Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:30:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 131944 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #120 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 10:47:24 pm »

                                        Tiếp :
Xâm xẩm chiều, đoàn thuyền cập vào các bến sông. Các gia đình đã chờ sẵn để đưa bộ đội về nhà mình chăm sóc. Mỗi nhà có từ hai đến bốn chiến sĩ. Tôi cùng hai anh khác được về nhà Mẹ Xoa ở Đội Cá cách bờ sông chỉ vài chục mét. Vừa mới thả ba lô xuống chiếc giường to gia đình giành cho, đã thấy tiếng lao xao ngoài đường thôn nghe như một vụ cãi nhau. Ra xem thì mới biết nhiều gia đình đang thắc mắc tại sao nhà mình không được nhận bộ đội về ở, hay là mình bị coi là “Việt gian, phản động”. Cán bộ xã, thôn cũng phải giải đáp mỏi miệng rồi mọi người mới chịu ra về.

 Chồng mẹ Xoa đã mất, nhà chỉ có sáu mẹ con. Cậu lớn nhất đi trọ học cấp III trên phố huyện. Tiếp theo là hai chị em gái Thủy và Lan, sau nữa là hai cậu con trai tên Sơn và Hải. Năm ấy Thủy mới 16 tuổi tuy chỉ học lớp 7, là con lớn nhất ở nhà, một lao động chính cùng mẹ làm lụng để nuôi sống gia đình nên trông đã ra dáng một thiếu nữ. Mẹ Xoa thật giỏi giang. Một mình nuôi năm con, nhưng nhà cửa cũng khá khang trang, tuy vẫn mái tranh nền đất nhưng luôn gọn gàng, sạch sẽ. Các con của Mẹ đều ngoan, dù bé như Sơn, Hải cũng biết chia việc để làm ruộng và kiếm cá. Khi chúng tôi đến, Mẹ phải dậy sớm lo cơm sáng và trưa, chiều cũng về sớm hơn để nấu bữa cơm ngon hơn hẳn mỗi ngày thường. Hóa ra, xã Phong Thủy chính là nơi có hợp tác xã Đại Phong nổi tiếng trên miền Bắc giữa những năm 1960 với khẩu hiệu: “Sóng Duyên Hải, gió Đại Phong, cờ Ba Nhất”. Bà con địa phương kể: “Đây là lần đầu tiên Đại Phong được đón tiếp và nuôi bộ đội. Đây còn là một nhiệm vụ hết sức vinh dự do đích thân nhà thơ Tố Hữu, thay mặt Trung ương Đảng giao cho Đại Phong”. Hàng ngày, các tốp thiếu nhi chia nhau đi từng nhà có bộ đội để ca múa cho các chiến sĩ xem, nghe. Các em đều khoảng 11, 12 tuổi cả trai và gái rất hồn nhiên và ngoan ngoãn, lại múa giỏi và hát thật hay, cho gì cũng không dám nhận dù chỉ là viên kẹo hay tấm bánh quy. Dù là nơi có phong trào hợp tác hóa nổi tiếng nhưng các gia đình nông dân Đại Phong vẫn rất nghèo. Dân Đội Cá vẫn đi đánh cá về đổi gạo từng ngày. Nhiều bữa, gạo tiêu chuẩn bộ đội chưa phát kịp, bà con lại đi vay về nấu cơm cho bộ đội.

Hàng xóm với nhà Mẹ Xoa cũng có ba anh bộ đội trong đó có anh Dương quê Nghệ An mù cả hai mắt. Bù lại, anh nói chuyện rất hay và thổi sáo cũng rất cừ. Mới ở có mấy ngày, gia đình bên ấy đã nhấm nháy gả cô con gái lớn cho anh. Cô ấy xem chừng cũng ưng ý nên suốt ngày chăm sóc anh Dương. Nhiều lúc sang, tôi thấy cô ngồi bên anh nghe chuyện, sụt sùi nước mắt. Nghe nói sau này họ đã thành gia thất. Thủy vẫn gọi chúng tôi bằng chú, dù năm ấy tôi mới 22 tuổi. Thủy cùng cô bạn học là Tuyết Bông cao hơn và khá xinh hay đến thăm tôi, hỏi bài vở. Cũng may, tôi còn chút ít kiến thức về toán cấp III học được trong tù nên cũng giải đáp được vài ba chỗ về Toán mà các em đang học. Cứ như thế, 6 ngày trôi qua lúc nào không hay. Chiều hôm ấy, chúng tôi được phổ biến sáng hôm sau sẽ tiếp tục lên đường. Đêm đó, các nhà có bộ đội ở hầu như thức trắng. Các bà mẹ thì lo giết gà, thổi xôi để bộ đội ăn sáng và gói mang theo. Các ông bố thì bên gói thuốc rê hay chiếc điếu cày, nói chuyện thâu đêm. Các cháu thiếu nhi đi hát từ nhà này qua nhà khác.

 Về khuya, hai anh ở cùng đã đi ngủ, tôi và Thủy ngồi đối diện nhau bên chiếc bàn với ngọn đèn dầu nhỏ gọn. Không nói được gì nhiều. Em cắm cúi viết rồi đưa cho tôi mảnh giấy ghi những dòng lưu niệm, nhắc nhở đừng quên con người và mảnh đất quê em. Tôi cũng viết những dòng kỷ niệm vào cuốn sổ em đưa. Mãi sau, em mới bật tiếng gọi tôi bằng anh, dặn tôi đi đâu, làm gì cũng phải viết thư vào. Tôi hứa! Đêm tàn lúc nào không hay. Dưới bếp, Mẹ Xoa đang chặt thịt gà và gói xôi vào lá chuối. Lệnh hành quân không cần phát mà cả xóm làng lao xao từ 4 giờ sáng. Trên bến sông có một cảnh tượng không thể nào quên. Bộ đội vừa bước xuống thuyền bà con trên bờ đã bật lên những tiếng khóc, làm hầu hết anh em bộ đội cũng sụt sùi nước mắt. Một số thanh niên nam nữ và cả các ông bố, bà mẹ cũng lên những chiếc thuyền, chiếc nống (một loại xuồng nhỏ và dài) đi theo ra đến tận đường. Khi chúng tôi lên xe, bà con và các em không thể đi theo nữa thì tất cả dân và bộ đội đều òa lên khóc, khóc thật to, nước mắt chan hòa. Đấy là một buổi chia tay xúc động tột cùng mà với tôi, trước đó cũng như sau này, không bao giờ có nữa.

 2: Những cánh chim tự do 

Trở về từ nhà tù Phú Quốc, ở huyện Xuân Trường (Nam Định) ngoài tôi ra còn hai anh nữa. Một anh cụt chân cao gần hết cả đùi, hai tay chống nạng. Một anh mù, dò dẫm gậy, tay vịn vào ba lô của bạn. Còn tôi bề ngoài thì lành lặn nhưng bên trong gãy quai xanh, xương sườn và thêm một vài mảnh đạn nhỏ nằm trong phổi trái.

 Bến xe chỉ cách nhà tôi non cây số. Tôi dẫn hai anh bạn tù về nhà, rồi sau tìm cách chở các anh về quê ở cách đấy không xa. Đặng Văn Đoài, ở xã Xuân Đài. Còn Nguyễn Xuân Trưởng thì quê ở cạnh làng tôi:- Xuân Thượng. Hai dãy phố nhỏ của làng tôi đây rồi! Ở giữa là sông, thời còn bé chúng tôi hay đi câu cá mương và cá rô gion trên từng bến đá. Hai bên sông, thì bên Ngọc Cục là đường đá, bên Hành Thiện là đường gạch lát nghiêng.

Người trên phố tò mò ngắm ba anh bộ đội dắt nhau đi. Một vài gương mặt thấy quen, nhưng tôi chưa nhận ra ai. Ngược lại, cũng có người nhận ra tôi rồi thốt kêu lên: “Ơ kìa, con ông Hài! … Ối giời ôi, còn sống về rồi hả cháu”. Thế rồi người nọ kể với người kia, rồi bỏ việc đi theo, lúc chúng tôi về đến nhà thì đã có một đám đông người trước cửa. Cha tôi từ trong nhà đi ra, thốt sững lại, tý nữa thì làm rơi cái điếu bát đang cầm. Dù lúc này, người đã biết rằng tôi còn sống trở về, nhưng bây giờ mới là lúc gặp lại sau hơn năm năm biệt vô âm tín. Xúc động, còn vì đa số anh em tù binh, kể cả tôi đã có giấy báo tử.

Hàn huyên, cơm nước xong xuôi. Cho tới chiều thì anh em tôi mượn thêm xe đạp chở các anh Đoài, Trưởng về làng. Lại tiếp tục những niềm xúc động, vui mừng chan cùng nước mắt. Cả ba anh em may sao là còn đầy đủ cả mẹ, cha và anh chị em. Niềm vui nhờ thế mà nhân lên gấp bội phần. Chuyến ấy, cấp trên cho về phép một tháng, sau đó trở lại đoàn an dưỡng ở Thọ Xuân, Thanh Hoá để chuẩn bị chia tay nhau nhận nhiệm vụ mới. Hai anh về Đoàn an dưỡng thương binh nặng ở tỉnh. Còn tôi được điều về tiểu đoàn Xuân Thuỷ đóng quân ở vùng biển huyện nhà. Xếp hạng thương binh tôi nhẹ nhất. Sau đó chúng tôi ít gặp nhau, chỉ còn liên hệ qua những lá thư.

 Tôi vừa công tác vừa âm thầm dò tìm những bạn tù xưa xem ai còn, ai mất, ai đã được giải quyết chế độ, ai về quê hoặc chuyển đi đâu? Tôi đã rất hạnh phúc khi tìm lại được người thầy giáo trong tù mà tất cả anh em trong trại đều vô cùng kính trọng và quý mến. Đó là anh Lê Hồng Thu, tên thật là Nguyễn Văn Chiển. Trước khi đi “B” năm 1966, anh Chiển là Hiệu trưởng trường cấp III Lê Hồng Phong ở Thành phố Nam Định. Ở trại nào anh cũng gây dựng được các lớp học văn hoá trong tù. Anh bị bắt năm 1967, và tôi đã gặp anh tại khu B - trại Hố Nai Biên Hoà từ tháng 5 năm 1970. Tại đây anh đã mở lớp dạy cấp III cho một nhóm tù binh hơn một chục người. Nhóm này sau đó lại trở về mở lớp tại các phòng giam của mình. Tôi ở phòng giam số 6, ngay sau phòng số 3 nhốt riêng các sĩ quan, nên được Đảng ủy bí mật trong tù phân công dạy cho lớp sĩ quan phòng số 3. Đến giờ quy định là các vị thiếu tá và đại uý quân ta chống nạng ra đứng vịn hàng rào. Phía bên này, tôi tự tưới nước rồi xoa mịn một khoảng sân cát bằng chiếc chiếu đôi để viết bài giảng lên trên. Bên kia các “thủ trưởng học trò” cũng cắm cúi ghi chép trên những tấm bảng con con tự tạo. Người học giỏi và chăm chỉ nhất của lớp ấy chính là “Thiếu tá Sang” theo cách gọi vừa kính nể vừa tôn phục của cả hai phía ta và địch. Bởi thiếu tá từng được mệnh danh là “hùm xám miền Đông”, từng bị địch cưa cụt chân đi cho “bõ ghét” vì kiên quyết không khai, không khuất phục khi sa vào tay giặc. (Sau này ông trở về sống ở quê là thành phố Huế).
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #121 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 10:56:45 pm »

                                       Tiếp :
Tháng 5.1971, địch có đợt chuyển tù từ Biên Hoà ra đảo Phú Quốc, tôi mới phải xa thầy giáo Lê Hồng Thu. Tấm bảng số logarit do thầy tự lập lại ở Biên Hoà làm công cụ học tập, mà tôi chép trên một mảnh bìa giấu kỹ đem theo, vẫn bị quân cảnh Phú Quốc tìm ra và tịch thu kèm theo một trận đòn “thừa sống thiếu chết” vì bị chúng nghi là “mật mã”. Nhưng chỉ vài tháng sau, tôi đã nhận được tin thầy qua một bài thơ được vo tròn nhét vào đầu chiếc đòn gánh khiêng thùng do anh em trại C4 đem tới quăng cho. Bài thơ nguyên văn như sau: Xa mặt nhưng lòng không cách xa
       Vẫn nhớ Biên Hoà nhớ bạn xưa
       Lớp học mở đều trên sân cát
       Mụn áo làm nên sách giáo khoa
       Tinh thần hiếu học biết bao nhiêu
       Mài miệt nắng mưa những sớm chiều
       Ai đã cho tôi niềm vinh dự
       Làm người thầy giáo ở trong lao
       Tôi muốn như con tằm nhả tơ
       Sợi vàng óng ánh dệt ước mơ
       Của người nuôi dạy tôi khôn lớn
       Ban cuộc đời tôi một ý thơ
       Hẹn ngày toàn thắng ta gặp nhau
       Lầu cao cửa kính ngói tươi màu
       Thơm mùi giấy mới trang sách mới
       Tự hào ôn lại những buổi gian lao.
   Tin qua, tin lại mấy lần, rồi thầy cũng gửi cho tôi bảng số logarit thầy mới lập lại chủ yếu bằng trí nhớ. Tôi cẩn thận chép sang một miếng “pông xô” (lớp nhựa phủ ngoài áo mưa quân đội bị rách, nên địch bỏ đi). Vào ngày trao trả, tôi đã giấu đem theo và còn giữ được đến tận ngày nay. Phong trào học tập văn hoá trong trại D9- Phú Quốc của tôi lại được phục hồi với tấm bảng số logarit của thầy Thu ấy.

 Chính là nhờ những bài học trên cát mà trong kỳ thi đại học tôi được 16 điểm trong khi điểm đậu của trường Đại học Xây Dựng năm 1974 chỉ là 13,5. Vào trường nhập học, tôi lại đăng ký thi vẽ, và đậu vào khoa Kiến trúc. Tốt nghiệp năm 1980, tôi được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy.

Những năm tôi học Đại học Xây Dựng ở nơi trường sơ tán là huyện Bình Xuyên (ga Hương Canh), cũng là khi anh Nguyễn Văn Chiển được Bộ Giáo dục bổ nhiệm về làm Hiệu trưởng trường Bổ túc Công nông ở Giáp Bát, Hà Nội. Sau đó anh lại được điều về làm hiệu trưởng trường đảng Lê Hồng Phong của Thành ủy. Anh em, thầy trò tôi vì thế mà thường được gặp nhau, tha hồ mà “ôn lại chuyện gian lao”. Những năm học ấy, Thương binh còn được hưởng chế độ miễn vé tàu nên tôi cũng chăm chỉ đi về tuyến Hương Canh, Hà Nội. Đôi khi cũng gặp một vài bạn tù vất vả, bám theo tàu đi buôn xa…

 Còn hai anh bạn tù quê cùng huyện với tôi thì sao? Ở Xuân Trường quê tôi ngày ấy, thương binh càng nặng thì càng dễ lấy vợ. Truyền thống này, có lẽ bắt đầu từ khi có thương binh, bộ đội miền Nam ra tập kết sau năm 1954. Thoạt đầu là anh Đoài “mù”. Anh được ngay một cô gái quê cục mịch, nhưng đằm thắm hồn hậu “xin chết”. Sau đó là anh Trưởng. Đám cưới nào cũng được tổ chức rình rang với rất đông bạn đồng ngũ, bạn tù. Vợ anh Trưởng còn rất giỏi giang, tháo vát. Cả hai anh bạn này đều khá đông con: Anh chị Trưởng bốn, Anh chị Đoài năm đứa. Chỉ vợ chồng anh Đoài yên chí lập nghiệp ở quê, nơi có gạo tám nổi tiếng Xuân Đoài, được chính quyền xã ưu tiên cấp đất mặt đường xây nhà dựng cửa. Anh chị Trưởng sau một hồi đi buôn chè cũng chán, chị được bè bạn rủ đi Hà Nội gia nhập đội quân gom nhặt ve chai. Lần hồi, họ mua được miếng đất xấu ven đường Đại Cồ Việt làm bãi chứa, bản thân cũng lên đời “chủ bãi”. Giờ thì đã phất lên lắm. Mỗi đứa con lớn lên được cha mẹ cho nhà, cho bãi, đứa Hà Nội, đứa Hải Phòng. Mới rồi anh chị Trưởng thấy sự nghiệp “tất cả vì tương lai con em” đã hoàn thành, năm 2008 liền trở lại quê Xuân Thượng xây trên nền đất cũ một ngôi nhà hết gần 1 tỷ. Hai vợ chồng  vào độ tuổi gần 60 mới coi như được “vui thú điền viên”.

 Từ hai anh Trưởng, Đoài, tôi cũng đã tìm đến vài anh em khác cùng cảnh ngộ. Nhờ chính sách thương binh liệt sĩ, lại thêm các phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” ở nhiều địa phương mà đa số các anh em cựu tù binh có cuộc sống chẳng đến nỗi nào. Phần đông trong họ có gia đình nhà cửa êm ấm, con cái làm ăn hoặc học hành thành đạt nhờ năng lực biết tự thân vận động để đi lên. Cũng đã có vài trường hợp bệnh tật phát sinh nên mất sớm. Nhưng đáng thương nhất là một anh ở xã Xuân Tân, tên là Đinh Xuân Hoà (tên trong tù là Bồng). Anh là một tù binh trẻ nhất trong số những anh em tôi biết, bị cụt tay và thêm vết thương sọ não, an dưỡng xong được xếp thương tật hạng 1/4. Tay thì đã đành chẳng mọc lại được, nhưng vết sọ não đã làm anh càng ngày càng chìm sâu vào thế giới của riêng mình. Hoà không lấy vợ, sống cùng gia đình người em ruột. Tháng 4.2009 cùng anh Đoài đến thăm, tôi chỉ thấy một người quắt queo tóc râu bơ phờ nằm thu lu trên võng. Gọi không nói, hỏi không thưa, dắt tay lên thì đi lại lờ vờ như cái xác không hồn. Tôi tự hỏi: Có bác sĩ giỏi nào có thể giúp được anh không? Để anh biết mình đã là một cánh chim tự do về giữa quê hương.
Gần đây nhất tôi có nhờ anh Chiển ráp nối để gặp lại mấy anh bạn tù xưa, quê Hà Nội. Cũng dễ thôi! Bởi anh Chiển đã về hưu, hiện làm Phó Ban liên lạc hội người tù kháng chiến Hà Nội. Bữa ấy đúng ngày 15 tháng 2 năm 2009, sau 36 năm chúng tôi ra tù. Người đầu tiên mà tôi muốn nhắc tới là anh Tống Trần Hội, một người thương tật đầy mình nhưng vô cùng dũng cảm năm xưa, nay cùng vợ con sống ở huyện Sóc Sơn. Hội cũng là một học trò của lớp sư phạm trên cát tại nhà lao Biên Hoà của thầy giáo Lê Hồng Thu năm 1970. Đi lại hết sức khó khăn, lại ở xa nên Hội đã không thể về tái ngộ. Người thứ hai là anh Nguyễn Hữu Triệu, sống ở phường Kim Mã. Anh Triệu cũng là một tù binh “gan cùng mình” ở khu A Biên Hoà. Cũng chỉ còn một chân như anh Trưởng, nhưng Triệu luôn luôn chống nạng dẫn đầu đoàn đại biểu tù nhân ra trực tiếp đấu tranh với giám thị các trại tù, cả ở Biên Hoà hay Phú Quốc. Triệu là một trong số rất ít người được Đảng uỷ nhà lao Hố Nai quyết định kết nạp Đảng ngay trong tù. Lễ kết nạp lại càng đặc biệt. Đấy là ở gầm sàn của một buồng giam. Ván sàn cách đất 50cm. Dưới gầm ván đã được vẽ sẵn một lá cờ búa liềm. Vài anh canh gác bên trên. Bốn người khác chui vào nằm ngửa, chụm đầu lại gần nhau. Người giới thiệu lần lượt nói lời giới thiệu; Bí thư đọc (miệng) quyết định của cấp uỷ nhà lao. Còn Nguyễn Hữu Triệu - đảng viên mới đọc lời tuyên thệ, cũng theo đúng bốn điều của nhiệm vụ Đảng viên, tuy không được chính xác từng câu chữ. Vậy là xong, chẳng có biên bản hay giấy tờ nào ghi nhận làm bằng cớ. Ấy thế mà sau khi ra tù, câu chuyện này được xác minh, thì Đảng bộ Đoàn an dưỡng đã làm một lễ riêng công nhận tư cách đảng viên cho Nguyễn Hữu Triệu. Sau khi an dưỡng, anh đã được cơ quan cũ - Ngân hàng Nhà nước Hà Nội đón về, giao cho chức Trưởng phòng Tổ chức cán bộ. Đến năm 2008 thì vừa đủ tuổi về hưu.

Như thế đấy, cuộc trở về đầy nước mắt của chúng tôi, những tù binh từ trại giam Biên Hòa, Phú Quốc đã lùi xa ba mươi sáu năm. Chúng tôi đã trở về trong vòng tay bao dung nhân ái của Đảng, Quân đội và Nhân dân. Quan trọng hơn, chúng tôi được coi là những chiến sĩ vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu giữa những lớp rào gai, dưới muôn vàn lớp đòn thù tàn bạo để giữ tròn khí tiết và phẩm giá người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Những dòng cuối cùng của bài viết này cho tôi được nhắc đến những người dân niền Trung, những người đầu tiên đã đón chúng tôi trở về. Mẹ Xoa ơi! Thủy ơi, Lan ơi - những em bé của Đại Phong ơi! Tôi vẫn còn mắc nợ với các em, với Mẹ. Sau khi vào Đại học, tôi chỉ thư từ được khoảng ba năm rồi thôi, bởi những kiến thức và cuộc sống nhọc nhằn đã hút tôi về phía trước. Nhưng trong tôi, luôn có một vầng bóng mát nơi quê hương gió lào cát trắng của Mẹ và các em.

 Nguyễn Quốc Việt
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #122 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 11:51:58 pm »

                          Mất bò được vợ
                          Tác giả : Khuất Quang Thụy

Đó là một trong những cuộc tình kỳ lạ nhất mà tôi được chứng kiến trong cuộc đời làm lính của mình. Ngay cả khi đã trở thành nhà văn, đã biết tới phép màu kỳ diệu của sự “hư cấu” tôi cũng chưa bao giờ có đủ sự dũng cảm để bịa ra một câu chuyện như vậy. Tôi cũng đã tự nhủ, đến một lúc nào đó, nó sẽ thành những nhân vật của một cuốn tiểu thuyết. Nhưng tôi vẫn chưa có dịp thích hợp để làm điều đó.

                                                                                   Khuất Quang Thụy

Đó là một trong những cuộc tình kỳ lạ nhất mà tôi được chứng kiến trong cuộc đời làm lính của mình. Ngay cả khi đã trở thành nhà văn, đã biết tới phép màu kỳ diệu của sự “hư cấu” tôi cũng chưa bao giờ có đủ sự dũng cảm để bịa ra một câu chuyện như vậy. Tôi cũng đã tự nhủ, đến một lúc nào đó, nó sẽ thành những nhân vật của một cuốn tiểu thuyết. Nhưng tôi vẫn chưa có dịp thích hợp để làm điều đó. Đến khi ấn phẩm mới của Văn nghệ quân đội mở mục “Chuyện tình dưới đáy ba lô”, và cái chuyên mục này lại được giao cho một nhà văn cựu sĩ quan đặc công canh giữ. Với sự đốc thúc ngày đêm của anh, tôi đành phải dốc từ dưới “đáy ba lô” của mình ra chút vốn liếng này để “bán lúa non” vậy.

Chuyện thế này:
Năm 1967, chúng tôi vừa vào lính thì được biên chế ngay vào một đơn vị chủ lực để luyện tập gấp rút, chuẩn bị vào chiến trường. Tiểu đội tôi toàn là lính mới coong, chỉ có anh tiểu đội trưởng, hạ sĩ Khởi, là lính cựu. Anh được phân biệt với cánh lính mới chúng tôi không chỉ bằng quân hàm hạ sĩ mà bằng một bộ quân phục đã bạc trắng. Sau này, chúng tôi mới biết các bậc đàn anh đã có cách làm cho quân phục của mình bạc đi một cách nghệ thuật. Anh đã hai mươi sáu tuổi, khá điển trai, nhưng vẫn chưa vợ. Có lẽ anh kén, hay là duyên số chưa tới, tôi cũng chẳng biết. Nhưng mà cái ý chí quyết tâm tìm người yêu của anh thì rất cao. Và, đó cũng là nỗi gian truân của cánh lính mới chúng tôi. Bởi vì, hễ có bóng chị em là lập tức anh tìm cách chứng tỏ vai trò của mình. Thế nào cũng có anh bị anh quát đứng nghiêm để “xác định thái độ”. Buổi chiều đi tập về, tiểu đội tôi bao giờ cũng phải về muộn nhất, bởi vì lúc đó sân kho hợp tác mới đông chị em. Hôm nào về tới đó, anh cũng cho tiểu đội dừng lại, tập hợp thành hàng ngang, đứng nghiêm để nghe anh dõng dạc nhận xét kết quả học tập trong ngày. Nhưng cực khổ nhất cho chúng tôi là vào chiều thứ bảy, khi cả đơn vị dọn vệ sinh đường làng ngõ xóm nơi đóng quân, xóm chúng tôi đóng quân lại có quá nhiều các cô thiếu nữ xinh đẹp nên thì giờ dành cho công việc này bao giờ cũng nhiều hơn các tiểu đội khác. Chủ nhật thường chỉ được nghỉ một buổi nhưng nếu hôm nào đó có nhà em nào trong ngõ tát ao hoặc vượt thổ thì coi như đi đứt!

Anh Khởi của chúng tôi làm rất nhiều động tác ga - lăng như vậy, nhưng không hiểu sao, các cô lại không thích anh. Thậm chí, có nàng còn ác khẩu, gọi anh là “Anh Khởi hâm”. Đã vậy, trong tiểu đội tôi có cậu Mai, thợ cắt tóc ở phố huyện, người lử khử lừ khừ nhưng lại rất “sát gái”. Hễ anh ta đứng đâu, ngồi đâu là chỉ một lát sau đã có dăm ba cô bu lại, hay nhờ vẽ chim, vẽ cò vào những cuốn sổ tay. Tiểu đội trưởng Khởi dứt khoát không chấp nhận được cảnh “ngang trái” đó, cho nên Mai bao giờ cũng là tay khốn khổ nhất trên bãi tập. Cho đến khi anh ta bắn được ba điểm 10 và sát hạch các môn chiến thuật đều đạt loại khá, giỏi, tiểu đọi trưởng Khởi mới đành phải để anh ta yên. Đến khi chúng tôi rút quân khỏi làng, lên Hoà Bình diễn tập thì phần thắng đã rõ ràng thuộc về anh thợ cắt tóc. Anh có tới ba nàng tiễn đưa, khóc lóc, trao quà lưu niệm. Còn anh Khởi của chúng tôi thì chỉ nhận được quà của bà Hội trưởng phụ nữ thôn đã luống tuổi nhưng góa chồng!

Lên Hòa Bình, chúng tôi đóng quân trong rừng, hàng ngày rèn luyện hàng quân xa, mang vác nặng. Trong rừng, dân ít, nên anh Khởi của chúng tôi tỏ ra đáng yêu hơn. Cánh lính trẻ chúng tôi dường như cũng dễ thở hơn.

Nhưng rồi, điều kỳ diệu đã bất ngờ xảy ra. Số là, để chuẩn bị ăn bồi dưỡng để đi B, tiểu đội của chúng tôi được cử ba người xuống tận Kim Bôi bắt bò. Tôi, cậu Nghĩa được anh Khởi để mắt tới, có lẽ vì ngoan ngoãn nhất, nên được anh cho đi cùng. Từ nơi nhận bò về đơn vị phải đi bộ hai ngày đường nên ngày thứ nhất chúng tôi phải ngủ lại dọc đường. Đêm đó ngủ nhờ một nhà dân trong một bản Mường, bò buộc dưới sàn, người ngồi trò chuyện thâu đêm bên đống lửa. Không có gì đáng nói nữa.

Sáng ra, bước xuống sàn, mới biết đêm qua một con bò đã tuột dây xổng đâu mất! Anh tiểu đội trưởng của chúng tôi sợ tái mặt. “Mất bò chứ đâu phải chuyện đùa!”. Thế là, ba anh em toả đi ba hướng, quyết tâm tìm bằng được chú bò lạc mới trở về.

Suốt một ngày, tôi và Nghĩa đi rã cả hai cẳng vẫn không thấy tăm hơi chú bò tai quái kia đâu. Gần ba giờ chiều, hai đứa thất thểu trở về, gặp nhau ở con suối đầu bản, Nghĩa nhăn nhó lắc đầu:
- Không thấy, có lẽ nó đã biến thành những món tái lăn, tái nạm ở đâu đó rồi.
Tôi rũ ra như mớ rau héo:
- Phen này mình cũng sẽ bị ông Khởi xơi tái thôi. Con bò ấy… Chiều qua do mình buộc mà.
Như hai kẻ thất trận, chúng tôi thất thểu trở về. Nhưng vừa tới chân cầu thang, đã thấy tiểu đội trưởng Khởi đứng đó, đầu chải bóng mượt, bộ quần áo bạc phẳng phiu, thẳng thớm.
- Hai quân nhân kia! Đứng nghiêm!
Chúng tôi giật bắn người và làm theo. Như một tư lệnh thực thụ, tiểu đội trưởng Khởi chắp tay sai lưng và bắt đầu oang oang huấn thị. Tôi nháy cậu Nghĩa “Có chuyện rồi! Bệnh cũ tái phát”, Nghĩa lè lưỡi gật đầu. Và ngay lập tức tôi hiểu ra mọi chuyện khi ngước nhìn lên. Phía bên trên cầu thang ở lối nghỉ trước nhà, một nàng khá trắng trẻo mập mạp đang che miệng cười.
- Báo cáo thủ trưởng! - Tôi lập tức biết phải làm gì để giải nguy - Chúng tôi đã nhận rõ khuyết điểm. Xin hứa lần sau nếu được đi nhận bò sẽ…
- Đây không phải là chuyện bò bê! Hiểu không? Đây là nhiệm vụ cách mạng. Đảng và nhân dân quan tâm đến sức khoẻ của chúng ta, tạo điều kiện cho chúng ta ăn no để đánh giặc giỏi. Vậy mà các đồng chí đã làm gì? Đã làm gì, hả?
- Thôi đi anh Khởi - Giọng oanh vàng đã cất lên - Dù sao cũng đã tìm được bò rồi mà.

Thủ trưởng của chúng tôi lập tức hạ gam. Chúng tôi đã thoát hiểm và trở về đơn vị với ba con bò và… một cô gái. Thì ra cái con bò ranh mãnh ấy đã lên nông trường cam và bị cô nàng xinh đẹp này bắt làm tù binh. Làm cách nào mà anh tiểu đội trưởng của chúng tôi vừa xin được bò vừa tán được cả người (mà lại không hề phải dùng đến cánh lính trẻ chúng tôi làm “quân xanh” để giải quyết khâu oai). Tôi xin được giữ bí mật để sau này dùng cho một chương tiểu thuyết. Chỉ biết rằng, sau đợt huấn luyện đó, đơn vị chúng tôi được nghỉ hai mươi ngày phép để chuẩn bị ra trận. Và, trong hai mươi ngày đó, anh tiểu đội trưởng của chúng tôi đã hoàn thành công việc hệ trọng nhất của một đời: thành gia lập thất.

Năm 1971, trong một trận đánh ác liệt ở đường 9 Nam Lào, anh Khởi đã bị thương, được chuyển về tuyến sau và trở về hậu phương. Năm năm trước, trong một chuyến đi công tác ở Hòa Bình, tình cờ tôi đã gặp lại anh. Đến tận lúc đó tôi mới biết gia đình anh hiện sống ở nông trường Sông Bôi, nơi năm xưa anh đi tìm bò mà lại gặp được bạn tình. Tôi đã tới thăm gia đình anh, được anh cho đi thăm vườn trại và hoàn toàn không ngạc nhiên khi gặp trong vườn rừng của anh một đàn hơn chục con bò. Có lẽ, đó là con “vật thiêng” mà anh tiểu đội trưởng của tôi suốt đời phải chịu ơn.

 Kh Q TH.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #123 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 11:56:25 pm »

                                      Hổ cốt du ký
                                      Tác giả : Vũ Bảo

Đội tuyển thành phố Hồ Chí Minh đang vẫy hãm khung thành đội tuyển Hà Nội, thấy thằng bạn đang nhảy như choi choi, hò hét như hóa dại cổ vũ cho đội Thành phố Hồ Chí Minh, Đức vội máy nó chuồn ra cổng.
20 giờ 15, hai đứa đã đến địa điểm đóng quân. Thằng bạn quay xe ngay về Hà Nội. Chỉ còn 45 phút nữa là đến buổi phát thanh Quân đội nhân dân, đừng có đứa nào dại đến quấy rầy đại đội trưởng vào giờ ấy. Tranh thủ giây phút vàng ngọc này, Đức xộc thẳng đến buồng đại đội trưởng.

Đức gõ cửa.

Tiếng đại đội trưởng vọng ra:

- Ai?

Đức trả lời khe khẽ:

- Báo cáo đại đội trưởng, em ạ, Đức đây ạ.

Nghe tiếng đàn ông đại đội trưởng ra mở cửa. Anh không tiếp con gái vào ban đêm, rách việc!

Đức vừa vào đến nhà vội rút chai rượu trong túi xách đặt lên bàn:

- Báo cáo đại đội trưởng, thầy mẹ em có chai rượu hổ cốt, sai em đem lên biếu đại đội trưởng ạ.

Ở ngoài hiên có bóng người thấp thoáng bên khuôn cửa. Anh lính nào đấy vừa lên trả phép có tí quà định đến biếu đại đội trưởng, nhưng thấy bị “đội bạn” chen ngang, nên vội lủi ra gốc cây đứng chờ.

Trong nhà, hai thầy trò mải vui quên cả điều lệnh, đại đội trưởng vỗ vai Đức đến “bộp” một cái rồi cười to:

- Cậu cho mình gửi lời cám ơn các cụ. Còn cậu, mình phê bình cậu...

Đức giật mình đến thót một cái, rút túi lấy bao Bông Sen run run xé mép giấy thiếc:

- Mời đại đội trưởng xơi thuốc.

Đại đội trưởng vừa rút điếu thuốc vừa nói tiếp:

- Cậu là quân nhân cách mạng, cậu lại quên là Bộ Quốc phòng đã có lệnh cấm uống rượu à?

- Báo cáo đại đội trưởng, đây là thuốc ạ. Đau khớp, nhức xương, đại đội trưởng uống một chén là kiến hiệu lắm ạ. Đây là xê ri cao hổ cốt nấu phục vụ cán bộ cao cấp, thầy mẹ em mới nhờ mua được một chai.

Bây giờ đại đội trưởng mới nhìn đến nhãn hiệu dán ở vỏ chai in hình đầu hổ và dòng chữ:

TIGER’S BONES  - BEST QUALITY

(Rượu hổ cốt - chất lượng tốt nhất)

THAI BìNH DƯƠNG FACTORY

MADE IN RS VIÊT NAM

Đại đội trưởng thầm nghĩ: tên rượu viết bằng chữ nước ngoài, bét ra cũng là loại xuất biên chứ khônng phải tồng tộc bán ở cửa hàng dược phẩm theo giấy giới thiệu đơn vị.

Đức xòe bật lửa mời thuốc cho đại đội trưởng xong mới vừa gãi đầu gãi tai nói nhỏ nhẹ:

- Báo cáo đại đội trưởng, gia đình em có việc đột xuất, em phải đưa thầy em vào viện nên đến chậm.

Đại đội trưởng rút vội điếu thuốc ra khỏi môi:

- Cụ nhà làm sao?

- Báo cáo đại đội trưởng, thầy em tự dưng khó thở, may sao em xin được xe của ông thứ trưởng ở cùng khu tập thể, đưa ngay thầy em vào bệnh viện.

- Tình hình sức khỏe cụ nhà bây giờ thế nào?

- Báo cáo đại đội trưởng, thầy em vẫn thở bằng bình ô xy ạ.

- Gay nhỉ.

- Chủ nhật này, em xin phép đại đội trưởng đi tranh thủ vào viện thăm thầy em, sáng thứ hai em lên ngay.

Một đại đội trưởng vốn giàu lòng thương lính nỡ nào từ chối đề nghị thiết tha của người con hiếu thảo thế này được?

Đức vừa đẩy cửa bước ra, Hoàng đang nấp ở gốc cây chạy chạy vội vào. Phúc cho cậu ta, bây giờ mới 8 giờ 40, còn 20 phút nữa mới đến chương trình phát thanh Quân đội nhân dân. Lộc ôm một gói nặng đang đứng thập thò sau bể nước vội chạy vụt lên, nấp sau gốc cây Hoàng vừa đứng chờ ban nãy. Thọ lẻn đến nấp sau bể nước chờ Hoàng vào.

Từng anh lính trả phép chậm lần lượt bước vào biếu quà, và trình bày lý do “có chuyện đột xuất” trong gia đình nên mới về chậm. Từng người con hiếu thảo ấy lại năn nỉ đại đội trưởng chủ nhật này cho phép họ về Hà Nội vào viện thăm bố, thăm mẹ lần nữa.

Cầu được ước thấy, tối thứ bảy, Đức, Hoàng, Thọ, Lộc lại được tranh thủ về để thăm bố mẹ “đang nằm viện” cho nó tròn chữ hiếu.

Đại đội trưởng có biết đâu bệnh viện ấy là sân vận động Hàng Đẫy, còn bố mẹ của các “con trời” là 22 cầu thủ mặc quần đùi lồng như ngựa trên bãi suốt 90 phút giao tranh trong trận đội tuyển Thành phố Hồ Chí Minh gặp đội tuyển miền Duyên Hải giành cúp đội tuyển 1987. Chuyện ấy thôi không nói nữa.

Lại nói về đại đội trưởng.

Từ lâu, anh đã muốn xin chuyển vùng về Ban chỉ huy quân sự huyện nhà cho gần vợ con. Anh đã một lần tâm sự với tiểu đoàn trưởng và nhờ tiểu đoàn trưởng trình bày với cấp trên. Đôi ba lần anh định lên gặp tiểu đoàn trưởng, nhưng thời buổi này, nhờ vả ai việc gì, lên tay không nó chống chếnh thế nào ấy. Đến nay có số quà của anh em vừa biếu, đại đội trưởng quyết định lên thăm tiểu đoàn trưởng, nghe ngóng binh tình thế nào.

Tiểu đoàn trưởng thích xem ti vi. Anh ngồi lì trước màn ảnh nhỏ từ Bông hoa nhỏ đến tận Chương trình truyền hình đêm nay của chúng tôi đến là hết. Thân ái chào các bạn. Những lúc ấy đừng ai hòng kéo anh ra khỏi máy thu hình. Chẳng may, trên trung đoàn có điện xuống anh hất hàm cho trợ lý thông tin chạy sang nghe rồi về báo cáo lại với anh. Cũng may anh lại bị “dị ứng sách báo”. Đọc sách là buồn ngủ, đọc báo là ngáp ngắn ngáp dài. Vì thế đại đội trưởng bấm giờ lên thăm tiểu đoàn trưởng tốt nhất là sau bữa cơm chiều cho đến trước khi tiểu đoàn trưởng cắm phích ti vi vào ổ điện.

Y như rằng đại đội trưởng đến vào lúc tiểu đoàn trưởng đang thấy lâng lâng trong lòng, ngong ngóng chờ người bạn nào đó đến lấp chỗ trống.

Tiểu đoàn trưởng dội nước sôi tráng ấm chén, vừa với tay lấy hộp chè, đại đội  đã trưởng đã moi ngay trong túi một bịch chè cầm hai tay đặt lên bàn:

- Đại úy thưởng thức món chè Thái này xem thế nào?

Tiểu đoàn trưởng gật gù:

- Tay này dạo này xài sang đấy.

- Báo cáo đại úy, tôi có ông anh dưới quê lên chơi cho ít quà. Lộc bất khả hưởng tận, gọi là có chút tình cảm lên thăm đại úy.

- Hừ, cái cậu này chỉ vẽ vời.

- Đây hoàn toàn là chuyện tình cảm, đại úy.

 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #124 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 11:58:26 pm »

                                          Tiếp :

Miệng nói, tay đại đội trưởng lần lượt bày các thứ lên bàn. Toàn những các ông đa phúc bà mít: nửa cân mứt hạt sen, nửa cân cà phê Buôn Ma Thuột, một hộp đường viên Tiệp Khắc, chai rượu Hổ cốt.

Tiểu đoàn trưởng mỉm cười:

- Bánh đa bẻ nửa, anh em ta chia đôi.

Đại đội trưởng vội thanh minh hoạt cái cười của cấp trên cùng một tiết tấu, cùng một âm sắc:

- Thế là đại úy không tình cảm với tôi rồi.

- Thật lòng nhé, mình có uống rượu bao giờ đâu. Mình bị huyết áp cao, bác sĩ cấm rượu. Đành kiêng vậy.

- Đại úy cho phép tôi gửi về biếu các cụ ở nhà. Đây là rượu hổ cốt thứ thiệt, phục vụ các đồng chí lãnh đạo cao cấp, ông anh tôi có tay trong xin duyệt được một chai. Đau khớp, nhức xương, uống vào kiến hiệu lắm.

- Các cụ tôi quy tiên cả rồi.

- Anh không cho phép thằng em biếu bà chị món quà nhỏ này hay sao?

- Bà ấy đã là sư tử Hà Đông, cậu lại tăng cường cho bà ấy một con hổ nữa, sức mấy tôi chịu đựng nổi. Cậu bày vẽ quá làm mình khó nghĩ.

Miệng nói thế nhưng tiểu đoàn trưởng hơi nghiêng người nhìn vào hình đầu con hổ và dòng chữ tiếng Anh trên nhãn hiệu chai rượu.

Đại đội trưởng thấy thế đưa đẩy nhẹ chai rượu về phía tiểu đoàn trưởng:

- Đại úy thông cảm, cái tình với nhau mới là quý. Vật chất chỉ là cái hương hoa làm sao xứng đáng với sự quan tâm của đại úy với gia đình chúng tôi.

Nghe đến câu “sự quan tâm của đại úy với gia đình chúng tôi” tiểu đoàn trưởng sực nhớ công việc trọng đại mình đang mắc nợ đại đội trưởng, anh nhoai người vỗ vai đại đội trưởng:

- Yên trí, mình đã nói với trung đoàn trưởng rồi.

- Đại úy xem ý tứ trung đoàn trưởng thế nào?

- Mình là Kít xinh giơ của ông ấy. Xuôi. Nhất định xuôi.

Vừa lúc ấy, ở phòng bên, nhạc hiệu của Đài Truyền hình trung ương bắt đầu vọng sang - đại đội trưởng biết ý, xin cáo lui.

Tiểu đoàn trưởng cất từng thứ một vào trong tủ. Khi cầm đến chai rượu hổ cốt, anh ghé nhãn hiệu vào gần ánh đèn. Anh không biết tiếng Anh nhưng lại tin rằng, cái gì các đồng chí lãnh đạo cao cấp đã dùng tất nhiên phải tốt hơn các loại rượu thông thường đang bán cho dân chúng.

Tiểu đoàn trưởng có thằng con trai đầu lòng thi trượt vào trường đại học lâm nghiệp, cho cháu học thêm một năm nữa thì vừa tốn kém, vừa chưa chắc cậu cả năm tới thi có đủ điểm hay không, chi bằng làm cái đạo chắc, cứ xin cho cháu vào làm công nhân ở nhà máy dệt vợ anh đang làm, chờ có chuyến nhà máy tuyển công nhân đi học nghề ở Tiệp Khắc, hai vợ chồng sẽ nhờ trưởng phòng tổ chức cài ngay cậu cả vào danh sách. Thế là gọn.

Nhà trưởng phòng tổ chức ở mãi tầng năm khu tập thể Lò Lợn. Tiểu đoàn trưởng gỡ chiếc túi ra khỏi ghi đông, đưa cho vợ rồi cố đẩy chiếc xe lên năm tầng gác, vượt một bà xách cái làn nặng đang hỏi thăm lên tầng 5.

Vừa mở cửa thấy vợ chồng tiểu đoàn trưởng, trưởng phòng tổ chức đã ớn lên đến sống lưng. Đợt này, nhà máy chỉ tuyển có 50 cháu vào học nghề, các ông ở thành, các ông ở quận, các ông ở Sở lao động, ở Sở công nghiệp, ở Ngân hàng đã gửi gắm 15 suất rồi, ông giám đốc xí phần 5 suất nữa, thế mà trong hồ sơ tuyển sinh, trưởng phòng tổ chức đã nhận được 125 đơn của cán bộ công nhân nhà máy. Lại cái đơn thứ 126...

Tiểu đoàn trưởng vừa cười khà khà vừa chìa tay bắt tay trưởng phòng tổ chức, như đang gặp một chiến hữu xa nhau lâu ngày.

- Hôm nay đi họp, tôi về thăm các đồng chí.

Không chờ trưởng phòng tổ chức mào đầu, tiểu đoàn trưởng kéo phéc mơ tuya túi du lịch bày các thứ của ông đa phúc bà mít lên bàn:

- Anh chị thông cảm, con nhà lính cứ một là một, hai là hai, hôm nay đến thăm anh chị có chút cây nhà lá vườn. Các đồng chí ở Hà Nội cứ chê anh em bộ đội không biết làm kinh tế. Mời anh chị thưởng thức gạo nếp hoa vàng chúng tôi cấy, cà phê chúng tôi trồng, đường chúng tôi ép mía, mật ong chúng tôi nuôi.

Tiểu đoàn trưởng đặt tiếp chai rượu Hổ cốt lên mặt bàn:

- Còn chai rượu này, tôi gửi biếu cụ. Xê ri này nấu phục vụ các đồng chí lãnh đạo cao cấp, khi về thăm tiểu đoàn, Trung tướng tư lệnh tặng tôi. Kiến hiệu lắm, lúc trở trời, cụ nhà đau xương, nhức khớp, mỏi gối làm một chén, cơn đau tụ ở đâu là tan ngay đấy, như quân ta truy kích quân ngụy năm 1975 vậy.

Lúc tiễn vợ chồng tiểu đoàn trưởng ra cửa, trưởng phòng tổ chức bắt tay tiểu đoàn trưởng thật chặt:

- Anh là lính, tôi cũng là lính. Anh bày vẽ quá đấy. Anh chị làm tôi khó nghĩ.

Tiểu đoàn trưởng cười khà khà:

- Tôi nay đây mai đó, việc nhà có bà ấy đảm đang. Còn thằng con trai, tôi xin bàn giao cho anh quản. Cứ tác phong quân sự như anh rèn cháu, tôi mới yên tâm.

Vợ chồng tiểu đoàn trưởng vừa bước ra hành lang, một người bê một bọc nặng đã chạy tọt vào nhà trưởng phòng tổ chức, một người khác chậm hơn, đành đứng chờ ở cửa nhà bên. Một người nữa đứng thập thò ở đầu cầu thang, mắt gườm gườm nhìn người đứng ở hành lang, hai chân đứng trong tư thế xuất phát, nhăm nhắm chờ cánh cửa bật ra là “thứ nhất cự lý, thứ nhì tốc độ”, chạy tọt vào nhà trưởng phòng tổ chức. Chuyện này lại thôi không nói nữa.

Nói tiếp về trưởng phòng tổ chức.

Ông ta có cậu con trai tối dạ y như bố mẹ vậy. Tổng kết học kỳ một điểm trung bình môn toán 4,5, môn văn 4, môn sử 5, môn địa 5, ngoại ngữ 2. Cứ đà này thì cậu cả mang dòng máu truyền thống của ông bố tối dạ được ở lại lớp cũ, làm nòng cốt cho năm học sau đến nơi rồi! Đúng mồng một tết, hai vợ chồng trưởng phòng tổ chức xách một làn nặng đến chúc tết cô giáo chủ nhiệm, vật đầu vật tai xin cô giáo quan tâm đến cháu, gia đình không quên ơn cô giáo.

Khách về rồi, cô giáo xách chai rượu Hổ cốt vào khoe với chồng:

- Anh xem loại rượu Hổ cốt này sang lắm, chỉ cung cấp cho cán bộ cao cấp. Thế là ông ấy quý trọng nhà ta lắm.

Ông chồng cầm chai rượu vừa nhìn nhãn hiệu, vừa gật gù:

- BEST QUALITY là thượng hảo hạng. TIGER’S BONES là xương hổ. Đúng là rượu Hổ cốt thứ thiệt rồi!

Nghe đến hai chữ Hổ cốt, Đức đang ngồi nghe chương trình ca nhạc mừng xuân, cũng phải chạy bổ ra:

- Bố mẹ mừng tuổi chai rượu cho con! Đại đội trưởng khen rượu hổ cốt này chữa đau khớp nhức xương kiến hiệu lắm. Từ ngày uống chai rượu của nhà ta đem biếu đến giờ, cụ ông trong quê hương không bị đau khớp, nhức xương mỏi lưng nữa.

Sẵn chai rượu Hổ cốt trong tay, Đức “được nằm” ở Hà Nội hai ngày nữa, để dự trận đấu mở màn Giải bóng đá A1 toàn quốc. Thế là chai rượu Hổ Cốt đã đi chu du được một vòng. Không biết chai rượu Hổ cốt chạy vòng thứ hai được đến cung đoạn nào. Biết rằng: báo Sức Trẻ số đầu Xuân có một bài của Hoàng Sơn:

HỔ ĂN CỎ, HỔ ĂN CÁM

Thời gian vừa qua, nhà máy cơ khí Thái Bình Dương liên kết với nhà máy xi măng Sông Hồng sản xuất loại rượu Hổ cốt. Loại rượu này đang được khách hàng ưa chuộng.

Theo điều tra của chúng tôi, loại cao hổ cốt này chế bằng xương lợn và xương bò. Hai tấm ảnh các bạn xem dưới đây là hố đầu bò, sừng bò và hố móng lợn đầu lợn do chúng tôi chụp được tại chân núi Ta Vũ cách nhà máy xi măng Sông Hồng 2 ki lô mét.

Phải chăng cuộc liên kết kinh tế này đã lai tạo được một giống hổ ăn cỏ và một giống hổ ăn cám để nấu cao, chế biến rượu Hổ cốt đánh lừa đồng bào...

..Đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trưởng phòng tổ chức rồi cả đến vợ chồng cô giáo chủ nhiệm  cùng sung sướng thở phào. Tí nữa thì mình uống phải “thứ rượu thổ tả” đó.

V.B - 1987
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #125 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 12:03:30 am »

                                        Chuyện cũ kể lại
                                         Tác giả :Phan Viết Dũng

“Đó là mối tình đầu của mình”, ông trầm giọng, “và cho đến bây giờ, đã mấy chục năm qua rồi, mình vẫn không thể nào quên được”…

 Ông ngồi đấy, mái tóc điểm bạc, giọng cứ rủ rỉ. Ông kể:

Như phần đông trong đơn vị, mình nhập ngũ vào những ngày đầu tiên khi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đánh phá miền Bắc. Vừa tốt nghiệp cấp ba, bọn con trai hăng hái viết đơn tình nguyện ra mặt trận. Có đơn được viết bằng máu. Tuổi học trò thời ấy thật vô tư trong sáng.

Trong ba lô, mình vẫn mang theo tập lưu bút của lớp 10c. Nguệch ngoạc là chữ bọn con trai, nắn nót tròn trĩnh là chữ bọn con gái. Có những dòng lưu bút viết bằng mực tím, bên cạnh là một cánh phượng lấy từ sân trường, được ép khô và tấm hình của người bạn gái. Những ngày ở đơn vị huấn luyện là những ngày  vất vả. Nhưng tất cả rồi cũng đi qua. “Một hòn gạch là một thằng giặc”, mấy cái ba lô đan bằng tre ngày một to ra bởi số lượng gạch trong bao ngày càng nhiều hơn và sức chịu đựng của mình ngày càng tăng theo những cuộc hành quân dã ngoại. Đầu tiên là những ngày leo trèo trên những dãy núi đá vôi Vĩnh Lộc. Hai đôi giày cao cổ rách mướp đá vì tai mèo. Tiếp đến là những ngày chạy bở hơi tai, khói ra lỗ mũi dưới cái nắng tháng tám hun hút gió Lào trên đồi trập trùng ở vùng Minh Sơn - Đô Lương. Sau sáu tháng huấn luyện, đôi phù hiệu binh nhì được gắn thêm một ngôi sao để trở thành binh nhất. Ấy cũng là lúc cất sao, gửi tư trang lại hậu cứ, nhận quân phục mới vào chiến trường.

 Ông dừng lại, như suy ngẫm về những người lính thời ấy. Thỉnh thoảng, một cơn gió ào qua trên tán cây rừng. Có tiếng vượn hú, xa lắm những nghe rõ cũng tiếng chim, tiếng gió như hoà tấu theo câu chuyện kể:

Trên đường vào Nam, đơn vị dừng chân ở một làng nhỏ ven sông. Con sông chảy qua trước làng nước ngọt và xanh đến nao lòng. Phía sau là những dãy núi điệp trùng, nhấp nhô, xanh đậm trong ráng chiều. Tên rất đẹp: Lệ Sơn. Cái tên đó có thể có nghĩa là “núi đẹp”, hay có nghĩa là “giọt nước mắt của núi”. Sau những ngày bom đạn đầu năm 1965, đây là khoảnh khắc bình yên ở làng quê hẻo lánh này. Đêm qua, khi đơn vị vừa đến làng bọn mình được phân công về nghỉ tại nhà dân. Các chị, các mẹ, các em vui vẻ đưa anh em về từng nhà một. Mình cùng thằng Luy, thằng Bao trong tổ ba người đi theo một cô gái. Không nhìn rõ mặt, chỉ thấy trên tấm lưng thon thả là mái tóc đen dày, mượt óng ả, thỉnh thoảng lại lấp lánh dưới ánh trăng. Ông bà chủ nhà đang thức đợi bọn mình. Trên tấm phản đặt giữa sân là một rổ khoai mới luộc còn bốc hơi và một ấm nước chè xanh hãm với gừng. Ông chủ nhà bảo: “Đưa các anh ra bến tắm rửa, Hiếu”. Hiếu đưa bọn mình xuống bến sông trước nhà. Nước sông mát lạnh, lấm tấm sao trời. Rửa chân tay xong, mình thấy tỉnh táo lạ thường, một ngày hành quân vác nặng biến mất. Chén hết rổ khoai luộc, ba thằng đánh một giấc tới sáng.

 Một buổi sáng thật bình yên. Tia nắng đầu tiên chiếu qua những tàu cọ, mang theo màu xanh của lá và tiếng chim cu gay sớm với mình vừa xa lạ, vừa thân quen đến thế. Ông bà chủ nhà và Hiếu ra đồng, Tuấn, em trai Hiếu chuẩn bị đến trường.Ăn sáng xong có lệnh triệu tập cán bộ tiểu đội lên đại đội họp. Lúc này mình đã là tiểu đội trưởng

Nội dung cuộc họp thật ngắn gọn. Bình thường, như những trạm dừng chân khác, đơn vị chỉ nghỉ lại một ngày, chiều lại tiếp tục hành quân. Nhưng ở đây đơn vị sẽ nghỉ lại một thời gian, chờ lệnh mới. Hai ngày đầu tiên được nghỉ ngơi, ngày thứ ba bắt đầu có việc. Đại đội giúp dân đào giao thông hào, làm hầm chữ A, lại có thêm mấy ngày thu hoạch mùa nữa. Công việc khá bận nhưng mà vui. Mình còn vui hơn vì được tất bật bên người con gái mà ngay từ cái nhìn ban đầu đã có nhiều cảm mến. Em không đẹp rạng rỡ, không mạnh mẽ đến táo tợn như những cô gái mà mình gặp ở những vùng quê khác. Hiếu hiền thục, chăm chỉ, duy chỉ có một điều… em ít nói, không một thằng nào trong tiểu đội, kể cả những thằng đẹp trai chai mặt tiếp cận được. Ngoài công việc chung của đơn vị, riêng mình có một công việc khá lý thú là giúp cậu Tuấn ôn thi tốt nghiệp cấp hai. Lúc đầu chỉ một mình Tuấn, sau đó thêm hai đứa bạn cùng lớp. Mình giúp Tuấn những lúc rỗi. Thường là những buổi chiều cơm nước xong, có khi là buổi đêm bên ngọn đèn phòng không đã được che bớt ánh sáng. Những lúc đó mình thấy Hiếu ngoài sân, luôn tay luôn chân. Lúc thì hái rau, lúc thì xay, giã, giần, sàng. Thỉnh thoảng Hiếu lại liếc nhìn vào trong nhà. Bất chợt mình bắt gặp đôi mắt em mở to, trong sáng lạ thường. Cánh áo nâu lúc nào cũng ướt đẫm mồ hôi bó chặt lấy tấm thân chắc lẳn của người con gái đang thì. Những lúc đó, lòng mình xao xuyến lạ. Mấy cái hằng đẳng thức đáng nhớ của lớp bảy dễ thế mà cứ quên ngược, quên xuôi. Phải mở sách ra xem lại mới giảng giải được cho mấy cậu học trò nhỏ. Kể ra, từ ngày đến đây Hiếu đối xử với mình chẳng có gì đặc biệt, cũng giống như thằng Luy, thằng Bao ở cùng nhà. Ông bà, Hiếu và cả cậu Tuấn nữa coi bọn mình như những đứa con trong nhà. Mấy ngày đầu, lấy cơm từ bếp đại đội về bọn mình ăn riêng. Cơm lính, tháng hai mươi bốn cân có phần dư dả. Thức ăn thì lúc nào cũng thịt hộp, bột trứng, ngán đến tận cổ. Biết ý, hôm thì Hiếu cho bọn mình cơm hến nấu với rau mùng tơi. Hôm thì bát canh rau tập tàng nấu với cua đồng, ba đứa tranh nhau không thừa cặn. Canh rau với cà ghém, với quả trám chần qua nước sôi, có ít rau thơm lùa với cơm, bát mắm. Một lần mình đề xuất, buổi sáng cả nhà bận công việc đồng áng không theo giờ giấc của bộ đội được, còn buổi chiều anh em xin được ăn chung với gia đình. Ông bà, đặc biệt là Hiếu không chịu nhưng bọn mình bê cơm về cứ đợi gia đình cùng ăn luôn thể. Vui nhất là Tuấn, lúc đầu cậu còn sợ chị Hiếu, sau được bọn mình động viên, có vẻ hợp với mấy món cơm hộp của các anh. Nhìn rá khoai cõng cơm của gia đình mình thấy thương quá. Lúc đầu hơi ngại, nhưng sau đó cứ mỗi lần nhận được cơm về mình lại vội vàng trộn lẫn cơm bộ đội vào rá cơm gia đình với lý do là thực hiện khẩu lệnh “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” Hiếu mới chịu. Em nguýt mình một cái rõ dài. Mà cơm độn khoai cũng có hương vị của nó. Vừa ngọt, vừa bùi, chén mãi không biết no. Ăn quen đâm nghiện, mình cứ nhặt những lát khoai nhấm nháp với cà ghém cũng phải được mấy lần xới. Mê nhất là món khoai xéo mỗi sáng. Lát khoai thái mỏng, phơi được nắng, trắng thơm, nấu với ít đỗ đen, ăn với vừng không biết no. Biết ý, sáng nào Hiếu cũng dành phần cho mình một bát cái hương vị làng quê ấy.

 Giặc Mỹ bắt đầu đánh mạnh miền Bắc, chiến trường miền Nam quân ta đang đánh lớn. Lính ta bắt đầu sốt ruột. Kể ra chờ đợi lâu cũng chán, nhưng đợi đơn vị phải thay đổi nhiệm vụ. Mỗi ngày, bọn mình phải lên lớp  một buổi về phong tục, tập quán và học cả tiếng nước bạn Lào. Lính tráng bắt đầu tập tọng đánh vần những con chữ loằng ngoằng, lạ lẫm. Lính ta nhanh lắm, nhác thấy các em trong làng đã xổ ra hàng tràng. Nào là noong ngăm lai (em đẹp lắm, nào là noong hắc ái bò (em yêu anh không). Chị em trong làng chỉ biết cúi mặt, đấm vào lưng nhau thùm thụp rồi té chạy xuống bến nước, thùng xô va nhau loảng xoảng. Biết ngày sắp lên đường, nhưng chưa một dịp nào được nói chuyện với Hiếu lâu một chút. May quá, sáng đó đơn vị được nghỉ, Hiếu rủ:

- Các anh đi bẻ bắp với em đi.

Thằng Luy, nháy mắt về phía thằng Bao:

- Anh với anh Bao phải viết cho xong báo tường. Em đi với tiểu đội trưởng đi.

Lý do chính đáng gớm, nhưng mình cũng thầm cám ơn hắn cho mình có dịp được gần Hiếu. Băng qua đường tàu sau làng là một con đường mòn dẫn vào một thung lũng giữa những dãy núi đá vôi điệp trùng. Vừa đi em vừa kể:

- Lệ Sơn có tới 99 ngọn núi. Ông bà kể rằng, xưa có 100 con phượng bay đi vào đất kế đô. Tiếc là chỉ thiếu một ngọn núi, một con không có chỗ đậu, cả đàn phải bay đi. Nếu không làng này là đất đế đô đó anh.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #126 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 12:06:03 am »

                                       Tiếp theo :

- Sao gọi là Lệ Sơn?

- Em nỏ biết. Nghe nói xưa làng trồng vải để tiến vua, trong núi còn nhiều gốc vải to lắm.

- Đúng rồi, lệ chi là cây vải. Người ta gọi quả vải là giọt nước mắt của cây. Chắc vậy mới có tên là Lệ Sơn.

- Thiệt hả anh? - Em lắng lại, nhìn xa xăm lên những chóp núi. Mặt trời lên rực rỡ nhưng nét mặt em thoáng buồn. Tự nhiên mình cũng thấy nao lòng, buột miệng hỏi:

- Sao em không học tiếp?

- Học răng được anh. Hết lớp bảy là gắng lắm rồi. Cả nhà chỉ mong cho cu Tuấn học đến nơi đến chốn. Còn em… con gái mà.

Đến rẫy, em thoăn thoắt bẻ những bắp ngô chắc hạt. Chỉ một loáng đã đủ gùi của em và của tôi. Trên đường về, em vui trở lại:

- Anh còn trở lại, khi nào em đưa anh đi thăm động Chân Linh, thiêng lắm. Tục truyền trong động có cái tráp bằng vàng của tiên nữ bị chìm xuống đáy nước. Một vị đạo sĩ muốn cướp lấy, vì vậy đã xảy ra một cuộc quyết chiến. Dấu tích còn lại là những vết chém dưới Lèn đứt chân và trên núi vẫn còn hình của nàng tiên và vị đạo sĩ hóa đá. Trong động có đủ hoa thơm cỏ lạ đẹp lắm. Nhưng người ta bảo vô nó phải là người có thiện tâm. Bởi vậy có mấy câu thơ truyền khẩu: “Động môn vô tỏa thược/ Tục khách bất tằng lai”. Cha em giảng, có nghĩa là: “Cửa động không then khóa. Tục khách chẳng dễ qua”, đúng không anh?

- Đúng vậy - Mình trả lời em.

 Về đến nhà, câu chuyện của Hiếu cứ ám ảnh. Mình liên tưởng đến nàng tiên nữ Chân Linh với người con gái của cái làng Lệ Sơn ấy. Rồi tự hỏi, có phải lòng em cũng không cửa khóa, mong sao anh không phải là tục khách. Nhiều lần mình mỉm cười với cái ý nghĩ vớ vẩn ấy làm cho hai thằng cứ cật vấn mãi về cái buổi sáng đi bẻ bắp trên rẫy ấy.

Tháng Chạp, không khí những ngày giáp tết đến gần, cũng là lúc đơn vị được lệnh lên đường. Sáng sớm, đại đội thông báo nhận quân trang, lương thực, vũ khí. Để lại những bộ quần áo đi B, chiếc mũ tai bèo của bọn mình được thay bằng bộ quân phục Pa-thét Lào với chiếc mũ lưỡi trai lạ mặt. Chiến trường C đang vào mùa khô, đơn vị phải lên đường gấp. Bộ đội khẩn trương, cả làng cũng nhộn nhịp. Hiếu ra đồng từ sớm, nửa buổi cày đã thấy em về, thì thụp giã cối gạo mới. Cậu Tuấn định bỏ buổi học, nói mãi mới cắp sách đến trường. Được hai tiết học thấy cu cậu có mặt ở nhà, hăng hái đi bẻ lá nguỵ trang cho bọn mình. Mình xoa đầu cu Tuấn:

- Phải thi cho đỗ Tuấn nhé.

- Nhất định em sẽ lên đại học - Tuấn trả lời mình rồi hắn quay về phía Hiếu - Phải không chị Hiếu?

Hiếu vẫn lúi thúi trong bếp. Mình tần ngần trước cửa bếp, rồi mạnh dạn nói với vào:

- Anh đi nghe Hiếu.

- Dạ - Em ngước nhìn, đôi mắt đỏ hoe. Không biết vì khói bếp hay là vì em đã khóc.

Nơi tập kết là sân kho hợp tác. Bộ đội, dân làng bịn rịn chia tay. Những gói cơm mới được bọc lá chuối tươi từ tay các cô gái làng cứ dúi vội vào tay những chàng lính trẻ. Mình cố ý đợi, rồi cuối cùng Hiếu cũng đến. Em ngơ ngác, dõi tìm từng hàng quân. Em chạy đến chỗ bọn mình. Hiếu trao cho Bao và Luy hai đứa hai gói mo cau. Mình chỉ nghe loáng thoáng: “Hai anh đi mạnh khỏe”. Còn mình đứng đầu tiểu đội, em cúi đầu chạy lướt qua, không một lời tạm biệt. Mình buột miệng gọi:

- Hiếu!

Em vẫn không quay đầu lại. Bóng em lúi chúi, hấp tấp trên con đường làng và xa dần… Đi một quãng, mình ngoái lại, Lệ Sơn lặng im trong chiều tím. Có lẽ mình sẽ không bao giờ trở về cái làng quê ấy nữa.

 Mười lăm phút nghỉ tại chỗ. Đơn vị tản ra hai bên đường. Hương rừng đặc quánh sương đêm. Mình tựa lưng vào một ổ mối, chẳng buồn cởi ba lô, súng đạn.

- Tiểu đội trưởng ăn cơm với chúng tôi. - Một giọng ai đó mời chào.

- Cơm nếp của chị Hiếu, ngon lắm - Giọng thằng Bao lém lỉnh.

- Cám ơn, tôi không đói, các cậu cứ tự nhiên.

Mà có đói làm sao mình nuốt nổi, thật ê chề, buồn chán. Mình biết đó là mo cơm được nấu bằng hạt lúa nương. Tháng mười đói nước, no nắng, hạt lúa sắt lại được em tuốt bằng tay rồi xay, giã dần sáng, cơm dẻo và thơm lắm. Giá như mình cũng có được một mo cơm em trao, tối nay mình cũng sẽ không ăn, chỉ ngửi thôi. Ngửi đến no mùi hương của em. Mùi sương, mùi của nắng, của cả hương bồ kết mỗi tối em trải trước sân, rồi quay quay mái tóc hong gió. Nhưng mình đâu được diễm phúc đó…

 Nửa đêm, đến trạm nghỉ ngơi. Đơn vị rời khỏi đường lớn đi vào một nhánh đường mòn. Qua một sườn đồi thoai thoải, trạm giao liên đóng bên bờ một con suối cạn trong cánh rừng già. Đội hình tản ra, phát cây, căng võng. Mình mở ba lô… Trời ơi, cái gì thế này? Một chiếc mo cau căng tròn còn hơi ấm. Mình nâng lên áp vào mặt, vào má, vào môi. Không phải cơm nếp. Một mo khoai xéo, thơm bùi, thứ mà mình thích nhất trên đời. Một phong thư rơi trên cỏ, mình nhặt lên. Móc vội tăng võng, mình chui vào chăn bấm đèn pin lần mở phong thư. Một lọn tóc nho nhỏ, đen huyền, quấn gọn như một chiếc vòng tay. Một trang giấy học trò chỉ vỏn vẹn có mấy chữ: “Em chờ anh! Hiếu”. Mình áp phong thư vào ngực rồi  mở ra mở lại, đọc đi đọc lại. Chỉ có mấy chữ đó thôi. Nét chữ của em như hạt lúa nương mẩy tròn.

Mùa mưa năm bảy hai đơn vị về hậu cứ an dưỡng, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Dừng chân ở một làng cách Lệ Sơn không xa mình hăm hở trở lại tìm em. Thằng Tuấn đã vào đại học. Cha mẹ Hiếu đón mình giàn giụa nước mắt. Còn em, từ tấm hình trên bàn thờ nhìn mình như ngày nào, không nói, e ấp và thoáng buồn. Bà mẹ kể, mấy tháng sau khi bọn mình đi, Hiếu vào thanh niên xung phong. Một năm sau gia đình nhận được giấy báo tử. Em nằm lại dưới chân núi Phu-la-nhích ầm ào bom dội. Mình thắp nén hương, nhắn gọi: “Hiếu ơi, anh đã về”. Rồi mở túi áo ngực, mình đặt lên bàn thờ vòng tóc nhỏ, một phần máu thịt của em…

 Ông kể chuyện này vào một buổi chiều cuối năm, trong một lần chúng tôi có mặt trên trọng điểm ATP, gần nơi Hiếu ngã xuống. Đó là một ngày đã đóng cửa rừng. Tết đến, rừng cô quạnh lắm. Biết là chuyện cũ nhưng cứ mạn phép ông mà chép lại như thắp một nén hương cho những mối tình mãi còn với người còn sống.

 Phan Viết Dũng
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #127 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:30:02 pm »

                                  Trò đùa của tạo hóa
                                  Tác giả : Nguyễn Hoa
    Tôi viết truyện này vì dường như cuộc đời, rất nhiều việc, như là tạo hóa đùa giỡn con người.

     Nhà văn PHẠM HOA


Quê hương tôi, từ xưa thường có câu: Trai núi Để, gái làng Đông.Văn vẻ thế nhưng các cụ chỉ nói vắn tắt: Con gái ở đó đĩ thõa. Tôi không đồng tình với cái nhìn dân dã đó. Thực chất là nhựa sống tràn trề trong cơ thể các thiếu nữ. Bản năng sinh tồn dư dật của họ. Ở cái làng thật lạ. Cô gái nào cũng xinh đẹp, đẫy đà, hấp dẫn một cách gợi tình.

 Tôi có quen Loan, một cô gái làng Đông điển hình. Từ những ngày còn nhỏ, cô đã trội hẳn so với bọn con gái cùng lứa tuổi. Hình hài cân đối, trắng trẻo, cô còn hơn đứt bạn ở đôi mắt xanh nhìn mãi không tới đáy! Con bé sẽ sung sướng. Nhiều người nghĩ vậy. Cũng không ít người ngờ vực. Hình như cái gì “quá” cũng hỏng! Mặc cho mọi lời bàn bạc, Loan vẫn lớn lên xinh đẹp, tự nhiên, mà nghi ngại. Con bé nó làm sao ấy! Có lần nó ra thị xã, bà còn lấy than bôi vào mặt. Cô Loan cười rất tươi, nhưng trong bụng thì chê mẹ lẩm cẩm. Ai lại thế! Nhưng bà cương quyết hơn trong việc bắt con bé mặc áo vá khi đi làm dân công đắp đê.

Con sẽ sung sướng cho mẹ xem! Loan đinh ninh như vậy. Cô xinh đẹp mới là một điều kiện. Cô còn cảm thấy như vậy nữa. Chắc chắn là khác! Bao nhiêu lần chơi trò công chúa, vô tình nhưng cô đều bắt thăm được cả. Vận may có dành cho đứa nào trong đám đông ấy đâu. Và ngay lúc này thôi. Loan đã hoàn toàn là một thiếu nữ, cô đang đi trên đường cái. Trước mặt cô là bóng người không rõ đàn ông hay đàn bà. Cô mỉm cười và chơi trò may rủi. “Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều...” bài lạy khá quen thuộc của cô. Cô nguyện thầm: Nếu người đang đi về phía ta là đàn ông, thì các đấng thần linh trên cao xa hãy chứng giám cho con được sung sướng... Con cũng đoán cái bóng đang đi là đàn ông. Sau đó cô choàng mở to mắt. Bóng người mà cô đoán đã tới gần. Nhưng sao thế này: Con người đi qua mặt cô có nét của đàn bà trên mặt. Nhưng chân tay và dáng đi thì không! Chợt cô hoang mang... Đây là một người đàn ông! Tóc, gò má, dáng đi rắn rỏi. Nhưng ngực ông ta lại lùm lùm thế kia? Loan ngoái lại, cứ cố khẳng định mình đúng.

Càng ngày, càng có người xí phần Loan cho con em mình. Họ vào tận nhà làm quen. Họ đánh tiếng...

 
 Trong số những kẻ đánh tiếng dành Loan cho con mình có bà Thuận, vợ đại tá Lý, liệt sĩ. Nói đến bà Thuận vùng tôi ai cũng biết. Đó là người đàn bà đẫy đà, da dẻ tươi tốt, tính tình xởi lởi. Bà nổi tiếng bởi đẹp, bởi là vợ đại tá. Ngày đó vùng tôi chỉ mỗi ông Lý là cán bộ cấp cao quân đội. Bà còn có tiếng bởi sự gia giáo, thủ tiết thờ chồng, dạy thằng Tuấn trưởng thành, thằng Tuấn, con trai của bà và ông Lý đẹp như cái mầm cây. Tuổi con nít, Tuấn vừa có dấu hiệu lêu lổng, bà đã phải nhờ ông chú đánh cho nó một trận. Trận đòn quá tay, hơn với sự hình dung của bà Thuận. Thành thử thằng bé chết khiếp. Bà Thuận giận ông chú, nhưng bấm bụng chịu. Cứ thế, Tuấn lớn lên rồi vào đại học. Cha là liệt sĩ, Tuấn được miễn giảm nghĩa vụ. Bà Thuận đánh tiếng là đánh tiếng cho Tuấn. Một thanh niên đẹp trai, cao lớn lại xuất thân từ gia đình có nguồn gốc chính trị và kinh tế vững chắc như thế thì cả vùng ai còn bì kịp.

 Bà Thuận cũng tin như vậy. Do đó, bà tìm hiểu tính tình con bé. Biết nó tốt bụng, dễ tính cũng là được. Ngủ dậy muộn thì chả lo. Miễn có người con gái khỏe, tốt tính, về nhà, bà rèn sau. Một hôm bất ngờ bà gặp Loan đi cùng đường. Bà biết nó, chứ nó đâu biết bà. Bà chủ động lùi lại phía sau để xem người của con bé. Bà nhìn kỹ vai, hông, chân con Loan. Dáng đi của con bé thật mềm mại, uyển chuyển. Eo thắt lại, nhưng đến mông thì phình ra, tròn trịa gọn gàng. Với con mắt thật tinh đời, bà biết đây là con mái tốt. Da dẻ mát mẻ, trắng trẻo, không vướng víu, gò bó thì có lợi cho việc sinh nở.

Nhưng tận sâu trong cảm giác, bà Thuận vẫn còn lấn cấn. Có một cái gì đó chưa được rõ, chưa chắc chắn. Là người đàn bà sắc sảo, giỏi giang, tự tin vào hiểu biết của mình, bà cả Thuận nhận ra rằng, chưa nên vội vàng kết luận.

Thiên hạ đồn đại không sai: Bà Thuận quả là đáo để. Bà vừa có một quyết định táo bạo: Phải xem lại người con bé một lần nữa. Xem trong tư thế con bé trần truồng: Chủ yếu là muốn xem ngực nó. Đối với bà, ngực chứa toàn bộ cái tốt xấu hay dở của một đứa con gái. Nếu ở ngực khoảng cách hai vú hẹp thì người đó sức khỏe yếu. Khoảng cách giữa hai vú rộng, đầu vú vểnh ngang thì cô gái ấy khó dạy như con ngựa bất kham. Còn nếu hai đầu vú nằm ngay ngắn chĩa thẳng vào mắt ta - cô gái ấy là vàng. Người như vậy sẽ trung thực, ngay ngắn, không biết làm điều xấu, điều ác. Ấy là chưa kể đầu vú to hay nhỏ, đỏ hay đen, tròn hay méo. Đầu vú nhỏ, tròn, màu hồng, cô gái ấy dẻo người, mềm tính, nuôi con khéo léo. Vô phúc cô nào đầu vú đã đen lại to, lại méo, tính tình vụng về, đụng đâu vỡ đấy, làm gì hỏng việc ấy, nuôi con không sài đẹn cũng chậm lớn. Cô gái nào như vậy, mặt có đẹp như vầng trăng cũng xin vái chịu! Bà Thuận đinh ninh điều mình nghĩ là có thật. Hình như bà ngoại dạy bà thế, vì bà cũng chiêm nghiệm như thế. Rồi bà xuống làng Đông gặp bà bạn. Bà này là dì của Loan. Vừa nghe xong, người bạn của bà Thuận trố mắt ngạc nhiên. Nhưng bị nài, bị ép, lại nể bạn, dì của Loan cũng thuận lòng.

 Hôm ấy, Loan sang nhà dì giúp sửa lại chuồng lợn. Gần trưa, nhỡ tay dì làm đổ cái vại đựng nước tiểu. Cô bé kêu rú lên! Nước tiểu bắn tung tóe vào cả người dì và cháu, Loan vẩy tay, ái ngại nhưng cười rất vui. Nghe lời dì, cô xăm xắn đi ra ao để tắm gội.

Vườn vắng lặng. Ao nước trong vắt. Chỉ có con chim vàng anh nhảy nhót trên cành xoan. Loa chợt mỉm cười khi thấy khuôn mặt mình in trên mặt gương sáng loáng. Cô đưa mắt nhìn quanh trước khi lội xuống nước. Một thoáng nghi ngại lẫn thích thú. Ùm! Nước bắn lên tung tóe.

Từ sâu trong bụi mía, tim bà Thuận đập thổn thức. Mặt bà có vẻ đăm chiêu. Bà đã thấy được tất cả những gì cần thấy. Con bé có đủ ba cái đen và cả ba cái đỏ. Các cụ bảo như vậy thì tốt lắm. Bà thấy yên tâm về Loan. Nó cũng chỉ như bà ngày xưa là cùng! Có khi còn thua kém. Và hình như bà Thuận thấy nao nao. Bà thấy mệt mỏi và buồn xỉu. Từ sâu trong cõi vô thức bà chợt thấy mênh mang... mênh mang...

 Đại tá Lý từng là người đàn ông mẫu mực về mọi phương diện. Thân thể ông cũng cường tráng khó ai bì. Và như thế ông cũng mới lấy được chị Thuận đẹp có tiếng, hai người từng có trên mười bảy năm đầy đặn, hạnh phúc không chê vào đâu được. Sau khi chồng hy sinh, có đau đớn, có tự hào, nhưng bà Thuận gầy rộc đi. Phải mất một năm, bà mới gượng dậy được. Giống cái cây bị bão quật, bà mọc lại cành, trổ hoa, tươi xanh. Thời gian ngắn, bà lại lấy lại phong độ cũ: đẫy đà, hồng mượt, ung dung, đĩnh đạc. Bà lại đẹp vẻ đẹp riêng: hấp dẫn và bề thế. Phảng phất nét quý phái. Nhưng đây là bề ngoài. Số phận lại đặt cược để trêu chọc. Bốn mươi tuổi, bà Thuận đang bước vào độ tái xuân. Toàn bộ sinh lực được huy động, được sử dụng. Thành thử thân thể bà càng đẹp ra, hai mắt long lanh. Nói theo lối nói của nhà sinh học thì đó là tiếng hót của con gà mái, tín hiệu phát ra để đi tìm tín hiệu!

 Ngoại tình thì không bao giờ. Dứt khoát là như vậy. Nhưng bà vẫn mơ ông Lý về. Bà lại ôm chầm lấy ông bằng cảm giác da thịt thật sự. Cả khối người, hai vòng tay, đùi ngực va chạm, xoắn xiết lấy nhau. Bà tận hưởng cái tuyệt diệu của tạo hóa: cứng và mềm, rắn và nhũn, tung và hứng, trên và dưới, tấn công và bị động. Nhiều lúc người đàn bà hổn hển, mồ hôi đầm đìa với cuộc tình mà tạo hóa nào đã buông tha! Có sự tính toán nào cân đong nổi được sự mất mát này chăng? Và bao giờ cũng vậy, tưởng hết tột đỉnh sự mãn nguyện, số phận lại thức tỉnh bà. Có lẽ phải nửa phút gì đó, bà Thuận mới ngơ ngác nhận ra mình vừa qua giấc ngủ. Bà giật thót tim khi thấy bóng người đàn ông lù lù tiến tới. Những bốn người. Thì ra họ có mặt trong nhà từ lúc nào đó. Bốn bóng đen im lặng từ từ tiến lại. Đồ đểu! Đồ ăn cắp. A...! Bà kêu lên khiếp đảm. Nhưng ngay lúc đó, bà biết mình nhầm. Không có ai khác ngoài bà. Bốn cây cột nhà lặng lẽ, vô tri vô giác được rọi qua ánh trăng xanh lét mồn một.

Đó là đêm! Còn ngày, bà lại nghiêm ngắn chững chạc, bề thế. Đố thiên hạ bắt gặp bà có ánh mắt lẳng lơ, đa tình hay một câu đùa sàm sỡ. Trừ một lần. Tất nhiên là không ai biết. Đêm trăng vằng vặc! Ôi những đêm trăng chết tiệt bao giờ cũng gợi tình, hướng người ta, bao che và dụ dỗ người ta vào chuyện nhố nhăng. Thoạt đầu tiếng sáo trúc thoang thoảng. Thật chỉ nghe không rõ, tiếng sáo lại chìm đi. Hình như theo gió, tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ. Bà thừa biết tiếng sáo ấy của ai! Lão Hoành thợ đấu. Một gã tay vo miệng lốm, dỡ nhà để ăn. Nhưng người lão đậm chắc như được làm bằng lim bằng sến. Có lần nào đó, bà Thuận trông thấy hai chân lão đen dài, chắc nịch, đánh đều đều trên đường. Đúng như vậy, có một lần! Lão Hoành ở một mình, không có vợ, nhưng đã nằm với khối đứa con gái dễ dãi đĩ thõa trong làng. Cũng là một thằng mất dạy! Tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ.

 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #128 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:32:56 pm »

                                Tiếp :

Mặt lão Hoành thì xấu, đầu óc lại đần độn. Nghe đâu đi lính, tập bắn súng mãi không thuộc, phải loại về. Đúng là thứ đầu óc ngu si tứ chi phát triển. Cái khoản kia hắn lại vung vãi cho thiên hạ. Gió chợt đưa tiếng sáo dội lên vu vơ nhưng da diết một cách kỳ lạ. Thậm chí có thể tưởng tiếng sáo được thổi ngay ở đầu ngõ. Ngọn cau chợt tung đành đạch. Trăng vẫn xanh lét. Bà Thuận nhổm dậy. Bà đi ra ngõ. Tất nhiên vẫn đàng hoàng, chững chạc. Có lẽ phải nhờ cái lão này sửa lại cho góc nhà bị dột! Nhưng sao lại đi đêm hôm? Ban ngày gặp hắn làm sao được? Bà Thuận vững dạ hơn khi tìm được cái lý để đàng hoàng.

 Bà đã đi vào sân nhà lão, mạnh dạn và dứt khoát, bà đến để có việc thuê lão Hoành. Bà đã thấy lão. Cái khối đen chắc dài ở chiếu. Bà đã chạm phải cái mùi đàn ông, quen thuộc, nhưng hơi gắt, đậm, của lão. Có gì không chị? Tôi nhờ anh sửa cho cái mái nhà bị dột. Lão Hoành cười, hàm răng trắng nhởn, đần độn. Mùi đàn ông trong cơ thể sến lim của lão Hoành lại bốc lên. Một phút bối rối. Nhưng bản lĩnh và đức hạnh của bà Thuận chợt lên tiếng. Thỏa thuận xong với lão, bà Thuận bước từng bước dứt khoát ra ngõ. Đi như trôi về nhà, tiếng sáo của lão Hoành lại vu vơ đến phát điên lên được. Sao đàn ông mùi mồ hôi giống nhau thế? Từng có lúc bà úp mặt vào ngực ông Lý. Cái mùi nồng nồng quen quen thấm sâu vào bà, có lúc khó chịu, nhưng bây giờ, bà đang nhớ, thậm chí đang khổ sở vì nó.

  Sáng hôm sau, lão Hoành đến. Bà Thuận vẻ mặt lạnh tanh kẻ cả. Bà mở cửa cho gã đàn ông vào. Bà đang cố chống lại chính mình. Nhưng cái mùi ấy “mùi” con đực chính cống lại phảng phất ngay sát bên cạnh. Trái tim bà như bị vực dậy, được khởi động. Thân thể bà nóng dần lên. Bà cầm lấy tay lão tự nhiên đến vô ý thức. Chỗ này này. Rồi bà kéo lão vào sâu nữa gian trong. Nơi tối tăm và sực mùi ẩm mốc, mùi gỗ mục. Vai bà chạm phải lão. Sự đụng chạm ít ỏi ấy khiến bà thở dốc! Cái mùi đàn ông đậm một cách gay gắt. Vú bà chợt quệt vào cùi tay lão Hoành. Cái cùi tay rắn như sắt ấy tạo một sự dễ chịu. Bà muốn buông thả theo dòng nước. Tạo hóa vẫn không tha, vẫn nhử mồi vờn bà, giễu cợt và hành hạ con người. Tim bà đập mạnh. Hơi thở ngợp trong lồng ngực. Hình như lão Hoành ngửi thấy cái mùi ấy. Mùi con mồi chín nẫu. Lão quay lại cười nhăn nhở: cho rờ cái! Lão nói rồi cầm ngay lấy tay bà Thuận. Lập tức bà Thuận tỉnh như sáo: Ấy chết... đừng có vớ vẩn....

Chính đêm đó, không kìm được, bà Thuận ôm gốc cột khóc vật vã. Chính nó tiễn đưa bà êm đẹp không tai tiếng gì qua tuổi tái xuân rực rỡ, cháy đỏ.

Thêm hai tuổi, bà Thuận chợt thấy nực cười! Bà đã qua hẳn dòng sông dục tình cuồn cuộn tạo hóa bày đặt để đùa giỡn với con người. Kể từ đó, bà thấy thanh thản, nhẹ nhõm. Bà tự hào về mình. Trong vùng người ta đua nhau ngợi khen bà trong sạch thủ tiết với chồng. Bà mỉm cười thừa nhận sự danh giá đó. Bà vẫn giữ phong độ ung dung thư thái.

Và lúc này, bà đang kén vợ cho thằng Tuấn.

 Nghỉ hè, Tuấn đang giội ào ào nước lên đầu, mẹ đủng đỉnh bảo:

- Tối nay con có việc đi với mẹ đấy. Không nói nhiều và không phải bàn. Bà ra lệnh để Tuấn biết thu xếp. Anh chàng sinh viên đẹp trai ấy ngớ ra.

- Đi đâu hả mẹ?

Đủng đỉnh nhưng vẫn tươi tắn, bà mẹ nhắc lại.

- Đi có việc.

Bỏ mẹ! Tuấn thầm chột dạ. Tối nay anh đã  có hẹn. Nói dối mẹ chăng? Không được! Có trời cũng không lừa được bà. Rồi anh tự thu xếp: Đầu tối đi với mẹ. Sau một lát ở đó, anh sẽ đến gặp người bạn tình của mình. Người bạn tình anh vừa biết tên. Số phận run rủi cô đến với anh. Tuy mới gặp nhưng hai cái nhìn đã nóng bỏng như có lửa. Cô thổn thức, nhưng đầy sự e ngại. Đấy mới là cuộc gặp chủ yếu của đợt nghỉ hè này. Niềm vui, sự hy vọng của anh. Còn mẹ! Chiều bà thôi, ta sẽ thu xếp sau.

Hôm qua, đang trên đường về nhà, tự nhiên nghe đánh đoàng một cái. Quay lại Tuấn đã gặp cô thiếu nữ ấy cúi xuống bên lốp xe bị nổ. Anh sửng sốt: Quê anh sao lại có người hoàn hảo như vậy! Gương mặt trái xoan, mái tóc mềm bay lõa xõa. Vẻ đẹp trẻ trung và hoàn hảo. Một thoáng lưỡng lự, Tuấn xuống xe để giúp đỡ cô bé. Cái nhìn đầu tiên khiến Tuấn không thể nào bình thường được. Có thể vì cái nhìn mạnh như một tia chớp, gây sự bùng nổ khác thường trong anh. Cái nhìn ấy sáng lóe lên, e lệ, có chứa cả thiện ý lẫn sự rụt rè bối rối. Sau đó Tuấn đã vận động cô gái ngồi lên sau xe. Anh đã làm công việc cồng kềnh phức tạp chưa ai dám. Vừa dắt xe, vừa đi xe, vừa lai cô gái. Hai người đã “chết” vì nhau từ phút đầu tiên. Tình yêu của tuổi trẻ là như vậy. Nó bốc cháy tự nhiên và được thừa nhận từ phút đầu. Tên em là gì? Tuấn hỏi cô gái. Thanh! Cũng rụt rè, nhỏ nhẹ cô bé đáp. Hình như cô vẫn giữ lại một sự phòng thủ hờ hững. Em ở làng nào? Làng Xuân. Cô gái đã nói dối Tuấn. Khi đưa tới làng Đông thấy cô dắt xe vào ngõ có cây gạo, Tuấn mới mỉm cười nhận ra sự nói dối của cô gái. Tuy thế, cô vẫn lặng lẽ gật đầu, hai mắt long lanh đồng ý cho anh chàng tới chơi. Suốt một ngày đêm, Tuấn hồi hộp chờ đợi cuộc gặp lại với Thanh.

Bà Thuận cũng đưa Tuấn xuống làng Đông. Khi bà rẽ vào ngõ có cây gạo anh đã chột dạ. Không có lẽ cô Loan mẹ giới thiệu lại cùng nhà với Thanh? Trớ trêu thay, tạo hóa lại một lần nữa tạo nên sự trùng hợp ngẫu nhiên đến lạ lùng. Khi bà mẹ trong nhà gọi Loan bê nước cho khách thì tim Tuấn như ngừng đập. Cô gái sẽ xuất hiện trước hai mẹ con Tuấn là ai đây? Loan hay Thanh? Rồi cô gái từ từ đi ra. Chính là Loan. Bối rối, nhưng sung sướng chan chứa trong ánh nhìn, cô bé lướt mắt qua Tuấn lễ phép chào mẹ anh, khoảng một phút gì đó, lui vào nhà. Thì ra Loan nói dối Tuấn. Tên cô không phải là Thanh.

Sau này khi thuộc về nhau, Loan nói: Em yêu anh ngay từ lần gặp đầu tiên. Tuấn đáp: Anh cũng thế. Họ vùi vào nhau. Tuấn tận hưởng sự thơm tho tuyệt vời của trái đời dành cho anh. Hôn lên mặt, lên mắt, lên tóc, vào gáy, vào ngực. Tuấn vẫn thấy khao khát, chưa thỏa. Anh ôm riết lấy Loan vào lòng. Hình như anh cảm thấy sẽ có một lực lượng nào đó sẽ cướp mất Loan của anh. Vì thế, phần nhiều thời gian anh dành cho Loan.

Anh còn có ý tranh thủ, gấp gáp tận hưởng sự ngọt ngào có được từ Loan.

Mặc Tuấn vòi vĩnh được thỏa mãn cái việc ấy. Loan cốc vào đầu giễu cợt, cảnh cáo. Anh vẫn như con thú say máu đến ngơ ngác. Lần đầu tiên bà Thuận cãi với Tuấn:

- Con phải sống cho điều hòa đúng đắn. Dạo này mẹ thấy con có vẻ buông thả!

Bà Thuận gay gắt cảnh cáo Tuấn. Yêu con, bà lo cho nó thật sự. Thân thể thằng bé hao đi đến một nửa. Bà xót xa chăm sóc Tuấn. Có đêm bà còn lặng lẽ ngồi bên đứa con trai, dùng khăn chấm từng giọt mồ hôi cho nó. Chợt bà nhận ra một điều: Sự hấp dẫn chết người của con Loan làm hao kiệt Tuấn chứ ai? Mặc cho việc chuẩn bị đám cưới vẫn tiến hành, trong sâu xa, bà Thuận chợt thấy con Loan như mụ phù thủy vậy. Chính nó, cái con bé bà đã lựa chọn ấy, hãm hại thằng Tuấn chứ ai!

 Đám cưới khá to.

Người giúp việc cuối cùng ra khỏi nhà trả lại sự vắng lặng vốn có. Tuấn rửa mặt mũi, chân tay sắp sửa đi ngủ. Bên trong cánh cửa buồng kia Loan đang chờ anh. Giới hạn cuối cùng bao nhiêu lần định phá mà không phá được đang chờ anh. Sự nguyên vẹn trinh trắng của người vợ yêu quý đang chờ đợi. Giây phút đẹp nhất trong đời một con người đang đến từ từ trong đêm nay. Loan sẽ không cốc vào đầu, hoặc không cưỡng được nữa. Hai người chỉ chờ đợi đến nín thở giấy phút này thôi.

Phơi khăn mặt, giục mẹ đi ngủ, Tuấn vừa bước vào hướng buồng thì có tiếng gọi:

- Tuấn.

- Dạ.

- Lại đây.

Tiếng gọi nghiêm trang dứt khoát của bà mẹ khiến Tuấn như sực tỉnh.

- Có gì à mẹ.

- Có.

Mẹ anh vẫn ung dung thư thái ngồi trên sập gụ. Bà chưa có ý gì đi ngủ. Tư thế của bà chuẩn bị cho cuộc nói chuyện dài. Tuấn có vẻ sốt ruột.

- Ngồi xuống đây.

Mẹ anh nói bình tĩnh, đầy quyền uy. Bà vừa nhai trầu, vừa ngẫm nghĩ. Vẻ mặt của bà sâu xa, nghiêm khắc, âm thầm và rõ ràng không nhiều niềm vui như ngày trước. Anh vội, còn bà thì thong thả, đĩnh đạc.

- Có gì không hở mẹ?

- Có.

Bà vẫn không thèm nói ngay. Đó cũng là cung cách giao tiếp của bà. Không bao giờ vội. Bà để cho người được giao tiếp phải chờ đợi, mệt mỏi, thậm chí bẳn cáu. Bà không thèm quan tâm. Cuối cùng bà Thuận lên tiếng.

- Mẹ có chuyện với anh thế này. Hạnh phúc là về lâu về dài. Mẹ muốn anh phải giữ gìn, đừng có dốc, đừng có cố quá. Các cụ đã dạy đa dâm thì bại thận! Con phải coi chừng! Yêu ai cũng vậy, phải có liều, có độ. Phải biết chăm đến mình. Có còn cái thân mình thì mới còn sự sống, còn vui còn buồn, còn mẹ còn con. Mẹ khuyên con chỉ một lần thôi đấy. Quá đi là không có được.

- Vâng ạ.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #129 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:36:24 pm »

                                          Tiếp :

Tuấn trở vào buồng. Bà Thuận nhìn theo, ánh mắt long lanh là lạ. Một lát sau, bà tắt đèn đi nằm. Nhưng bà đâu có chợp mắt được. Hình như bà bắt đầu mất thằng Tuấn. Bà đã chuyền nó qua tay con Loan. Đứa con gái hoàn hảo bà đã tìm kiếm, lựa chọn, ngắm nghía và xem xét kỹ như ông nông dân tính toán trước khi mua một con giống. Vậy mà chính nó lại gây nên sự mất mát này. Bất chợt, như có những ngọn gió lộng réo xiết trong lòng bà đến buốt nhói. Đi đâu về là nó nhào xuống làng Đông. Bà không còn được vuốt má, vuốt  đầu con. Và thằng Tuấn cũng không có bụng dạ nào nhổ tóc sâu cho mẹ. Nó cũng không còn thì giờ để nói chuyện hoặc nhìn thẳng vào mắt mẹ âu yếm, tươi cười lấy một lần. Bà Thuận càng nghĩ càng ngấm ngầm bực bội. Lại còn con bé kia nữa. Nó lễ phép với mình, nó vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện rồi vội vã cuốn xéo đi với nhau.

 Vẫn không ngủ được. Trái lại, hai mắt của bà mở trừng trừng. Nó cứ sáng dần lên, rồi từ từ cháy đỏ như hai ngọn đèn quá điện. Màn đêm huyền diệu, bí ẩn, hấp dẫn, đồng nghĩa với sự sinh sôi và tang tóc, êm dịu và ma quái. Trong cái mịt mùng tứ bề ấy hai mắt bà Thuận cháy rực hẳn lên. Nội lực nào khiến mắt bà sáng hết cỡ. Chợt bức tường chắn căn buồng đôi vợ chồng trẻ trở nên mỏng tang như được thưng bằng vải mỏng. Bà Thuận nhìn thấy tất cả, rõ mồn một. Những hình ảnh đang diễn ra trong cửa buồng kia hiện lên không thiếu một cử chỉ, động tác. Chúng xoắn lấy nhau, chúng vật lộn, cấu xé. Những âm thanh không kém phần kích động. Tiếng vật mình, tiếng hổn hển. Tiếng quậy chân thình thịch. Tiếng thở khác thường. Bà Thuận thấy rõ thằng Tuấn (da thịt của bà, hòn máu của bà, hình ảnh còn lại của ông Lý) đang phớt bà đi. Nó đâu có thèm lưu ý đến sự chỉ bảo của mẹ. Láo thật. Hết lần này đến lần khác, thằng bé đang dốc hết sức mình cho con bé. Sự tham lam của con Loan không thể chấp nhận được. Không những thế, nó còn dang vòng tay chờ đón, nồng nhiệt. Bà Thuận thấy rõ như vậy. Ôi cái lỗ thủng không đáy ấy sẽ giết chết con trai bà mất.

Hết đêm bà Thuận không nhắm mắt, và hết đêm, đôi trai gái đắm say trong những cuộc lăn lộn như vậy. Sáng ra, dường như cả ba người đều kiệt sức. Tuấn và Loan vui vẻ, nhưng xơ xác sau đêm tân hôn. Thân thể họ vơi đi đến một nửa. Loan vốn thanh mảnh nhưng béo ngầm như vậy, mà đi đứng trở nên nhẹ bẫng, hẫng hụt. Tốc độ hao hụt của Tuấn rõ rệt hơn. Vẫn cao lớn, khôi ngô nhưng sự nây nẩy của bắp thịt cứ biến dần đi. Bà Thuận sút hơn tất cả. Béo đẫy như vậy nhưng bà bây giờ nằm xẹp trên giường như một con bé. Một con bé về kích thước, nhưng lại có mái tóc điểm bạc, nét mặt nhăn nheo. Bà nằm lỳ không dậy. Do mệt một phần, nhưng do ý bà muốn một phần. Để xem chúng nó có nhìn đến bà không. Để xem thằng Tuấn có tíu tít như trước nữa không. Phép thử này sẽ giúp bà đánh giá rõ sự thật. Rồi thằng Tuấn có đến thật. Cả con Loan. Sờ trán xuýt xoa an ủi sáo rỗng. Tếch một cái, chúng đã vào buồng hoặc xuống bếp, quấn lấy nhau, vồ vập, cấu véo. Và chỉ cần bước qua cánh cửa kia, chúng đã tụt quần áo, lõa lồ bên nhau, hú hý, thỏa thuê. Mặc cho bà ngóng trông vô vọng, mòn mỏi xơ xác. Mặc cho cái thân cái kiếp bà một thời bú mớm nâng niu chồng nó yếu ốm, tan rữa trong cảnh cô đơn. Quân mất dạy. Chợt bà lại nghe những tiếng động khả nghi. Và bà thấy thằng Tuấn trong cảnh cố gắng đến tuyệt vọng vắt kiệt sức mình cho con bé đang chờ đón.

 

Đêm nào cũng vậy. Cả ba người đều thức chong chong. Bà Thuận càng trở nên gầy nhỏ, khẳng khiu. Tỷ lệ nghịch với sự hao hụt ấy, lòng đố kỵ của bà mẹ cứ tăng dần lên. Đôi mắt của bà đêm đêm vẫn cháy đỏ một cách ma quái. Và lạ thay nước da trắng nõn của bà, một tháng đã trở nên đen đủi, dễ sợ. Điều này hẳn các nhà y học sẽ hết sức kinh ngạc. Da trắng, liên quan  đến bí mật các ẩn số về gien di truyền. Vậy mà sự bùng nổ tâm lý đã tác động mạnh đến cấu trúc vĩ mô trong các tế bào. Nó phủ định cái cũ, tạo nên cái mới. Việc bà Thuận trở nên gầy guộc đen đủi là có thật. Càng về sau này, đôi mắt bà càng trở nên ma quái. Nó không còn khả năng bộc lộ sự vui tươi, thiện ý.

Đã đến tận cùng giới hạn của sức chịu đựng. Một hôm bà Thuận gọi phắt thằng Tuấn ra. Không dạy bảo gì hết. Bà cấm! Tuấn im lặng không nói gì. Thâm tâm anh không đồng ý với mẹ. Bà gọi Loan tới. Con bé nen nét sợ hãi. Bà mắng té tát. Láo. Mày đừng có mà giết thằng Tuấn. Không nghe, bà tống ra khỏi nhà. Loan khóc như mưa. Nhưng tạnh nước mắt, trong lòng con bé chợt nổi chông gai chĩa về phía bà mẹ. Một thế trận đã bày để chuẩn bị nghênh chiến. Tuấn là con bà, nhưng anh ấy là chồng tôi. Chả ai dễ gì lùi bước. Rồi bất chấp chúng lại yêu nhau như điên dại. Dường như trong thái độ của Loan có cái gì đó giống như sự thách thức. Cô công khai thúc đẩy tình yêu. Trước mắt bà Thuận, cô ép mình vào anh, nhặt sợi tóc rơi trên trán . Con người thù địch có sẵn trong mỗi nàng dâu ở Loan bắt đầu hiện diện. Nó đang chờ đợi và sẵn sàng đối mặt với bà Thuận. Hơn thế, cô còn có ý quyết đánh bại người mẹ trong cuộc giành giật sở hữu này.

 Đêm đêm, các cuộc lõa lồ, cô chẳng cần giữ gìn ý tứ gì nữa, cô còn để mặc cho âm thanh phát ra một cách tự do. Tận cùng sự chịu đựng, bà Thuận đập mạnh xuống giường.

- Thằng Tuấn, mày ra đây.

- Anh không phải đi đâu hết.

- Có ra không?

- Không!

Sầm. Cánh cửa buồng bật gẫy tung. Tuấn luống cuống quỳ xuống chân mẹ. Loan đứng dậy trong tư thế hoàn toàn trần truồng. Cô kiêu hãnh, ngang nhiên bước xuống từng bước bên Tuấn. Cô ôm lấy vai anh giục đứng dậy. Cô còn có ý xác định sở hữu một cách công khai, nguy hiểm. Ung dung, tự tại nhưng lòng cô đang có những sụt lở, tổn thất ghê gớm. Sau cái vẻ thật tự nhiên đàng hoàng kia là một thái độ cứng rắn quyết liệt, sẵn sàng giằng xé và chấp nhận cả cái chết.

- Cút! Đồ đĩ - Bà Thuận nghiến răng thét lên - Mày giết con tao. Mày hãm hại đời nó.

Loan càng vuốt ve Tuấn. Chồng cô khóc rưng rức. “Mẹ ơi! Con lạy mẹ”. “Cút ngay!”. Soạt. Bà Thuận rút con dao. Cuộc đấu đã lên đến tột đỉnh.

 Muôn đời như vậy. Mẹ chồng nàng dâu, cuộc đùa dai của tạo hóa, cuộc đấu vĩ đại. Lúc vờ vịt, giả dối, lúc bùng nổ như bom, như đạn bắn. Cuộc giành giật ấy muôn năm không có thắng  và không có bại. May thay, hóa ra Tuấn lại tỉnh táo hơn cả. Anh cướp tay Loan kéo chạy. Dùng dằng, Loan muốn chết ngay tại cửa buồng của vợ chồng mình. Nhưng Tuấn khỏe hơn đã kéo cô ào ra giữa đồng. Thiên nhiên được mát mẻ, rộng lượng, thiện ý, cưu mang họ.

Hôm sau, và hôm sau nữa, Tuấn về để điều đình với mẹ. Nghe lời chồng, Loan đồng ý chấp nhận về xin lỗi bà Thuận. Nhưng không xong. Niềm tự ái của bà Thuận vẫn đang ở vị trí tột đỉnh. Hoặc mình Tuấn về, hoặc xéo cả.

Khôn ngoan, Tuấn kéo cả Loan về sụp lạy dưới chân bà. Không nhúc nhích. Ý muốn của bà mẹ rắn lại như đá. Hàng xóm cũng mặc. Ông nào, bà nào cũng chỉ như nước đổ lá khoai. Mẹ Tuấn vẫn ngồi im phăng phắc. Mắt bà như nhìn vào chỗ không người. Bà không thèm biết tới sự có mặt của Loan. Bà có một điều kiện và chỉ cần nói một lần: Hoặc Tuấn về, hoặc xéo tất cả.

Tuấn cảm giác rõ sự hết lời của mình. Giới hạn cuối cùng mềm yếu và dễ dãi. Anh không thể chặt ba xác Loan ra được. Anh bỗng thấy lạnh run người. Anh im lặng đứng dậy, nước mắt cũng thôi chảy. Vừa đi ra ngõ, anh vừa thấy loáng thoáng ý nghĩ. Thôi mẹ muốn thế nào cũng được. Anh sẽ ra đi vậy. Để cho các người ở lại giành giật, cấu xé lẫn nhau. Một khi đến yêu mà không biết yêu thì tồn tại sao nổi. Chính lúc đó, trong anh diễn ra cuộc biến đổi dữ dội. Anh cảm thấy cô đơn lạnh vắng, như đang lững thững bước trên miền đất nào đó rất xa lạ. Ở đó cái gì cũng chập chờn, mênh mông, nhấp nhô như gò đống. Chân trời xa lúc ấy có màu hoàng hôn. Cái gì anh cũng hư hư thực thực, xa vời. Loan gọi, nhưng anh không tỉnh. Vẫn câm lặng, ngơ ngác. Giữa đêm, anh tỉnh dậy và đi đâu mất tăm.

Hôm đó, tôi có việc leo lên hòn núi Để cao ngất. Từ trên cao, tôi chợt thấy nhà cửa, đất đai, và cả con người mới nhỏ bé làm sao. Giống như những con kiến. Họ đi lại, vui chơi, cày ruộng cấy lúa, yêu nhau rồi ghét bỏ nhau. Ấn tượng đó bây giờ tôi vẫn không quên.

 PH H
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM