Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:19:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 131997 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #70 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 12:54:50 pm »

                              Tiếp :
Bây giờ thì tôi hiểu, điều mà từ trước tới nay nó chưa phục tôi là vì mình còn thiếu kinh nghiệm điều khiển nó. Tôi không giận Pắc Chăn mà lại có ý thầm phục. "Được, cho mày cứ thử sức ông, càng thế ông càng chóng tích luỹ được kinh nghiệm". Giữa tôi và nó dường như có một cuộc chạy đua thân thiện. Thỉnh thoảng nó lại giở những trò vớ vẩn: dọa trẻ con, xua đàn trâu hợp tác, nhấc đít ô tô lên, khi gặp những cậu lái xe hay bóp còi thúc sau lưng. Dường như nó giở những trò ấy để bắt tôi phải xử trí. Và suốt cuộc hành quân đường dài ấy là một trường học đối với tôi. Sự tự tin vào khả năng của mình mỗi ngày một tăng, khi Pắc Chăn cũng càng ngày càng mến phục tôi hơn.

Có lẽ vì thế - mà sau khi vào đây - cấp trên đã giao cho tôi thay anh phụ trách tổ quản tượng. Bây giờ Pắc Vê đã chết, nó chết về bệnh thối phổi, chết nhanh chóng và không đau đớn mấy. Tất nhiên Pắc Chăn được chọn là voi đầu đàn. Cũng dịp đó, tôi được đề bạt lên thượng sĩ. Chẳng vì được cất nhắc, mà tôi muốn xa anh. Có điều là chẳng thể để một thiếu uý lâu năm như anh phụ trách mấy con voi vận tải. Anh được giao làm chính trị viên một đại đội vận tải thuyền.

- Loanh quanh một chầu, bây giờ mình lại được trở về với sông nước…

Anh nói với tôi như thế, lúc hai đứa mình trầm ngâm ngồi bên suối từ giã nhau. Anh là người kín đáo, thật khó mà đoán được tâm trạng lúc ấy. Nhưng nếu tôi không nhầm, ra đi anh vẫn quyến luyến anh em trong tổ và mấy con voi hết sức. Anh khêu gợi với tôi cách giúp đỡ anh em trong tổ, đặc biệt chú ý đến Kên và Xuyền - những người mà anh đã nhằm có thể thay tôi khi cần thiết, tuy anh không nói ra. Còn mấy con voi, từ lai lịch, tính nết, cách điều khiển nó ra làm sao, anh đều nói cho tôi biết chi tiết. Như muốn trao cho tôi cả cái vốn liếng nghề nghiệp trong gần chục năm làm quản tượng của mình.

Bây giờ anh đã trở về với sông nước quen thuộc từ tấm bé. Đại đội thuyền của anh chở hàng ra tiền tuyến trên một con sông lắm thác nhiều ghềnh hung dữ, con sông lúc nào cũng như mang trong lòng một nỗi tấm tức, muốn phá băng rừng núi để oà ra biển. Nơi cửa sông ấy có những cánh đồng muối trống trải, nắng và gió đều mặn mùi nước biển. Nơi ấy là quê anh.

Còn tôi, tôi vẫn chưa được thấy biển. Tôi chỉ gặp biển trong màn ảnh, với những con sóng lừng lững ào tới tưởng chừng sắp ập lên đầu mình. Biển chỉ khêu gợi tính tò mò của tôi, chứ chưa có gì hấp dẫn bằng rừng. Đối với tôi, rừng là tuổi trẻ, là kỷ niệm và cả ước mơ nữa. Tôi ở lại với rừng, với anh em trong tổ và đàn voi thân thuộc. Nhưng làm sao tôi không lo lắng được, khi tôi phải đảm đương mọi công việc trong tổ. Bây giờ không còn kéo gỗ về xây dựng doanh trại hoặc chở từ rượu mùi, thuốc lá đến những cuộn chỉ đỏ chỉ xanh lên đồn biên phòng như hồi trước nữa. Bây giờ thằng Mỹ đã đem chiến tranh đến tận đây. Voi ta chở vũ khí đạn dược ra chiến trường đánh Mỹ. Say sưa trong công việc khó khăn, bao giờ ta cũng tìm ra hứng thú. Hình như chúng ta đều nhận thấy nhiệm vụ chiến sĩ vận tải giờ đây có ý nghĩa hơn. Chính vì thế, mặc dù anh đi rồi, chúng tôi vẫn đoàn kết với nhau và công việc binh trạm giao cho đều làm trôi chảy. Và Pắc Chăn từ khi lên làm voi đầu đàn cũng tỏ ra mẫn cán gương mẫu hơn. Pắc Chăn dậy sớm, chở nặng hơn cả đàn, còn cách ăn uống thì không chê vào đâu được: không tham ăn nhưng tạp ăn, thức gì đối với nó cũng có thể ngon miệng được cả. Chúng tôi đang mừng thầm, Pắc Chăn ngày một ngoan nết, thì chú chàng lại đổ đốn, chơi chúng tôi một vố. Thoạt tiên, nhân lúc đi ăn, chú chàng đã kéo cả đàn xuống vầy nát gần một nửa rẫy sắn của đồng bào bản Tà Nọi. Bọ Hồ Lay lật đật chạy đi gọi chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi phải bồi thường cho đồng bào. Anh em ai cũng phiền lòng và giận đàn voi hết sức. Trước tiên là giận Pắc Chăn, chú voi đầu đàn. Cậu Kên nện cho chú mấy búa, chỉ cho nửa suất cơm và xích chân thật chặt vào cây lim tróc vỏ.

Dạo ấy đang mùa xuân. Hoa móng ngựa nở trắng trên sườn núi cao và hoa mai dệt vàng hai bên bờ suối. Những buổi sớm se lạnh, sương giăng mờ mờ trong rừng gợi lên một sự tĩnh mịch đến dễ chịu. Qua màn sương, ánh lửa cũng nhoè đi, những trái núi trở nên đồ sộ hơn tưởng chừng không thể hiểu được chiều cao của chúng. Những buổi sáng như thế, trước khi đi hàng, chúng tôi ngồi hơ tay bên bếp, uống nước chè nóng và thường nhắc đến hoa đào, đến ngày hội tung còn và những chiếc áo màu. Bao giờ cậu Phờng cũng đứng dậy một cách đột ngột, vớ chiếc khèn bè và nghiêng đầu, cong lưng lại thổi một làn điệu dịu dàng. Chúng tôi lim dim mắt lắng nghe, và ngoài rừng, thỉnh thoảng những giọt sương rơi tí tách.

Những buổi sáng như thế, đàn voi đến mùa động tình cũng trở nên mơ mộng hơn. Chúng giương những cặp mắt tư lự nhìn qua màn sương và đôi tai ngừng phe phẩy lắng nghe tiếng gầm xa xa của voi rừng. Dạo ấy, chúng tôi vừa nghe bà con bản Tà Nọi báo là có một đàn voi rừng đông lắm đang kéo nhau về phía rừng Hốc Trăn. Chúng tôi không thả cho voi nhà đi ăn nữa, sợ chúng đánh nhau với voi rừng. Xích chân chúng lại, chịu khó kiếm thức ăn cho chúng mà mình lại yên tâm hơn. Bỗng dưng, một buổi sáng sớm, Pắc Chăn bứt xích bỏ đi mất. Kên bực mình trách Xuyền, tại sao lại xích chân nó bằng xích bé, nếu dùng loại xích sắt Trung Quốc mười hai mi-li-mét thì bố nó cũng không bứt nổi. Đây không phải là chuyện xích lớn xích bé, mà là chuyện Pắc Chăn đã dở chứng. Tôi giao công việc ở nhà cho Xuyền, rồi cùng Kên và Phờng mang gạo và thức ăn đủ một tuần, xách súng đi tìm. Chúng tôi đề ra mấy dự kiến: nếu Pắc Chăn bỏ đi lang thang đâu đó thì gọi nó về không khó khăn lắm, còn như chú chàng theo đàn voi rừng thì thật gay go. Một là có thể bị voi rừng đánh chết, hai là khuất phục đi theo chúng thì Pắc Chăn sẽ trở lại hung dữ như bất kỳ con voi rừng nào.

Chúng tôi về bản Tà Nọi hỏi thăm đường lên rừng Hốc Trăn. Bọ Hồ Lay bảo:

- Hắn ở với miềng lâu rồi, hắn không theo voi rừng mô. Hắn không chịu được cái mùi voi rừng nữa. Có lẽ hắn đi tìm voi cái. Mùa xuân đến, vẫn có những con voi cái đi lẻ chịu đực. Nhưng phải cẩn thận đó, hắn đang say cái là hay nổi khùng.

Bọ Hồ Lay nói đúng. Đi đến ngày thứ ba, chúng tôi tìm ra dấu chân Pắc Chăn, nhờ cái mẩu xích sắt còn dính ở chân sau kéo thành vệt trên đất ẩm. Xem dấu chân thì biết Pắc Chăn đang đi theo một ả voi cái. Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi đã đuổi kịp và bắt gặp cả đôi đang vờn nhau trên một đám cỏ giữa thung lũng. Pắc Chăn da màu mốc, có vẻ gầy đi đang đưa vòi bện lấy vòi con voi cái, nô giỡn. Ả voi cái bé hơn nhưng nom đẹp làm sao, da đen nhánh, béo lẳn. Chúng tôi nấp sau những gốc cây, chuẩn bị tư thế thuận lợi khi cần thiết phải nổ súng.

- Hú… u… ú…

Tiếng hú của Phờng vang lên dội vào thung lũng, tưởng như có nhiều tiếng hú lần lượt đáp lại. Pắc Chăn buông bạn tình, ngẩng đầu lên. Nhận ra tiếng hú, nó có vẻ bâng khuâng. Tôi biết lúc này mình cần phải lên tiếng. Nó thuộc tiếng tôi như thuộc đường đi lối về của nó. Tôi bắc tay làm loa gọi:

- Pắc… Chă… ăn! Pắc Chă… ăn!…

Pắc Chăn sửng sốt. Y như người phạm tội bị bắt quả tang, vòi thõng xuống, hai tai cụp, nó đứng im như con voi xây trước đình làng. Rõ ràng tiếng gọi của chúng tôi đã thức tỉnh nó, lòng nó đang mềm lại, phân vân, lưỡng lự. Giữa lúc ấy thì ả voi cái hoảng hốt, kêu lên những tiếng khó hiểu và vụt bỏ chạy. Không cưỡng nổi trước tiếng gọi thiết tha của bạn tình, Pắc Chăn chỉ ngần ngừ một lát, rồi cũng bỏ chạy theo. Thế là hỏng. Cả ba chúng tôi đuổi riết. Phờng đòi nổ súng, nhưng tôi ngăn lại. Đôi voi chạy ào ào. Phía trước, cành cây gãy răng rắc. Còn chúng tôi cũng chạy đứt hơi, tay chân mặt mũi xước ra vì gai cào. Sương chiều như từ mặt đất bốc lên toả khắp rừng và hoàng hôn đổ xuống nhanh chóng. Chúng tôi đã mất hút dấu chân chúng, đành dừng lại thổi cơm ăn, mắc võng ngủ. Phờng nói:

- Tui đề nghị bắn chết con voi cái. Còn con voi cái thì Pắc Chăn không chịu về.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #71 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 12:56:52 pm »

                                  Tiếp theo :
Chúng tôi bàn bạc hồi lâu và nhất trí nhận định rằng, Pắc Chăn vẫn còn khả năng trở về, nếu dứt được con voi cái ra. Nhưng chuyện đó không phải dễ. Bắn chết con voi cái là thúc bách Pắc Chăn đến bước đường cùng. Dẫu Pắc Chăn không hung hãn phản chủ, thì cũng trở nên ngơ ngẩn thương nhớ bạn tình và chẳng mấy chốc mà thể chất và cả tinh thần nó sa sút. Cần phải tỏ ra độ lượng với Pắc Chăn, dùng tình cảm mà kêu gọi nó trở về. Đồng thời phải nghiêm khắc với con voi cái, rõ ràng con voi rừng này đang muốn quyến rũ Pắc Chăn trở lại lối sống hoang dã. Cần thiết phải nổ súng, nhưng cốt để xua nó đi và tỏ cho Pắc Chăn biết thái độ dứt khoát của chúng tôi, không cho phép Pắc Chăn được đeo đuổi con voi cái nữa.

Sáng hôm sau, chúng tôi chén mỗi người một bụng thật no, rồi theo dấu chân của chúng, lần đi. Mãi đến đứng bóng, chúng tôi lại gặp chúng đang vờn nhau cạnh một con suối. Chúng tôi chưa hành động vội, im lặng ngồi chờ. Chúng đùa chán, rồi hai con bỏ ra hai chỗ quờ cá kiếm ăn. Thời cơ thuận lợi đã tới. Chúng tôi đi rón rén mười đầu ngón chân, lợi dụng từng gốc cây, nhằm vào khoảng cách giữa đôi voi, đi tới. Đã đến gần chúng vài ba chục mét, mà chúng vẫn chưa hay biết. Theo kế hoạch đã định, tôi cất tiếng gọi để báo Pắc Chăn biết là người nhà:

- Pắc - Chă… ă…n!

Chú voi nhà si tình ngẩng đầu lên. Cùng một lúc, súng của Kê và Phờng đều nổ, hai viên đạn bay vèo qua đầu ả voi cái. Con voi rừng hoảng hốt bỏ chạy, Kê và Phờng lao theo bắn xua thêm hai phát đạn nữa. Trong lúc đó, tôi khoác súng đi thẳng tới chỗ Pắc Chăn - lúc này nó cũng đang nhìn thẳng vào tôi. Ánh nắng lấp lánh trong đôi mắt nó khiến cái nhìn trở nên dữ dội căng thẳng.

- Pắc Chăn!

Tôi gọi nó một cách dịu dàng. Kên và Phờng đã quay lại, súng cầm tay, đạn lên nòng, hồi hộp theo dõi sự thể sẽ xảy ra thế nào, trong lòng không khỏi nghĩ tới trường hợp xấu nhất, Pắc Chăn sẽ liều lĩnh lao vào quật tôi. Thực tình, tôi không hề nghĩ tới điều đó. Ngay từ lúc nom thấy nó, lòng tôi đã bồi hồi như thể được gặp lại người thân. Không, nó giống như tình cảm của bậc làm cha làm mẹ khi tìm gặp được đứa con lêu lổng bỏ nhà ra đi, tình yêu thương sẽ bao trùm lên cả sự giận dỗi. Về phía nó, tôi vẫn tin rằng, nó không thể quên tình nghĩa đối với chúng tôi một cách mau chóng, khi chúng tôi đã sống với nhau hàng bảy tám năm.

Quả thật, Kên và Phờng quá lo xa. Tôi tới gần, Pắc Chăn hổ thẹn tránh cặp mắt của tôi. Và khi tôi vuốt ve lên cái vòi ram ráp thì hai hàng nước mắt nó ứa ra - những giọt nước mắt hối hận đậu trên lớp lông má rồi rơi xuống vai tôi. Bây giờ nom nó ủ rũ, thiểu não quá.

- Pay!

Pắc Chăn ngoan ngoãn đi về, sau khi cả ba chúng tôi đã trèo lên lưng nó. Phờng lại cất một tiếng hú dài. Dường như tiếng hú gợi lại những ngày cùng cả đàn đi tải hàng, Pắc Chăn chợt vươn cao vòi, mắt nhìn xa, bước những bước dài.

Anh Kiên thân mến!

Đấy là câu chuyện mà sau khi Pắc Chăn chết, Xuyền cứ cho là nó tự tử vì buồn nhớ con voi rừng. Có lẽ nào như thế được. Chẳng có dấu hiệu gì tỏ ra Pắc Chăn trở nên rầu rĩ uể oải sau những ngày mùa xuân ấy. Trái lại, để chuộc những lỡ lầm nông nổi của mình, Pắc Chăn đã làm việc rất tốt và mỗi ngày một thuần thục hơn. Thường nó chở năm tạ hàng. Những ngày sau khi trở về, chúng tôi chất lên bành đủ trọng tải rồi mà Pắc Chăn vẫn chưa chịu đi. Phải thêm năm mươi cân nữa. Hối hận làm cho Pắc Chăn cố gắng. Ngay cả Kên cũng không giận Pắc Chăn được lâu.

Máy bay địch ngày càng hoạt động ráo riết trên đường vận chuyển. Mặc dù đường rừng rất kín đáo, nhưng L.19 thỉnh thoảng vẫn rà xuống thấp soi mói. Phản lực đã đến giội bom, bắn rốc-két nhiều lần ở những đoạn đường thồ của thanh niên xung phong mà chúng phát hiện được.

Đi hàng bây giờ không còn ung dung như trước. Voi và hàng cũng phải ngụy trang. Chúng tôi đã xoi thêm nhiều đoạn đường rừng tránh những chỗ nguy hiểm. Trong không khí căng thẳng như thế, Pắc Chăn đã xứng đáng là voi đầu đàn. Nó có đôi tai tuyệt vời, đôi tai có thể phát hiện được mọi tiếng động từ bé đến lớn trước chúng tôi rất nhiều. Nó không bao giờ nhầm lẫn giữa tiếng máy bay địch và tiếng ô tô hoặc máy nổ của ta. Cách xử trí của nó lúc gặp máy bay địch cũng khôn ngoan linh hoạt, không đợi chúng tôi ra lệnh. Có tiếng vè vè của loại bà già, lập tức Pắc Chăn đứng lại nép vào cây. Còn nếu là tiếng gầm rít của phản lực liệng vòng thì nó nhanh chóng tạt xuống khe, xuống hốc trũng. Cứ thế, cả đàn voi răm rắp theo Pắc Chăn. Nhờ vậy, nên hồi tháng sáu, máy bay địch đánh trúng đội hình hành quân của chúng tôi - mà người, voi và hàng hóa đều an toàn.

Điều này anh sẽ phải ngạc nhiên về sự táo bạo và sáng suốt của cậu Kên. Hồi năm nào, chúng ta đi hàng về gặp một đoàn các cháu nhỏ con gia đình liệt sĩ miền Nam đi ra, anh còn nhớ chứ? Chúng ta cho các cháu trèo lên voi để đỡ mỏi chân một đoạn đường. Nhưng chẳng con voi nào chịu chở các cháu gái. Hễ thấy cháu gái nào đến gần là nó huơ vòi lên dọa. Anh cũng đành lắc đầu, bảo cái giống voi không chịu được mùi tóc đàn bà con gái. Bây giờ nghĩ lại, cậu Kên cho là vô lý:

- Thế tại sao ngày xưa bà Trưng, bà Triệu cưỡi được voi đi đánh giặc? Hóa ra voi bây giờ xoàng hơn voi thời trước ư? Tôi cho là tại ta không luyện nó thôi.

Chúng tôi đều ngẫm nghĩ ý kiến của Kên và cảm thấy Kên nói có phần đúng. Nhân lúc Pắc Chăn đang muốn lập công chuộc tội, Kên đã thử cho chở hai cô thanh niên xung phong. Quả thật, lúc đầu Pắc Chăn cũng vùng vằng dọa dẫm, nhưng khi cậu Kên quát lên, thì chú chàng im lặng, và cuối cùng phải khuất phục. Từ đấy, Pắc Chăn không ngại chở đàn bà nữa. Tuy nhiên, cả đàn voi vẫn không chịu học Pắc Chăn điểm ấy.

- Không sao - Kên quyết đoán - Pắc Chăn đã chịu, thì cả đoàn cũng sẽ vào khuôn phép hết.

Bước sang mùa mưa, sức khỏe Pắc Chăn có sút đi. Nó ăn nhỏ nhẻ hơn trước. Chúng tôi chỉ để Pắc Chăn chở năm tạ và thỉnh thoảng cho ăn bồi dưỡng. Tuy nhiên nó vẫn cố gắng, không bỏ một buổi đi hàng nào. Đấy là quãng đời cuối cùng tốt đẹp của Pắc Chăn.

Có lẽ vì thế mà suốt những ngày nó ốm cho đến lúc chết, chúng tôi đã quên hết những nết xấu của nó trước kia, chỉ còn lại trong lòng chúng tôi hình ảnh một chú voi ngoan nết, chăm chỉ và giàu tình cảm.

Bây giờ, Pắc Chăn đã chết rồi. Đàn voi lại vắng thêm một con nữa. Cây lim tróc vỏ - chỗ chúng tôi thường xích Pắc Chăn - vẫn xanh tốt như xưa. Chúng tôi chưa cho phép con voi nào được đến thay thế ở đấy. Pắc Đo đã thành voi đầu đàn, nhưng tất cả chúng tôi đều nghĩ rằng, cần phải dốc sức dạy dỗ Pắc Đo, chờ khi nào Pắc Đo thật ngoan nết, thật xứng đáng, chúng tôi mới đưa Pắc Đo đến cây lim tróc vỏ.

*
*   *

Anh Kiên thân mến!

Anh em trong tổ thường nghĩ những điều tốt lành cho con voi vừa chết. Chắc anh cũng thế. Riêng tôi, còn hơn thế nữa - tôi nghĩ những điều tốt lành cho Pắc Chăn như nghĩ những điều tốt lành cho mình, cho anh em trong tổ và cho cả đàn voi - mặc dù mỗi con một tính một nết khác nhau. Bởi vì, bây giờ giá cấp trên hỏi ý kiến tôi, có thích về đoàn xe ô tô, đoàn ca nô hoặc đoàn thuyền như anh, thì tôi thành thật trả lời rằng không. Đã đành phương tiện vận tải gì dù hiện đại hoặc thô sơ - cũng để chở hàng ra tiền tuyến, nhưng phương tiện của chúng tôi là phương tiện có sự sống, có tình cảm. Anh Kiên thân mến, đấy là tâm sự riêng của tôi. Chắc anh sẽ vui vẻ phân tích rằng dù ô tô, ca nô hoặc thuyền… - phương tiện vận tải nào mà chả có sự sống, chả có tình cảm. Anh là người biết nhìn xa, có nhiều suy nghĩ sâu sắc. Với tâm hồn nồng nhiệt trong công tác, với đầu óc giàu tưởng tượng như anh - chiếc thuyền bằng gỗ ngày ngày lên thác xuống ghềnh cũng trở nên biết vui biết buồn, biết yêu thương và căm thù, dường như chính nó cũng có trái tim.

 Xuân Thiều
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #72 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:24:00 am »

                       Thần thoại x.D    
                       Tác giả :Vũ Trường Giang   


Kí giả Haviton đến Sài Gòn vào những ngày xảy ra nhiều biến cố đặc biệt của cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam. Bài báo đầu tiên ông ta viết có tựa đề: “Tố Cộng - thủ đoạn của những tên đồ tể vô tri”. Haviton ngửi thấy mùi xú uế, những nhớp nhơ tội nghiệp trong luận điệu gây chiến của cỗ máy chiến tranh Mỹ đang từng giờ, từng ngày cổ súy, ủng hộ cho những chính khách mặt sắt được hậu thuẫn bởi một vị thần chết cách một bờ Thái Bình Dương.

Ông ta định đến tỉnh Kiến Hòa(1) và làm tiếp những phóng sự chết người trước khi MAAG(2) buộc ông ta phải xuất cảnh sớm. Sau khi viết bài phóng sự trên, Haviton đã lấy chiếc khăn tay thêu cờ Mỹ được ông mua tại một xưởng thêu ở Sài Gòn để lau nước mũi đang ri rỉ chảy ra. Một hành trình công lí đang bắt đầu để có thể chứng kiến sự kì ảo của cuộc chiến.
Tháng 1 năm1960, cờ đỏ phất lên…
Súng nổ chát chúa, xác chết rải đầy trên cánh đồng vừa mới gặt. Mùi tanh nồng và hương lúa thơm quyện làm một, xoắn như cái chết và sự sống siết lấy nhau trong tột cùng của bất hạnh. Cái mũi Bảy quăn sục lên vị căm căm đến ngạt thở. Bảy quăn, một thanh niên mới vào đời, chưa quen chiến trận, khiếp hãi trước cảnh đồng đội hy sinh quá nửa bởi pháo kích, bom, mìn và đạn. Không nên gặp chết chóc và lãng mạn cùng một lúc, chính chúng sẽ đầu độc tâm hồn ta, chỉ còn lại nỗi sợ và hận thù len lỏi trong từng mạch máu! Bảy quăn chạy một mạch vào rừng dừa trước mặt, nhanh như con cá loòng toong quẫy đuôi xuống nước. Bảy chạy được một đoạn thì bị một tiếng gọi run run giật lại. “Đừng có… dzọt như dzậy!”, lại tiếp:  “Cứu… tui với!”.
Bảy quay lui, nhìn thấy một khuôn mặt bê bết bùn đất đang loạy quạy bên bụi điên điển trọc hoa. Bảy nhận ra anh Năm trụi bị thương nặng ở chân, máu rướm ra bệt với bùn, với cỏ. Tiếng súng ngoài kia vẫn nổ. Bọn thủy quân lục chiến lăm lăm tiến tới. Trên đường, tụi bảo an cũng tấp cập yểm hộ. Đơn vị tản mát, mỗi người mỗi ngả chỉ có Bảy là ở gần anh Năm nhất. Bảy quên hết sợ, cúi xuống vác tay anh Năm lên cổ, hai người cùng chạy. Phía sau súng bắn lia lịa, rát bỏng.
Bảy quăn thấy Năm trụi chạy không nổi liền xốc Năm lên lưng lủi vào rừng dừa nước san sát. Bảy bì bõm lội một mạch không dứt hơi, dừng lại lúc này là chỉ có chết. Tụi thủy quân lục chiến cơ động không chịu để yên, bám gót như đi săn. Bảy thấy trước mặt một con lạch nhỏ độ bốn sải tay, dưới lạch gốc bần còn xum xúp. Cạn. Bên kia là một rừng dừa xiêm trĩu trái, cây lá dưới gốc quây quần xanh um. Bảy lội xuống con lạch. Năm Trụi chớp mắt hỏi: “Đi đâu dzậy?”. Bảy quăn trả lời: “Tìm chỗ trú!”.
Hai người qua lạch an toàn, không cá sấu, không lội sâu, không bùn lún. Nhưng lại bị súng ria sát sườn. Địch đã đuổi gần đến nơi. Bảy không thấy mệt nữa, cố gắng vận hết trí lực ra để đối chọi với hiểm nguy. Bảy xốc anh Năm lên, chạy vào rừng dừa cổ thụ. Tụi thủy quân lục chiến định lội qua lạch nhưng sợ đành xúi bọn bảo an lội xuống. Lạ thay thằng nào xuống cũng ngụp đầu, bùn sánh tràn vào miệng. Mấy tên chết ngạt. Thằng chỉ huy hãi quá liền mở đại miệng treo giải: “Bắn bỏ… bắn bỏ được thằng nào… tao thưởng!”. Lính thủy quân lục chiến nghe thế trổ tài bơi lội nhảy ào xuống. Thằng nào thằng nấy cố bơi như đua giành cúp nhà binh. Chúng càng bơi càng thấy rừng dừa bên kia xa vời vợi, cảm giác như cái rừng dừa bên đó đang trôi. Bùn lại sánh. Cái giải thằng chỉ huy treo chẳng thằng nào lấy được.
Bảy và Năm dừng lại trước một gốc dừa xiêm xù xì, đầy rêu mốc. Bảy đứng thở. Năm ngồi bệt hai chân ra trước, cũng thở. Hít một hơi đủ không khí và sức lực, Bảy mới bắt đầu quan sát. “Chao ui, đang ở đâu dzậy!”.
Một rừng dừa san sát cây nọ xọ cây kia, cây trên cây dưới trung trúc như những ngọn núi. Dừa ở dây lạ thiệt, to bự chảng, thân không bạc mà xanh, màu xanh của thân cổ thụ rêu. Bảy tới gần một thân cây, dang tay ôm lấy nó, ôm mãi cũng chỉ đến một nửa tấm thân. Bảy quăn gán ngay cho chúng là rừng dừa đại thụ. Gió ở đây mát, mát đến lạnh gáy. Những lá dừa reo vi vút như tiếng ai hò man mát. Bảy thoáng rùng mình, ngó xuống đất…
Năm trụi nãy giờ cũng nhòm tới ngó lui đến mệt lử. Anh không còn nói được nữa mà thở, thở hồng hộc. Bảy tá hỏa. “Gì kỳ thế hả anh Năm?”. Năm chỉ xuống chân, máu ứa ra một vạt rễ dừa. Bảy xốc anh Năm lên. “Được rồi, chịu khó tí nữa để tui tìm nhà mấy má coi”.
Bảy lại cõng Năm chạy. Trời chạng vạng, bóng tối lan đến nhanh. Đang chạy, Bảy vấp chân, té cái thụp. Bảy và Năm có cảm giác đang rơi hẩng hơ. Ôi thôi, phen này chắc rụng xương mất.
Lạ thay hai người té êm như té xuống cái nệm. Bảy không dám mở mắt, sợ mở ra chỉ thấy toàn bóng tối và chết chóc. Anh Năm thì thở, rên rên “Nước, nước! Bảy ơi!”. Bảy hoàn hồn “Em đây”. Bảy mò bi đông, rớt đâu mất. Bảy mò tới anh Năm trụi. Rờ trúng cái chân, máu ướt cả bàn tay nhoèn nhoẹt. Bảy quớ quýt hỏi, “Bịch nước anh đâu?”. Năm chỉ vào sườn, nhưng chẳng thấy. Anh lại tiếp tục rên khát nước tiếp. Đầu Bảy quăn như có tổ ong, mật ứa ra làm đặc sệt cả ý nghĩ. “Hộp quẹt”. “Đây, ở túi dưới”.
Bảy định thần, lấy tay đánh quẹt. Lửa sáng lên xanh xanh. Điều đầu tiên anh thấy là một nơi lạnh lẽo, ẩm ướt và đặc biệt… thơm, thơm kì lạ. Bảy đứng dậy và không tin cả thân mình không một vết xước, không một vết đau. Anh sờ thấy nước và đoán có mạch ngầm đâu đây. Bảy xỏ túi lấy khăn định tẩm nước thấm miệng anh Năm. Que diêm sắp tàn. Bảy đi mấy bước đến góc hầm có thứ ánh sáng loa lóa nhờ que diêm phản chiếu. Que diêm tàn anh định đốt que khác. Có giọt nước rơi trên đầu Bảy. Bảy ngó lên, nước lại dột. Đầu anh như chạm vào thứ gì đó mềm mềm, nong nóng đến khó chịu.
Bảy đốt tiếp que diêm khác, đưa lên trên cao. Một màu đỏ rười rượi hiện ra, anh nhận thấy một sự khang khác đến kì ảo. “Gì lạ dzậy?”. Bảy đụng vào một bóng nước đo đỏ. Nó mềm mềm, nong nóng y như đụng vào một trái tim. Diêm lại tắt. Lần này Bảy lấy một tờ giấy loại trong bọc ra đốt. Ánh sáng tỏa ra, anh dụi mắt trước một khung cảnh rờn rợn.
Trên trần, lúc lỉu những quả đo đỏ như những trái dừa con. Anh với tay đụng vào lần nữa. Sự sống hiện lên, luồn vào vào từng mạch máu trên tay anh.
Năm trụi nằm dưới đất lại kêu khát. Bảy sực tỉnh người. Như có ai mách bảo, anh hái một trái lạ màu đỏ xuống, đoạn bổ ra, đưa vào miệng anh Năm. Lửa tắt. Bảy chỉ còn nghe thấy tiếng anh Năm uống soàm soạp, háo hức như người chưa hề bị thương. Tay Bảy bê bết nước sệt mà thơm từ thứ trái lạ đó. Anh đỡ cho đến khi Năm trụi uống hết nước trái lạ. Bảy lại lò dò tìm hộp quẹt. Tìm không có, Bảy nằm lăn ra mệt lử, hỏi Năm: “Sao rồi, đỡ khát chưa?”.
Năm trụi hỏi lại: “Mày cho tao ăn thứ gì dzậy?”. Bảy hốt hoảng: “Sao hả anh Năm, khó nuốt lắm à? Anh cảm thấy sao rồi?”. “Ngon quá chừng à, như ăn tiết canh vịt má tao làm dzậy! Tao khỏe re rùi à!”. Bảy quăn ngạc nhiên “Là sao anh???”. Năm trụi nói bô bô “Đã quá chớ sao!”. Bảy ngạc nhiên “Em coi lại vết thương cho anh!”. “Thôi, khỏi. Tao ngon lành rồi. Mày ngủ tí đi!”
Bảy quăn định nói gì thêm nhưng cơn buồn ngủ kéo đến quá nhanh khiến Năm trụi phút chốc thở phì phò. Bảy ngồi một lúc rồi cởi áo ra đắp cho Năm, xong cũng nằm lăn ra đánh một giấc.
Sáng ra, Bảy mở mắt đầu tiên. Ánh nắng đồng bằng chắt chiu rọi vào lỗ hổng của cái hầm sau một mùa mưa ướt át. Bảy dụi mắt, ngồi dậy. Anh Năm còn nằm chợp giấc, dáng ngủ thấy thương, queo quắt như một đứa trẻ mắc bệnh. Bảy nhìn khắp căn hầm. Nói hầm thì không phải lắm, đó là một hang động. Mà hang động cũng không phải, hang động gì mà toàn rễ cây. Bảy đi về phía đám rễ cây. Kinh nghiệm của đứa con hơn hai mươi năm sống ở xứ này cho Bảy biết chắc rằng đó là rễ dừa. Rễ dừa bò tứ tung, không có màu nâu sẫm, nâu lợt lạt, màu ngó sen mà toàn một màu trắng, trắng như gạo. Cái rễ nhòm đúng thiệt là ngon con mắt. Bảy lại ngó lên trần. Những trái đo đỏ có nắng chiếu vào đẹp mê hồn. Những trái dừa mọng nước đỏ, đỏ đến thèm thuồng. Bảy nhòm xuống tay, tay sền sệt thứ nước đỏ hôm qua, y màu máu. Bảy thấy đói, anh đứng dậy hái một trái ăn thử. Trái mọc ra từ những rễ cây, treo tòn ten. Bảy véo mạnh, trái dừa đỏ nằm gọn trong tay. Đưa lên miệng ăn thử. Má ơi! Chết mất thôi, ngon như ăn đào của Vương Mẫu nương nương, ngọt, thanh, mát và… đã. Người anh lâng lâng như ăn phải thuốc tiên, người nhẹ hều, thanh thoát, bụng dạ mát rượi, đói bay đi đâu mất. Bảy ăn thêm trái nữa thì anh Năm thức giấc.
Năm hỏi: “Ở đâu đây mày?”. “Dưới động dừa, dậy ăn tiếp dừa huyết nghen anh Năm”. Năm luớ quớ: “Gì hả Bảy, dừa huyết là cái cóc gì?”. Bảy trơ ra, không hiểu sao mình lại nói đến thứ dừa lạ đó. Mà thật ra đâu có lạ, nó là thứ dừa máu, gọi là huyết cũng đâu có sai. “Chính nó cứu anh hôm qua đó. Hôm nay, nó lại cứu tôi khỏi đói, ăn tiếp nè”. Năm ngớ người ra: “Ừ. Đúng à hen! Cho tao trái nữa đi Bảy!”.
“Chân anh sao rồi?”. “Cũng đỡ đỡ rồi”. “Máu còn chảy nữa không?”. Bảy đưa chân anh Năm lên, máu vẫn còn rướm rướm. Bảy lẹ làng cởi cái quần đen ra, xăm soi vết thương. “Má ơi, đạn xoáy nguyên một lỗ to bằng trái bòn bon, thịt toe toét”. Như có ai mách bảo, Bảy quăn đứng dậy, đi tới động dừa bứt mấy cái rễ trắng. Anh nhai ra thành một thứ bã như cơm nếp giã nhuyễn rồi đắp vào chân Năm trụi. Năm rên hừ hừ một chốc rồi nói như hét: “Tao lại khỏe re rồi mày ơi, thuốc gì kì dzậy?”. Lại một lần nữa Bảy phát ngôn đến khó hiểu “Rễ tiên”.
Bảy để Năm nằm nghỉ trong động. Anh đu mình leo lên trên mặt đất. Anh quay lại nhìn cái động thì tá hỏa. Té ra là đêm qua hai anh em ở trong một cái hốc dừa, một cái hốc to chưa từng thấy, to gấp đôi miệng giếng. Bảy liền loanh quanh khám phá cái rừng dừa này. Trời ơi, ở đây có đủ loại dừa luôn. Dừa xiêm, dừa lửa, dừa dứa, dừa dâu… đều có hết. Dừa không cao lắm nhưng thân to quá cỡ, gốc lại đặc biệt lớn. Xem bộ dừa ở đây giống như cây nọc bình hơn. Trái dừa thì lủng lẳng treo đầy buồng. Đi độ vài vòng quanh rừng Bảy nhận ra đây là một cù lao nhỏ, bốn mặt đều có nước. Ước lượng bước chân to cỡ sân bóng. Bảy leo lên một cây dừa cao để quan sát thì quả đúng thế thật. Anh hái mấy trái dừa rồi tụt xuống. Trời bắt đầu ru gió. Lòng Bảy phơi phới một mùi vị xa xăm khó tả.
Cùng lúc đó, Haviton sắp có chuyến đi khảo sát về tỉnh Kiến Hòa. Ông ta được các cố vấn quân sự Mỹ giới thiệu tới các đơn vị hành quân, nơi có thể cung cấp cho kí giả những trang viết thực tế chiến trường. Tuy nhiên, trước khi đi, Haviton muốn nghe một vài lời từ lương tâm nước Mỹ.
Cuộc đối thoại thứ nhất: giữa Haviton và cố vấn quân sự Richard Hoon.
Kí giả Haviton: Chào ngài cố vấn, ngài đã đến Việt Nam lâu chưa?
Cố vấn Richard Hoon: Từ ngày gia tộc họ Ngô được tâng bốc để nắm quyền đến giờ.
Kí giả Haviton: 1955? Ngài có thấy chúng ta đang phiêu lưu ở một vị trí chiến lược hết sức nhạy cảm này?
Cố vấn Richard Hoon: Vâng, Tổng thống Aixenhao đã lấp chỗ trống. Tổng thống Kenedy đang cân bằng cuộc đối thoại không lời trong Chiến tranh Lạnh. Nếu gọi đó là phiêu lưu thì chúng ta đang dạo một khúc đàn êm tai cho ván cờ ở Đông Nam Á. Domino sẽ bị chặn đứng bởi một cường quốc văn minh nhất thế giới.
Kí giả Haviton: Các ngài có cảm thấy có tội với dân tộc này?
Cố vấn Richard Hoon: Không. Tôi chỉ hướng đạo cho họ.
Kí giả Haviton: Cám ơn câu trả lời của ngài. Chúc ngài sớm có một viễn cảnh tốt đẹp. Chào ngài!
…Tư xồm và Sáu trọc theo chân giao liên đi từ Tân Phú lên thị xã. Tư xồm dáng người to con mà ăn nói thì cộc lốc dù rằng đã ba mươi lăm lẻ. Sáu trọc mới ba ba tuổi mà tóc chẳng còn mọc nổi, y chang đứa bé mới lọt lòng. Hai người đi bám chân giao liên, cùng luồn qua những hàng rào, lần mò qua từng thân dừa. “Nói là lên phố chớ thật ra là lên ngang ngoại thành gặp mặt anh em lấy hàng rồi dzọt dzề liền”. Đang đêm Tư xồm oang oang “Con mẹ mấy thằng bảo an, giờ này mà còn thắp đuốc đi lui đi tới. Tui mà có B40 tui phụt cho chúng nó một trái rồi!”. Sáu trọc chen ngang “Tội quá ông ơi. Mẹ cha gì ở đây. Đi nhanh mà còn về! Ít bữa rồi xả láng. Bọn nó kìm kẹp mình quá đáng, có chỉ thị là xông lên liền”.
Tư xồm chịu nghe nhưng mặt mày cay cú: “Giáo với mác thì làm ăn gì với tụi nó”. “Dzậy mới tài!”. Sáu cười khà khà. “Ông lãnh binh Thăng lấy trái mù u mà còn dập cho tụi Pháp chạy tóe khói. Tụi mình ít ra cũng có vài khẩu, mai phục cho ổn thì dư sức hạ tụi nó”. “Ừ, hén. Mà…”.
Tư xồm chưa dứt lời thì anh giao liên đi đầu ngã cái rập. Một ánh lửa tóe lên, hai người đi sau chạy tản ra, hét lớn: “Phục kích”. Một tràng trung liên nổ giòn giã, vai Tư xồm dính đạn. Sáu trọc nhảy bừa vào một bụi cây. Tư xồm chửi “Con mẹ mày, bắn vai ông chảy máu!”. Trung liên vẫn bắn rát, quật tung cành lá. Hai người còn lại chạy được một đoạn thì nghe tiếng “A!” thất thanh. Sáu trọc nói loáng thoáng “Mày còn lựu đạn không, ném mẹ tụi nó đi”. Tư xồm dù đau điếng người vẫn lấy mò thắt lưng lấy một quả, giật chốt, ném cái vèo. Lựu đạn nổ, trung liên câm họng. Tư giật thêm quả nữa rồi bò qua đường, gặp Sáu trọc, Tư mừng quýnh “Cứu tao với mày ơi, vai tao toác rồi!”. Hai người lủi theo đường cũ ra sông, gặp cái xuồng của một má đi chợ sớm. “Má ơi, cứu tụi con dzới!”. Má chèo lại “Tao nghe súng nổ, biết là có phục kích rồi, tụi bây lên đây để tao chống đi. Khốn nạn mấy thằng trâu chó!”
Má bơi xuồng qua sông, trời hừng hửng sáng. Tư xồm mất máu nhiều quá, bất tỉnh. Má tấp xuồng lại một rừng dừa lớn. “Tụi bay lên đây trốn tạm, trưa tao ghé đưa đồ”. Sáu trọc lúi húi “Cám ơn má”. Má quở “Cha bây, đi nhanh kẻo lộ!”. Sáu bế Tư, lủi vào rừng dừa san sát trước mặt. Trời sáng. Sáu há hốc trước cảnh tượng chứng kiến. Thiên đường hay chốn ma quái nào đây? Sáu đặt Tư xuống một gốc dừa rồi đi tìm lá đắp tạm. Đang định đứng dậy thì một khẩu súng dí vào gáy. “Đứng yên”. Sáu rụng tim “Dzậy là hết!”. Trước khi chết, Sáu quay lại nhìn kẻ bắn mình như những bậc quân tử ngày xưa từng làm, xem cái “thằng Trịnh Hâm” nó thế nào. Sáu quay mặt lại, đôi mắt kia nhìn chằm chằm… thân ái. “Anh thuộc đơn vị nào?” “thằng Trịnh Hâm” hỏi. “Đơn vị C.264”, Sáu trả lời, nói tiếp “Tụi tui bị phục kích, chết hết, anh Tư đây bị thương”. “Thằng Trịnh Hâm” thôi không dí súng: “Đỡ anh Tư dậy, vào đây tui trị vết thương cho”. Đoạn tiếp lời “Tui là Bảy quăn, đơn vị C.269, đồng chí cùng với tôi đỡ anh Tư nào”. Sáu trụi hớn hở. Bảy quăn nói vọng: “Anh Năm ơi, có thương binh, chuẩn bị giường chiếu”.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #73 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:26:01 am »

                                    Tiếp theo :

Sáu trọc cùng Bảy quăn dìu Tư xồm vào động dừa. Sáu kinh ngạc trước những thứ lạ kì chưa từng thấy. Bảy nhỏ từng giọt dừa huyết cho Tư ăn, anh Năm nhai rễ tiên rịt vào vai Tư. Độ tàn điếu thuốc, Tư xồm cựa mình, mặt tỉnh như sáo. Sáu trọc phục lăn.
Bảy quăn rôm rôm: “Đây là một cái cù lao”. Sáu trọc: “thiệt hả?”. “Ừ, em đặt tên cho nó rồi, vì nó cứu anh em mình nên đặt là cù lao Rùa. Trên này không có người, nhìn hoang sơ lắm. Mà lạ à nghen, hình như nó đang trôi lên Trúc Giang(3#) đó”. Tư xồm: “Tụi tui cũng định lên đó. Cù lao mà trôi à. Ngộ quá ta!”. Năm trụi cười ha hả: “Anh em bị thương cứ ở đây mà dưỡng thương, khi nào lành hẳn bắt liên lạc với đơn vị sau. Ít bữa lại ra phá bót tiếp. Giờ anh Sáu theo tui đi bắt cá lóc dzề nướng nhậu chơi đi”. Sáu trụi ngớ người: “Rượu đâu hả anh Năm?”. “Đó là cái tài của tao mừ, khà khà!!!”.
Haviton đến Kiến Hòa. Ông ta có những cuộc gặp mặt thú vị.
Đáng kể là cuộc đối thoại giữa Haviton và Tham mưu trưởng lực Lượng quân sự tỉnh Kiến Hòa:
Kí giả Haviton: Ngài thấy chính sách của Ngô Tổng thống và MAACS thế nào?
Tham mưu trưởng: Chỉ có những bộ óc siêu việt nhất mới nghĩ được như mấy ổng.
Kí giả Haviton: Ngài có tin rằng các ngài sẽ thắng với các chính sách đầy lửa đạn… và quân đội các ngài tiếp quản được Bắc Việt?
Tham mưu trưởng: Việc tiếp quản được hay không là vấn đề thời gian. Tôi tin chắc rằng với sự lãnh đạo tài ba của Ngô Tổng thống và sự hậu thuẫn nhiệt tình của đất nước các ngài thì chúng tôi sẽ chiến thắng.
Kí giả Haviton: Có lẽ ngài nên đảm đương chức vụ này thêm ba năm nữa. Chào ngài!
…Chú Hai muối tiêu là cán bộ tăng cường từ miền Đông vào. Đêm tháng 2, chú định vượt sông Hàm Luông về Định Thủy. Ba hói đi theo bảo vệ. Hai người lên xuồng vượt sông. Ai dè, qua tới giữa dòng thì đụng tàu chiến địch đi tuần. Thấy xuồng là chúng nã đạn xuống nước. Cả hai vội nhảy khỏi xuồng, lẩn vào đám lục bình. Chiếc xuồng bị bắn tan hoang. Cả hai người dù lặn trong lục bình vẫn bị đạn bắn trúng. Chú Hai muối tiêu bị đạn xuyên qua cánh tay, cố nhịn đau, bơi chừng khó khăn lắm. Chú Ba hói thì bị đạn sượt qua đầu, ăn mất mảng thịt, rát buốt. Hai người đợi tàu đi xa mới trồi lên, gắng sức bơi qua bờ. Bơi mãi, bơi đến khi chạm rễ dừa thì xỉu luôn. Đến khi mở mắt dậy, chú Hai muối tiêu đã thấy mình ở trong một căn hầm, bên cạnh có mấy anh em đang chăm sóc, lau rửa vết thương. “Ở đâu đây hả mấy anh? Mà mấy anh là ai vậy?”. “Tụi cháu là du kích ở vùng này. Chú cứ nằm nghỉ đi, vết thương sẽ chóng khỏi thôi”. Chú Hai muối tiêu không thấy đau như hôm qua nữa. Ba hói cũng đã ngồi dậy, đầu rịt một thứ trăng trắng, nhêu nhễu. Rồi họ lại nghe Bảy quăn, Năm trụi, Sáu trọc, Tư xồm kể về cái cù lao lạ nhất nước Việt Nam này, về trái dừa huyết, rễ tiên và cù lao Nhà Thương. Chú Hai và chú Ba nghe xong mặt mày ngơ ngác như ở cung trăng xuống. Rồi già trẻ lớn bé hàn huyên tâm sự. Cù lao vui hẳn lên.
Cuộc đối thoại thứ ba giữa Haviton và quận trưởng Mỏ Cày sau khi ông ta đi thực tế ở trung tâm Đồng Khởi diễn ra như sau:
Kí giả Haviton: Các ông có cho rằng cuộc chiến mà các ông tiến hành đang chà đạp lên chính nhân phẩm các ông?
Quận trưởng Mỏ Cày: Thiệt là oan cho chúng tôi quá. Ngô Tổng thống và mấy ổng ở trển bảo sao thì tụi tui nghe dzậy, làm dzậy à!
Kí giả Haviton: Quân đội các ông đã giết oan nhiều người? Ông có xem đó là một tội lỗi?
Quận trưởng Mỏ Cày: Không oan đâu. Giết lầm còn hơn bỏ sót.
Kí giả Haviton: Ngài rất xuất sắc với tư cách là một viên quận trưởng. Chào ngài!
Cù lao Nhà Thương dần dần trở thành một trạm y tế dã chiến, thi thoảng đón cán bộ, chiến sĩ bị thương dạt về điều dưỡng. Dừa huyết thay máu, rễ tiên làm thuốc, ai tới chữa đều lành, độ dăm bữa nửa tháng lại cầm súng chiến đấu ngon lành. Phần lớn thương binh ghé cù lao đều chiến đấu trên mặt trận Mỏ Cày, Giồng Trôm. Họ ở lại trị thương dần dà nhiều đến độ biên chế thành một trung đội thiếu do chú Hai muối tiêu chỉ huy. Trong những ngày tháng Đồng khởi, địch đổ quân mạnh, dùng chiến thuật “quả trám” để bao vây tiêu diệt, riêng cù lao Nhà Thương im lìm tiếng súng, chẳng có quân nào đổ vào. Trung đội nhờ đó có cơ hội thao luyện. Dưới sự chỉ dẫn tận tình của cán bộ Miền như chú Hai, chẳng mấy chốc, kĩ năng tác chiến của anh em được nâng cao. Chừng ấy người đều có sức chiến đấu tốt. Họ lấy tên là trung đội Tri Nghĩa. Mọi người ai bị bệnh bị thương thì được ăn trái huyết, còn lại ăn dừa và uống nước dừa để sống y như ông Đạo Dừa đã từng làm. Ăn dừa thế cơm mãi cũng thấy quen, nhịn một bữa là lại cồn cào.
Một hôm, Bảy quăn lang thang một mình, phát hiện ra có chiếc hầm ở ngay cây dừa sát mé nước. Bảy tìm ra một hầm vũ khí lạ. Đó là những khẩu súng bằng gỗ dừa đen thui và những viên đạn đá. Bảy đem lên bỏ đạn vào thử, bóp cò, viên đá bay cái vèo đục thủng lỗ một cây dừa. Bảy khiếp hãi, chạy về báo cho toàn đơn vị biết. Mọi người được phát vũ khí, mỗi người một cây, nhìn ai cũng oai vệ, ra dáng lính chiến lắm. Tư xồm vênh vênh: “Súng này oai hơn súng cà mèn và ngựa trời nhìu ha!”. Cả đội cười tít mắt, vỗ tay rào rào.
Chú Hai muối tiêu huấn luyện cách bắn. Trong đầu chú đặt câu hỏi lớn: “Mình đang ở đâu đây? Toàn những điều quái lạ!”.
Kí giả Haviton đến quận Mỏ Cày để làm một loạt phóng sự về Đồng Khởi. Ông ta tiếp xúc với nhiều lính Việt Nam Cộng hòa. Dưới đây là cuộc đối thoại giữa Haviton và anh lính thủy quân lục chiến.
Haviton: Chào anh, vì sao anh lại phải vào quân đội? Không còn việc gì phù hợp hơn với anh ư?
Anh lính: Tui bị bắt quân dịch.
Haviton: Anh từng giết người chưa?
Anh lính: Chắc là có. Tui hay lia đạn lung tung, sau mỗi đợt lia, có nhiều tiếng la hét.
Haviton:  Anh có muốn lấy một người vợ?
Anh lính: Chắc là không rồi. Thời thế này mà lấy vợ thì vợ thành góa phụ mất.
Haviton: Anh có muốn chiến tranh kết thúc?
Anh lính: Dĩ nhiên. Tui ngán bắn giết lắm rồi. Đã năm năm nay tôi làm việc đó.
Haviton: Cám ơn anh. Anh đúng là một người lính tốt.
Cuối tháng 3 năm 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổ quân vào đàn áp phong trào Đồng khởi. Hơn 10.000 quân tràn vào 3 xã Phước Hiệp, Định Thủy, Bình Khánh của huyện Mỏ Cày. Tình hình rất nguy ngập. Ngày ngày tiếng súng vang lên cùng những đợt càn quét, bao vây. Sống trên cù lao Nhà Thương mãi cũng ngán, lại nghe súng nổ thấy bồn chồn. Chú hai muối tiêu họp anh em trong trung đội Tri Nghĩa lại.
“Súng nổ bên Mỏ Cày như dzậy, tui e là có chuyện không hay với phong trào Đồng khởi của chúng ta rồi. Ngồi yên đợi giặc không bằng ta đánh chúng trước. Anh em ta đã khỏe lại sau những ngày ở trên cù lao Nhà Thương, súng ống, đạn dược cũng đã có rồi. Chúng ta quyết sống mái với quân thù!”
Anh em trung đội Tri Nghĩa nghe vậy hào hứng hô vang: “Sống mái với quân thù! Sống mái với quân thù!”
Bảy quăn đứng lên, giương súng bắn chỉ thiên nghe đoàng một tiếng oai dũng. Ai ngờ phát súng trúng quả dừa làm nước phun xuống cả tóc Tư xồm đang ngồi dưới gốc. Tư phát cáu, rượt Bảy chạy khắp cù lao.
Chiến cuộc Đồng Khởi sôi động bởi phong trào chính trị. Trong đấu tranh chính trị các chị, các má luôn đi đầu. Haviton không tìm được người du kích nào để phỏng vấn. Ông ta liền xuống Mỏ Cày phỏng vấn các má đang biểu tình.
Dưới đây là cuộc đối thoại giữa Haviton và các bà má Mỏ Cày.
Haviton: Bà có con theo Cộng sản không?
Má Sáu: Ông mắt xanh mũi lõ dzậy mà tui khai dzới ông à!
Haviton: Tại sao bà lại đứng đây cả ngày để biểu tình, bà không thấy mệt sao so với cái tuổi của bà?
Má Sáu: Bộ ông không mệt sao khi hỏi tui câu đó. Tui thế này làm sao mệt bằng anh em chiến sĩ phơi mình trần ngoài bùn, ngoài nắng để đánh lại lũ ác ôn các ông.
Haviton: Bà có phân biệt đối xử với những gia đình có người tham gia quân đội quốc gia?
Má Sáu: Tui không phân biệt gì hết. Tui đi biểu tình là cốt để lôi cổ tụi nó dzề. Tụi nó cũng là con cháu tui. Hôm nay tui đi cùng bà Tám là mẹ của thằng Ba lèo bị bắt dịch đây. Tui thương tụi nó.
Haviton (hỏi má Tám): Tại sao bà lại đi gọi con về?
Má Tám: Tui không muốn con tui làm thằng bất nghĩa. Đi vào đó rồi cũng trở thành ác ôn cả thôi, không sớm thì muộn rồi tui cũng phải đi nhặt xác nó về. Khổ lắm ông nhà báo à?
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #74 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:27:59 am »

                                 Tiếp theo :

Haviton: Bà cần gì nhất lúc này?
Má Tám: Hòa bình được lập lại, con tui lại về nhà trèo dừa cho tui bán. Tui chỉ ước chừng đó à!
Haviton (hỏi má Sáu): Bà có tin là cách mạng sẽ chiến thắng?
Má Sáu: Tin chớ, sao không tin. Cụ Đồ Chiểu nói rồi chính nghĩa thắng gian tà mà. Bộ chưa đọc Lục Vân Tiên sao? Khùng!
Haviton: Má đọc cho tôi một đoạn được không?
Má Sáu: Muốn biết thì tự đọc hay hơn. Tui phải đi biểu tình. Lên nào các bà ơi! Kêu cái thằng quận trưởng ra đây đối chất? Mày ăn cơm đất này sao lại kêu giặc về giày mả tổ hả thằng bất lương, bất nghĩa?
Haviton:Huh
Haviton nhận được điện thoại của MAAG buộc phải quay trở về Mỹ. MAAG không muốn ông ta có thêm bất kì một phóng sự nào về Đồng Khởi. Haviton lặng lẽ bước đi. Chợt ông nghe tiếng súng nổ liên hồi. Có kịch chiến! Haviton ôm máy ảnh lao ra để chụp chân dung những người lính cách mạng.
Đội quân chừng mười mấy người mặc toàn đồ ba ba đen, đầu chịt khăn rằn đang nổ súng đọ với một tiểu đoàn thủy quân lục chiến nơi bờ sông. Những viên đạn lạ bay vèo vèo, đụng chỗ nào là vỡ chỗ đó. Mấy cái bót mới đánh hiệp đầu đã thành cái tổ ong. Tàu đậu trên sông cũng chịu chung số phận. Lính Cộng hòa tử thương quá nhiều. Lại có lính tăng viện. Quân du kích chừng thấy địch nhiều quá liền mở đường máu để rút. Haviton thấy những chiến sĩ cách mạng lao băng băng, trên tay cầm khẩu súng màu đà đà kỳ lạ nhất trong lịch sử các loại vũ khí hiện đại. Haviton chụp liên hồi. Quân Cộng hòa ùa lên lớp lớp. Trung đội Tri Nghĩa vừa đánh vừa dạt vào rừng. Nhiều người đã ngã xuống vẫn kiên hùng bắn những phát đạn cuối cùng. Trận đánh dứt.
Haviton chạy lại chỗ một chiến sĩ du kích vẫn còn thoi thóp, cái khăn rằn trên đầu ngập một nửa trong bùn, chỗ lộ ra le the những sợi xoăn xoăn. Haviton cố lấy giọng Việt thật chuẩn để hỏi:
- Anh có ổn không? Anh tên gì?
- Lấy giùm tôi trái huyết trong túi.
Haviton làm theo. Anh ta ăn trái huyết, một chốc nói giọng tỉnh hơn:
- Sao ông không giết tui?
- Tôi là kí giả, không phải lính.
- Dzậy à, tui là Bảy quăn. Ông hãy nói với lính Mỹ là hãy cút về sớm đi, bằng không thì các ông chết mất xác ở xứ tôi đó.
- Cách mạng sẽ chiến thắng? - Haviton hỏi lại.
- Phải, không sớm thì muộn cũng thắng...
Bảy quăn dứt lời lại rên lên. Viên đạn cắm vào ngực anh quá sâu. Bảy tắt thở. Trái huyết chảy xèo xèo. Haviton thấy trên tay anh ta còn mảnh giấy bê bết máu. Trong đó chép một bài thơ. Haviton đọc được những câu như thế này:
“…Chí dân đoàn kết một nhà
xứ Dừa đồng khởi nhất tề xông pha
tiến lên cứu nước cứu nhà
dù trai hay gái cũng là chiến binh

Quyết…
đập cho Mỹ - Ngụy liêu xiêu
tan ấp chiến lược hết kiêu Cộng hòa
Mỏ Cày đốt bốt làm quà
dâng lên Tổ quốc nhà nhà noi gương”
x.D
28/3/1960
Ở dưới kí tên: Bảy quăn.
Cuộc đối thoại thứ sáu kết thúc bằng cái chết của một người lính. Bình minh của chiến tranh bắt đầu le lói. Haviton lên thủy phi cơ, bay theo dòng sông để ra tàu tuần dương về Mỹ. Đến cửa Hàm Luông, ông ta thấy một cù lao xanh mướt màu dừa đang trôi nhanh ra biển. Ở trên đó có cắm một lá cờ đỏ sao vàng đang bay phấp phới. Haviton nhìn cù lao lạ kì, lấy máy ảnh chụp liên hồi. Chụp mãi tự dưng thấy cù lao phụt lửa lên xanh lét rồi nhanh chóng biến mất trước mắt ông như có phép màu. Haviton kinh hãi. Ông lật lại mảnh giấy bê bết máu của người du kích kia. Haviton trầm ngâm trước hai chữ: x.D.
Ông ta lập tức lấy bút ra viết bài phóng sự mang tên: Thần thoại x.D

Trại sáng tác Bến Tre, tháng 7/2010
VŨ TRƯỜNG GIANG
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #75 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:32:00 am »

                                           Người đàn bà của đêm    
                                           Tác giả :Nguyễn Mỹ Nữ

Đã gần hai tuần nay, tôi ở đây.
Tôi lang thang dọc bờ sông nhìn những cái ghe chở dừa, ngắm rặng bần trên nước, trú mưa nơi vòm cổng ở một khách sạn rất hiện đại… và tự hỏi, chị giờ nơi đâu? Người phụ nữ mà do thời cuộc đã dạt xô tới phố biển ngoài kia của tôi. Người đàn bà Nam bộ hiếm hoi mà tôi có thiện cảm trong muôn vàn những người đàn bà con gái nói tiếng miền trong. Vì sao ư? Vì hầu hết trong số họ, nhởn nhơ làm thứ công việc mà tôi không thể nào chấp nhận được trong đó là khoảng thời gian Mỹ quân sự, dân sự rồi là lính Đại Hàn tràn ngập thành phố của chúng tôi kéo theo sự hỗn tạp, xô bồ và quá nhiều tệ nạn.
Nhà tôi ngày ấy bán tạp hóa ở phía trước và có dãy phòng cho thuê ở phía sau, cả dưới tầng trệt lẫn trên lầu. Chồng chị thuê một phòng của nhà. Hôm đến anh đã chẳng trả treo giá cả gì hết mà còn xuề xòa tâm sự ngay với mẹ dù mới gặp lần đầu: “Má biết hôn? Có cái này đỡ lắm! Đặng hồi rảnh về thành phố có chỗ ăn nghỉ với lại… con sắp có vợ rồi. Lo mướn nhà trước đặng dẫn ra ở nữa chứ!”. Và, cái người anh dẫn ra sau đúng bốn tháng mướn phòng của nhà tôi không ai khác, chính là chị. Chỉ có bốn tháng, lại đi về không thường xuyên, nhưng anh Phước đã khiến cho mọi người trong gia đình tôi quý mến bởi tính anh quá hiền và rất tội. Anh, là sĩ quan thám báo thuộc Trung đoàn 41, Sư đoàn 22 bộ binh. Anh có trồng một cái răng vàng ở hàm dưới và chị em tôi hay hát mấy câu này để ghẹo: “Cười lên đi cho răng vàng sáng chói. Hát lên đi để cho đời le lói…”.
Bữa chị ra, anh lấy chiếc Jeep lên phi trường đón. Tới nhà, vừa mở cửa xe đã rống giọng kêu inh ỏi: “Mấy em ơi! Ra mà đón chị bay nè. Má ơi! Vợ con nè!...”. Mọi người đổ ra, dòm ngó săm soi khiến chị lúng túng. Thấy thương sao! Chị chẳng có gì nổi bật. Không cao không thấp không đẹp không xấu, da không trắng cũng chẳng đen. Người không quê nhưng cũng chẳng đô thị chút nào. Vậy mà vừa thấy là tôi mến ngay. Một tình cảm hết sức mơ hồ mà mạnh mẽ xâm chiếm toàn vẹn con người tôi. Thứ tình cảm ấy như chỉ rõ cho tôi, là tôi sẽ còn thương quí quyến luyến mãi với người phụ nữ này. Mãi mãi.
Người đàn bà ở xứ đạo An Hiệp.
Người đàn bà có quê quán ở Châu Thành, Bến Tre.

*
*     *
Chị không dám ngủ một mình mà anh thì có tuần ghé về được một hai bữa, có tuần không. Anh cười giơ cả răng vàng giơ cả lợi, nói: “Má coi cho em nào lên ngủ với vợ con giùm”. Mẹ tôi chẳng chỉ định rõ ai, mặc cho hai chị em tôi giành qua, giành lại. Giành bắt chán chê vẫn bất phân thắng bại nên sau rốt phải giải quyết bằng cách đánh tù tì vì cả hai đều rất thích được lên ngủ với chị chỉ bởi một lý do duy nhất, là được coi ti vi cho nó đã đời. Chỉ có vậy! Chẳng là ngày ấy đâu phải nhà nào cũng sắm được cái vô tuyến truyền hình. Cả xóm đâu có chừng hai cái và từ đàn ông cho tới đàn bà, người lớn cho tới con nít đều ngồi xếp hàng xếp lớp ở nhà người ta để theo dõi kịch Kim Cương, Túy Hồng…; để coi chương trình ca nhạc “Tiếng tơ đồng”, “Jomarcel”… Bà chị kề tôi có vẻ quyết tâm dữ lắm! Quyết ăn thua đủ khi lao vô trò đánh tù tì với tôi, một cách thô bạo. Vậy mà sau hai lần huề, xui rủi sao lần thứ ba chị ra “tờ giấy” tôi lại ra “cái kéo”. Nhìn mặt chị méo xệch, tôi chọc: Vậy nghe! Kéo này sắc dữ lắm! Cắt roẹt, roẹt… Chị tôi nhỏ nhen để bụng, tối tối, hành hạ em bằng cách bắt làm đủ thứ việc linh tinh rồi lại còn xúi ông anh kiểm tra bài vở hết sức gắt gao, mới cho tôi được đi… ngủ lang.
Vợ anh Phước ban ngày thấy tươi tỉnh, mau mắn, nhưng ngó bộ rất buồn vào ban đêm. Có khi, tôi còn thấy chị khóc. Căn phòng có lúc không bật đèn, ti vi có khi không chịu mở. Chị đứng trước cửa im sững, mái tóc rũ qua một bên. Bóng người nhỏ bé và chênh chao trong thứ ánh sáng nhợt vàng lắt lay từ phòng kề bên hắt lên khoảnh tường đối diện. Nhiều năm sau, chiếc bóng lẻ loi và thứ ánh sáng chập chờn nhiều ma mị giấc khuya ấy còn ám ảnh tôi. Năm đó tôi mười bảy và chị hai ba. Tôi tên một loại hoa hết sức thông thường - Cúc. Chắc không phải cúc trắng vì da tôi đâu có được vậy. Vàng, càng không. Và chẳng lẽ có một loại cúc đen cho phù hợp với tôi. “Đứa con gái miền biển da nâu giòn, săn chắc”, chị hay gọi tôi bông lơn vậy cho vui chứ đâu có mấy hồi kêu Cúc. Trong giao tiếp hàng ngày chị một điều cưng hai điều cưng, giọng nũng nịu mè nheo. Đáng yêu và êm tai hết sức. Còn tên chị? Không thuộc về ngày. Không ánh mặt trời, không sáng lóa, không bừng tỏa. Là Đêm. Tôi cau mặt: “Tên gì kỳ cục! Tên nghe núp lén, bí mật quá chừng. Chị thêm: Bí ẩn và trắc ẩn nữa chứ. Tôi hiểu loáng thoáng hai từ đầu và rất lâu về sau này mới hiểu hết được hai từ sau. Hiểu và buồn lặng.
Cứ nghĩ được đi ngủ lang. Được lên phòng chị để coi ti vi ai dè, toàn là chóc mỏ nghe chị kể chuyện. Chẳng chuyện của ai. Chỉ chuyện của chị. Chuyện về cái xứ đạo có tên An Hiệp. Về Châu Thành. Về quê nhà mênh mang dạt dào sông nước của chị. Lần đầu, tôi biết đến cái tên Kiến Hòa và qua chị thấy gần chứ hồi giờ cứ nghĩ, ở đâu đó xa lăng lắc. Một cái tỉnh nằm tút tận miền tây mà mình không cách gì hình dung ra được. Chị Đêm nói, chị ưng anh Phước vì ba chị ép. Ba chị với ba anh Phước là bạn. Nhà ở khác huyện nhưng cùng đi học trên tỉnh. Ở trọ chung một nhà học chung một lớp. Thân thiết lắm! Hai người hứa làm sui với nhau từ hồi chị mới qua cấp hai chứ mấy. Ba anh Phước làm vườn, trồng cây cảnh để sinh sống và hiền khô. Còn ba chị là sĩ quan thuộc chi khu Kiến Hòa, dữ hết biết! Trước khi có chồng, chị đã thương một người học trên Sài Gòn, học trường bảnh dữ lắm! Học bên Phú Thọ ra làm tới kỹ sư đó cưng, nhưng ảnh có tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh. Ba chị biết, đùng đùng nổi giận. Xách súng ra phía trước bắn chỉ thiên đúng ba phát rồi ông xách súng vô nhà kê ngay màng tang, (chị nói thêm: màng tang chị chứ không phải màng tang ổng) gằn giọng: “Mày bỏ nghen con. Không, tao làm một phát khỏi ân hận vì lỡ sinh ra đứa con gái mê Việt Cộng”.
Chị chưa kịp bỏ, người đó đã bị bắt và bị đày ra Côn Đảo.
Người đó đi ở tù và chị đi lấy chồng.
Chị kể chuyện tình mình bằng giọng rười rượi buồn. Và chỉ vậy. Không chút ghét bỏ, phẫn nộ… dẫu là một câu chuyện có tiếng súng, sự nổi giận và nhà tù. Phải là tôi, một cô gái miền Trung nhiều cá tính luôn biểu lộ mình, hết sức mãnh liệt, thì không bao giờ là vậy. Không những nói, khi kể chị còn cười được, mới thật tài! Mới thật ngộ! Những câu chuyện chị cuốn hút tôi từng đêm, từng đêm. Giọng Nam Bộ đẽo đợt kéo dài, như phỉnh dụ tôi theo chị miết miết. Theo chị về một giáo đường, vào đêm Giáng sinh vào mùa chay. Chị nói chị ở xứ đạo An Hiệp bên Châu Thành nhưng hai dịp lễ lớn trong năm của người Ki tô giáo, luôn theo gia đình qua bên Chợ Lách để tham dự thánh lễ và các nghi thức ở nhà thờ Cái Mơn. Đó, cũng là quê anh Phước. Giọng chị rập rình kể về con nước xuống, lên sớm chiều về cây bình bát về cụm dừa nước. Ghe thong thả lướt tràn mặt sông và con rạch nhỏ um xanh những rặng bần. Tôi nhắm mắt, nằm im, thiu thiu giấc ngủ chưa kịp tới và vui thích theo chị trong mùa thu hoạch cây trái vườn nhà. Chiếc võng, tiếng ve rộ mùa hè và sắc đỏ nơi từng chùm chôm chôm…
Sát bên phòng chị là phòng của một thằng Mỹ lai đen. Làm việc ở hãng R.M.K*. Đó là thằng Mỹ dễ thương nhất mà tôi được biết. Thằng này rất khôn. Chỉ đen sơ sơ ở màu da còn hết thảy mọi thứ trên khuôn mặt nó đều nhỏ nhắn, xinh xắn lạ lùng. Nó cũng không cao. Mỹ mà chỉ chừng một thước sáu lăm, sáu bảy. Nó cười có duyên chết được và tuổi chắc chưa tới ba mươi. Cái thằng này cà lác bắt sợ. Ai đời có mỗi cái tuổi cái tên mà hỏi, hồi khai tuổi này, hồi nói tên khác. Tuổi, không cần nhưng tên phải có để mà kêu chứ! Thế là chị đặt tên nó là Babyson. Chị nói, nhìn nó tự nhiên nghĩ tới một bản nhạc Pháp. Bản “Tous les garçon et les filles”**. Thằng Babyson có vẻ khoái chí với cái tên này lắm. Cứ câng câng cái bộ mặt dễ thương của nó lên, trả lời khi nghe ai đó hỏi: “What is your name?”. Có điều rất ngộ, nói theo cách của chị là dù đã đặt tên cho Babyson nhưng mọi người mặc sức kêu còn chị cứ Nhỏ mà réo. Như đã luôn réo tôi là cưng vậy. Càng ngộ thêm là mỗi lần nghe chị kêu mình, Babyson luôn hỏi lại bằng tiếng Việt đớ đớ là: “Đêm kêu Nhỏ hả?”. Từ ngày có thằng Mỹ lai mướn sát bên, những buổi tối, tôi thấy chị ít đứng một mình. Khoảnh tường đối diện chập choạng lắt lay bỗng nhiên rỡ ràng hằn soi hai bóng người đứng cận kề nhau, im sững.
Có khuya, tôi nín thở lặng ngắm họ. Cảm nhận trong nỗi hoang mang hãi sợ hết sức vô cớ của mình là vô vàn những ngọt ngào, ấm áp.
Những câu chuyện kể đêm đêm của chị, ngay sau đó, vẫn bảng lảng sông nước quê nhà. Vẫn mênh mang vẫn rười rượi điệu sầu muôn thủa đất phương Nam nhưng đã thêm vào rất nhiều chuyện của Babyson. Về cộng đồng da đen nhiều hẩm hiu của nó bên kia đại dương, về khu Harlem cùng khổ ở New York, về cái thằng chủ da trắng với cái tính phân biệt chủng tộc chết người ở hãng R.M.K và về âm nhạc. Chị nói chị và Babyson đều rất thích nhạc đồng quê và Thánh ca. Đó là những đêm cuối năm và rất lạnh. Giáng sinh cận kề, chị lo mua bánh trái, quà cáp để cùng anh Phước về quê. Anh Phước, gần như vắng nhà thường xuyên nhưng nghe nói hai người có hẹn là anh cũng nói, chừng Giáng sinh sẽ đưa nhau về Kiến Hòa ăn mừng Chúa ra đời. Tưởng chị vui, nhưng nghe ra trong những chuẩn bị của chị là bao nấn ná rất nhiều đắn đo. Khuya, thường thấy chị trở dậy ngồi sát mép giường, dáng bất động và khuya, tiếng harmonica của Babyson thổi từ phòng bên vọng sang, buồn hiu hắt.
Anh Phước báo về là phải tham dự một cuộc hành quân lớn và nói chị ráng vui trong một mùa Giáng sinh xa quê. Tin đưa về vào chiều 22 và rất lạ, thấy chị không một mảy may buồn. Rồi liền hai ngày sau đó thấy chị và Babyson lăng xăng túi bụi với những thứ gì đâu đâu. Hỏi, chị ra dấu bí mật. Cả hai muốn dành cho tôi những bất ngờ. Mà thật vậy, tôi đã trố mắt to, ngạc nhiên hết cỡ khi đứng giữa căn phòng thường ngày, vốn rất lộn xộn và vắng ngắt của Babyson. Không thể nào tin nổi căn phòng đó có thể đẹp sáng và ấm cúng đến dường ấy! Nhạc Giáng sinh đổ tràn. Ở góc phòng là một cái hang đá rất nhỏ và thật đơn sơ. Điều này khiến tôi thấy thích. Có vẻ, người làm ra hang đá này đã nắm rõ được tinh thần khó nghèo của Chúa và sự ra đời hết sức đặc biệt của Người. Đối nghịch với hang đá, ở góc phòng đối diện là một cây thông giăng đầy bóng điện đủ các sắc màu và liên hồi nhấp nháy. Trên những nhánh thông treo mấy gói quà và những cái thiệp xinh xinh. Giữa phòng là một bàn tiệc nhỏ dành cho đúng ba người đã cắm sẵn nến và bày sẵn ly uống rượu.
Đó là một Giáng sinh nhiều xúc động nhất mà tôi được biết. Một Giáng sinh có chị, có thằng bạn được gọi là Nhỏ của Đêm rồi còn có cả Cưng của chị nữa. Trước khi ăn Réveillon, cả chị và Babyson đều có quà cho tôi. Và sau đó, cả hai người cùng hát “Silent night” bằng cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Giọng Babyson ngô nghê mà cảm động lạ lùng: “Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng. Đất với trời se chữ đồng. Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ…”. Khi tôi hát “Jinger Bell” thì Babyson thổi harmonnica và chị nhảy. Mắt khép, tóc xõa bời bời, khuôn mặt đầy đắm mê… Là chị Đêm của tôi, trong một Giáng sinh đầy huyền ảo.
Mấy ly rượu vang khiến tôi buồn ngủ và trong cơn chập chờn, thấy có một ai đó bế chị lên, quay vòng và tung lên, bay bổng. Ở trạng thái thức ngủ nhập nhoàng tôi nhận ra đêm đang vút bay. Đêm níu cả chị Đêm cùng bay, rồi một ai đó nữa bay, hang đá bay, những ngọn nến bay và âm nhạc bay bay. Bay rất nhẹ và xa. Thật xa. Ngay trong đêm đó, lúc gần sáng tôi chợt thức dậy và giật mình, khi sờ bên cạnh mình không thấy chị đâu. Rồi thêm mấy đêm sau nữa cũng vậy. Vài tuần sau nữa thì chuyện của chị và Babyson vỡ lở. Trong mấy phòng trọ ở dãy nhà cho thuê của gia đình tôi, mọi người xúm lại xì xầm. Những cái liếc xéo đầy ghét bỏ, những cái nguýnh nguẩy nhiều rẻ khinh, những câu nói hằn xóc… bay vèo vèo. Cũng là bay đó thôi nhưng, không phải bay rất nhẹ và thật đẹp như âm nhạc và những giấc mơ mà bay bạo liệt về phía chị. Mẹ tôi không cho tôi lên ngủ với chị nữa và một bữa, anh Phước về thình lình và bắt gặp chị với Babyson đang đứng ở khoảng cuối của dãy hành lang, ôm nhau. Sau này nghe chị kể lại tôi mới hay còn giữa khi đó, tôi có giáp mặt với anh Phước ở đường luồn và thấy anh rất bình thường. Anh Phước vẫn cười với cái miệng mở rộng hết cỡ. Chiếc răng vàng lấp lánh khiến tôi đã muốn vọt miệng hát lên mấy câu trêu ghẹo nhưng anh lao ra đường, leo vội lên chiếc Jeep và phóng đi.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #76 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:33:44 am »

                                            Tiếp theo :

Suốt khoảng thời gian đó, chị điềm tĩnh đến kinh ngạc! Tôi lén mẹ lên ngủ với chị được vài đêm. Lòng xao xác bởi rõ đó là những đêm cuối với nhau. Chị cười mà nước mắt ứa kể về tình yêu của chị với chàng trai Mỹ lai đen Babyson. Về Nhỏ. Chị nói cưng biết không, bọn chị tìm tới nhau vì đều đau đáu nỗi tha hương. Đều yêu quê đều rất nhớ nhà dẫu đó có là một khu phố nhộn nhạo bất ổn của dân da đen ở New York hay là sự thanh bình yên ả ở xứ đạo An Hiệp, Kiến Hoà. Rồi là âm nhạc. Những bài Thánh ca du dương, thứ nhạc đồng quê đằm sâu mà mộc mạc… Rồi là sự lẻ loi nơi mỗi người, những ngác ngơ trong cuộc sống, nỗi mệt mỏi trong tình ái. Với Babyson là sự chung đụng đến nhàm chán với mấy cô gái điếm. Với chị là cuộc hôn nhân gượng gạo với anh Phước. Bọn chị khát khao những sẻ chia nhỏ nhặt mỗi ngày. Cần thiết những hỏi han, chăm chút cho nhau khi mưa khi nắng, lúc khỏe hồi đau. Cứ ngỡ chỉ vậy. Chỉ nghĩ đó là một tình bạn trong trẻo mà cả hai đã bắt gặp được ở đây trong chuỗi ngày sống côi cút. Đâu ngờ… Thôi thì! Đã vậy, chị phó mặc… Tôi ngập ngừng:
- Rủi anh Phước…?
- Chĩa súng ngay màng tang chị và bắn một phát chứ gì?
- ….
Anh Phước đã không làm vậy. Một lần, về thành phố anh không thèm ghé về nhà với chị Đêm. Anh rủ cả đám bạn vô một quán rượu, uống say mèm rồi một hai đòi về đơn vị dù mọi người cản ngăn. Anh đón một chiếc xe nhà binh chở lính đi ra Quảng Ngãi. Xe quá chật nên anh và hai người bạn phải đứng. Bạn anh đứng hai bên còn có chỗ vịn tay. Anh ở giữa đâu biết bấu víu nơi nào ngoài vai bạn. Tựa giữ lỏng lẻo kiểu đó nên khi xe thắng tay anh rớt ra liền. Tay rớt và anh rớt. Rớt xuống lòng đường gặp ngay lúc một chiếc Jeep phía sau trờ tới và cả người anh nát nhừ. Chị nhận hung tin, đờ người ra rất lâu rồi quỵ xuống, sóng soài. Không riêng chị, cả gia đình tôi và mọi người ở trọ đều chết điếng cả hồn lẫn vía. Cái chết tức tưởi và thảm thiết của anh trùm lên hết ngôi nhà của chúng tôi một không gian u xám và ảm đạm. Có cảm giác luồng ám khí từ nơi anh nằm xuống đang bốc lên nghi ngút và theo gió, dạt bay về phía chị và Babyson khiến khuôn mặt chị dại ngây như không còn sự sống và đôi mắt Babyson đỏ quành quạch một màu chết chóc dị thường.
Chị bỏ chúng tôi mà đi, từ ngày hôm đó.
Babyson đóng chặt cửa phòng và ngập ngụa mình trong rượu, từ ngày hôm đó.
Thi thoảng, đêm, trong những giấc ngủ đầy mộng mị của mình, tôi thấy chị Đêm về. Tôi thấy chị xõa tóc dài ngồi nơi bến nước quê mình trong Châu Thành, một mình. Bóng chị khi ẩn lúc hiện nơi những rặng bần cụm dừa nước… Rồi tôi thấy chị áo dài trắng voan trắng đứng chơ vơ một mình, nơi tháp chuông nhà thờ Cái Mơn trong lễ cưới… Lạ, trong những giấc mơ tôi không hề thấy anh Phước. Cũng không có Babyson. Chỉ có tiếng harmonica da diết và bi thiết. Chỉ có chiếc răng vàng trên khuôn mặt nhòa nhệch của ai đó bật sáng rồi tắt lịm. Chỉ có giọng nói của ai đó, thắt thẻo và rập rình: “Đêm kêu Nhỏ hả?” rồi bặt im.

*
*      *
Đã gần hai tuần nay, tôi ở đây.
Bữa về Châu Thành, thót lòng… Sao tôi có thể quên đây là quê nhà của một người phụ nữ có tên là Đêm. Một cái tên kỳ cục. Một cái tên nhiều bí ẩn và nhiều trắc ẩn. Sông mưa và con phà lướt tới. Sông đẫm buồn trong cái màu bạc đục lênh lang mấy cụm lục bình trôi. Sông trôi và đêm trôi. Dạt xô những tận đâu đâu, hỡi người đàn bà của tuổi mười bảy tôi, ngời ngợi… Tôi đã bần thần suốt một ngày, ở chính cái nơi chị đã sinh ra, đã lớn lên, đã ra đi và không biết còn có thể trở về? Sáng đó, khi lững thững đi dạo quanh mấy cái nhà vườn, tôi đã đứng chôn chân phía trước một ngôi nhà mà dường như ký ức cho tôi hay đó là ngôi nhà chị. Phải không? Cái cổng này sao rất quen. Phải không? Bức tường rào sơ sài? Phải không? Khung cảnh này sao quá lắm gần gụi? Không đừng được, tôi bước vô. Và cứ thế một mình ngẩn người nơi hàng hiên, nơi gian nhà ngoài với những chiếc ghế làm bằng thân dừa thật khéo. Vắt ngang chiếc tủ thờ rất xưa là câu này: “Học, học nữa, học mãi…” viết bằng nét chữ nguệch ngoạc. Một câu của ai đó, chị Đêm ưa đem ra trích dẫn mỗi khi hai chị em nói chuyện với nhau về đề tài học. Giờ, ong ong bên tai mình bằng một giọng Nam bộ đẽo đợt uể oải khiến tôi phải giật mình. Là câu chị dùng là giọng chị nói. Không trật. Vậy chị phải ở ngay đây. Ở trong chính cái ngôi nhà này. Không thể trật được.
Vừa nghĩ tới đó, tôi bỗng thấy mình nghẹt thở và phải lấy hơi hít sâu mấy ngụm khí trời để bớt hồi hộp trước khi hăm hở đi thẳng xuống nhà sau. Chị sẽ như thế nào đây, sau ngần ấy năm xa cách? Chị đang ở với ai? Cũng có thể chị lập gia đình với người tình thủa học trò, cái ông rất bảnh học trường Phú Thọ chừng tốt nghiệp làm kỹ sư đó! Phải rồi, sau giải phóng anh sẽ ở Côn Đảo về. Sẽ gặp lại sẽ sum họp và sao không thể cùng về chung sống với nhau, sau ngần ấy trắc trở gập ghềnh?
Tiếp tôi không phải chị, mà cũng không phải một cô gái một chàng trai nào đó hơi hơi giống chị. Một bà già Nam bộ rất hiếu khách, hỏi thăm tôi đủ thứ và mời tôi ăn quá trời là trái cây. Ăn đã đời còn cho thêm một bịch chôm chôm và một trái mít tố nữ. Bà già cũng cho tôi biết thêm là nhà không có con cháu, em út gì tên Đêm hết! Nói rồi cười xuề xòa: “Trời ơi! Khùng ha! Đặt tên gì kỳ! Đặt tên vậy cho đời tối thui sao!”. Ngồi lại thêm buồn, tôi chào tạm biệt. Đã đứng ở cổng vẫn còn chưa chịu đi. Tôi cố tình nấn ná chỉ để hỏi một câu:
- Vậy, ai viết cái câu dán trên tủ thờ vậy, bác? Mà sao viết vậy?
- Thằng chồng tui viết chứ ai. Tự ổng đĩ ngựa ổng viết vậy đó!
Bước chân lâng châng tôi quay lại với đám bạn, uống liền mấy ly Phú Lễ ngâm chuối hột. Rượu xộc cay và nỗi nhớ xộc cay. Nhớ chị, nhớ thứ ánh sáng nhợt vàng từ phòng trong hắt ra khoảng tường đối diện. Là đêm đêm của chị Đêm tôi. Đêm, chiếc bóng chị đứng lẻ loi. Đêm, sát mép giường chị ngồi lẻ loi. Chập chờn và bất động…
Tôi còn thêm mấy lần lầm tưởng là đã được gặp lại chị ở tại cái nơi này. Là buổi sáng đi lễ ở một giáo đường gần bờ sông và lòng bật vui khi thấy lại một dáng quen đứng trước hang đá Đức Mẹ. Để rồi khi sáp lại gần, hụt hẫng. Là giữa phố với người đàn bà bán sinh tố mình ghé lại uống trái dừa lạnh. Trời ơi! Sao mà giống… Cũng đôi mắt ấy cũng sống mũi ấy khi tôi nghiêng người nhìn lén rất lâu. Là khi dạo chợ và giật mình bởi tiếng Nhỏ, rất trìu mến được nghe cùng với cả chuỗi cười. Chuỗi cười nào giống chuỗi cười từ đôi môi đỏ mọng chúm chím của chị và tiếng gọi “Nhỏ ơi! Nhỏ ơi!” sao có thể nguôi quên? Tiếng gọi tiếng cười ngỡ đã lẫn chìm tận đâu sao khiến tôi ngơ ngác quá giữa chốn này. Nhiều năm tháng đã đi qua. Vẫn như ngày xưa, tôi không một lần hé môi phán xét chị. Tôi không một câu lên án dẫu không hề quên những lỡ lầm, những sai phạm tột cùng của chị… Tôi, không thể dẫu một tích tắc đời mình chối bỏ chị ngừng yêu thương chị.
Mấy ngày cuối ở nơi này, lòng tôi đã bớt thấp thỏm. Tôi nhận ra người đàn bà tên Đêm đó đã thuộc về đêm. Là đêm. Đêm, cho chị lút sâu mình ẩn náu. Đêm dang tay chở che chị. Tôi thôi háo hức săn tìm bởi nhận ra người đàn bà tên Đêm đó là của đêm. Chị rộng lòng như đêm mông muội như đêm ẩn trắc như đêm.
Khuya, tôi một mình đi bộ ra con sông gần chỗ ở. Sông lênh láng và sông yên ả. Tôi một mình giữa đêm. Đêm hoang hoải và đêm hung hiểm. Tôi một mình và tôi nhớ chị. Những nỗi nhớ trườn mình trên mặt sông loang loáng...
Trại viết Bến Tre tháng 7-2010
 NGUYỄN MỸ NỮ
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #77 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:40:55 am »

                                           Giữa mênh mang biển đảo    
                                           Tác giả : Sương Nguyệt Minh   

 Nước Việt Nam ta có 3.260 km bờ biển, hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, vùng biển rộng trên 1 triệu km2, tiếp giáp với 8 quốc gia trong khu vực biển Đông. Nguồn nhân lực dồi dào ven biển khoảng 27 triệu người (chiếm 32% số dân cả nước) trong đó có 18 triệu lao động thuộc 8 bộ, ngành và 28 tỉnh, thành ven biển. Đó là tiềm năng vô cùng to lớn phát triển kinh tế biển; đồng thời cũng là động lực tạo cơ sở hạ tầng, là nguồn nhân lực phục vụ nhiệm vụ Quốc phòng - An ninh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Để vùng biển đảo, thềm lục địa bình yên, để các tiềm năng và động lực to lớn ấy biến thành sức mạnh tinh thần và vật chất trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì những người lính hải quân luôn luôn đứng ở nơi “đầu sóng ngón gió”. Và tất nhiên, những người lính Tài chính và các cơ quan đảm bảo luôn kề vai sát cánh trong nhiệm vụ bảo vệ biển đảo.

1.   

 Trong bài tùy bút “Người Việt Nam trước biển”, tôi có viết đại ý rằng: Người Việt Nam “mặn rừng, nhạt biển”, thậm chí sợ hãi, hoang mang, rợn ngợp trước biển mênh mông kì bí, đầy tai ương bất trắc, khó lường. Tôi có đặt câu hỏi: Vì sao Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, nhưng đến vùng đất trũng châu thổ, cửa sông Hồng thì dừng lại chứ không đi tới biển và chinh phục biển?

Tôi có đọc các tài liệu về biển, đáng quan tâm nhất là ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng, ông đưa ra khái niệm Cảng Chiêm, và ông đánh giá nghề đi biển của người Chàm (Chiêm Thành) là một dân tộc bầu ghe giỏi giang, đóng thuyền lầu là chiến thuyền và thương thuyền cao 2-3 trượng (6m) dài 20 trượng (60m), chở được 600-700 người, hàng vạn hộc sản vật. Kỹ thuật đi biển của người Chàm sánh ngang với Trung hoa, Ấn độ, Ba Tư. Vàng, bạc, kỳ nam, gốm Chăm… là vật ngang giá thay cho tiền trong các thương vụ với người ngoại quốc.

Lịch sử chinh phục biển của người Việt đã từng có Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, máu quân Nguyên nhuộm đỏ dòng sông Mang trong xanh chảy xuyên đảo Quan Lạn. Bùi Viện người có công lập cảng Hải Phòng, thành lập Tuần dương quân (Hải quân thường trực) với 200 chiến thuyền và 2000 thủy quân, ông đã 2 lần đi thuyền vượt biển sang Hoa Kỳ gặp Tổng thống Ulysses Grant cầu giúp Việt Nam đánh Pháp.

Các thương cảng: Vân Đồn, Phố Hiến (cảng sông), Hội An, Thị Nại, Bến Nghé…vv đã từng tồn tại một thời buôn bán sầm uất. Tàu thuyền các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Malaixia, Hà Lan, Bồ Đào Nha vượt đại dương cập bến, giao thương với Việt Nam… Các loại tiền: Kiến Trung thông bảo, Nguyên Phong thông bảo, Khai Thái nguyên bảo, Thiệu Bình thông bảo hay Minh Mạng thông bảo… đúc bằng đồng, kẽm hình tròn lỗ vuông dường như chỉ có giá trị quốc nội, không thể làm chức năng tiền tệ quốc tế, cho nên trao đổi lúc bấy giờ lại là ngà voi, gốm sứ, tơ lụa, đồi mồi và vàng bạc… Bùi Viện hai lần xuất dương sang Mỹ đều được triều đình cấp vàng thỏi, bạc nén mang theo, cập bến cảng nào thì đổi lấy lương thực, thực phẩm và nước uống, ròng rã hàng năm đi về trên biển thẳm nơi xứ lạ v.v…

Rõ ràng, ông cha ta cũng đã nỗ lực vươn ra biển. Vậy mà, cho đến nay, Việt Nam mình chưa bao giờ được gọi là cường quốc hàng hải!

 

2.
Đi về phía biển, đến với những người lính hải quân trong những ngày giá rét thì niềm tin người Việt chinh phục biển trong lòng tôi cứ ấm nóng dần lên. Là bởi, họ đang làm nhiệm vụ đặc biệt canh giữ vùng biển đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, trong đó có nhiệm vụ chống phá, ngăn cản các tàu lạ của nước ngoài xâm nhập trái phép.

 Những người lính hải quân Vùng 1 mỗi chuyến đi thường kéo dài 40-45 ngày trên biển. Họ phải chịu sóng lớn va đập vào tàu khiến độ rung lắc, cùng với xung chấn phát ra từ âm động cơ thủy khiến các tế bào, mạch máu, các nơron thần kinh lúc nào cũng trong trạng thái rằn, rung, không được nghỉ ngơi. Cũng như, làm nhiệm vụ tuần tra cản phá tàu lạ xâm nhập luôn trong trạng thái trực chiến 24/24 giờ trong ngày. Thế nên, tất cả cán bộ, thủy thủ trên tàu đều được hưởng chế độ ăn đêm. Ăn đêm, và ăn ngày luôn phải đủ lượng calo và thay nhau ngủ để lấy sức, đó là yêu cầu và cũng là nhiệm vụ.

Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mênh mông, nhiều tàu thuyền nước ngoài cố tình đến đánh bắt hải sản, thậm chí còn ngang nhiên khai thác nguồn tài nguyên, điển hình là họ đưa dàn khoan Kan Tan – O3 tìm kiếm dầu khí trên vùng biển nước ta. Có lệnh là đi, những người lính thủy tàu Vạn Hoa 791 của Vùng 1 Hải quân đã vượt sóng lớn, mù sương, bão giông, thiếu nước ngọt, nhưng vẫn bám sát mục tiêu, thực hiện đúng đối sách, đúng chủ trương đấu tranh, vượt qua thử thách, hiểm nguy, suốt 29 ngày vật lộn với sóng gió ngăn cản, xua đuổi, cuối cùng đã buộc Dàn khoan Kan Tan – 03 phải rút khỏi vùng biển nước ta.

Có thời gian diễn biến trên biển rất phức tạp, nạn buôn lậu triền miên, đổ hàng, sang hàng, tàu lạ nước ngoài xâm nhập thường xuyên đánh bắt hải sản lấn sâu vào vùng biển Việt Nam, Vùng 1 Hải quân đã phải cử 10 biên đội tàu K62, K206, mỗi biên đội 2 tàu rời bến, bám biển hàng tháng trời xua đuổi hàng trăm tàu thuyền nước ngoài, bắt 20 tàu đánh cá nước ngoài hoạt động trái phép.

cgLịch sử Hải quân Vùng 1 đã ghi: Biên đội HQ 201, HQ 210 của Lữ 170 kết hợp với tàu HQ 635 của Hải đội 4 tuần tiễu kết hợp với trinh sát biển, xua đuổi tàu nước ngoài. Hai tàu chiến nước ngoài mang số hiệu 675 và 724 đã uy hiếp các tàu HQ của ta bằng cách chạy xung quanh bao vây, ngăn cản, có lúc chỉ cách tàu HQ 201 hơn 100m. Không sợ hãi, chấp nhận hi sinh, biên đội tàu HQ của ta đã khôn khéo, thực hiện đúng đối sách, giải thích, thuyết phục và tỏ thái độ cứng rắn trong bảo vệ chủ quyền. Sau 5 giờ đồng hồ quần đảo trên sóng nước biển Đông, các biên đội tàu của hải quân ta đã buộc 2 tàu chiến nước ngoài và các tàu bổ trợ phải lùi về phía Đông đường phân định…

Chiến công, thành tích bao giờ cũng là kết quả tổng hợp của nhiều bộ phận, của cả người đi biển và cả người ở đất liền, bảo đảm cho con tàu và người lính trên đó hoàn thành nhiệm vụ. “Có thực mới vực được đạo”, không thể thiếu cái ăn đồ uống khi đi biển dài ngày.

Người Việt Nam, bữa ăn luôn có chất diệp lục, bữa ăn thiếu rau xanh là tôi có cảm giác lả đi. Thực sự lo lắng cho những người lính biển, tôi hỏi trung tá Bùi Sĩ Giới – Trưởng ban Tài chính Vùng 1 Hải quân:

- Rau xanh chỉ để được hai, ba ngày, sang ngày thứ 4 là lũa vàng ra, thối đi. Các anh sẽ khắc phục thế nào? Thủy thủ ăn cơm với thịt hộp suốt tháng, khổ lắm.

Bùi Sĩ Giới cười, cái cười độ lượng cảm thông với sự ngù ngờ của tôi về đi biển, rồi nói nhỏ nhẹ:

- Người làm tài chính và hậu cần chúng tôi đã phải nghĩ đến chuyện ấy, chứ không để cho chỉ huy lãnh đạo nhắc nhở, lại càng không để cho nhà báo đến hôm nay phải lo lắng. Thưa với anh! Những anh nuôi của các tàu trước khi rời bến sẽ lấy tiền từ tài chính và mua bí ngô, bí xanh, su su…, những thứ củ, quả có thể để lâu không bị héo úa hết đợt đi dài trên biển vẫn vô tư.

Tôi mới vỡ lẽ ra cái điều phấp phỏng âu lo ấy bằng thừa. Câu chuyện kéo dài đến các chi tiết mua chó, gà, ngan ngỗng… đưa lên tàu nuôi ở các lồng. Có cô gà mái hoa mơ còn đẻ sòn sòn mỗi ngày một quả trứng trên tàu, đến nỗi anh em lính thủy không nỡ giết. Và, có chuyện thật thú vị, có một con chó chửa trước khi lên tàu mà không biết, sau 1 tháng lênh đênh trên sóng nước thì nó cũng sinh hạ được 5 con cún. Tất nhiên, lính hải quân lại phải nuôi tiếp trên tàu.

Kể như thế, để bạn đọc yên tâm rằng: Những người lính hải quân đi biển làm nhiệm vụ được bảo đảm rất tốt thực phẩm tươi sống. Viết đến đây, tôi lại nhớ 8 năm trước đi Trường Sa, suốt đợt đi hơn nửa tháng được ba lần xơi thịt chó, lá mơ chấm với… mắm tôm. Hóa ra, anh nuôi đã mua cả chục con chó làm sẵn và tống vào trong hầm đá dự trữ ăn dần. Tuy nhiên, không thể nói lính thủy sống trong điều kiện đầy đủ, đi biển muốn gì mua nấy, ăn nấy tươi sống như trên đất liền.

Chúng tôi có một buổi làm việc với đại tá Mai Thế Hoạt - Phó Chính ủy Vùng 1. Anh Hoạt nói nhiều đến gian lao người lính biển, đến sự quan tâm chăm sóc đời sống tinh thần, vật chất cho cán bộ chiến sĩ trên tàu. Mỗi chuyến đi làm nhiệm vụ cản phá xua đuổi tàu lạ nước ngoài thường là 1 tháng đến 45 ngày. Bộ Chỉ huy Vùng 1 mua cho mỗi tàu 1 chiếc tủ bảo quản đồ ăn giá tiền khoảng 12 triệu đồng. Khi đi biển anh em được bù ăn thêm 6.500 đồng/người/ngày so với mức ăn tàu loại hai tại bến là 41.000 đồng/người/ngày. Vùng trích từ quỹ tăng gia sản xuất để hỗ trợ bù ăn thêm 4.500 đồng/người/ngày cho anh em đi công tác xa đất liền.

 Nhiệm vụ đặc biệt đi cản phá tàu lạ luôn ở trong tình thế bí mật, bất ngờ. Thường là biên đội tàu chỉ được báo trước 24 giờ, thậm chí trong tình huống khẩn cấp chỉ có 12 tiếng đồng hồ làm công tác bảo đảm. Thời gian gấp gáp như thế, làm gì để bảo đảm tài chính, hậu cần cho anh em đi biển thật nhanh?

Trung tá Bùi Sĩ Giới giải thích rằng: “Trước khi tàu đi làm nhiệm vụ bao giờ cũng có kế hoạch tác chiến, kế hoạch bảo đảm chuyên môn kỹ thuật, tài chính – hậu cần. Chúng tôi đều đã hợp đồng trước với một số nhà cung cấp rau, thực phẩm, hàng khô. Chỉ cần đặt vấn đề, họ chuyển hàng cho, sau đó thanh toán tiền sau”. Như hợp đồng tác chiến quân dân một ý chí, chỉ có thế mới đáp ứng được yêu cầu khẩn trương cho chân vịt cuộn sóng đưa tàu ra khơi, chứ đi mua gom từng bó rau, quả bí, từng gói mì tôm… ở chợ thì biết đến bao giờ mới đủ.


Vùng 1 thành lập tổ giá. Nhiệm vụ của tổ này là khảo giá để mua được mức rẻ nhất rồi giao hàng tay 3 tại bến cảng. Công tác bảo đảm cho tàu đi làm nhiệm vụ rất quan trọng là mua sắm các phương tiện cản phá. Mua phao xốp. Mua lưới. Mua giây thép gai… Tàu lạ xâm nhập vào vùng biển của ta, hoặc dàn khoan nước ngoài vào thăm dò trái phép sẽ bị các vật cản gây nhiễu kỹ thuật, không hoạt động được. Có ai ngờ những phương tiện đơn sơ, thô giản như vậy mà lại chống được kỹ thuật hiện đại, tối tân của nước ngoài.
 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #78 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:44:21 am »

                                    Tiếp theo :
Nói đến Vùng 1 Hải quân không thể nói đến những người lính ra đa – những con mắt thần canh giữ bầu trời, biển đảo Tổ quốc. Phó Chính ủy Mai Thế Hoạt nói rằng: Trong các trạm ra đa của Vùng 1 thì trạm đảo Trà Bản, đảo Trần là khó khăn nhất. Đảo Trà Bản – Quảng Ninh có dân sinh sống, rau xanh trồng được, nuôi lợn ngan chó mèo được, nhưng nước thì hiếm.

Mùa khô, lính ra đa xuống chân núi cõng từng can nước ngọt. Đường lên Trạm vòng vèo, ngược dốc mấy cây số, người rèn luyện kém chỉ leo đến nửa đường đã lăn quay ra nằm thở hồng hộc, mồ hôi túa ra, mắt mờ đi. Mấy năm trước, Tư lệnh, Chính ủy Quân chủng Hải quân ra thăm đảo thương lính quá đã quyết cho xây bể xi măng. Lính ta lại gùi từng cân xi măng, từng viên gạch, xẻng cát, lại gùi từng can nước lên đỉnh đồi xây bể.

Chúng tôi có một buổi trưa đi thong dong trong khuôn viên Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Vùng 1. Một tòa nhà cao đẹp, thanh thoát, hàng dây dài gắn cờ các nước có biển, gắn các loại cờ kỹ thuật hàng hải rực rỡ sắc mầu bay trong gió lạnh. Một khuôn viên xanh, rộng rãi có cây cảnh, vườn hoa, hồ nước, cầu cong, sân ten nít… Ba tỷ đồng được chi ra để xây dựng, cải tạo vùng đất cằn khô thành môi trường xanh sạch đẹp. Số tiền này hoàn toàn từ công sức tăng gia sản xuất, làm kinh tế của cán bộ chiến sĩ.

Nuôi tu hài là một thu nhập đáng kể. Các đơn vị tự nuôi, vì tu hài chỉ cần sắm lồng, thức ăn không phải bỏ ra, thả vào lồng tự nó kiếm thức ăn từ các sinh vật phù du trong nước biển. Trung tá Mai Hồng Thân – Trợ lý phòng Tài chính, đại úy chuyên nghiệp Đoàn Minh Chuyên – Trợ lý tài chính Vùng 1 đều là những người thợ đã từng thay nhau đi nuôi tu hài. Người người sản xuất, nhà nhà tăng gia mà. Chính Quyên và anh em trong Ban Tài chính cùng với các cơ quan Vùng 1 đã từng đào ao, khiêng đất, kè đá, xây bờ… làm nên một cái hồ trong xanh, vườn hoa, cây cảnh, sân ten nít khang trang. Doanh trại quân đội ở đây thực sự hòa mình vào thiên nhiên thanh sạch, tạo thành một cái đẹp vừa cứng cáp, vững chãi vừa trữ tình, lãng mạn.

 
3.

 Một chiều đông sửng nắng, chúng tôi có mặt ở cảng 128 giữa bạt ngàn contennơ hàng giữa khu vực Đình Vũ của Hải Phòng đang sôi động, nhộn nhịp. Con đường trước cổng Công ty toàn xe tải hạng nặng 12 bánh 18 bánh theo nhau vào chở hàng. Rộn ràng. Tấp nập. Đã ra dáng là một thương cảng lớn. Mớn nước cho tàu 2000 tấn có thể cập, tương lai sẽ cho tàu 1 vạn tấn cập bến ngang với cảng Chùa Vẽ. Tàu thủy các nơi chuyển tải cập bến. Cái cảng này mới thành lập có cổ đông Tân Cảng góp vốn.

Năm 2010 vừa qua, Cảng 128 doanh thu 40 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận 8 tỷ đồng. Đúng là siêu lãi. Và hàng chục con tàu đang lênh đênh làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, kết hợp xây dựng kinh tế. Vậy mà, ít người biết được Hải đoàn 128 còn gọi là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 128 trước đây chỉ là 1 Phòng đánh cá của Bộ Tư lệnh Hải quân, bây giờ là một hải đoàn mạnh làm nhiệm vụ quốc phòng trên biển và trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất - kinh doanh đa ngành nghề: dịch vụ trên biển; sửa chữa tàu biển phương tiện thủy; dịch vụ vận tải biển; khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản; dịch vụ cảng biển, lưu kho, lưu bãi...

dkĐể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, những năm qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Công ty luôn chủ động đề xuất với các cơ quan chức năng cấp trên về phương án đầu tư để nâng cao năng lực tàu thuyền, trang thiết bị đánh bắt cá xa bờ... Thấy rõ tính chất, nhiệm vụ đặc biệt của công ty 128, ngay sau khi nhận được dự án đầu tư nâng cấp trang bị tàu thuyền tuần tra, đánh bắt hải sản của công ty, cơ quan tài chính quân chủng và Cục Tài chính - Bộ Quốc phòng đã cân đối, tạo điều kiện đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết của Công ty.

Đến nay, các đội tàu thuyền của công ty đã có trang thiết bị đánh bắt hiện đại như máy tầm ngư, máy định vị, máy dò ngang... Ngoài ra, mỗi tàu còn được mua sắm, trang bi một số thiết bị sơ chế, bảo quản sản phẩm hải sản ngay trên biển, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng bảo quản hải sản sau đánh bắt và giảm chi phí giá thành do tăng thời gian mỗi chuyến đi biển. Nhờ đó, doanh thu, lợi nhuận của Công ty năm sau cao hơn năm trước, nguồn vốn được bảo toàn và phát triển. Năm 2010 tổng giá trị sản xuất của Công ty là 254,6 tỷ đồng; doanh thu hơn 203 tỷ đồng, tăng 29,5% so với 2009.

Thượng tá Lê Văn Hiến – Trưởng ban Tài chính Hải đoàn 128 khoát một vòng tay trên bản đồ, anh chỉ cho chúng tôi xem địa bàn hoạt động suốt từ Quảng Ninh đến Bà Rịa - Vũng Tàu. Khó khăn nhất là địa bàn bảo vệ kinh tế biển quá rộng, tàu thuyền có mặt khắp biển Đông, biển Tây Nam Tổ quốc. Có lẽ hấp dẫn nhất là chuyện bảo vệ kinh tế biển và làm kinh tế biển. Đỉnh cao của hành trình đi dài ngày trên biển đã thuộc về tàu Vạn Hoa 737 do Vũ Tôn Quyền làm thuyền trưởng.

Lúc đầu kế hoạch đi biển 3 tháng, nhưng do yêu cầu nhiệm vụ đặc biệt, chuyến đi của các anh đã kéo dài hành trình đến 164 ngày. Có thể nói, quen sóng gió tầm tã, được rèn luyện thường xuyên nhất phải nói đến lính biển 128. Những con tàu chạy trên biển Đông 100 ngày là chuyện bình thường. Và tất nhiên lương cũng cao ngất ngưởng, gấp đôi lương quốc phòng, người đi biển bình quân 12-13 triệu đồng/tháng. Nhưng, họ cũng phải chịu nhiều nỗi gian nan, cực nhọc. Lênh đênh mấy tháng trời trên biển vắng, không nhìn thấy cái nón trắng, không được nắm bàn tay con gái, chỉ có trời với nước mênh mông. Món tiền chục triệu đồng/tháng và nỗi cô đơn, xa gia đình… cái nào nặng hơn?

Mục tiêu kinh tế cần bảo vệ của họ là các mỏ dầu khí của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam từ Bình Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu. Ở đó là các khu mỏ có diện tích rộng, có các công trình kỹ thuật, trang thiết bị công nghệ hiện đại. Các nhà địa lý học đã chỉ ra rằng: Vùng biển này độ sâu trung bình vừa phải từ 40-60m, dòng chảy ổn định, địa chất đáy tương đối bằng phẳng, nhiều phù du sinh vật, ít đá ngầm, bãi cạn, chướng ngại vật.

Tôi đã có dịp đi Trường Sa và leo lên các Nhà dàn DK, và cũng may mắn ngồi máy bay trực thăng ra dàn khoan. Chao ơi! Khi màn đêm buông dần, ánh sáng đèn thắp lên tỏa sáng xuống biển mặn thì vô số cá mú từ đâu đó bơi đến quần tụ, tôi có cảm nhận cứ quăng lưới xuống kéo lưới lên thì nặng trĩu cá, có thể phải dùng cần trục mới trục được hàng tấn cá lên. Khu vực biển có những nhà dàn DK của lính hải quân đồn trú bảo vệ biển, và vùng biển có dàn khoan trở thành nơi cư trú, sinh sống nhiều loại hải sản, đương nhiên tàu thuyền đánh cá không bỏ sót cơ hội và ngư trường dồi dào hải sản này.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #79 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:46:25 am »

                                        Tiếp theo :
 Ngư dân thấy lợi là nhao đến, họ lao tàu thuyền vào đánh cá, có thể làm hư hỏng dàn khoan. Tàu của Hải quân phải làm nhiệm vụ ngăn chặn, tuyên truyền, lai dắt tàu cá của dân ra, không cho tiếp cận các mục tiêu kinh tế, quân sự trên biển. Tổng kết năm 2010, các tàu của Hải đoàn 128 đã phát hiện ngăn chặn, tuyên truyền đưa ra khỏi khu vực cần bảo vệ 211 tàu đánh cá của ngư dân.

Viết đến đây tôi lại nhớ đến Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn có chép Trường Sa rất nhiều ốc nón vàng, đồi mồi… Một đoạn thư tịch cũ còn chép về các đội binh thuyền Hoàng Sa, Trường Sa do vua Minh Mạng lập ra. Hàng năm đến mùa biển lặng, các binh thuyền ra Trường Sa, Hoàng Sa khai thác sản vật ốc nón, đồi mồi, lấy các đồ trang sức, vàng bạc, binh khí, tên đồng, gươm cổ… ở các tàu ngoại quốc đắm. Như vậy, người lính hải quân Công ty 128 đang đi theo con đường thủy binh cha ông đã đã từng đi.

Tuần tra trên biển và làm kinh tế biển luôn là nhiệm vụ cơ bản của các tàu của Hải đoàn 128. Có những con tàu được trang bị lưới câu dài 100km (một trăm cây số), thả đã hết 1 ngày 1 đêm, thu lại hết 1 ngày 1 đêm nữa. Đó là loại lưới câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản. Mồi là cá mực. Cá trúng câu ở phao nào thì cái phao ấy báo tín hiệu về trung tâm. Tôi không hình dung nổi, bộ đội làm kinh tế biển mà đã được trang bị những phương tiện đánh bắt hiện đại như thế. Thượng tá Lê Văn Hiến bảo: Tàu câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản còn hiện đại hơn, con tàu neo đậu ở một nơi mà cá mắc ở phao còn hiện rõ lên màn hình trung tâm.

Càng nói chuyện về những con tàu của Hải đoàn lênh đênh thả lưới dài cả trăm cây số, tôi càng đâm ra lo lắng:

- Đã có bao giờ tàu nước ngoài đi mắc lưới của mình không, anh?

Anh Hiến bảo:

- Không. Hiện nay thì chưa. Vả lại biển Đông mênh mông như thế, 100km thì đã là gì.

Tàu Hải đoàn đi biển dài ngày rất khó khăn về ăn uống sinh hoạt. Cái khó ló cái khôn. Tàu Vạn Hoa 737 của Xí nghiệp đánh cá công ích thuộc Hải đoàn 28 có sáng kiến trồng rau tươi theo công nghệ sinh học. Thuyền trưởng học được kỹ thuật này từ tài liệu của Trung tâm giống cây trồng thành phố Hồ Chí Minh trong tủ sách Hồ Chí Minh trên tàu. Anh và các thủy thủ gieo rau mầm trên đất tự nhiên trộn với phân vi sinh trong các khay tự tạo. Hạt giống rau được ủ và gieo với ánh sáng mặt trời tự nhiên. Chỉ sau 10 ngày là cán bộ, chiến sỹ trên tàu có một bữa rau xanh.

Dân sự hóa huyện đảo Trường Sa thực sự là một chủ trương đúng của nhà nước ta. Công ty 128 được giao nhiệm vụ xây dựng âu tàu ở đảo Song Tử Tây. Tàu thuyền của ngư dân có thể cập bến tránh bão giông. Công ty 128 có thể mua cá, tiêu thụ sản phẩm, cung ứng xăng dầu, sửa chữa kỹ thuật tàu thuyền cho ngư dân. Mấy năm nay, dân đã yên tâm sinh sống, lập nghiệp nơi đảo xa. Ở đảo Song Tử Tây đã có 21 hộ dân, có trường học, cư dân rất trẻ, đã có những cư dân mới sinh ở Trường Sa.

Nhưng, dân ở Trường Sa phải làm gì nuôi trồng cái gì để sinh sống? Vẫn đang là câu hỏi khó trả lời mà những người lính Công ty 128 đang băn khăn tìm hướng lập nghiệp giúp họ. Bởi dân ra đảo phải tự mình sinh sống mới có cuộc sống vững chắc bền lâu. Những đội tàu của Hải đoàn 128 thường đánh cá ở vùng biển rất xa đất liền, ra tận Trường Sa, thực ra là kéo ngư dân đi đánh cá xa bờ. Bảo vệ dân, cho dân yên tâm vì lúc nào cũng có bộ đội ở bên cạnh cả những lúc trời yên biển lặng đến những khi vòi rồng chạy trên biển và giông tố mù khơi.

Một tín hiệu tốt lành đã đến với người lính biển, với ngư dân: Gần 1000 tàu thuyền của ngư dân ta ra đánh bắt hải sản ở khu vực biển Trường Sa và hơn 200 tàu thuyền cá của ngư dân đã vào âu tàu tránh gió bão, hưởng thụ các dịch vụ do Công ty 128 cung cấp.

Hải đoàn – Công ty 128 còn có những đơn vị nuôi trồng hải sản ở Quảng Ninh, Cam Ranh.... Có một đội nuôi trồng thuỷ hải sản nằm trong vịnh Tùng Gấu thuộc khu sinh quyển Cát Bà, xung quanh bốn bề núi đá bao bọc. Nước xanh thẳm, yên tĩnh và thanh sạch. Quả thật là một vùng nước đắc dụng cho nghề nuôi cá lồng bè trên biển.

Quy mô nuôi trồng thuỷ hải sản ở vịnh Tùng Gấu khá hiện đại có hơn 100 lồng cá. Các lồng cá được đóng bằng các thanh gỗ tốt, hình thành các ô cá rộng 50m2, theo kiểu chia ô bàn cờ. Tất nhiên, dưới đáy mỗi ô đều lót lưới. Bạn cứ hãy tưởng tượng: Một đêm trăng rằm như dát vàng, cá quẫy tung mình lên hớp trăng, vảy bạc lấp lánh. Người lính thủy ngồi trên bè lồng giữa trùng trùng ngọn núi giữa biển xanh. Có khung cảnh hữu tình, nên thơ nào hơn thế?

Tháng 1-2011

 
SƯƠNG NGUYỆT MINH
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM