp đẽ đã gửi về binh trạm. Quả thật Pắc Chăn chết đi, để lại trong lòng chúng tôi một nỗi nhớ nhung dường như trong đời sống của chúng tôi, thiếu mất một cái gì thân thiết quá. Cậu Phờng thường nhìn về cuối cánh rừng nứa một cái nhìn dữ dội, và thổ những bài khèn bè nghe như có tiếng suối róc rách, tiếng lá thì thào, tiếng chim từ quy khắc khoải. Phờng lại đặt ra một bài hát:
"Pắc Chăn ơi, mày đã chết rồi
Không còn cùng bạn bè chở hàng đánh thằng Mỹ
Mày để lại cái bành tre
Và đôi ngà quý…"
Kê lấy dao khắc lên cây lim tróc vỏ ngày chết của Pắc Chăn. Kên nói:
- Chúng ta dốt. Nếu có đủ trình độ như bác sĩ thú y, thì chúng ta khắc biết cách chữa bệnh cho nó.
Anh chàng người Tày này tuy tính hay đùa và nóng nảy nhưng lại thẳng thắn, xông xáo và biết nhìn xa. Anh đề nghị, nếu binh trạm không bổ sung thú y sĩ về, thì anh em trong tổ nên cử người đi học lấy dăm bảy tháng, ít ra cũng còn biết cách xem bệnh và bốc thuốc cho voi. Voi đối với mình như là chiếc ô tô của anh lái xe, mà mình không biết gì về thú y, nhiều khi bí lắm. Kên có lý. Bởi vì điều làm chúng tôi băn khoăn là: suốt một tháng Pắc Chăn ốm cho đến lúc chết, chúng tôi không hiểu được nó mắc bệnh gì.
Hôm ấy, nó vẫn đi hàng như thường lệ. Nó vẫn xứng đáng là voi đầu đàn, mang năm tạ hàng, đi đứng nghiêm trang, oai vệ. Khi trở về chỗ cây lim tróc vỏ, Pắc Chăn vẫn tỏ ra vui, miệng thổi ù ù. Sau đó, Kên cho nó đi tắm. Nó hút nước phun như vòi rồng, rồi nằm dưới nước, kêu cóc cóc. Rõ ràng chú rất khoái chí. Buổi tối nó có vẻ buồn, kém ăn. Sáng hôm sau, tôi dậy sớm khi chưa mờ đất. Tôi ra bãi voi, đứng đằng xa định gọi cả đàn dậy, thì thấy Pắc Chăn đã dậy từ lúc nào. Thần sắc nó bắt đầu khác đi, mắt hơi lờ đờ, miệng há ra và ở đó có một thứ nước dãi nhơn nhớt, màu trắng đục chảy lòng thòng. Tôi quyết định cho nó nghỉ. Cậu Kên bảo:
- Chà, chú chàng lại dở chứng làm nũng đấy! Đừng chiều nó vớ vẩn.
Xem ra Pắc Chăn cũng không muốn nghỉ. Ừ, cứ để cho nó đi! Mọi bận, Pắc Chăn rất giỏi, cứ xếp lên bành đủ năm tạ hàng, nó mới chịu đi. Chưa đủ trọng tải là nó cứ ì ra đấy. Hôm nay, mới xếp ba tạ rưỡi, nó đã vùng vằng muốn bước. Thôi, thế đã là cố gắng lắm rồi. Nhưng đi được nửa đường, nó bước uể oải. Đến một cái ngã ba, hình như nó hoa mắt lên nên bước nhầm đường. Tôi hô:
- Liềng phay!(1)
Pắc Chăn mới giật mình, biết mình nhầm đường, nhưng không đi sang trái như tôi hô, nó dừng lại luôn. Miệng nó càng há to, và lúc này chảy ra một thứ nước xanh đục. Chúng tôi dỡ hàng xuống và cho nó quay về không. Tôi róc một ôm mía thật ngon để trước mặt nó. Tuy nó có vẻ nể chủ, nhưng chỉ bóp mãi một khâu mía mà thôi. Thế là nó ốm thật rồi. Khi binh trạm cho người về đồng bằng mời được ông thú y sĩ lên, thì người nó đã gày đi, giơ xương sườn ra. Nó bỏ ăn, chỉ uống vài chậu nước đường và ít bột sắn. Ông thú y đã có tuổi, đeo kính cận, chỉ quen bệnh trâu bò, lợn gà, chưa bao giờ chữa bệnh cho voi. Ngay cả đến gần nó, ông còn có vẻ sợ, mà ông không dám đứng ở bãi voi lâu, chân lúc nào cũng xê dịch, chỉ lo vắt bám. Cái vẻ thiếu tự tin lộ ra trong giọng nói lúc ông chẩn đoán con bệnh:
- Chà, cũng gay đây. Có lẽ nó bị một cái nhọt trong cổ họng, hoặc là nó bị nhiễm lạnh sưng phổi trầm trọng gì đó…
Ông bảo chúng tôi cho Pắc Chăn uống "xuyn-pha-mít". Và ông tiêm cho nó một thứ thuốc gì rất khó gọi tên. Ông vội vã về xuôi để lại cho chúng tôi một nỗi lo lắng: bệnh tình của Pắc Chăn không thuyên giảm, mà trái lại. Chúng tôi đều ngẩn mặt ra nhìn nhau. Làm thế nào bây giờ? Giống như đứng trước một đứa bé chưa biết nói bị ốm, chúng tôi đều ước ao một cách mơ mộng rằng, giá có phép gì làm cho Pắc Chăn nói được nó đau ốm ra làm sao thì nhất định chúng tôi chẳng đời nào chịu bó tay. Phờng nói, giọng chắc nịch:
- Tui nghe ông bà miềng bảo con vật trên rừng trên rú sống dài lắm. Nó ốm, nó tự biết kiếm cái lá mà ăn cho khỏi bệnh. Cái lá đó miềng không biết được. Tui đề nghị thả cho Pắc Chăn đi vô rừng…
Ý kiến của Phờng làm cả tổ vui mừng và hy vọng. Nhưng liền sau đó, chúng tôi cảm thấy mình đối với Pắc Chăn nhẫn tâm quá. "Con lành con ở cùng bà, vang mình sốt mẩy con ra ngoài đường", lúc Pắc Chăn khỏe mạnh sung sức thì nó phục vụ cho mình, nay nó ốm lại đuổi nó ra rừng. Pắc Chăn đã sống với bộ đội lâu rồi, dễ có đến ngót hai chục năm. Đã tham gia kháng chiến chống Pháp, nay lại đến kháng chiến chống Mỹ. Trong chiến dịch Thượng Lào, là kiện tướng vận tải được tặng Huân chương Chiến công. Thực tình, anh em chúng tôi đều kính nể và quý trọng Pắc Chăn bởi những cống hiến của nó. Tuy Pắc Chăn có những lần phạm sai lầm và những nhược điểm nhất định, nhưng nó là con vật đã nặng tình nặng nghĩa với chiến sĩ vận tải. Chúng tôi bàn với nhau và quyết định phải giả vờ làm mặt giận mới đuổi được nó đi. Chỉ có cậu Xuyền là không chịu được thái độ đó. Lúc chúng tôi phải nén lòng lại, vác gậy gộc xua Pắc Chăn vô rừng, thì Xuyền lánh mặt. Quả thật, lúc đầu Pắc Chăn hơi ngờ ngợ, dường như nó không hiểu vì sao nó bị hắt hủi. Cứ đi một thôi, nó lại ủ rũ quay đầu, nhìn chúng tôi như van lơn, cầu khẩn. Giá như chúng tôi đều mau mủi lòng như cậu Xuyền cả, thì công việc sẽ hỏng ngay lập tức. Tối hôm ấy, không thấy Pắc Chăn về nữa, tâm trạng chúng tôi thật phức tạp, vừa thương nhớ nó, vừa vui mừng vì đã đạt được ý định. Phờng là người cả quyết tin rằng chỉ vài mươi hôm nữa Pắc Chăn sẽ trở về khỏe mạnh và béo tốt như xưa. Vắng Pắc Chăn, đàn voi có vẻ nhớ. Chúng thường lấy vòi sờ mó lên cây lim tróc vỏ - nơi chúng tôi vẫn thường xích Pắc Chăn vào đấy - như thể muốn tìm bóng dáng của chú voi đầu đàn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #69 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 12:52:08 pm » |
|
Tiếp : Chúng tôi bắt tay vào kế hoạch vận chuyển đột xuất khi mưa lũ đổ về. Thiếu Pắc Chăn - con voi nòng cốt nhất của cả đàn lúc này thật tai hại. Đêm về, thay xong quần áo, chúng tôi xúm nhau ngồi hơ tay trên đống lửa, nhắc Pắc Chăn như nhắc một người thân đi xa. Thường thì cậu Xuyền mở đầu bằng một lời xuýt xoa:
- Hôm nay nữa là ngày thứ ba…
- Vị chi Pắc Chăn đi đã được năm ngày…
Tiếp theo, Kên bèn tưởng tượng ra cái cảnh Pắc Chăn đi hết rừng này sang rừng khác kiếm lá trị bệnh y như Đường Tăng đi thỉnh kinh. Niềm hy vọng của chúng tôi đã biểu lộ trong lúc bàn luận với nhau chuẩn bị kiếm cái gì liên hoan đón Pắc Chăn "ra viện".
Đêm thứ tám, kể từ ngày Pắc Chăn đi, chúng tôi đang ngủ say, chợt giật mình tỉnh dậy vì có tiếng vòi voi quờ quạng ngoài liếp cửa. Điều này thật lạ lùng. Xưa nay voi đi làm hoặc đi ăn về đều ở ngoài bãi, có con nào dám mon men vào tận lán ở của tổ quản tượng đâu. Chúng tôi xách đèn bão ra. Pắc Chăn đã về đứng sừng sững giữa sân, đầu gồ ghề, xương sườn hằn lên trên lớp da xám mốc, miệng vẫn há ra và chảy rớt. Chao ôi, trông nó tội nghiệp quá! Nó nhìn chúng tôi một cái nhìn bất lực và đau đớn. Và từ hai hốc mắt sâu hoắm, hai dòng nước mắt trào ra. Pắc Chăn khóc làm chúng tôi lạnh cả người vì xúc động. Cậu Xuyền sụt sịt rồi cáu với chúng tôi bằng cái giọng vỡ tiếng:
- Các anh xử tệ với nó quá! Ai lại nỡ đuổi nó đi, để bây giờ nó mang cái thân tàn ma dại trở về cầu xin chúng ta cứu nó. - Và anh lại vỗ vỗ lên cái vòi vuốt ve nó:
- Thôi, mày chẳng phải đi đâu nữa cả. Sống chết cứ ở đây. Rồi chúng tao sẽ liệu...
Nhưng chúng tôi còn biết liệu thế nào. Rõ ràng là Pắc Chăn không tự chữa nổi bệnh, mới trở về như thế. Thú y sĩ cũng đã chịu. Chỉ còn một cách là đi hỏi dân bản. Tôi và Phờng tìm đến bọ Hồ Lay - một ông già Vân Kiều quen thân với tổ chúng tôi lúc chúng tôi còn công tác dưới kho AI. Bọ Hồ Lay nói:
- Nó đã không kiếm được cái lá mà ăn cho khỏi bệnh, là nó chết.
Chúng tôi nài nỉ mãi rằng "còn nước còn tát", nên bọ cũng kiếm cho chúng tôi một ôm lá. Chúng tôi đem giã lá ra, gạn lấy nước hoa với đường. Pắc Chăn chỉ tợp một ngụm rồi thôi. Nó không muốn uống thuốc, cũng không muốn ăn. Đường trắng, đường đỏ, bột sắn, cháo đậu xanh, Pắc Chăn đều chỉ nếm một tí gọi là. Trong lúc đó, chú Pắc Mạy háu ăn không giấu được nỗi thèm thuồng, mắt lấm la lấm lét, chỉ chực chờ chiến sĩ quản tượng sơ ý một tí là xông đến ăn hôi.
Hôm nắng ấm, thấy Pắc Chăn cứ quay đầu ra ngoài suối, Kên đề nghị với tôi cho Pắc Chăn đi tắm. Cái giống voi rất thích nước, biết đâu được tắm táp mát mẻ, bệnh nó lại thuyên giảm cũng nên. Pắc Chăn hăm hở ào xuống suối. Và trở nên hoạt bát vui vẻ, nó lại vục vòi phun nước nghịch ngợm như ngày nó còn khoẻ mạnh. Chơi chán, nó lần đến chỗ vũng sâu, đằm mình, miệng kêu cóc cóc ra vẻ khoái chí. Chỗ ấy có một cái xoáy nước ngầm sâu lắm, càng sát bờ bên kia càng hẳm. Vắt vẻo ngồi trên một cành vả bên bờ suối, Kên hoàn toàn không chú ý đến Pắc Chăn mỗi lúc một đi xuống vũng sâu. Cho đến khi trên mặt nước chỉ nổi lên chiếc vòi phun nước phè phè, Kên vẫn tưởng nó đùa. Anh không ngờ chỉ vài giây sau đó Pắc Chăn chìm hẳn. Nhìn dòng nước xanh leo xanh lẻo soi rõ từng đàn cá niên bơi lượn, người ta khó biết được dưới đáy suối có xoáy nước ngầm chảy xiết...
Thôi thế là Pắc Chăn đã chết, y như nó muốn tự tự vậy. Bốn chiếc ô-tô và một trung đội công binh đã kéo xác nó lên bờ. Quả thật chúng tôi đều không có trình độ chuyên môn về thú y, nên khi anh em công binh phanh phui mổ xẻ thân thể nó ra, chúng tôi vẫn không thể hiểu được nó chết về bệnh gì. Có điều này đáng chú ý: chúng tôi nhặt được bốn cái đầu đạn súng trung liên trong người nó, có một viên chui vào chính giữa phổi. Đấy là những vết thương cũ của nó trong kháng chiến chống Pháp. Không biết nó chết vì những vết thương cũ tấy lên hoặc do một bệnh hiểm nghèo nào khác?
* * *
Anh Kiên thân mến!
Đã đành là Pắc Chăn chết cũng như Pắc Vê chết năm xưa, nó ốm thì nó chết. Dẫu chúng ta hết lòng thương yêu nó, thì nó vẫn là thân phận con vật. Nhưng dường như chỉ sau cái chết của Pắc Chăn, tôi mới có dịp ôn lại quãng đời làm chiến sĩ quản tượng để tâm sự với anh.
Tôi vẫn còn nhớ cái ngày tôi được điều động về tổ quản tượng do anh phụ trách. Tôi giãy lên như đỉa phải vôi, rằng xin chịu thôi, nào tôi có hề biết voi ngựa bao giờ đâu. Anh bảo:
- Cậu là người dân tộc Thái Kỳ Sơn, chẳng lẽ cậu chưa hề biết con voi như thế nào ư?
Tôi thú thật là trong bản tôi cũng có một vài con voi của những nhà giàu có. Người ta dùng để kéo gỗ và chở hàng sang tận bên Lào. Ấy là chỉ mới biết thế thôi, chứ chưa hề giữ nó. Mà giữ làm sao được. Những người giàu trong bản tôi nuôi voi có những tay quản tượng nhà nghề. Đấy là những người đã lớn tuổi, có ria mép, răng vàng, mắt lúc nào cũng đăm đăm, tẩu thuốc lá bốc khói dường như không mấy khi rời khỏi miệng. Bố tôi bảo, họ từ đâu đến không ai biết, không có vợ con; người quản tượng không được lấy vợ, phải sống trong sạch như người nhà trời mới điều khiển nổi voi. Lũ trẻ con chúng tôi gặp các bố quản tượng đều phải vòng tay lại cúi đầu chào "Lạy ông ạ". Đấy, sự hiểu biết của tôi về người quản tượng là những những xa lạ đầy bí mật như thế, nên tôi tìm mọi cách từ chối. Đến bây giờ tôi vẫn còn xấu hổ khi nghĩ lại thái độ vụng về lúng túng của tôi lúc đó. Tôi đã đỏ mặt lên và một hồi lâu mới đánh bạo nói rằng, tôi đã trót cưới vợ rồi.
Anh vỗ vai tôi cười vang. Anh không chế giễu tôi, mà nói về anh:
- Mình cũng có vợ và hai con đang ở trong Nam. Cậu đã thấy biển bao giờ chưa? Chưa à? Mình là dân biển. Quanh năm suốt tháng chỉ lăn lưng ra trên những đồng muối trống trải. Quen nắng, quen hơi nước mặn và gió biển chứ có quen rừng như cậu đâu. Thế mà hồi lên Tây Nguyên cấp trên giao cho giữ voi cũng làm xong tất. Bây giờ hóa ra đã quen nghề…
Hôm ra bãi voi, anh đưa tôi đến làm quen với Pắc Chăn. Tôi đâm ngạc nhiên vì anh có một thứ ngôn ngữ riêng với nó hay do tôi cảm thấy thế, mà nó biết anh muốn giao cho tôi phụ trách nó. Pắc Chăn phe phẩy hai tai, giương cặp mắt ti hí nhìn tôi. Tròng mắt nó đảo đi đảo lại mấy lần như dọa dẫm, muốn bắt nạt tôi. Chắc anh biết, nhưng giấu không muốn nói, sợ tôi chùn bước. Anh chỉ nói rằng, nó là con voi rất tinh khôn, làm việc rất giỏi, nhưng phải cái hơi bướng, quản tượng lơ mơ là cu cậu đâm ra tự do vô kỷ luật ngay.
- Đối với nó, cậu phải đàng hoàng. Đừng rụt rè mà nó coi khinh.
Tôi cũng tự nhủ mình như thế. Hôm sau, anh bảo tôi trèo lên lưng Pắc Chăn. Thú thật, tôi cũng hơi lo lo. Anh hô:
"Xông!"(1).
Nó co chân lại và tôi đang ì ạch trèo lên, thì Pắc Chăn đã đưa cái vòi ram ráp khoèo chân tôi lôi tuột xuống. Tôi hoảng quá. Nhưng anh vẫn động viên:
- Cậu phải lên thật nhanh thật gọn! Nó là chúa ghét cái tính lề mề chậm chạp.
Lần thứ hai, tôi cũng bị nó khoèo chân, nhưng lần này có vẻ tàn nhẫn hơn, gần như là nó vất tôi xuống. Tôi tưởng anh sẽ đánh mắng nó, nhưng anh vẫn thản nhiên. Như để giải thích rằng, chính là do lỗi ở tôi rụt rè, chậm chạp, anh biểu diễn động tác lên voi cho tôi xem. Quả nhiên lên mới đẹp, mới dứt khoát làm sao!
- Thôi để hôm khác. Hẵng từ từ!
Anh bảo thế, nhưng tôi vẫn coi như buổi tập đầu tiên thất bại. Tôi theo dõi công việc điều khiển voi của anh mà thèm. Đối với anh, Pắc Chăn ngoan ngoãn và thùy mị như con mèo con chứ không còn là chú voi hung dữ bướng bỉnh nữa. Với tính hiếu thắng nông nổi của mình, tôi không chịu được thất bại, tôi chỉ muốn chinh phục Pắc Chăn một cách mau chóng. Và tôi say sưa thực hiện một kế hoạch dại dột và quá ư trẻ con. Tôi trèo lên cây đa đầu ngã ba đường, nơi Pắc Chăn thường đi làm về qua. Chọn một cành thuận lợi nhất, tôi ngồi giấu mình đợi ở đấy, định bụng lúc Pắc Chăn vừa vặn đi tới, tôi chỉ cần bước khẽ một bước, là coi như mình đã chễm chệ ngồi trên lưng chú chàng rồi. Hình như Pắc Chăn phát hiện ra tôi từ đàng xa, và con vật khôn ngoan ấy cũng đoán được ý định của tôi. Nó giả tảng lờ đi, vừa bước khoan thai vừa cho vòi vào miệng hút đầy nước. Mắt không hề ngó ngàng gì đến tôi, nó ung dung đi, tấm lưng màu mốc cọ vào các cành đa thấp, làm những tùm lá rung rinh lào xào. Tôi đang nín thở, chuẩn bị tư thế thì Pắc Chăn bất chợt quặt vòi lên nhằm đúng tôi, phun một vòi nước. Tôi chỉ kịp ôm chặt lấy cành đa, mặc cho mặt mũi áo quần ướt mèm, và cái mùi vừa hoi vừa nồng của nước miếng voi làm tôi phát buồn nôn. Câu chuyện dại dột đó sẽ làm trò đùa cho anh em trong đơn vị; nếu như anh không thương tôi, lại đem chuyện ra mà chế giễu. Anh đã phạt Pắc Chăn, nện cho chú chàng một búa nên thân về cái tội xấu chơi ấy. Tất nhiên không phải vì bị phạt mà Pắc Chăn khuất phục tôi, chính là tôi đã làm theo lời anh dặn: "Đối với nó mình phải đàng hoàng. Đừng để nó coi khinh". Tôi ra bãi thể thao, tập leo xà. Tôi không tập theo bài quy định, mà cứ tập đu người lên xà kép làm sao cho thật nhanh, thật gọn. Hôm sau, với một niềm tự tin mạnh mẽ, tôi đến trước Pắc Chăn vỗ về làm thân với nó như một tay quản tượng thực thụ. Tôi hô:
- Xông!
Pắc Chăn co chân lên, và thoắt một cái tôi đã ngồi ngất nghểu trên lưng chú chàng rồi. Đứng đằng xa, anh đã reo lên:
- Hoan hô! Nhọt khá lắm!
Từ đó, đưa voi lên công trường kéo gỗ hoặc chở thực phẩm cho bộ đội biên phòng, anh đều dẫn tôi đi cùng. Pắc Chăn bây giờ đã thuộc tôi điều khiển. Anh còn phải lo chung cho cả tổ và phụ trách riêng Pắc Vê, con voi đầu đàn già tuổi và ngoan nết. Tôi cũng nhanh chóng phát hiện ra Pắc Chăn làm việc khỏe và có ý tứ. Đường lên đèo Pa Nguột có đoạn trơn như thế mà nó chẳng khi nào trượt chân. Những lúc kéo gỗ xuống dốc, Pắc Chăn biết lái cho cây gỗ chạy trên những chỗ đất gồ ghề để tăng thêm lực ma sát. Chứ không đểnh đoảng và khờ khạo như chú Pắc Chét, cứ để gỗ lao theo vệt mòn, chạy cuống cà kê lên mà có hôm vẫn bị gỗ thúc vào chân. Tuy nhiên Pắc Chăn cũng có nhiều tật xấu. Tôi ghét nhất là cái lối chơi trội và hay ghen tị của nó. Bao giờ nó cũng chọn những cây gỗ mà Pắc Vê - con voi đầu đàn đã lấy vòi nhấc thử không nổi. Tuy phải ráng sức mới kéo được những cây gỗ ấy, nhưng Pắc Chăn tỏ vẻ hãnh diện lắm. Ai chả biết nó trẻ và khỏe hơn Pắc Vê, nhưng không vì thế mà uy tín của nó đối với cả đàn lại trội hơn Pắc Vê được. Có hôm gặp một cây kiền kiền khoát cỡ sáu người ôm, loại gỗ cần dứt khúc xẻ thành phiến, tuy biết là chẳng con voi nào kéo nổi tôi vẫn bảo tay Xuyền cho Pắc Vê vào nhấc thử. Pắc Vê bỏ ra. Được tính hiếu thắng kích thích, Pắc Chăn hăm hở xô vào. Chú chàng gò lưng lại lấy vòi quặp gỗ, nhưng quặp không khẳm, chưa nói đến nhấc. Tôi giữ một nét mặt thật nghiêm, cứ thúc. Chú chàng bèn lấy chân hất. Cây gỗ lớn cứ nằm ì ra không nhúc nhích. Tôi càng thúc, chú chàng càng cố sức thử. Cho đến lúc Pắc Chăn lùi ra, lúc lắc đầu, tôi chỉ muốn mắng cho mấy câu, nhưng thấy tội nghiệp, chú chàng có vẻ cũng biết tôi muốn trị cái bệnh thích chơi trội của chú.
Pắc Chăn dần dần bớt được cái tính coi khinh tôi. Tuy nhiên nó cũng không tỏ ra kính trọng quý mến như đối với anh. Đi với anh thì chẳng làm sao cả, nom bộ ngoan ra phết. Nhưng đi với tôi, thỉnh thoảng nó lại dở chứng. Hôm lên đồn biên phòng, chú chàng tự tiện bẻ luôn mấy cây mía hiếm hoi của đồn, làm tôi giận quá, nện cho mấy búa. Thế là chú chàng nổi tự ái, bỏ trốn đi dạo chơi trong rừng làm tôi suýt phát khóc lên. Tôi giận Pắc Chăn, đồng thời cũng tự giận mình. Bản lĩnh mình còn non nớt quá, nên nó mới nhờn mặt. Tôi bấm chí học anh cho bằng được. Anh bảo, những tay dạy thú làm xiếc thường lập luận rằng, phàm con vật gì cũng lấy miếng ăn làm đầu, phải biết dùng miếng ăn mà dạy dỗ nó. Nó tập tốt, cho ăn ngon, nó tập tồi, phạt nhịn hoặc cho ăn xoàng. Tay này cầm miếng thịt nướng, tay kia cầm roi, thì dù con hổ dữ là vậy cũng vào khuôn phép như con mèo. Anh chê lập luận đó phiến diện hoặc chỉ thích ứng với những con vật làm xiếc, hành động máy móc - mà ngay nó cũng không hiểu hành động đó để làm gì. Còn con voi của chúng ta là công cụ làm việc, y như con trâu của người nông dân. Số phận của nó gắn liền với số phận chiến sĩ vận tải - phải hiểu như thế thì mình mới hết lòng chăm sóc dạy dỗ nó. Phải xuất phát từ tình yêu nghề nghiệp của mình mà thành thực yêu thương nó.
Không phải chúng ta ở trong nghề với nhau mà nói ngoa: quả thật giống voi là giống vật rất khôn ngoan và giàu tình cảm. Khi tôi chăm sóc nó từng cái ăn cái uống đến việc gìn giữ trau chuốt cái bành cho nó êm lưng lúc đi chở hàng, Pắc Chăn tỏ ra quyến luyến tôi. Nghe tiếng tôi từ đàng xa, chú chàng đã vểnh tay lên nghe ngóng, rồi mon men lại gần.
Dù sao, tôi vẫn cảm thấy mình còn một điều gì đó chưa làm cho Pắc Chăn hoàn toàn kính phục. Có thể do tôi còn ít tuổi hoặc chưa có cái phong thái vừa nghiêm khắc vừa bao dung như anh chăng? Nhưng không phải. Điều đó đã xảy ra lúc trên đường hành quân vào trong tuyến đường này nhận nhiệm vụ mới. Qua phà L. anh dẫn Pắc Vê qua chuyến trước. Đến lượt tôi dẫn Pắc Chăn qua thì chú chàng lừng khừng trước cầu phà không chịu lên. Tôi giục. Chú chàng uể oải dùng vòi ấn thử cầu phà xem có đủ sức chịu đựng cho nó bước lên không. Tôi thầm nghĩ: "Ái chà, cậu cả này lại "điệu" rồi. Pắc Vê qua được là cậu qua được thôi. Cậu cũng chả to xác hơn Pắc Vê bao nhiêu đâu". Nghĩ vậy, nhưng tôi cứ mặc cho Pắc Chăn ấn thử. Âu cũng là thói quen của giống voi. "Ắc" - nó ấn một cái, tấm ván gãy đôi. Anh em công nhân lái phà lật đậy chạy đi kiếm tấm ván khác thay thế. Trong lúc đó, Pắc Chăn lơ đễnh ngắm nhìn dòng sông rộng rãi và những chiếc thuyền buồm đang lộng gió chạy xuôi. Thay xong tấm ván, Pắc Chăn lại rán sức ấn một tấm khác gãy nốt. Anh em công nhân phà kêu toáng lên rằng, thế này thì chịu thôi, chú voi này không qua nổi phà, phải cho nó bơi sông. Tôi đâm ra lúng túng. Một mặt, tôi cố nằn nì anh em công nhân thay thêm tấm nữa, bởi vì đấy là tấm ván mục, trước sau rồi cũng phải thay. Mặt khác, tôi nghĩ đến trường hợp phải dìu Pắc Chăn lội sông. Quả thật, tôi chưa hiểu Pắc Chăn có bơi được qua con sông rộng lớn này không. Một bác công nhân già, trong lúc gỡ tấm ván gãy, phân vân:
- Chà, nó cứ nhè chính giữa tấm ván mà bẻ, thì chả có tấm nào chịu nổi sức voi đâu.
Câu nói của bác công nhân như một tia chớp loé lên trong đầu óc tôi soi rõ những nét khờ khạo của mình. Té ra chú Pắc Chăn này khoảnh thật, định chơi khăm mình đây. Tại sao nó không ấn thử vào chỗ có những dầm dọc hoặc chỗ tiếp giáp giữa hai tấm ván? Bàn chân nó to như cái rổ có bao giờ đặt gọn được trên một tấm ván ngang của cầu phà đâu.
Lần này, tôi đứng trước mặt Pắc Chăn nghiêm khắc ra lệnh cho nó phải làm theo ý định của tôi. Quả nhiên, Pắc Chăn chỉ ấn thử qua loa, rồi bước gọn gàng lên phà trong tiếng nước dềnh lên, táp vào mạn phà lép bép.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|