Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:22:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 131911 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #80 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:53:57 am »

                              Khuất sau thời gian
                              Tác giả :Nguyễn Đức Thiện



  Đoàn người dựng trại ở sát mí rừng. Đó là một khoảng đất trống của rẫy trồng mì đã được thu hoạch. Vào vụ nắng, đất khô xác, cỏ héo quắt, còi cọc bò lưa thưa. Chỉ có những bụi le là vẫn xanh. Những cây le le nhỏ, không đủ sức vươn cao, bị gió thổi dạt ngang, dạt ngửa xen vào với nhau như đan vách bồ. Cả một vạt rừng le chạy hút mắt. Xa hơn một chút mới là rừng. Còn nguyên những cây cổ thụ xòe tán che cho tầng tầng, lớp lớp cây con đang tiếp tục lớn lên. Người ta gọi đây là rừng lịch sử.

Giải phóng đã ngần ấy năm vẫn chưa làm sao xóa hết được dấu tích của cuộc chiến tranh xưa. Thời gian chưa xóa lấp hết được dấu tích của một thời.

Hai chiếc lều bạt được dựng lên. Xã đội đã lo chu đáo cho chuyến đi này nên lều của họ là lều mượn được của Hội chữ thập đỏ. Bên ngoài là bạt, bên trong là lớp mùng tuyl. Mỗi lều có thể ở được đến chục người. Mọi người thu xếp chỗ ở rất nhanh. Mỗi người có một cái bồng đựng quần áo, đồ dùng cá nhân. Cả đoàn có 3 chiếc nồi, ít gạo mang theo trước, thiếu, mai mốt xã đội tiếp tế lên thêm... Mấy cây cuốc, cây vá là cồng kềnh thì mang dựa vào gốc cây ngoài trời cũng được.

Chỉ có một việc phải suy nghĩ, đó là: Giữa một đoàn toàn những thanh niên trai tráng lại có một cô gái. Đến cả Huỳnh, đoàn trưởng cũng bị bất ngờ khi thấy trong danh sách có tên cô. Đâu có phải một cuộc đi du lịch hay thám hiểm mà tùy hứng. Những người trong cuộc ra đi này lãnh một trách nhiệm nặng nề: tìm những ngôi mộ trong rừng; bốc cốt xác liệt sĩ đưa về xã.

Công việc này đâu có hợp với mộ cô gái. Huỳnh đã từ chối không nhận cô vào đoàn. Nhưng đến lúc ra đi, cô ta vẫn có mặt, và mặc cho ai nói sao, cô vẫn cứ đi. Để bây giờ, khi xếp chỗ nghỉ cho cô, mọi người mới lúng túng. Đã có người nêu ý kiến: gởi cô ở chòi bác Tư  Đôn ngoài mí sông Vàm. Nhưng mới nghe đến đấy, cô đã giãy nảy lên:

- Không! Bộ các anh cho tôi lên đây để đi chơi hả? Cứ để tôi ở đây. Xếp cho tôi ở góc đó. Các anh phân bì nam nữ dữ vậy.

Cuối cùng, trong một chiếc lều, người ta quây riêng cho cô một chỗ ở bằng những tấm mủ.

Còn một người thứ hai cũng làm cho mọi người băn khoăn khi anh ta nằng nặc không chịu ở trong lều mà nhất định treo võng ở gốc cây vên vên ngoài trời. Trường hợp này cũng là đặc biệt. Khi đoàn người tề tựu đông đủ chuẩn bị lên đường thì anh ta cõng bồng tới. Anh ta nói với Huỳnh gọn lỏn :

- Cho tôi đi chú Huỳnh.

Đối với một công việc thế này, từ chối đề nghị của anh em sao tiện. Vậy là anh ta trở thành quân số của chuyến đi.

Anh con trai đó tên là Sơn.

Còn cô con gái là Yến.

Là người cùng một xã, mọi người trong đoàn không lạ gì Sơn và Yến. Nhưng sự có mặt của họ trong chuyến đi này lại là một điều hết sức lạ.

 

***

Ngay ngày hôm sau, cả đoàn tập trung lại, ngồi sát vào nhau im lặng. Huỳnh đứng trước đoàn quân. Anh muốn nói với anh em đôi câu. Chắc vì quá xúc động, anh lúng túng một lúc sau mới thốt lên được. Lẽ ra phải động viên mọi người thì anh thủ thỉ như tâm sự:

- Hồi đó, mỗi lần vào trận anh em chúng tôi thường nhắc nhau: mang tăng và võng đi chưa? Biết sao không? Mang võng đi, rủi có bị thương còn có cái mà khiêng nhau về. Còn tăng, rủi hy sinh còn có cái mà bó xác... Bạn bè, đồng đội nằm xuống trong những tấm tăng. Không có bia mộ gì đâu. Vạc cây mà đánh dấu. Tên tuổi, quê quán, ngày hy sinh... gói vào bọc mũ, nhét trong chai “pi”·, chôn xuống đất...

Có tiếng nấc lên, Yến khóc.

Tiếng khóc của Yến như len lách vào giữa những khoảng trống im lặng của mọi người. Ngực ai cũng nghẹn cứng. Mắt ai cũng nặng trịch. Tiếng Huỳnh như rót vào tai mọi người:

- Ta đi, các đồng chí.

Huỳnh đi ở đầu hàng. Bóng anh lúc ẩn lúc hiện giữa hàng le. Tất cả theo sau anh. Những vạt cỏ dạt ra nhường lối. Ngay sau lưng Huỳnh là Yến.

Người đi sau cùng là Sơn.

Với đoàn người hôm nay, chỉ có một người biết Sơn khá rành rẽ, đó là Huỳnh.

Sơn vốn không phải là người Ninh Điền. Sau ngày ở trại cải tạo về, Sơn về Ninh Điền sống với bà dì. Bà dì bao cho Sơn sống. Sáng rượu, trưa rượu, tối rượu. Sơn ở lỳ trong nhà với những đợt say chếch choáng, liên miên. Cho tới một hôm, cánh cửa buồng Sơn xịch mở. Dù ngất ngưởng say, Sơn vẫn nhận ra đó là ông phó chỉ huy xã đội, kiêm trưởng công an xã Võ Huỳnh. Sơn hằn học nhìn Huỳnh.

Trước mặt Huỳnh, những con rồng xăm trên người Sơn thật quái dị. Đuôi rồng chẻ hai cuốn từ dườm chân lên bắp vế. Đầu rồng cũng chẻ ra làm hai, vươn cổ, nhe răng, đấu vào nhau, giành đớp lấy quả tim đang rỏ máu. Dưới ánh đèn bàng bạc của ngọn đèn sài bình, thân hình Sơn lồ lộ như bức tượng quái vật. Huỳnh nhếch mép cười. Thật điên rồ!

Sơn điên rồ từ năm mười lăm tuổi, lúc chĩa vài chục đồng bạc để được nhìn hau háu vào mũi kim lục tìm máu, để hứng đón chút xíu cái thứ thuốc kỳ lạ, và sau đó là xỉu đi, tê tê, giần giật, đê mê. Để rồi, ở bất cứ góc phố nào ở Thị xã Tây Ninh cũng có người gặp Sơn là đòi nợ. Sơn đi lính phứt, có tiền, hết nợ và lại được chích. Lúc đó, Sơn mới mười bảy tuổi.

Chưa phải đi cuộc càn nào, chưa bắn vào ai thì Sơn đã phải quăng súng chạy dài trước cơn lốc tấn công của quân giải phóng. Trình diện xong, Sơn coi đời mình như đã hết. Sơn say và trần truồng trước người thợ xăm. Những giọt máu ứa ra, như mang cả hơi rượu nồng nặc. Không còn một đồng, một cắc dính túi, mà Sơn lại cần say cho quên.

Móc được một khẩu AR 15 trong bụi cỏ hôi, Sơn ra đường. Súng nổ. Chiếc xe quân sự của bộ đội chúi đầu xuống ruộng nước. Những cánh tay ghì lấy Sơn. Người chỉ huy căm giận giáng vào mặt Sơn hai cái tát. Sơn đinh ninh mình sẽ bị giết ngay tại chỗ. Đâu ngờ, sau đó là sáu năm đi làm rẫy ở trại cải tạo Cây Cầy. Ngày được tha, Sơn chỉ có một cái giỏ cói, một bộ đồ, đầu cạo trọc. Về Thị xã, không còn ai thân thích. Chợt nhớ bà dì ở Ninh Điền, Sơn tìm lên. Gần hai tháng trời, Sơn chúi nhủi bên bà dì sống độc thân và ít lời.

Hôm nay, Huỳnh tới:

- Anh Sơn, vẫn mạnh đó chớ? - Huỳnh cười.

- Chào... - Sơn đáp.

- Chắc anh còn nhớ tôi chớ?

- Sao quên?

Sơn nhìn xói vào Huỳnh. Ở vào cái thế của Sơn lúc đó thật kẹt. Trước mặt mọi người Sơn vẫn chỉ là một người đáng bị thải bỏ. Vậy mà sao Huỳnh vẫn cười:

- Tôi có công chuyện muốn nói với anh.

- Tôi?   

- Đúng, anh!

Sơn nhỏm dậy, anh vơ đại chiếc áo khoác lên người. Bàn tay Sơn vụng về, gài lộn nút dưới lên nút trên. Huỳnh xán lại, xốc lại áo, cài lại nút giúp Sơn: “Tôi muốn bàn với anh chút công chuyện. Từ bữa về đây anh vẫn rầu lắm, phải hôn. Ở vầy đâu có được. Tính coi, làm cái chi đi chớ?”

Sơn lặng người. Ra vậy! Họ vẫn theo dõi, vẫn nhòm ngó đến Sơn. Ôi da! Lại đi cải tạo nữa sao? Cũng được, vô đó còn có việc mà làm, chớ còn ở đây, không nhậu là hết chuyện. Sơn hằn học gạt mớ đồ ngổn ngang trên giường sang một bên, nói như trút hơi giận:

- Tôi đó. Các ông muốn làm gì thì làm. Tôi hết số rồi. Tới đâu hay đó...

- Trật rồi đó, Sơn - Huỳnh vẫn chậm rãi - Tụi này tính cấp cho anh ít đất ven vùng Gò Nổi. Ra đó mà làm ăn tụi này giúp cho. Chớ trẻ trung mà sống bám, sống chỉa vầy, coi bộ hổng được, Sơn !

Sơn há hốc miệng và không còn tin vào tai mình nữa. Sơn lắp bắp:

- Chớ tôi... đồ bỏ... mà...

Huỳnh cướp lời:

- Sao lại bỏ! Nghĩ kỹ đi nghen? Chịu, mai tôi tới rồi trả lời hén?

Bóng Huỳnh khuất vào rặng tầm vông ngoài cổng.

Người ta không phỉnh Sơn. Miếng đất người ta cấp cho Sơn nằm ngay sát mí sông Vàm Cỏ Đông, phía cuối của xóm Gò Nổi. Sơn cất lên ở đó một cái chòi. Hai vụ trồng mì, Sơn có được chút ít đồng vốn để làm lúa. Sơn đón bà dì ra ở đó, nấu cơm và coi nhà. Suốt ngày Sơn ở ngoài rẫy. Hình con rồng xăm ở trên người lẫn với lớp da trên lưng Sơn, đen bóng.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #81 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:55:22 am »

                            Tiếp :
Từ bữa đó, Sơn có cảm giác mình lại mắc nợ. Nợ trước Sơn bán mình cho lính là trả đủ. Còn cuộc nợ này, biết làm sao trả. Từ hai bàn tay trắng, như cái đầu bị cạo trọc, nay lần lần mọc tóc. Bỗng chốc ở đâu mà có? Từ chối mọi cuộc sinh hoạt, Sơn sống bó mình lại với ruộng, với rẫy, chờ có dịp tìm cách trả nợ. Bữa đó, bà dì Sơn ra chợ về. Mỗi khi về tới chòi là bà im lặng vô bếp chụm lửa, nấu cơm. Hôm đó, Sơn ngồi lặng lẽ chuốt mấy sợi mây, bà dì chép miệng:

- Tội nghiệp quá, con!

Sơn ngạc nhiên nhìn bà dì:

- Chi vậy, dì.

Lúi húi sắp xếp rau, dưa ra cái rổ lớn, bà dì nói vọng ra:

- Mấy ông hy sinh từ hồi kháng chiến, bây giờ xã mới kiếm đưa về... không biết rồi có thấy hết người ta không?

Sơn hỏi cho có chuyện:

- Ai kiếm, mà kiếm ở đâu, dì?

- Người xã mình kiếm chớ ai? Mai mấy chú du kích lên rừng. Nghe đâu xa lắm, mãi trong rừng lịch sử đó...

Vì thế, đi trong hàng quân hôm nay, có Huỳnh ở phía trước là người hiểu Sơn vì sao có mặt.

***

Càng vào sâu rừng càng rậm. Dây leo chằng chịt cản hết lối đi. Tuy vậy, vẫn thấy được dấu tích của đường giao thông hào thuở trước. Những chiếc hầm thùng bị mưa sạt lở vẫn lộ rõ khuôn hình. Những cái bếp dã chiến cỏ đè phủ kín nhưng vẫn còn vệt cháy đen. Mối đùn lên các căn hầm chữ A. Đoàn người im lặng bước đi. Chỉ còn nghe thấy tiếng gạt cỏ cây, mở lối, tiếng lá khô rào rạt dưới mỗi bước chân. Rừng sau gần một chục năm đã được trả về cái hoang sơ, bầy khỉ đuổi nhau kêu chí choé, văng vẳng tiếng con khướu hót, tiếng chim sáo ríu rít, tiếng gõ kiến tông tốc, con “bắt cô trói cột” kêu cụt lủn và con bắt tép kho cà giọng khàn đục khô khan. Rừng đã huyền bí, lại mang dấu vết xưa càng thêm huyền bí, như chất chứa ở trong đó một kho tàng truyện cổ tích chưa có ai viết hết, kể hết.

Huỳnh dừng lại. Đoàn người dồn lên. Huỳnh trải ra trên khoảng cỏ một tấm sơ đồ. Anh đặt lên đó một chiếc địa bàn. Xoay xoay một lát, anh nói với mọi người:

- Sơ đồ là vậy đây, các đồng chí. Nhưng cũng không thật chính xác đâu. Đánh dấu bằng mấy cây cổ thụ, nhưng thời gian cũng quật ngã hết rồi. Bây giờ chúng ta ráng kiếm vậy. Mong các đồng chí đừng nản. Có thể chúng ta bị lầm vì những đống mối đó...

Đoàn người được chia nhỏ ra. Cứ hai người một nhóm. Huỳnh giao Yến cho Sơn không có một lời dặn dò. Sơn nhìn Yến như dò xét, xem thử sức lực của cô này tới đâu. Không được đẹp lắm. Đầm người, tay chân thô đúng với dáng vóc của một người quen việc ruộng đồng. Nước da nâu đỏ. Ngược lại, gương mặt lại khá nhẹ nhõm với một cái miệng nhỏ, hai mắt sáng và một đường chân mày không cần xén tỉa vẫn gọn gàng, mảnh và sẫm đen. Yến không một lời phản đối và đưa mắt như  muốn nói với Sơn: “Đi! ”.

Suốt buổi, cả hai không nói với nhau được bao nhiêu. Sơn, vốn lầm lì. Yến không phải là người sôi nổi. Lúc nào cô cũng vương vấn một nỗi buồn nào đó. Khi Sơn cầm cuốc thì Yến cầm vá. Nhát cuốc của Yến không thua gì Sơn, và mỗi vá đất  của Sơn cũng không đầy hơn của Yến là bao nhiêu. Mồ hôi đẫm ướt lưng hai người. Mùi đất và mùi cây dập nát át đi mùi hôi nồng nồng. Đến tận trưa, họ vẫn chưa đào đúng được ngôi mộ nào. Những ổ mối quá nhiều nổi lùm lên, giống hệt những ngôi mộ. Mỗi người một góc với nắm cơm và chiếc bi đông nước của mình. Giấc nghỉ trưa im lặng trong tiếng chim và gió rừng xào xạc. Mỗi toán một góc rừng, cũng chẳng ai tìm ai mà trò chuyện.

Buổi chiều, cuốc và vá của hai người gặp được ngôi mộ đầu tiên. Ngôi mộ! Đơn giản thôi, nơi ấy chôn một người vĩnh viễn không biết mình còn buồn, vui, sướng, khổ, chẳng cần biết đến những day dứt của cuộc đời, chẳng nợ ai và chẳng ai nợ mình. Thanh thản và vô tư  như đất. Đưa về nghĩa trang liệt sĩ, công việc này nó chỉ có ý nghĩa với người đang còn sống, những người có liên quan đến cái chết của người nằm dưới đó. Còn với Sơn, phải chăng, anh chỉ là người ngoài cuộc. Nếu như trước đó, có một lần anh bắn vào ai... có thể anh còn day dứt. Đằng này không. Anh chưa làm cho ai phải chết. Anh vẫn hất mạnh lưỡi vá. Đột nhiên, Yến giật lấy vá từ tay anh:

- Đưa tôi.

Khuôn mặt của Yến lúc này tái đi. Mồ hôi tuôn ra làm bết dính mớ tóc mai vào má. Chiếc áo bà ba đen chật dính vào người. Bỗng nhiên, Sơn như bị thừa ra. Anh hết đứng lại ngồi, không còn biết làm gì nữa. Yến thở rất mạnh. cả khuôn ngực cô vồng lên mỗi lúc hất mạnh chiếc vá xuống lòng đất. Mấy lần Sơn đưa tay đón chiếc vá, Yến đều lẳng lặng gạt đi.

Lộ ra một lớp tăng mủ đã khô, giòn và mún lại như đất.

Lộ ra lớp vải đã mục nát, chỉ còn hình thù những sợi mỏng manh.

Lộ ra những cái xương trắng toát.

Sơn gai người. Một mùi đất mục, ải, bốc lên. Anh ngồi chết lặng đi. Yến nói như quát:

- Trải tấm mủ ra...

Như một cái máy, Sơn làm theo lệnh Yến. Anh đón từ tay Yến từng lóng xương một. Đến cái cuối cùng. Vậy mà Yến vẫn còn soi tìm cái gì ở dưới đó. Một lúc lâu sau, Yến đứng thẳng lên, trên tay một cái chai thủy tinh nhỏ. Cô leo lên bờ và ngồi ngay lên đống đất vừa hất lên, bên cạnh tấm mủ có để những lóng xương khô.

Bàn tay lấm đất của Yến run lên. Cô thận trọng gỡ những hạt đất dính trên cái chai thủy tinh. Cọng nịt cột trên cổ chai đã mục sờ đến là đứt tung. Miếng mủ bịt trên đó rơi ra. Cái nút cao su bật mở. Lại thêm một lượt bọc mủ nữa. Vẫn bàn tay Yến run run lật ra một mảnh giấy nhỏ. Mảnh giấy tuy bọc kỹ nhưng nằm quá lâu dưới đất vẫn bị ố vàng. Nét chữ trên tờ giấy không được đẹp lắm. Chắc trước khi chôn xuống đất người ta viết quá vội, dòng chữ cũng không được ngay ngắn. Qua vai Yến, Sơn đọc được:

“Nguyễn Minh Khởi

Sinh tại… Phó Đức Chính Hà Nội

Ngày… tháng... năm

Hy sinh tại căn cứ…  Tây Ninh

Ngày… tháng… năm 1966”.

Yến nấc lên. Đôi vai đầy đặn của cô run bần bật. Sơn ngạc nhiên. Bỗng đâu đi khóc người dưng. Sơn bật ra một câu vô thưởng vô phạt:

- Khóc! Sao khóc. Bộ cô có khóc hết được những ngôi mộ trong rừng này không?

Yến đứng vụt dậy. Cặp mắt ướt đẫm nhìn sói vào mặt Sơn, căm phẫn:

- Cút, anh cút ngay...

Tay cô cặp cây vá. Cây vá vung lên. May sao lại có một cây rừng. Cán vá phang phải cây, rắc một cái, cây rời ra. Sơn khẽ chao mình, né. Nhìn Yến một chút bằng cặp mắt thảng thốt, anh lẳng lặng quay đi. Nhưng chỉ được vài bước, anh quay lại, gom tấm mủ gói lại những lóng xương và khoác lên vai. Yến đăm đăm nhìn theo Sơn. Nước mắt vẫn chảy dài trên má. Cô gấp lại mảnh giấy, để lại trong chiếc chai, lượm lấy lưỡi vá, vác cây cuốc lên vai, đi theo bóng Sơn thấp thoáng trong lớp cây rừng.

Mọi người đốt lên một đống lửa. Giữa một khoảng trống không thanh vắng, ánh lửa bập bùng sáng lên ấm cúng. Gần như mọi người đều quây quần bên đống lửa đó. Chỉ thiếu có ba người. Huỳnh ngồi riêng lại với Yến trong lều. Sơn ra nằm trên cái võng của mình. Không hiểu sao gương mặt giận dữ của Yến cứ hiện ra lồ lộ trước mặt anh. Anh không lý giải được vì đâu Yến lại như vậy. Có tiếng bàn chân bước nhẹ. Sơn quay mặt lại. Ai như Yến. Yến đang đi lại phía anh. Bóng cô đổ dài xuống mặt cỏ. Sơn lúng túng ngồi dậy:

- Cô Yến!

Yến tới. Sơn đứng dậy nhường chiếc võng và mời Yến ngồi. Anh ghé ngồi xuống chạc rễ cây, ngay sát đầu võng. Yến ngồi đó, không chào, không hỏi, không nói năng chi. Đêm như  thanh vắng hơn.

Phải thật lâu sau, như đã suy nghĩ cho thật kỹ, Yến mới nói :

- Khi tối, chú Huỳnh có gặp tôi... Hồi chiều anh Sơn buồn tôi lắm phải không?

Sơn nhếch miệng cười khẽ:

- Đâu có chi, cô Yến!

- Anh đừng giấu... Tôi biết quá đi chớ. Anh thông cảm cho... Yến nhen! Anh chưa hiểu hết Yến ... Chiều nay về, Yến đã mở mười cái chai như anh Sơn thấy đó... không thấy...
Sơn giật mình, hỏi gấp gáp:

- Thấy ai, cô Yến?

- Ba tôi...

- Trời đất, thiệt vậy sao cô Yến?

Yến im lặng không nói gì nữa. Sơn có cảm giác nước mắt Yến đã tuôn tràn trên má. Mà sao không nghe tiếng nấc? Sơn muốn nói một cái gì đó để phá tan không khí yên lặng nặng nề. Nhưng rồi anh vẫn ngồi yên tay bứt mấy tàu lá xé tơi ra, vo lại và ném vào ánh trăng nhạt nhòa trước mắt.

Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #82 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2011, 09:57:11 am »

                                           Tiếp :


Cách đây hơn một tuần, sau buổi chiều, ông Ba - ba của Yến - đi họp trên xã về. Ở đó ông là bí thư chi bộ. Buổi cơm chiều đó diễn ra thật khác thường. Má Yến không rầy la sắp nhỏ nhiều như mọi ngày. Bà lặng lẽ gắp thức ăn cho chồng và... cho Yến. Hai mắt bà nặng trĩu luôn tránh nhìn Yến và chồng. Chưa xong bữa cơm bà đã vô gian trong lên giường nằm. Yến hỏi vọng vào:

- Má bịnh sao đó má?

Ba Yến đáp thay:

- Để má con nghỉ, Yến!

Ông ngồi trầm mặc bên cái chén cơm không. Ly rượu đã vơi đi một nửa. Chưa hôm nào Yến thấy ba uống rượu một mình. Gương mặt ốm và đen đúa của ông đượm một vẻ buồn sâu sắc. Yến không dám nói lớn.

Lũ em của Yến mọi ngày nhao nhao, nghịch ngợm, hôm nay lặng lẽ ngồi ăn rồi tự đưa nhau đi rửa ráy và đi ngủ sớm. Chỉ còn ba của Yến ngồi bên mâm lặng lẽ. Ông bảo Yến:

- Con dọn mâm rồi lại đây ba nói chuyện.

Yến lo lắng. Phải chăng Yến có gì đó làm phật lòng ba? Hay ngoài xã hội nói với ba cái gì đó không hay về Yến? Vừa rửa chén Yến vừa xem xét lại mình.

Khi Yến ngồi vào bàn ba Yến mới chậm rãi nói:

- Con năm nay nhiêu tuổi rồi Yến?

- Dạ! Con…

- Mấy bữa nay xã tổ chức đi lấy cốt liệt sĩ trong rừng lịch sử về, con có biết không?

- Dạ biết.

- Ba muốn nhờ con một việc. Đúng ra ba phải đi nhưng con coi, cái chân giả của ba… Hồi đó ba có một người bạn. Thân lắm, ảnh ở tận ngoài Hà Nội lận. Ảnh là một trong những người vào Nam chiến đấu rất sớm. Hồi đó những người như ảnh trút bỏ bộ đồ bộ đội, khoác bộ bà ba làm du kích địa phương ở Tây Ninh này nhiều lắm. Ba gặp ảnh ở dưới Trảng Bàng. Ba không muốn kể cho con nghe ba và ảnh kết thân với nhau ra sao. Chỉ biết ba không thể tìm được người thứ hai thân như thế. Hoạt động ở dưới đó một thời gian khá dài, ảnh lấy vợ cũng là một cô du kích. Do yêu cầu công tác, ba và ảnh đều được điều động lên căn cứ làm bảo vệ. Trận càn của bọn Mỹ vào căn cứ năm đó… Ảnh bị thương. Đang chiến đấu căng thẳng ba và anh em không sao đưa ảnh về phía sau được, đành để ảnh nằm lại trong một căn hầm. Chiều, Mỹ rút. Ba và anh em quay lại tìm ảnh. Căn hầm ấy không còn nữa. Những trận bom, trận pháo đã xoá nhòa hết mọi thứ trên mảnh đất ấy. Cây cối đổ ngổn ngang, dập nát. Hố bom chằng chịt. Anh em có người bảo ba: “Thôi anh Ba, cảnh này sao tìm được… mình chia tay ảnh, cầu cho hương hồn ảnh…”. Ba không chịu. Ba đạp đi đến toé máu chân. Bàn tay ba rớm máu, vì cứ thấy chỗ nào nghi nghi là ba bươi, móc. Ba thầm gọi tên ảnh. Phải đến xẩm tối, ba và anh em mới gặp lại căn hầm đó. Nó bị cả một vạt đất của hố bom ùn lên lấp lại. Khi kéo được ảnh lên thì cả cơ thể anh ấy đã tấy lên. Không biết bằng cách nào mà ba đã làm cho ảnh tỉnh lại. Chỉ biết lúc đó ba quát anh em cởi quần áo ra cho ảnh, xem lại vết thương nơi bụng, thấy vẫn còn máu. Nghe ngực vẫn còn thấy nóng… Ba xoay vần ảnh, xoa ngực, xoa trán và luôn miệng gọi ảnh. Rồi ba nghe thấy ảnh nấc nhẹ như thở ra hắt ra. Ba mừng quá, gọi tên ảnh nhiều hơn. Đặt ảnh lên võng, ba và anh em cáng ảnh về hậu cứ. Suốt đêm ấy ba thức bên ảnh trong căn hầm cấp cứu. Gần sáng, bỗng thấy ảnh cố cất đầu lên. Hai mắt ảnh dài dại tìm kiếm Ba vội đến bên ảnh. Phải định thần một lúc, ảnh mới nhận ra ba. Ảnh thều thào:

- Anh Ba đó à?

Ba gật đầu, không dám nói to:

- Dạ, tôi nè!

Ảnh cố đưa tay đặt lên tay ba, nói đứt đoạn:

- Có lẽ… tôi… đi mất.

Ba gạt đi:

- Không sao đâu. Mai mốt là anh khỏi thôi! Ráng lên…

Anh lắc đầu:

- Tôi… mệt lắm rồi. Anh về dưới Trảng Bàng… Chăm sóc dùm cô ấy. Lúc anh em mình đi… hình như cô ấy… có thai…
Ba nhớ, lúc đó ảnh đã ráng mỉm cười. Nói đến thì ảnh xỉu đi. Ba chỉ còn biết nắm chặt tay ảnh và thét gọi bác sĩ đến cấp cứu.

Sáng ra, Mỹ lại càn vào cứ. Cuộc chiến đấu sau hôm đó ít hôm, ba mất cái chân này đây.
Ông ngừng lại, đưa ly rượu lên. Ông chậm rãi nhấm dần, nhấm dần cho đến hết ly rượu trong ly và nuốt đi cả tiếng nghẹn ngào muốn bật ra khỏi miệng. Còn Yến, cô ngồi nghe và nước mắt chảy vòng quanh. Như để định thần, ông Ba xoa mạnh tay lên mặt mình rồi bật ra:

- Người đó… là ba con đó…

- Ba! - Yến nghẹn ngào - Ba ơi!

Yến ôm chầm lấy ông, không nén được, cô tức tửi khóc. Ông Ba đưa bàn tay sần sùi chai xoa xoa lên lưng Yến, mong bằng sự vỗ về đó làm cho Yến vơi đi nỗi đau chợt đến đột ngột:
- Từ bấy đến nay… thấy con đã khôn lớn, ba mới quyết định cho con biết chuyện này.

- Ba! ba ơi! - Yến đeo chặt vào người ông.

Trong tiếng gọi không nhận ra được cô đang gọi ai, người đã mất hay người đã ôm ấp nuôi dưỡng cô mấy chục năm trời qua.

Tiếng khóc của Yến dịu bớt. Ông Ba mới tiếp tục:

- Ba về Trảng Bàng, đón má con đi, lúc đó con đã được gần một năm. Bây giờ có cơ hội, mấy bữa nữa con ráng đi với anh em cho biết rõ trong trỏng. Rồi ba ghi tên tuổi của ba con cho con tìm… Tìm được, ba con mình sẽ ra ngoài đó, để quê nội ngoài đó nhận con…

Yến đã kể lại chuyện ấy cho Sơn nghe. Sơn hiểu, chiều nay anh đã làm một việc thật dại dột là động đến nỗi đau lớn lao trong lòng Yến. Nhưng Yến không biết rằng câu chuyện đã làm cho Sơn đau xót vô cùng.

Một tháng qua đi, hơn một trăm ngôi mộ liệt sĩ đã được đưa về chôn cất tại nghĩa trang của xã. Không thể ở lâu được. Đã đến mùa làm thủy lợi, xã quyết định rút quân về.

Suốt một tháng trời, Sơn và Yến vẫn làm việc bên nhau. Những ngày đầu vẫn là Yến tranh phần việc hốt cốt đưa lên cho Sơn xếp gọn vào những tấm mủ… Nhất là tranh mở chiếc lọ thủy tinh, bao giờ cũng vẫn là Yến. Sự hồi hộp lan dần sang Sơn. Mỗi lần Yến run run mở nút chai là mỗi lần Sơn nghẹt thở.

Chiều đến, về nơi tập trung, anh cùng với Yến, ngồi đọc lại những mảnh giấy để tìm trong đó cái tên người mà cả Sơn nữa như đã thuộc như chôn vào ruột. Anh mong sao, một trong những tờ giấy ở trong những cái chai kia là của Yến. Mong mỏi của Yến cứ dầy lên theo. Sơn biết, tìm một người trong ngàn người đã nằm xuống dưới đất kia có khác nào tìm kim dưới bể. Vậy mà sao, Sơn cứ đinh ninh rằng anh và Yến cũng sẽ tìm được. Miễn sao có được thời gian. Sơn quên mất rằng hồi đầu anh xin đi chỉ vì nghĩ: đi để trả nợ!

Đêm cuối cùng ở rừng lịch sử. Yến là người đi nghỉ sớm nhất. Anh em cũng đã lo xong mọi việc cho ngày mai rút quân và lần lượt về chỗ của mình. Sơn tìm đến Huỳnh.

Đêm xuống, yên lặng, thần bí. Rừng trong đêm càng yên lặng và thần bí. Thời gian sẽ cho phép con người khai thác và mở ra tất cả những yên lặng và thần bí của đêm rừng.

Nhưng dẫu sao đêm cũng vẫn cứ là thực, khuất sau đêm là thời gian. Thời gian có thể nối lại những giãn cách giữa hôm qua và hôm nay, giữa người chết và người sống. Nhưng có thể nối  lại khoảng cách giữa hai con tim? Bóng dáng Yến cứ chập chờn ẩn hiện trong suy nghĩ của Sơn. Sơn muốn hỏi Huỳnh một điều gì đó, song lại thôi…

 

NGUYỄN ĐỨC THIỆN
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #83 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:16:35 pm »

                         Xóm sở Mỹ    
                         Tác giả : Thu Trân

   Lần này Smith vào nhà, chị Trửng không đóng kín cửa mà để he hé. Cô bé Bạch ngập ngừng, lớ ngớ đứng trước hàng hiên. Tiếng má gọi cô rát rạt cách một con đường đất đỏ và hai hàng dâm bụt đầy hoa:
- Bạch… về! Đứng đó coi Mỹ nó ở truồng phải không?
Mỹ nó ở truồng? Mấy lần chị Trửng đóng kín cửa thì Bạch không biết nhưng lần này, Bạch biết. Qua khe cửa, Bạch thấy Smith nép đầu vào ngực chị Trửng, nó khóc như mưa. Tiếng người lớn, mà lại là người lớn Mỹ khóc nghe mới lạ làm sao! Làm sao Smith khóc vậy? Chị Trửng đang xoa đầu nó như xoa đầu một đứa trẻ rồi xí xô xí xào cái gì đấy. Một lần nữa, Bạch nghển cổ nhìn vào khe cửa… Tiếng roi rít dữ dằn trên lưng cô bé:
- Đồ con ngựa! Muốn làm sở Mỹ phải không, về!
Người mẹ đã đánh tan sự tò mò của con bé bảy tuổi bằng chiếc roi mây dài hơn người nó.
Ngồi trước hiên nhà, Bạch thấy hai đôi mắt, hai cái lưỡi le dài qua khe hở hàng rào dâm bụt phía bên kia:
- Ê, lêu lêu cái đứa đi coi Mỹ ở truồng bị má đánh, lêu lêu…
Bạch cũng không vừa, cô bé phun nước bọt về phía thằng Lì và con Anh:
- Kệ cha tao! Mỹ nó ở truồng hồi nào mà bây biết, tụi bây muốn coi thì có…
Hai đôi mắt, hai cái lưỡi le dài còn nhí nhố thêm một chút nữa nhưng Bạch không thèm quan tâm. Cô bé vẫn còn nghĩ đến Smith, không biết giờ này nó thôi khóc chưa. Không, anh ấy thôi khóc chưa. Tại sao mọi người ở cái xóm sở Mỹ này không cho con nít gọi mấy người lính Mỹ là anh, ông hoặc chú, bác gì đó. Một lần nói chuyện với thằng Lì, Bạch bảo “anh Mít”. Bác Tám xe lam đang lui cui lau xe gần đó bảo, tụi bây không được kêu đám lính Mỹ bằng anh, mà cứ “nó” mà kêu. Chị Trửng mặc áo xệ nửa ngực đứng bên kia hàng rào hong tóc cười ha há: “Kêu gì cũng được, you you hết á mà!”. Ừ, thì you cho dễ chịu. Smith you, Tom you, John you, Henry you. Nhưng Bạch thích Smith you hơn cả. Smith dễ thương nhất. Anh ấy… Bạch lại nhìn quanh, ừ, mình nghĩ trong đầu, có ai nghe đâu mà sợ bị người lớn la. Anh ấy có nụ cười đẹp và thích công kênh thằng cu Tẹo con cô Xí quét rác trên vai. Anh ấy có mái tóc vàng và đôi mắt xanh màu nước biển. Anh ấy hay xoa đầu Bạch và cho Bạch sô-cô-la. Chị Trửng bảo, Smith cũng có một cô em gái bằng tuổi Bạch ở bên kia nước Mỹ… Bạch lại dõi mắt qua bên phòng chị Trửng. Smith đẩy cửa bước ra. Ô, sao anh ấy về nhanh thế. À, tại vì hôm nay anh ấy khóc chứ không vui vẻ như mọi hôm. Smith đi lướt qua con đường đất đỏ thân quen trước mặt Bạch. Cô bé nhìn trước ngó sau rồi phóng tọt theo:
- Mít, ê lô, nô can đu!
Bạch cũng không biết mình nói gì nhưng Smith hiểu đó là sự sẻ chia của cô bạn nhỏ, anh đưa tay xoa đầu cô bé rồi bye bye. Quay lại ngồi trước hiên nhà, nhìn qua bên kia, Bạch thấy chị Trửng vừa phơi quần áo vừa trả lời với ai đó:
- Ừ, Smith về sớm tại nó buồn, hôm qua nó có thằng bạn thân chết trận.
Rồi chị cúi xuống nhặt áo phơi tiếp. Bạch lại nghe tiếng chị Trửng:
- Nhìn gì nhìn dữ vậy cha nội, đi chỗ khác chơi dùm con, vú con cũng như vú vợ cha thôi mà!
Cha ba Gà dê nhất xóm cười hề hề bỏ đi. Chị Trửng lại vừa phơi đồ vừa hát. Hẹn chiều nay mà sao không thấy anh. Gió hiu hiu lòng bỗng nghe lạnh thêm. Chiều mù sương hay mù khói thuốc anh. Anh không lại anh nhủ lòng sao anh. Anh cứ hẹn chiều nay rồi lại không thấy anh. Áo ai xanh hờ hững đi vào đêm… Bạch chống tay lên cằm thở dài, chị Trửng hát sao nghe buồn quá, còn Smith thì lại vừa có người bạn bị chết, hèn gì lần này anh ấy quên không mang kẹo cho cô…

Xóm của Bạch bị gọi là xóm sở Mỹ vì có nhiều người ngăn nhà làm phòng cho mấy cô, mấy chị làm sở Mỹ thuê. “Sở Mỹ” lớn nhất gần xóm Bạch là sân bay Biên Hòa. Lính Mỹ trong sân bay cần người lau dọn, giặt giũ, đấm bóp chi chi đó thì đã có những cô gái Việt thất nghiệp tuổi mười tám, đôi mươi. Sau này lớn lên, Bạch biết còn có những người vào sở Mỹ làm văn phòng, phiên dịch. Còn các cô, các chị làm sở Mỹ thuê nhà trong xóm Bạch toàn những người dọn phòng cho lính Mỹ. Ngoài chị Trửng, còn có chị Xuân, chị Hồng, chị Tuyết… Hết giờ vào sở Mỹ lau dọn, mỗi chị mang về một ông Mỹ. Họ vi vu với nhau vài giờ trong căn phòng kín mít của mỗi người. Sau đó mấy ông Mỹ lên xe jeep phóng ào về sân bay. Đám gái làm sở Mỹ bắt đầu trửng giởn với nhau hoặc hè ra tắm giặt. Những người ở xóm sở Mỹ ghét lính Mỹ, khinh gái làm sở Mỹ nhưng không thể không sống nhờ vào những dịch vụ từ họ. Có ít nhất năm nhà trong xóm sống bằng tiền cho họ thuê nhà. Bà năm Bồng nấu cơm tháng cho đám chị Trửng. Họ đóng tiền sòng phẳng cả tháng nhưng bữa ăn bữa bỏ nên không thừa đầu này cũng thừa đầu kia. Chị Xí quét rác được Smith đưa vào sở Mỹ nhặt rác. Từ rác, chị nhặt ra nào bánh kẹo, đồ hộp, sách báo… bán lại cũng đủ tiền nuôi thằng cu Tẹo không cha. Ông Tám xe lam ghét lính Mỹ nhất xóm nhưng cũng không thể bỏ được mối đưa đón các cô, các chị đi làm sở Mỹ…
Xóm sở Mỹ có trăm ngàn cách ghét lính Mỹ và khinh gái sở Mỹ. Mỗi lần đám lính Mỹ đến tìm các cô, các chị thì y như rằng, họ phải nghe những lời chửi đổng của mấy ông bà già xuyên suốt hai bờ rào dâm bụt. Mẹ cha nó, đất nước mình nó xâm chiếm, còn có sẵn gái cho nó nữa chớ. Ông bà nó, thứ Mỹ gì mà hôi như cú, đi qua tám chục thước còn nghe mùi. Nhưng đám lính Mỹ vẫn nhe răng cười, có hiểu gì đâu mà không cười. Biết dân xóm bực dọc mình một điều gì đó nhưng chắc là không đáng kể nên cứ cười cho xong. Mấy đứa con nít thì cứ rồng rắn theo sau. Ê, hé lô, Tôm, no can đu. Thế là có kẹo ăn. Đến đám gái làm sở Mỹ như đám chị Trửng mới thật khốn nạn cuộc đời. Mỗi lần các chị đi làm về, đường vào nhà trọ chỉ vài chục mét thôi, mà mỗi chị đều bị “lãnh đạn” vào mông hoặc ngực. “Đạn” là những bì giấy cuộn tròn bằng ngón tay út xếp đôi, được bắn từ những chiếc giàn thun tự chế của đám mấy thằng phá như quỉ núp trên những chạc cây hai bên đường. Người lớn biết chuyện mất dạy này của đám nhỏ nhưng không la rầy gì hết, bởi theo lời bà hai Đảnh bán thuốc lá đầu xóm: “Kệ mẹ nó, cho mấy con quỉ bớt đú đởn với Mỹ!”. Có lần chị Xí dặn lại: “Không có mấy bả đú đởn với Mỹ lấy ai cho bà bán thuốc lá?”. Thế là hai bà quần nhau đến rách mặt, tét tai. Nhưng đáng gờm nhất với đám lính Mỹ vẫn là bọn con trai xóm sở Mỹ. Dân hiền lành có cắp sách đến trường như anh Tòng, anh Tâm… thì không nói. Sợ nhất là mấy ông nghỉ học giữa chừng, trốn lính hay dân vệ. Chiều nào mấy ổng tụ tập lại nhậu nhẹt, gõ nồi gõ mâm hát nhạc lính chiến thì y như rằng sau đó có khiêu khích, ấu đả với đám lính Mỹ. Chỉ mỗi cái tội mà ông Tính dân vệ tuyên bố không đội trời chung với lính Mỹ là tội “xốp” đàn bà, con gái Việt Nam. Có lần Tom và John, bạn của chị Hồng - chị Tuyết bị mấy ổng “bề hội đồng” úp bao bố rồi đổ nước mắm tôm pha loãng lên đầu. Sau đó đám bề hội đồng phải trốn biệt vì Tom và John quay trở lại hằn thù với hai súng hai tay. Cũng may mà không lâu sau đó, Tom và John ra trận. Chị Hồng, chị Tuyết lại cặp bồ với mấy ông lính Mỹ mới. Cũng vì cái tội “xốp” đàn bà, con gái Việt Nam mà có lần Smith bị đám nhậu bắt trói vào nọc trầu đầy kiến lửa của nhà bà hai Đảnh. Tim Bạch đập thùng thùng, cô bé hớt hải chạy đi báo chị Trửng. Chị Trửng không có nhà. Chết, không có chị Trửng ở nhà thì Smith mò vào xóm làm gì. Bạch chạy quýnh quáng như con kiến bò trong chảo nóng. Có ai, có ai không, cứu giùm Smith. Anh ấy không thể chết vì đám nhậu. Anh ấy dễ thương như thế. Mới hôm qua, anh ấy còn cho bà Sáu già cuối xóm tiền đi khám bệnh. Mới hôm kia, anh ấy còn khóc khi đưa tang anh lính tên Hòa chết trận. Ba Bạch bảo, Smith được, Smith dễ thương nhất trong số những người bạn Mỹ của các me Mỹ trong xóm. Đang rối bời lên như thế thì Bạch gặp anh cu Kiệt bước qua cầu chiếc cầu mỏng mảnh được bắc qua hai bờ rạch bằng một tấm vỉ sắt rỉ sét. Chiếc cầu nối những khu nhà trong xóm và đường ray xe lửa cùng những cánh đồng mênh mông bát ngát bên kia. Bên kia những cánh đồng không có người ở. Chỉ có những túp lều của người chăn vịt. Anh cu Kiệt ăn, ngủ và ở luôn tại một trong những túp lều đó. Từ ngày nhận biết được bà con chòm xóm, Bạch thấy anh cu Kiệt chỉ có một mình, không cha mẹ, anh em, bà con thân thích. Anh đang quảy trên vai một chiếc túi lòng thòng, chắc là mang mớ ếch vừa soi được qua xóm bán.
- Anh cu Kiệt!
- Gì đó nhỏ?
- Đi cứu Smith đi!
- Cứu Mỹ hả? Mày thương Mỹ lắm sao?
Nước mắt Bạch ứa ra. Cô bé không nghĩ mình thương Mỹ mà chỉ thấy Smith hiền, không đáng tội chết vì kiến lửa. Nói vậy nhưng anh cu Kiệt bước lại xoa đầu Bạch:
- Được rồi, sao mít ướt vậy, đám nhậu đang hành hình Smith ở đâu?
Anh cu Kiệt khoảng mười tám, mười chín tuổi thôi nhưng có uy với đám nhậu trong xóm vì nói được lời hay, uống rượu giỏi và hay cung cấp “mồi” cho họ. Anh làm chuyện gì cũng dứt khoát, có hiệu quả. Người anh cao nghều, ốm nhom ốm nhách, đen thủi đen thui, quanh năm suốt tháng mặc áo quần bà ba đen, đội nón lá rách te tua, quần thảo suốt ngày ngoài đồng, hết soi ếch lại câu cá. Người trong xóm nói anh là Việt cộng nằm vùng, phải tránh xa, nếu không sẽ bị vạ lây bởi sự săn lùng của đám cảnh sát quốc gia. Cũng như chuyện gắn bó với Smith, ai nói gì anh cu Kiệt mặc tình, Bạch thấy anh dễ thương là được. Có lúc đi soi ếch về muộn, cu Kiệt ra quán đầu xóm mua mì gói nấu ăn, mì hết, anh cầm tô kêu Bạch về xin má cơm nguội. Má rít chặt hai hàm răng: “Gan quá ha, biết nó là gì không mà tiếp tế cơm nguội?”. Lúc nào ba cũng đứng phía sau Bạch: “Bà sao hay quá! Quan trọng làm gì với con trẻ chuyện hàng xóm khi tắt lửa tối đèn”. Vậy là ba múc cho anh một tô cơm đầy tú hụ, có cả khứa cá lóc kho tiêu láng váng mỡ hành… Như người chết đuối vớ được cọc, Bạch đưa tay áo chùi nước mắt, nắm tay anh cu Kiệt lôi đi băng băng… Anh chạng chân, chống nạnh giữa đám nhậu ồn ào:
- Đứa nào trói thằng Mít vô cột vậy bây?
Có tiếng đằng hắng:
- Mắc gì hỏi? Bộ Mỹ là ông nội mày hay sao?
- Không phải là ông nội nhưng nó cũng là giống người.
Đám đông lè nhè, nhao nhao:
- Nhà tụi bây có trồng cây mít không? Vậy sao nó tên Mít?
- Nó đi đám ma thằng Hòa chết trận khóc tu tu?
- Xời, nói vậy cũng nói, nó nghĩ đến thân nó nay mai gì cũng chết trận cà!
- Còn hơn có đứa hèn trốn quân dịch!
Có tiếng xô bàn:
- Mẹ, mày nói gì?
Anh cu Kiệt không nao núng:
- Tao nói tụi bây thả thằng Mít ra, đừng để tụi M.P mò tới thì tụi bây khốn!
- Cảnh sát Mỹ hả? Tụi tao chấp mười cái đầu thằng cảnh sát Mỹ, mày đi báo đi! Xời, tưởng gì, Việt cộng nằm vùng mà bênh Mỹ ta ơi!
- Không có Việt cộng nằm vùng hay Mỹ gì ở đây, thời buổi chiến chinh, là đàn ông con trai, có ngon, tụi bây ra mặt trận, đừng có hằn thù lặt vặt thấy buồn cười quá!
Trống ngực Bạch lại đánh thình thình khi anh cu Kiệt quay ra. Vậy là sao. Vậy là không ai cứu được Smith. Cô bé chạy theo níu tay anh cu Kiệt:
- Anh ơi, còn Mít…
Một cánh tay dài hơn tay Bạch níu lấy vai áo anh cu Kiệt:
- Ê, nói vậy mà bỏ đi thiệt sao, có gì chuộc thằng Mỹ không?
Anh cu Kiệt đưa ra cái túi lùng nhùng:
- Cá đây, ếch đây, tụi bây nhậu cho hết rồi đừng có làm trò hù dọa Mỹ lung tung nữa nghe chưa! Muốn cái gì thì phải rõ ràng, xứng đáng!
- Mày nhậu với tụi tao chớ!
- Không, tao về!


Rồi Tom, John không một lần quay lại xóm sở Mỹ. Bạch nghe chị Trửng nói dường như hai người đó bị thương rồi được cho về nước. Chị Hồng, chị Tuyết thay bồ như thay áo. Nhưng hai bà lúc nào cũng xuất hiện xập xệ trước mắt mọi người. Mặt mũi thất thần, quần áo thì nhếch nha nhếch nhác. Có lần mấy bà đang ngồi xúm xít ăn bún riêu ở hàng của chị Bông cuối xóm, chị Trửng phải la lên:
- Áo ngực đâu sao không mặc, đàn bà con gái mà để vú mớm lòng thòng thấy ớn!
Chị Tuyết gắp một miếng đậu hũ chấm mắm tôm rồi cười, nụ cười vừa nhạt vừa hôi mùi rượu:
- Mỹ sắp về nước hết rồi, tụi nó thua trận liên tục, mày không nghe đài báo tin chiến sự sao?
Chị Trửng vừa tròn mắt ngạc nhiên, vừa gắp thêm cho Bạch đang ngồi bên cạnh một miếng chạo cua:
- Ủa, Mỹ rút thì kệ nó, ăn thua gì tụi bây?
- Ừa, mày được thằng Mít thương đàng hoàng nên thấy không ăn thua, nó lại làm lính văn phòng, đời nào biết lo nỗi lo chết trận như mấy thằng bồ của tụi tao.
- Nói sàm! Mỹ rút thì tính đường làm ăn đàng hoàng để làm lại cuộc đời chớ!
Chị Hồng nhún vai:
- Làm lại cuộc đời? Mày không thấy trong xóm này, ai cũng khinh mình như chó sao?
Chị Xuân ngồi ăn bánh cuốn cách đó mấy hàng thở ra dài thườn thượt:
- Thôi đừng cãi cọ nữa, mấy người ở lại vui vẻ, mai tui về quê.
Chị Tuyết quay sang:
- Về quê làm gì?               
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #84 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:18:33 pm »

                         Tiếp :

Giọng chị Xuân có nước mắt:
- Chẳng biết làm gì nhưng Henry không còn…
Chị Trửng đá chân chị Tuyết:
- Đừng hỏi lôi thôi nữa, thằng Henry thương con Xuân thật lòng, chiều qua mới có tin báo Henry chết trận.
Bạch nghe mấy chị làm sở Mỹ nói lùng bùng hai cái lỗ tai. Cái gì chiến sự, rồi chết trận, bị thương, cô bé không hiểu gì cả. Chỉ biết một điều, xóm sở Mỹ không còn nhiều Mỹ đến chơi như xưa. Các cô, các chị làm sở Mỹ lần lượt trả nhà thuê. Ông Tám xe lam mất mối chở khách, sáng sáng mắc võng, nằm giữa hai đầu cột nhà hát Dạ cổ hoài lang. Bà năm Bồng không còn mối nấu cơm tháng, phải sắm một xe bánh mì bán đầu ngõ. Chị Xí đưa thằng cu Tẹo về quê, rồi hai mẹ con ở lại luôn đó, nghe nói làm ruộng với ông bà ngoại.


Xóm sở Mỹ chỉ còn mỗi chị Trửng thuê nhà. Chị nghỉ làm sở Mỹ, chờ ngày theo Smith về nước. Thấy chị và Smith yêu thương nhau thật lòng nên mấy bà già thôi lầm bầm chửi Mỹ khi mỗi chiều Smith đạp xe ra xóm chơi. Có một chiều, sau cơn mưa thật to, người dân xóm sở Mỹ lại nghe tiếng súng ì đùng phía trại giam bên kia suối. Chuyện thường như cơm bữa, ông Tám xe lam bảo, điệu này chắc mấy cha lính gác lô-cốt quanh trại giam lại ngủ gục để mấy ông Việt cộng đột nhập tháo súng hay lựu đạn gì rồi. Rồi sẽ có màn dân xóm sở Mỹ bị xét Tờ khai gia đình, đám đàn ông trai tráng trong xóm sẽ bị truy hỏi rát ràn rạt. Anh cu Kiệt sẽ bị mọi người nghi ngờ vì tội làm xáo trộn cuộc sống chung. Dẫu vậy, sau mấy lần nghe chửi đổng, anh vẫn cười hề hề: “Thì lâu lâu cũng phải cho mấy thằng lính gác trại giam có việc làm, chớ để tụi nó ngủ gục mà ăn lương quốc gia à?”. Mọi người chửi đổng vậy thôi chứ cũng không có chứng cứ buộc anh là người cướp vũ khí… Tiếng súng ngơi đi một lúc, dân xóm sở Mỹ lại nghe tiếng kêu cứu người chết đuối. Con suối chảy ngoằn ngoèo dọc theo xóm là miệng thủy thần hung hãn sau những trận mưa to. Ở xóm sở Mỹ, năm nào cũng có số người chết đuối gần bằng số người chết vì súng đạn. Mọi người lại ùn ùn đổ ra bờ suối, có cả Smith. Bạch vừa nhón chân, kịp thấy cái chấm đen đang hụt hẫng giữa dòng thì nhanh như cắt, Smith đã phóng ào xuống. Năm phút, mười phút, mười lăm phút trôi qua. Cuối cùng, tay bơi cừ khôi Smith cũng lôi được người chết đuối vào bờ. Mọi người ồ lên khi thấy người được cứu là anh cu Kiệt. Lại có tiếng lao xao. Ủa, cu Kiệt bơi giỏi lắm mà sao đuối vậy. Chắc là bị chuột rút. Smith cùng chị Trửng và mọi người xúm lại làm hô hấp nhân tạo cho anh cu Kiệt… Nạn nhân vừa bắt đầu thở lại yếu ớt, mọi người chưa kịp mừng vui, đã nghe tiếng còi cảnh sát. Theo yêu cầu, tất cả phải dạt ra để cảnh sát khám xét anh cu Kiệt. Ngồi tuốt trên chạc ba cây ổi ven bờ suối với đám thằng Lì, con Anh; Bạch thấy cảnh sát lật tới lật lui anh cu Kiệt như lật một cái bánh tráng đang nướng. Rốt cuộc cũng chẳng có gì đáng ngờ, đám cảnh sát phóng xe đi, để lại những đụn khói trắng mờ mịt hơi xăng. Bà năm Bồng tức mình chửi đổng: “Mẹ cha nó, làm ăn như hạch mà đi tới đâu cũng xe pháo rầm rầm, rồ rộ!”. Trên bờ cát chằng chịt những vết giày đinh, anh cu Kiệt nằm rũ ra như người chết đuối lần thứ hai, chị Trửng và Smith nhóm cho anh một đống lửa…
Hơn ba mươi năm sau, Smith và chị Trửng mới quay về Việt Nam, họ vẫn là một đôi hạnh phúc và tuổi đều đã xấp xỉ lục tuần. Cả hai tìm đến xóm sở Mỹ để thăm cô bé Bạch của ngày xưa. Bạch vẫn ở trên nền nhà cũ của ba má nhưng mái nhà ngói đơn sơ đã được thay bằng ngôi nhà lầu ba tầng. Không riêng gì nhà Bạch, trong xóm cũng có nhiều nhà khang trang hơn xưa. Cuộc sống đã tiến bộ nhiều. Xóm sở Mỹ đổi thành khu phố Hưng Phú.
Vẫn như xưa, Smith ôm choàng lấy vai Bạch khi nhận ra nụ cười thân quen của cô bé có chiếc răng khểnh:
- Chào Bạch, em có khỏe không?
Bạch tròn mắt ngạc nhiên, Smith đã nói được tiếng Việt. Chị Trửng giải thích, Smith cũng là học trò của chị trong những giờ chị dạy tiếng Việt cho hai con. Ra vậy, họ đã có với nhau hai người con, chiến tranh đưa đẩy thật diệu kỳ. Sau những thăm hỏi ban đầu, Smith nhắc đến anh cu Kiệt. Anh cu Kiệt bây giờ làm to lắm, nói cho Smith dễ hiểu, Bạch bảo, đấy là một trong những ông quan cấp tỉnh. Smith hỏi làm cách nào để gặp được Kiệt. Bạch hứa sẽ liên hệ giúp Smith. Chị Trửng đưa Smith đi thăm lại bà con khắp xóm. Họ được bà năm Bồng mời một bữa cơm và ở lại hàn huyên với bà chủ nhà trọ năm xưa suốt buổi chiều.

Anh cu Kiệt mời cơm Bạch và vợ chồng Smith tại một nhà hàng. Kiệt vẫn nói cười sảng khoái như xưa và tỏ ra đặc biệt thích thú khi được nói chuyện với Smith bằng tiếng Việt. Bắt đầu bữa ăn, Kiệt xin phép hai người phụ nữ rót ra hai ly rượu đầy:
- Smith, đây là ly rượu tôi đợi chờ anh hơn ba mươi năm qua gọi là cảm ơn.
Smith nghiêng đầu dí dỏm:
- Tôi phải là người cảm ơn cu Kiệt mới đúng!
- Vì sao anh phải cảm ơn tôi?
- Nếu không có anh và Bạch thì hôm đó tôi đã chết với bầy kiến lửa rồi.
Kiệt cười rung cả hai vai:
- Xin lỗi, ngày ấy tôi cứu anh vì bất bình với bọn đàn ông vặt vãnh đấy thôi. Chứ… xin lỗi, bà con xóm sở Mỹ ngờ vực không sai, tôi là Việt cộng nằm vùng thật đấy. Thuở ấy, tôi là giao liên của một đơn vị nội tuyến, tôi làm việc có tổ chức. Rất may là Smith và các ông Mỹ của các me Mỹ ở cái xóm sở Mỹ không nằm trong tầm ngắm của đơn vị tôi.
Smith cũng cười khà khà:
- Có như vậy mới là chiến tranh chứ! Còn anh thì cũng không phải cảm ơn tôi đâu, lúc tôi nhảy xuống dòng suối cuồn cuộn nước cũng không biết là đang được cứu ông quan lớn cu Kiệt bây giờ…
Chị Trửng nâng ly:
- Hai chị em tôi xin hưởng ứng, chúc mừng sự hội ngộ của hai người đàn ông “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”!
Bữa cơm thân mật kéo dài hơn hai giờ. Mọi người thi nhau nhắc chuyện cũ. Ngồi với những người là người lớn so với mình bé bỏng ngày xưa, Bạch thấy vô cùng hạnh phúc. Dù bây giờ đã là một cô giáo và đã có hai con, Bạch thấy mình vẫn được quyền dựa vai chị Trửng để nghe tóc chị thơm thơm mùi bồ kết. Người lớn nói gì đấy mà Bạch không quan tâm, tựa đầu vào vai chị Trửng, Bạch nhắm mắt lại tưởng đến giấc mơ trước ngày Smith về nước. Đêm ấy, sau khi khóc chia tay với chị Trửng và Smith, Bạch về thao thức mãi không thôi, chỉ thương người đi xa biết đến bao giờ mới trở lại. Đến gần sáng thì cô bé mới chợp mắt được một chút. Cô mơ thấy mình được Smith và anh cu Kiệt nhấc bổng lên giữa hai đường ray phía sau nhà. Còn hai người thì lướt như bay trên hai thanh sắt. Cả ba đi về phía một đoàn tàu đang tăng tốc, hai người đàn ông vẫn cười, còn cô bé sợ quá khóc thét lên trong mơ… Sáng thức dậy, Bạch bước sang bên nhà tìm, chị Trửng và Smith đã ra sân bay tự bao giờ. Sự trống rỗng tạo ra cảm giác sợ phải một mình, cô bé chạy qua cây cầu rỉ sét, lao như bay đến chiếc lều vịt của anh cu Kiệt, chiếc lều trống huơ trống hoác… Chẳng biết anh cu Kiệt đi đâu mà ngày mấy chú bộ đội cụ Hồ tiến vào giải phóng thành phố, Bạch thấy anh ngồi dẫn đường trên một chiếc xe tăng…
…Cuộc hội ngộ không thể nấn ná thêm phút nào nữa, xe đón vợ chồng Smith ra sân bay về Mỹ đã bóp còi liên tục ngoài cổng nhà hàng. Đã hẹn gặp lại rồi mà ai cũng không muốn rời nhau. Cuối cùng, chị Trửng phải kéo Smith đứng lên trước:
- Thôi, không bịn rịn nữa, Smith! You trả đồ cho anh cu Kiệt đi!
Anh cu Kiệt ngớ ra:
- Trả cái gì?
Smith hạ giọng:
- Vậy mà vợ chồng tôi có nợ anh đấy! Xin anh cầm cho. Đây là số vũ khí tôi phát hiện được chúng trong túi áo anh khi anh đang chìm dần vào lòng suối. Tôi biết, nếu để chúng trong người anh sẽ không có lợi cho anh. Mà quả tình tôi đoán không sai, sau đó cảnh sát đã ập đến…
Giọng anh cu Kiệt ngỡ ngàng:
- Ôi… Vậy là Smith đã giữ nó trong bao nhiêu năm…
- Không, tôi cũng chẳng dại gì giữ nó trong người rồi lại nhiêu khê lén mang nó qua mấy ông hải quan của cả hai nước. Cách đây mấy hôm, chúng tôi đã quay lại nhà bà năm Bồng, bà chủ cho các me Mỹ thuê nhà đấy, anh còn nhớ không? Chúng tôi đã đào nó lên từ dưới gốc một cây si già phía sau dãy nhà cho thuê ngày ấy. Rất may là người ta chưa chặt cây và cất nhà lên đó. Đây anh xem, hơn ba mươi năm rồi, chúng rỉ sét như chiếc cầu bắc qua cánh đồng của anh ngày xưa…
Anh cu Kiệt run run đón hai khẩu súng ngắn từ tay Smith. Xúc động quá, anh cũng không thể nói một lời từ biệt hay cảm ơn người lính Mỹ năm xưa. Vợ chồng Smith vội vã ra xe. Xe phóng ào đi trong cơn nắng trưa rát rạt mặt người… Bạch ngồi xuống cạnh cu Kiệt, rót cho anh một ly nước. Mãi một lúc sau anh mới cười xòa, xoa xoa tóc Bạch như ngày xưa:
- Mẹ cha thằng Mỹ, đào chôn súng dưới gốc cây mà nó không nói tao tiếng nào. Báo hại hôm sau, chờ nước ròng, tao mò mẫm dưới suối rộp cả hai tay, hai chân!
- Buổi chiều hôm ấy, anh là người đi cướp súng ở trại tù phải không?
- Chớ ai trồng khoai đất này! Mà xui thiệt, hôm đó nước chảy xiết quá, lính bắn theo, đạn bay chiu chíu trên đầu. Đúng là họa vô đơn chí, lúc đó, tao lại bị chuột rút mới chết chớ…
- Anh đi cướp súng bao nhiêu lần như vậy?
- Biết bao nhiêu mà kể! Tao nói bà con xóm sở Mỹ nghi ngờ không sai mà! Bạch, bây giờ em uống với anh ly rượu há?
- Vì cái gì?
- Vì chuyện mày biết tao với thằng Smith có ân oán với nhau!
Bạch nâng ly rượu uống cạn, chị không uống vì anh cu Kiệt và Smith có ân oán với nhau mà vì chị rất tin rằng, dù trong hoàn cảnh nào, mỗi người đều có một ngóc ngách trong trẻo để soi rọi vì nhau…

Thu Trân
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #85 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:26:36 pm »

                                HOA NƯỚC    
                                Tác giả : Trần Chiến

Đang đêm Chim sâu tỉnh dậy vì chuỗi âm thanh vừa quen vừa lạ, nó làm bạn với lão từ vài chục năm nay. Khi réo rắt vẫy gọi, nó thúc đẩy lão làm những chuyện mà đận bình thường lão không bao giờ dám nghĩ đến. Tỉ như cãi lại vợ hoặc trái lời ai đó. Tỉ như đái xuống cửa cống thuỷ lợi đầu thôn. Nhưng thường khi “Uầy ù” mang tới nỗi sợ bí ẩn, càng chẳng có căn nguyên nào càng đáng sợ, càng giải thích càng tịt ngòi. Giả như nó bắt lão im mồm không cho nói ra ý mình trước đám đông, cụp mắt lại khi thấy đàn bà xắn quần cao quá...

Chưa đến mùa gió Lào mà thị xã mới lên thành phố ở mỏm Tây Bắc đã ngột ngạt. Những con đường khuất nẻo rợp bóng long não nhường chỗ cho nhà lô khung nhốm kính mái ốt nam thời thượng. Những nếp nhà sàn mộc mạc lùi mãi ra xa, bé nhỏ bên trại ấp của đám công chức cao cấp. Và người. 50 năm trước ở đây có trận đánh lớn, người Pháp thua to quân tướng Giáp. Dịp này kỷ niệm long trời lở đất, cả nước như chỉ nói đến Điện Biên, người đổ về đến là lắm.

Đoàn xe chở cựu chiến binh huyện Gia Kiên đổ quân xuống khách sạn Mường Thanh. Hai mươi ba chiến sĩ má hồng xếp hàng đôi, đúng đội hình hành quân tiến vào khoảnh sân đã chật kín xe. Má hồng là đận năm mươi năm trước thôi, chứ giờ thì đã xũng xịu, túi da chẩy xuống rồi. Anh huyện đội, quân phục dạ tá dù trời ngoài ba mươi độ, hối hả hò lễ tân xếp phòng cho các cụ. Ngủ nhà sàn, trải chiếu, tất nhiên có chăn màn để muỗi khỏi khiêng. Bốn cụ một gian khá chật chội, nhưng tiền huyện chi chỉ đủ vậy. Được cái hút thuốc lào thoả thích. Cô lễ tân bảo phải kê đủ tên người ngủ mỗi gian, dù là các cụ. Anh trưởng đoàn bèn xướng danh: “Bác Đỗ Văn Tơ, bác Trần Đình Chiểu, bác Nguyễn Quang Tỵ này... “Rồi ngoái cổ xuống dưới hàng gọi: “Ông “Chim sâu”! Ơi ông “Chim sâu...”

Từ hàng cuối, ông lão bé nhỏ cứ “hở hở” mãi mới tập tễnh bước lên. Quả đúng là “chim sâu” thật, nghĩa là một tay xách nặng. Đầu ông lão hút trong chiếc mũ lưỡi trai vàng choé, trông chỉ thấy bộ răng tranh nhau làm tổ trưởng. Chim sâu nhưng lại đột lốt đại bàng, vì bộ quân phục ông mặc quá oách, dài rộng đều quá khổ, quần ống cao ống thấp. Vẻ vội vã như của một anh chàng mới nhập ngũ làm ai cũng buồn cười.

- Cụ đi thay ông Bính Phùng ở Nỗ Xá phải không? Cháu chưa biết tên cụ đấy.

Trường đoàn hỏi sau khi đã “chấn chỉnh trang phục” cho Chim sâu.

- Tôi Đoàn Văn Vững

- Ôi giời ơi. Bố thế này mà “vững”. Bà lão vẫn chê bố loẻo khoẻo lắm kia mà.

- Loẻo khoẻo đâu. Thế có gì?

- Là bố vào ngủ với bố Tơ bố Chiểu. Không được ngủ với vợ đâu. Mà tối đánh răng cho con nhờ. Đái ỉa đừng ngồi xổ lên bệ ‘toa lét” đấy nhá.

Chim sâu luýnh quýnh xách túi bước lên ngôi nhà sàn rộng thênh thang, mỗi gian ngăn lại bằng vách gỗ lửng. Nhận chỗ xong thì đến phần tự giới thiệu. Ông Tơ hay nói chuyện cơ quan đoàn thể ở xã Hồng Nộn. Ông Chiểu ở Cái Bơn đọc nhiều báo, dọc đường toàn kể vụ án này nọ. Ông Tỵ ở Đông Lương con cái rất mực trưởng thành. Thì ra họ xếp bốn cựu chiến binh chống Pháp ở chung. Không phải vì oách đâu, chắc thế. Mà vì các cụ khó ngủ, đêm đi tiểu xoành xoạch. Thôi thế cũng tiện...

Vừa nằm xuống, ông Tỵ đã ngủ khì khì. Ông Chiểu ngó sang chỗ xông hơi mát xa bên kia sân khách sạn bảo báo Tiền Phong vừa đăng mấy kỳ về các “điểm dịch vụ” kiểu này, chắc hẳn bên ấy tối “dậy mùi mắm tôm chanh” ra gì. Ông Tơ giở miếng giò lụa vợ gói cho, chia cho mỗi người một khoanh. Họ đều có vẻ khoẻ cả, cứ như chỉ mình mình biết đau lưng. Chim sâu nghĩ.

Từ trẻ, ông Vững đã có tật hay nghĩ ngợi. Sao con chim lại hót? Sao con vịt đi đủng đỉnh giống bà chánh tổng? Ngọn gió lay cái cây, chúng nó nói gì với nhau nhỉ? Toàn chuyện tầm phào chả ai để ý, thành thử nói ra chả ai nghe. Có người nghe ông giải thích gió rủ cây ra bãi sông chơi cho mát đấy thì cười sắc sụa, lần sau hỏi ông “vẫn vớ vỉn vậy à?”. Mấy chục năm ông cứ nghĩ mãi về những vớ vỉn ấy, dốt chặt chúng trong lòng vì mỗi lần nói ra lại bị ỏng eo. Vậy nên phải có lúc mình nói cho mình nghe, không trao đổi hoạ có phát rồ. Nhưng cũng có lần, có chuyện không nói không được. Tỷ như cần lấy vợ, ông ỉ eo thế nào mà cô Phin xóm Tám đồng ý về ở cùng. Lại có chuyện nói lại hay không nói lại thì cũng ra một kết cục cả. Say tết Quý Tỵ 1953, chính quyền kháng chiến xã chấm Đoàn Văn Vững đi bộ đội. Cô Phin đã lùm lùm, không muốn xa chồng. Phần ông thế nào cũng được, không thể trái lời xã cũng như vợ, nên chỉ mỗi câu: Tôi “ấy” cũng được”. Tất nhiên chính quyền quyết định hộ, Vững lên đường không biết dặn Phin câu “ở nhà gắng tăng gia sản xuất mạnh để tôi lên đường giành lại non sông’. Đoàn thể biết chuyện, người bảo ông không hăng hái, người bảo chẳng sao đâu, tại hắn cầm tinh củ khoai thôi. Tóm lại là củ mỉ cù mì thò đằng nào cũng không quyết được phận mình, nói ra lị bị phê bình, chọc ghẹo hay thế nào đấy, Vững nghĩ thế và tiếp tục sự nghiệp nghĩ ngợi. Tất nhiên ông biết cái điều nói ra hay không nói đằng nào cũng có phần hay dở riêng, và mình làm thì mình sẽ chịu khổ hay được hưởng, nên cứ thế lích chích một mình.

Ông Tơ đánh xong khoanh giò ngồi xấp bằng tròn ngó quanh. Phố xá vui gớm nhỉ. Nghe nói đã lên thành phố cấp hai ba gì đấy, vui hơn cái làng Hông Nọn mình nhiều. Ông Tỵ đã nhỏm dậy, vuốt cho phẳng bộ quân phục còn mùi hồ, nghiêng ngó kiếm điếu cày. Ông Chiểu đi về bảo ban ngày chỉ có mát xa chứ không xông hơi, báo Thanh niên vừa có bài về mát xa ở Pleiku kinh lắm. Lại nghe nói quan viên tỉnh này giàu có, san đồi làm trại, ủi ao nuôi cá, có người nhà mặt phố cho thuê, bỗng dưng được chục triệu mỗi tháng. Rồi các ông đều thấy tiếc là tuy đều là cựu chiến binh cùng huyện nhưng mấy khi được họp hành giáp mặt, nhất là giờ kinh tế thị trường càng mỗi anh mỗi phận, nên có phần tự giới thiệu về mình. Đúng là toàn những tướng oách: ông Tơ suýt bắt sống tướng Đờ Cát, ông Tỵ bắn cao xạ rơi “bê vanh xít” ở cứ điểm Độc Lập. Ông Chiểu là cán bộ chính trị, đã đi giảng bài cho học sinh các trường học trong huyện,rất tư liệu, bảo ai lại nói lên “hàng chục” bao giờ, cùng lắm là một tá hay chỉ một chục thôi. Ông Tỵ chịu là phải, nhưng khoe sang thằng cháu học giỏi, lên tận tỉnh thi văn. Nói tóm lại là ai cũng công trạng đầy mình, về làng mũ áo chói lọi, tham gia chính quyền ba bốn khoá, già rồi mới chuyển sang mặt trận tổ quốc, giờ thì cựu chiến binh.

- Lúc tôi về ngành giao thông là quân hàm trung tá. Ông giám đốc sở mới bảo: “Biết xếp cho anh chân gì bây giờ...”

Ông Tơ chưa dứt lời, ông Tỵ đã kể sang đoạn chỉ đạo chiến sĩ bò ra thu cái hòm dù có tấm bản đồ chiến trường của địch “còn quý hơn vàng’. Trong khi đó, ông Chiểu cho sống lại cuộc duyệt binh năm năm lăm ở Hà Nội, đích thân tướng B. chọn ông cùng năm chiến sĩ Điện Biên khác dẫn đầu khối lục quân. “Ai cũng cao to đen, dân thủ đô nhìn lác xệch, phải đi chữa mắt rất nhiều”. Ông Tỵ thủng thẳng: “Không có cánh tớ thì các cậu bị nó quần cho nát đít rồi. Hồi đánh Nà Sản, bê vanh xít chả tương các bố vãi ra quần phải rút đấy à... Năm năm ba tớ ở Trung Quốc hành quân về bằng xe kéo pháo, lính diện mũ sắt, ca men Việt Trung Xô, giầy vải cao cổ, khăn mùi xoa trắng, các ông chẳng thèm giỏ dãi a...”

Những câu chuyện bển Mển, bản Kéo cứ dài mãi ra. Không khí lính tráng hơi hơi suồng sã đã thay thế thứ bậc tôn ti hàng ngày. Ai cũng say sưa “hát” khiến ông cựu trung tá tức quá không thèm nói chuyện nữa. Thấy ông Vững đang khiếp vía vì những chiến công của đồng đội, ông cho phép mình nói bằng cái giọng bông phèng, có chút chút bề trên:

- Thế còn Chim sâu, làm sao mà ông cứ im như cót thóc vậy?

- Tôi chả có gì...

- Có gì mà không kể được - ông Tơ cao giọng – chín năm kháng chiên bắt được thằng Tây mù, thành tích quá còn gì. Ông cứ khiếm tốn quá hoá tự kiêu. Hà haaa...

Cả phòng cười theo khiến Chim sâu bắt đầu bối rối, bèn phân bua: “Tôi nhập ngũ năm ba, làm sao tính được “chín năm kháng chiến”...

- Lại khiêm tốn nữa rồi. Có thật ông đi bảo vệ cụ Hồ hay làm toàn việc cơ mật mà không thể nói?

- Ông ấy quản một lũ lính gái đấy. Nhỏ nhắn mà oách ra phết. Tẩn được mấy cô rồi? Khai ra ngay.

- Tôi chỉ làm mỗi việc củi lửa - ông Vững lúng túng – cầm cái đùa cả nhỏ hơn mái chèo một tỵ, quấy quấy. Vậy thôi. bao giờ chín cơm nắm lại, gói thêm mắm kem trong lá, xếp vào thúng gánh cho anh em ăn.

- Nghĩa là bố làm anh nuôi chứ gì? Có thế mà lúng búng mãi. Anh nuôi tha hồ sờ tí chị nuội, còn bộ đội đói ngẳng cổ - Ông Chiểu mủm mỉm.

- Làm gì ra có chị nuôi. Đơn vị toàn đực. Có hôm... có hôm... Chim sâu ngập ngừng rồi phăng ra - Đận đi khỏi Pha Đin, ra cái suối gì ở Tuần Giáo, cả tiểu đội nhìn thấy đàn bà Thái tắm, trắng ơi là trắng... Rức cả mắt!

- Nói khoác Tướng ông hủ hoá được với vợ đã là giỏi. Cứ làm như đã biết thêm cái khác rồi...

Vững nói câu nào bị độp ngay câu ấy, biết mình không cãi lại nổi bèn ngồi em. “Im mồm” chứ còn làm gì được nữa. Các lão còn lắm mồm hơn con ngan già nhà mình... Ây à... tưởng mụ Phin coi mình không bằng cái đinh mục, ai ngờ báu đáo báu để, cái cuộc này...

Chuyến đi với Chim sâu đúng là từ trên trời rơi xuống, dù lão là chiến sĩ Điện Biên đích thị, lại còn đi trước ngày mở màn chiến dịch đến chín tháng.

Quãng thời gian Đoàn Văn Vững làm phó thường dân, sau đó là phó trưởng gia đình dài quá, đến nỗi ở xã không ai nhớ đến thuở oai hùng nọ của lão. Thương binh chả phải, chỉ dính mảnh đạn lúc gánh cơm trong chiến hào đầy bùn và vác xác đồng đội. Vững chỉ được hưởng chế độ bệnh binh, không có xuất nước chè, bánh kẹo ngoài uỷ ban xã ngày 27 tháng 7. Mồm lão ngậm thóc, suốt ngày thủ thỉ với đàn vịt, đêm cọt kẹt lều vó, ai người chọn đi kể chuyện đó cho các thiếu nhi dịp thành lập Quân đội. Biết một thì cũng phải thêm dấm ớt cho thành mười mới kể được chứ. Nhất là tại mụ La Sát ở nhà, thấy ai đến hỏi han lịch sử chiến đấu lại quàng quạc: “Lão chăn vịt nhà tôi thì biết cái gì mà kể chuyện anh hùng”. Người ta quên tịt đoạn Vững đã ra ngồi trụ sở, đại diện cho thế lực một họ để công tác, quên béng cả việc đã đùn đẩy lão những trọng trách ra sao. Thành thử trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Nỗ Xá”, Đoàn Văn Vững không được kể tên, chỉ tính là một trong năm ba người kể cả bộ đội, dân công hoả tuyến và thanh niên xung phong đã thoát ly, đóng góp trong kháng chiến chống Pháp. Cuốn sử ấy tuyên huấn huyện về lấy tư liệu rồi soạn, nghĩa là “khách quan” lắm rồi, vậy mà còn có người kiện. Rằng nhiệm kỳ tôi làm sao không kể cái ấy cái nọ vào. Rằng hồi ông N. đương chức có mấy vụ thối hơn đũng quần đàn bà ngày “hành quân” sao tít tìn tịt lờ đi. Kiện là việc của người khác, Chim sâu có mồm đâu mà mở ra.

Dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên, sau khi những huyện uỷ, uỷ ban thanh niên, phụ nữ... hành hương về rồi, thì có phổ biến Nỗ Xá được hóp ba người trong đoàn cựu chiến binh huyện lên đất xưa anh hùng. Ông Bính Phùng, một biểu tượng của truyền thống, vì từng suýt anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, dĩ nhiên là người đầu tiên. Ông thứ hai là một thiếu tá thời chống Mỹ. Anh xã đội trưởng lính thời chiến tranh biên giới là thứ ba. Ba người đã lên huyện đội lĩnh quần áo sĩ quan, mũ lưỡi trai, huy hiệu, cả giầy tất, tiền bồi dưỡng. Huân chương ai có gì đeo nấy. Ông Bính Phùng ngực nặng nhất, chói lọi cả đằng trước lẫn trên vai. Khiêm nhường như xã đội trưởng Toại cũng đại uý, cấp phó tiểu đoàn rồi. Hôm họp đoàn xong, xe huyện trả bộ ba về nhà oai phong quá, cả xã xôn xao đến mấy hôm.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #86 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:31:21 pm »

                                Tiếp :
Đùng cái ông Bính Phùng bảo không đi được. Thứ nhất đăng ký xin xỏ mãi mới xin được chân đại lý điện thoại, triển khai chậm một tuần bưu điện họ cắt mất. Thứ nhì, ông thiếu tướng trung đoàn trưởng cũ hẹn có chuyến đi riêng. Thứ ba, muốn dành vinh dự này cho người chưa được hưởng bao giờ. Và đề cử Đoàn Văn Vững đi thay. “Ông ấy cũng chiến sĩ Điện Biên, tuy không công trạng gì những cũng là có đóng góp”. Bộ tứ và các đoàn thể đều nghi hoặc, sau đó đi ‘xác minh” thấy đúng thì chuyển sang do dự. Bính Phùng bèn giở dỗi ra: “Người ta hiền lành, bao nhiêu năm không kể công, đi là đúng rồi. Không chọn thì tôi khêu chuyện các anh tư túi tiền công đức đình làng ra đấy. Nới lại chuyến đi miền Nam “học tập phương pháp làm ăn hiện đại, xây dựng nền sản xuất hàng hoá”, ông Kiền không phải anh vợ chủ tịch xã mà đi nổi à? Các ông có muốn nghe dân chửi không?”. Ông Bính cùn rồi, nên hương chức xã phải nghe.

Xã đội trưởng đến nhà lúc Chim sâu đang say thuốc lào, ngã bổ ngửa vào chiếc mong ngả mốc tương. Toại nâng lão dậy, phảy tàn đóm bám râu thưa, ghé tai hét: “Ông có tỉnh không đấy? Chuẩn bị lên Điện Biên! Đi với con. Xin phép bà lão đi!”. Nhìn cái va li con bóng loáng trong tay Toại, Chim sâu tỉnh hẳn, nhưng giọng còn hốt: “Tôi đi ... là thế nào/ Tôi “ấy” thế nào được”. Lại một chầu giải thích pha ra lệnh. Rằng ông là chiên sĩ Điện Biên chính thị rồi còn gì. Hay là khai man lý lịch? Rằng cựu chiến bình, dù là cựu chiến binh chống Pháp cũng phải nghe lời xã đội, nếu không sẽ bị khai trừ khỏi đoàn thể. Rằng đây là vinh dự lớn, hơn mấy con vịt nhiều, không đi tức là từ bỏ truyền thống đấy. Chim sâu không nhớ mình đã khai lý lịch bao giờ, khai những quái gì, càng ú ớ. Thực là lão muốn đi lắm, chả mất tiền lại được lên chốn xưa. Người ra thế là trọng vọng chứ lị, mình vinh sự chứ lị! Nhưng ý bà lão ra sao thì còn chưa được lĩnh. Đành đánh bài lưỡng lự.Thì xã đội triệu ngay mũ La Sát đang chổng đít thổi lửa dưới bếp lên giao nhiệm vụ. Mụ đồng ý tắp lự. “Thế ra xã cũng có lúc nhớ đến lão điếc đấy!” Lại còn trách mát tới táo gan chứ. Mụ sang ngay ông Bính Phùng cảm ơn và hỏi rõ cách thức. “Thì cứ đi chứ còn cách thức gì nữa”, Bính Phùng bảo. “Người ta bảo lên xe thì đừng xuống, bảo chụp ảnh thì đừng nháy mắt. Nhưng đừng ăn nhiều thức lạ, giữa đường đòi đi ỉa đái, lái xe nó mắng cho. Thế thôi. Kể ra sắm sanh được cho ông ấy cái máy điếc, đỡ “hở hở’ thì tốt, không thôi cũng được...” Mụ La Sát lại cảm ơn, về gọi con cái tối họp gia đình.

Chim sâu đẻ ba con một bề, tức thị ba con vịt giời. Được cái chúng không bay đâu xa mà chỉ lấy chồng quanh quẩn trong xã, ngày nào cũng mò về cùng mẹ quàng quạc. Phải nói là cả nhà sướng ngay vụ bố được chấm đợt này. Anh rể là hiệu phó tiểu học trân trọng mở đầu:

Cần xác định đây là vinh dự lớn bố ạ. Vinh dự lắm. Tiếc là chúng con là rể, chứ không đã mở mặt nữa với cả làng rồi. Bố phải quán triệt hết ý nghĩa của sự kiện trọng đại này. Nhà mình có người tham gia vào chiến công vĩ đại nhất thế giới thứ ba... Chà chà...Lớn lắm! Chậc...

Anh rể thứ chủ lò gạch không nói nhiều, biếu bố hai trăm nghìn uống nước khiến cô vợ sướng quá rưng rưng nước mắt. Anh rể út tháo chiếc nhẫn,, rằng con chả có gì, bố nhỡ độ đường thì tiêu, không lại đem về. Con cái người thì lọ dầu, ngưởi củ sâm, dặn dò những là ăn uống điều độ, nói 9dối) với người phụ trách mình say xe để ngồi ghế trên, qua những dốc đèo đừng nhìn xuống kẻo chóng mặt. Có điều ai cũng nhất trí bố phải tắm thật kỹ cho hết mùi vịt, chúng con sẽ mua xà phòng. Cả thuốc đánh răng, bàn chải. A mà nhớ cắt móng chân đừng để những “củ cải” đen đủi quá. Mấy con vịt bố không phải lo, các cháu cắt nhau ra trông không suy xuyển đâu mà sợ. Riêng mụ La Sát ít nói lắm.

Tối ấy Chim sâu vẫn ra lều vịt, bảo thế quen rồi. Bà lão ở nhà trằn trọc, sáng ra dậy rất sớm, nhỏ cả sào xu hào con tươi nõn tươi nàng đem đi chợ huyện. Tất cả các khoản được triệu hai, cho vào tủi vải đeo trong áo kẻo kẻ cắp rạch mất.

Dặn đi dặn lại những câu cũ rích. Thế mà hôm xuất quân lên huyện, mụ không ra xã tiễn, sợ lại khóc như vợ chồng trẻ người dưng họ cười cho.

Sáng sớm, xe ôm sẵn sàng chở ba đại biểu lên huyện nhập đoàn. Đảng uỷ, uỷ ban cũng ra theo chúc mừng, căn dặn các vị. Đột nhiên có người phát hiện Chim sâu không đeo quân hàm. Lão bảo về năm năm lăm mới có chiến sĩ, mà năm năm tám mới phong quân hàm,đeo thế nào được cái trung uý xã đội đưa. Xã đội giải thích lão còn ở quân đội đến giờ hẳn phải lên cấp tướng rồi, đeo trung uý là còn khiêm tốn lắm. Vậy là đoàn xe ôm rầm rầm qua nhà Chim sâu. Chạy vào lấy cái một vạch hai sao vàng choé, lão thấy mụ La Sát đang khóc thin thít.

Diện bộ vào oách hẳn lên. Nào có ai nhận ra lão chăn vịt. Lại thơm mùi dầu gội đầu trị gàu “Xăn xiu”. Những cái gì cũng quá khổ. Quần không xắn hai gấu lau hết mặt đường. đôi giầy như hai chiếc tàu thuỷ vượt đại dương, Chim sâu còn chưa biết mình còn phải khổ với chúng đến thế nào...

 Rời khỏi đồng bằng, đường đổi hướng liên tục vì đèo dốc. Tấy Bắc chập chùng, những bài hát cũng chập chùng như con đường. Ký ức cũng vậy, tóm được hết sức khó khăn, nhưng đấy lại là cả một thời trai, cứ mỗi lúc mỗi trỗi dậy trong mái đầu già nua. Sao mà quen quen, sao mà không như xưa? Chim sâu thở hổn hển, lầu bầu mỗi lần “bắt” được một hình ảnh cũ.

“Có mà mát khối ra đấy. Sạt đường, hỏng ăn, nhịn đói là cái chắc.”

Lão nói vậy, một mình, lúc có ai bảo nóng quá, giá mưa cho thì tốt. Khi một người kêu: “Núi đâu lắm thế...”, lão đốp lại: “Chuyện, ngày ấy đi bộ cả tháng, tịt mấy lứa đẻ ấy chứ. Thế mà đám dân công vẫn “quai” nhau chỗ dốc Mạ...” Dù chỉ là “nói” hay “đốp lại” hẳn hoi cũng chả ai nghe thấy, vì lão có ra lời đâu. Cùng lắm lf lí nhí, nên chả lần nào Chim sâu bị ai cười mũi hay làm hề hấn gì.

Thế mà khi tấm bảng ven đường vụt hiện lên rõ mấy chữ “ Cầu Suối Tấc”, Chim sâu “ối” lên rất to khiến xung quanh tưởng lão đụng đầu vào trần xe. Chim sâu quay đi quay lại ra điều hối lỗi đã làm đứt tiếng ngáy của đồng đội rồi co ro, người dúm lại vì kỷ niệm xưa.

Suối Tấc ngày ấy rậm rạp chứ đâu có phơi mình ra quang quẻ như bây giờ. Dù bị bom chùm, bom phá, bươm bướm, khai quang thả tơi bời, rừng vẫn ngun ngút, phải ngẩng lên mới thấy được trời xanh. Chàng thanh niên mười tám tuổi Đoàn Văn Vững gánh rau ra suối Tấc rửa. Xong xuôi, cậu em út của tổ anh nuôi chưa muốn về, ngồi ngắm nghía lũ sỏi đen trắng bóng líu dưới chân. Thoáng một cái, cái chấm xanh biếc vùng qua. Con chim bói cá chuyền dọc suối dẫn Vững tới một vầng trắng loá mắt. Năm cô gái Thái đi nương về ào xuống tắm líu ta líu tíu như bầy chim. Những áo cóm cúc bướm, váy thêu, khăn piêu phơi ríu ran trên tảng đá to.

Chưa hay cái lẽ nếp trẻ trên đời, chẳng biết ngượng ngập, Vững bước hẳn lên tảng đá, ngây ra. Đám tiên nữ mới đầu ré lên, trầm mình xuống nước. Rồi tĩnh trí, bạo dạn trở lại, có lẽ vì cái nhìn của chàng trại quá trong trẻo. Chúng mình là hoa để họ ngắm chứ. Ngắm cơ mà.

Bộ đội có tắm với các chị không?

Một cô có búi tóc nặng trên đầu, chừng ba mươi bập bẹ, rồi nhỏm hẳn người dậy té nước vào Vững. Cậu em miền xuôi xinh xắn như con chim nhập bầy nhập nhoạng bước xuống suối. Xung quanh cậu đàn bướm vàng bay lượn ríu ran. Những nhũ hoa lúc đen, lúc hồng. Những tóc mây mượt mềm còn hơn nước, còn nước thì óng ánh đủ bảy mầu cầu vồng. Chẳng ai nói sõi tiếng Kinh, nhưng thế là đủ lắm rồi. Vững bị té nước cho đến lúc ngã ngồi xuống suối, mãi mới dậy nổi, chạy chí chết qua bãi đá không thấy gai cào, không hay rêu trơn trượt sấp mặt.

Và tối đến, bị kỷ luật vì để trôi suối nửa gánh râu, cũng chả buồn tiếc. Cài vùng thịt da trắng sáng đẹp đẽ, thơm lành quá, trong giấc ngủ cậu còn mỉm cười. Như là mẹ, là chị, lại như là hoa của đất trời, những núm vú với những nụ ấy, ám ảnh Vững không thôi.

Mãi sau này, khi đã tỏ lẽ đực cái, sự sinh nở bất diệt của đời, Vững vẫn không thể quên sự khám phá, cái cảm giác tinh khôi ấy. Mỗi lần oà mặt vào ngực vợ, hoa nước suối Tấc lại hiện ra khiến lão mủm mỉm cười, ngay cả khi đã móm mém.

Thung lũng sáng ra đã nóng. Nắng non bò qua cửa sổ nhà sàn ngoáy vào mũi, nửa “tiểu đội” hắt hơi liên tục. Chim sâu nhớ đến mặt nước ao bèo, không biết cu Hiền có dong nổi đàn vịt... Lão mệnh mộc, hợp với nước, nên hơi tí đã nhớ nước. Gỗ cứ lềnh phềnh chứ bao giờ mà chìm được. Ngày nọ ông thầy xem bảo: “Văn nhân nhìn xuống, hào kiệt nhìn lên”, lão như văn nhân, phần âm rất mạnh, cả đời như người đàn bà rặt sinh con đẻ cái, chăm chỉ những cái vặt vãnh. Vặt vãnh nhưng làm nền cho những anh hùng dương tráng trí bay lên lo việc lớn, tỉ như đánh giặc, trở nên biểu tượng đất nước. Mệnh ấy có đi bộ đội, làm đến tổ trưởng anh nuôi là hết.

Phụ trách tuyên huấn hội cựu chiến binh huyện là một trung tá, cán bộ chính trị về hưu. Trong đoàn hành hương, Khắc Liên thực chất là người lãnh đạo, anh huyện đội lứa sau chỉ điều hành, thực hiện theo ý ông. Trạc tuổi chiến sĩ Điện Biên cả, mà trông ông vững vàng, giọng nói có uy lực khiến cánh “ba linh thôn” sớm nhất loạt gọi “thủ trưởng”. Khắc Liên tập họp đoàn phổ biến sáng thăm hầm Đờ Cát và đồi A1, nghĩa trang liệt sĩ, chiều nắng đi bảo tàng. Chương trình giao lưu tối có đại biểu huyện hội phụ nữ Tuần Giáo, các đồng chí chuẩn bị hát hò, đọc thơ, kể chuyện xứng với truyền thống quân dân cá nước. Chim sâu nghĩ giá là hội phụ nữ suối Tấc thì hơn. Biết đâu...
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #87 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:34:24 pm »

                                       Tiếp :
Hầm Đờ Cát thì Chim sâu đã biết quá rõ. Hết chiến dịch lão bị ôm không về Hà Nội duyệt binh mà ở lại thu dọn lòng chảo. Lão bé như kẹo, giá về cấp trên chắc không biết xếp vào hàng nào. Nghĩ lại mà kinh. Mìn, bom nổ chậm khắp nơi, lơ mơ là tan xác. Có anh bom đạn không sao, giờ chết mới vô lý. Được cái đồ hộp chén thoải mái, thấy mình thật chúa sau ba tháng giời cơm nắm mắm kem. Lão giấu trong đáy ba lô tấm dù trắng đêm về tặng vợ, dặn đừng phô với ai. Hồi kỷ niệm 40 năm chiến dịch, chẳng biết ai lộ, bảo tàng tỉnh về xin đem trưng bầy. Hú vía. Họ không phê bình lão tham ô chiến lợi phẩm, lại còn cảm ơn. Nhìn căn hầm thép sừng sững Chim sâu phục quân ta quá, thằng Tây lông lá to lớn thế mà dám xông vào “hô lê manh”.

Bước đến chân đồi A1 là Chim sâu sụt sịt. Đại đội lão mỗi đêm rơi vài mạng, có tiểu đội về mỗi một anh. Những cậu Thanh Hoá, những đứa Nghệ An, Thái Bình, ai cũng lừng lững đẹp đẽ. Nhớ nhất là đại đội trưởng Vang Lừng râu quai nón nói được tiếng Tây, đã biểu dương đồng chí Đoàn Văn Vững tuy đái ra quần nhưng vẫn mang được cơm lên cho tổ bắn tỉa. Chiến hào đầy bùn với máu. Vững đang lò dò thì moóc chê câu đến, gánh cơm văng tung toé. Đếm thấy chân tay mình mẩy còn đủ cả, Vững nhặt cơm dồn lại. Anh em bắn tỉa cạo bùn bên ngoài, chỗ cơm ăn được chỉ bẳng quả trứng. Ăn thế mà nhắm trúng Tây mới kinh. So với lính chiến đấu, vững thấy mình chỉ là con kiến bé nhỏ. Vậy mà cũng được biểu dương. Ngày chiến thắng, cả thung lũng dậy tiếng reo, quân ta ôm nhau bảo: “Sống rồi”. Vang Lừng bỏ giày đi chân không, dẫm phải mẩu thép gai rỉ. Nhìn đại đội trưởng lên cơn sài rung cả giường, quai hàm trẹo đo, cả đại đội khóc. Tất nhiên là chỉ còn bốn chục mống khóc được, những đứa khác thì còn biết cái quái gì nữa. Mà cái giống chết mới lạ, không sống lại được, không ai thay được là sao?

Sau Vững đem ảnh đại đội trưởng về thờ, Vang Lừng hơn lão chín tuổi, chưa lấy vợ.

Đang sụt sùi thì có người dúi vào tay miếng giấy ăn, bảo lau mặt đi rồi ra trả lời phỏng vấn. Hai phóng viên Pháp gặp đoàn cựu chiến binh mừng quýnh, hỏi có ai trực tiếp đánh đây ngày xưa không. Đoàn có mỗi lão dự A1, còn ông Tỵ, ông Tơ, ông Chiểu “chơi” những Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập, không phát biểu được. Chim sâu lập tức dúm lại. Biết gì mà trả lời. Nhưng Khắc Liên giao đây là nhiệm vụ tuyên truyền, phải cho cả thế giới biết chiến công của chúng ta vĩ đại thế nào, nhắc nhở thế hệ trẻ đừng quên truyền thống. Hai người Pháp ân cần bảo Chim sâu cứ điềm tĩnh, có gì kể nấy. Lão đứng nhìn lên chỉ thấy lỗ mũi rậm rịt lông xoăn, hệt đám tù binh thuở nào.

- Tôi chỉ nấu cơm đưa lên cho anh em, xong lại về nấu cơm tiếp.

Chim sâu lầu bầi, nghĩ bụng hai người một nam một nữ cùng sàng đây công tác, thể nào mà chả đực cái với nhau. Chuyện mình làm có gì oai mà phải kể. Nhưng họ lại hỏi cặn kẽ cơm nấu ở đâu, làm sao để giấu khói, gánh cơm trong hào ra sao. Những chuyện ấy dễ quá. Chim sâu tuôn rào rào, lời dịch lại được ghi lia lịa.

- Bây giờ thăm lại chiến trường xưa, ông có cảm tưởng gì?

Câu hỏi làm Chim sâu nhớ đến đại đội trưởng Vang Lừng, cậu Mui trung liên, anh Toàn tổ trưởng tổ nuôi quân. Lão ở cách trận địa hai cây số, làm luôn công tác tử sĩ, cứ đem phên cuốn xác đặt xuống đất, vạt gốc cây khắc chữ sơ sài đánh dấu. Rồi đơn vị khác, người khác lên sau thu dọn hài cốt, chẳng biết có gom được hết, gom được liệu còn miếng gỗ ngày nọ... Chắc rồi gia đình họ phải thờ chung cả... Mà ai cũng trẻ mới thương chứ. Nỗi lòng làm Chim sâu không thể trả lời. Khắc Liên hết khuyên nhủ đến nhắc nhở không xong, đành bảo lão lau nước mắt nước mũi đi, nhoè nhoẹt thế kia bọn mũi lõ chụp ảnh rồi đem phản tuyên truyền khắp thế giới xấu hổ quân đội ta, đất nước ta lắm. Rồi phân bua với hai nhà báo:

- Ông ấy vậy thôi, mà bắt được lính nhẩy dù xuống giao thông hào bằng đòn gánh gánh cơm. Là vì đang thương nhớ đồng đội nên mới khóc. Trong số chúng tôi, những người bắt được tù bình thu súng hoặc gọi hàng lính Tây nhiều lắm, tính không xuể.

- Ông giải ngũ năm 1955 à? Theo chỗ tôi biết, quân đội Việt Nam năm 1958 mới phong quân hàm cơ mà...

Chim sâu cứng người vì bị vặn. May sao Khắc Liên đỡ lời: Khi giải ngũ ông ấy là đại đội phó, tương đương trung uý. Đoàn cựu chiến binh chúng tôi ai chưa có quân hàm cứ phiên chức vụ tương đương khi giải ngũ mà đeo. Nếu đúng tuổi mới về hưu, bây giờ đeo đại tá cũng là vừa.

Nhân lúc Khắc Liên và hai nhà báo bận đối đáp, Chim sâu linh ra chỗ cái hố to tổ bố, dấu vết quả bộc phá nghìn cân thuở nào. Đầu lão ong ong, vừa xấu hổ, ấm ức với mình, vừa trách tổ chức đẩy mình ra. Lão là bậc phó chiến sĩ, về nhà là phó thường dân, khi lấy vợ là phó chủ gia đình. Ăn không nên đọi, nói năng ấp úng. Cái gì cũng ây ấy vầy vậy, thế thôi. Có gì mà phát ngôn phát biểu được. Cả đời lão nói về mình còn chả nên lời, cơn cớ gì mà nói hộ người khác được.

Gớm quá. Chim sâu miên man trong ấm ức, đến lúc có người nắm tay kéo giật lại: “Cụ ơi, không nhảy qua giao thông hào được đâu. Chân cẳng chấm phẩy vậy mà đòi nhẩy như ngày xưa, chúng cháu không khiêng cụ về với cụ bà được...”

Cuộc giao lưu ở sân khách sạn Mường Thanh đã không diễn ra được như trong chương trình của ban tổ chức. Không phải đổ bể vì có mưa hay ai đó bị nạn, mà mặc nhiên, tất cả những nhân vật chính đã đẩy nó sớm lên một tiếng. “Kịch bản” thì bị sửa hoàn toàn. Duyên do, như sau này một người trong ban lãnh đạo đoàn Gia Kiên “phối đúc kết” lại, tất cả là ở rượu và đàn bà.

Bữa tối là tiệc lớn, có mời hội cựu chiến binh sở tại. Hai đồng đội xưa tìm được nhau khóc rưng rức, cười móm mém. Vài ông Hải Dương định cư Điện Biên được phong bánh cáy cũng sụt sùi. Những ông cao xạ, những ông pháo mặt đất, ông ôm bộc phá công kiên, ông chỉ lẳng lặng xe thồ tranh nhau nói. Hai mươi hai đại biểu phụ nữ Tuần Giáo trẻ trung, sồn sồn hy móm mém đều có cả. Trong số đó lại mười lăm người áo cóm cúc bạc rực rỡ, váy nhung the dập dờn, tằng cẩu hay chưa tằng cẩu đều uống rượu như uống nước lã. Đã quen công tác giao lưu lắm họ nên mỗi mâm chúc rượu ép đủ mỗi ông hai chén Sông Mã cay nghẹt mũi. Riêng các cụ, tức cánh Điện Biên xưa, phải thêm một, “không thì chị em chúng em đứng đợi mỏi chân lắm rồi”. Đi đủ mười hai mâm, mỗi cô ít nhất hai chục chén cứ như không. Mà mắt cứ long lanh, mà cứ hồng lên, áo cóm lại phập phồng mới tệ.
“Dzô!”
Cánh chống Mỹ học mốt uống mới, nhất loạt hô khi cạn chén. Cánh đánh nhau ở biên giới phía Bắc còn trẻ, “sành điệu” hơn, vòng chéo tay uống với chị em bên hội, nhất là cô xinh xắn làm tài chính huyện. Và hô “Ra!”. Các cụ chống Pháp biết thân chèn bụng dạ bằng cơm và thật nhiều nước canh béo ngậy. Vậy mà vãn ngây ngây, đang vòng tay chúc tụng mà tiền liệt tuyến nổi chứng, quần như sắp ướt đến nơi.

Và hát ngay. Đọc thơ tại trận. Đợi theo chương trình thì rượu hả mất. Phí phạm. Sáu chục cái miệng đồng thanh “Hò kéo pháo” với “Giải phóng Điện Biên” mãi lại vòng vèo về “Em bé Mường La” và “Đồn Him Lam ta xuất kích”. Một trăm hai mươi bàn tay vỗ đỏ lừ. Hát mãi mà chiêng trống mà nhạc điện tử chưa đến phục vụ họ.

Đang vật nhau với năm chén rượu nhảy múa trong người, Chim sâu thấy mình bị đẩy ra giữa hội. Khắc Liên cầm tay ông giơ cao, mặt mũi tưng bừng: “Các đồng chí xem đây. Ông Chim sâu bé nhỏ này đã nấu cơm tiếp đạn tận đồi A1, góp phần nhổ cứ điểm rắn nhất trong chiến dịch. Thế mà đồng chí ấy rất khiêm tốn, sáng nay trả lời phóng viên ngoại quốc là chẳng làm gì cả. Một biểu tượng anh hùng của người Việt Nam ta đấy. Thật đáng tự hào!”

- Thật tình... thật tình là tôi... – Chim sâu lắp bắp.

- Thế mới vĩ đại! Đồng chí phải hát mới được!

- Thủ trưởng ơi tôi say lắm rồi. Con mụ La Sát ở nhà mà biết...

- Ở đây ai cũng say cả. Vứt mẹ nó mấy con mẹ La Sát đi! - Khắc Liên ghé tai Chim sâu - đây là kỷ luật dân vận đấy bố ạ. Đang giao lưu với địa phương, không hát đồng chí sẽ bị kỷ luật.

Lòng dũng cảm ở đâu bò ra làm Chim sâu, sau một hồi ngậm hạt thì, nổi máu phê phán anh em đã hát sai bài “Giải phóng Điện Biên’. “Chỗ ấy đáng ra phải là “một đồng chí đứng lên nói rằng một tay tôi cầm súng, tay này bóp... thằng Tây mới phải”. Lão chợt câm bặt khi thấy Khắc Liên nhăn mặt. Xung quanh là sự im lặng khủng khiếp. Rồi trận bão cười phá ra. Chim sâu bị nhấc bổng lên. Những cái hôn làm nhoè nhoẹt mặt lão.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #88 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:38:28 pm »

                                 Tiếp theo :
- Hát thế mới là hát chứ!

- Hoan hô bố già. Thế mà cứ bảo ít mồm.

- Tôi đề nghị giao lưu ngay thôi. Đang sướng. Sướng thế này chết cũng được. Để tý ra ngoài kia rượu nó nhạt mất.

“Đề xuất” của một chiến sĩ “ba linh thôn” được hưởng ứng nhiệt liệt. Ban tổ chức nhăn nhó chiều lòng “quần chúng manh động”. Đây là một khuyết điểm sau này phải ghi vào nghị sự tổng kết chuyến đi. Nhưng bây giờ nó làm cho ai nấy phát rồ.

Mấy cô Tuần Giáo nghe giải thích câu hát của Chim sâu, người thì cười rũ ra, chẩy cả nước mắt, người cứ ngổi tủm tỉm, mặt đỏ như có ai phát.

Thế là bài “Chiến thắng Điện Biên” của Đỗ Nhuận được vặn vẹo thành đủ kiểu, những câu người ta hát khi cận kề cái chết. Lính chống Mỹ hát “lắc la lắc lư đoàn quân ra Bắc, đồng bào thắc sao các anh trở về – Sốt rét chúng ông mới về, ốm gần chết chúng ông mới về...” Người trở lại Điện Biên sau chiến thắng chả kém: “Muốn kin mắn co (ăn sắn) thì lên Tây Bắc, đồng bào thắc mắc thì ra Sìn Hồ’. Rồi là ghế bàn dẹp lại. Chai rượu lăn ra đến mép bàn được một cựu dũng sĩ diệt Mỹ cứu nguy, “Phan Đình Giót” tiếp. Đội văn nghệ đến kịp thời. Cái khoảng sàn bé tí giữa nhà ăn thành nơi múa sạp. Những cặp chân già lão, những váy Thái duyên dáng dập đồn theo nhịp gậy tre lên xuống. “Sòn sòn sòn đô sòn”, người ta tranh nhau vào “xới”, vòng đi vòng lại không biết chán.

Chim sâu ngồi cù rù, mắt long lanh sướng mà bụng e ngại, nghĩ đến gương mặt nhăn nhoe của Khắc Liên. Bụng dưới lão căng phồng vì nước tiểu. Mặc lòng, lão say quá rồi. Cơn mưa hoa nước suối Tấc lại hiện về.

Lão chẳng phải đợi lâu. Cuộc vui cạn độ mươi phút, Khắc Kiên bước vào nhà sàn với vẻ mặt hết sức bất bình. Nhưng giọng nói không đến nỗi nóng nẩy quá, dù sao phòng toàn chiến sĩ Điện Biên thứ thiệt:

- Đoàn thấy không hài lòng về buổi giao lưu tối nay. Thứ nhất, bác Vững hát rất... gì. Có mặt phụ nữ, hội cựu chiến binh bạn, chúng ta rất nhiều phương diện, không phải sướng gì cũng bạ ra. Ai lại hát tục tĩu thế bao giờ. May là ông không huỵch toẹt ra là “tay này bóp cu thằng Tây” đấy.

- Nhưng hồi ấy tiểu đội tôi hát thế thật – Chim sâu lí nhí.

- Đồng chí vẫn còn chưa nhận ra khuyết điểm a? Quân đối với dân thế còn không đáng xấu hổ? Thứ nhì, tôi thật sự thất vọng về các bác – Giọng Khắc Liên dồn nén hết sức – Ai lại già lão thế mà nghịch quá trẻ con. Không làm gương cho anh em đi sau còn gì thể thống chiến sĩ Điện Bên nữa. Chương trình giao lưu tính làm ngoài sân rộng rãi, trang trọng, có diễn văn, thì xảy ra ngay tại nhà ăn. Các bác có thấy cánh truyền hình lắc đầu không thể quay nổi vì bát đĩa rếch rác, rượu chè lổng chổng không? Hiệu quả tuyên truyền thế là hỏng hết. Các anh ở tỉnh sẽ nghĩ gì về ta? Thứ ba là...

Khắc Liên dừng lời, phần vì nản quá, phần sợ các cụ “ba linh thôn” bị phê nặng lại dỗi, hỏng hết các chương trình sau này. Mà các cụ đã có vẻ biết sợ. Ông Vững đã khóc rồi kìa...

“Uầy ùùù”. “Uầy ùùù”.

Đang đêm Chim sâu tỉnh dậy vì chuỗi âm thanh vừa quen vừa lạ, nó làm bạn với lão từ vài chục năm nay. Khi réo rắt vẫy gọi, nó thúc đẩy lão làm những chuyện mà đận bình thường lão không bao giờ dám nghĩ đến. Tỉ như cãi lại vợ hoặc trái lời ai đó. Tỉ như đái xuống cửa cống thuỷ lợi đầu thôn. Nhưng thường khi “Uầy ù” mang tới nỗi sợ bí ẩn, càng chẳng có căn nguyên nào càng đáng sợ, càng giải thích càng tịt ngòi. Giả như nó bắt lão im mồm không cho nói ra ý mình trước đám đông, cụp mắt lại khi thấy đàn bà xắn quần cao quá. Lúc nào cũng lo bị vặn, bị mắng. Tệ hơn là bị giễu. Rất đau. Nên Chim sâu hay thủ thỉ cùng mấy con mụ vịt bầu vậy. Nhìn lão cầm sào đi theo lũ vịt thấy thơ thới lắm. Đằng trước lạch bạch, cạc cạc như bà mệnh phụ, đằng sau rì rầm, ầm ậm như kẻ hầu người hạ. “Chủ tớ” hợp nhau mới lạ, đến nỗi không bao giờ “tớ” dám xơi món tiết canh chúa sừng chui ra từ cổ “chủ”.

“Uầy ùùù”....

Nằm giữa tiếng kéo bễ, Chim sâu giận mình, giận “người ấy”, tức thủ trưởng. Sao ta không cãi nổi một câu là mình hát đúng như tiểu đội hát ngày nào, không hề có chuyện xuyên tạc bịa đặt?... Đúng là chúng nó đã hát “một tay tôi cầm súng, tay này bóp tay thằng Tây”. Mà giời đất ạ, mình cũng ngu thật. Gần dặm chục năm qua hát vậy, thấy nó vô lý mà không suy nổi là lính ta “đặt đểu”, càng vô lý lại càng nghĩ mới ấm ớ chứ. Lính không đùa thì sao làm lính mà vượt qua được chết chóc gian khổ được. Cũng như ông Ba Càng chú mình đi làm cán bộ vài năm về nhà toàn nói “triển khai bón phân”, “cơ cấu sáu cụ một mâm” vợ con chạy hết. Còn thằng Sum chạy công nông không nói được câu nào nghiêm chỉnh, thì sao đến lắm người thích nghe. Tóm lại là quan hay lính, đại tá hay phó thường dân đều mỗi người một giọng, chỉ mình ta không “hát” được. Không nên lời được thì đành phận là phải. Không biết lúc tối ta say, ta có cãi lại thủ trưởng câu nào bố láo? Huân chương đầy ngực như thế, chắc ông ấy nói câu nào phải đúng câu ấy...

Mà chả biết mấy tay cùng phòng quán triệt ý Khắc Liên ra sao? Điều này thì Chim sâu có lay tất cả mọi người dậy để hỏi thì cũng chả ai trả lời nổi. Lúc đó Khắc Kiên nổi nóng thế mà ai nấy căng da bụng chùng da mắt tuốt lượt luôn, không kịp bàn thảo gì đã ngáy o o quên hút thuốc lào. Vậy nên nửa đêm thức dậy, những mối lo chẳng cơn cớ quái gì mới bò đến, dù lão toàn lo bò trắng răng.

Năm 1955, Đoàn Văn Vững, tổ trưởng tổ nuôi quân của đại đội 12, thuộc trung đoàn X, sư đoàn bộ binh Y về phục viên. Một cuộc sống mới bắt đầu, cấy cày củ mỉ như không có cái đoạn binh lửa vừa rồi. Chỉ thêm ba sào ruộng được chia từ tay địa chủ, có vợ, cô gái gầy yếu tựa gió thổi bay. Và mất mẹ, người luôn lo cho thằng con lành như đất. Dù sao chiến tranh cũng để lại di chứng trên người Vững: bàn chan phải dính mảnh đạn thành tật, những con sốt rét nẩy người, và chút húng hắng ho vì phải hơi bom. Vững đẻ một mạch ba con vịt giời, khuôn đất đốt gạch xây nhà, cho đến lúc ông trưởng họ gọi đến giao nhiệm vụ: “Việc gia đình thế là đủ. Chú phải tham chính thôi. Họ Chụ, họ Nguyễn nó mình mẩy ghê quá”. Vững chối đây đẩy, viện trình độ kém, sức chưa lại, nói năng đâu biết gì. “Cả họ bây giờ trông vào mình chú. Người ta chỉ biết chú đã đi bộ đội tức là đã được sinh hoạt có tổ chức, ai biết mình nấu cơm. Tôi không ra được vì hồi cải cách đấu hăng quá, bây giờ sửa sai thành có khuyết điểm. A à chú còn khoẻ hơn tôi chứ lị” ông trưởng khẳng định, về hò cả họ dồn phiếu cho Vững. Anh trúng chân nông hội vận động thành lập tổ đổi công, tiến lên hợp tác hoá, làm nghĩa vụ thuế xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam. Thằng lười mượn có ốm, Vững đi đắp đê thay nó. Có đứa phá bờ tháo nước trộm, anh lặng lẳng đắp lại. Củ khoai đặc không đúng chỗ chẳng phát huy được thế mạnh họ trông chờ, rút cục anh về ngồi chân văn phòng uỷ ban xã, thực chất là thằng để người họ khác nó sai vặt. Ai đời làm văn phòng mà không định đoạt được gì. Công văn chỉ thị về thì đem đến trình chủ tịch họ Nguyễn, bí thư họ Chu xin ý kiến, chạy đi triển khai mệnh lệnh của “chúng nó”. Ngồi họp giữa các luồng ý kiến khác nhau, Vững không “ừ” thì gật, bị dồn quá thời nấp vào cơn buồn ngủ. Rút cục thì ở cuối nhiệm kỳ, anh chỉ đắc dụng ở chân chẻ đóm đun nước. Văn phòng uỷ ban lúc nào cũng tinh tươm, nước sôi đầy phích, ấm chén bóng líu. Những thanh đóm Vững chẻ từ tre ngâm mỏng tang, hút ngon lành đến độ chủ tịch huyện xin về một nắm. Ngoài ra là vô tích sự hoàn toàn, lại còn phải lo ngay ngáy đón ý ông này, ông nọ, chỉ sợ những ông ý không bằng lòng.

Trước ngày bầu cử chính quyền đợt kế tiếp, Vững đến nhà trưởng họ nhăn nhó: “Bác cho em nghỉ không ứng cử nữa. Văn dốt võ dát không múa được. Với lại ra uỷ ban suốt ngày việc nhà hỏng cả...”

Ơ, chú làm họ không được nhờ. Cũng may là còn không đến nỗi gửi trứng cho ác...

Trưởng họ còn chưa nghĩ được nên đề đạt ai thuộc “đằng mình” ra ứng cử thì Vững đã ù té quyền về nhà báo tin “phục viên” cho vợ. Phin lúc này đã xòe ra như cái cót thóc chứ không còn giống cây tre cho gió nó đu nữa, cắt luôn cho chồng chân chăn vịt. “Nhà cứ lo đằng ngoài lều, để lũ vịt ở nhà với các việc khác cho em”. Nói thế chứ Vững trôn sao nổi những việc nặng: cày bừa, đắp đê, đi “hai linh hai”... Thôi uỷ ban thì phải vậy, còn hơn lúc nào cũng lo không phải đầu thì phải tai. Làm chỗ chính quyền trách nhiệm nặng nề phải thông tỏ mọi nhẽ, không thì quả tạ rơi xuống đầu chẳng tránh được, dù chỉ là chân chẻ đóm đun nước.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #89 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:42:35 pm »

                                        Tiếp :
Cuộc đời đến là lạ, cứ như cái sàng, lắc một hồi là gạo ra gạo, trấu ra trấu, hột to hột nhỏ đằng nào đi đằng ấy. Đã không còn “tham chính” mà Vững còn phải tiếp tục chịu những “thử thách’, lần này từ vợ. Phin có bà bác nằm liệt giường đã chín năm, ụ ị như bao bột. Con cái chăm sóc hiếu đễ đủ đường, mà cũng mệt mỏi. Ngày cụ đi, Phin bảo chồng mang nải chuối sang thắp hương. Đám tang rất ít nước mắt, các thủ tục chỉ làm đủ cho phải phép. Sự ra đi giải phóng người sống, đem lại thanh thản cho người chết. Chính bà cụ, khi còn tỉnh, cũng một mực: “cho tôi một liều thuốc đi cho nhanh. Không biết kiếp trước tội nơ gì mà bắt sống lay lắt thế này...” Nghĩ thế nào nói thế đấy, Vững đặt nải chuối lên ban thờ, thắp hương vái rồi “chia sẻ” một câu chết người: “Thôi cũng mừng cho các bác. Cụ nằm lâu quá rồi, thế này đỡ mệt”. Lời “phản ánh” lại của tang quyến cũng nhẹ nhàng, ra ý Vững thật thà quá đỗi, nhưng làm Phin tức uất người. “Ít ra phải chia buồn, nói câu người ta hiếu đễ chứ”, vợ anh ghét quá chỉ bảo được vậy. Từ đó, Vững không còn gánh vác một việc ngoại giao nào nữa, yên tâm “chuyên sâu” vào nghiệp chăn vịt.

Mà lão hợp việc thật.Cái lều ngoài bờ mương lè tè, xung quanh quây dậu nứa thưa thật đúng là đại bản doanh của ông tướng. Ông ngủ luôn ngoài ấy, đỡ nghe eo xoè của lũ vịt ở nhà, đêm đêm cùng con Đốm xách đèn ra soát sét. Là đếm gọi là thôi, cho đỡ nhớ chúng, chứ quê này đâu có giống ăn trộm. Lão đào giun, ngăn máng tát nước bắt lưa thưa mài mại, lũ vịt lúc nào cũng đầy diều lớn mau như thổi. Lão thơ thới lắm, mình mình lo, mình mình quyết, không phải quán triệt, bàn bạc lĩnh ý ai. Con nào bỏ ăn, phân xanh nhoét mà không thối là bỏ thẳng cẳng. Con đực nào oai hùng ra dáng thủ lĩnh, lão phong ngay chân tiểu đội trưởng phụ trách đàn vịt đẻ, đi đâu cũng dẫn rượu một đám “cung tần mỹ nữ”: Oách hơn vua chứ lị.

Cạc cạc cạc... “Triều đình” gồm “vua”, “quan” cùng lũ vợ đủng đỉnh đi trước, lông lá mượt như được chùi. vít vít vít... Lũ tí nhau mà chạy, chen chúc ngã cắm đầu. Sau rốt là ông “đại tướng’ đội nón mê tay cầm sào buộc lá chuối, tay xách bình tích, lưng lủng lẳng điếu cày. Cái hình ảnh ấy quen thuộc với dân Kiên Xá từ ba mươi năm nay. Tên đặt “Chim sâu” bắt đầu từ đấy.

Có người bắt gặp lão, bỡn cợt: “Chào tướng quân. Tình hình chiến sĩ thế nào?”. Vững cười hi hi, ngây ngây nhìn đại đội hành tiến. Rồi ra thế nào mà đêm lại bật ra những câu:

  Nửa đêm lão bắc bếp rán lũ rô con uống rượu, ngâm đi ngâm lại. Lão khoái mấy câu thơ đến nỗi không về nhà bốn ngày liền. Để mụ La Sát cười cho à, lão chả dại. Làm bà Phin phải ngoi ra lều, miệng bảo sốt ruột, nhưng nửa đêm lại róc tuỷ lão ra giữa xung quanh nồng nàn cứt vịt.

 Đôi giày da không phải cỡ hại Chim sâu. Một ngày lội bộ qua các di tích, thăm bảo tàng, chẳng là mấy nả với vụ dong lũ vịt ngoài đồng, mà làm lão khốn khổ. Sáng ra nhìn những chỗ bị da cứa đứt mời phù nề hoặc đã rớm máu, cánh lính già đều ngại ngùng.

- Hay là ông ở nhà. Chân cẳng thế này còn tham quan gì nữa.

- Tôi đổi đôi dép vậy. Chim sâu nhăn nhó.

- Bốn túi phải đi với chân chì - Ông Tơ thành thạo - đeo huân chương với cả trung uý mà dận dép còn gì thớ cựu chiến binh.

- Nhưng ngại thủ trưởng phê bình...

Nhắc đến thủ trưởng ai nấy đều ngại. Lại quay ra trách lão: “Mà ông cũng “ấy” lắm cơ. Lúc có phóng viên nước ngoài, cần mạnh bạo thì nín thít. Lúc giao lưu với phụ nữ và các cháu thanh niên lại rửng mỡ làm hỏng cả chương trình. Mà thủ trưởng cũng nóng quá. Lính tráng đang vui... Hôm qua tôi buồn ngủ đấy, không cũng cự lại vài câu...”

Ông Tơ im bặt vì Khắc Liên bước vào. “Vấn đề” được giải quyết chóng vánh khi ông nhìn thấy đôi chân rách nát. Lão được phép ở nhà, lai còn có y tế đến băng chân, phải cái chết ngượng vì mùi vịt nấp trong các khe kẽ.

Nắng hè, dù là nắng non, ngốt ơi là ngốt. Nhà sàn trồng sữa sân bê tông bí bức. Chim sâu hết nằm lại ngồi. Có hai người gõ cửa, một cô chào mua bảo hiểm, một anh mời hàng thổ cẩm với những huy hiệu, huy chương “xu vơ nia” kỷ niệm. Chim sâu chọn chiếc khăn piêu cho vợ, mấy chiếc khánh “đồng hạng” cho lũ cháu, lấy làm ưng ý lắm. Lão xìu xuống khi nghĩ đến đoạn mụ La Sát nhăn nhó: “Tôi đội khăn này vào dịp nào được?”. Liền ve vẩy ra khỏi khách sạn. Cứ để những ‘nỗi niềm” đấy đã, ta đi xem thành phố hiện đại thế nào. Quả là mấy hôm nay lão chỉ toàn “sống với không khí lịch sử”, mấy chục năm nay chỉ biết quanh quanh từ làng đến huyện là cùng.

Chợ Điện Biên không làm Chim sâu thích thú mấy. Của cải miền núi chẳng thấy đâu, mà cứ sáng choang hàng Tầu như chợ xuôi. Được cái có những cô người Thái bán măng đắng, củ mài, và lũ rau má cằn nhưng chắc chắn là đậm vị. Chim sâu ngần ngừ rồi rẽ vào hàng ăn, gọi đĩa xách xào còn đen kịt và chén rượu. Kể cũng sốt ruột khi nghĩ đến lứa xu hào vợ nhổ non đem bán, nhưng lão phải tiêu tiền chứ. Dù là tiêu cho riêng mình, dù mình chỉ là “Chim sâu” , thì sao lại phải không? Đây là chuyến đi trót đời kia mà.

Rượu vào hăng lên, Chim sâu gọi xe ôm đi chơi phố.Tấp nập thật. Nhà cửa san sát phủ chót Ốt Nam hơn hẳn phố huyện ở quê. Gì thì gì đây cũng là thành phố, dù ở mãi biên cương. Nhưng trở thành người phố, người ta xoay xở ra sao trong những ngôi nhà xây không được bóng cây che chở đây? Lão hứng khởi đôi chút khi ngắm nghía pho tượng đàu khổng lồ đang dựng trên ngọn đồi D1 cũ. Những toà công sở ngất ngưởng thì chỉ nghé qua quýt. Giá mấy ông thắt cà vạt trong ấy có ra mời Chim sau cũng chả vào. Vì không đẹp, và cũng sờ sợ thế nào...

Anh xe ôm đầu đinh mũ cối, sau một hồi giới thiệu “đặc sản” cà phê vườn có các em Thái sẵn sàng “tới bến” không đắt, để mặc “bố già” ù ì sau lưng. Anh ngạc nhiên thấy bố bảo đưa tuốt đến cuối lòng chảo, nơi núi non dẫn sàng Lào bắt đầu trùng điệp, càng ngạc nhiên thấy ông lão bỏ xe máy bước xuống bãi đá ven suối Nậm.

Ngồi thừ giữa nắng, Chim sâu thấy mình bắt đầu nghĩ ngợi. Toàn chuyện không đâu. Câu phê bình của thủ trưởng. Lời vợ dặn. Những ký ức này nọ. Rồi lão nhập bọn với lũ trẻ quăng thia lia ngoài suối. Đám đàn bà đi nương về cởi áo cóm trầm mình ngoài kia mới trắng chứ, như lũ vịt của lão. Mà chắc là thơm, theo lối quả vườn tươi tự nhiên chứ không ướp thuốc, bắt cho chín ép như những chị tỉnh thành. Tay ấy chân ấy làm lụng chắc cứng cáp lắm. Ô, lại nghĩ đến suối Tấc rồi. Suối Tấc đã lấp lánh suốt cuộc đời lão, hà cứ gì cứ thấy chờn chợn khi muốn phô ra với người khác nỗi niềm rất đỗi dễ thương ấy? Chim sâu nhắm mắt tưởng tượng mình bước ra giữa Nậm Rốn, trâm mình cạnh những suối tóc, những thịt da trắng ngần...

 Bỏ cậu xe ôm chỗ cây cầu dẫn vào thành phố, vượt qua cái máy xúc bẩn thỉu, Chim sâu rẽ vào con dốc nhỏ. Đã đến lúc kiến bò bụng, mà lão không muốn về khách sạn với ăn xuất tiêu chuẩn, trên bàn phủ khăn có bia, phục vụ chạy ra chạy vào. Vẳng bên tai những tiếng mời chào, nào tiết canh dê, nào măng đắng chấm chẩm chéo. Có một cô, trông ra dáng mợ rồi, có cái ánh mắt thế nào đó, chẳng mở mồm mà khiến lão bước vào. Đến lúc nhận ra xung quanh thơm ơi là thơn, những lọ xếp hàng trên giá gương sặc sỡ như hàng cờ phướn, thì đã muộn.

- Bác cứ tự nhiên. Không cần phải cởi. Em không làm ướt áo bác đâu.

Cô gội đầu nói sau khi dắt lão ra đằng sau tấm bình phong ngăn cách hẳn với phố bụi. Không hẳn muốn từ chối, Chim sau cứ nhắm mắt đưa chân, trèo lên chiếc ghế bọc vải sơn mầu đỏ. Không khí dịu dàng lan toả căn quán, lão nhắm mắt lại, khoan khoái tận hưởng.

- Bác chắc ở xa lên đây?

- Đi chơi mà. Trời nóng quá nhỉ...

- Bác cứ nằm yên, nước vào cổ bây giờ.

- Vâng

Chim sâu thấy giọng mình khản đặc. Thật khó mà không động đậy. Lão nhìn theo lúc cô ta đi lấy nước lạnh. Những ngón tay cào cào trên da đầu khiến Chim sâu cảm thấy dễ chịu. Công cuộc làm đẹp cuối cùng cũng kết thúc. Nửa giờ đồng hồ làm Chim sâu phấn chấn. Lão đưa cô chủ quán tờ năm chục không lấy lại tiền thừa. Và nghe rủ rỉ:

Rằng bác là cựu chiến binh lên thăm chiến trường xưa chứ gì, mấy hôm nay em gội cho các bác nhiều. Em cũng gốc xuôi, bố mẹ đi công tác, sinh trên này, phải anh chồng nghiện giờ nuôi con một mình. Rằng bác dễ thương, thật thà nhỉ, phải người có mùi gì hoi lắm. Ban nãy bác ngáy một tý đấy. Em cứ để yên. Bác đã có tuổi, ít đi chơi, đừng ham vui kẻo nhỡ làm sao bà lão biết tính thế nào. Mai bác về a, ... Rằng...

Mãi về sau, khi đã yên ổn trong lều vịt ở quê. Hương vị Tây Bắc, những kỷ niệm có mùi thơm, mềm mại và ấm áp khiến lão mơ màng như tương tư. Gần sáng dậy đếm vịt lại nhớ tới giọng nói dịu dàng, cái nhìn buồn buồn của cô chủ quán gội đầu. Sao mình không thể quên những chuyện toàn là vụn vặt ấy? Ô, làm sao mà phải quên? Nếu như vậy thì để cái lều này toàn mùi vịt a...

Những điều không thể tỏ cùng ai ấy sẽ theo Chim sâu xuống đất đen. Còn bây giờ, lão vẫn túc tắc rong chơi trên đồng, chấp chới cây nứa buộc lá chuối. Vít vít... Cạc cac... Lũ vịt mông nặng đi trước như đoàn mệnh phụ, ai nói nấy nghe...

Ông nông dân chăn nuôi bảy mươi ba con vịt

Suốt ngày nghe chúng nó khụt khịt

Nghe đi nghe lại mãi không hiểu

“Ông ơi bụi lúa đằng kia có quả trứng”

   TC
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM