Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:23:01 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 132044 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #110 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 09:56:48 pm »

                                            Tiếp :
   
Tôi cầm ly rượu ráng uống hết. Anh cũng làm một hơi. Tôi lấy mấy cái bánh mỳ mang theo ra mời anh. Anh ngồi ngây ra một lúc rồi bỗng đứng dậy, vào nhà. Tôi nhìn theo. Anh ăn ở chu đáo gọn ghẽ. Chợt có tiếng trẻ khóc và tiếng phụ nữ nựng con bằng tiếng Gia Rai. Anh trở ra nói:

- Cán bộ xã đi họp trên huyện cả. Chỉ còn mình tôi ở nhà, vì vợ tôi mới sinh cháu trai khi sớm.

- Thế ạ! Xin chúc mừng anh chị, tôi nói. Tôi hỏi thật. Hình như anh là người Kinh?

-Vâng, anh nghiêng người đứng dậy. Tôi là dân Bắc chính cống đấy anh ạ. Hôm nay tôi lên chức bố, lại là bố thằng cu. Mừng quá hóa ngớ ngẩn từ sáng tới giờ. Anh đến gặp dịp vui của tôi, cứ tự nhiên nhá.

Anh cười cởi mở rồi xoa xoa tay, bước vào nhà trong với cái dáng tất bật đầy vui sướng. Tôi thấy miệng anh bị lệch, hàm răng trên không còn cái nào, nhưng giọng vẫn bình thường. Anh vừa bước ra đã nghe tiếng chị với gọi theo. Chị nói với anh bằng tiếng Gia Rai. “Ơ kìa, con gà đang muốn theo nước sôi nhẩy ra khỏi nồi rồi”. Và chị bảo anh rút bớt củi trong bếp, lấy thêm rượu mời khách. Anh bảo để chúng tôi uống rượu cần, nhưng chị ngại người khách lạ cười. Anh lại quay vào. Có tiếng chị mắng yêu anh và tiếng cháu bé khóc.

Rồi lại im lặng.

Tôi cảm tháy lâng lâng phần vì ly rượu vừa uống, phần vì lây cái vui của anh chị. Trăng giữa tháng sáng tới mức ta có cảm giác không giang rộng hẳn ra. Tôi rút cây kèn ắc mô ni ca ra thổi. Tôi thích thổi những bài dân ca Gia Rai. Những bản tình ca của người đi săn. Những khúc hát đối nhau của các chàng trai và các cô gái trong dịp hội hè. Những điệu nhẩy mừng ngày mùa thắng lợi. Rồi tôi bỏ kèn, nghiêng người tựa vào thành giường hát. Chợt có bàn tay đặt lên vai tôi. Tôi ngừng lời. Anh bắt tay tôi bằng bàn tay lành và khen tôi hát tiếng Gia Rai khá chuẩn.

Tôi hát phần vì tôi hay hát. Phần nữa vì tôi biết người Gia Rai rất ưa âm nhạc. Tôi thường làm quen với bà con bắt đầu bằng giọng hát của tôi. Những chuyến đi lẻ thế này, có cây kèn ắc mô ni ca trong túi là tôi hoàn toàn yên tâm.

Anh đặt ghè rượu sát cửa lấy lá ủ và cắm cần. Chị bê tới một cái rá con bốc khói. Thì ra nãy giờ anh chị luộc gà. Tôi chào chị. Chị bẽn lẽn gật đầu. Anh lấy thêm đĩa rau thơm và muối ớt. Chị nắm tay tôi, bảo tôi ngồi xuống chiếu hoa - loại chiếu chỉ những nhà giàu xưa mới có. Anh nói:

- Cả ngày nay bà con mừng tôi hơn chục con gà, ba ghè rượu thơm, một gùi gạo nếp. Năm nay, chúng tôi được mùa cả lúa ruộng lẫn lúa nương anh ạ.

Chị vít cần rượu cho tôi, mỉm cười coi tôi và anh uống chung một cang1. Rồi chị vào nhà trong với cháu. Tôi nghe rõ tiếng rượu chuyển trong ghè. Bỗng anh buông cần nói với vào nhà trong bằng tiếng Gia Rai:

- Ơ em. Tôi muốn say rồi! Ngày vui uống chút cho say, được. Ngày thường uống say, không phải người Gia Rai xã hội chủ nghĩa đâu cán bộ phụ nữ nhỉ?

Chị cười rũ.

Anh lại vào buồng rồi trở ra với một quả bầu đựng nước. Chúng tôi chế thêm nước vào ghè rồi đặt cang. Anh bảo tôi uống hết.

- Hồi tôi vào huyện đội này thì K5 các anh chuyển đi đâu nhỉ? Tôi hỏi.

- Bọn tôi vào trong nước La Pà.

- Từ ấy anh có gặp ai bạn bè cũ không?

- Không. Mà gặp làm gì?

- Sao vậy anh?

- Chẳng sao cả. Nhưng tôi thích thế. Mỗi người có một hoàn cảnh.

- Anh đã về quê lần nào chưa? Tôi hỏi.

Anh lặng đi một lúc lâu mới nói:

- Chưa. Mà mình không về nữa. Mình ở đây suốt đời.

Anh lặng lẽ rút tẩu thuốc rồi vào nhà lấy nháy củi đang cháy. Anh bập thuốc có vẻ khó khăn, nhưng đúng kiểu của người Gia Rai. Tôi cũng xin anh một ít thuốc, dùng giấy pơ luya quấn hút. Chúng tôi bắt đầu chuyển sang một không khí mới. Anh ngồi xích gần, bảo tôi đổ thêm nước từ quả bầu vào ghè. Rồi anh vít cần cho tôi, nói:

- Anh nên nhớ rằng, anh là người Kinh đầu tiên tôi tiếp từ khi bị thương đến giờ.

- Vậy ra anh...

- Chẳng sao cả, anh ạ. Tôi vào Nam, đánh đấm được mươi trận, đã ba lần được bằng dũng sĩ diệt Mỹ, Một lần dũng sĩ diệt cơ giới. Hai năm liền chiến sĩ thi đua cấp quân khu. Từ tổ trưởng nhẩy thẳng lên trung đội phó. Từ trung đội phó nhẩy thẳng lên chính trị viên đại đội. Tất cả những cái đó đều đáng nói, nhưng cũng đều không cần thiết nói phải không anh?

Chợt anh nhìn tôi như người lạ:

- Giải phóng rồi, anh được xuống đồng bằng, anh được ra miền Bắc với vợ con, với người thân của anh. Anh... hơn tôi nhiều!

Mắt anh, qua ánh đèn sắp đỏ sọc lên, rồi mờ dần. Anh khóc. Tôi lúng túng không biết xử sự thế nào. Bỗng anh giụi mắt rồi nhìn tôi chằm chặp. Môi anh mấp máy như định nói nhưng lại thôi. Hai chúng tôi ngồi lặng thinh. Cái lặng thinh như có một lỗ thủng. Trăng sáng ngằn ngặt. Có tiếng chị cựa mình và tiếng cháu bé khóc. Rồi thật bất ngờ, chị cất tiếng ru. Mà chị ru tiếng Kinh, theo đúng điệu của các bà mẹ miền Bắc:

A... a... à... ơi... i...i...

Em xinh... cái dáng a... á-à-à- cũng à... à... à... xinh... i-i...

Em giòn... cái tỉnh a... á... a... tình tinh... a... cũng... à... giòn... á-à-à-ơi...
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #111 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 10:01:53 pm »

                                tiếp :Tôi sững sờ. Chị đang ru con hay chị đang nhắc nhở chúng tôi. Chị đang ru con hay chị muốn góp điều gì cho vui câu chuyện. Anh bật cười to và sau đó trở lại trạng thái tỉnh táo hoàn toàn. Những người say rượu, thường thế, tôi nghĩ. Thường có những phút tỉnh táo hoàn toàn. Anh tiếp:

- Vợ tôi người Gia Rai, con gái làng Plei-o-k này. Trước công tác ở tỉnh, sau về huyện. Bây giờ thì về xã. Chúng tôi cứ rút dần vào cái tổ của mình anh ạ?

Anh cười rất hồn nhiên. Tôi hỏi:

- Anh dạy chị điệu ru con Bắc Bộ đấy à?

- Nhà tôi thích hát ru lắm. Tôi còn dạy chèo cho đội văn nghệ xã nữa. Bà con Tây Nguyên nói chung rất thích hát chèo. Đội văn nghệ xã tôi quyết đoạt giải hội diễn sắp tới đấy!

Anh ấn tay tôi vào cần rượu, hỏi:

- Thế trước đây anh đã đánh đấm trận nào chưa?

- Dạ, cũng có, nhnưg chỉ đánh kiểu du kích. K5 các anh đánh thì khiếp lắm.

- Ôi dào, anh ngả người ra sau. Trước tôi là chính trị viên đại đội. Bây giờ là “chính trị viên làng”.

Ngừng một lát, anh tiếp: Hồi ấy đơn vị tôi được trên giao là phải “hốt” ba cái đồn dân vệ trên trục đường quốc lộ và hai kho đạn địch gần thị xã. Nhiệm vụ nhiều, lại phân tán mục tiêu. Đại đội tôi, thực ra chỉ còn hơn chục tay súng. Giờ nổ hiệp đồng với mặt trận không được cách nhau quá năm phút. Tôi chỉ huy mũi chủ công, trực tiếp nắm tổ điểm hỏa diệt kho đạn địch. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, có thể nói như thế. Nhưng khi rút về gần tới khu tập kết thì chẳng may, mũi tôi lọt vào ổ phục của địch. Tôi không hiểu vì sao lại bật tít vào bụi. Hình như chúng tôi bị mìn và cả ĐK nữa. Tôi bị ngất khá lâu, rờ lên mặt chỉ thấy máu! Bàn tay phải bị mất mấy ngón. Một mảnh đạn cứa đứt gần trên gót phải. Tóc và mặt tôi bị cháy sém vì luồng lửa ĐK xoẹt qua. Vâng, chả hiểu sao lúc ấy tôi khỏe thế. Tôi kéo lê khẩu súng bên tay trái, bò quanh tìm anh em. Nhưng không thấy ai cả. Có thể anh em đã bị thương và bị địch bắt. Cũng có thể hy sinh và địch lấy mất xác. Tôi bò quanh quẩn mãi. Thực ra chỉ sờ mò thôi chứ mắt có thấy gì nữa đâu. Rồi cũng đến lúc phải tính anh ạ. Tôi bò theo linh cảm vào rừng. Không biết bao lâu. Đến khi mở được mắt đã thấy mình được nằm bên đống lửa. Chỉ có một khuôn mặt xương xẩu, râu tóc xồm xoàm cúi xuống. Người ấy dùng thuốc rễ cây tưới lên những chỗ bỏng và các vết thương cho tôi. Đấy, ông già vợ tôi bây giờ đấy. Hôm đó ông đi săn, gặp tôi và cõng tôi về cứu chữa, ông già chỉ sống có một mình. Hai người con trai là du kích đã hy sinh, chỉ còn một cô út đi công tác xa. Bà lão mới mất trước khi có mặt tôi vài tháng. Ông sống lầm lì, suốt ngày chỉ nói vài câu cần thiết. Tôi khỏi rồi, ở lại với ông, với dân làng. Tôi học tiếng Gia Rai, học việc của một người đàn ông Gia Rai. Tôi không về đơn vị nữa. Tôi về làm gì khi bàn tay không còn cầm nổi súng, chân tôi cứ phải kéo lê thế này? Đơn vị tôi lại đang lúc khó khăn. Gạo tính bằng lẻ tay, muối thì đong bằng hộp cù là. Mà nhiệm vụ chiến đấu thì cứ liên miên. Là cán bộ, tôi biết. Một đại đội độc lập kiểu đơn vị tôi, lo chu đáo được cho một thương binh, khốn khổ lắm, căng thẳng lắm. Tôi về anh em lại phải nai lưng ra gánh vác cho tôi. Mà cái chính là cầm súng thì tôi không còn làm gì được nữa. Tôi về chỉ để anh em biết là mình còn sống không thôi ư? Và nếu chỉ có vậy thì tôi không về nữa. Đồng đội hãy tha thứ cho tôi! Lúc ấy tôi nghĩ thế và tôi đã làm đúng theo ý nghĩ của tôi...

Chợt có tiếng chị gọi. Anh tất tưởi trở vào, một lúc sau quay ra, nét mặt có vẻ rạng rỡ hơn. Anh nắm tay tôi:

- Anh ạ, chúng tôi mới sinh cháu trai. Tôi vừa bảo nhà tôi sẽ đặt tên cháu là Thực. Rơ Lan Thực. Mẹ cháu họ Rơ Lan, lại sinh đúng bữa nay có nguyệt thực. Đặt thế để nhớ ngày hôm nay, được không anh?

Chúng tôi đổ thêm nước vào ghè và đặt cang uống chung. Tôi thấy anh có vẻ mệt nên bảo anh đi nghỉ. Anh cười:

- Lo gì tôi. Tôi đã trót nói với anh rồi. Tôi ở lại đây và thành người Gia Rai. Tôi không về quê nữa. Nhưng anh ạ, hồi còn chiến tranh mù mịt tin tức còn có lý. Giải phóng rồi mà tôi không về, mà tôi nỡ bỏ vợ, bỏ quê hương - Điều này lúc nào cũng dằn vặt tôi.

Đột nhiên anh ngừng lời. Một lúc sau, như sực nhớ điều gì, anh tiếp:

- Tóc vợ trước của tôi dày và đẹp lắm. Mỗi lần chải cô ấy phải đứng trên giường mà buông xuống. Vợ tôi đẹp nhất vùng, tôi dám nói như thế. Cô ấy là kế toán hợp tác. Hôm về phép lần cuối cùng trước khi đi B, vừa xuống xe ngang đường thì tôi gặp cô ấy. Cô ấy lên huyện có việc gì đó về, lốp xe đạp bị xịt. Thấy có người dắt xe, tôi nhờ đặt ba lô lên poóc-ba-ga. Đi được một đoạn mới có hiệu sửa, tôi bảo vào vá xăm. Cô ấy cứ lúng ta lúng túng. Thì ra cô nàng hết tiền anh ơi. Tôi nhận trả cho. Sửa xong, tôi đèo cô ấy về. Đến gần làng thì gặp nguyệt thực. Tôi dừng xe đứng xem. Tiếng gõ nong nia, thúng mủng từ trong làng vọng ra nghe mà rùng rợn. Cô ấy nép sát vào tôi, thì thầm: “Gấu ăn mặt trăng!”. Hơi ấm từ người cô ấy lan sang khiến tôi ngơ ngẩn. Vâng, tôi đã nắm tay cô ấy từ lúc nào. Đến lúc trăng sáng lại, chúng tôi sực nhớ là mặc dù cùng quê nhưng mới quen nhau được vài chục phút.

Hôm sau cô ấy đem tiền trả tôi. Làm sao có thể nhận trong trường hợp như vậy phải không anh? Nhưng kể cũng hay. Cứ đưa đẩy mãi hóa ra tình cảm. Rồi chúng tôi yêu nhau, cưới nhau. Cứ như tôi về phép chỉ để gặp cô ấy, để cưới cô ấy. Xưa nay, ba anh em tôi đi đâu về cũng ở nhà ông chú. Bố mẹ tôi mất sớm vì nạn lụt.Chú tôi trông nom chúng tôi thay cha. Hồi ấy thằng em tôi đã đi học nước ngoài. Cô út cũng đã lấy chồng, dạy học tận một tỉnh sát biên giới phía bắc. Tôi định về nhà với chú thím chục ngày rồi ngược thăm em gái. Nhưng tình yêu đã níu chân tôi lại. Tôi cưới vợ, khoác ba lô về nhà vợ ở, điện cho em gái về chơi. Tháng rưỡi phép cứ như trong mơ. Thời gian đối với tôi chưa bao giờ vụt nhanh đến thế. Khi khoác ba lô lên vai, chia tay vợ, chia tay làng xóm, lên xe rồi mà tôi vẫn thấy ngỡ ngàng...

- Từ đó anh chị bặt tin nhau luôn? - Tôi hỏi.

- Không. Tôi là thằng chịu khó viết thư nhất đơn vị. Hành quân Trường Sơn vất vả là thế mà tôi vẫn gửi về đều đặn mỗi tuần một lá. Sau này vì quá căng thẳng, tôi gửi thưa dần, chỉ khi nào có dịp thuận tiện. Tôi cũng nhận được hai thư của nhà tôi. Thế nhưng, từ ngày bị thương, từ ngày tôi quyết ở lại đây thì không còn thư gì nữa! Tôi đã thành người Gia Rai, thành người làng Plei-o-k này rồi. Mà đã thế thì thôi, thì còn thư từ mà làm gì. Tôi chỉ muốn ngoài bà con Plei-o-k ra, không ai nghĩ rằng còn có tôi trên đời này nữa. Hãy để cho vợ tôi, em tôi, chú thím và bà con dân làng coi tôi là liệt sĩ. Có lẽ như thế tốt hơn. Tôi không có ý định lộ mặt ra, mặc dù nhiều lần không chịu nổi. Ngoài nông trường chăn nuôi của huyện kia, khối anh em miền Bắc. Nhất là mấy sư đoàn bộ đội làm kinh tế gần đây lại càng đông.  Đã vài lần tôi ra nông trường chơi, tới chỗ anh em bộ đội chơi - họ không nhận ra tôi là người Kinh. Tôi lân la hỏi thăm. Cũng gặp vài anh em cùng huyện. Có hai cậu cùng xã. Nhưng anh em còn ít tuổi quá. Hồi tôi đi B, chúng nói mới sáu bẩy tuổi. Tôi hỏi chuyện làng xóm, rồi chuyện gia đình. Nhưng hai cậu đồng hương ấy chẳng biết gì thật rõ ràng cả. Họ hỏi tôi sao biết quê họ và quen nhiều người thế. Tôi bảo tôi có được ra Bắc học và sơ tán về quê họ mấy tháng. Và thế là các đồng hương của tôi tin ngay! Một cậu bảo có biết “chị ấy” - tức là vợ tôi. Và thậm chí biết cả “anh chồng chị ấy” - tức là tôi. Một cậu thì nói rằng “anh ấy” đã hy sinh ở chiến trường, còn chị ấy, hình như vẫn ở vậy. Nhưng cậu kia lại bảo hình như “chị ấy” đã có con với ai đó - Trời đất, cái gì cũng hình như, hình như. Tôi không thể chịu được. Nhưng mà trách ai? Anh em người ta có việc của người ta. Mà dẫu tôi có hy sinh hay còn thì đối với mọi người có lẽ cũng thế thôi. Tôi đã mời được hai cậu đồng hương ấy về nhà chơi. Tôi cư xử với anh em theo đúng kiểu người Gia Rai. Lúc gặp anh em, tôi đóng kịch không đến nỗi kém. Vậy mà sau đó, chỉ có một mình với những kỷ niệm cũ, tôi không tài nào chịu nổi. Tôi như thằng tâm thần. Tôi nói dối ông già là được trên cử đi học hai tháng. Ông già bán con heo nái đang nuôi lấy tiền cho tôi, không hề nói gì. Thậm chí ông còn tỏ ra vui hơn thường ngày. Sau này tôi mới biết. Ông bảo lúc ấy ông đếm được trong đầu tôi nghĩ những mưu mẹo gì! Tôi chỉ nghĩ là đi chừng hai tháng. Tôi thèm biết tình hình vợ và hai em tôi, thèm được đi trên cánh đồng làng trong cảnh thanh bình quá! Rồi tôi vào, nhất định thế. Tôi không bỏ ông già và dân làng Plei-o-k của tôi được. Có lẽ như thế tôi sẽ yên tâm hơn phải không anh? Hôm ấy tôi đi sớm. Ra khỏi làng trời còn mù sương, ngoái lại chỉ thấy những đốm lửa nhập nhòe. Tôi vừa đi được một đoạn thì gặp mấy người xe bò đi bán củi - Tôi ngồi nhờ lên tới bến xe thì sáng. Tôi chỉ mặc độc một bộ đồ bộ đội. Rủi cho tôi mà cũng thật may cho tôi. Tôi lao vào xếp hàng mua vé. Chỉ còn hai người nữa đến lượt tôi thì cửa bán vé sập xuống. Hai chữ Hết Vé đập vào mặt tôi như một cái tát! Tôi bấm lòng chờ mua chuyến trưa. Tôi xếp đầu tiên và cố không nghĩ ngợi gì. Thời gian căng thẳng ấy rồi cũng qua. Cửa bán vé vừa mở tôi đã thọc tay, đưa tiền vào. Cô bán vé định bán thì một người nào đó, cũng từ phía trong phòng hỏi giấy. Tôi không có giấy tờ. Không có gì cả! Tôi bảo tôi là thương binh.Người ta hỏi: “Thế thẻ thương binh của bác đâu?”. Tôi đấm ngực: “Thẻ à? Tôi thế này mà cũng phải thẻ à?”. Người ta vẫn nhẹ nhàng: “Vâng, đã là thương binh thì phải có thẻ thương binh, bác ạ”. Tôi nuốt nỗi cay cực xuống ngực và cắm đầu quay ra đường. Tôi nằm vật trong một bụi cây. Ông già cõng tôi trở về. Thì ra ông đã đi theo tôi từ lúc nào không biết. Ông bảo tôi đi lọt thì cho đi, nhưng nếu không lọt nhất định có chuyện xấu! Ông già đắp lá rừng mát cho tôi. Có đến vài tháng tôi không được khỏe lắm, đêm nào cũng nằm mơ. Thậm chí cả lúc thức, cả ban ngày, ban mặt nữa! Khi thì thấy thằng em tôi vào. Rõ ràng nó đang đứng ngoài cửa xách cái cặp sách ngày xưa nó vẫn đi học. Tôi chạy ra thì nó biến đâu mất. Tôi quay vào chỗ cũ lại thấy nó xuất hiện. Tôi ngồi im nhìn và nó cũng đứng ngoài cửa nhìn tôi. Tôi quát lên: “Sao chú lại cứ đứng đó?”. “Em vào tìm anh”, nó nói nhẹ nhàng. “Không!”. Tôi bảo nó: “Chú về đi! Về lo công chuyện của chú đi. Anh không còn nữa đâu” - “Anh nói gì lạ vậy?”, nó nói “Anh vẫn còn sống. Hôm trước anh đã định về với chúng em kia mà”. “Không”, tôi bảo nó. “Chú nằm mơ đấy!” - “Chính anh đang tự dối mình”. Nó dám bảo tôi thế. “Anh không biết anh đang làm khổ chúng tôi, làm khổ chị ấy và chính bản thân anh nữa sao?” - “Trời ơi”, tôi bảo nó: “Chú được học rộng biết nhiều mà hiểu về anh hạn hẹp quá. Sao chú nỡ mắng anh như vậy? Nhưng anh hiểu, người ta có nhiều cách biểu hiện lòng thương yêu. Khóc là một kiểu và chú mắng anh cũng là một kiểu. Tuy vậy chú ạ, cứ coi như anh đã hy sinh rồi” - “Không được!”. Nó lạnh lùng đáp. “Anh còn sống, em biết. Và chính vì thế, anh đã làm khổ bao nhiêu người thân. Anh cứ tưởng lánh mặt đi như thế này họ sẽ được tự do sung sướng? Không! Anh phải nghĩ lại. Đất nước hòa bình thống nhất rồi. Và anh đã góp một phần xương máu vào sự nghiệp chung. Anh có điều kiện hưởng hạnh phúc. Anh cứ về với bọn em đi! Anh về với chị dâu của chúng em đi! “Này”, tôi  cũng phải ra vẻ cứng với nó. “Chú đừng nghĩ chú được học rộng biết nhiều mà hiểu thấu mọi nhẽ. Chú đừng mong tôi phải ân hận, phải nghĩ lại gì cả. Tôi đã làm đúng với ý nghĩ của tôi - mỗi con người được sinh ra, nếu chúng ta muốn thành người tốt, thì trước nhất, chú ạ, phải làm tròn bổn phận của mình. Và cũng không chỉ có thế. Chúng ta còn phải có trách nhiệm với người thân của mình nữa...”.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #112 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 10:12:33 pm »

                                             Tiếp :
Anh buông tay tôi, ngả người ra sau, tiếp:

- Tôi nói nhiều quá phải không anh. Có lẽ tôi say rồi. Cũng có lẽ quá lâu chưa có dịp uống rượu. Hôm nay vui quá. Thằng con tôi ra đời. Tôi đặt tên cháu là Rơ Lan Thực. Lúc anh vào tôi đang nằm nhớ cái đêm nguyệt thực gặp nhà tôi. Với lại tôi phải nghĩ cách giải thích thêm cho bà con hiểu. Xưa nay, mỗi lần nguyệt thực là dân làng phải dời đi nơi khác. Phong tục thế biết làm thế nào được? Nhưng từ khi tôi về, bà con đã nghe tôi và ở lại.

-  Có bao giờ anh kể chuyện ngoài Bắc cho chị nghe chưa? Tôi ngắt lời anh, hỏi:

- Có chứ! Lúc chưa cưới, tôi đã kể hết. Cô ấy khóc. Sau này thì thôi. Nói làm gì nữa? Chúng tôi đều là những người muốn có hạnh phúc. Nhiều lúc tôi cứ lẩn thẩn nhớ lại từng khuôn mặt những anh em đã hy sinh từ khi tôi vào tới lúc tôi bị thương. Rồi, có khi tôi mơ thấy anh em tụ họp về nhà tôi nghe tin tức trên đài, giống như hồi còn chiến tranh ấy. Bây giờ cái làm tôi sợ nhất là chiêm bao, mấy lần tôi thấy em gái tôi vào. Nó dẫn theo cả một đoàn cháu gái. Tôi mừng quá, reo lên. Nó thì đẩy vai tôi ra, nói: “Lúc nào anh cũng bảo anh đã hy sinh, đã là liệt sĩ! Thôi thì em tin. Nhưng sao anh là liệt sĩ mà chẳng phù hội em. Cháu của bác đây, bác xem lại đi, toàn cháu gái cả! Em sinh đến đứa thứ năm rồi mà vẫn con gái. Các chị nhắc em phải kế hoạch. Nhưng vợ chồng em muốn có một cháu trai quá, sao bác chả phù hộ vợ chồng em?”. Rồi lại cả vợ tôi nữa. Cô ấy cứ buông tóc xuống đất cho các cháu gái tha hồ mà chải. Tôi thu lại thì cô ấy bảo: “Sao cả tháng giời ăn ở với em, em muốn có con, anh lại gạt đi? Anh bảo anh không muốn em vất vả mang thai, sinh con khi vắng mặt anh. Bây giờ anh là liệt sĩ, anh có biết em sống vò võ một mình thế nào không? Anh bảo em đẹp ư? Trời đất, đẹp mà làm gì khi không có anh trên đời này nữa...”. Tôi nhìn vào mắt vợ tôi và cô ấy cũng nhìn tôi chằm chặp. Tôi bảo: Em hãy nhìn vào mắt anh đây. Hãy nhìn vào chân tay anh đây. Bàn tay anh không còn luồn vào tóc em được nữa. Môi anh cũng không còn bình thường để đặt lên đôi má lúc nào cũng như rắc phấn của em đượcnữa. Có thể anh nghĩ thế nào thì làm như thế. Tổ quốc đối với anh là em, là bà con xóm làng mình. Nhưng lại không phải chỉ có thế. Tổ quốc còn là ông già  Gia Rai đã cứu sống anh. Còn là bà con dân làng Plei-o-k này nữa”.

Bỗng anh sực ngửng lên, nhìn tôi:

- Tôi đang nói chuyện gì với anh? Có lẽ thần kinh tôi yếu rồi. Lắm lúc tôi cứ phải hoặc cắn vào cánh tay mình một cái rõ đau. Hoặc đá vào cái gì đó để biết mình đang tỉnh hay nằm mê. Thế đấy. Nhưng với anh là đồng đội, chúng mình đã hiểu nhau. Anh ạ, thoạt đầu, khi quyết định ở lại đây, tôi không hề có ý định lấy vợ nữa. Tôi ở với ông già cả chục năm. Tôi cùng đội du kích chế mìn đánh  giặc được dăm trận. Ông già là người lính già nhất trong đội du kích xã. Năm kia ông ốm nặng qua đời. Cô út về chăm sóc và chịu tang. Chúng tôi lo cho cụ chu đáo đúng theo phong tục của người Gia Rai. Sau đó tôi mới biết cô ấy cũng đã có chồng và chồng cô cũng là liệt sĩ. Vâng, thế rồi như định mệnh, chúng tôi yêu nhau. Dân làng hết lòng vun quén cho chúng tôi. Rồi tôi được vào Đảng. Đúng hơn, tôi được chi bộ và Đảng ủy xét duyệt cho sinh hoạt lại. Cũng may cho tôi. Đồng chí bí thư đảng ủy xã biết rõ tôi là chính trị viên đại đội. Hồi ấy đơn vị tôi đánh hợp đồng với du kích luôn. Trường hợp bị thương của tôi đồng chí ấy biết. Bây giờ tôi phụ trách công tác thông tin văn hóa xã.

Anh ngả hẳn người vào vai tôi ngước nhìn trăng rồi lại thì thầm:

- Vừa rồi tôi đã nói những gì với anh, tôi không nhớ nữa. Có lẽ tôi say. Nhưng đêm nay vui quá. Suốt cả ngày dân làng tới mừng vợ chồng tôi. Thằng con tôi sẽ xóa đi mọi cực nhọc cho tôi: Anh nên nhớ rằng, tôi không có ý định thay đổi lại cuộc sống. Chỉ có một điều, anh có điều kiện khi nào về quê tôi chơi, thăm dò giúp tình hình vợ và hai em tôi. Nhưng bằng cách nào cũng không được để lộ ra là tôi còn sống. Tất nhiên, tôi tin anh. Chúng mình sẽ thư từ cho nhau. Để mai tôi ghi địa chỉ cho anh.

Và anh nằm gối đầu lên bậc thềm ngủ. Anh ngủ ngon lành như không phải vừa rồi đã nói ra những điều sâu kín của đời mình.

* * *

Sau chuyến công tác ấy, tôi thu xếp xuống miền quê anh ngay. Lân la trò chuyện với bà con xã viên, tôi được biết chị vợ anh, năm 1970 đã nhận được tin chồng hy sinh. Người ta kể rằng, chi đã gần như chết đi sống lại nhiều lần. Nhưng cũng như nhiều chị em cùng hoàn cảnh khác, chị đã vượt qua. Sau đó chị được trên cử đi học đại học nông nghiệp tại chức. Năm 1975 tốt nghiệp, chị nhận công tác trên phòng nông nghiệp huyện. Năm 1977, chị “đi bước nữa”. Chồng chị cũng là bộ đội chuyển ngành. Họ đã có một cháu trai. Người ta cho biết, anh là một người rất hiền lành, rất chu đáo với vợ con. Họ sống khá yên ổn. Nhưng với người chồng cũ của chị, mỗi lần xóm làng nhắc tới anh đề tỏ lòng vô cùng yêu mến và thương tiếc. Tôi còn biết thêm em trai của anh đi học ở nước ngoài đã về nước. Hiện nay anh là cán bộ trong một viện nghiên cứu khoa học nào đó ở Hà Nội. Còn cô em gái anh cũng có ba cháu, hai trai, một gái.

Sau khi rời quê anh, tôi ghé vào phòng nông nghiệp huyện, cố tìm gặp được chị. Nhưng anh chị đã lại đang nghỉ phép về quê nội. Tôi áy náy mãi. Nhưng dẫu sau điều gì cần biết về chị tôi đã biết rồi. Và tôi đã viết thư cho anh. Tôi chân thành nói với anh rằng: Quyết định của anh để sống mãi ở cái làng Plây-o-K, thật ra, tôi vẫn chưa thấy đó là một điều thật đúng. Nhưng dẫu sao tôi đã ghi nhận được ở anh một điều gì đó thật sâu xa, thật cao đẹp của người chiến sĩ.

1981

T.T. Đ
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #113 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 10:26:01 pm »

                                 Một quãng đời và cả cuộc đời    
                                 Tác giả : Phạm Duy Tương

Thế là xong! Ký xoẹt một cái, tôi quẳng chiếc bút xuống mặt bàn. Ðứng dậy, nhìn bản như nhìn một công trình khó nhọc, bám riết lấy tôi, hút máu thịt tôi, nay đã được hoàn thành, đã ra khỏi cơ thể của mình. Nó không thuộc về tôi nữa.
Cũng như người đàn bà nhỏ bé đang run rẩy như chiếc bút tôi vừa bỏ xuống, bây giờ đã trở thành người dưng nước lã. Tôi hơi buồn cười với ý nghĩ chua chát nảy lên trong đầu: cô nàng xanh xao kia mới đây là của tôi đấy nhỉ?

Bà thẩm phán dán mắt vào bàn tay lóng ngóng của cô ta, mãi không cầm được cây bút cho vừa ý, chợt dịu giọng hỏi:

- Cô có điều gì băn khoăn nữa không?

- Dạ... không ạ - Cô ta khẽ lắc đầu.

- Cô hoàn toàn đồng ý cho đứa con về sống với ba nó chứ?

- Dạ... - Cô ta thoáng giật mình, khuôn mặt gầy gò biến sắc, tái mét và run bắn lên. Ngòi bút vừa chạm tờ giấy vội rụt lại.

Bà thẩm phán đặt tay lên một góc tờ giấy. Bà ta làm gì thế nhỉ? Tôi nhăn mặt, sốt ruột. Hai ngày qua, chúng tôi đã trả lời cả một loạt câu hỏi rồi. Chúng tôi không thể sống với nhau bởi giữa chúng tôi không còn tình yêu. Cô ta đã phản bội tôi. Hai năm qua tôi ở chiến trường, cô ta đã to bụng với một tay lái máy cày nào đó. Tôi cũng chưa biết mặt. Cái thai đã bị sẩy, lạy trời! Trước khi lấy nhau chúng tôi đã giao ước với nhau về trường hợp này. Tôi không còn muốn nhìn thấy cô ta, nghe thấy cô ta, thậm chí cảm thấy cô ta ở bên cạnh. Vậy sống với nhau thế nào được! Nghe nói cái anh lái máy cày kia, đến làng tôi làm và xin nghỉ trong một gian xép của nhà trường, nơi vợ tôi dạy học và vợ tôi đã chung chạ với anh ta...

Tôi với anh trai cô ta ở chung một đơn vị gắn bó với nhau mười mấy năm trời và chính anh đã giới thiệu em gái cho tôi. Hôm tôi về phép nhằm bữa đơn vị báo động luyện tập phương án chiến đấu, anh kéo tôi ra một đoạn vắng, dựa súng vào vách hào nói chuyện. Trước sự việc tệ hại, anh và tôi đều cảm thấy khó xử. Dù biết không hề có lỗi, thâm tâm chúng tôi vẫn trách móc lẫn nhau.

Anh nhấc hai khẩu súng dằn mạnh sang bên, khẽ chạm vào tay tôi, nói:

- Tôi biết chú sẽ giải quyết như thế nào rồi. Tôi hoàn toàn đồng ý.

- Mong anh hiểu cho - Tôi nặng nề nói, tôi có tính xấu là cố chấp. Bởi cố chấp nên đã muộn vợ và có lẽ suốt đời phải chịu cô đơn.

- Cố chấp chưa hẳn là xấu - Anh tiếp lời ngay, người lính không thể cúi đầu chịu đựng tất cả mọi thứ rác rưởi của xã hội. Tiền tuyến không phải là cái bãi phế thải của hậu phương - Giọng anh gay gắt bất ngờ rồi dường như nhớ đang đứng ở đâu, nét mặt giãn ra cởi mở - Dù thế nào cũng đến thăm mẹ tôi chốc lát nhé.

Ðến lượt tôi cảm thấy bối rối. Anh vừa vượt qua cương vị người anh vợ thẳng thắn trở về người đồng đội. Tôi xúc động hứa với anh là sẽ tới.

Ðêm tháng năm, chẳng mấy chốc đã sang canh, bà con anh em vê từ lâu tôi vẫn ngồi bên bàn. Sờ ấm nước thấy hết, tôi bấm đèn pin xuống bếp, bắt gặp cô ta ngồi thu lu trong ngách nhà. Cô ta nhìn tôi rất nhanh, hoảng hốt co chân về tránh đường cho tôi và cúi gằm mặt giấu vào hai đầu gối. Múc xong bát nước, tôi đã toan bước đi nhưng nghĩ sao lại dừng lại. Cô ta ngửng lên lí nhí hỏi:

- Anh sẽ bỏ em phải không?

Câu hỏi thật thẳng thừng và nếu không thẳng thừng như thế chắc tôi sẽ không trả lời.

- Chính Lệ cũng biết cần phải như thế nào rồi đấy!

- Anh ngồi xuống đây - Cô ta cất giọng nhẹ nhàng. Trong ánh đèn sáng rực, tôi thấy cô ta gầy đi rất nhiều. Khuôn mặt dịu dàng, đằm thắm giờ đọng đầy vẻ thảng thốt, dằn vặt. Tôi cảm thấy ghê tởm nhưng vẫn ngồi xuống với tay tắt đèn.

Cô ta trao cho tôi chiếc ghế con. Tôi chạm phải một bàn tay giá lạnh và tiếng nói trong hơi thở hổn hển. - Em muốn xin anh đừng bỏ em.

Tôi nhăn mặt phản đối nhưng nhận ra bóng đêm đang trùm kín, bèn giương mắt nhìn thẳng ra phía trước với thâm ý tò mò độc ác.

Khuôn mặt nhờ nhờ trắng đang dịch lại gần tôi, một bàn tay mềm nhũn chạm vào đầu gối. Tôi hất ngay xuống, hình như có một tiếng kêu cố nén lại:

- Anh cứ khinh bỉ em, nhưng xin anh nghĩ coi, suốt bốn năm lấy nhau anh ỏ với em được mấy ngày - Cô ta đã lùi ra xa, không còn nhìn thấy cái vệt trắng nhờ nhờ trước mặt, chỉ nghe tiếng nói thảng thốt như hơi thở hấp hối của bóng đêm sâu thẳm. Tiếng rên rỉ ngắt quãng nhưng vẫn khá mượt mà - Em biết anh rất kiên quyết, khó lòng lay chuyển nhưng vẫn cầu xin theo sự thôi thúc của trái tim. Nếu anh không chấp thuận lời cầu xin của em thì cũng mong anh hiểu cho dù hư hỏng, dù đáng tội nhưng trái tim em luôn luôn hướng về anh. Cả khi, cả khi... thể xác em phản bội anh - Cô ta nói nhanh và bỗng bật khóc. Tiếng khóc cố nén nghe tức tưởi - Em khổ sở nhục nhã lắm anh ơi. Lúc em không giữ gìn được là lúc em không thể nào giữ được, cho nên em nhận thức đầy đủ sự nhục nhã ê chề của nó. Mà anh, sao anh chẳng đoái hoài giúp đỡ em một chút gọi là... - Tiếng khóc làm cho lời nói trở thành rên rỉ nghẹn lại.

Tôi bắc chân lên ghế:

- Ở chiến trường tôi cũng chỉ biết ôm lấy khẩu súng mà nhớ tới cô, xây đắp hạnh phúc bằng tưởng tượng.

- Em biết - Sợi dây đàn ngỡ đã đứt rồi lại rung lên não nề - Anh là đàn ông, anh có biết bao nhiêu chuyện vui để khuây khỏa. Anh còn có đông đúc bạn bè, được ngẩng đầu lên kiêu hãnh. Còn em, thui thủi như một cái bóng. Hàng ngày đâu có dám nhìn ai. Ði trên đường gặp ánh mắt bất ngờ đều phải cúi xuống, lẩn tránh cả ánh mắt của người thân. Xây đắp hạnh phúc bằng niềm hy vọng chờ đợi mỏng manh đôi lúc tưởng như hão huyền. Và đứa con...

Tôi thở hắt ra, lạnh lùng cắt ngang:

- Ðứa con là của tôi, không còn của cô.

Hai bàn tay gầy giá lạnh chộp lấy đầy gối của tôi, run lên bần bật. Tôi hất mạnh đầu gối, đứng dậy. Tôi ngửa cổ uống một hơi cạn sạch bát nước còn nguyên trên tay và thô bạo hắt chút cặn cuối cùng vào bóng đêm ngoài cửa.

- Cô cứ vào giường mà ngủ. Ðứa con của tôi để nó ngủ với bà - Tôi nói vọng lại khoảng tối đen, trống rỗng sau lưng, kiên quyết bước tới bên bàn.

Một lúc mẹ tôi bế đứa cháu ra rồi ngồi đối diện với tôi, chếch bên tay trái. Im lặng hồi lâu, mẹ rụt rè nhìn tôi, hỏi:

- Con định thế nào?

Tôi cúi xuống bối rối không tìm được câu trả lời. Mẹ nhấc bàn tay rơi thõng của đứa cháu xếp vào lòng.

- Chuyện của con tùy con - Giọng mẹ buồn rầu nhưng rất bình tĩnh, riết róng của một cuộc đời nhiều vất vả, khổ đau: Chồng mất sớm, một mình nuôi dạy ba đứa con. Họ hàng anh em thì cũng người nói thế này, người nói thế khác. Riêng mẹ không chấp nhận thứ gái lăng loàn.

Tôi ngước lên, lén nhìn khuôn mặt khô héo nhưng cương nghị của mẹ. Ðôi mắt mẹ đang nhìn vào cõi tâm tưởng thăm thẳm trong cuộc đời đầy khúc khuỷu của mình. Khi mẹ dùng hai tiếng lăng loàn đúng như ý nghĩ của tôi lúc nãy, lòng tôi dâng lên một niềm vui chua xót.

- Vợ của con lăng chứ không loàn.

Như thể đọc được ý nghĩ của tôi, mẹ cắt ngang - Nó ăn ở biết điều. bà con xóm giềng có công việc gì đều chạy đi chạy về, chân tay nhanh nhẹn, nói năng dễ nghe, ai cũng quý - Mẹ quay lại nhổ nước trầu vào chân phên - Dạo đầu năm, mẹ ốm phải nằm bệnh viện hơn tháng, nhờ tay nó cơm nước, thuốc men mới khỏi đấy chứ. Nhiều đêm thức trắng ngồi quạt cho mẹ. Không có nó mẹ khó lòng qua khỏi...

Lờ mờ đoán ra mục đích của mẹ, tôi vội chen ngang.

- Cô ta si mê máy cày thì phải để cô ta đi theo máy cày mẹ ạ.

- Nói dại! Nó si mê nhưng đâu có ham muốn gì thằng đó?

- Mẹ mà lại nói như thế - Tôi vùng vằng xoay người chống tay lên bàn. Cảm thấy nặng nề trước ánh mắt đau đớn, bất lực của mẹ, lòng căm giận trong tôi bùng lên - Con còn phải đi xa, hạnh phúc không thể bảo đảm với một người vợ như thế.

Mẹ trở tay ủ đứa cháu đang ngủ say. Giọng vẫn bình tĩnh thủ thỉ:

- Con phải nghĩ đến em con nữa chứ. Anh mà bỏ vợ thì con gái trong làng đứa nào dám lấy em của con.

- Không phải. Con phải ly dị với cô ta thì hàng xóm mới hiểu và tôn trọng anh em chúng con.

- Tùy con - Mẹ thở dài.

Tôi cố mỉm cười;

- Con sẽ kiếm cho mẹ một đứa con dâu hiền thảo, nết na hơn hẳn cô ta. Ðất mình có thiếu gì người tốt hở mẹ?

Mẹ tôi lại thở dài.

Ðêm ấy, tôi không ngủ. Sáng sớm, tôi đến thăm mẹ cô ta, lòng trĩu nặng u buồn, ngượng ngùng như kẻ có lỗi. Mới hai năm mà bà cụ già yếu rất nhiều. Ði đã phải chống gậy. Lập cập cố bước nhanh, bà nắm chặt lấy cánh tay tôi và cứ đứng im giữa sân, mãi không nói được một lời nào. Rồi như chợt tỉnh, bà cuống quít hỏi thăm sức khỏe của tôi, của con trai, chuyện đi đường. Tôi cũng vội vã trả lời, còn kể lể hơn những gì bà cụ hỏi. Thỉnh thoảng còn cố cười lên, cố tình quên đi một người con gái ở giữa chúng tôi. Nhưng càng nói cười, lòng tôi càng tan nát và thấy rõ bà cụ còn đau đớn hơn. Cuối cùng không chịu nổi tôi đứng dậy xin phép ra về. Bấy giờ bà cụ chợt òa lên khóc nức nở!

- Mẹ có lỗi với anh - Bà cụ mếu máo - Anh tha lỗi cho mẹ.

Tim tôi run lên. Trong một thoáng, tôi đã định nắm lấy bàn tay nhăn nheo đang tựa trên đầu gậy mà nói: 'Ðừng gọi con bằng anh, con vẫn là con của mẹ' nhưng cổ họng tôi ứ nghẹn.

- Trưa nay anh ở đây ăn cơm với mẹ nhé - Bà cụ run run hỏi.

- Xin mẹ để hôm khác - Nói rồi tôi quả quyết bước nhanh ra cửa.

Từ hôm tôi về, những bữa ăn ở gia đình tôi rất nặng nề. Hoặc ăn trước, hoặc đi chơi cho quá bữa, tôi không chịu ngồi ăn chung mâm cơm với cô ta. Nếu ăn trước, tôi thấy mẹ để dành cơm cho cô ta trong một chiếc liễn sứ khá đẹp, thức ăn có phần tươi. Tôi không nói gì càng thêm kiên quyết ý định đẩy nhanh cô ta ra khỏi nhà.

Tôi tìm mua một cuốn luật hôn nhân và gia đình rồi cắm cúi viết đơn ly dị.

Tôi đưa lá đơn cho cô ta. Cô ta đọc lại nhiều lần, không nhìn tôi, khàn giọng hỏi:

- Con để cho anh à? - Rồi nói tiếp - Anh ở nhà ít bữa lại ra đi. Hay là... để con cho em nuôi?

- Không được... - Tôi lạnh lùng gạt đi, cắm đầu bút chì vào tờ giấy - về tài sản tôi còn để trống. Cô muốn lấy gì ở ngôi nhà này thì cứ ghi vào.

Cô ta mắm môi ký phăng một nhát, đẩy sang cho tôi, không viết thêm chữ nào. Từ hôm ấy cô ta xin về ở bên nhà mẹ đẻ.

Cô ta rất muốn đứa con, tôi biết thế, nên kiên quyết giữ lấy. Bà thẩm phán rõ cũng muốn bênh vực cô ta nhưng làm thế nào được, pháp luật đứng về phía tôi. Bởi vậy, khi cô ta đặt bút xuống tờ giấy, bà ta còn hỏi về đứa con, làm chiếc bút nảy lên, tôi mới bực mình.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #114 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 10:45:53 pm »

                                       Tiếp :

- Ký đi, còn đợi gì nữa - Tôi tàn nhẫn nói.

Cô ta từ từ hạ bút nắn nót một dòng đầy đủ họ tên và đệm. Cái vẻ tỉ mỉ của kẻ vô công rồi nghề ngồi giết thời gian!

Nhưng rồi cũng xong. Bà thẩm phán đống sập ngăn kéo. Chà! Từ nay hai ta là người dưng nước lã nhé! Có một chút tiêng tiếc nhưng tôi gạt ngay, cúi chào bà thẩm phán và bước đến quán phở gần đó.

Từ quán phở quay ra thì trời đã gần trưa. Nắng như thiêu như đốt. Mùa hè, ở quê tôi, cây cối đều khô héo. Ðứng trên đường, nhìn bốn xung quanh, hút tầm mắt nhức nhối một màu bạc phếch, nghèo đói. Nghĩ đến hơn chục cây số trong quang cảnh trơ trụi giữa nắng trưa tôi thây ngao ngán, ước có một chỗ quen biết để trú chân đợi chiều xuống. Nhưng không có. Tôi sinh ra ở quê mình lớn lên ở quê người, ngoài cái làng chôn rau cắt rốn tôi là người xa lạ, lạc lõng. Cô ta có mấy nhà bà con quanh đây thì từ nay đâu còn bà con của tôi!

Ra khỏi thị trấn chừng hai cây số. Tôi chợt thấy bên vệ đường, cô ta đang cúi đầu bước lủi thủi. Chiếc nón lá che sụp nửa mặt. Lưng áo gầy sọp, nhưng vẫn còn rõ những đường nét thanh tú, duyên dáng. Hồi sáng, cô ta đi lên thị trấn bằng cách nào nhỉ? Tôi chợt cảm thấy ngỡ ngàng trước sự vô tâm, xa cách của mình. Có lẽ nên cho cô ta đi nhờ một đoạn. ý nghĩ tinh nghịch của lòng trắc ẩn vụt đến. Tôi phanh kít chiếc xe đạp sát bên cô ta, mỉm cười:

-Cô đi nhờ không?

Cô ta giật bắn người, hai nét lông mày đậm cau lại rất nhanh. Nhận ra tôi, cô ta không nói gì, lẳng lặng lách người, định bước tiếp.

-Cô lên xe. Tôi đèo giúp nào! -Thấy cô ta chần chừ, tôi hạ giọng - Nắng nôi thế này gặp người cả đời không quen biết cũng cho đi huống hồ chúng ta là người lạ đã quen mặt.

Một cái cười khô héo trên khuôn mặt nhợt nhạt:

-Vâng. Cảm ơn anh!

Tôi bất ngờ nhận thấy cô ta nhẹ xọp đi nhiều quá, khác hẳn ngày trước.

Sau một hồi im lặng, Lệ hỏi nhỏ:

-Bao giờ anh đi?

-Một tháng nữa.

-Chắc... Tiếng nói vừa bật ra lập tức bị bóp nghẹt lại. Tôi hiểu Lệ định nói gì.

-Không! - Tôi cố giữ vẻ thản nhiên cất tiếng cười giòn giã, biết rằng mỗi tiếng cười sẽ là một mũi kim ngập sâu vào trái tim đang rớm máu của cô ta - Vừa bỏ người này làm sao đã có thể lấy ngay người khác!

Tôi vừa dứt lời nói độc địa, cảm thấy có bàn tay định bấu vào lưng áo nhưng rụt lại. Chiếc xe chợt chao nghiêng và cô ta ngã chúi xuống nền đường. Tôi kịp chống hai chân, ngoảnh nhìn... Cô ta lồm cồm bò dậy, người không việc gì, chỉ ngón chân cái bị toé máu. Cô luống cuống nhìn quanh, nét mặt thoáng đanh lại, hai bàn tay thoăn thoắt mở chiếc quai nón buộc vết thương. Tôi nhớ đúng đoạn đường này, có một lần cô ta cũng vấp phải một hòn đá. Tôi đã xé áo lót buộc cho cô. Sự phản bội tàn phá đi tất cả rồi. Nó đã tiêu diêt hết mọi lòng tốt, làm chai sạn cảm giác thương xót đối với cô ta mà hình như có tồn tại trong lương tâm tôi. Tôi thờ ơ đứng dạng hai chân giữ chiếc xe đạp. Cô ta lúc ấy đã đầm đìa mồ hôi, thậm chí tôi đã định nhấn bàn đạp bỏ mặc cô ta ở lại một mình với vết thương.

Ðến lối rẽ vào nhà cô ta, từ đấy về nhà tôi còn hơn hai cây số nữa. Tôi đạp chậm, cô ta nhảy xuống thảng thốt, nói với theo:

-Cảm ơn anh!

Tội không trả lời, không ngoảnh lại, rướn người trên xe. Chợt có tiếng đổ uỵch phía sau, tôi liếc thấy cô ta ngồi bệt xuống bên đường, úp mặt vào nón khóc hu hu. Tiếng khóc ấm ức, tủi thẹn, bị kìm nén bao lâu, nay phá lồng ngực ùa ra như lũ vỡ đê quét phăng sự yên tĩnh. Ðó là tiếng kêu gào của tình thế tuyệt vọng. Buổi trưa hè ngột ngạt, lờ đờ bị xáo trộn lên, réo sôi trong tiếng khóc xé lóng ấy. Ði một quãng xa, vì chiều gió hay vì tâm tưởng, tôi vẫn nghe tiếng khóc văng vẳng bên tai như tiếng kêu gọi, níu kéo.

Sau này nhiều người hỏi, lúc ấy trong lòng tôi xảy ra điều gì? Sự mềm yếu hay dằn vặt, luyến tiếc hay run sợ, anh hùng, hèn nhát, nghĩ đến mẹ hay nghĩ đến con, thương cô ta hay thương mình? Không có điều gì xảy ra nhưng cũng có thể đã xảy ra tất cả những điều đó. Tâm linh hay một cái gì na ná như thế đã thôi thúc tôi quay xe trở lại. Tôi dừng trước mặt Lệ, hắng giọng mấy lần, tiếng nói nghe vẫn lạc đi.

- Sao lại ngồi giữa đường. Về nhà đi.

Khuôn mặt chan hòa nước mắt trắng bệch ra ngửng lên, cặp lông mày xanh đậm rung rung. Ðôi mắt mở to ngơ ngác. Ðôi mắt chớp mạnh. Cô nhón chân xoay lưng lại phía tôi. Ðôi vai nhỏ rung lên từng hồi. Tôi chợt nhận ra cô đang mặc chiếc áo xanh Sĩ Lâm. Tấm vải tôi gửi cho Lệ nhân dịp sinh con. áo may đã lâu nhưng chỉ những dịp đặc biệt đi với tôi, Lệ mới mặc nên trông còn như mới. Tôi đứng thừ người hồi lâu. Nhìn ngược, nhìn xuôi, hai phía con đường đều vắng ngắt. Trên cánh đồng cằn cỗi không một sinh linh, đất trời bao la và quạnh quẽ quá. Bất giác tôi thở dài:

- Thôi lên xe, ta về!

Chợt hiểu mình vừa thốt ra một lời ghê gớm như thế nào, tôi định bỏ chạy thì Lệ đã vùng dậy đứng chắn trước bánh xe. Mái tóc xù ra, đôi môi mím chặt, chiếc nón che kín ngực. Cô ngửng cao đầu phóng thẳng vào tôi luồng mắt căm thù, cay cú điên dại. ánh mắt gườm gườm với một vành trắng dưới hàng mi vẻ khiêu khích, tàn nhẫn, nghiệt ngã. Cô thở hổn hển, chiếc nón trên ngực phập phồng nặng nề. Cơn giận dữ chất chứa của một trái tim mạnh mẽ lâm vào cảnh cùng quẫn, một tâm hồn đầy kiêu hãnh đòi hỏi sự đối xử công bằng, cơn giận dữ bột phát bùng lên ở thời điểm tận cùng tuyệt vọng. Cô biến đổi hẳn đi. Như một người khi quyết định bước vào cửa tử, cái chết cũng coi thường nên không còn có gì để sợ. Khuôn mặt nhỏ nhắn ngời sáng một tình yêu mãnh liệt trần trụi, không che giấu đang đốt cháy đỏ rực đôi má vẻ trinh nguyên. Vầng trán phẳng sau mái tóc xõa xuống trông như cẩm thạch và đôi môi đang mím chặt cay nghiệt vẫn tươi rói nỗi khát khao cuộc sống bình yên. Ðôi môi đau đớn cong lên và quả quyết:

- Anh cần gì ở tôi nữa. Ðến thế này anh vẫn chưa thỏa lòng hay sao? Anh độc ác lắm. Anh về phép mà chỉ lao theo trả thù cho hả dạ! Vậy thì nếu muốn anh cứ giết tôi đi. Ðừng cho tôi nhìn thấy anh, nghe thấy anh, đừng cho tôi thầm thì nhắc tên anh trong những đêm hoang vắng. Anh cứ dày xéo lên tôi, nhưng cầu xin anh đừng nhạo báng, giễu cợt thân phận đau khổ này. Cứ nguyền rủa nhưng xin đừng bóp nghẹt trái tim tội lỗi vì cô đơn. Dù sao, tôi cũng không xa lạ với anh cơ mà!

Tôi hạ chân xe về phía trước. Lẳng lặng cầm lấy chiếc nón không còn quai trong tay Lệ và nhoáng cái bóp nát, vò thành một cục vung cánh ném ra xa. Lệ đứng im không nhúc nhích, đôi vai buông xuôi. Trong tư thế đó có cái gì thách thức, liều lĩnh. Ðột ngột, cô dang hai tay lao đến vòng lấy cổ tôi, toàn thân đổ xuống mềm nhũn, nóng bỏng. Tôi hoang mang chưa kịp phản ứng thì Lệ đã lại vùng ra, trân trân nhìn tôi. ánh mắt ráo hoảnh có chiều sợ hãi. Nụ cười ngập ngừng và hai cánh mũi phập phồng. Dường như Lệ định nói một câu gì đó hoặc bỏ chạy nhưng không đủ sức.

Tôi đưa tay nắm bàn tay Lệ. Cô run bắn lên. Ðôi mắt mệt mỏi khép lại và hai bên khóe mắt từ từ ứa ra hai giọt nước long lanh, chói lóe ánh nắng. Tôi kéo cô lại gần.

Lệ dụi đầu vào ngực tôi thổn thức.

Tôi vuốt nhẹ mái tóc Lệ, muốn an ủi, dỗ dành. Thôi! Lệ đừng khóc nữa! Chúng ta đã tìm thấy nhau rồi mà. Trong đám sương mù dày đặc trên cõi đời này, nhấn chìm biết bao kiếp người nhỏ bé, đơn côi. Tôi và Lệ đã lạc nhau và phải chăng đã lại tìm thấy nhau, tìm được số phận của chính mình? Chao ôi, mất mát thiệt thòi đâu phải là cái chết. Quên lãng, chia lìa mới là cái chết. Trong khoảng khắc, tôi nhìn thấy những khuôn mặt thân thương: Hai bà mẹ, người anh và đứa con, những cuộc đời cực khổ, đói nghèo không còn ly tán vì tôi.

Một làn mây trôi ngang, lơ lửng giữa bầu trời. Không gian chợt mát dịu. Chặng đường trước mặt trải rộng ra, hun hút xanh.

Phạm Duy Tương
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #115 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 10:17:53 pm »

                          LỜI CHÀO QUÁ KHỨ
                          Tác giả : Trung Trung Đỉnh

LỜI TÁC GIẢ:Cái ngày đầu tiên tôi được làm bố quả có nhiều điều kỳ diệu, nhất lại là đúng lúc giao thừa của năm Giáp Tý, khi pháo nổ đón năm mới vừa đồng loạt vang lên thì cũng là lúc con gái tôi cất tiếng khóc chào đời và tôi sung sướng đến quáng quàng. Tôi nhớ tôi đạp chiếc xe đạp đã xịt lốp từ Bệnh viện 108 về đến nhà cứ như đang bay trên không trung!...

Phút giây hạnh phúc nhất đời ấy được những ly rượu thơm bạn bè cùng khu tập thể đến mừng đã kích thích tôi và tôi đã nằm phủ phục trên giường viết thiên truyện ngắn này. Một thiên truyện ngắn cũng có nhiều điều kỳ diệu bởi chính nó đã giúp tôi vượt ra khỏi những ám ảnh nặng nề của những ngày sau chiến tranh. Tôi luôn luôn có ý nghĩ mình được hưởng niềm hạnh phúc quá lớn trong khi đó, đồng đội mình, nhiều người cứ gặp hết bất trắc này đến tai ương kia. Tôi nhớ đến các chị các anh ở đơn vị cũ và tôi viết như viết  trong trạng thái say ký ức.  Tôi không tự chủ được ngòi bút của mình. Thiên truyện tự nó được viết ra như nó đã có sẵn trong tôi từ hồi nào, giờ đây chỉ việc trào ra...
                                                                                  Trung Trung đỉnh

Thực ra câu chuyện không phức tạp như những lời đồn đại mà nó giản đơn tới mức không ngờ. Người đời chẳng còn bày vẽ gì được hơn, khi mà trong thực tế cũng chỉ tưởng tượng được tới mức đó. Chị nói với tôi. Một khi có chuyện gì xảy ra, người ta kháo nhau. Lúc đầu cố gắng sao cho đúng với sự thật, nhưng phải có chút ly kỳ, nghĩa là sao cho hấp dẫn. Và thế là người ta bắt đầu thêm thắt! Cuối cùng sự thật chẳng còn là sự thật, đến nỗi chính người trong cuộc cũng không nhận ra…
Chị, người mà tôi được nghe tên, nghe tiếng cả những điều hay lẫn không hay từ hồi trong rừng Tây Nguyên đánh Mỹ. Rồi tên chị, những tai tiếng về chị dần dần được lãng quên có tới hơn chục năm nay. Thời gian sau giải phóng, qua nhiều đợt công tác trở lại đơn vị, tôi luôn hỏi thăm nhưng cũng chỉ được nghe, hoặc, ừ nhỉ, không hiểu rồi người ta có biết trường hợp ấy thế nào? Hoặc, chắc là không phải như dư luận. Nhưng bây giờ làm sao biết được cụ thể kia chứ. Nói chung những câu hỏi lại chỉ được trả lời bằng những câu hỏi…
Thế mà, bỗng dưng đêm nay, đúng lúc giao thừa, cái thời khắc chuyển giao độc đáo của thời gian ấy, giữa lúc cháu gái, con đầu của tôi ra đời, tôi không hề nghĩ tới chị thì lại được gặp. Cũng thật độc đáo, chính chị đuổi tôi, bảo tôi vô duyên. Rằng đàn ông đàn ang gì mà không biết mắc cỡ. Rằng cái nhà anh này sao cứ để nhắc miết miết.
Quả tôi có lì, không chịu nghe lời nhắc của chị sau lúc dìu nhà tôi từ trên xích lô vào phòng đẻ. Tôi cứ muốn đứng ngay bên bàn đẻ để cùng chịu cái đau đớn của nhà tôi, cũng như mọi người chồng khác khi vợ mình mới sinh con đầu lòng. Tôi cho rằng việc chị mắng tôi không phải vì thái độ phục vụ kém. Đến lúc không thể nói nhỏ với nhau được thì phải hét lên. Thế thôi. Còn cái sự lì lợm của tôi cũng tự nhiên thế. Chẳng lẽ chị lại mắng tôi thật? Và chẳng lẽ tôi lại thiếu tự trọng tới mức ấy? Thế nhưng, sau khi nghe tiếng cháu khóc trong buồng đẻ và tiếng nựng cháu của chị, tôi không thể tự kiềm chế mình. Cứ muốn reo to. Cứ muốn đi lại. Cứ muốn phóng ngay về nhà báo tin cho mọi người. Cứ muốn nhào vô buồng đẻ ôm ghì lấy mẹ cháu, ôm ghì lấy chị. Gặp ai đi qua hành lang bệnh viện tôi cũng toét miệng ra cười. Tôi không còn chú ý gì nữa ngoài tiếng khóc oa oa thiêng liêng ấy. Tôi dán mắt, dán tai vào kẽ hở trên cánh cửa ra vào buồng đẻ, nghe trộm, nhìn trộm. Tôi nghe rõ tiếng reo nhỏ của chị: “A, cái mũ giải phóng con đã ra đây rồi!”. Chắc chị này có ở Tây Nguyên? Rõ ràng khi nãy chị mắng tôi: “Sao cứ để nhắc miết miết?”. Những câu ấy chỉ cánh lính Tây Nguyên chúng tôi hay nói. Và chính những lời ấy khiến tôi nhận được tín hiệu và tôi nơm nớp mong chị làm xong công việc. Mong chị bước ra để hỏi “cái mũ giải phóng của tôi là gái hay trai?”.
Chị ôm cháu khẽ nghiêng người lách khỏi cửa. Tôi xáp lại:
- Cháu trai hay gái, chị?
- Gái. Mà anh vẫn đứng đây à?
Tôi cười trừ:
- Vâng ạ. Cám ơn chị.
Chị bước nhanh trên hành lang. Tôi xoải cẳng bước theo, cố nhìn cho được mặt cháu. Hình như chị bước nhanh hơn.
- Anh về đi!
Tôi rụt rè “vâng” và thẫn thờ dừng lại. Phải mười phút sau chị mới ra khỏi phòng trẻ sơ sinh. Tôi mạnh dạn tới bên:
- Chúc chị…năm mới….,
Chị bật cười nhỏ:
- Thôi, chú về đi. Mọi việc êm thấm rồi.
- Nhưng….tôi muốn hỏi thăm chị…
- Ủa - chị vẫn nghiêm khắc - Cái nhà anh này! Tôi đã nói là cháu gái…
- Không chị ạ - Tôi mạnh bạo - Có đúng chị là chị Thản?
- Sao chú biết tôi? - Chị sững người.
- Đích là chị rồi - Tôi reo lên - Em là Thiêm, y tá K10 đây.
Chị vẫn đứng nhìn tôi. Tôi thấy mắt chị có vẻ như không trông thấy gì. Chị đang cố rọi sâu về quá hứ.
- Có phải chú là nhà báo, bạn anh Quảng ở bên ban quân y không?
- Đúng.
Chúng tôi nhận ra nhau. Tôi kể lược qua những cuộc thuyên chuyển của mình và báo cho chị biết, ở Hà Nội này, chị cũng sẽ có những “đồng hương Tây Nguyên” và tôi mời chị, đúng mùng năm tết tới nhà tôi chơi. Gặp các “đồng hương” hẳn chị sẽ vui hơn.
*
*     *
Hội “đồng hương Tây Nguyên” của chúng tôi gồm có năm người. Anh Thảo, trước ở trên cơ quan mặt trận, bây giờ là nhà nghiên cứu lịch sử quân sự. Anh có cái dáng trịnh trọng, lúc nào cũng cầm quyển sách. Anh là người đề xướng lập hội: “Để anh em có dịp mà tề tựu”. Đối với chúng tôi, anh là “pho từ điển sống” về những sự kiện diễn ra ở Tây Nguyên. Anh có trí nhớ thật kỳ lạ. Nếu bỗng dưng ai đó hỏi: “Thằng Mỹ bị ta bắt đầu tiên ở Tây Nguyên tên là gì? Anh trả lời ngay và còn kể thêm những chi tiết quanh chuyện đó. Anh Thuỷ trước là chiến sĩ dưới sư đoàn 2, bây giờ là nhà văn, đang công tác ở một toà báo trung ương. Anh Thuỷ bao giờ cũng tất bật và hóm. Gần như chuyện gì anh cũng có thể tham gia. Anh Thực là bác sĩ, một con người có bàn tay vàng, chúng tôi thường nói với nhau thế. Thực có dáng người bé nhỏ, lúc nào cũng trấn tĩnh và thư thái. Chưa bao giờ thấy anh vội. Đối với anh, mọi việc đều phải cân nhắc, tính toán trước. Bác Thiềng, trước là trợ lý tác chiến một huyện đội, bây giờ đã về hưu. Bác về hưu nhưng lúc nào cũng quân phục chỉnh tề, trừ khi ở nhà với nghề thợ mộc làm thêm của bác. Và tôi, trước là phóng viên của báo mặt trận.
Tôi thông báo sự kiện sinh cháu đúng lúc giao thừa và mới “sưu tầm” thêm được một “đồng hương” mới, chị Thản. Có thể nói ai cũng phấn khởi và ngạc nhiên khi biết chị Thản còn. Hơn thế chiều mùng năm chị sẽ lại chơi.
Anh Thuỷ và anh Thảo kéo đến sớm. Các anh mang theo một ghè rượu cần loại nhỏ, mấy cái cần hút rượu và hai quả bầu đựng nước đen bóng. Anh Thực và bác Thiềng tới sau một chút, nhưng cũng là tới sớm hơn hẹn.
- Nhà cháu chật - Tôi vui vẻ nói - xin mời các bác cứ tự nhiên cho.
- Ái chà - Bác Thiềng nói - Bố Kẹo Chanh ra dáng đáo để.
Anh Thuỷ bê tô canh từ bếp lên, nói:
- Hay! Ta đặt tên cháu là Kẹo Chanh được đấy anh Thiêm ạ.
Mọi người cùng cười vui. Bác Thiêng nhất thiết đề nghị dọn bàn, để hết xôi thịt lên cúng cụ.
- Con cháu ở đâu, ông bà cha mẹ theo đó. Bác nói.
Chúng tôi đồng ý ngay.
Anh Thảo và anh Thực nãy giờ đứng hai bên giá sách lục. Rồi anh Thảo cầm quyển sổ ghi chép của tôi mấy năm trước đã rách hết bìa, nói:
- Có phải chú ghi chép nhiều xung quanh sự kiện cô Thản lắm phải không?
- Có tới vài chục trang, trong quyển ấy đấy - Tôi nói.
Anh Thuỷ chạy ra:
- Thế nào rồi tôi cũng phải viết một cái truyện về chị Thản. Anh Thảo thử đọc to, nghe chung xem cậu Thiêm ghi chép được những gì nào.
Anh Thực rời giá sách, lại bên anh Thảo, nói:
- Có lẽ trong lúc chờ chị Thản, anh Thảo đọc nghe một vài chỗ.
- Này - Bác Thiềng góp - Cô ấy ra ngoài này hồi nào nhỉ.
- Chuyện ấy chỉ cô Thản biết - Anh Thảo nói.
- Thật là không bình thường.
- Sự không bình thường trong chiến tranh, âu cũng là chuyện thường tình vậy. Anh Thuỷ triết lý.
Anh Thảo ngả người vào thành giường, mở cửa sổ, hắng giọng và đọc:
“Chấm chấm chấm, - Cái tay Thiêm này tỉ mẩn thật - Anh bình luận rồi mới đọc tiếp - Ngày hai, tháng bảy, sáu sáu. Giữa mùa mưa lũ Tây Nguyên, những trận đánh Mỹ vẫn tiếp diễn quyết liệt. Ấy vậy mà trong hậu cứ có tin cô Thản, y sĩ của ban quân y bị mất tích. Lúc ấy chừng giữa trưa, người ta đồn: Cô Thản đi lĩnh thuốc ngoài quân khu về, tới suối Đắc Kơ Piar thì bị người rừng Kơn Hà Nừng bắt. Anh Bươm, chiến sĩ trinh sát, người Bahnar còn kể là, chính anh đã từng gặp người rừng, khi ấy anh là liên lạc cho huyện đội K10, đang trên đường đưa công văn về. Trời mưa, anh trùm ni lon kín, ngược dốc La Pà. Anh đang cắm cúi đi thì bỗng gặp một người rừng chạy ngang. Người rừng ngã sóng soài trước mặt anh. Mấy người rừng khác xúm lại, lôi cái người rừng ngã vào bụi. Tiếng hú, tiếng la ré hoảng loạn khiến anh Bươm mất hết bình tĩnh. Anh quăng luôn cả đồ đạc, chạy tháo thân.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #116 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 10:26:39 pm »

                                      Tiếp theo :
 Theo anh Bươm kể thì người rừng cao to hơn anh, nhưng gày lắm. Rằng cẳng chân người rừng nhỏ và dài, đầu người rừng to bằng cái gùi! Rằng người rừng không phải có nhiều long như xưa nay ta tưởng. Và rằng, tiếng hú của người rừng thì thật là ghê. Nó cứ choi chói, khàn khàn giống như tiếng rít của đài mười lăm oát. Anh Bươm nhất quyết nói người rừng còn nhiều và mặt người rừng thì thật là dài. Anh bảo hôm ấy anh chạy xé rừng, xé núi. Chạy như chưa bao giờ anh có thể chạy được như thế. Khi tới làng Đê Tung Chà thì trời vừa tối và anh ngất lịm. Dân làng đã cứu anh và anh bị đau một tháng, rụng tóc. Anh Bươm còn nói đi nói lại là, nếu chị Thản về một mình chỗ suối Đăk Kơ Piar thì đúng là bị người rừng bắt thật rồi. Rằng dân làng Đê Tung Chà cũng nói khu rừng ấy có người rừng thiệt. Các thợ săn người Bahnar trong vùng ấy cay cú vì gặp người rừng mấy lần đều không kịp tổ chức bắt thì đã mất hút. Chấm chấm chấm chấm.
Anh Thảo trở nghiêng người, lấy kính ra đeo và tiếp tục đọc:
“Ngày, tháng, năm….Người ta đồn là cô Thản không phải bị người rừng bắt mà bị người cọp vồ. Người cọp là gì, chưa xác minh được. Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh có ra thông báo về vấn đề này. Rằng người cọp là do bọn biệt kích đội lốt. Rằng chúng làm như vậy cốt gây rối vùng căn cứ ta. Nhưng dân các làng trong vùng đồn là người cọp có thật. Rằng người cọp chính là Ma Lai, thứ ma biến bóng tối thành ánh sáng và ngược lại. Ma Lai có thể bắt hết dân làng, lần lượt từng người một. Và rằng, không phải bây giờ người cọp mới xuất hiện. Nó đã có từ xa xưa lắm rồi. Vân vân.
Tối ngày ba tháng mười, đoàn văn công tỉnh uỷ đi phục vụ bộ đội phía trước về, có ba cô gái đi sau bị người cọp nhảy ra vồ sểnh - người ta đồn - có hai cô bị lạc ba ngày sau mới tìm thấy. Chính cái cô đi sau cùng trong số ba cô về được trong đêm đã kể là, cô bị người cọp đẩy ngã, khẩu các bin co đeo bị giộng xuống cướp cò. Súng nổ, người cọp hoảng quá bỏ chạy,
Làng Dê Bơ Ngăn bị người cọp phục lúc dân làng đi gùi đạn về. Người ta đã quả quyết là người cọp lông xám, vện trắng, mặt cọp, mình người. Chấm chấm chấm chấm.”
Anh Thảo sang trang, đọc tiếp:
“Ngày…tháng….năm sáu bảy. Bộ đội trinh sát F10 - B3 bắt được một người rừng trong hang đá. Cũng là những lời đồn. Người ta kể rằng, bộ phận chỉ huy mặt trận đã phái một B trinh sát vừa bám địch, bảo vệ vùng căn cứ, vừa bám vào rừng sâu tìm dấu vết và theo dõi những hoạt động của “người rừng”. Sau hơn hai tháng bộ đội ta đã tìm được một hang đá tít trên đỉnh núi KK, nơi mà gần như xưa nay chưa có dấu chân người. Nhưng rất tiếc ai cũng chỉ mới bắt được một “con người rừng” chứ không bắt được “mẹ người rừng”. Người ta kể là, sau đó các chiến sĩ trinh sát đã vây rất chặt đỉnh núi, khép dần vòng vây cho tới khi chỉ còn cái hang đá trên cao ấy. Rốt cuộc, “mẹ người rừng” vẫn trốn biệt tích.
“Mẹ người rừng” rất khôn - người ta đồn - Không thể bao vây được. Bộ đội ta đã nuôi đứa bé bằng mọi cách trên bệnh viện, nhưng các bác sĩ đã phải chịu bó tay, nhận thấy không cách chi nuôi đuợc, ngoài mẹ nó. Đành phải đem “trả” con người rừng cho mẹ nó nuôi. Người ta trả bằng cách nào nhỉ?”

“Ngày…tháng, năm sáu bảy - Anh Thảo đọc tiếp - Người ta đồn là cô y sĩ Thản được điều về cơ quan thủ trưởng. Rằng cô ta đã “tụt tụt” với tham mưu trưởng Q trong khi đang yêu và sắp cưới anh L, phó ban quân y. Rằng anh L đã không những thông cảm cho thủ trưởng Q và người yêu của mình, mà còn tỏ ra như không hay biết chuyện đã xảy ra. Anh L làm như thế để bảo vệ uy tín cho thủ trưởng Q, hơn thế, anh sẽ khỏi phải điều tra phía trước. Anh L còn lên thêm một “hạt” và chức trưởng ban sẽ ở trong tầm tay.”
“Tuy nhiên - vẫn là những lời đồn - cô Thản đã không chịu đựng nổi dư luận, nhân đi lấy thuốc quân khu về đã trốn vào một làng Bahnar sống. Hiện nay dân làng đã chấp nhận cô ta như là một thành viên của mình. Chấm chấm chấm chấm.”
“Ngày, tháng, năm một chín sáu tám. Người ta đã thôi không đồn về cô quân y Thản. Nhưng bây giờ lại rộ lên. Rằng cô Thản không bị người rừng, người cọp vồ cũng không phải cô ta chạy trốn dư luận bỏ vào làng mà đích thị cô ta đã đi chiêu hồi. Có lời đồn cô Thản là tình báo của ta. Đảng “tổ chức” cho cô ta đóng vai chiêu hồi như vậy, sau đó sẽ hoạt động mật trong lòng địch.”
“Người ta kháo nhau là, thủ trưởng Q, sau khi nghe tin cô Thản mất tích đã cầm súng ngắn, vào rừng, bắn lên trời ba phát, không nói nửa lời. Đó là câu chào hay một lời thề? Còn anh L thì ngay lập tức xin chuyển xuống đơn vị chiến đấu!”
“Ngày, tháng năm sáu tám. Rõ ràng là cô Thản đi chiêu hồi! - Người ta đồn - Rằng cơ sở ta đã báo ra, hiện cô Thản đang làm y sĩ trong trung tâm chiêu hồi P. Rằng cô ta đã trực tiếp ngồi trên máy bay Mỹ thả loa kêu gọi các “Binh sĩ cộng quân Bắc Việt, hãy trở về với chính nghĩa quốc gia!”.
“Và bây giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa. Truyền đơn của chúng đã in ảnh cô Thản và những lời kêu gọi của cô ta. Người ta lại đồn là, hồi cô Thản còn ở ban quân y, cứ cô ta vừa rời khỏi đâu thì y rằng, B52 địch giội nát khu rừng cô ta vừa ở. Vân vân.”
Anh Thảo bỏ quyển sổ xuống giường, gỡ kính, xoa xoa tay lên mặt, một lúc sau, nói:
- Còn một đoạn nữa. Đọc hết nhé?
Mọi người không ai xê dịch, cũng không ai nói gì. Anh Thảo đeo kính, đọc tiếp:
“Ngày, tháng, năm sáu tám. Thế là không còn gì để cho mọi người đồn đại nữa. Người ta coi như sự đã hai năm rõ mười. Trong chiến tranh, bản chất của mỗi con người được phô bày. Có người dũng, cũng có kẻ hèn nhát. Có người trung thành, cũng có kẻ phản bội. Nếu không bình tĩnh ta sẽ luôn luôn bị bất ngờ và những bất ngờ đó thật là nguy hại.”
*
*    *
Chúng tôi, từ khi nào đã đứng vây quanh anh Thảo. Chợt anh Thực, nãy giờ tựa lưng vào giá sách kêu lên:
- Ồ chị Thản! Mời chị vào.
Tôi giật mình. Thoáng một cái, bên cánh cửa sổ khép hờ, tôi nhận rõ khuôn mặt phúc hậu của chị cúi xuống đầm đìa nước mắt. Tôi bật cửa định ra kéo chị vào. Nhưng chị đã kịp nhảy lên xe, phóng lẫn vào dòng người trên phố.
Tôi trở vào. Mọi người đều ngơ ngác như vừa ra khỏi một giấc mơ, bây giờ là khoảnh khắc bừng tỉnh. Chị đến trong lúc chúng tôi mải mê lục lại quá khứ của chị chưa được xác minh. Họa chăng, cái sự thực ấy chỉ có chị và một vài người biết. Nhưng mỗi người cũng chỉ biết một đoạn, như chúng tôi chỉ biết đoạn đầu đến khi có tin chị mất tích. Các “đồng hương” của tôi đều sững sờ nhận ra vừa rồi mình quá vô tâm. Chị Thản đã nghe được những bàn luận và những dòng ghi chép qua dư luận hồi chiến tranh về chị. Chị phóng về, để lại cho chúng tôi một câu trả lời, rằng quá khứ của chị không phải là cái gì đấy vui vẻ mà chúng tôi hùa vào thưởng thức; Rằng sự thực bao giờ cũng có một khoảng trống kích thích ta tìm tòi và chính cái khoảng trống ấy đã gây nên không biết bao nhiêu ảo giác. Chúng tôi vô tình, chưa kịp tìm hiểu chị Thản hôm nay, mà chỉ lục tìm chị Thản của quá khứ, chị Thản trong ảo giác. Trời mùng năm tết năm nay vẫn còn rét dữ. Tiếng khóc oa oa bất chợt của con tôi như tiếng chuông thức tỉnh mọi người. Tiếng khóc vô ý thức của một sinh linh mới ra đời có một sức mạnh tiềm àng khiến ta không kìm giữ nổi lòng mình…
- Ngày mai mỗi người lại phải chạy theo công việc của mình - Anh Thực nói - Biết làm thế nào được?
- Mai chú Thiêm đến thay mặt anh em xin lỗi chị ấy - bác Thiềng nói.
- Nói chung là không nên để chị ấy hiểu lầm chúng ta - Anh Thủy lên tiếng, - Và chúng ta không được phép để chị ấy cô đơn.
- Tất nhiên - Anh Thảo nói - Chúng ta phải tới chị ấy.
Và thế là ngay tối hôm ấy, tôi đạp xe tới bệnh viện tìm chị. Chị phải trực thay một chị bạn về quê và chị hẹn tôi thế nào mai cũng tới.
*
*    *
Ba giờ chiều mùng sáu tết chị Thản đến nhà tôi thật. Chị đem theo cháu Nghĩa, con trai chị. Cháu Nghĩa mới mười sáu tuổi nhưng dáng cao và chắc. Cháu có cái vẻ trầm tĩnh đến gan lì. Chị bảo cháu ra vườn hoa gần nhà tôi chơi. Tôi mừng thấy chị vẫn giữ nguyên trạng thái điềm đạm, gần như không có ấn tượng gì đáng kể về cuộc gặp mặt không bình thường với các “đồng hương” hôm qua. Tôi thay mặt anh em xin lỗi chị, chị cười:
- Thực ra chẳng ai trong chúng ta có lỗi cả.
Tôi đặt ca rượu cần hôm qua anh Thủy hút ra để phần chị, nói:
- Chị uống đi, tiêu chuẩn của chị đấy!
Chị nhìn tôi rồi cầm ca rượu, uống một hơi cạn.
- Thú thực với chú - chị nói - Rượu cần chỉ có hút trực tiếp bằng cần mới ngon. Rút ra ngoài thế này, uống gờn gợn thế nào ấy.
Tôi rót thêm ly rượu quê, cũng là phần của chị, chị gạt đi:
- Chú đừng nghĩ tôi hay rượu, mắc cỡ lắm.
Chị tự rót trà vào ly, nói:
- Chú nghĩ về tôi thế nào?
Tôi lúng túng:
- Em rất phục chị - Tôi nói:
- Đó không phải là điều tôi muốn biết. Chắc chú nghĩ là tôi không còn?
- Cũng gần như thế.
- Bây giờ thì mọi sự đã qua. Nhưng cái dư vị của nó còn đắng mãi suốt cuộc đời tôi.
- Dù sao chị cũng không nên có mặc cảm quá khứ như vậy - Tôi nói.
- Thực lòng tôi không thể không có mặc cảm. Chị nói - Kể ra thì ngượng, mà để mãi trong lòng tôi đâu có bình tâm được, chú.
- Lẽ ra chị không nên im lặng lâu thế.
- Có muốn im lặng tôi cũng không im lặng được - chị nói. Thời gian đã lùi xa, những quan niệm ngày ấy coi là nghiêm trọng, bây giờ chúng ta nhìn nhận khác, phải không chú? Nhưng tôi vẫn không hiểu sao đời mình lại long đong thế. Nhắc lại thật rùng mình. Tôi không thể lường trước được các bước ngoặt khiến mọi sự diễn ra sau đó lại trở nên những sự kiện thật phiền hà! Tuy nhiên bây giờ, ở bệnh viện tôi, người ta chỉ biết tôi là một quân y sĩ hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường ra. Rằng chồng tôi là anh A, anh B nào đó đã hy sinh. Rằng cháu Nghĩa là câu trả lời là sự chứng giám, bảo lãnh cho tôi. “Mẹ ơi, bố con hồi trước có hay đánh bóng chuyền không?”. Cháu nó mê bóng chuyền nên cứ hỏi tôi thế. Rồi có hôm cháu bỗng hỏi tôi: “Mẹ ơi, con muốn có tấm ảnh của bố quá”. Tôi phải phân giải cho cháu hiểu thế nào là chiến tranh. Chúng ta có thể giấu được mọi điều bí mật và cả thế giới, nhưng với con thì không. Tôi đã kể rõ ngọn ngành với cháu khi đêm, sau lúc nghe các chú bàn luận ở đây về. Tôi thành thực cảm ơn các chú. Cảm ơn những đồng đội đã không lúc nào quên nhau.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #117 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 10:30:16 pm »

                                  Tiếp theo :
Chị Thản lau nước mắt, một lúc sau, tiếp:
- Hồi ấy chuyện người rừng, theo tôi có thể có thật. Nhưng người cọp thì hoàn toàn không. Đó là do bọn loạn rừng làm lốt hù dọa nhân dân. Bọn chiến tranh tâm lý của địch không từ bỏ thủ đoạn nào. Trường hợp của tôi chẳng dính dáng gì tới chuyện người cọp với người rừng cả. Truyền đơn chúng tung ra, in ảnh tôi, tôi biết. Có lẽ ảnh của tôi chúng lấy được vì một lần tôi và anh L qua sông B, mất chiếc ba lô của anh, trong đó có tập ảnh của tôi. Nước sông Ba đã cuốn cái ba lô của tôi xuống vùng địch. Mà tập ảnh tôi dán kỹ bằng túi ni lông chú ạ. Cả lý lịch của tôi nữa. Thời gian ấy tôi đã ăn ở với anh L như là tình cảm chúng tôi đã được công bố. Tôi có chiều thủ trưởng Q một lần hồi chiến dịch đang mở. Thủ trưởng làm việc quần quật suốt ngày đêm, đến ăn cũng không biết là mình đang nhai thứ gì. Tôi là quân y sĩ phục vụ thủ trưởng. Nhiều lúc phải ra lệnh bắt thủ trưởng nghỉ ngơi. Một con người không hề nghĩ chút xíu nào cho bản thân mình. Đã ngoài năm mươi tuổi, đã hai thứ tóc mà không hề thấy thủ trưởng tỏ ra có ý định xây dựng gia đình. Có những đêm đang ngủ, tôi bỗng thấy thủ trưởng tung bọc võng dậy, gọi điện thoại nơi này, nơi nọ, rồi thì bấm đèn pin, gạch gạch xóa xóa trên bản đồ. Tôi nấu cháo cho thủ trưởng. Thủ trưởng húp một hơi cạn, không khen chê lấy nửa lời. Nhiều lần như thế, tôi bực quá. Nhưng cứ nhìn thủ trưởng húp cháo tôi lại không dám nói gì. Một lần, không hiểu sao, bỗng tôi nắm chặt cánh tay thủ trưởng kéo xuống nhà hầm, ấn vai thủ trưởng xuống sạp. Tôi định nói thẳng những ý nghĩ của tôi. Nhưng thủ trưởng lại ngồi thừ nhìn tôi như một người mất hồn. Thương thủ trưởng quá, tôi dụi đầu vào ngực thủ trưởng khóc. Thủ trưởng đã quên mất mình là thủ trưởng. Và tôi cứ nghĩ quẩn mãi, lỡ thủ trưởng chết, thủ trưởng chưa biết gì về phụ nữ!…Nhưng thật không may, cậu công vụ đã biết rõ chuyện ấy…- Tôi đã thú nhận tội lỗi của mình với anh L. Bên ngoài anh tỏ ra thông cảm cho tôi và thủ trưởng Q. Nhưng thâm tâm anh, tôi biết, anh rất đau đớn và hết tin tôi. Biết làm sao được? Tôi không thanh minh vì tôi nghĩ, sự việc tự nó chỉ nói lên điều bất chính. Tôi chắc thủ tưởng Q cũng có thể hiểu lầm tôi. Cậu công vụ trước nay đối xử với tôi rất tốt, nhưng sau đó, chú ấy không thèm nói với tôi nửa lời. Tôi cảm ơn chú ấy đã không nói lộ ra để ảnh hưởng tới thủ trưởng. Nhưng rồi sự việc vẫn cứ tự nó mọc thêm lông cánh bay đi khắp chốn! May trong dịp ấy có điện quân khu báo ban quân y cho người ra lĩnh thuốc bổ sung. Tôi xung phong ngay và được chấp thuận. - Hồi ấy là mùa mưa. Thân gái một mình lẽo đẽo đi bộ cả tháng trời. Tôi nhập vào các đoàn khách hành quân. Tôi cố quên những sự kiện bất thường do mình gây nên. Nhưng không tài nào nguôi được. Hai lăm cân thuốc, mười cân gạo và đồ đạc lỉnh kỉnh trĩu vai tôi. Đôi mắt to, nâu của thủ trưởng Q mở trừng trừng nhìn tôi thảng thốt. Đôi mắt hiền lành của anh L chau lại như cố rọi sâu vào tận cùng của sự thật để trách cứ, để lảng tránh và tha thứ cho tôi… Nỗi niềm riêng không ai san sẻ khiến tôi gan lỳ, nhiều hôm có bom pháo tôi không hề né tránh. Những đoạn đường giao liên thông báo có nguy hiểm, tôi vẫn không dừng lại! Tôi đi như máy. Nghỉ ngơi chỉ làm tôi chán nản, đau buồn. Rồi một hôm ở bình trạm II, tôi gặp anh Kơ Tít người Bahnar. Anh nói trước anh ở vận tải quân khu sau được ra Bắc học, nay trở vào và được về phép. Chúng tôi đi cùng đường với nhau. Vốn là lính vận tải nên đi nhẹ anh không thích, anh bảo tôi thế. Tôi san hàng, nhờ anh mang giúp. Anh Tít rất thạo tiếng phổ thông và hát rất hay. Những ngày đầu mới quen nhau, anh kể chuyện miền Bắc cho tôi nghe. Anh nhắc tới những tên phố mà tuổi thơ tôi từng gắn bó làm tôi khóc được. Nhiều lúc nghe chuyện anh, tôi không hề có cảm giác anh là người thiểu số. Tình thế là như vậy. Hai chúng tôi đi trong rừng vắng. Chiến tranh như là cái cớ cho hai người gặp nhau. Những chiều dừng chân, anh vào rừng săn bắn, kiếm con chim, con cá, tôi lo rau canh, cơm nước. Mưa, hai võng mắc song song chung một mái tăng. Khô ráo, hai võng mắc chụm đầu, phía dưới chân đốt đống lửa. Chúng tôi nói chuyện linh tinh, tới khi mệt thì ngủ. Rồi chặng đường cũng tới ngày kết thúc. Chúng tôi đến chỗ đường rẽ vào làng anh. Tít bảo tôi vào nghỉ chân vài ngày, sau đó anh sẽ giúp tôi hoặc nói với du kích làng anh giúp tôi đưa thuốc về đơn vị. Tôi nghe theo. Đó là một chiều mưa tầm tã. Tại nhà rông của làng, đội du kích đang chỉnh huấn chính trị. Thấy chúng tôi bước lên, mọi người nhìn ra nhưng rồi không ai chú ý. Họ rất nhanh quay vào bàn luận chuyện gì hung lắm. Tít bảo tôi dựa bao hàng vào vách nhà rồi ngồi nghe chơi. Tôi cũng biết kha khá tiếng Bahnar nên cũng thích nghe bà con tranh luận. Tôi thấy trên cột nhà có treo tấm bảng đen nham nhở. Một anh cán bộ du kích đang ra sức giải thích thế tiến lên của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Anh cầm một viên phấn, vạch một vạch chéo, vẽ mũi tên đang bay lên và nhắc đi nhắc lại: “Cách mạng ta tiến lên không ngừng…”. Bỗng một ông già quắc thước lừ lừ đi lên tay cầm con rựa, tới bên anh nhìn vào mắt anh dữ tợn:
- Tầm bậy! Mày nói tầm bậy rồi!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #118 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 10:32:43 pm »

                                         Tiếp theo :
Rồi ông cầm viên phấn, vạch mũi tên ngược lại, cãi:
- Cách mạng đi lên dốc à? Lên dốc mệt sức hung, không tốt đâu con ạ. Cách mạng mình xuống dốc có nhanh hơn, ít mệt hơn mới trúng chớ.
Mọi người lặng phắc. Tít tự tin đứng lên, đi lại phía ông già và anh cán bộ:
- Không ai nhận ra tui là Kơ Tít đây à?
Mọi người ồ lên, xúm quanh anh:
- A tốt quá rồi! Kơ Tít đem vợ miền Bắc về đây rồi. Khác quá!
- Cách mạng đi lên hay đi xuống, Tít?
Tít cầm cây ná của người đứng cạnh, dương lên nói:
- Cách mạng là mũi tên bắn thằng Mỹ. Thằng Mỹ ở trên trời, mũi tên bay lên trời. Thằng Mỹ ở dưới hố, mũi tên cách mạng bay xuống hố. Cách mạng là mũi tên còn người bắn mũi tên ấy là Đảng mình, là đồng bào mình.
Mọi người nghe trúng quá, cùng cười vui. Tít giới thiệu tôi là y sĩ trên đường về đơn vị, ghé thăm chơi làng, không phải là vợ Tít. Nhưng không ai tin cả. Cả làng kéo tới nhà rông đón Tít. Tít chỉ còn một người em ruột, bố mẹ mất cả rồi. Người em ruột của Tít tên là Bờ Tàu. Bờ Tàu cao hơn anh, nhưng có vẻ trầm tĩnh hơn…
Chị Thản chợt giật mình khi thấy cánh cửa bị bật ra vì gió. Tôi gài cửa lại. Chị vân vê mấy cái giấy kẹo trong tay, nói:
- Số phận cố tình đẩy tôi tới những bước ngoặt mà chính tôi không thể hình dung được. Thời gian đầu ở lại làng, bà con đem cho tôi trứng, gạo, thịt để nấu ăn chung với nhà Kơ Tít. Không ai tin tôi và Kơ Tít là bạn bè. Tôi thấy Kơ Tít cũng không có ý định giải thích thêm. Chú em Kơ Tít bỏ ra chòi rẫy ở. Được ba ngày sau, tôi đòi về Kơ Tít cứ lần lữa, không muốn. Rồi cuối cùng anh đã tỏ tình với tôi. Tôi hoảng quá nhưng không có cách nào xử lý khác. Kơ Tít bị tôi đẩy ra. Anh buồn rũ, không nói, cũng không cưỡng bức tôi. Tôi đòi về. Anh nhìn tôi thảng thốt và sau cùng anh lắp bắp: “Đường hành lang bị kẹt rồi, không về được đâu” - “Kẹt tôi cũng phải về Kơ Tít ạ” - “Em sợ tôi à? Dân làng đang có bệnh dịch, hôm qua chết hai người, em có ưng ở lại giúp đồng bào không? - “Anh không được nói dối tôi đấy!” - “Tôi nói dối em làm gì. Em không ưng tôi, được. Nhưng em không thương đồng bào là sai đấy”. Tôi và Kơ Tít tới những gia đình có người ốm thăm hỏi. Quả làng đang mắc bệnh đi lỏng hàng lọat thật. Có thuốc trong tay, có nghề trong tay, gặp bệnh không cứu chữa, tôi không đành. Tôi và Kơ Tít cùng nhau xoay xở, cứu chữa bà con. Dân làng càng thương quý chúng tôi, càng tin tôi là vợ Kơ Tít thật. Nhiều người nhắc Kơ Tít phải tổ chức uống rượu mừng. Kơ Tít và chú Bờ Tàu, em trai Kơ Tít đã lo được rượu, heo cho anh. Dân làng tới ăn mừng gọi tôi là de cà dầng nhâng Tít - tức là vợ anh Tít. Sự thật là như thế, không thể đảo ngược. Tôi không tính cách nào khác được, đành phải chấp nhận. Kơ Tít quá sung sướng. Còn tôi thì thú thực với chú, không cách nào nguôi ngoai vì những vết thương do chính tôi tự đánh vào đời mình. Tôi kể thật hết những gì đã xảy ra ở đơn vị trong vòng hơn một tháng nay. Kơ Tít cứ ngửa cổ lên hát và đánh đàn goong. Tôi nén lòng cố không nghĩ ngợi nữa. Thế là hết cả đường đi lẫn lối về…Tôi biết tôi đang mang thai. Nhưng tôi không thể nghĩ đó là con ai khác ngoài con Kơ Tít. Dù vậy, nhiều lúc tôi đã cầm thuốc ngủ liều cao trong tay, định uống cho xong hết mọi sự đời. Nhưng nghĩ tới đứa con trong bụng mà dừng lại. Ngày tháng cứ trôi qua. Những công việc thuốc men, rẫy nương với bà con tôi cũng quen dần. Tôi không còn nghĩ điều gì khác nữa ngoài việc chuẩn bị cho con tôi ra đời. Kơ Tít khuyên tôi khỏi lo gì, ở đơn vị cũng đánh Mỹ, ở đây với dân làng cũng đánh Mỹ được, cũng làm cách mạng được. Anh trở thành cán bộ du kích. Tôi trở thành cán bộ phụ nữ. Làng có việc gì chúng tôi cũng tích cực tham gia. Thế là mình đã lẩn được mặt - tôi nghĩ. Rồi thời gian sẽ ủng hộ mình. Những gì là sai lầm, là hèn kém ta sẽ cố sửa chữa, sẽ chuộc lại bằng việc làm thiết thực. Tôi trồng thuốc Nam, tìm cây thuốc Nam trong rừng về chữa chạy cho bà con. Kơ Tít chỉ huy du kích đánh địch càn, làm nương rẫy khá giỏi. Từ khi có chúng tôi, dân làng yên tâm hơn. Mọi sinh họat của làng thay đổi theo chiều hướng tốt. Không ai còn ăn bốc, uống nước lã nữa…Hạnh phúc của tôi là thế. Rồi tôi sinh cháu. Tôi nâng con trên tay, nhiều lúc cứ thần người. Kơ Tít thì rối lên mừng rỡ. Anh đã tạo cho tôi một chỗ dựa khá vững chắc. Anh hết lòng chăm sóc vợ con. Tôi đã tự thề với lòng mình xin vĩnh biệt quá khứ. Xin chào vĩnh viễn những gì đã tạo nên sự trắc trở cho cuộc đời nhỏ mọn của tôi. Nhưng rồi tôi đã lại phải chịu đựng thêm một trắc trở khủng khiếp nữa! Tôi kinh hoàng khi biết tin Kơ Tít bị cây đổ trong khi làm rẫy, không tránh kịp. Chú Bờ Tàu đã bế xác anh về chòi rẫy, và dân làng dìu tôi ra. Tôi ngất đi và sau đó tôi trở nên chai lỳ. Nhìn vật gì cũng chỉ thấy màu đen hãi hùng. Tôi là kẻ bất hạnh nhất trong số những người bất hạnh trên thế gian này. Nhưng tôi không thể chết. Tôi còn phải sống để nuôi con. Chỗ dự cuối cùng của tôi là cháu. Cháu như là được sinh ra để cứu vớt mẹ nó. Tôi ẵm con trở lại đơn vị ư? Đã nhiều lần tôi định thế, nhưng vẫn không đủ can đảm bước ra khỏi làng. Chú Bờ Tàu mất anh, vốn đã ít nói bây giờ sống như cái bóng. Sớm xách súng, cầm rựa ra mương, chiều về. Ngoài bữa ăn ra là chú ấy hút thuốc. Cái tẩu thuốc lúc nào cũng gắn chắc trên môi. Và thật khủng khiếp cho tôi, sau hơn một năm, dân làng làm lễ bỏ mả cho Kơ Tít rất linh đình. Rồi người ta tuyên bố De than bơm ca dâng de Bờ Tàu (Người Thản làm vợ người Bờ Tàu!). Người ta giải thích đó là do phong tục. Cái phong tục gì mà khiếp vậy hả trời! Tôi thành vợ của em chồng tôi ư? Không thể chấp nhận được! Nhưng phong tục là phong tục, còn tôi và Bờ Tàu có chấp thuận hay không là chuyện khác. Tôi van xin Bờ Tàu đừng nghe theo lời người ta. Bờ Tàu không nói gì, chỉ hút thuốc và hút thuốc. Mấy lần tôi ẵm con, định trốn khỏi làng, nhưng Bờ Tàu bắt được và chú ấy đẩy tôi lên sàn. Hai chị em sống với nhau như vậy suốt cả gần một năm trời. Bờ Tàu không động chạm gì đến người tôi. Chú ấy cố tránh cái nhìn van xin của tôi và thực ra, qua thái độ chú ấy, tôi cũng dần dần bình tâm lại. Rồi một đêm mưa, Bờ Tàu bỗng vùng dậy - Tôi luôn theo dõi chú ấy - Tôi thấy chú ấy thu dọn rất nhanh đồ đạc, nhét vào một cái ba lô cũ rồi tới gọi tôi dậy:
- Tôi đi bộ đội - Chú ấy nói - Tôi theo bộ đội ngoài hành lang không về nữa đâu!
Tôi níu tay chú ấy khóc. Chú Bờ Tàu đẩy vai tôi ra rồi nhảy xuống sàn cửa. Biến vào trong đêm. Tôi ôm con đứng nhìn căng mắt, chỉ nghe có tiếng chân người, tiếng súng va chạm lích kích ngoài đường cái. Tôi gào giật lên trong mưa. Một vài người trong làng đốt đuốc tới. Họ biết Bờ Tàu đã bỏ nhà theo bộ đội, nhưng không ai nói gì. Tôi nằm ôm con nuốt nỗi cay cực của mình mà thầm thề rằng quá khứ hãy cút khỏi nơi đây. Rằng đời tôi không phải là cái túi chứa đựng những bất hạnh. Chú Bờ Tàu hãy tha thứ cho chị. Mọi người hãy đừng nghĩ về tôi như trước nay người ta đã hiểu lầm…
Chị Thản dừng lại thở gấp. Mặt chị tái nhợt. Tôi rót ly nước lọc mời chị. Chị tiếp:
- Tôi sống với dân làng, nương tựa vào dân làng bằng nghề nghiệp của tôi đến ngày giải phóng. Vâng, bà con đã đưa tôi ra trạm thu dung. Lúc ấy tôi đã nghĩ ra một cái lý lịch hoàn toàn khác. Rằng tôi là y sĩ của K55. Rằng tôi được cử ở lại phía sau trồng thuốc Nam, chế biến thuốc Nam, dựa vào dân làng. Rằng chồng tôi tên là Nguyễn Thành Trung, anh ấy đã hy sinh. Con tôi là Nguyễn Trung Nghĩa. Các chú ở trạm đã giúp tôi lập lại hồ sơ - vì toàn bộ giấy tờ của tôi bị bom, tôi khai thế và các chú rất tin tôi. Trường hợp như vậy thiếu gì phải không, chú? Thế là mẹ con tôi được chuyển ra Bắc công tác…
Chị Thản ngừng để uống nước. Tôi lấy bánh chưng bóc mời chị. Đúng lúc ấy cháu Nghĩa về. Chúng tôi cùng ăn bánh. Tôi lấy mấy cuốn sách mới mua hồi trước tết ra mừng tuổi cháu. Cháu Nghĩa cám ơn tôi rất từ tốn.
- Từ nay chị và cháu cứ đi lại đây với vợ chồng em - Tôi nói - Coi như chị em trong nhà.
Chị Thản ôm đầu cháu Nghĩa, bứt rứt những mẩu bụi ra, nói:
- Con muốn biết thêm gì về mẹ, từ nay cứ hỏi chú Thiêm, nghe.
- Vâng ạ.
- Thôi chào cô chú, mẹ con tôi về kẻo tối.
                                                                                        Hà Nội, tháng Giêng Giáp Tý - 1984
                                                                                                            T.T.Đ
 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #119 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 10:44:09 pm »

                               Nước mắt ngày về    
                               Tác Giả :Nguyễn Quốc Việt
1  : Ngày về

Đó là ngày 15 tháng 2 năm 1973.

Mờ sáng, khu A trại giam tù binh ở Hố Nai - Biên Hòa đã nhộn nhạo hẳn lên bởi tiếng loa quân cảnh thúc giục tất cả tù nhân ra sân tập hợp. Mấy ngày trước, Ủy ban Liên hợp Quân sự bốn bên đã đến trại tù thông báo về Hiệp định Pa-ri và cuộc trao đổi tù binh sắp sửa diễn ra

Vì thế đa số anh em không lấy gì làm ngạc nhiên, tuy trong lòng vẫn dội lên một cảm xúc lâng lâng khó tả? Không biết đây là cuộc trở về với Nhân dân, Tổ quốc và những người thân thích, hay là bị địch hốt đem đổ xuống biển khơi như một số tin đồn.

Điểm danh xong, địch gọi một danh sách rồi chia cứ 25 người ngồi thành một cụm. Được khoảng5 cụm như thế thì chúng bắt đầu mở cổng, dẫn ra từng tốp. Khoảng 50 phóng viên báo chí cả tây lẫn ta, máy ảnh, máy quay phim lăm lăm trong tay chực sẵn bên con đường dẫn ra cổng ngoài, xô đến. Quân cảnh, súng dựng ngược trên tay xông xáo, xô gạt, có phóng viên bị ngã dúi xuống hào. Tiếng la ó phản đối dậy lên khắp chốn. Sau cùng, quân cảnh đành khoác súng vào vai, dăng tay nhau thành một vòng người bao quanh tốp tù nhân, cứ thế mà đi ra cổng ngoài, có đến ba, bốn lớp rào gai cự mã.

 Địch dồn tù nhân lên các xe vận tải có mui, mỗi xe có 4, 5 lính quân cảnh cầm súng canh, lại còn xe Jeep gắn đại liên mở đường, khóa đuôi, hụ còi liên tục trên đường tới sân bay Biên Hòa. Chúng tôi bị dồn lên một trong hai chiếc máy bay quân sự sơn màu xanh vàng loang lổ. Lần này thì không còn bị còng tay, bịt mắt như những lần di chuyển trước.

Khoảng nửa buổi sáng thì máy bay đổ xuống sân bay Phú Bài - Huế. Sân bay trơ trụi hoang tàn, lổn nhổn đất đá bạc phếch dưới bầu trời u ám. Dưới mấy chòi canh cao cao còn sót lại, chỉ có mấy xe tải và lính canh chờ sẵn. Tù nhân lại đỡ nhau lên xe, đi chừng một giờ trên một con đường trơ trụi và xóc kinh người. Hai bên đường chỉ thấy những đồng bưng hoang hóa, cỏ xơ xác loe hoe trên cát, phơ phất những cụm cây chồi cằn cỗi. Nhiều nhất chỉ thấy cờ ba que vàng chói với 3 sọc đỏ. Cờ cắm tứ tung trên đồng hoang, trên gò mả hay trên cồn cát bạc màu. Căng mắt nhìn về phía trước, mãi không thấy gì khác, cho đến khi tất cả gần như một lúc bật reo lên: “Cờ ta kìa”. Chỉ là những chấm nhỏ màu xanh đỏ điểm vàng mà trong mắt chúng tôi đã lồng lộng một bóng cờ nửa xanh, nửa đỏ với ngôi sao vàng rực rỡ cứ vẫy vùng trong gió trong buổi lễ xuất quân cách đây đã 5 năm. Thế rồi, những điểm sáng ấy cứ lớn dần lên, đã thành những lá cờ nguyên vẹn, đã thành cả một rừng cờ cách mạng bay rợp bên kia sông Thạch Hãn. Lẫn vào trong gió là âm điệu hùng tráng của bản nhạc “Giải phóng Điện Biên”. Những người tù nhìn nhau nước mắt vòng quanh mà không thể thốt nên lời.

 Xe dừng. Bên này sông lố nhố hàng trăm lính ngụy mặc quần áo rằn ri, súng chống vào bẹ sườn đứng dọc bờ sông. Nhìn sang bên kia, bộ đội ta cũng dàn quân đứng xanh bờ Bắc. Phía sau cờ và biểu ngữ, còn có những chiếc lều bạt, thấp thoáng bóng nhiều người mặc áo blu trắng ra vào. Sau một vài thủ tục trước sự chứng kiến của phái đoàn Liên hợp Quân sự, trong đó nổi bật những bộ quân phục quân đội ta ngời sáng, lấp lánh quân hiệu trên mũ kê-pi, chúng tôi được dẫn xuống những chiếc xuồng con, mỗi chiếc bảy, tám người. Quần áo tù binh dù chỉ mang trên người một bộ cũ nát nhất, nhưng đa số anh em cũng cởi ra, vất lại bờ. Xuồng chạy quá giữa sông, một số anh moi từ ống chân giả hoặc tháo những dải băng quấn tay, quấn chân lấy ra những khẩu hiệu, cờ đỏ hoặc xanh đỏ, có sao vàng đồng loạt phất lên, hướng về phía bờ sông phía Bắc. Những khẩu hiệu có nội dung hoan hô chiến thắng vĩ đại của dân tộc; hoan hô sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ; Hoan hô Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Đảng Nhân dân cách mạng... Những khẩu hiệu này chúng tôi đã chắp lại từ băng cuộn và vải vụn. Màu viết và vẽ có được nhờ đem những bộ đồ nâu địch mới phát đem nấu rồi lấy nước ấy cô đặc lại, hoặc dành dụm các viên thuốc có màu chế màu vàng đỏ. Những bộ đồ còn lại cũng đã đem đốt ngay giữa sân tù vào mấy ngày trước đó, sau khi nghe tin chính thức về cuộc trao trả sau Hiệp định Pa-ri.

Xuồng cách bờ chừng hai mươi thước. Đã nhìn rõ mặt từng đồng chí thân yêu trong bộ quân phục ga-ba-đin xanh quen thuộc. Bộ đội trên bờ ào xuống nước, ghé vai vào từng xuồng cõng từng người chúng tôi lên. Vang vang bên tai tôi là những tiếng đồng thanh hô khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng các chiến sĩ chiến thắng trở về. . .”. Bỗng nhiên nước mắt lại chảy thấm xuống vai người đồng đội. Vậy ra, Đảng, Nhà nước và Quân đội đã không chỉ coi chúng tôi là những tù binh. Chúng tôi còn được gọi là những chiến sĩ đã chiến thắng trở về, góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc sau 20 năm chiến đấu.

 Trong những lều bạt vừa dựng mới tinh còn thơm mùi vải mới, lần đầu tiên sau hơn năm năm, tôi lại được uống chén trà Ba Đình pha từ ấm chén sứ Hải Dương do các cô y tá và du kích Quảng Trị trao cho. Sau đấy là diện ngay quân phục mới, có cả mũ tai bèo và ba lô, dép đúc. Trong túi quần xúng xính, lại còn có hai bao thuốc lá giấy bạc nhãn Tam Đảo và Điện Biên vừa mới được phát cho.

 Chiều hôm ấy, chúng tôi được đoàn xe đến chở về ăn nghỉ tại Đông Hà và sáng hôm sau lại đi tiếp về miền Bắc. Một ấn tượng sâu đậm là ở cầu Hiền Lương, cây cầu suốt hai mươi năm chia đôi đất nước. Xe vừa qua cầu thì được đón về một bãi rộng, nơi đã có sẵn một sân khấu của đoàn văn công Tổng cục Chính trị đón chờ. Bộ đội và nhân dân đông chặt trên sân. Các cô gái Vĩnh Linh bê các đĩa kẹo và thuốc lá, xách theo những ấm nước chè xanh nóng đi mời bộ đội. Trên sân khấu, tiếng đàn, lời ca bay bổng làm xao động tất cả nỗi lòng của người lính trở về và cả bà con Vĩnh Linh, vùng đất lửa. Đoàn văn công mời các chiến sĩ lên giao lưu. Người ngâm thơ, người hát. Tất cả đều là những bài được sáng tác trong nhà tù đế quốc. Tôi còn nhớ có một bài thơ viết ở Phú Quốc được một chiến sĩ ngâm. Cô gái đàn tranh của đoàn vừa cố gắng đệm đàn theo, vừa khóc. Những bài ca bài thơ ấy từng được chắt ra từ tim óc máu xương tù nhân trong những ngày khốc liệt của lao tù.

 Biểu diễn chưa xong, đã có lệnh lên đường. Xe chạy tiếp trên con đường ổ gà lổn nhổn, hai bên chi chit hố bom mà cỏ mới vừa mọc lại. Đằng xa, mé đông là ngổn ngang những cồn cát trắng. Lòng người bỗng ngân lên câu hát “Quảng Bình quê ta ơi...”. Khoảng ba, bốn giờ chiều thì đoàn xe lại được lệnh ngừng ngay bên quốc lộ. Phía Tây là sông nước mênh mang, cặp bờ ngay gần quốc lộ đã thấy bà con đứng chờ đông lắm. Họ xoay trở những chiếc thuyền con cho người trên bờ dễ xuống. Chúng tôi được hướng dẫn xuống thuyền, lúc đó đã được trải chiếu mới tinh trên lòng thuyền. Đoàn thuyền lướt đi trên dòng sông đôi bờ vẫn còn những cây dương nổi tiếng vút cao như chưa hề qua trận mạc. Hỏi ra, đây là con sông Kiến Giang và chúng tôi đang được đưa về nghỉ ở xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình. Lý do: - để cho sức khỏe mọi người khá lên trước khi lên đường ra Bắc.

 
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM