Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:25:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 131904 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #90 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:50:07 pm »

                       Chuyện thời con gái    
                       Tác giả : Nguyễn Thị Như Trang

  Bà mẹ ân cần rót một bát nước còn bốc khói, niềm nở đặt vào tận tay chị:
- Chị uống tạm. Ở nhà quê chỉ có nước chè tươi.
Khách mỉm cười:
- Cháu xin bác. Trời nóng quá. Cháu cũng rất thích chè tươi ạ

Rồi chị khẽ thổi, ghé môi uống từng ngụm nhỏ ngon lành, trong lúc bà mẹ cầm quạt ngồi bên, vừa phe phẩy quạt cho chị, vừa ngắm vầng trán thanh khiết rịn mồ hôi của người khách lạ. Một người đàn bà thành phố đã đứng tuổi, ăn vận giản dị, tấm áo sơ mi xám nhạt rất hợp với đôi mắt to phảng phất buồn. Khuôn mặt tao nhã tuy không còn những nét trẻ trung, nhưng sự điềm tĩnh toát ra từ cái nhìn đằm thắm lại có một sức hút kỳ lạ.
- Vậy ra chị là…
Bà mẹ buông lời thăm dò. Thực ra, bà cũng chưa biết người khách lạ này là ai? Vì việc gì chị ghé vào căn nhà đơn chiếc vốn chỉ có tiếng nói cười, những lời chào hỏi vồn vã vào những dịp lễ tết, khi các đoàn thể, chính quyền địa phương đến chúc tụng những gia đình có người hy sinh vì cách mạng. Ngoài những phút vui hiếm hoi ấy thì chỉ có mình bà lão vào ra thầm lặng. Bà chỉ biết rằng, từ lúc khách bước qua rặng cúc tần ngoài ngõ và ngồi xuống bên bà, thì tất cả những đồ vật quen thuộc đến tẻ ngắt ở đây bỗng như có một sức sống mới, từ bức tranh mẹ con gà đã ố vàng dán trên tường, cái chum sành đựng nước mưa dưới gốc cây cau già trước mảnh sân đất nện, đến những cái chén cũ sạch bóng nhưng lạnh lẽo vì ít khi có bàn tay người động đến… Tất cả đều có vẻ niềm nở, sống động khác thường. Căn nhà nhỏ bé của bà mẹ dường như ấm cúng hẳn lên.
- Dạ, cháu làm việc trên tờ báo tỉnh. Nhân hôm nay về xã có chút việc, cháu rẽ vào thăm bác.
- Quý hoá quá.
- Nhà ta cũng vắng vẻ nhỉ, thưa bác?
- Chẳng giấu gì chị - bà mẹ thực thà kể lể - ông lão hy sinh từ ngày đánh Pháp, tôi chỉ được hai em. Con chị lấy chồng bên kia sông, chỉ những ngày giỗ tết mẹ con nó mới bồng bế nhau về thăm bên ngoại. Còn thằng em, nó thuộc diện con một, lại là con liệt sĩ được xã miễn trừ nghĩa vụ. Nhưng nó nhập ngũ ở trường học. Vào bộ đội rồi nó mới biên thư về nhà. Đấy, em nó đấy.
Bà mẹ nói và chỉ tay lên kệ thờ. Trên ấy, tấm ảnh Đạt trẻ măng, tóc rẽ lệch, vẫn cái nhìn hồn nhiên có phần nghịch ngợm như ngày nào nhìn chị thân thiết quá khiến chị chỉ muốn khóc. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng như đã quên lãng chợt xô về: những bông hoa trinh nữ tím biếc khẽ đung đưa; cơn gió phóng khoáng trên triền đồi nóng như hun một ngày hè, và những tàu cọ xanh nõn bình yên chở che trên đầu hai người… Khung cảnh thật bình yên, thơ thới, nếu dưới kia, không xa, những chiếc Míc sơn màu nguỵ trang không là lời cảnh báo nhọn hoắt về những bất trắc có thể xảy ra bất kỳ lúc nào…
Chị nuốt thầm nước mắt, cố xua đi những hoài niệm dai dẳng, nắm lấy bàn tay khô gày của bà mẹ, giọng ngàn ngạt:
- Bác ạ, trước đây con là… là… bạn học của anh Đạt.
- Trời đất! - Bà mẹ kêu lên thảng thốt. Chiếc quạt đột nhiên tuột khỏi tay. Bà ôm lấy đôi vai chị, lắp bắp. - Sao con không nói ngay. Thế thì… con phải ở đây ăn cơm với bác. Chị mà từ chối là tôi giận đấy. Ăn cơm với bác, nghe không?
Nỗi vui đột ngột làm bà mẹ cứ cuống lên, chẳng biết xưng hô thế nào cho phải.
Khách mỉm cười, nói giản dị:
- Vâng, con sẽ ngủ lại đây với bác đêm nay. Con xin ăn cơm nhưng có gì ăn nấy, đừng mua bán phiền phức, bác ạ.
- Được rồi. Được rồi. Có gì ăn nấy. Chị đi rửa mặt cho mát, nước mưa đầy chum kia, rồi ngồi nghỉ. Bác chỉ làm một loáng là có cơm nóng ăn ngay.
*
* *
Bà mẹ xách rổ tất tả đi ra ngõ, niềm vui khiến cho tấm lưng còng như thẳng lên, dáng nhanh nhẹn hẳn. Bây giờ trong nhà chỉ còn lại mình Hạnh. Chị đứng lên, đầu óc bỗng chao đảo như say sóng. Chị vội vịn vào tường, khẽ nhắm mắt. Khi trống ngực đã bớt đập thảng thốt, chị đến bên kệ thờ, châm ba nén hương, mắt như mờ đi, chị nhìn chăm chú bức ảnh của Đạt chắc là chụp từ ngày anh mới nhập ngũ, lòng thổn thức: Anh ơi, em đây, Hạnh đây. Hôm nay em mới về thăm mẹ được. Em có lỗi. Mong anh hãy thay lỗi cho em. Thế mà đã hơn hai mươi năm rồi! Khói nhang bốc mờ mờ. Mùi trầm xa vắng. Tấm ảnh Đạt trên kệ thờ khi tỏ khi nhạt. Cái nhìn thân thiết của anh khiến vết xước găm vào tim chị, từ lâu, bỗng nhói đau. Hình ảnh của anh những ngày đầu hai người mới quen biết chợt buốt giá một vùng nhớ. Một cơn lạnh chạy dọc sống lưng, Hạnh rùng mình.
Ngày ấy, chị, một sinh viên khoa văn mới ra trường. Chiến tranh. Bom đạn và những lần đi công tác đạp xe suốt đêm cũng chẳng là gì đối với tuổi trẻ. Ở toà soạn báo nơi chị về thực tập, khi được hỏi nguyện vọng, chị xin viết về đề tài chiến tranh. Lúc ấy, trưởng ban biên tập, cặp mắt kính trễ trên sống mũi không giấu nổi cái nhìn ái ngại: đúng là ngựa non thì háu đá. Hoặc là cô ta còn non nớt quá! Đấy là một đề tài hóc búa nhất, hơn nữa, để có tài liệu mà viết phải có những chuyến đi vất vả, hiểm nguy nữa. Hạnh cảm thấy nóng mặt nhưng vẫn giữ ý mình. Chị biết rằng, ngòi bút chỉ có cảm hứng khi viết về những gì ta căm ghét nhất, hoặc ngược lại, yêu thương đến ngạt thở. Chị khâm phục sự chịu đựng gian khổ của những người lính, nhất là những giây phút họ dũng cảm ngẩng mặt đối diện với cái chết. Từ ngày còn là học sinh phổ thông Hạnh đã yêu thích môn văn, vì văn học chính là sự giãi bày tấm lòng mình, đồng thời là sự lý giải những hiện tượng, những số phận con người ở xung quanh ta bằng những cảm nhận tinh tế nhất - Hạnh nghĩ thế. Và chị khát khao lý giải một cách thấu đáo hành động quên mình của các chiến sĩ.
Năm 1972. Hà Nội là trọng điểm oanh tạc của bọn phi công Mỹ. Những lần chúng lẻn vào đánh phá Thủ đô, những chiếc Míc bé nhỏ lại lập công xuất sắc. Sau lần phi công ta bắn rơi chiếc "Thần Sấm" xuống Ngọc Hà, tấm ảnh chụp cô gái làng hoa bình thản cầm bình nước tưới cho những bông hoa tươi rói bên cạnh cái xác chết kềnh càng của "Thần Sấm" Mỹ làm Hạnh xúc động. Chị quyết định phải gặp gỡ các chàng trai điều khiển những chiếc Míc dũng cảm để viết bài về họ.
Sân bay quân sự là một thung lũng nằm lọt giữa những nếp đồi cọ rất nên thơ ở phía Bắc Hà Nội. Rõ ràng không khí thời chiến, tiếng động cơ máy bay đinh tai nhức óc mỗi khi khởi động không ảnh hưởng đến quy luật sinh tồn của thiên nhiên. Những thân cọ sù sì trên những sườn đồi vẫn đều đặn mỗi mùa trăng lại nảy sinh một phiến lá xanh - một màu xanh non trẻ đến ngỡ ngàng. Hạnh đạp xe lên vùng đồi cọ vào tầm chiều. Đồng chí chính uỷ đoàn bay Lam Sơn thay mặt đơn vị tiếp nhà báo trẻ. Anh nhìn chiếc xe đạp dầu dãi trát kín bụi đỏ của Hạnh, cười điềm đạm:
- Nhà báo lên tận đây vất vả quá. Mời chị vào sở chỉ huy ta làm việc.
Hạnh hơi đỏ mặt vì tiếng "chị" được thốt ra một cách trân trọng ở người chỉ huy dày dạn này, cả cái từ "sở chỉ huy" là lạ đối với một phóng viên quèn khiến chị ngượng ngập. Chị nói nhẹ nhàng:
- Em là Hạnh. Xin anh cứ gọi em là cô cho tiện. Em có một đề nghị là xin được gặp đồng chí phi công nào vừa bắn rơi máy bay địch mới đây.
Chính uỷ đoàn bay tỏ ý ngần ngại:
- Cậu ấy đang ở ca trực ngoài sân bay. Sau giờ trực chiến thì phải ngủ và nghỉ ngơi, đó cũng là kỷ luật. Thời chiến, anh em lái bọn tôi rất ít khi được rảnh rỗi cô Hạnh ạ.
Hạnh cố nài:
- Cái nghề làm báo… Anh thông cảm, trăm điều nghe không bằng một thấy. Hay là… em xin ra chỗ anh ấy đang trực. Em sẽ không làm mất nhiều thì giờ của các anh đâu. Được không ạ?
Hạnh được ra sân bay trên chiếc commăngca dã chiến. Từ sở chỉ huy ra đấy họ phải đi theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo dưới chân đồi. Đây là lần đầu tiên Hạnh được nhìn thấy những chiếc Míc gần đến thế. Đậu trên sân bay dưới những tấm bạt nguỵ trang, ngoan ngoãn để cho những người thợ máy lau chùi, chăm sóc, những chiếc máy bay từng vào sinh ra tử nom vẻ rất đỗi hiền lành, thân thiết. Chị thú vị thầm nghĩ.
Những phi công của ca trực đang có mặt trong căn hầm rộng đào ngoàm vào sườn đồi. Trần hầm căng dù hoa, bên dưới là những giường cá nhân có trải nệm tinh tươm nhưng không có ai nằm trên đấy cả. Anh em đang túm tụm chơi bài tú lơ khơ trong những bộ đồ bay có nhiều khóa thép, nút thắt rối rắm và những ống bơm cao áp gắn bên sườn, nom họ có vẻ kềnh càng, di chuyển chậm chạp tựa những người trên hành tinh khác trong tờ báo nước ngoài có lần Hạnh đã nhìn thấy. Khi đồng chí chính uỷ đoàn bay giới thiệu nữ nhà báo trẻ, các phi công nhìn chị, mỉm cười thân thiện. Đồng chí biên đội trưởng, người đã lập công trong trận không chiến bảo vệ thủ đô mới đây đến gần bắt tay Hạnh. Anh có vẻ là người vui tính:
- Tôi là Độ, quê ở Thanh Chương, đã một vợ, gần hai con. Về mặt này tôi tự nhận là cựu binh. Ở đây anh em nhiều người chưa vợ, chưa cả người yêu cô Hạnh ạ.
Hạnh bật cười, chị thấy có cảm tình ngay với người đàn ông vạm vỡ nói giọng xứ Nghệ đặc sệt này:
- Người Hà Nội rất hả dạ được tận mắt thấy máy bay Mỹ rơi ngay trên đất Thủ đô. Em muốn biết những chi biết khi anh bắn hạ chiếc "Thần Sấm" ấy.
Độ hấp háy mắt nhìn lên vòm hầm căng dù hoa:
- Biết nói thế nào nhỉ. Có lẽ các nhà văn, nhà báo có óc tưởng tượng phong phú nên nghĩ ra nhiều chuyện đấy thôi. Thật ra, với bọn tôi thì khá đơn giản. Điều cốt yếu là phải có một tập thể hiệp đồng chặt chẽ, ăn ý. Tôi nói thật chứ không khiêm tốn vờ đâu. Cô Hạnh biết không? Phải có rađa mặt đất phát hiện mục tiêu chính xác, rồi đài chỉ huy hướng dẫn đường bay tỉnh táo. Việc còn lại là… là bọn tôi phải bám sát mục tiêu, khi nào chúng nó lọt vào vòng ngắm thì phải nhả đạn lập tức, không được chậm trễ. Có vậy thôi.
Hạnh xịu mặt nói như hờn dỗi:
- Anh kể đơn giản thế thì em đến thất nghiệp mất.
Biên đội trưởng cười hiền lành:
- Đúng thế. Tôi có bịa đâu. À, có chuyện này.
- Sao ạ?
- Hôm ấy tôi suýt nguy nếu cậu Đạt, số 2 của kíp bay không nhanh mắt phát hiện một máy bay địch từ tầng cao bổ nhào vào tôi. May thật.
Anh nói đến đây thì một liên lạc chạy đến, mời biên đội trưởng đi hội ý. Độ xin lỗi, đứng lên, rồi ngoái lại phía sau, gọi:
- Đạt ơi, lại đây nào - và anh mỉm cười - có lẽ cậu sinh viên Hà Nội này hợp chuyện với nhà báo hơn.
Đấy là lần đầu hai người gặp nhau, rất tình cờ, nhưng định mệnh hình như đã sắp đặt cho cuộc đời Hạnh có những vết khắc rớm máu trong tim. Nhưng lúc ấy chị hoàn toàn không dự cảm được điều ấy, chỉ biết rằng khi anh rời các bạn, cười ngượng ngập bước đến gần, chị nhận ra người sinh viên Hà Nội này cao hơn mình hẳn nửa cái đầu và khá điển trai. Đạt vui vẻ nói trước:
- Nhà báo gặp may đấy. Chiều nay không hiểu sao chỉ có một lần báo động, chứ mọi ngày bọn tôi chẳng được ngồi yên đâu.
Hạnh nói:
- Anh Đạt, em muốn hỏi chuyện bắn máy bay mà anh Độ không chịu kể.
- Đồng chí biên đội trưởng của chúng tôi đấy ư? Một người tuyệt vời đấy.
- Vậy theo anh, thế nào là một người tuyệt vời?
- À, trong hoàn cảnh cụ thể hiện nay thì đơn giản là thế này, anh ấy mà xuất kích thì bọn địch hãy liệu hồn! Bọn tôi thường nói vụng với nhau: Biên đội trưởng say đánh địch hơn là mình say người yêu.
Đến lượt Hạnh bật cười. Không hiểu sao chị cảm thấy nói chuyện với anh thật dễ chịu. Có lẽ anh chỉ hơn Hạnh vài ba tuổi. Nhưng rõ ràng nếp sống quân ngũ, sự luyện tập khắc nghiệt và những lần đối mặt với nguy hiểm đã giúp anh bớt đi sự phù phiếm và những non nớt trong ứng xử. Không hề kiểu cách, Đạt rất cởi mở và anh biết cách diễn đạt ý mình một cách độc đáo. Bất giác, chị bỗng nảy ra ý muốn trêu chọc người đối diện:
- Nói như vậy tức là… là anh Đạt đã có người để say mê rồi?
Câu hỏi vừa buột ra Hạnh bỗng thấy mình sao ngốc quá. Một câu hỏi thật vô ý. Và chị đỏ mặt nhìn nhanh Đạt. Ánh mắt họ gặp nhau. Rồi cả hai cùng nhìn lảng đi, ngượng ngập. Câu hỏi không có lời giải đáp. Vừa lúc ấy chiếc kẻng treo trên cành bạch đàn cụt ngọn ngoài cửa hầm bỗng khua dồn dập. Đạt vội đứng lên, anh nói nhanh: "Hẹn gặp Hạnh sau vậy nhé!".
Những phi công vội vã rời cửa hầm. Hạnh nhìn thấy Đạt chạy trong tốp đầu tiên, anh vừa sải bước vừa sửa lại chiếc mũ bay nặng trịch trên đầu. Rồi chị nhận ra cái dáng vạm vỡ của Độ từ đài chỉ huy bước vội xuống những bậc tam cấp. Chị hiểu rằng đồng chí biên đội trưởng đã không chịu bỏ lỡ trận chiến. Những người thợ máy đã nhanh chóng có mặt dưới chân thang máy bay. Một người đỡ khoang buồng lái. Đạt trèo lên khoang máy, ngồi xuống. Tiếng động cơ lập tức gầm lên khởi động. Không khí nóng ngột như rung lên. Bạt ngàn cỏ dại bên đường băng thi nhau ngả rạp xuống. Kể từ giây phút ấy mặc nắng nóng và gió quật vào tóc rối bời, Hạnh không sao rời mắt khỏi những con chim sắt giờ đây đã trở nên rất thân thiết đối với tâm hồn chị. Chiếc Míc đầu tiên do Độ lái đã rời đường băng. Liền sau đó, máy bay của Đạt lăn bánh trên nền xi măng đẫm nắng. Hạnh để hết tâm trí mình dõi theo những chuyển biến mau lẹ trước mắt. Rồi chị sửng sốt nhận thấy, trong một tích tắc trước lúc rời đường băng, hình như Đạt còn quay lại, thoáng giơ một bàn tay vẫy về phía chị. Rồi những cánh bay nhanh chóng xa dần, mất hút vào vòm trời xanh nhức mắt. Đồng chí chính uỷ đoàn bay đứng sau Hạnh chợt nói: "Địch vào hai tốp, tám chiếc. Chúng định giở trò gì đây?". Trái tim Hạnh bỗng thắt lại vì lo sợ: Phía quân mình chỉ có bốn máy bay xuất kích, lực lượng chênh lệch quá. Lạy trời cầu mong cho các anh ấy an toàn trở về!
*
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #91 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:51:53 pm »

                                 Tiếp :
  Khó có thể nói rằng, đấy là chuyến đi thực tế thành công hay thất bại đối với Hạnh. Tuy nhiên, nếu hiểu một cách đơn giản, là năng lực của nhà báo phải căn cứ vào số lượng bài in ra, thì cuộc gặp gỡ các phi công lần ấy với chị không có được kết quả cụ thể. Chị không thể chỉ viết bằng những khái niệm mơ hồ hoặc sự bịa đặt sống sượng. Nhưng trong sâu thẳm lòng mình, Hạnh hiểu rằng từ nay, tâm hồn chị sẽ giầu có hơn vì sự quen biết một vùng đất mới có rất nhiều những phiến lá cọ bình thản đón nắng, và những người bạn mới đáng yêu. Và chính vì những tình cảm chưa chuyển tải được lên trang viết lại khiến tâm trí Hạnh luôn hướng về nơi đó như một món nợ chưa trả xong.
Khi chị lên sân bay lần thứ hai, không quên mang theo dăm số báo mới nhất và mấy cuốn sách văn nghệ tặng thư viện đoàn Lam Sơn, thì mọi người ở đây đối với nhà báo trẻ đã trở nên rất thân thiết. Hôm ấy, những phi công chị đã quen trong giờ nghỉ. Họ ở trong doanh trại - những căn nhà cấp 4 nằm sơ tán dưới chân đồi cọ. Anh em đang xúm quanh bàn bóng. Tiếng cầu nhựa đập trên sàn gỗ và tiếng cười trẻ trung, sôi nổi. Hạnh đến, họ vui vẻ kéo chị cùng tham gia cuộc vui. Và làm như vô tình mọi người ghép Hạnh và Đạt là một đôi nam nữ phối hợp trong cuộc thi đấu. Hình như sự có mặt một cô gái đẹp từ Hà Nội đến khiến cho không khí thêm hào hứng. Các phi công trổ hết tài năng. Họ thực sự là những cây vợt đáng nể. Nhưng Hạnh cũng từng là cây vợt không thuộc loại xoàng của toà soạn. Kết cục là hai người giành phần thắng. Chính uỷ đoàn bay vui vẻ bắt tay Hạnh và trao phần thưởng cho họ: một hộp kẹo ngon mà ngày ấy, chỉ những phi công được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt mới có. Một rắc rối nho nhỏ đã nảy sinh: Họ có chung quyền sử dụng chiến lợi phẩm. Hạnh muốn cùng mọi người chia xẻ nhưng Đạt ngăn lại, anh tuyên bố tất cả phần thưởng là của Hạnh và chị phải mang nó về Hà Nội làm quà. Mọi người xung quanh rào rào vỗ tay khiến Hạnh thật khó từ chối. Chị cười, đôi mắt đẹp nhìn Đạt cảm kích. Nhưng các chàng trai trong phút vui cuồng nhiệt lại không hài lòng với cử chỉ rụt rè ấy của chị. Họ đều đã được huấn luyện lái máy bay chiến đấu ở một xứ sở có nhiều tuyết rơi về mùa đông. Ở đấy, con trai con gái gặp nhau dạn dĩ hơn, phóng khoáng hơn. Và họ đồng thanh hét lên: "Hôn đi! Hôn đi!" Hạnh lúng túng thật sự, chị đỏ mặt. Nhưng mọi người vẫn không tha. "Hôn đi! Hôn đi!". Họ giục giã. Và chị cảm thấy đôi môi Đạt lướt qua má mình.
Sau đấy, hai người ngồi bên nhau trên sườn đồi. Xung quanh họ, những cụm cỏ trinh nữ đầy gai nhọn có những bông tím khẽ đu đưa mỗi khi một cơn gió thổi tới. Mùi hoa chè thơm thoảng đâu đây. Mặt trời đã lặn bên kia đồi. Những tia nắng cuối cùng của ngày hè tưới đẫm lên những tàu cọ non, biến chúng thành màu vàng chanh lộng lẫy. Hạnh thích thú ngắm nhìn những sắc màu biến đổi nhanh chóng trước mặt. Chị nói mơ màng:
- Khi anh bay trên ấy nhìn xuống hẳn là thú vị lắm?
Đạt cười:
- Không hẳn thế đâu. Khi ngồi vào buồng lái bọn anh thậm chí không có thì giờ để cảm nhận trời đẹp hay xấu, vì còn phải theo dõi những đồng hồ bay để kiểm tra máy móc, xăng dầu và tốc độ bay, rồi còn phải giữ liên lạc với mặt đất nữa.
- Em cũng muốn biết…
Đạt nheo mắt:
- À, cuộc phỏng vấn bắt đầu?
Hạnh cũng cười:
- Không, không phải phỏng vấn. Em chỉ muốn biết cảm giác khi anh rời mặt đất.
Đạt nói nhẹ nhàng:
- Với người khác thế nào không rõ. Còn với anh, ngay sau khi người thợ máy đóng nắp cabin buồng lái, bước xuống đất, ở vào khoảnh khắc ấy, với anh, tất cả những gì thân thiết đã ở phía sau rồi, trước mắt người lái chỉ còn bầu trời rộng khôn cùng với vô vàn những bất trắc có thể xảy ra trong một cái chớp mắt… Đạt ngừng lời, hình như anh đang chọn từ ngữ để diễn đạt cho chính xác những ý nghĩ của mình.
- Anh nói đi.
- Nói thật nhà báo đừng cười. Lúc ấy tôi thấy rất rõ cảm giác cô đơn. Cô đơn đến thắt lòng. Rất may cảm giác hẫng hụt ấy qua đi mau. Ngay sau lúc hệ thống máy móc bắt đầu hoạt động thì tâm trí người lái lập tức bị hút vào công việc: phải bảo vệ đồng đội và tuyệt đối tuân theo sự chỉ huy của biên đội trưởng bay phía trước.
Hạnh bỗng sực nhớ:
- À, cả buổi chiều nay em không thấy anh Độ?
- Anh ấy đi công tác - Đạt trả lời và cảm thấy đôi mắt đen lo lắng nhìn anh chăm chú, lặng câm trong một câu hỏi bồn chồn, thôi thúc. Không thể đừng, anh ghé tai chị nói nhỏ điều gì.
- Thế thì tốt quá! - Hạnh thở ra nhẹ nhõm, nhưng thực tình chị cũng chẳng rõ mình vui sướng vì sao. Vì anh đã tin cậy thổ lộ với chị những ý nghĩ và công việc của một phi công trong chiến trận? Vì một kiểu máy bay mới họ sắp được trang bị để đối phó hiệu quả hơn với bọn kẻ cướp nhà giàu? Vì không phải Độ đã gặp chuyện chẳng lành như chị đã hoang tưởng? Hay vì chị đang được ngồi cạnh Đạt trong một buổi chiều hiếm hoi tuyệt đẹp này? Hạnh không rõ, chỉ biết rằng, những điều chị đã cảm nhận thật cần thiết cho công việc và cho cuộc đời chị.
Đạt quay sang Hạnh. Khi nhìn nghiêng, khuôn mặt chị thật dịu dàng, sống mũi nhỏ, cái nhìn đầm ấm và vầng trán cao thanh khiết. Một người thông minh và tốt bụng, anh nghĩ thế và mạnh dạn nắm lấy bàn tay rám nắng, trên cườm tay có đeo một chiếc lắc nhỏ bằng bạc của chị. Anh nói ngập ngừng:
- Lần trước Hạnh về rồi anh Độ cứ nhắc mãi. Còn anh thì tin rằng nhất định em sẽ lên.
- Điều gì làm anh tin như vậy? Giọng chị hơi run, tim đập thảng thốt, nhưng Hạnh không tìm cách rút tay về.
- Linh tính.
- Vậy, giả dụ em không lên?
- Thì có dịp, anh sẽ về Hà Nội tìm em.
Hạnh bối rối im lặng. Đạt nhìn vào mắt Hạnh, nói thêm:
- Nhưng điều ấy đối với bọn anh lúc này hơi khó, em hiểu không?
Chị ngoan ngoãn gật đầu, lại chợt nhớ đến điều anh ấy vừa nói về cái cảm giác cô đơn khi người phi công rời mặt đất, Hạnh bỗng thấy một niềm xót thương lẫn sự trìu mến tràn ngập khiến ngực chị đau nhói. Cần phải nói một câu gì, hay làm một điều gì để anh ấy luôn cảm thấy rằng, trên ấy và dưới này luôn là sự ràng buộc chặt chẽ, rằng tất thảy mọi người và cả chị nữa, luôn luôn ở bên anh ấy, rằng anh ấy phải chiến thắng trở về… Hạnh nghĩ thế, nhưng tất cả những điều đang diễn ra trong lòng chị thật khó nói nên lời, vì thế, chị chỉ khẽ rút chiếc lắc bạc trên cườm tay trao cho anh và nói ngập ngừng:
- Anh giữ lấy. Và hãy… nhớ em luôn.
Điều kỳ lạ là dường như anh đã hiểu tất cả những điều chị chưa kịp nói. Anh trân trọng đón tặng vật và bỏ nó vào túi áo bên trái tim mình:
- Nó sẽ ở đây, mãi mãi, kể cả lúc anh phải quần nhau với chúng nó. Hạnh ơi, từ nay anh đã có nơi để mà mong nhớ, phải không em?
Hạnh không trả lời, chỉ ngước nhìn anh bằng ánh mắt tràn ngập sung sướng. Và đấy là lần đầu tiên trong đời con gái, chị run rẩy đón nhận nụ hôn bỡ ngỡ của mối tình đầu trong trắng, để sau này những kỷ niệm về nó trở thành vết xước trong trái tim chị. Thời gian có thể làm lành vết thương, nhưng vết sẹo thì vẫn còn đó, mãi mãi ghi dấu vào cuộc đời người đàn bà.
Cuối năm 1972. Bầu trời Hà Nội luôn bị xé nát bởi những luồng đạn phòng không và tiếng rú đột ngột của còi báo động. Những pháo đài bay B.52 đã cắt bom rải thảm xuống cả bệnh viện và những khu phố đông dân. Công việc của một phóng viên chiến tranh ngày càng vất vả hơn. Ban đêm Hạnh cặm cụi viết bài. Ban ngày chị đội mũ rơm đến các cụm pháo bảo vệ cầu Long Biên. Có lần chị xông vào tận Hoả Lò gặp những giặc lái Mỹ vừa bị bắn hạ, nghe chúng kể: "Những chiếc Míc bé nhỏ thật đáng sợ. Họ dám lao đến gần vùng điểm nổ mới ấn nút phóng tên lửa. Theo lý thuyết thì không được phép làm như thế. Ở vùng điểm nổ, nếu tên lửa trúng đích, máy bay đối phương bốc cháy có thể gây sát thương cả cho mình. Chúng tôi bị bất ngờ. Hoàn toàn bất ngờ". Hôm sau ở toà soạn Hạnh nhận được bức thư của Đạt chỉ vẻn vẹn một câu ngắn ngủi: "Anh mãi yêu em. Bên dưới là chữ ký rắn rỏi quen thuộc. Hạnh khóc. Nước mắt chị thấm ướt những nét chữ phóng khoáng của người yêu. Lâu nay hai người vẫn trao đổi những bức thư đắm say. Rồi qua những dòng chữ nhiều hoặc ít của anh, chị thầm đoán định mức độ ác liệt của những cuộc không chiến. Bức thư gần đây anh viết: "Thật kỳ lạ, từ khi có em, anh thấy dường như cái chấm xanh lung linh dưới chân Tháp Rùa, mỗi khung cửa sổ sáng đèn trong đêm Hà Nội, cả những lối mòn ven đê như gắn bó máu thịt với mình hơn. Vì ở đó có em - cái dáng bé nhỏ vô cùng thương mến trong tấm áo màu cỏ mải miết đạp xe đi về, cặm cụi làm việc và lo lắng cho anh… Còn bây giờ, chị hiểu rằng anh không có nhiều thì giờ dành cho tình yêu.
Khoảng hơn tháng sau, vào một ngày vùng trời Hà Nội chẳng mấy lúc được yên tĩnh, toà soạn nhận tin có một máy bay rơi xuống vùng ngoại ô. Khi Hạnh đến nơi thì đám ruộng nước ở ven đê đã có đông bà con tụ tập. Mọi người ra sức đào bới. Gần một tiếng sau thì những mảng kim loại cháy đen đã bị biến dạng khi va chạm mạnh lúc rơi xuống đất, nhưng vẫn có thể nhận ra đấy là cái bộ phận buồng lái được đưa lên khỏi mặt ruộng vũng vĩnh bùn. Một cán bộ huyện đội, sau khi xem xét kỹ đã xác định đấy là máy bay ta. Có người còn cam đoan rằng đã nhìn rõ mảnh vỡ này bốc lửa ở trên cao nhưng không thấy dù bật ra. Hạnh hồi hộp chen trong đám đông cố đến gần khoang lái với chiếc máy ảnh trong tay. Mọi người không ai nghĩ đến việc can ngăn cô phóng viên khi chị loay hoay chui đầu vào khoang lái. Ở đấy, Hạnh cố sức quan sát, lục lọi, mong tìm thấy những dấu vết còn lại của người chiến sĩ đã hy sinh. Rồi chị run bắn người lên khi chợt nhận ra, trong đống tàn tro và những thanh sắt cong queo có một vật sáng lấp lánh. Hạnh nhặt lên và nhận ra chiếc lắc bạc quen thuộc của chính mình. Chiếc máy ảnh tuột khỏi tay Hạnh. Mặt trời, ruộng lúa và những đám mây quay tròn, quay tròn, Hạnh gục xuống ngất đi…
Ít lâu sau Hạnh nhận được một bức thư đóng dấu bưu điện từ sân bay vùng đồi cọ. Đó là thư của đồng chí biên đội trưởng.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #92 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2011, 11:55:47 pm »

                              Tiếp :       
  Trong thư Độ viết:
  Em Hạnh thân mến!
Cho phép tôi coi em như người thân thiết trong gia đình phi công. Bởi vì trước đây, có lần Đạt đã tâm sự với tôi về tình yêu của hai người. Biết được tin ấy cả đơn vị chúng tôi vui mừng lắm. Thú thật, tôi còn chút thầm ghen tị với hạnh phúc của các bạn đấy. Thật là một lứa đôi lý tưởng. Và tôi tin chắc rằng tình yêu của các em sẽ mãi mãi bền vững. Vậy nên lúc này tôi đã đắn đo rất nhiều khi cầm bút viết thư này cho em, nhưng tôi tự thấy mình không được quyền giấu em cái tin Đạt đã hy sinh trong một trận không chiến ở vùng trời Hà Nội. Tôi thông cảm nỗi đau đớn này của em, nhưng nếu có chút nào an ủi được em thì đấy là một trường hợp hy sinh rất dũng cảm, là cái chết của một người anh hùng. Em biết không? Hôm ấy, bọn B.52 chúng nó vào Hà Nội nhiều đợt. Anh em chúng tôi phải xuất kích nhiều phen. Cũng như những lần trước đây, tôi rất yên tâm mỗi khi có Đạt là số hai yểm trợ phía sau. Chúng tôi đã cùng bay đôi nhiều lần. Cậu ấy không bao giờ để tôi bị hở sườn hoặc để chúng nó bám đuôi mình. Và lần ấy, cả hai chúng tôi đều đã lập công. Đạt phóng hai quả tên lửa làm tan xác một "Con ma", còn tôi thì bắn hạ một B.52. Sau đấy chúng tôi đã hết đạn, đang trên đường quay về lại nghe tin có thêm Pháo đài bay chúng nó đang vào không phận Hà Nội. Và những chiếc tiêm kích đi kèm yểm trợ B.52 đã rất xảo quyệt xông vào công kích bọn tôi. Tôi ra lệnh cho Đạt phải cố tránh cuộc giao chiến không cân sức, trở về sân bay an toàn. Hạnh biết đấy, mỗi chiếc Míc với đất nước còn nghèo khó của chúng ta là cả một tài sản khổng lồ. Trong hoàn cảnh ấy tôi cho rằng, đưa được máy bay an toàn trở về là một nhiệm vụ không dễ dàng. Và chỉ còn khoảng 3 phút bay nữa chúng tôi đã về đến vùng đồi cọ. Đúng lúc ấy, tôi nhận thấy bọn B.52 đã cắt bom rải thảm xuống Hà Nội do những đợt sóng xung kích va đập trên không trung. Rồi tôi thấy mình bỗng mất liên lạc với Đạt. Thoạt đầu tôi ngờ cậu ấy bị bọn tiêm kích bắn hạ, bèn cố sức quan sát xung quanh, nhưng tôi đã không hề nhận thấy có dấu hiệu xấu, chỉ đơn giản là Đạt không trả lời những mệnh lệnh của tôi. Lúc ấy tôi không khỏi bực bội trong lòng. Đấy là lần đầu số 2 có hành động vô kỷ luật trong chiến đấu. Tôi đâu biết rằng, Đạt đã lẳng lặng cho máy bay vòng trở lại, vừa cố tránh bọn tiêm kích, cậu ấy vừa tìm cách tiếp cận pháo Pháo đài bay. Vì Đạt đã quyết định sẽ dùng chính máy bay của mình làm quả đạn thứ ba. Tăng hết tốc lực, cậu ấy cho chiếc Míc đâm thẳng vào chiếc B.52 gần nhất. Một đám cháy khổng lồ đã thiêu rụi chiếc Pháo đài bay khốn kiếp. Nhưng Hạnh ơi, người yêu của em thì không trở về nữa. Sau đấy, kỳ tích của người anh hùng của chúng ta đã được cả quân chủng chúng tôi học tập, noi theo…
*
* *
Hai người đàn bà đã dùng xong bữa. Hạnh thấy ngon miệng với bát canh hoa lý nấu trứng tôm ăn với cà muối xổi và món cá rô ron rán vàng chấm với nước mắm chanh ớt. Quả thật những món ăn không chút cầu kỳ này chị thích hơn nhiều những lần dự tiệc tùng trong đời làm báo. Hạnh thành thật nói ra điều ấy khiến bà mẹ rất vui:
- Tưởng chị ưa ăn các thứ cao sang gì, chứ thích những món nhà quê ấy thì cứ ở lại đây với bác một tháng.
- Con cũng muốn thế, nhưng còn công việc và các cháu.
- À, bác sơ ý thật. Anh chị được mấy cháu rồi?
- Dạ hai. Cháu lớn năm nay đã vào đại học.
- Quý hoá quá. Anh ấy chắc cũng làm việc trên tỉnh?
- Vâng - Khách đáp gọn rồi ánh mắt chị ngó mung ra mảnh vườn nhỏ. Ngoài ấy, chút ráng đỏ cuối ngày còn ửng lên chiếc đọt cau mềm lả. Những nụ hoa trinh bạch lấm tấm rơi quanh chum nước. Không khí yên tĩnh thoảng mùi hoa cau thơm ngọt. Xa xa vẳng tới tiếng vạc gọi đàn. Đã lâu lắm, lâu lắm Hạnh mới có một buổi chiều tĩnh lặng, không có tiếng động cơ rú nhức óc, không bụi bậm phù du chốn thị thành, không cả mùi thuốc lá ám ảnh trong căn hộ tập thể trên tầng bốn có chiếc cầu thang tôi tối lúc nào cũng thoảng mùi khai để nghe lòng mình lắng lại với những kỷ niệm của thời con gái. Không thấy chị nói gì thêm, lúc sau bà mẹ ngước nhìn lên và nhận ra nét buồn đang đọng trên gương mặt thiếu phụ. Chị ấy không nói gì về chồng. Lạ nhỉ. Nếu được sung sướng người đàn bà nào cũng muốn san sẻ niềm vui. Nhưng không lẽ người đẹp như thế mà không có hạnh phúc? Bà mẹ băn khoăn.
Và bà mẹ đã đoán không sai. Niềm vui thì khó giấu, còn nỗi buồn chỉ muốn nén chặt trong tim. Sau ngày mất Đạt, Hạnh buồn đến ngơ ngẩn. Chị không còn chú ý gì đến xung quanh. Nhiều đồng nghiệp săn đón cô phóng viên trẻ đẹp chỉ được đáp lại bằng thái độ lạnh lẽo. Tám năm sau, Hạnh đồng ý lấy một người bạn học cũ. Người ta bảo Quý là một kiến trúc sư có tài. Có thể đúng vậy. Những bản vẽ thiết kế của anh về các biệt thự, nhà cao tầng và công sở bao giờ cũng được cơ quan đánh giá cao. Nhưng Quý bĩu môi: "Đồng lương rẻ mạt, còn thù lao chẳng ra quái gì. Giá làm cho nước ngoài hay các liên doanh mạnh, bản thiết kế của anh phải được trả 7, 8 ngàn đô". Hạnh nói nhỏ: "Đòi hỏi thì vô cùng, nhà mình còn thiếu gì đâu". Quý cười khẩy: "Em lạ thật. Tự bằng lòng với cái lồng nhỏ này thì còn gì là ý chí vươn lên nữa. Làm thằng đàn ông cho ra thằng đàn ông phải có một gia đình sung túc! Rồi anh sẽ kiếm đủ tiền cho em được nghỉ ngơi". Hạnh hiểu, hai chữ "nghỉ ngơi" theo cách của Quý nghĩa là chị sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào chồng. Hàng tháng anh sẽ chi cho vợ một món tiền chợ dư dả gộp cả tiền mua son phấn, giầy dép và quà bánh hàng năm đôi lần chị về thăm bên ngoại. Rồi hàng ngày chị lo thay đổi món ăn và các thứ tráng miệng sao cho hợp khẩu vị của chồng. Tối đến thì nằm dài trên đi văng coi ti vi và dũa móng tay móng chân… Tóm lại, một kiếp sống của loài tầm gửi. Thế thôi. Hạnh không tưởng tượng nổi mình sẽ biến thành một mệnh phụ ăn nói kiểu cách như thế nào. Chị yêu công việc của mình và cố không động đến những món thu nhập thêm của chồng. Đêm đêm nằm bên Quý nghe anh tính toán về cuộc sống tương lai sung túc, tự nhiên chị lại nhớ Đạt. Anh ấy nhập ngũ khi học năm cuối cùng đại học ngoại ngữ. Chưa bao giờ anh ấy nghĩ đến việc làm cho người nước ngoài chỉ vì mục đích kiếm tiền. Anh ấy yêu Hà Nội… Nước mắt ứa ra, chị lặng lẽ cố nhích xa cái bụng đã bắt đầu xệ vì bia bọt của Quý. Với chồng, Hạnh chưa bao giờ tìm thấy sự đồng điệu về tâm hồn.
- Bác ơi, ngày ấy… người ta báo tử về trường hợp hy sinh của anh Đạt vào thời gian nào?
- Tháng 4 năm 1973, chị ạ.
- Từ dạo ấy đơn vị có cử người về thăm gia đình ta không ạ?
Bà mẹ ngừng nhai trầu:
- Có đấy. Năm nào đơn vị cũng cho người về. Mới đây có một anh cao to nói giọng xứ Nghệ, bảo là bạn chiến đấu của em nó. Bác cũng giữ lại ăn cơm. Anh ấy ở chơi cả buổi sáng.
- Anh ấy có nói gì không ạ?
- Kể nhiều chuyện từ ngày em nó còn, hai anh em lúc nào cũng ở bên nhau. Có điều…
- Sao ạ?
Bà mẹ kéo vạt áo, chấm mắt:
- Bác có nhờ anh ấy đề nghị giúp với đơn vị: em nó đã hy sinh vì nước cũng là vinh dự cho gia đình. Giờ bác chỉ có một ước nguyện được đưa em nó về cho có mẹ có con. Anh ấy đã hứa sẽ báo cáo lại với cấp trên. Nhưng bác chờ đã lâu không thấy đơn vị hồi âm. Mà bác thì mỗi tuổi một yếu.
- Mẹ ơi! Chị buột gọi mẹ một tiếng rồi thốt im bặt, ngực lại nhói đau. Có lẽ hơn ai hết, chỉ mình chị biết được điều này, rằng hôm ấy anh đã chấp nhận hy sinh cùng cánh bay yêu quý với cả thể xác và linh hồn mình cho tình yêu Hà Nội, bởi vậy, phần mộ của anh hiện giờ ở nghĩa trang đơn vị chỉ đơn thuần là sự tưởng nhớ công lao của người anh hùng, là sự tiếc thương của những tấm lòng đồng đội với người bạn chiến đấu không còn nữa. Nhưng chuyện ấy làm sao có thể nói với mẹ? Và chính điều đó cũng là nỗi khổ tâm của Độ, anh đã không thể đáp ứng yêu cầu của mẹ. Chị xích ngồi gần lại, lặng lẽ ôm lấy đôi vai gày của mẹ và nhận ra rằng mình đã đến đây hôm nay thật đúng lúc, vì chỉ có chị, với những vật chứng quý giá mới có thể an ủi tuổi già của mẹ.
Hạnh lặng lẽ mở túi xách lấy ra một tấm ảnh khổ lớn đưa cho mẹ. Bà mẹ ngỡ ngàng giơ tay đón lấy tấm ảnh chụp một ngôi mộ kiểu dáng đẹp, khá bề thế. Các em thiếu nhi và những quân nhân mũ nâng ngang ngực đứng trang nghiêm trước bó hương đang nghi ngút toả khói. Bà lập cập đeo kính và nhẩm đánh vần những hàng chữ trên tấm bia đen: Liệt sĩ Phan Hữu Đạt. Sinh 15-1-1950. Quê thôn Hạ, xã Ngọc Châu…
Khi bà mẹ sững sờ ngẩng lên, đôi mắt bà ràn rụa ướt:
- Thế ra con đã…
Chị ngẹn ngào:
- Vâng. Con đã đến với anh ấy - Ngừng một lát, chị nói thêm. - Mẹ ơi, vong hồn anh ấy sẽ về đây, ở bên mẹ. Còn phần mộ ở đơn vị đã có đồng đội anh ấy chăm lo. Mẹ cứ yên tâm. Mẹ đã già yếu. Đường sá cách trở. Con xin mẹ nghe con.
Bà mẹ nấc khe khẽ. Cả chị nữa, chị cũng không cầm được nước mắt. Đã bao năm nay chị mới được thoả lòng khóc nhớ anh ở chính căn nhà đã bao lần chị muốn đến mà chưa được thoả nguyện. Lâu sau chị ngẩng lên lau nước mắt:
- Mẹ à, còn cái này. Đây là di vật…
Hạnh tháo chiếc lắc bạc từ ngày ấy vẫn không rời tay chị, trao cho mẹ. Cầm chiếc vòng bạc, bà mẹ khóc oà. Bà vẫn không quên, lần ấy anh về phép đã vui vẻ khoe với mẹ vật này đây. Anh còn đoan chắc rằng sẽ đưa cô gái của chiếc vòng bạc này về với mẹ. Bà đã chờ đợi, và hy vọng rất nhiều. Nhưng con của mẹ đã không trở về, giờ chỉ còn chiếc vòng bạc này trong tay mẹ…
Hạnh nhẹ đỡ mái đầu bạc của mẹ để tựa vào vai mình. Nước mắt bà thấm ướt áo chị. Khi nỗi đau theo nước mắt đã nguôi ngoai, bà mẹ bỗng lờ mờ cảm thấy rằng, người có chiếc vòng bạc mà con trai mẹ nặng lòng yêu chính là thiếu phụ này. Chính là chị - mối tình đầu trong sáng, niềm say mê bền bỉ đã tạo nên niềm vui rạng ngời trên nét mặt anh cả trong những tháng ngày chiến đấu gian nan là người đàn bà này. Bà tin chắc vào điều đó, bằng trái tim đau khổ và mẫn cảm của người mẹ, rằng chính nỗi đau của tình yêu đã để lại nét buồn thẳm sâu trên gương mặt khả ái của chị. Vẫn gục đầu trên vai Hạnh, bà mẹ nghẹn ngào thì thầm gọi: "Con ơi!". Và tiếng gọi thân thiết xiết bao mong ước ấy khiến nỗi đau của mẹ như đã được chia sẻ. Còn Hạnh, chị biết rằng mình đã nói với mẹ những điều chỉ xuất phát từ tấm lòng chị. Nhưng chuyện ấy thực sự không quan trọng, miễn là mẹ được thanh thản sống vui những ngày cuối đời.
Ngoài kia, bóng tối đã choàng lên mảnh vườn nhỏ. Sương đã xuống trong gió đêm lành lạnh. Nhưng cái lạnh đêm nay với hai người đàn bà đã trải qua nỗi đau mất mát chỉ càng làm họ gần gũi, thân thiết nhau hơn.

Nguyễn Thị Như Trang
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #93 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 10:25:24 pm »

                                 Tản mạn lính thông tin    
                                  Tác giả : Nguyễn mạnh Hùng

Tôi đã mủm mỉm cười với ý nghĩ hóm hỉnh: “Ôi! Một nàng thơ thích… uống nước mơ”, khi nhận được câu trả lời của một “cô lính” Đoàn M34 – Bộ Tư lệnh Thông tin rằng “đặc sản” của “nhà em” là “trên đỉnh gió”. Quả thực, ý nghĩ ấy sẽ vẫn nguyên nếu tôi không được lên trạm V65 (trạm Vi ba của Đoàn M34) đang đóng ở một trong ba đỉnh cao nhất của Ba Vì (biểu tượng thiên nhiên núi Tản – sông Đà của Hà Tây cũ), hít căng lồng ngực gió, quan sát các chiến sĩ đưa cánh sóng lên không trung. Và tôi chợt nhận ra câu trả lời kia của “cô lính” không phải là không có cơ sở.
Để lên V65, bắt đầu là một chặng gần hai chục km từ cửa rừng ngược dốc khiến chiếc xe dã chiến luôn phải “căng máy” ra. Động tác đầu tiên của cậu lái xe đã từng cả chục năm lặn lội leo đèo dốc ở Tây Nguyên, Tây Bắc là vội vàng ra phía trước chống nắp ca-pô lên để hóng cơn gió đang thổi ào ào làm dịu đi lốc máy nóng như rang. “Đồ đạc cá nhân để trên xe liệu có an toàn không?”. Anh Thẩm - Phó phòng tuyên huấn Bộ Tư lệnh thông tin đi cùng quay qua anh Quang trạm trưởng V65, một người có dáng dong dỏng, gương mặt hơi xương xương, vóc của người giỏi đi bộ, leo đèo, vừa xuống đón, giọng nghi ngại. “Trăm phần trăm an toàn! Trước kia chưa làm nhà để xe ở đoạn trên, xe đạp, xe máy bọn em vứt cả tuần ở đây mà chẳng bao giờ mất, anh xem, đoạn này có mấy người qua lại đâu?”. Đường lên núi, các bậc đá tương đối cao nhưng lại hẹp, bước rất tốn sức và chóng mệt. Trên các bậc đá, những quả dẻ màu nâu yên bình nằm trên đám rêu bạc phếch  tạo cảm giác như nó đã vốn như thế từ đời nảo đời nào. Một thân cây to cỡ gần hai người ôm đã khô bật trơ gốc khẳng khơ đám rễ trắng đổ chắn ngang lối đi. Vừa trèo qua thân cây, tôi vừa quay qua trạm trưởng Quang:
- Đường thì xa, đi lại khó khăn, khung cảnh luôn tìm cách níu người, mười bốn năm ở trên này, không biết đã bao giờ anh ngại sự xuống núi hòa nhịp với cuộc sống thường chưa?
- Phải nói rằng rất may là tôi đã lấy vợ và có con trước khi lên đây, gia đình thì cũng không xa lắm, ngay ở ngoài thị xã Sơn Tây, chứ không thì cũng… không biết thế nào! À mà cũng có một cậu đấy…
Đó là binh nhì mới nhập ngũ năm vừa rồi. Huấn luyện tân binh xong, cậu được điều lên làm chiến sĩ trực tổng đài Vi Ba. Hôm đầu tiên khoác ba lô lên trạm, cậu nằm vật ra thở, nói không ra hơi: Em xin ở luôn trên này đến khi nào ra quân thì xuống chứ thế này thì chết mất! Ấy thế mà một tuần sau cậu đã phải cuốc bộ xuống để ra ngoài phố mua thực phẩm mang lên. Một tháng sau cậu vác cả bao xi măng leo dốc để xây công trình phụ. Ở trạm, mỗi cậu  ấy là chưa vợ, “Chưa nắm tay một người con gái… Bước lên đỉnh núi vẫn con trai”. Vì thế, các anh ở trạm mới tạo điều kiện tuần hoặc nửa tháng, cậu sẽ cùng “hạ sơn” xuống phố mua thực phẩm kết hợp “giải thiêng”, để tạo sự cân bằng nhịp sinh học giữa nơi “Đỉnh gió, đỉnh mây” và nơi “Đáy ồn, đáy bụi”. Vì thế, cậu mới hay được nghe những câu chuyện tếu táo của các anh mỗi buổi chiều nhằm “tích lũy kiến thức lý thuyết” để nếu xảy ra tình huống, sẽ có thể độc lập “tác chiến” được ngay. “Luyện quân cả năm, sử dụng một giờ”, cuối cùng thì “giờ G ngày N” cũng tới. Đó là dịp giao lưu với chi đoàn địa phương của xã Thanh Mỹ - Sơn Tây nhân ngày thành lập Đoàn 26 tháng 3. Một cuộc giao lưu mà như đã được thông báo trước là đa số “nữ tú” tham gia, trong đó rất nhiều người chưa có người yêu và tất nhiên, giữa một đội hình toàn “đồng chí già có vợ cả” bỗng có một chàng lính trẻ “đồng trạng thái” làm đối trọng, không khí của buổi giao lưu chắc chắn sẽ trẻ trung và sôi động lên rất nhiều.
Tin tưởng ở những buổi “huấn luyện lí thuyết ngoại khóa” nên đương nhiên mọi người không bắt cậu phải làm gì trước giờ đi mà tạo điều kiện cho cậu vừa chỉn chu quân phục vừa chuẩn bị tinh thần làm “chim mồi” cho buổi giao lưu. Đúng giờ, trực ban toét còi tập hợp để xuất phát. Tá hỏa khi không thấy chàng lính trẻ đâu, mọi người nháo nhác bổ đi tìm. Gọi điện thoại thì không có tín hiệu. Chẳng nhẽ cậu đào ngũ? Điều này rất khó xảy ra vì từ trước tới giờ cậu luôn là một chiến sĩ chấp hành nghiêm kỉ luật, chưa bao giờ có dấu hiệu thoái thác nhiệm vụ. Với lại “Bốn chàng Ngự sơn” ở trạm V65 này luôn coi nhau như ruột thịt, những khúc mắc tình cảm riêng tư đều tâm sự với nhau hết sức chân thành nên có thể loại trừ trường hợp gia đình có việc đột xuất… Vậy thì cậu ta tại sao lại biến mất một cách kì lạ đúng vào giờ G như vậy? Thôi đành, không có cậu đoàn vẫn phải xuất phát ngay nếu không muộn giờ mất. Khi mọi người đã ngồi yên vị ở hội trường xã cùng đơn vị kết nghĩa, máy của trạm trưởng Quang bỗng rung bần bật: “Em… ngại đi vì sợ các cô ấy trêu lắm. Con gái thị xã là chúa bạo mà! Em ở nhà trực phòng máy ca này và trực luôn ca ngày mai bù vào cái tội… ngại đi giao lưu vậy”.
Chúng tôi bật cười trước câu chuyện của cậu chiến sĩ cũng là khi đặt chân lên bậc đá cuối cùng. Ai cũng thở phào vì đã hết một chặng đường bốn trăm hai mươi bậc vất vả. Vậy mà khi hỏi trạm trưởng Phạm Phi Quang về số lần lên xuống trong một tuần, anh cười: “Hồi chúng tôi xây bể nước ăn kia, có cậu cõng cả bao xi, bao cát làm một hơi lên tới đỉnh! Một buổi sáng có khi vài chuyến như thế! Còn như bây giờ, tuần một đôi lần xuống ra ngoài chợ mua thực phẩm rồi trữ trong tủ lạnh. Chúng tôi không ngại leo núi mà ngại… không có nước thôi! Hồi chưa có bể, sinh hoạt khổ lắm. Cả tuần mới tắm một lần. Còn bây giờ cũng phải hết sức dè xẻn. Để mang được một can nước từ ngoài thị xã lên trên này cũng phải mất ngót ngét nửa ngày”.
Tôi rất ngạc nhiên khi nước luôn thiếu thốn, vậy mà phía bên sườn trái, một vườn đậu ván xanh mướt cùng mấy luống bắp cải non mơn mởn và một giàn su su ngọn nào ngọn nấy vươn ra to như đầu ngón tay rất mỡ màng. Hỏi ra mới biết, ở trên này rất nhiều sương. Những hôm ẩm giời một chút, sương bay từng đám mù mịt vào nhà cho đến gần trưa. Anh em có sáng kiến tối hôm trước dùng các cành cây nhiều lá để hứng sương rồi sáng hôm sau mang sương bám ở đó rũ vào xô, chậu, để lấy nước chiều tưới rau. Rau được nuốt sương buổi sớm, buổi chiều nên rất tốt và mỡ màng. Ăn rất mềm và ngọt. Cơ bản mùa nào thức ấy, vấn đề rau xanh có thể bảo đảm tự cấp tự túc tại chỗ.
Ngay trước trạm V65 là nơi thờ công chúa Ngọc Hoa - con gái vua Hùng Vương trong truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh. Không biết có sự liên quan gì về tâm linh mối tình chung thủy của vị Thánh Tản Viên Sơn và công chúa Ngọc Hoa với những người lính ở đây không mà sao tình yêu của họ lại tuyệt vời đến vậy. Phạm Ngọc Thuấn bắt đầu yêu vợ mình bây giờ khi Thuấn đang còn học tại trường sĩ quan thông tin ở Nha Trang. Hồi ấy, vợ Thuấn đang còn là cô thợ may đầy mộng mơ ở tuổi đôi mươi. Công việc của Thuấn sau khi ra trường là quản lí tuyến cáp quang Bắc – Nam nên thường xuyên phải đi tuần, đi sửa chữa có khi cả tháng. Trong túi lúc nào cũng thủ vài chục cái túi bóng và mì tôm cùng bật lửa. Bất cứ chỗ nào, chỉ cần gom ít lá, ít củi để đun sôi nước trong… túi bóng sau đó bẻ mì tôm cho vào là xong bữa. Việc của người yêu thì bấp bênh, thu nhập của cả hai đều thấp, lại thường xuyên xa nhau, để giải quyết những khó khăn đó, Thuấn động viên người yêu đi học trung cấp y để có một cái nghề ổn định hơn cho cuộc sống gia đình sau này. Ròng rã chín năm yêu nhau cũng là chín năm không ít lần gia đình hai bên rồi bạn bè, người thân ngăn trở… Năm thứ mười, người yêu Thuấn ra trường cũng là khi họ cưới nhau. Bây giờ thì vợ Thuấn về công tác ở bệnh viện Bạch Mai. Nhớ lại những ngày ấy, Thuấn cười, ánh mắt lóng lánh hạnh phúc: “Cái mạch nguồn của tình yêu cũng hệt như huyết mạch thông tin. Tín hiệu liên tục được kết nối, được thông suốt thì ngại chi khoảng cách, thời gian. Chín năm chứ… chín mươi năm thì bọn em vẫn thành vợ thành chồng như thường anh a”.
Tạm biệt những người lính thông tin nơi đỉnh gió Ba Vì, quà xuống núi là một can nước để làm mát cho xe. Dù biết để có can nước ấy, anh em phải mất rất nhiều công sức nhưng anh lái xe không thể không nhận bởi phía trước còn một chặng dài ra cửa rừng xuống dốc. Mà xuống dốc máy gằn cũng không kém gì khi lên cả.
Giống như V65, trạm V71 của Đoàn thông tin M34 cũng nằm ở Đọi Nhất - một trong ba đỉnh cao nhất núi Đọi Sơn – biểu tượng thiên nhiên “Sông Châu - Núi Đọi” của tỉnh Hà Nam với tháp Sùng Diện Thiên Linh xây dựng thời Lý, dưới triều Lý Nhân Tông và lễ hội Tịch Điền đầu xuân dưới chân mà năm vừa rồi đích thân chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về cày khai hội. Nếu như lên V65 được đi trên những bậc đá giữa nơi không khí gần như “vô trùng” để nhìn những dải mây trắng lững thững trên triền thì ở đây hoàn toàn ngược lại. Đường lên Đọi Nhất chỉ có đoạn dưới chân và trên đỉnh có thể gọi là đường mòn, còn cơ bản phải lựa lách theo các bậc chè hoặc bám vào những phiến đá để đu lên. Đỉnh Đọi Nhất thấp hơn hai đỉnh kia, gió bị chắn nên không khí rất oi bức. Nước ở đây cũng khó khăn, thường phải xuống tắm nhờ nhà dân dưới chân núi. Cái sự tắm nhờ vào mùa đông còn đỡ, chứ vào mùa hè xuống rồi leo lên mồ hôi ra cũng như không nên anh em nghĩ ra làm đôi thùng và móc xích, xuống tắm xong, khi lên gánh theo đôi thùng nước để vừa dội lại người, vừa lấy nước dùng. Móc xích ở V71 được làm khá đặc biệt. Chiếc phía trước được làm khá ngắn để có thể dễ dàng đặt lên bậc khi leo dốc. Chiếc phía sau được làm dài hơn giúp cho giảm bớt độ lắc của thùng. Mỗi lần gánh đôi thùng ấy xuống, các cô gái của xóm lại nhìn theo bụm miệng cười khúc khích. Ấy thế mà các cô lại nhớ. Có anh lính mới đến trạm cũng mang đôi thùng đó đi gánh. Khi lên tới đoạn có những phiến đá rất to chắn đường, không biết có phải chưa quen hay vì có mấy cô gái xinh xắn đang hái chè gần đó nên líu tíu, chiếc thùng phía trước va vào một tảng đá, nước đổ òa lênh láng cả rãnh chè mới trồng. Các cô thấy vậy cười râm ran rồi cất giọng trêu “Anh bộ đội không biết gánh nước lên đồi thì ra hái chè đổi công để em gánh cho”. Xấu hổ vì bị trêu, để chữa thẹn, anh cầm thùng nước còn lại phăm phăm tưới nốt luôn rồi điềm nhiên đi về phía cô gái vừa trêu mình đòi chè của cô vì anh chủ làm thế để tưới nước cho cây đổi chè chứ không phải do gánh nước bị đổ! Hôm đó, anh được hai thùng chè đầy mang về uống. Từ đó, mỗi lần hai chi đoàn kết nghĩa giao lưu, bao giờ chủ đề đôi móc xích gánh nước lên núi cũng được “bàn bạc” rôm rả nhất.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #94 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 10:28:00 pm »

                                        Tiếp theo :
Ở trạm không thể không nhắc đến hai thứ nữa đó là sét và rắn. Trạm trưởng, thiếu tá Phạm Hồng Lưu, người gắn bó với V71 năm nay là năm thứ mười ba kể, hầu như năm nào cũng có sét. Không đánh cột điện, cây cổ thụ thì sẽ là người ở khu vực này. Những hôm mưa to gió lớn, mỗi khi có tiếng sét, cảm giác như ngôi nhà rung lên bần bật. Năm ngoái sét đánh khiến cho rất nhiều đồ điện của các gia đình xung quanh chân núi bị cháy, trạm cũng bị cháy mất chiếc ti vi. Chiếc tổ hợp ở trong phòng trực mặc dù đã có cột thu lôi vẫn bị dẫn điện rung lên lăn cồng cộc xuống đất. Còn rắn ở đây thì khá nhiều. Hồi trước trạm cũng nuôi mấy chục con gà, cứ tưởng đó sẽ là quà tết cho anh em nhưng cuối cùng bị lũ diều hâu và lũ rắn “xơi” hết!
*
 Xóm Phùng Thượng thuộc xã Kì Phú - Nho Quan - Ninh Bình là nơi đóng quân của đại đội 2 tiểu đoàn 82 thuộc Đoàn thông tin M34 đang làm nhiệm vụ bảo vệ tuyến cáp quang và thông tin liên lạc các tuyến nhánh của khu vực Ninh Bình, Nam Định, Quân Đoàn Quyết Thắng. Không ở nơi đỉnh gió như những người lính trạm V65 nhưng câu chuyện của họ thì vẫn vẹn nguyên sự mộc mạc, nguyên sơ và cũng không kém phần ào ạt như ngọn gió nơi đỉnh trời.
Chàng trai Dương Hồng Thắng – Trạm trưởng  X81 cùng đại đội về tiếp quản cơ ngơi doanh trại khi nó chỉ là hai dãy nhà trơ trọi, xung quanh cỏ gianh mọc lút đầu. Đặt ba lô xuống, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu chàng trạm trưởng là phải cải tạo lại toàn bộ khu vực xung quanh. Ý nghĩ ấy phù hợp với chủ trương của ban chỉ huy đại đội nên những đề xuất được ủng hộ tuyệt đối. Người ta thì “hết nạc vạc đến xương” còn Thắng thì “cái xương”, cái khó nhằn trước. Nhìn khoảng đất trơ sỏi ở dọc khu vực hàng rào của đơn vị, trong đầu Thắng lóe lên suy nghĩ: Tại sao lại không kết hợp “vài trong… một”, ra mắt kết nghĩa giữa chi đoàn của đại đội 2 và chi đoàn Phùng Thượng thông qua một buổi trồng cây đầu xuân. Một vài năm sau, sẽ có một vườn cây vừa lấy bóng mát cho anh em khi huấn luyện, vừa tạo cảnh quan, và có thể khai thác để xây dựng đơn vị, đồng thời, cũng là một “biểu tượng” của sự gắn bó kết nghĩa tình quân dân? Vậy là vào đúng vào bữa “mưa xuân phơi phới bay”, những người lính đại đội 2 và các chàng trai, cô gái xóm Phùng Thượng cùng nhau ghi nhớ kết nghĩa giữa hai chi đoàn bằng việc trồng vườn bạch đàn. Hơi mưa rắc nhẹ những lớp phấn xuân, phấn tình… Câu chuyện nổ như pháo tết. Trong số các đoàn viên của chi đoàn kết nghĩa tham gia trồng cây hôm đó, có một cô gái cả buổi chỉ lặng lẽ làm, rất ít tham gia những câu chuyện rôm rả, tếu táo của mọi người. Nhưng nếu để ý một chút thì sẽ thấy “Hình như hai má cô ửng đỏ, hình như đôi mắt cô long lanh”. Thi thoảng, cô ngẩng lên khẽ thấm chút mồ hôi vừa rịn bằng chiếc khăn mùi xoa rồi mỉm cười mơ màng. Khi ấy, nhìn cô “sao mà yêu đến thế”. Chàng cán bộ đoàn đại đội 2 Dương Hồng Thắng không để sót một cử chỉ nào của cô. Thế rồi mưa xuân cũng hết phơi phới bay. Nhà cô ở gần đơn vị nên anh cán bộ đoàn đại đội 2 chiều nào cũng ra mượn đôi thùng để gánh nước tưới cây và lần nào, anh cũng vẫn thấy “hình như đôi má cô bừng đỏ”. Thương bộ đội vất vả, thương bạch đàn khô hạn, cô thường giúp anh lấy nước để tưới cây. Bạch đàn đã bén rễ, đã vươn cao xanh tốt nhưng người ta vẫn thấy anh ra “mượn thùng” ở nhà cô. Còn cô, dù biết bạch đàn không phải tưới nữa, và anh có thể tự mình ra ao lấy nước nhưng vẫn vui vẻ đặt vào tay anh đôi thùng rồi dẫn anh ra ao phía sau nhà để… giúp anh múc nước. Tròn một năm, rồi cũng vào một ngày “mưa xuân phơi phới bay”, không chỉ có mình anh mà còn cả bố mẹ, họ hàng và đại diện đơn vị ra nhà cô gái. Họ không phải ra để mượn thùng mà là để... “xin” cô về làm dâu gia đình, làm dâu đơn vị. Dưới hàng bạch đàn ấy một đám cưới giản dị, ấm áp được tổ chức. Bây giờ thì họ đã có với nhau một đứa con. Thoảng mỗi buổi chiều, những người lính ở đại đội 2 lại thấy họ đi dưới hàng bạch đàn đang tỏa bóng mát. Khi ấy, họ vẫn thấy hình như “Hai má cô vẫn còn đang ửng đỏ”…
Dưới hàng bạch đàn nên duyên nên tình ấy, một câu hỏi được đặt ra: Trong các sắc lính, lính của binh chủng nào là lãng mạn nhất? Người thì cho rằng Không quân suốt ngày được ngắm bầu trời, bay lượn giữa không trung nên tâm hồn dễ thăng hoa, bay bổng. Người thì khẳng định phải là lính Hải quân! Bồng bềnh trên sóng nước, bờ bãi, hải âu dập dờn nên họ bồng bềnh, ướt át. Phải là Thông tin chứ! Vi vu cùng sóng điện thoại trên đỉnh gió tha hồ mà tưởng tượng ở nơi đầu nguồn, chốn cuối sông… Cuộc tranh luận thật khó đến hồi kết, riêng tôi thì hoàn toàn ủng hộ quan điểm cho là lính thông tin lãng mạn nhất. Không phải tôi “cơ hội” vì đang đi cùng họ mà cái chính là “trăm nghe không bằng một thấy”. Ngay tại đại đội 2 này, có một chàng thanh niên nhà con một ở thành phố Hà Nội, gia đình chú bác bên nội, bên ngoại cơ bản ở nước ngoài. Từ khi còn đang học lớp 12, cậu đã được hứa hẹn đưa sang nước này nước nọ để du học. Thế rồi mọi người ngỡ ngàng khi biết tin cậu viết đơn tình nguyện nhập ngũ, vào binh chủng thông tin! Hỏi thì cậu chỉ cười: Người ta bảo vào bộ đội rèn luyện vất vả đến sắt cả người. Trai Hà Nội quen được chăm chút trơn lông đỏ da, chịu sao nổi! Tình nguyện đi để khẳng định mình có thể vượt qua được mọi thử thách! Mà nghe nói bộ đội thông tin là những người… lãng mạn lắm. Tính cậu cũng hơi lãng mạn. Vậy thì đúng là cái duyên rồi còn gì! Quyết tâm ấy biến cậu ngay từ đầu thành một người lính rất chững chạc. Vào quân đội cậu mới thấy hết cái nghĩa đồng đội, những người ăn chung cơm ở một chảo, uống chung nước ở một nồi, gác chung ở một vọng, thực hiện chung một chế độ… Nó trái ngược hẳn với cuộc sống ở phố, suốt ngày tụ tập chơi bời vô nghĩa, ít niềm tin, lúc nào cũng lơ lửng trên miệng vực. Sau một năm nhập ngũ, trong một lần về phép, cậu quyết định tỏ tình với cô bạn gái đang học ở trường Đại học Ngoại ngữ. Bữa ấy là chiều thứ bảy, sau một hồi suy nghĩ, cậu quyết định mặc quân phục cầu vai quân phục chỉnh tề rồi mượn chiếc xe đạp đưa thư của một anh bạn ở đơn vị thông tin gần nhà (phương tiện ở đơn vị đi làm nhiệm vụ mà cậu hay kể cho cô bạn nghe trong các lá thư ấm áp tình cảm) phóng đến cổng trường, chống một chân xuống đất, chân kia đặt lên bàn đạp khoanh tay đứng chờ để chở cô bạn về. Rất nhiều ánh mắt ngạc nhiên nhìn cậu. Có một ánh mắt vô cùng lấp lánh, ngỡ ngàng, sung sướng khi nhìn thấy trên ve áo cậu đôi quân hàm đỏ với những đường cánh sóng bồng bềnh. Cô ngồi phía sau gác ba ga xe đạp, tin cậy tựa đầu vào chiếc áo quân phục thơm mùi vải mới. Tất nhiên, lời tỏ tình của người lính được đáp lại bằng một nụ hôn dài hun hút như… cánh sóng thông tin. Khi kể lại chuyện của mình, cậu cười bẽn lẽn thú nhận mình viết đơn tình nguyện nhập ngũ cũng có một chút động cơ để… tỏ tình với cô bạn mà bây giờ đã là người yêu vì cô ấy rất yêu màu xanh áo lính, đặc biệt là lính thông tin! Người lính trong câu truyện trên là trung sĩ Nguyễn Châu Linh, nhập ngũ tháng 9 năm 2008, nhà ở phường Quang Trung, Hà Đông. Năm nay Linh sẽ ra quân và vẫn giữ nguyên quyết định không ra nước ngoài mặc dù các chú, các bác vẫn gợi ý. Linh sẽ đi học thêm về một chuyên môn nào đó rồi sẽ kinh doanh. Linh luôn cảm thấy hài lòng với quyết định đã viết đơn tình nguyện đi bộ đội của mình. Những năm tháng được chui rèn ở trong quân đội sẽ là bước đà quan trọng để tạo một bản lĩnh vững vàng cho Linh trong chặng đường của cuộc đời mình ở phía trước.
Ở đại đội 2 còn có một trường hợp khác cũng tương tự như của Nguyễn Châu Linh đó là chiến sĩ cáp quang Trần Công Duẩn quê  Thanh Tân, Kiến Xương, Thái Bình. Duẩn có ông nội hiện đang sống bên Mĩ sẵn sàng bảo lãnh cho cháu sang làm ăn bên đó. Giống như Linh, Duẩn quyết định không bước chân lên máy bay để sang trời Tây mà khoác ba lô lên vai để trở thành anh lính thông tin. Bảy năm yêu nhau, người yêu của Duẩn là Phạm Thị Kim Hoàn hiện đang là sinh viên trường cao đẳng phát thanh truyền hình trung ương là người rất hiểu Duẩn và hết sức ủng hộ quyết định của Duẩn! Duẩn tin bản lĩnh của người lính được trui rèn trong những ngày tháng ở quân ngũ sẽ giúp mình vượt qua những thử thách của cuộc đời.

*
*    *
Cuối buổi chiều, khi vừa chia tay thì chuông điện thoại rung. Một giọng nữ trong trẻo kèm theo tiếng cười khúc khích vang trong máy: “Alô, anh thấy những người lính thông tin thế nào? Câu trả lời khi sáng của em có làm anh thỏa mãn không?”. Những người lính thông tin thế nào ư? Khó có thể gói gọn trong một câu trả lời cho em được. Họ thật tuyệt. Giản dị, chân thành, chung thủy… và tất nhiên, không thể thiếu sự lãng mạn. Còn câu trả lời của em có làm anh thỏa mãn không ư? Rất cảm ơn em. Trong đầu anh giờ đây, vẫn còn nguyên nụ cười tươi lấp lóa của bốn chàng lính V65 trên đỉnh Ba Vì ngun ngút mây gió. Vẫn còn nguyên hình ảnh mồ hôi ròng ròng chảy trên những gương mặt ở V71 Đọi Sơn. Vẫn còn nguyên những gương mặt rạng rỡ của Linh, Thắng, Duẩn đại đội 2 ở Phùng Thượng - Ninh Bình. Vẫn còn nguyên những câu chuyện thật giản dị nhưng chỉ có thể có ở “nơi đỉnh gió” chứ  không dễ gì tìm thấy ở trong cuộc sống này. Và vào tháng tám này, khi trạm HUB vệ tinh Vinasat - một công nghệ hiện đại trong truyền tín hiệu thông tin qua vệ tinh hoàn thành, những cánh sóng của Đoàn thông tin M34 sẽ còn bay cao hơn nữa, cao hơn cả đỉnh gió, tỏa đi muôn nơi đưa thông tin kịp thời, chính xác, đáp ứng mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó

Bút ký . NGUYỄN MẠNH HÙNG

Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #95 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 10:34:21 pm »

                              Chị dâu    
                              Tác giả : Hoàng Tuấn

Chị đã mất - chú về ngay". Sau chuyến đi công tác ở thành phố Sài Gòn về, bức điện của ông anh trai như một cú sét làm tôi bàng hoàng...
 Là con trai út trong một gia đình đông anh em, sự ra đi mãi mãi của những người trên là lẽ tự nhiên. Nhưng cái tin về người chị dâu cả mất đi là điều tôi không bao giờ ngờ tới. Không ai có thể quen được với sự vắng bóng của những người thân yêu. Với tôi, từ khi còn thuở ấu thơ, chị là người chị gái, người mẹ, là cô tiên dịu hiền với những khả năng vô biên, là người không thể vắng bóng trong cuộc đời...

 Tôi vội vã lên chiếc xe sớm nhất về quê. Chiếc xe khách ì ạch đỗ tại chợ huyện, tôi quầy quả xách túi, thả bộ trên con đường về làng. Quê tôi nghèo, nằm ven sông Hồng, lại là vùng đất giữa, mỗi lần đi chợ phải dậy từ tờ mờ sớm. Tôi bồi hồi đếm từng bước chân. Nhớ đến ngày nào vẫn hay theo chị đi chợ. Mẹ tôi bảo: "Mày theo chị làm gì cho quẩn chân?". Tôi thì cứ nhõng nhẽo đòi theo. Còn chị thì cưng chiều tôi nhất nhà, sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi rất trẻ con của tôi. Chị gánh trên vai một gánh khoai nặng mà vẫn đi nhẹ nhàng, miệng nhai trầu bỏm bẻm. ở quê tôi, các cô gái đã có chồng rồi đều ăn trầu. Có lần đi chợ sớm, tôi gà gật, lẽo đẽo chạy theo chị. Tới lúc tôi mỏi chân theo không kịp, chị cõng tôi trên vai và tôi thì ngả đầu trên bờ vai chị, ngủ ngon lành cho tới chợ.

  Sau này lớn lên, dù đã đi dọc ngang đất nước, mỗi khi bước chân trên con đường đê về làng, lòng tôi vẫn hối hả, gấp gáp, tưởng như mình bé lại. Với tôi, làng quê gắn bó với những kỷ niệm thuở ấu thơ, gắn bó với hình ảnh chị. Người phụ nữ mảnh mai luôn nhai trầu tươi rói, có sức mạnh dẻo dai đến kỳ lạ và tấm lòng mộc mạc thơm thảo như khoai, sắn. ít ai thấy người phụ nữ tần tảo ấy ngơi tay từ sáng cho đến tối khuya. Không, tôi không tin. Những người như chị không thể mất. Chỉ chút nữa thôi khi về đến nhà, tôi sẽ gặp lại chị đứng ở đầu ngõ với câu hỏi muôn thuở: "Chú đã về đấy ư". Câu hỏi quen thuộc thay cho lời chào của chị không tỏ ra vồn vã, không khách sáo nhưng âm điệu của giọng nói bao giờ cũng làm khóe mắt tôi cay cay. Tôi biết, từ trong nhà chị đã nhìn thấy tôi từ xa, chị ra đón tôi ở cổng để tỏ nỗi vui mừng bằng một câu hỏi rất mộc mạc. "Khoai luộc và mật ong phần chú trong chạn ấy". Lần nào cũng vậy chưa cần hỏi thăm, chị đã có một thứ gì đó phần tôi. Khoai lang là đặc sản vùng quê tôi, củ lớn, vỏ đỏ au, khoai luộc lên, bẻ ra bở tơi, hạt lấm tấm mịn màng như hạt phù sa, ăn vào ngon ngọt như tấm lòng thơm thảo của người dân quê. Tuy đã được nếm nhiều món cao lương mỹ vị ở đời nhưng bao giờ tôi cũng ăn không biết chán món khoai lang chấm mật ong chị dành phần tôi.

 Với chị, tôi luôn luôn vẫn là đứa em bé bỏng ngày nào. "ăn xong đi tắm đi, quần áo để đấy chị giặt cho". Câu nói ấy sao giống của mẹ tôi thế. Mẹ tôi và chị, hai người phụ nữ gắn bó với nhau, giống nhau kỳ lạ.

 Cây đa đầu làng như một già làng với bộ râu tua tủa quanh thân đã chờ đón tôi từ đằng xa. Bóng đa mát rợp một khoảng đất rộng lớn, chồm ra cả những thửa ruộng mới cấy. Cây đa cổ kính khiến mỗi lần tôi đi qua phải dừng lại một phút như để trút hết bụi trần trước khi trở lại là đứa con của dân làng. "Chú đã về đấy ư?" Tiếng gió thoảng qua như tiếng chị khiến lưng tôi ớn lạnh. Ngôi mộ của ai nằm kia mà còn nguyên mầu đất, vòng hoa chưa kịp héo. Không lẽ chị tôi nằm đấy ư? Không, tôi không tin, chỉ ít phút nữa về đến nhà chị sẽ đón tôi ở cổng như những ngày nào. Tôi tập tễnh bước lòng thầm mong bức điện kia chỉ là sự lầm lẫn.

 "Chú về đấy ư?". Lòng tôi run lên, chân tôi muốn khụy xuống khi đón tôi không phải là chị mà là anh trai. Như một sự vô tình anh lặp lại câu hỏi của chị mỗi khi tôi về. Hay giờ đây anh thay chị thể hiện tình cảm mộc mạc với đứa em trai? Tội nghiệp, mới đó mà anh tôi đã già xọp, lưng còng xuống, đôi mắt ngơ ngác như gà lạc mẹ. Anh vẫn chưa quên với sự thiếu vắng bóng hình chị.

 Anh nắm lấy tay tôi, mái tóc bạc trắng rung rung "Chị mất rồi em ơi, khổ anh quá".

 Ngày ấy, tôi còn nhỏ xíu, tôi ngạc nhiên thấy hôm ấy nhà tôi ai cũng bận rộn, vui vẻ, tôi nhõng nhẽo bám theo anh trai, khuôn mặt tươi rói trong bộ quân phục mới. Mấy hôm trước nghe anh nói sắp vào nam chiến đấu, mẹ đã khóc suốt. Vậy mà, sao hôm nay cả nhà vui thế?

  Anh cười dí tay vào trán tôi: "Em sắp có chị dâu". Tôi nhăn mặt. Tôi không thích chị dâu. Trong ý nghĩ tôi, hình ảnh mụ dì ghẻ độc ác, người con dâu nanh nọc trong các câu chuyện kể còn vương vấn. Vả lại không có chị dâu thì tôi đã có khối anh chị rồi. Khác với trí tưởng tượng của tôi. Chị dâu tôi như một cô bé mới trưởng thành. Dường như chị mới bỏ chơi chuyền, chơi ô ăn quan để đi lấy chồng. Ngày ấy anh tôi 22, còn chị tôi 18 tuổi, ngay ngày đầu chị đã là cái cớ để chúng tôi trêu trọc. Buổi sáng đầu tiên ở nhà chồng, từ trong buồng bước ra, nhìn thấy ba mẹ tôi ngồi ở bàn uống nước, chị nhanh nhảu:

 "Cháu chào hai bác, hai bác mới sang chơi ạ". Rồi sực nhớ ra, chị mắc cỡ chạy vụt vào bếp. Ba tôi thì cười, còn mẹ tôi thì lắc đầu: "Con gái gì mà vô ý", chỉ có vậy mà chị ngồi dưới bếp khóc suốt. Sau đó ba ngày, anh tôi đi biền biệt. Trong nhà, ba tôi là người hay bênh vực chị nhất. Còn mẹ tôi thì vẫn hay xét nét những ngày đầu như những bà mẹ chồng nhà quê.

 Tôi ngồi xuống bậc cửa, lòng thổn thức. Mới đấy mà đã hơn 30 năm, chị gắn bó với gia đình tôi, đồng cam cộng khổ. Quê tôi đồng đất ít, gặt được đấu thóc phải đổi cả đấu mồ hôi. Ba mẹ tôi ngày càng già yếu, đông con. Chị là lao động chính, suốt ngày quần quật ngoài đồng. Chiều về lại túi bụi việc nhà. Riêng việc quét dọn và chăm sóc lũ em chồng là chúng tôi cũng khiến chị mệt nhoài. Chúng tôi sắp hàng chờ chị dội từng gáo nước, tắm cho từng đứa, dỗ dành lúc đi ngủ, lúc giành ăn. Tới bữa cơm, sáu đứa tuổi ăn tuổi lớn cứ rào rào như tằm ăn rỗi. Chị ngồi ở đầu nồi xới cơm, chúng tôi cứ nhấm nháy nhau, thi nhau ăn cho thật nhanh để chìa bát cho chị xới. Đến khi chúng tôi đã ăn no thì chị chưa xong một bát và nồi cơm đã cạn đáy. Có lần tôi phát hiện trong túi áo chị có một cục cơm cháy. Tôi dọa chị sẽ mét mẹ. Chị đã ôm lấy tôi và... khóc. Sau này tôi mới hiểu, mỗi bữa cơm chị chỉ kịp ăn xong một bát thì cả nhà đã ăn xong, không dám ngồi đến cuối bữa, chị phải cất cơm cháy vào túi để ăn dần.

 Tôi cũng có biết đâu rằng bao đêm, chị khóc âm thầm trong cảnh chồng xa vắng, chịu những lời trách móc, những quan hệ họ hàng phức tạp. Con dâu trưởng họ, với làng xóm đó là một "chức danh" chỉ có trách nhiệm nặng nề. Từ giỗ chạp, đình đám cho đến chăm sóc gia đình nhà chồng, mọi việc đều do tay chị lo liệu với một sự hy sinh âm thầm vô bờ bến. Chúng tôi lớn lên, dựng vợ, gả chồng, cũng có chị. Cha mẹ tôi già yếu mất đi cũng chị lo toan. Dường như những biến cố lớn lao trong gia đình tôi, những lúc khó khăn nhất, bao giờ chị cũng là người đứng ra đương đầu với một thái độ tự tin, bình thản. Coi như đó là trách nhiệm chính của chị. Trong bức tranh toàn cảnh của gia đình tôi nếu không có chị, chắc hẳn bức tranh ấy sẽ mờ nhạt lắm.

 Một lần, hồi cha tôi đã mất, tôi về thăm quê giữa lúc làng tôi đang mất mùa. Mẹ tôi đã hơn 70 tuổi. Thấy tôi về, chị mừng rỡ mổ một con gà, một con gà duy nhất còn đang đẻ. Mâm cơm chỉ có ba người, nồi cơm phía trên độn toàn là khoai. Chị xới hai bát cơm cho tôi và mẹ, giành cho mình toàn khoai. Tôi ngạc nhiên: "Các cháu đâu hết rồi?" "Ôi chúng nó ăn no đi học hết rồi". Khi chị đi xuống bếp, mẹ tôi mới nói: "Tội nghiệp con mẹ cả. Suốt một tháng nay có bữa nào nên mâm, nên bát đâu. Cả nhà chỉ có mỗi mình mẹ là được ăn cơm, còn mẹ con nó toàn ăn khoai, ăn ngô. Mẹ bảo nó: "Ráng mà ăn uống có sức khỏe còn nuôi con. Mẹ già rồi, ăn uống thế nào cũng được, chết cũng chả sao. Nó bảo: Bà chỉ nói linh tinh. Bà còn sống ngày nào, chúng con còn nhờ ngày ấy. Nó nói vậy, chứ mẹ có giúp gì được cho nó nữa đâu...". Nói rồi bà khóc. Miếng cơm nghẹn đắng trong cổ tôi. Tôi đã nghe chuyện xưa có người con dâu cắt thịt mình nuôi mẹ chồng. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết. Còn chị dâu tôi...

 Khi mẹ tôi sắp mất, con cháu về đông đủ cả. Chúng tôi xúm quanh giường, chờ xem bà có trối trăn điều gì. Mẹ tôi nhìn qua con cháu một lượt rồi hỏi: "Mẹ cả đâu?". Đợi cho chị tất tả từ dưới bếp chạy lên, bà mới nói: "Các con phải thương yêu nhau, nghe lời chị cả. Nó thay mẹ". Rồi bà xòe bàn tay nhăn nheo ra bảo chị: "Con nhổ một miếng nước bọt vào tay mẹ đi, mẹ đỡ nhớ con". Một giọt nước mắt lăn trên thái dương, rồi mẹ tôi nhắm mắt.

 Cho dù ba tôi trước kia hay trách mẹ tôi xét nét con dâu nhưng cho đến lúc chết bà vẫn là người thương chị nhất. Phải chăng sự đồng cảm phận làm dâu của người phụ nữ suốt đời hy sinh vì chồng con khiến bà hiểu và thương chị nhưng không nói ra?

 

Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #96 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 10:38:52 pm »

                      Tiếp :

- "Chị chú bị u ác tính, đau có ba ngày rồi mất!".
 Tối đó dưới ánh đèn hiu hắt, anh tôi kể, khuôn mặt của ông đại tá già suốt bao năm vào sống ra chết vẫn chưa hết nỗi bàng hoàng trước sự ra đi mãi mãi của vợ.

 - Tôi nghĩ lại mà ân hận quá chú ạ. Suốt hơn ba mươi năm tôi chỉ quen với sự hy sinh âm thầm của cô ấy. Tới lúc chị chú đau tôi vẫn chủ quan bởi trong ý thức tôi, chưa bao giờ nghĩ rằng cô ấy có thể ốm. Cho tới lúc bệnh viện họ trả về, tôi mới cuống lên, chả biết làm gì nữa. Trước lúc mất cô ấy tỉnh táo lắm gọi tôi ra giường bảo: "Mình nằm xuống đây với em, có chuyện này, em muốn nói với mình".

 Tôi chiều ý nằm xuống cạnh cô ấy. Vợ chồng già, con cái lớn hết rồi, còn âu yếm gì nữa. Nhưng cô ấy cứ ôm chặt lấy tôi hồi lâu rồi nói: "Mình à, suốt chừng ấy năm là vợ chồng, mình có giận em điều gì không?". Tôi lắc đầu mà trong lòng chỉ muốn khóc thật to. Làm sao tôi có thể giận cô ấy trong khi cô ấy đã thay tôi gánh vác mọi việc lớn nhỏ trong nhà từng ấy năm. "Em không qua khỏi được đâu. Em chỉ ân hận không chăm sóc được mình lúc tuổi già. Em có mong ước cuối cùng này, nhưng nói ra mình đừng cười em nhé".

 Thề có trời đất, lúc ấy tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì để đáp ứng được mong ước cuối cùng của cô ấy... Tôi đã vào sống, ra chết, đã có quyền cao chức trọng, đã ra nhiều mệnh lệnh... làm sao lại không thực hiện được ước nguyện cuối cùng của vợ? Vậy mà tôi đã xụm xuống, tưởng như chết giấc khi nghe cô ấy nói: "Em chưa bao giờ được nghe mình nói "Anh yêu em" cả". "Nhưng lúc nào tôi cũng yêu mình. Tôi có điều gì không phải với mình đâu?". Tôi lắp bắp. "Em biết mình thương em, mọi người thương em. Trước kia còn trẻ, mình đi biền biệt, đến khi về thì đã già rồi. Nhưng em vẫn muốn nghe một lần mình nói câu ấy". Nói rồi cô ấy ngượng ngùng áp mặt vào vai tôi khóc. Còn tôi, tôi không thể khóc được nữa. Lòng tôi tê tái đau đớn. Tôi lấy chị chú chưa kịp yêu đương, chỉ vài lần biết mặt. Đang ở trong quân ngũ lại chiến tranh ác liệt. Trước khi đi nam gia đình bảo lấy vợ cho cha mẹ yên tâm. Mình hồi ấy còn trẻ thấy nói lấy vợ cũng thinh thích. Thấy cô ấy cũng hay hay con mắt. Thế là cưới. Về sống với nhau mới nảy sinh tình cảm, mới yêu thương. Nhưng tôi đi suốt năm, suốt tháng, mỗi lần về phép vợ chồng lại thấy ngượng ngùng như lần đầu mới gặp. Đến khi vợ chồng mới quen hơi, bén tiếng thì lại hết phép. Khi về hưu được ở gần nhau thì đã thành bà, thành ông rồi. Còn âu yếm, anh em như lúc trẻ thế nào được nữa. Vả lại tôi quen tác phong quân sự rồi cứ nghĩ vợ chồng sống có nhân, có nghĩa là đủ. Cần gì lời nói. Tôi đã làm chính trị trong quân đội ba mươi năm trời, đã làm đến chức đại tá, tưởng đã hiểu về con người. Vậy mà cuối cùng vẫn chỉ là một lão già đầu trọc, chả hiểu gì về phụ nữ, về vợ mình cả. Hơn ba mươi năm chị chú mòn mỏi chờ chồng, vất vả hy sinh âm thầm chỉ mong ước nghe một câu dịu dàng khen ngợi của chồng. Và suốt đêm đó tôi cứ ôm lấy cô ấy mà thì thầm mãi câu: "Anh yêu em". Lần đầu tiên trong đời tôi mới nói được câu ấy và cũng là lần đầu tiên tôi mới hiểu thế nào là tình yêu, tình chồng vợ.

 Tôi cứ ôm lấy cô ấy mà kể lan man. Những điều mà lẽ ra tôi phải nói ra ba mươi năm trước. Sáng ra tôi mới nhận thấy thân thể cô ấy đã cứng lạnh, đôi môi phảng phất một nụ cười, bàn tay nắm chặt chiếc lược đã mòn vẹt. Chiếc lược làm bằng xác máy bay tôi tặng cô ấy ngày cưới. Và đấy cũng là món quà duy nhất trong đời tôi tặng vợ...

 Anh tôi khóc, nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt héo hắt, mái tóc bạc trắng rung bần bật. Không có gì khổ não hơn trước cảnh một ông già khóc vợ. Khóc khi hiểu ra giá trị thực của tình yêu, khi nó không còn nữa. Khóc cho nỗi ân hận xót xa trước những lỗi lầm mà mãi mãi không lấy lại được. Tôi lập cập thắp nén nhang trên bàn thờ chị, đứng tựa lưng vào tường. Nhưng đâu phải chỉ mình anh tôi có lỗi. Sự xa cách, cuộc chiến tranh đã cuốn hút tâm trí con người. Nó bắt buộc người ta phải dồn nén tình cảm cá nhân, tạm gác một bên những mong ước đời thường. Cuộc chiến tranh đã làm bao người ngã xuống, để lại bao nỗi đau và cuộc chiến ấy cũng tạo nên biết bao những anh hùng. Nhưng phía sau những anh hùng ấy là những người phụ nữ như chị dâu tôi. Họ yêu thương, mòn mỏi trông chờ, hy sinh tất cả. Họ không cần đến những tấm huân chương, những chức vị mà chỉ ước ao một câu nói dịu dàng của người chồng...

 Hoàng Tuấn
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #97 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 10:44:22 pm »

                                           HAI NGƯỜI TRỞ LẠI TRUNG ĐOÀN    
                                           Tác giả : Thái Bá Lợi

Làm cách sao anh biết em ở đây mà tìm đến, anh?

Không biết đây là lần thứ mấy Mây đã hỏi Thanh câu ấy từ lúc anh đặt chân đến trạm an dưỡng này. Mây cũng không giấu nổi sự ngạc nhiên của cô sau mỗi lần hỏi anh. Đôi mắt long lanh nhìn anh của Mây làm mặt Thanh đỏ bừng. Nhiều lần anh không dám nhìn thẳng vào đôi mắt ngạc nhiên chân thành ấy. Cho đến bây giờ, sau một ngày ở đây, Thanh vẫn chưa dám hỏi đến đứa con của Mây, đứa bé mà trước khi anh đi phép ở trung đoàn ai cũng nhắc đến trong các câu chuyện hàng ngày của chiến sĩ. Đã mấy lần Thanh định hỏi, nhưng anh không biết nên hỏi như thế nào. Chưa bao giờ anh thấy mình ngượng ngùng như thế này. Và cũng đến bây giờ, anh vẫn chưa cắt nghĩa được vì lẽ gì anh đã đi hai trăm cây số và bỏ ra những ngày phép ngắn ngủi sau mười năm xa gia đình để đến đây....

- Từ chỗ anh lên đây xa lắm mà - Mây nói, giọng cô không được tự nhiên lắm - Từ hồi thủ trưởng Thạch vô lại chiến trường, em mù tịt tình hình trung đoàn mình, chỉ mong gặp được một người cũ dể hỏi thăm tin tức thôi anh à. Khi nào em cũng cảm thấy như mình bị bỏ rơi. Ra đây hơn hai năm rồi mà em vẫn chưa quen được cảnh sống xa trung đoàn - Mây nói suông sẻ, mắt vẫn nhìn thẳng vào Thanh. Thanh nghĩ chắc những điều đó đã nung nấu trong lòng cô ấy suốt hai năm nay.

- Trong đó anh em vẫn nhắc Mây luôn đấy!

- Mấy anh nghĩ về em xấu hay tốt anh? Anh nói thiệt em nghe đi.

- Sao Mây lại hỏi thế?

- Từ hôm rời trung đoàn em vẫn nghĩ mãi về điều đó. Em có lỗi với trung đoàn, phụ lòng mấy anh.

- Nhưng anh em không ai nghĩ vậy đâu, Mây ạ.

Cô gái mở to mắt nhìn Thanh. Cái nhìn như muốn hỏi: "Thiệt vậy, hả anh?". Trong khoảnh khắc Mây thật là gần gũi và cởi mở đối với anh. Thanh như thấy lại những buổi xuống đồng bằng ngày trước với Mây, những đêm hai người lội ruộng bám địch, những lúc vượt sông đưa bộ đội xuống vùng sâu. Đó là những tháng ngày trung đoàn quá thân thuộc với cả hai người. Thanh không còn thấy có gì ngượng ngùng nữa. Ngày trước khi sắp đi một chuyến trinh sát khó khăn, Mây cũng thường nhìn anh em trong tổ trinh sát như thế này. Anh cảm thấy nhẹ nhõm như vừa vất được một cái gì chấn trước ngực sau gần một ngày ở đây.

- Mây, đứa con của Mây đâu? - Thanh hỏi nhỏ, giọng còn rụt rè.

Mây hơi cúi đầu xuống, nhưng cô lại ngẩng lên nhìn anh, ngỡ ngàng.

- Đợt điều trị này em gửi cháu cho một bà cô ra đây từ năm 1954. Chủ nhật cô em mới đưa cháu đến thăm được.

- Trí có hay đến thăm không?

- Có đến hai lần anh à. Nhưng sau lần thứ hai em không cho anh ấy đến đây nữa. Em cũng không cho anh ấy đến thăm con em.

- Vì sao vậy?

Mây gục mặt vào hai lòng bàn tay cô. Thanh giật mình lùi lại một tí. Anh tưởng như Mây sẽ oà lên khóc. Nhưng khi Mây ngẩng lên, anh gặp đôi mắt cô long lanh nhìn anh, không hề có một giọt nước nào trên khóe mắt.

- Em cũng không biết vì sao nữa. Nhưng anh Thanh à, anh thứ lỗi cho em, em không thể trả lời anh hết mọi câu hỏi được. Em muốn anh và các đồng chí cũ tự hiểu cho em.

Hai người im lặng nhìn xuống thị xã đang sống những phút cuối cùng ban ngày. Đèn điện trong các phố đã lần lượt sáng, nhưng trên đỉnh cao nhất của ống khói nhà máy nhiệt điện vừa xây dựng xong, một vầng sáng màu da cam của hoàng hôn vẫn còn bịn rịn đọng lại, chưa muốn tắt ngay. Gió từ cánh đồng có những thửa ruộng vuông vắn thổi vào mát rượi. Thanh thấy mặt mình nóng bừng. Có thể mình không hiểu cô ấy. Mình đến đây cũng vì không hiểu cô ấy. Thật là ngố - anh tự xỉ vả mình để lấy lại bình tĩnh. Nhưng điều đó anh không làm được. Những ngón tay của Thanh cứ vân vê hoài miếng vải dù chiến lợi phẩm không biết anh đã đút vào túi quần từ lúc nào. Thế mà mình còn định mang miếng vải dù để tặng cô ấy. Thật là ngố - anh lại tự xỉ vả mình, nhưng mỗi lúc anh lại thấy mình càng lúng túng hơn. Lẽ nào cô ấy mới xa trung đoàn có hai năm mà mình không hiểu nổi cô ấy, Thanh nghĩ và nhìn Mây một cách rụt rè.

 Đó là một buổi chiều tháng 9 năm 1975, sau lễ Quốc khánh lần thứ 30 mấy ngày. Nhưng câu chuyện tôi kể lại bắt đầu từ sáu năm trước. Vào một đêm tháng Tư, tổ trinh sát trở về sở chỉ huy trung đoàn ở cửa rừng khi vừa dứt loạt pháo bầy thứ hai trong đêm. Trung đoàn trưởng Thạch đón họ ở cửa hầm, ông hỏi:

- Thế nào?

Tổ trưởng Trí báo cáo:

- Hai đường trục xuống thôn Một đều có địch chốt. Chúng nó phục trong các bụi cây. Báo cáo thủ trưởng, chỉ rặt bọn Mỹ. Muỗi như trấu mà chúng nó ngồi im thin thít. Còn con đường theo suối cạn có ghi trong bản đồ chúng tôi không tìm ra. Dọc suối là bãi tranh, du kích đã gài mìn. Có lẽ lâu lắm người ta không còn đi đường này nữa.

Thạc rọi đèn pin vào tấm bản đồ, ánh sáng hắt lên khuôn mặt hằn những nếp nhăn to của ông.

- à ra thế! - Thạch nhắc lại - Nhưng Trí này cậu còn nhớ năm ngoái chỉ có chín tay trinh sát các cậu và tôi mà vẫn đưa trung đoàn vào Huế được đấy! - Trung đoàn trưởng khẽ cười. Trí biết cái cười đó còn nặng nề hơn khi ông ra một mệnh lệnh rành mạch.

- Báo cáo thủ trưởng, cho phép chúng tôi một giờ nữa. - Trí dẫn tổ trinh sát trở ra.

Anh em ngồi nghỉ ở cạnh hầm chủ nhiệm trinh sát. Một vài người đã tranh thủ ngả lưng vào vách giao thông hào cũ bắt đầu ngủ. Trí định chui vào hầm chủ nhiệm thì có tiếng gọi:

- Anh Trí ơi!

- Ai đấy?

- Thanh đây.

- Có gì mới không?

- Xã đội vừa điều sang một đồng chí du kích rất thuộc đường vùng này. Ta phải đi ngay không sáng mất anh ạ.

- Đồng chí ấy ở đâu?

- Đang ở đằng hầm thông tin - Thanh nói nhỏ lại - Con gái đấy nhé?

- à, lại một nhân tố mới - Một chiến sĩ đứng cạnh Trí nói.

Người con gái du kích đó là Mây.

Mười phút sau, họ lên đường. Trăng đã nhô lên khỏi cái gò đất trước mặt, nhưng không ai còn chú ý đến điều đó nữa. Bốn phía trời những quả pháo sáng được thay nhau bắn lên không lúc nào dứt. Thạch đi ngay sau Mây, ông có thói quen không bao giờ để những người trinh sát bỏ mình quá xa. Đoàn người đi dần đến cái gò đất giữa cánh đồng đã bị bỏ hoang hoá từ lâu không cày cấy.

- Báo cáo thủ trưởng ta đi đường trong làng cho gần - Trí nói.

- Ai biết đường đó?

- Cô du kích.

- Có an toàn không?

- Theo cô Mây nói thì không có đường nào an toàn cả.

Thạch lặng lẽ nhìn lên bầu trời. Ông thường nhìn lên như vậy mỗi khi cần quyết định một điều gì.

- Đi theo đường trong làng - Thạch nói.

Con đường trong làng thực ra nó là một bãi pháo dài, nham nhở những bụi tre trốc gốc. Người đi cảm được mình đang qua làng nhờ những đống gạch nát cạnh đường, một vài cái cối giã gạo cháy xém và những bụi chuối nửa tươi nửa héo lờ mờ dưới ánh trăng pha trộn với ánh pháo sáng chập chờn. Đến đầu một cái gò, trung đoàn trưởng thấy Trí đang đi đầu bỗng quay lại.

- Báo cáo chủ trưởng phía trước có địch.

Mây và một chiến sĩ trinh sát nữa cũng chạy đến.

- Bây giờ có thể đi được đường nào? - Thạch hỏi.

- Mấy anh à, tụi nó chốt hết cả hai đường rồi - Mây nói, tay cô xách khẩu AK mà Trí đưa cho lúc ra đi.

- Có đường nào đi qua được không?

- Chỉ có cách lách qua hai hai chốt địch. Mình đi thiệt êm thì lọt.

- Cô có bảm đảm lọt không? - Thạch rút súng ngắn ra khỏi bao.

- Như du kích tụi em đi thì lọt.

- Chúng tôi cũng sẽ đi êm được. Nhưng nếu cô dẫn chúng tôi vào địch, tôi sẽ bắn cô đấy, hiểu không?

Im lặng. Những người lính trinh sát thấy mắt cô gái sáng lên, ngơ ngác. Nhưng chỉ một lúc sau, nét mặt cô đanh lại, cô bước thêm một bước ngắn về phía trung đoàn trưởng.

- Mấy anh theo em, nhất định lọt.

Trong nửa giờ sau đó, họ đi qua mũi hai cái chốt giặc, một ngụy, một Mỹ. Những người lính trinh sát ở trung đoàn này chưa bao giờ dám đưa thủ trưởng của mình đi chuẩn bị bằng một con đường mạo hiểm như vậy. Họ thở phào nhẹ nhõm khi về đến cửa rừng.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #98 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 10:46:37 pm »

                                        Tiếp theo :
Khu rừng giáp ranh yên tĩnh trong ánh sáng lờ mờ của bình minh. Vào giờ này các loại tiếng nổ thường thưa hơn bất cứ giờ nào trong ngày. Tiếng chim - điều xưa nay ở đây ít ai chú ý đến sáng nay tự dưng nổi lên làm thứ tiếng động chính của rừng. Tổ trinh sát nằm quay đầu vào với nhau. Họ mắc võng vào các thân cây mua bằng cổ chân. nhiều người đã thức nhưng vẫn nằm yên trên võng. Nếu như những lần trước thì bây giờ họ đang ngủ say sau một đêm vất vả. Sáng nay, không một tiếng gọi nhưng chẳng ai dậy muộn. Trí đi ra suối rửa mặt. Anh dừng lại trên bờ đá một lúc để nhìn cái võng ni lông, có bọc bằng dù pháo sáng nhuộm xanh của Mây mắc sát suối. Cái bọc kiểu này bây giờ anh mới thấy lần đầu. Cả trung đoàn anh từ lúc vào chiến dịch vẫn nằm võng và mắc màn, chưa biết kiểu bọc võng tiện lợi như ở đây. Cái bọc võng động đậy. Khuôn mặt Mây đột ngột hiện ra trắng trẻo. Trí vội quay mặt đi. Anh nhìn xuống những hòn sỏi trắng muốt lóng lánh dưới lòng suối. Nhưng anh vẫn hình dung được rõ ràng Mây đang ngồi dậy, cô lấy tay vuốt nhẹ những sợi tóc trước trán. Cô lại nằm xuống võng, lấy hai cánh bọc võng che kín người, chỉ để lộ ra khuôn mặt. Trí rụt rè ngước nhìn về chỗ Mây. Đó là một khuôn mặt tròn, cặp môi mỏng và đôi mắt thì như đang cười. Sao người ta nói con gái Quảng Đà không đẹp nhỉ? - ý nghĩ ấy vụt đến với Trí rồi cũng vụt biến đi. Anh quay về võng của mình.

- Mấy anh đã dậy chưa? - Mây nói, mọi người đều quay về phía cô - Chủ lực mấy anh nhiều cái khác quá mà. Thứ nhất mấy anh đào hầm chữ A ngon lắm. Đào vậy gỗ chặt sao thấu. Tụi em trong này chỉ làm hầm bò, vừa rộng vừa thoáng. Bom mà đánh đáo trúng thì hầm chi cũng sập. Sao mấy anh giăng võng lại mắc mùng? Nằm vậy muỗi nó khiêng xuống suối mất. Tối có đi, mình lượm ba bốn cái dù sáng về em may bọc võng cho. Một cái dù may được hai bọc võng. May mau lắm, chỉ tốn mỗi cái ba thước dùn. Mấy anh chưa có tiền trong này hỉ? Để chiều em gửi người đi chợ Phú Thuận mua dùn. Mình có mấy người… Cô nhổm dậy đếm võng - Mấy anh bận quần áo xanh vầy, xuống đồng bằng tàu rà nó phát hiện ngay. Chủ lực sư 2 trong ni mấy ảnh cũng bận bà ba.

Những người lính trinh sát đã ngồi dậy. Ai cũng như đang ngờ ngợ cô gái nói chuyện sôi nổi này có phải là người đã đưa họ vượt qua trước mũi hai cái chốt địch đêm qua không? Bây giờ trông Mây khác hẳn đi. Cô có vẻ hiền và cởi mở hơn nhiều. Họ đang nhớ tới đêm qua, nhiều lúc Mây đã nói như ra lệnh cho mọi người phải bò, phải đi thật nhẹ, phải nằm xuống hoặc phải chạy.

Thanh dậy sớm hơn mọi người nên anh đã cuốn võng bỏ vào ba-lô. Ngay chỗ anh ngồi, bếp lửa đã đỏ, ngọn khói mỏng tanh đang bay lên. Gô nước sủi bọt lăn tăn. Thanh rút điếu thuốc Tam Đảo trong bao thuốc cuối cùng ra hút. Ngọn khói từ miệng anh còn xanh hơn ngọn khói ở bếp lửa. Lính trinh sát ai cũng phục Thanh về tài nhóm lửa. Có lần chỉ cách địch hơn trăm thước, Thanh vẫn tìm được củi tốt thổi cơm vào giữa trưa đứng gió trước một đại đội Mỹ vừa đổ xuống đang ngả cây ầm ầm để làm trận địa pháo.

- Cô Mây có hút thuốc không? - Thanh vừa hỏi vừa mỉm cười.

- Em không hút thuốc. Chắc anh vừa nghe được câu ca: "Tiếng đồn con gái Quảng Đà, mất một vụ thuốc chết ba vạn người", phải không? Mấy chị ở trung đội du kích em ai cũng hút thuốc.

- Thật à?

- Em đâu có nói giỡn.

Từ phía đồng bằng dội về những tiếng nổ hỗn loạn. Có tiếng súng con và có cả tiếng trái pháo. Vạt rừng nhỏ xôn xao hẳn lên.

- Đánh rồi, đánh rồi đấy!

- Súng nổ rộ lắm, không biết K8 làm có gọn không?

- Đánh cái chốt hồi hôm mình qua đó hả mấy anh? - Mây hỏi.

- Đánh hai chốt đó và đánh cả dưới chợ Phú Thuận.

- Vậy thì đã quá. Bữa kia tụi Mỹ lên chợ Phú Thuận bắn cô em bị thương đó.

Từ lúc dưới suối về, Trí vẫn ngồi nguyên trên võng nghe câu chuyện của mọi người. Anh nói về phía Mây:

- Cô Mây có muốn ở bộ đội luôn không?

- Muốn lắm chớ. Mấy lần em xin đi mà xã có cho đi mô. Anh cứ nói với xã đội, em ở đây luôn cũng được.

"Để nhờ ông Thạch viết cho xã đội mấy dòng" - Trí nghĩ đến trung đoàn trưởng bây giờ đang căng thẳng chỉ huy trận đánh dưới kia.

Từ hôm đó, Mây trở thành chiến sĩ của tổ trinh sát gọn gàng này.

 - Mi đi theo bộ đội thiệt hả Mây? - Tiếng một người con gái hỏi Mây khi cô vừa đi qua trại của trung đội du kích. Mây nhìn vào trại, đỏ mặt mỉm cười rồi tiếp tục đi, bàn tay đang nắm quai súng AK giơ lên rồi bỏ xuống. Mây thấy thương cái trại của cô quá chừng. Mây không ngờ rằng mình đã xa nó. Cái trại nhỏ vậy đó mà có thật lắm chuyện buồn vui. Buổi tối năm ngoái đi phục kích, không gặp địch về qua thôn Hai lại gặp mít chín. Tháng trước bám đường sang sông vào khu đồn, khi về gặp địch không kịp rút lựu đạn, ném gói kẹo dân cho mà tụi nó cũng chạy. Anh Bốn Hương hy sinh ngay trên hầm vì pháo. Chị Hai Vinh bị thương khi xuống sông vo gạo. Trận chống càn đầu năm hết gạo phải bám vồ đào củ ngải tây ăn. Một anh đặc công đi đánh cầu về, lạc đường vô trại, anh Tám Quý tưởng địch vào bắn một loạt AR15, may đạn vọt qua đầu… Ôi, sao mà lắm chuyện quá đi mất. Mà cái trại sát bờ sông có chi đâu. Một cây mù u bị bom phạt mất ngọn, một dãy kèo quá đầu người, hai cái hầm bò, một cái lán lợp tranh nắng mưa đều dột. Vậy mà bây giờ thương nó quá. Lòng không muốn đi mà chân vẫn cứ bước. Muốn dừng lại với nó một tí nhưng trời tối mất rồi, phải đưa mấy anh qua sông. Mây vừa đi vừa nghĩ về cái trại nhỏ đó. Cô không để ý đến Trí đang đi trước cô, lâu lâu lại ngoảnh về phía sau, vừa như nhìn cô, vừa như kiểm tra anh em có bám được nhau không. Vậy là mình đã đi bộ đội từ đêm đó. Cái đêm anh Tám Quý, xã đội phó nói giữa cuộc họp du kích: "Có một đơn vị chủ lực mới về, mấy anh không thuộc đường, ai xung phong đưa bộ đội lội khắp vùng B đêm nay?". Nhiều người giơ tay. Mây ngồi sau cùng, cô dướn người lên cho anh Hai trông thấy tay mình. Anh Hai cười nhìn Mây. Vậy là Mây đi. Mình đi bộ đội vào cái đêm thủ trưởng Thạch rút súng dọa bắn nếu mình đưa bộ đội vào địch. Bữa đó mình cứng thiệt. Mây nghĩ, mình không sợ chi cả, mà cứ tin đi lọt.

Tổ trinh sát đến bờ sông, Trí hỏi:

- Cô Mây có thạo đường bên kia sông không?

- Không rành lắm, nhưng em cũng biết. Hồi nhỏ hay sang bên ấy chơi mà.

- Cô đi với đồng chí Thanh sang bên đó. Đến chợ Mỹ Lược thì dừng lại chờ đoàn cán bộ mặt trận. Khoảng mười hai giờ họ từ vùng ven lên. Gặp họ đưa về chỗ trung đoàn. Đường từ Mỹ Lược sang Giảng Hòa nghe nói có địch. Khi về nhớ bám đường thật kỹ. Sáng mai tôi chờ ở trại du kích - Trí quay lại với Thanh - Chú ý mìn đấy Thanh nhé!

Mây và Thanh bắt đầu vượt sông. Mùa khô đoạn sông này có thể lội qua được. Nhưng đêm nay nước chảy hơi mạnh, có lẽ đầu nguồn có mưa to. Thanh lội trước, một tay giơ khẩu AK lên cao, một tay nắm lấy tay Mây. Những viên sỏi dưới chân họ trôi nhanh, muốn đưa theo những bàn chân đang đè chúng xuống. Nước sông lành lạnh. Mây cố sức giữ cho khẩu AK khỏi nhúng xuống nước. Bàn tay trái cô nắm chặt vào tay Thanh. Giữa cái ướt át mênh mông của sông nước, từ bàn tay của Thanh hơi ấm đang chuyền sang cho cô. Mây ngoảnh lại bờ. Trí vẫn đứng nhìn theo hai người. Bóng anh đen sẫm trên bãi cát sáng. Lúc này cô mới biết là trăng đã lên. Lội vào đến bờ, Mây nói với Thanh:

- Anh chờ em một tí.

Mây chui vào một bụi bói sát mép nước. Một lúc sau cô quay ra. Cô đã mặc vào người bộ quần áo khô màu xám. Mây vừa giặt bộ quần áo ướt, vừa nói:

- Trời có trăng, mặc áo đen dễ lộ anh à.

Bộ quần áo được vắt kiệt nước. Mây lấy giấy bóng ra quấn lại cho vào gùi. Hai người đi xuôi sông. Sau họ bốn dấu chân để lại trên bãi cát phẳng sau cơn mưa đêm qua. Gió thổi từ mặt sông lên. Thoang thoảng có mùi thuốc bom không biết từ đâu bay đến. Có thể biết được bọn Mỹ từ căn cứ An Hòa nống ra bao nhiêu điểm qua các cụm pháo sáng đang bắn lên. Phía núi Bàn Cờ, nhiều chớp lửa lóe sáng. Sau đó mấy giây mới nghe được những tiếng nổ rền như tiếng trống. Trung đoàn mới đánh mạnh nên địch tăng cường đánh B.52 vào các hậu cứ phía sau.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #99 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 10:50:21 pm »

                                         Tiếp :
Đến gần chợ Mỹ Lược, Mây dừng lại. Cô nói với Thanh:

- Ta dừng lại đây coi động tĩnh chi không. Trong chợ địch hay phục lắm.

Họ ngồi xuống bậc đất sau một ngôi nhà đổ. Cạnh đó, một cái hầm đã sập nửa trong, nhưng có thể tránh được mảnh pháo. Những lần sang phối hợp hoạt động với du kích bên này. Mây thường qua đây nên cô đã chú ý đến cái hầm này. Hai người lặng lẽ nhìn vào chợ. Không một tiếng động lớn nào, chỉ có tiếng nổ lốp đốp của ngôi nhà đang cháy phía bên kia chợ.

- Mấy anh vô đây chắc cực lắm hỉ - Mây hỏi nhỏ. Hình như Thanh không nghe, anh vẫn ngồi im, mắt nhìn về phía trước.

- Ngày trước chúng nó tàn sát đồng bào chỗ nào hả cô Mây?

Lần này thì Mây lại không nghe vì Thanh cũng nói nhỏ trong lúc gió thổi mỗi lúc một mạnh hơn. Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình.

Khoảng mười phút sau, Mây xịch gần lại chỗ Thanh, cô nói:

- Có lẽ êm rồi anh à. Ta vô chợ đi.

Mây đi trước. Họ men theo một rặng tre xác xơ vì mảnh trái phá. Khu chợ bây giờ chỉ là một bãi đất hoang, không một căn lều, không một bóng người. Họ đi qua chợ thận trọng từng bước. Ra khỏi chợ một đoạn, Mây dừng lại. Phía trước có tiếng chân người đang đi đến. Hai bóng người cầm súng đi qua trước mặt Thanh. Anh hỏi người thứ ba:

- Các anh có phải đoàn 70 không?

Người ấy giật mình:

- Ai đấy?

- Chúng tôi ở 18 đây.

- Đồng chí đi đón hả? Đây về Giảng Hòa còn xa không?

- Báo cáo còn hơn một tiếng nữa và phải qua sông.

- Ta đi luôn.

Nhưng phải hai giờ sau Thanh và Mây mới đưa được đoàn cán bộ về đến trung đoàn. Đường không có địch nhưng phải vừa đi vừa dò mìn. Đoạn sông dưới này không lội được mà đoàn 70 lại có hai cô biệt động từ Đà Nẵng lên không biết bơi, phải làm bè chuối vượt sông.

Sang sông, Thanh đã thấy Trí đứng chờ trên bãi ngô đang trổ cờ. Khi Thanh đưa đoàn 70 về sở chỉ huy trung đoàn còn lại Trí và Mây dưới mép nước, anh hỏi:

- Đường đi có chuyện gì không?

- Êm thôi anh à. Anh biểu chờ tụi em ở trại du kích mà.

- ừ, định chờ ở đó, nhưng tôi có việc phải ra đây - Từ khi về đội trinh sát, bây giờ Mây mới nghe Trí nói không được lưu loát lắm.

Hai người đi lên bãi. Trước khi rời mép nước, Mây đá mạnh cho một vệt nước toé lên, lấp lánh dưới trăng.

Còn Thanh, khi về đến sở chỉ huy trung đoàn, anh vẫn ngờ ngợ nghĩ rằng chẳng lẽ mình đã đi qua sông Thu Bồn, con sông đến với anh từ lâu qua những trang sách lại như thế ư?

 Vào một buổi chiều, trước khi tổ trinh sát lên đường, Trí hỏi Thanh:

- Cậu thấy cô Mây thế nào?

Thanh cho thêm củi vào bếp, trả lời:

- Cô ấy tốt anh ạ. Dũng cảm và linh lợi lắm.

- Mình muốn nói về những điểm khác, những điểm của một cô gái.

Thanh mở to mắt nhìn Trí. Trí thấy có cái gì như là một tia lửa trong đôi mắt Thanh. Nhưng anh lại nghĩ có lẽ ngọn lửa đang cháy trên bếp chiếu vào đôi mắt đó.

- Thế những điểm ấy không phải là của cô gái hả anh? Về tính tình có thể cô ấy không được tế nhị như các cô gái ngoài mình, nhưng mà có sao. Theo tôi, những điều đáng quý cho công việc bây giờ cô ấy đều có cả.

- Cậu nói thật đấy chứ?

- ờ, cái anh này, sao tôi lại nói dối anh về một chuyện như vậy.

Có tiếng chân người đi đến. Cả hai người quay lại. Mây đang từ trên dốc đi xuống, tay cầm một nắm rau.

- Rau ranh mấy anh à - Cô nói và giơ nắm rau lên, miệng nở một nụ cười. Khuôn mặt Mây lấm tấm những giọt mồ hôi long lanh nhờ ánh sáng từ mặt suối hắt lên. Vùng này không có rau ranh đâu. Vậy mà em gặp cả một đám to bằng cái sân trên đỉnh dốc đó.

Mây đến và ngồi bên bếp. Cô bỏ nắm rau ranh vào cái nắp gô Trung Quốc. Củi nổ lép bép bắn tung lên những tia lửa nhỏ. Những làn gió nhẹ lào xào trên ngọn cây, tiếng hót cao xa xa của một giống chim lạ, mặt suối đang bốc lên một làn hơi nước mờ mờ làm cho buổi chiều của rừng thật là dễ chịu.

- Sao chiều nay chúng chưa bắn pháo nhỉ? - Trí nói, không biết để hỏi ai.

- Vào giờ này hồi trước tụi em đi hái chè bắt đầu xuống đồi. Cái đồi chè hôm qua mình qua đó, hai anh nhớ không? Mây chỉ về phía bên trái, nhưng Thanh và Trí đều không thể hình dung được đồi chè đó như thế nào vì đêm qua họ chỉ đi dưới chân nó, còn bây giờ chỗ Mây chỉ là một dòng suối lấp lánh những viên sỏi trắng - Khắp xứ này ai cũng biểu con gái Lộc Sơn tụi em đen vì ngày phơi nắng trên đồi, tối về lại uống nước chè đặc mà.

- Bây giờ chè còn lá không?

- Còn chớ! Nó đánh bom cháy nơi nào thì cháy nơi ấy, nơi nào không trúng bom chè tốt lắm. Chừ ít người hái nên như đồi chè hoang. Mấy anh đi đồng bằng hay bẻ chè để ngụy trang, xuống dưới sâu cho lại dân. Mà hai anh chưa biết nhà em hỉ? Nhà em ở ngay dưới đồi chè. Bữa mô đi qua, em đưa vô. Vườn có buồng chuối sắp chín rồi. Quanh nhà du kích gài mìn hết trọi, nhưng em có đường vô an toàn lắm, không hề chi.

Gô nước sôi. Mây rót vào bi-đông một nửa, rồi cô đổ hai lon gạo đã đãi kỹ vào gô. Bếp lửa lại cháy. Mây chọn những thanh củi khô nhất cho vào bếp. Một làn khói xanh lơ lửng trên đầu ba người. Mây vừa coi lửa vừa kể chuyện. Cô kể về cái thôn "nhất cận thủy, nhì cận sơn" của cô. Năm 1963, trong thôn có mười hai người đi củi vào khu rừng này, không thấy ai về. Đến năm 1964 họ thành quân giải phóng. Mây kể về cái chết của cha cô. Một đồng chí bộ đội sơ suất để quên quả đạn B.40 trong hầm. Bọn Mỹ lên càn lục được. Chúng bắt ông già đưa lên đồi chè rồi bắn ở trên đó. Nhiều chuyện nhất là về trung đội du kích của cô. Mây kể sôi nổi và vội vàng. Hình như nếu không kể như vậy thì không tài nào kể hết được.

Thanh ngồi nghe, lâu lâu anh lại nhìn thẳng vào mắt Mây. Mây thấy đôi mắt to của anh trố lên. Cô cảm thấy như anh đang muốn hỏi: "Có chuyện như vậy sao? Lạ quá nhỉ?". Tự nhiên Mây thấy ngượng. Cô vừa kể vừa nhìn vào gô cơm đang cạn nước dần. Còn Trí, anh vừa nghe chuyện vừa nhặt những hòn sỏi ném xuống suối. Nước bắn lên đến tận bàn chân anh. Lâu lâu anh cũng liếc nhìn Mây. "Cô ấy lôi đâu ra mà lắm chuyện thế. Sao cái thằng Thanh nó cứ nhìn như muốn nuốt người ta thế kia". Anh lặng lẽ đến võng nằm. Bữa cơm chiều, Trí chỉ ăn có lưng bát. Anh uể oải ra bờ suối ngồi.

Và đến chập tối, khi tổ trinh sát lên đường, Trí nói với Thanh:

- Cô Mây có cảm tình riêng với cậu lắm đấy!

Thanh ngạc nhiên chưa hiểu đầu đuôi ra sao thì Trí đã vượt lên đầu đội hình. Đêm nay, họ đi trinh sát một điểm bọn Mỹ vừa nống ra trên cái gò phía tây bắc chợ Phú Thuận.

 Mùa hè trôi qua một cách nhanh chóng. Những gì lạ lẫm của chiến trường mới mẻ này rồi cũng quen thuộc dần. Những trận đánh với một trung đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ đứng đối mặt kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Kết quả của những trận đánh đó khó mà đánh giá cho thật chính xác. Số địch bị diệt, số vũ khí thu được không phải là kém cỏi so với những trận đánh hồi ở chiến trường phía ngoài. Điều đáng chú ý là từ khi vào đây, trung đoàn chưa đánh được một trận tiêu diệt nào đúng với nghĩa của nó. Thương vong của bộ đội cao dần lên phần nhiều do những trận địch tập kích pháo và do bị phục khi đi lấy gạo vì không quen đường. Đến đầu mùa mưa, địch bắt đầu dùng cái chiến thuật "Mỹ lết" rất khó chịu. Những chuyến B.52, B.57 đánh trúng vào các tọa độ đóng quân của trung đoàn. Pháo địch nhằm các trục đường bắn chặn bất cứ lúc nào khi chúng cần bắn. Các cửa ranh xuống đồng bằng có khi bị bịt bốn năm ngày. Việc lấy gạo trở nên căng thẳng. Năm ngoái ở chiến trường ngoài gạo từ phía sau đến với bộ đội. ở đây gạo lại từ phía trước, phía địch. Bộ đội coi việc đi lấy gạo còn nặng nề hơn cả việc đi chiến đấu.

Trong những ngày đó, Mây và tổ trinh sát của cô ở ngay tại cửa ranh, trong hai cái hầm khoét vào chân đồi. Mây đưa hết đơn vị này đến đơn vị khác bằng những con đường chỉ có mình cô mới đi nổi để tới các nguồn gạo. Trung đoàn còn giao cho Mây nhiệm vụ phải chỉ đường cặn kẽ cho các trinh sát tiểu đoàn. Những tốp "Mỹ lết" mỗi ngày một đông hơn. Các đơn vị đi lấy gạo chỉ thật yên tâm khi thấy cái dáng người thon thon, nhanh nhẹn của Mây khoác AK đi đầu đội hình. Những người lính của trung đoàn, với sức vóc khỏe khoắn, với sự từng trải từ những ngày đầu chiến tranh đều cảm phục người con gái ấy. Nhiều người đã nói ra miệng: "Không có cô ấy thì mình gay go chứ tưởng đùa". Riêng Mây, cô ý thức được lòng tin đó của trung đoàn. Nhiều đêm, sau khi chỉ đường cặn kẽ, bộ đội đã đi khuất sau gò đất trước mặt, Mây lại khoác súng đuổi theo - Lỡ đến thôn Một có địch, mấy anh không biết đường lối khe sang Phú Xuân - Cô nghĩ vậy khi chạy theo đoàn người. Những ngày này không ai nghĩ rằng trong trung đoàn lại thiếu người con gái ấy. Và cũng không ai nghĩ rằng Mây sẽ là của riêng một người nào trong dòng người đổ xuống các cửa ranh làm những việc khác nhau cho các trận đánh ở đây.

Tổ trinh sát mỗi ngày một ít người đi. Trong các trận phục kích lộp chộp của địch, những người đi đầu bao giờ cũng là mục tiêu của chúng. Đến giữa mùa mưa, Trí chỉ còn trong tay mình sáu người kể cả Mây. Bây giờ mỗi lần cử người đi, Trí phải cân nhắc kỹ càng hơn. Anh biết rằng mất thêm một người trong số sáu con người này thật khó mà thay thế nổi dù có xin thêm được người. Mỗi người ra đi anh đều thấp thỏm cho đến lúc rạng sáng khi có những bước chân rậm rịch ngoài cửa hầm và tiếng cười nói quen thuộc vang lên.

Đêm nay Trí lại không tài nào ngủ được. Từ lúc Mây đi, cái búi tóc to tướng sau gáy, khẩu AK xách ở tay cô cứ ám ảnh anh mãi. Không biết vì sao ngay từ chập tối chúng lại bắn nhiều pháo thế? Nhưng những loạt súng con ở xa kia mới làm anh không yên tâm. Đêm qua, tiểu đoàn 4 đi đã bị phục, may không ai việc gì. Đêm nay Mây đi không biết có bị phục không? Mà cô ấy nhiều lúc liều lắm, biết nó phục nhưng vẫn cứ lách đường đi cho được, đã phê bình nhưng nào có chịu nghe. Trí lại trở mình. Một vệt sáng của trăng chiếu ngay vào chỗ anh nằm.

- Cậu vẫn còn thức đó hả Thanh? - Trí hỏi.

- Còn thức anh ạ, không hiểu sao đêm nay khó ngủ quá.

- Cậu có nghe súng con nổ không?

- Có. Nhưng ở phía Xuyên Phú, không phải hướng của đoàn lấy gạo.

- Mình cũng nghĩ vậy. Nhưng vẫn thấy lo lo cậu ạ. Mây mà có việc gì thì gay go đấy! Mà Thanh này, Mây nó hay nói về cậu với mình lắm.

- Thật hả anh? - Thanh hỏi lại. Cả hai người im lặng một lúc lâu. Thanh nhổm dậy châm lửa hút thuốc, mới rít được hơi đầu tiên anh lại nói - Cũng có thể cô ấy thích một số tính tình của tôi. Nhưng tôi hỏi thật anh Trí nhé! Anh yêu cô ấy phải không?

Thanh hỏi xong, anh cảm ngay được cái giật mình của Trí. Trí đã ngồi dậy, hai tay nắm lấy thành võng. Anh nói, giọng vội vàng:

- Cậu đừng nói thế. Nói thế ảnh hưởng đến anh em, mình lại là người phụ trách.

- Có gì đâu mà ảnh hưởng anh. Nếu quả anh yêu cô ấy thì việc gì phải giấu… - Nhưng cảm thấy mình đã đi quá xa, Thanh nằm im.

Câu chuyện trong đêm dừng lại ở đó. Hai người không ai nói gì thêm. Mỗi người quay về với những ý nghĩ riêng của mình. Pháo địch bắn dữ dội hơn vào dọc bờ sông. Đêm nay là một đêm bọn Mỹ bắn pháo nhiều. Chắc chúng có mưu đồ gì cho ngày mai đây?

 Ba giờ sáng Mây đã đưa được đoàn lấy gạo về. Lần này họ đến được nguồn gạo, mới khui lên ba hầm mà đã mang không hết. Mây vui. Mờ sáng cô đánh thức mọi người dậy và ríu rít kể chuyện. Mây dẫn bộ đội đi lạc đường mà không dám nói, cứ thẳng hướng bươn qua đồng cho đến khi gặp lại đường cũ. Đồng chí chỉ huy đi sau Mây tỏ vẻ nghi ngờ nhưng thấy Mây đi quả quyết quá cũng phải tin là đúng đường. Mây đưa đoàn đến được nguồn gạo trước giờ quy định. Nhưng trên đường về, anh ta hiểu ra, vừa cười vừa nói với Mây: "Cô lanh thật".

Thanh đứng với Mây ở cửa hầm. Anh chăm chú nghe chuyện của cô, thỉnh thoảng lại liếc vào hầm nhìn Trí đang sửa soạn cái gì trong đó. Mây kể say sưa. Hai ống quần cô vẫn còn xắn gần tới đầu gối. Trên quần áo và cả trên tóc Mây có những vết bùn. Thanh nói:

- Mây đi rửa kẻo tí nữa suối đông người.

- Ôi, em buồn cười thiệt. - Cô giật vội cái khăn lau trên dây, ôm gói quần áo đi xuống dốc. Đi được một đoạn, Mây quay lại - Anh giăng hộ em cái võng. Tắm xong em về là ngủ ngay đó nghe!

Mây đi được một lúc Trí mới ra khỏi hầm. Anh lững thững đi về phía đại đội vận tải, ở ngay sau hầm tổ trinh sát. Khi qua mặt Thanh, Trí nhìn anh. Cái nhìn đó làm Thanh ngơ ngác một lúc. Phải đến lúc Trí đi rồi, Thanh mới nhận ra cái nhìn đó có gì vừa xa lạ lại vừa khó chịu. Xưa nay chưa bao giờ Trí lại thất thường như thế. Thanh chui ngay vào hầm. Anh leo lên võng nằm. Một nỗi buồn man mác đang từ từ đến với anh. Trước khi Mây đến đây hai người sống với nhau còn hơn anh em. Họ thân nhau từ hồi còn ở mặt trận đường 9. Hồi ấy tuổi trẻ trong sáng đã đưa hai người đến với nhau. Chiến dịch Cù Đinh - Ba De, địch đổ quân khắp rừng. Cùng với đổ quân chúng đổ đồ hộp. Thanh và Trí đã bê vào hầm mình nửa hầm đồ hộp Mỹ, đủ ăn một tháng không phải nhận tiêu chuẩn của trên. Rồi một tháng ròng hai người nằm sát hàng rào Cồn Tiên cùng với trinh sát pháo binh chỉnh từng quả pháo không cho bọn Mỹ trong đồn ngóc đầu lên. Trận B.52 ở bờ sông Bến Hải, hai người đều bị sức ép, phải đi bệnh xá. Khi trung đoàn rút ra khỏi Huế, hai người xa nhau vì Trí ở lại với một tiểu đoàn hoạt động nghi binh. Hồi đó, Thanh thấp thỏm lo cho Trí từng ngày, vì cứ qua mỗi ngày, từ đài quan sát, Thanh nhìn thấy vòng vây của địch càng khép chặt vào tiểu đoàn. Trí cùng với một bộ phận của tiểu đoàn phá được vòng vây. Hai người lại về ở với nhau cho đến khi vào chiến trường này. Trước kia tất cả đều quá đẹp, Thanh nghĩ. Chỉ tại sự xuất hiện của người con gái ấy ở đây. Thanh biết Trí đã có những tình cảm khác thường đối với Mây. Đáng ra anh phải giữ kín điều đó, nhưng anh lại nói ra một cách quá minh bạch đêm qua. Trong tổ, Mây lại thường đối xử với Thanh cởi mở và có phần quan tâm hơn những người khác. Nhưng Thanh nghĩ nếu Trí yêu Mây thật, thì những chuyện ấy có gì là quan trọng. Thanh cảm thấy một sự mất mát đang đến với quan hệ giữa hai người. Anh đứng dậy ra khỏi hầm, hít thật căng cái không khí buổi sáng trong trẻo của rừng.

Mây từ dưới chân dốc đi lên, tay cô nặng trĩu gói quần áo. Mây dừng lại giữa dốc, dựa lưng vào một gốc cây, thở. Cô nói với lên:

- Anh Thanh đã mắc võng cho em chưa?

Thanh cười ngượng nghịu. Anh đã quên mất chuyện mắc võng cho Mây, Thanh chui vào hầm, cởi cái gùi nhỏ nhất đội trinh sát ra, lấy võng mắc vào góc hầm phía trong, nơi nóc hầm được đắp đất dày nhất. Ngoài hầm, Mây vừa phơi quần áo vừa hát một bài dân ca miền Bắc không biết cô học được của ai mà hát sai nhiều chỗ. Thanh nghĩ: cô ấy còn hồn nhiên và vô tư quá.

 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM