Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:46:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vài chuyện ngắn chọn lọc trên các tạp chí văn nghệ quân đội  (Đọc 132113 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #130 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:41:07 pm »

                                       Thời gian lặng lẽ
                                       Tác giả : Dương Tử Giang

Khoảng 10 giờ sáng ngày mồng 4 Tết âm lịch năm 1972 Cả khu vực xóm Trại, nơi đóng quân của đại đội 4, tiểu đoàn 10 râm ran chuyện không hay; một cô gái đến chơi với người của đơn vị, đã bỏ đi để lại một đứa bé còn đỏ hỏn, dễ chừng mới được vài tháng tuổi... Cả đại đội rối tinh rối xòe..
Cái vẻ đẹp trai thong dong thường ngày như biến đâu mất. Mái tóc đen mượt rối bời, mướt mồ hôi trán, trông bơ phờ mệt mỏi mà vẫn còn ngơ ngác, kể chuyện mà vẫn không hiểu sự tình nó là thế nào. Câu chuyện được kể lại lỗm bỗm, không biết đâu là đầu đâu là cuối. Đại để như Phú nói: Cô ta là bạn học từ hồi phổ thông, cũng có quan hệ với nhau từ hồi nghỉ hè. Bẵng đi thế rồi sáng nay cô ta bế đứa bé đến, cứ khăng khăng nói là con anh. Em cứ tưởng nói đùa, đang ngồi nói chuyện bình thường thấy cô ta đặt đứa bé ra phản, nói là để cho nó ngủ yên rồi bảo ra ngoài xem cảnh núi đồi, cũng chủ quan không tìm ngay...

Khuôn mặt rầu rĩ, giọng nói của Phú khổ sở quá: "Các thủ trưởng bảo em phải làm gì bây giờ?".

Kế hoạch lùng sục, tìm kiếm cô gái được triển khai tắp lự. Những là ra ga gần nhất, rồi hai ga trên và dưới. Những là đường cô ta quay lại, thậm chí cả lối đi xuôi nếu cô ta nghi binh. Những là vào từng nhà dân, chú ý cả những ao hồ, hàng quán ven đường.

Bữa cơm trưa được ăn vội vàng, toàn bộ trung đội 2 được huy động. Từng tốp 3 người được quán triệt, dặn dò kỹ càng. Lúc đi căng thẳng, hăm hở bao nhiêu, vài tiếng sau khi trở về thì đều rã rời, chán trường bấy nhiêu. Ai cũng thuộc lòng hình dáng, khuôn mặt, trang phục, thậm chí kiểu dép cô ta đi, thế mà tất thảy đều chịu thất bại, không hoàn thành nhiệm vụ. Lúc 3 giờ 15, thấy toán cuối cùng về cũng lắc đầu, đại đội trưởng dậm chân bành bạch rồi nghiến răng ken két:

- Không lẽ cô ta độn thổ?

Từ lúc cô gái bỏ đi , việc bế ẵm đứa bé được giao cho binh nhì Nguyễn Thị Hạnh, chiến sĩ gái tiểu đội nuôi quân. Đứa bé khóc ngặt nghẽo, không biết nó muốn gì, đòi gì. Chỉ thấy binh nhì Hạnh vã mồ hôi, bơ phờ không kém binh nhất Phú.

Đến 4 giờ 5 phút chiều, sau khi bàn bạc hội ý mãi, chỉ huy đại đội thấy chỉ còn mỗi cách là bế đứa bé lên tiểu đoàn, xin hướng giải quyết. Mệnh lệnh lập tức được thi hành, chính trị viên đại đội cùng Phú và Hạnh bế đứa bé lốc thốc lên đường. Tình huống hi hữu này cũng làm cho chỉ huy tiểu đoàn lúng túng không kém, chắc trong đời binh nghiệp của các anh chưa bao giờ gặp phải. Vấn đề xem chừng khó giải quyết.

Tiểu đoàn trưởng đỏ mặt tía tai khi nhìn qua đứa bé:

- Lính với tráng, tí tuổi đầu đã nhăng nhít. Cậu phải tìm bằng được và trao trả đứa bé này cho cô ta rõ chưa!

Chính trị viên tiểu đoàn thì ôn tồn:

- Em có biết nhà cô ta chứ gì? Được rồi, vấn đề là phải làm tốt công tác tư tưởng, phải quán triệt cho gia đình cũng như cô ta hiểu rõ tình hình. Chúng ta còn rất nhiều việc hệ trọng phải làm, chúng tôi cũng tin là gia đình và cô ta sẽ thấy được vấn đề để nhận lại cháu bé. Liên quan của em đến đâu và mức độ ra sao thì sẽ giải quyết từng bước.

Còn tham mưu trưởng lại trầm ngâm:

- Nhưng nếu như tìm đến nhà mà họ không nhận và cũng giả định là cô gái không có ở đấy, chưa về hoặc đã bỏ đi chỗ khác thì sao đây?

Mọi vấn đề được lật đi lật lại, các tình huống được giả định và các phương án khắc phục được nêu ra. Cuộc hội ý rồi cũng đi đến hồi kết thúc. Văn thư tiểu đoàn khua máy chữ rào rào, văn bản đưa ra tới tấp, riêng Hạnh được nhận hai tờ giấy có cùng nội dung được đóng dấu đỏ chói:

Đơn vị M ngày... tháng 2 năm 1972

Kính gửi: ủy ban hành chính xã Bạch Đằng

Cháu bé đây không phải là con của quân nhân Nguyễn Thị Hạnh. Do những khó khăn mà đơn vị chưa thể khắc phục được, nếu gia đình đồng chí Hạnh rộng lượng, vui lòng tiếp nhận và nuôi dưỡng cháu thì đơn vị hết sức hoan nghênh và cũng mong ủy ban hành chính xã tạo mọi điều kiện cho gia đình trong việc nuôi dưỡng chăm sóc cháu.

Đơn vị xin biết ơn gia đình, ủy ban hành chính xã và xin gửi lời chào quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

 T/M. Đơn vị, Tiểu đoàn trưởng: Thượng úy Đỗ Văn Huynh

Những người chờ và đi trên chuyến tàu chợ lúc 7 giờ 45 phút tối hôm 4 tết năm ấy từ Thanh Hóa ra Hà Nội hẳn chưa quên cảnh một đôi trai gái mặc quân phục nhưng mặt mũi còn non choẹt, bế theo một đứa bé, tất tưởi chen lên tàu. Anh chàng trông cao ráo lắm, đẹp giai nhưng thái độ gượng gạo, có vẻ thất thế, đeo hai ba lô cái trước cái sau, đi trước mở lối. Cô gái không đẹp, dáng người đẫy đà, bộ quân phục có vẻ hơi chật so với vóc dáng tràn đầy sinh lực của cô. Nét mặt hiền lành, thái độ bình tĩnh, cô gái chậm rãi đặt từng bước chân. Có vẻ như cô vừa sợ ngã, cũng như sợ ai đó vô tình bất cẩn, động vào đứa bé.

Cả hai không ai nói với ai câu nào, và từ lúc ở sân ga cũng như khi lên tàu, đôi trai gái nhẫn nhịn, chịu đựng những cái nhìn đầy ẩn ý của mọi người.

Tàu chạy được một đoạn, đứa bé ậm ẹo khóc. Rồi nó khóc to hơn. Bà khách sồn sồn ngồi dựa lưng vào ghế của đôi trai gái nói vọng sang:

- Nó đói đấy.

Anh chàng lóng cóng lôi ra cái bát sắt quân dụng, rồi bi đông nước, rồi đường, rồi sữa, rồi lập cập pha pha quấy quấy.

Thằng bé vẫn nhắm nghiền mắt, chóp chép uống được vài thìa, rồi nó nghẹo đầu ngủ. Im lặng chỉ được mươi phút. Thằng bé lại khóc và lần này thì nó khóc to hơn, lâu hơn. Nghe mà sốt ruột quá.

Bà khách sồn sồn nghển cả người lên thành ghế, càu cạu nhìn cô gái rồi càu nhàu:

- Rõ chẳng ai như nhà chị này, con khóc như thế mà cấm chịu vạch áo cho nó bú. Không có sữa thì cứ cho nó ngậm. Tí tởn lắm vào, giờ còn xấu hổ nỗi gì.

Cô gái thở dài, bặm môi quay mặt đi.

Cô gái ấy chính là Hạnh. Hạnh chẳng hé răng đến nửa lời, cô chỉ thấy mệt và đói, đúng rồi, suốt từ trưa đến giờ, Hạnh đã ăn uống gì đâu.

Khi trưa, nghe chị em kháo nhau, thế là cô chạy sang. Khi thấy thằng bé nằm chỏng chơ ở phản, khóc oe oe, chủ nhà cũng không có ai, thế là cô bế thằng bé lên. Lúc đầu thì cô cũng thấy ngột và khó chịu lắm vì thằng bé cứ rúc đầu vào ngực cô. Sau cô cũng thấy bình thường, quen quen đi rồi chỉ thấy thương nó. Da nó đỏ hồng, những mạch máu li ti, mầu xanh, mỏng manh và yếu ớt. Môi nó bé xíu, nhỏ như hai cánh hoa hồng. Hai mắt nhắm nghiền, trông nó tội nghiệp, giống như con chuột đồng mới đẻ: Người ta bảo những đứa bé trông đỏ đắn như thế này, khi lớn lên sẽ trắng trẻo xinh xắn lắm, chẳng biết có đúng thế không. Mà sao mẹ nó bạc ác, nhẫn tâm đến thế. Những ý nghĩ ấy cứ miên man, lộn xộn trong đầu Hạnh.

Cho đến khi bảo là phải bế nó lên tiểu đoàn, Hạnh có ý nghĩ là muốn bế nó thêm một lúc nữa. Thế là Hạnh xung phong. Lên đến Tiểu đoàn, khi chờ các thủ trưởng hội ý, rồi lại nghe nói phải bế thằng bé đi tàu ra Hà Nội, tự dưng Hạnh lại thấy ái ngại thay cho Phú. Chứ còn sao nữa, cả một đoạn đường trường như thế, anh ta sẽ xoay xở ra làm sao. Hơn nữa cô cũng lờ mờ cảm thấy là thằng bé có vẻ bén hơi cô. Thế là Hạnh lại xung phong.

Bây giờ, khi đã ở trên tàu, Hạnh không hề ân hận một tí nào về việc đã bế thằng bé. Cô chỉ thấy mệt và đói.

Tàu chợ, ì ạch như rùa leo dốc, lại người lên người xuống, í ới gọi nhau, ồn ào chen lấn. Hơi người nồng nặc, ngột ngạt quá. Thằng bé ngủ không yên, nó cứ giật mình thon thót và khóc liên tục. Có lúc tiếng khóc của nó như tắc đi, nghẹn lại, nó nấc từng hồi, còn mắt thì vẫn nhắm nghiền.

Hạnh thấy xót xa trong lòng, đã mấy lần cô trào nước mắt nhưng vì tối quá nên không ai nhận thấy. Bụng dạ Hạnh rối bời. Lúc thì cô muốn tàu chạy nhanh, về là tìm được và trao ngay thằng bé cho mẹ nó, để nó khỏi mệt. Nhưng chỉ lát sau thì cô lại mong ngược lại, rằng tàu chạy thế này cũng chẳng sao, cứ như thế này mãi cũng được. Đấy, nó đã im và ngủ ngon lành rồi còn gì. Hạnh chẳng muốn xa thằng bé tí nào. Vừa chớm hình dung ra việc phải trao thằng bé cho mẹ nó, cô tự đập vào tay mình một cái, dứt khoát không nghĩ nữa. Và Hạnh ôm chặt thằng bé vào lòng.

Bên cạnh anh chàng Phú đã say sưa ngủ từ lúc nào.

Tang tảng sáng, tàu đến ga Hàng Cỏ. Phú đeo ba lô đi trước dẫn lối, còn Hạnh bế thằng bé, lếch thếch theo sau. Vòng vèo mấy dãy phố thì đến nhà cô gái, linh tính báo cho Hạnh biết là cô gái không có ở đây, điều đó cứ làm cô băn khoăn, không biết nên vui hay nên buồn. Phú luồn tay qua cái lỗ nhỏ sát tường của cái cổng sắt đã bắt đầu xệp xệ, thấy vang lên hai tiếng leng reng ngắn, rồi lại thấy Phú cúi xuống, di di mũi giày. Có tiếng loẹt xoẹt, rồi một người đàn bà gày gò mà Hạnh có cảm giác là ở bà ta cái gì cũng nhòn nhọn, bà ta cau có rút cái chốt then cổng. Khi nhận ra Phú, ánh mắt sắc lẹm của bà ta cụp xuống rất nhanh, bà ta cất giọng vồn vã nhưng nhạt thênh thếch:

- Ô cậu Phú! Cái gì thế?

- Cháu muốn hỏi: Tuyết có nhà không ạ?

- Sao, anh vẫn còn hỏi nó cơ à? Nó không có ở đây.

Hạnh thấy rõ ràng là bà ta sững người khi trông thấy cô bế thằng bé. Rồi bà ta nhẹ giọng:

- Chào cô, là cũng mong cô thông cảm giúp. Bất tiện quá nhưng tôi cũng đã đến giờ đi làm.

Mặt Phú tái đi, Phú ngắc ngứ bảo:

- Cô ạ chuyện là thế này: Hôm qua Tuyết có vào đơn vị cháu...

Mắt bà ta long lên, bà ta xoe xóe:

- Nó cũng đến chỗ anh cơ à, thế thì con này hư thân mất nết quá rồi, vào đấy làm gì cho anh mất thì giờ. Mà này, nói thật cho anh biết nhé, gia đình tôi từ nó đã từ lâu rồi!

Bỏ mặc Phú và Hạnh đứng ở chỗ nửa đường nửa sân như thế, bà ta ngoảnh người bước vội vào trong nhà, lại còn đóng mạnh cửa ra vào đánh rầm một cái, làm thằng bé giật nảy người.

Một vài ánh mắt của những người chung quanh, rồi cũng cái nhìn na ná như thế của những người qua đường tò mò nhìn Hạnh và Phú, Hạnh thấy bối rối khó nghĩ quá. Rồi Hạnh lại thấy Phú cũng quay ngoắt người, lùi lùi bước. Thái độ yếm thế ấy của Phú làm Hạnh bực mình, Hạnh lật đật bước theo và hỏi khẽ:

- Thế nào, đi đâu bây giờ?

- Tôi phải quay lại nhà cô ta, tìm gặp bằng được mẹ cô ta rồi muốn ra sao thì ra. Thật là nhẫn tâm, thật là vô nhân đạo!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #131 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:43:14 pm »

                                            Tiếp :

Tất cả những điều được chứng kiến từ sáng làm cho Hạnh thấy buồn nản, Hạnh mệt mỏi bảo với Phú:

- Vô ích thôi, anh không tìm thấy cô ta thì cãi vã với bà ấy phỏng có ích gì, bà ấy cố tình ruồng bỏ thằng bé rồi, anh có thấy như thế không?

Trong lúc thay tã cho thằng bé, chợt nhớ đến hy vọng cuối cùng, Hạnh nói:

- Anh thu xếp đi, về nhà tôi. Chị gái tôi cũng mới sinh cháu, may ra...

Về đến làng vào lúc non trưa, vừa ở trên xe bước xuống, Hạnh đã xăm xăm rảo bước đi trước làm Phú cứ như phải chạy gằn theo sau.

Trong lòng Hạnh vừa xốn xang, vừa rối bời. Đã ngót năm nay cô chưa được về làng, những cảnh vật quen thuộc loang loáng trước mặt, một vài người í éo gọi cô chỉ trỏ điều gì đó. Hạnh cứ gật đầu bừa mà xăm xăm bước vội. Thực tình thì Hạnh có nóng ruột, không biết chuyện này rồi được thu xếp thế nào. Tâm trí cô dồn hết vào thằng bé và cô thấy trách nhiệm đặt hết lên vai mình, thôi thì hãy biết thế đã. Thằng bé sắp được bú, đúng rồi thằng bé sắp được bú sữa của chị cô, điều ấy như thúc giục, làm cô bước nhanh hơn.

Khỏi phải nói gia đình Hạnh ngạc nhiên đến mức nào và băn khoăn ra sao khi thấy Hạnh nói ra dự định của mình. Cô như đọc ra được những ánh mắt của mọi người và thấy lo lo, chột dạ khi chờ thầy mình xem giấy tờ. Mân mê mãi tờ giấy, lại mân mê đến cặp kính lão, rồi thầy Hạnh cũng nói khẽ khàng:

- Dù sao cũng là việc phúc đến nhà. Cũng là vất vả lắm đấy, thôi thì cũng tùy ở mẹ Tâm cả thôi!

Hạnh muốn nhảy lên khi nghe thấy bố nói ra điều ấy, cô cũng cảm thấy chị Tâm cũng thích thích thằng bé.

Cơm nước xong xuôi thì họ lại lếch thếch kéo nhau lên ủy ban. Ông phó chủ tịch xã chậm rãi đọc tờ công văn của đơn vị rồi đưa mấy tờ giấy khai sinh cho Phú. Ông hỏi như bâng quơ:

- Đặt tên nó là gì đấy.

Nghĩ đến câu nói của bố lúc trưa, lại chưa thấy Phú nói gì, Hạnh lanh chanh:

- Phúc ạ, Nguyễn Hồng Phúc, bác ạ.

- Mắt anh tinh, anh viết đi rồi tôi ký.

Khi Phú viết xong, vừa liếc qua ông đã xổ ra một tràng:

- Chữ anh này đẹp ghê, đại học hả? Nhưng không được, không được rồi. Thằng bé phải có mẹ chứ?

Phú tần ngần:

- Bác ạ, cháu không muốn ghi tên người đàn bà bạc bẽo ấy vào đây một tí nào.

Ông phó chủ tịch lắc đầu quầy quậy:

- Không được. Tôi cũng không hiểu anh đại học ở cái chỗ nào. Tôi hỏi anh nhé: Anh đẻ ra nó bằng đường nào, bằng nách à?

Mặt Phú như dài thuỗn ra, Phú chẳng nói được câu gì. Im lặng dễ đến hàng phút. Một ý nghĩ chợt đến, thế là Hạnh nói luôn:

- Hay đề tên cháu hở bác? Phải rồi, anh đề tên tôi vào cũng được!

Nói dứt lời, Hạnh lại đỏ mặt tưng bừng. Ông phó chủ tịch trân trân nhìn Hạnh. Rồi ông ngả người, cười khà khà:

- Thôi thì tùy nhé! Mà này, bút sa gà chết đấy con ạ. Gà con thì sống, còn chẳng biết gà mẹ sau này đào bới ra sao?

Lúc ấy, Hạnh chẳng bận tâm tý nào về ý tứ câu nói ấy của ông phó chủ tịch. Nhìn nét mặt như nhẹ đi của Phú, cô cúi xuống nhìn thằng Phúc đang hé mắt hấp háy, hình như là nó đang cười với cô. Còn Hạnh, cô chỉ nghĩ:

- Gớm, anh tí con ạ, được bú đẫy có khác.

Tối hôm ấy, Hạnh và Phú lại xuống ga, lên tàu quay trở về đơn vị.

Cái ánh đèn bão lúc lắc, lúc lắc ở cuối đoàn tàu xa dần rồi mất hẳn. Hạnh nhìn ra ngoài: tối như mực. Con tàu lao vun vút trong đêm.

Hạnh thấy mình lâng lâng, như nhẹ bỗng, nhưng rồi lại nặng trình trịch. Cô nhớ thằng Phúc, cô ứa nước mắt, buột miệng gọi: con ơi. Chừng như nhớ ra, cô giật mình quay sang: bên cạnh anh chàng Phú ôm ba lô, đã ngủ, say sưa từ lúc nào.

Sẩm tối ngày 26-3-1972, lúc đại đội đi hội trại hết trên tiểu đoàn thì Hạnh nhận được thư chị Tâm. Chị Tâm viết:

... Mọi việc ở nhà vẫn bình thường. Còn thằng Phúc, lạy trời nói trộm vía thì nó cũng dễ nuôi đấy. Nó đã biết lẫy. Dưng mà, cả đường và sữa gửi về nhà nhiều quá. ăn thì lâu hết mà bán đi thì bất tiện. Mà các em cũng phải giữ lại để bồi dưỡng sức khỏe chứ. Còn việc này thì chị muốn nói riêng với dì là hôm đi, dì có đưa cho 12 đồng, mấy hôm sau lại thấy những 35 đồng trong giấy khai sinh của thằng Phúc. Thế là của Phú rồi. Hôm nọ lại gửi về 7 đồng nữa, cho nên là lúc nào, dì cũng phải lựa lời mà nói với chú ấy. Chị cứ nghĩ nếu như chị đẻ sinh đôi, thêm thằng Phúc thì cũng đến vậy mà thôi...

Nói vào lúc nào nhỉ, mà lựa lời là thế nào? Hạnh thấy bí quá và băn khoăn cho đến tận lúc ngủ.

Thời gian lặng lẽ trôi đi...

Ngày 2-9-1975, trung sĩ quân y Nguyễn Thị Hạnh được Bệnh viện huyện tiếp nhận vào làm việc.

Vai đeo ba lô, tay xách hai con búp bê có những cái mắt nhấp nháy, khi vừa xuống tàu và đặt bước chân đầu tiên xuống sân ga, Hạnh khẽ reo lên: thế là xong. Trong lòng cô, đâu đó như có tiếng hát ngân nga. Cô sắp được gặp lại cha mình, gặp lại chị, gặp lại quê hương. Cô không đi đâu xa nữa, cô luôn được ở gần họ và một điều làm Hạnh thích thú lắm, ấy là được gặp lại thằng Phúc. Chắc nó cũng lớn chứ nhỉ, đã gần bốn năm rồi còn gì.

Bước chân vào cổng, Hạnh thấy chị Tâm đang sàng gạo, còn hai đứa bé đang chơi đùa gì đó. Hạnh nhận ngay ra thằng Phúc, nó e dè nhìn Hạnh. Chị Tâm cười cười:

- Các con chào dì đi. à, Phúc thì phải chào mẹ, mẹ Hạnh vẫn viết thư về cho con đấy. ôi chào, búp bê đẹp chưa này. Chào mẹ đi.

Thằng Phúc vẫn ngập ngừng, nói ấp úng câu gì đó rồi lảng ra sau lưng chị Tâm. Hạnh buông ba lô, cô bước lại rồi xoa đầu nó:

- Ừ, dì cũng được. Hôm nay thì tha, nhưng mai phải gọi là mẹ. Dì mới thực là mẹ, mẹ đẻ ra con đấy.

Rồi Hạnh bật cười rũ rượi, chị Tâm nắc nẻ cười theo làm hai đứa trẻ cứ ngơ ngác mãi.

Đêm hôm ấy, Hạnh thấy khó ngủ quá. Lẽ ra phải ngược lại mới đúng chứ. Cô nhủ thầm như thế rồi tự đoán, chắc là vì lạ nhà, hoặc lúc tối phải uống một hai chén trà đặc khi tiếp mọi người đến chơi.

Lúc sắp đi ngủ, Hạnh phải dỗ dành mãi, rồi chị Tâm cũng phải quát lên nữa, thằng Phúc mới phụng phịu, lên chõng nằm cạnh Hạnh.

Thấy nó cứ vật vã, sì sục Hạnh nghĩ là có thể nó lạ nên phải vỗ về nó mãi. Rồi cô nghĩ đến việc những người mẹ hay ru con. Thế là cô cũng đọc lên khe khẽ những bài hát, câu ca từ đời nảo đời nào, mãi như thế thành thử Hạnh lại thiu thiu ngủ trước.

Giấc ngủ có vẻ êm đềm, đang đến một cách chậm chạp khó khăn, bỗng Hạnh giật bắn người, có cái gì đó lờ quờ, mơn man trên ngực cô. Hiểu ra là tay thằng Phúc, Hạnh thở phào. Cô kéo lại áo rồi mắng nó:

- Làm thế là xấu, ngủ đi.

Thằng Phúc không chịu, có lẽ nó cũng mới gà gà ngủ. Rồi nó nhì nhèo bật khóc ti tỉ, đòi vào với mẹ Tâm. Đêm đã khuya lắm, Hạnh phải nghiêm giọng:

- Nín ngay, mẹ đánh đòn bây giờ.

Lời dọa của Hạnh chẳng có tí hiệu lực nào, thằng Phúc cứ nhì nhèo, ghét thế không biết. Gian bên, chị Tâm cũng đã tỉnh giấc. Vừa nghe giọng chị Tâm, thằng Phúc đã lồm cồm ngồi dậy, dỏng tai chờ đợi. Thấy chị Tâm bảo:

- Xin lỗi mẹ đi.

Nhưng chỉ đợi có thế, thằng Phúc ngắc ngứ câu gì, rồi vén màn chạy tót đi làm Hạnh cứ buồn cười mãi.

Nghỉ ở nhà nửa tháng thì Hạnh đi nhận việc. Cô được bố trí một phòng riêng 15 m2 trong khu tập thể của bệnh viện. Trong phòng có một cái giường cá nhân bằng sắt sơn xanh hòa bình đã chớm rỉ , một cái tủ gỗ mỏng dính, quét sơn mầu trắng nham nhở, có chiều cao bằng chiều rộng của cái giường.

Không sao, thế là quá hạnh phúc, quá thừa thãi so với khi nằm võng ở rừng. Hạnh nghĩ thế lúc kê lại cái tủ đã ọc ạch, có tiếng mọt cọt kẹt đâu đó.

Những ngày này với Hạnh mới dễ chịu làm sao. Nắng như không gay gắt mấy còn mưa dầm gió bấc hình như cũng ít hơn thì phải.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #132 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:45:38 pm »

                                        Tiếp :

Đi đâu cũng ríu rít hai mẹ con, đồng nghiệp hàng xóm thì quen rồi, chứ bạn bè xưa ít gặp thì chắc lạ lẫm và ngạc nhiên lắm. Hạnh luôn nhớ đến ơn của bố cô, đến công sức quá vất vả của chị Tâm. Này nhé, Hạnh không phải mang nặng đẻ đau, không phải gánh một tí điều tiếng gì, không bú mớm nâng giấc, thuốc thang sài đẹn cũng không nốt, ấy vậy mà bây giờ, cái thằng Phúc trông như trong tranh, lúc nào cũng bi bô gọi cô là mẹ. Còn muốn đòi gì và còn gì hơn thế nữa.

Cô ngồi trông nó xúc cơm ngon lành thì chỉ muốn nó ăn thêm bát nữa. Với Hạnh thế nào cũng xong, bo bo, bột mỳ hay ngô tẻ già luộc thì cũng như nhau cả thôi, mà cô còn nhịn ăn, có lúc bỏ bữa đấy. Hình như Hạnh có béo lên, quần áo cứ chật dần. Cũng chẳng sao, miễn là đừng ốm đau, mệt mỏi gì là được. Nhưng Phú chẳng có tin tức thư từ gì cả. Sao thế nhỉ, hòa bình đã mấy năm rồi, bao nhiêu người đã nườm nượp trở về, chí ít thì tin tức cũng đã rõ ràng. Hay là anh ta đã, không, chắc không việc gì đâu, mình thật vớ vẩn.

Chỉ cần Phú đã trở về, nhớ đến Hạnh hay không thì tùy, miễn là trông thấy thằng Phúc là được, trông nó, Phú phải thích lắm nhỉ? Đôi lúc Hạnh cứ nghĩ miên man, vẩn vơ như thế và cô cũng phải tự thú nhận là hồi này cô hay nghĩ và nhớ đến Phú rất nhiều. Có lần, đã lâu lắm, cô mơ thấy Phú nhưng máu me đầy mình và có mùi hôi khó chịu lắm, nhưng chỉ thoảng qua thôi và cô tỉnh ngay được. Còn lần sau, đấy là một trưa chủ nhật, cả hai mẹ con cùng đi ngủ. Giấc ngủ êm đềm đến thật nhẹ nhàng. Hạnh thấy mình đang đi lên một quả đồi, chung quanh toàn hoa sim, mát mẻ và vắng lặng lắm. Bất ngờ, Phú ở trên đồi chạy xuống quần áo mới tinh, hàm răng trắng bóng. Phú ôm chầm lấy Hạnh nhấc bổng cô lên rồi lại đặt cô xuống. Hạnh như lịm đi, cô kêu lên: "Ôi, anh ơi!", nhưng cô lại cuống quít, hình như không phải Phú, đấy là khuôn mặt của ông bảo vệ bệnh viện... Không được, cứu, cứu tôi với, mà sao vắng lặng thế này.

Tiếng kẹt cửa làm Hạnh tỉnh giấc. Hạnh dụi mắt và tự cấu vào mình, thì ra là Hạnh vừa mơ. Nhưng máu vẫn rần rật và người cô vẫn còn bừng bừng.

Thằng Phúc hỏi:

- Mẹ gọi gì đấy.

Hiểu ra thằng Phúc đã không ngủ, trốn mẹ đi chơi, Hạnh thấy tức nó. Cô mắng nó xơi xơi:

- Gọi gì à, làm sao mà không ngủ. Đi đâu về nhễ nhại thế này. Quần áo nữa kìa, bẩn quá đi thôi. Phúc, tự úp mặt vào tường đi.

Thằng Phúc nhích nhắc đi vào tường, len lét quay đầu nhìn mẹ. Chắc nó cũng ngạc nhiên lắm khi nhìn thấy mẹ nó. Người đang ngồi trên giường kia, tóc tai rã rợi, mặt mũi sưng sỉa đỏ như phát ban, lại đang gầm gừ quát tháo, có lẽ không phải mẹ nó.

Chừng như Hạnh cũng nhận ra một điều gì quá đáng ở mình. Cô im bặt và lặng lẽ soi gương. Cô giật mình khi thấy mình lạ đến thế. Gớm ghiếc làm sao. Rồi Hạnh cũng tĩnh trí lại được. Cô ôm chầm thằng Phúc vào lòng, nhẹ nhàng xoa đầu nó và không nói một câu nào nữa.

Nhưng suốt cả chiều hôm ấy, Hạnh như người khác. Người cô cứ nóng ran,mụ mị và mê muội đi. Trong cơn mộng du và nỗi thèm khát dai dẳng, Hạnh tự hành hạ mình, với một cái cuốc và một đôi quang gánh, cô thay toàn bộ lớp đất trên mặt của 12 m2 đất được chia để trồng rau. Chẳng nhớ là bao nhiêu gánh, gánh đất cũ đi và gánh đất mới về. Ai hỏi, Hạnh bảo đất này bạc màu rồi.

Đêm về, nỗi ám ánh ấy vẫn không buông tha cho Hạnh. Cô không tài nào ngủ được. Hạnh giở thư của Phú, chỉ có hai lá thôi mà cũ lắm rồi, cô đã thuộc lòng.

Hạnh thoáng thấy lo lo khi mân mê cái khăn mặt mà Phú quàng lên cổ cô hôm nào. Rồi Hạnh lấy diêm và một tờ báo. Hạnh đốt tờ báo và hơ cái khăn lên đó. Tờ báo cháy lem lém. Người ta bảo làm như thế này là người đi xa phải nóng ruột. Chẳng biết có đúng không?

Ngày 15-8-1978. Hạnh đi xin cho thằng Phúc vào học lớp 1, trường của thị trấn. Người ta yêu cầu phải có giấy khai sinh và hộ khẩu, kèo nèo mãi thì người ta cũng nhận. Lý do phải nói khó là vì thằng Phúc chưa có hộ khẩu ở thị trấn. Người ta trách cô, sao mà bất cẩn quá, sao mà không nhập hộ khẩu cho thằng Phúc. Hạnh cũng không ngờ cái chuyện giấy tờ hành chính lại lôi thôi, nhiêu khê đến thế. Cũng không nên trách cô, thực ra Hạnh đã chủ tâm bởi cô tính rằng cứ để việc thằng Phúc đấy, đợi Phú về hãy hay.

Cô chẳng muốn nói ra vì chính cô cũng thiệt thòi nhiều khi mấy năm không làm hộ khẩu cho thằng Phúc theo mình. Đã mấy lần có mấy người nhắc, cô chỉ ậm ừ. Là bởi vì cô đã tính thế. Nhưng đến nước này thì không thể được nữa rồi, phải làm hộ khẩu cho thằng Phúc thôi. Biết khi nào Phú mới về.

Nộp đơn và giấy khai sinh hôm trước thì chiều hôm sau Hạnh được mời lên phòng tổ chức hành chính để làm việc.

Bình thản ngồi xuống ghế, Hạnh lặng lẽ nhìn người cán bộ phụ trách việc quản lý theo dõi hồ sơ. Có lẽ anh ta chưa đến 40 tuổi, quần áo phẳng phiu, da trắng bệch, cặp mắt bé tí như hai vết rạch tiểu phẫu trên khuôn mặt bèn bẹt. Tóc lưa thưa, mươi sợi dài thõng thượt, cố che lấy cái trán đã hói trơn lên tận đỉnh.

Hôm nay, Hạnh mới nhìn rõ mặt anh ta, chẳng biết ai rỗi hơi nói là anh ta mê Hạnh. Mình thì có đẹp gì nhưng anh ta thì rõ là đồ trai hoi. Nghe nói con gái anh ta cũng đã lớn lắm và anh ta đang chê vợ già, quê đâu xã dưới thì phải. Hạnh chẳng thấy ưa anh ta tí nào.

Anh ta rót nước, cất giọng điệu đà và mềm như bún:

- Uống nước đi em, thế bao giờ cho các anh ăn cỗ đấy nhỉ?

- Chưa, có lẽ cũng còn lâu đấy - Hạnh đáp qua loa cho xong chuyện.

Cái giọng mềm oặt ấy vẫn không tha, hình như nghe lại thẽ thọt hơn:

- Lâu là đến bao giờ, anh ấy đang làm gì, chức vụ thế nào, công tác ở đâu?

Hạnh xẵng giọng:

- Làm gì, ở đâu, dễ thường tôi phải khai với anh à?

Im lặng. Khuôn mặt bèn bẹt ấy không hề biến sắc. Anh ta nhếch một cái cười, tợp một ngụm nước. Rồi anh ta rướn người, nghiêm mặt:

- Xin lỗi, có những việc tổ chức phải được biết và nắm rõ. Đồng chí Hạnh chưa lập gia đình có đúng không?

- Anh xem lý lịch thì rõ.

- Có nghĩa là chưa kết hôn. Vậy cháu Phúc là con ngoài giá thú?

Hạnh ớ người, cô chẳng biết trả lời thế nào. Anh ta lại dồn tiếp:

- Tại sao đồng chí không ghi vào lý lịch.

Anh ta đắc thắng, kẻ cả chìa mấy bản lý lịch mới toanh:

- Yêu cầu đồng chí ghi rõ và bổ sung lý lịch. Ngày hôm nay là...

Chẳng phải nghĩ ngợi gì, Hạnh ngoáy ngoáy trên mấy tờ lý lịch ấy. Mà việc gì phải nghĩ ngợi, việc làm rõ như ban ngày, trước chưa khai thì bây giờ khai, đã sao đâu nào.

- Hết rồi à.

Hạnh chẳng buồn đáp, buông cái bút đánh cạch xuống bàn.

- Chiến tranh, thời chiến mà? Biết vậy, cũng không ngờ nhỉ - Cái giọng mềm oặt ấy lại nhẽo nhợt.

Hạnh thấy bừng bừng trong người, cô đứng phắt dậy:

- Anh không được nhắc đến thời chiến, biết vậy thì anh làm gì nào. Này, nói cho anh biết nhé: Anh có mắt cũng như không.

Cái mặt mỏng dính ấy càng bẹt thêm ra, anh ta cũng chồm lên rồi the thé:

- Cô nói bé thôi, quát ai đấy. Tôi cảnh cáo cô về hai tội: thiếu trung thực với Đảng và lăng mạ cán bộ. Làm gì à, rồi cô khắc biết. Hừ, trông thế mà lẳng lơ!

Hạnh đập bàn đánh rầm:

- Lẳng lơ à, thì đã sao? Còn hơn khối kẻ rúc nách vợ!

Đùng đùng bỏ ra ngoài, Hạnh vẫn còn thấy gai cả người. Cô chẳng sợ gì cả, nhưng cô thấy buồn quá. Buồn cho chính mình, mà hôm nay làm sao mình lại ngoa ngoắt như thế. Buồn cho sự đời nhiêu khê và phức tạp, chuyện của cô đơn giản, khác nào một cộng một bằng hai, vậy mà nhiều người vẫn chẳng tìm hiểu cho ra ngọn ngành, đưa cô vào thế bí, lại còn buộc tội cô nữa.

Cả chiều hôm ấy, Hạnh thấy chán ngơ chán ngắt, cô chẳng tập trung đầu óc tí nào. Đã vậy, chiều tối về nhà, thầy Hạnh lại nhắc đến chuyện riêng của cô làm cô càng sốt ruột. Cô ngồi đầu hè tựa lưng vào cột, lặng lẽ nhìn bầu trời cao rộng mà thấy rối bời.

Trăng chưa lên. Bầu trời chi chít những sao là sao, lặng lẽ và nhấp nháy. To rộng thế nhưng xem ra lại mạch lạc chứ không lộn xộn, rối mù như trong đầu cô. Thực ra Hạnh cũng thấy núng thế lắm rồi. Cô cũng biết mình rõ lắm chứ! Bao nhiêu gương mặt của những người đàn ông như chập chờn trước mặt. Anh Tứ thầy giáo cấp 3 nhé, anh Vân công an huyện. Rồi cả anh Bảo mới lên phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp nữa chứ. Toàn là những người đàng hoàng cả và họ cũng đều thực lòng với cô đấy thôi.

Nhưng cứ nghĩ đến chuyện phải yêu ai thôi là cô lại thấy ngài ngại. Cô nghĩ đến hình ảnh thằng Phúc nằm chỏng trơ ở phản năm nào. Có khác nào cô là người bỏ rơi nó. Rồi với Phú nữa, nghĩ đến người khác tức là không chung thủy với Phú. Nhưng đã có gì với nhau đâu. Mà như thế thì đáng gọi là gì nhỉ?

Phải, hôm ấy, trời cũng đầy sao thế này, có điều oi bức hơn thôi.

Suốt từ trưa, cả tiểu đội Hạnh quần quật với những chuyện chia bôi gạo, cá khô, mắm ruốc. Rồi còn nắm cơm cho hơn trăm con người. Lúc sẩm tối, Phú có đến tìm thì Hạnh vẫn nói tưng tửng:

- Vâng! Thế anh đi mạnh khỏe nhé. Rồi Hạnh lại cắm cúi với công việc.

Thấy Phú cứ loanh quanh rồi lật đật chạy đi, Hạnh bỗng thấy bứt rứt: Dù sao thì anh ta cũng sắp đi xa, vào nơi hòn tên mũi đạn chứ có phải chuyện chơi, lành dữ đã biết thế nào, rồi cô lại nhớ đến thằng Phúc. Thôi thế là bố nó phải đi xa thật rồi. Chẳng gì thì cũng có chuyện liên quan đến thằng bé...

Hạnh chưa biết làm gì thì tiếng còi tập trung đã cất lên lanh lảnh, nghe đanh từng hồi dài.

Trong bóng tối oi bức của một ngày đầu hè, những ánh đèn pin loang loáng, những tiếng gọi í ới, thúc giục, nhắc nhở nhau. Rồi chỉ loáng sau, từ các ngõ xóm, hơn trăm con người, lặc lè ba lô, lỉnh kỉnh súng ống, lầm lũi trong bóng tối, nối nhau ra tập trung ở sân kho, trước cửa bếp nuôi quân của Hạnh.

Vịn tay vào cây cột, Hạnh căng mắt. Là Hạnh có ý tìm Phú, nhưng trông ai cũng giống nhau quá, mũ cối sùm sụp thế này. A, nhưng tiểu đội trưởng thì thường đi đầu đấy. Mới được có ba hàng, Phú đâu nhỉ?

Hạnh đang căng mắt thì Phú lại đến ngay cạnh làm cô kêu ớ lên một tiếng. Dưới vành mũ cối, Hạnh thấy hàm răng Phú trắng lấp lóa:

- Tôi đi đây, chào Hạnh lần nữa nhé!

Hạnh thấy mình run run. Cô đang cố tự chủ, định nói câu gì cho thật tình cảm nhưng đúng mực. Nhưng lạ quá, đầu óc như biến đâu mất cả mà khuôn mặt với hàm răng trắng lóa của Phú cũng như mờ đi. Ô hay, mình khóc à.

Hạnh thấy tay Phú cũng run run khi nắm tay cô. Khuôn mặt hai người gần nhau lắm. Đột ngột, Phú kéo khuôn mặt cô rồi hôn lên tới tấp. Hạnh thấy rụng rời cả chân tay, cô chưa biết phản ứng thế nào thì bàn tay Phú đã xoa rất dịu dàng lên khuôn mặt cô, rồi lại ở phía sau trên thắt lưng.

Hạnh chẳng biết làm gì cả, cô không kịp kêu. Hình như Hạnh có dướn người lên. Việc ấy chỉ xảy ra trong mươi giây, Phú nói nghẹn ngào quá:

- Anh đi, em ở lại nhớ giữ gìn sức khỏe. Nhất định anh sẽ về với em, với con.

Người Hạnh run như phải cảm. Cô không nói được câu gì rành rẽ.

Nước mắt khiến cô tắc nghẹn. Phú cởi khăn của mình lau cho cô rồi quàng lên cổ Hạnh.

Tiếng chỉ huy dõng dạc: Đại đội tập hợp.

Tất cả chỉ có vậy, thế là Phú đi, đi mãi.

Nhớ tới chuyện cũ hôm nào, Hạnh thấy trong người bừng bừng. Cô chạy ra giếng, rồi cứ nguyên cả quần áo như thế múc nước dội ào ào. Tiếng thùng va vào thành giếng loảng xoảng trong đêm khuya.

Lời bàn của những người ngoài cuộc.

Tôi, phó ban bảo vệ một công trường trọng điểm biết được câu chuyện trên một cách hết sức tình cờ.

Cậu nhân viên dưới quyền đưa cho tôi một quyển sổ bìa bọc nhựa đen đã cong queo, một cái gương soi bé xíu đã mờ và một khăn mặt mầu cỏ úa đã cứng quèo. Cậu ấy nói nhặt được mấy thứ trên tại bãi cỏ hoang, cạnh hàng rào của công trường mà chúng tôi đang thi công.

Cậu ấy phán đoán: có thể những thứ này là vật chứng còn lại của một vụ trộm nào đó mà bọn bất lương đã bỏ lại.

Bởi ban bảo vệ chúng tôi đang giữ những thứ ấy nên tôi đã thông báo, ai là chủ nhân của chúng xin liên hệ theo số máy:

- Trong giờ: 04. 864196.

Hoặc ngoài giờ: 04.862.408.

Sở dĩ tôi phải nói vậy là vì trong cuốn sổ ấy không thấy đề quê hương địa chỉ gì cả. Trang đầu chỉ ghi Nguyễn Thị Hạnh, hòm thư 705161 JC..., mấy số sau ở sát mép trang bị quăn, số lại mờ nên không đọc được. Trang tiếp theo chép những câu danh ngôn, chẳng hạn câu đầu tiên là:

"Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh. Lúc đó, thép trở nên cứng rắn và không hề biết sợ".

- Những trang tiếp theo chép những bài hát, được ưa thích một thời như: Đường cày đảm đang, Tiếng hát trên Đường 9 chiến thắng, Câu hò trên bến Hiền Lương... Có cả bài Ru con Nam Bộ.

Rồi lẫn lộn vào đấy là những câu thơ, có những câu chẳng rõ đọc được ở đâu. Ví như:

- Nước còn giặc ta đi đánh giặc.

Sức trẻ lên đường, Đất nước chuyển rung.

Để trống năm trang thì đến những dòng nhật ký. Ngày bắt đầu là 31-12-1971, ghi lại những cảm xúc đầu tiên khi xa nhà, nỗi nhớ gia đình, quê hương. Những ngày tiếp theo nói về cuộc sống quân ngũ, những chuyện phấn đấu, riêng tư và dừng lại ở đoạn cuối cùng như tôi vừa kể trên thì còn một tí nữa là hết giấy.

Đọc những dòng nhật ký ấy, tôi thấy rất ấn tượng. Nét chữ mềm mại ngay thẳng, câu cú rành mạch, thú thực là tôi đã chép nguyên văn những ngày, những đoạn có liên quan đến câu chuyện này, chỉ có một mạo muội duy nhất là đã thay đổi đại từ nhân xưng cho tiện kể hơn mà thôi.

Nhưng cái đoạn dừng lại như thế làm tôi băn khoăn quá. Chẳng hiểu rồi cuộc đời và số phận của những con người ấy sẽ ra làm sao, chuyện riêng tư của họ sẽ được thu xếp như thế nào.

Tôi nghĩ là anh đã bình an vô sự trở về, anh sẽ gặp lại chị và họ sẽ lấy nhau. May mắn có thể đến với họ như thế lắm chứ, nhưng biết đâu có thể còn khối điều bất hạnh đã đến với họ thì sao? Chịu, tôi không thể nào đoán được.

Nhưng dù có thể gì gì đi chăng nữa thì tôi vẫn tin tưởng ở nơi chị bởi tôi láng máng nhận ra rằng, tình yêu của chị dành cho anh luôn nguyên vẹn, mãi mãi là những điều mới mẻ, tinh khôi. Còn nghĩa cử và tấm lòng của chị dành cho thằng Phúc thì như nước của sông dài biển rộng, dẫu có qua ba vạn sáu ngàn ngày chắc cũng chẳng thể nào vơi cạn được.

Chưa rõ kết cục câu chuyện thế nào, nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ đinh ninh như thế.

DTG
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #133 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:50:54 pm »

                                           Sợi tóc
                                           Tác giả : Nguyễn Thanh

Doanh trại im lìm khuất sâu trong thung lũng. Phía tả là dòng sông Lục Nam, nước xanh biếc hờ hững trôi xuôi. Giữa dòng ngào ngạt hoa rừng, hoa từ thượng nguồn tung tẩy trên sông lấp lánh nắng chiều. Phía hữu non cao lấp ló trong mây trắng bồng bềnh in xuống những vạt rừng xanh thẫm.

Hết mùa huấn luyện, đơn vị trầm u trở lại với núi rừng. Là anh lính vệ binh bồng súng huýt sáo suốt ngày, chán lại nghêu ngao nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh, ca trù cũng i í được vài câu, ngày tân binh huấn luyện ở đây, đông đúc nhộn nhịp, tôi thường ra oai chấn chỉnh mấy chàng lính “cậu” ra vào qua cổng. Giờ mong họ lượn cho vui mắt cũng chẳng có.

Ở đơn vị, tôi được mệnh danh là ông cụ non. Cái danh ấy có nhiều lẽ. Đầu tiên, bất kỳ chuyện gì tôi đã “xuất khẩu”, y như rằng có lớp, có lang, và nữa, dù là lính gác cổng nhưng nhiều khi cũng lên mặt lý sự ra phết. Vô luận đồng chí là cấp nào ra vào cổng không đúng tác phong, lập tức tiếng còi “toét” lên veo véo. Còn nhớ cách đây mấy tháng, có một thủ trưởng mang quân hàm thượng tá ngang nhiên phóng xe qua cổng, cứ như đơn vị là nhà riêng của mình. Toét một tiếng chẳng dừng, tôi buộc phải phải toét liên hồi báo động. Tiếng còi liên thanh khiến vị thủ trưởng giật mình phanh “két” xe trừng mắt nhìn tôi. Sau lần đó tôi được tặng giấy khen và quân hàm cũng được nâng lên một cấp, từ binh nhì lên binh nhất, oai ra phết. Nhưng cái danh ông cụ non ở trung đội cảnh vệ khó xoá đi được bởi một lý do nữa là tôi nghiện thuốc lào, nghiện từ khi học phổ thông. Ngày rời ghế nhà trường cũng là lúc biết đến thứ tiêu khiển quê mạc này. Lần đầu tiên bập vào lõ điếu, ho sặc sụa, dãi bắn tứ tung, nước mắt xối ra đỏ ngầu, đầu óc bung biêng xáo trộn. Thế mà đến ngày vào lính thì tôi đã trở thành dân chơi thuốc lào sành điệu. Cái điếu cày của tôi thường xuyên được thay nước, thông nõ bằng lông gà hàng ngày, đến nỗi cánh lính vệ binh biến thể câu “Súng là vợ…” thành ra “Điếu là vợ…” tặng tôi. Cái điếu cũng lạ, cũng biết giương oai diễu võ, mỗi lần bắn cứ tanh tách tanh tách như AR15 bật nấc liên thanh.

Bạn thân nhất của tôi trong trung đội là một đồng hương, tuổi quân tuổi đời đều hơn tôi, đã có vợ. Những đêm tôi gác, lão không ngủ được, hay mò ra than thở:

- Vợ tớ đẻ kém quá, hai lần đều “vịt giời!”

- Nên động đến sách báo một chút, mẹo vặt đầy ở trong đó chứ ở đâu. Tôi động viên bạn. Kỳ thực lão thèm thuốc ê a câu chuyện làm quà, lão “rít” đỏ nõ không ngớt, chán rồi mới lần về chỗ ngủ.

 

Có lần đứng gác, đúng lúc tôi đang nâng khẩu AR15 lên “bắn”, cũng là lúc các thủ trưởng qua cổng. Dí dỏm nhất là trung đoàn trưởng Ngô. Thấy tôi líu ríu từ trạm gác bước ra trong màn khói, chuyệc choạng chân nọ đá chân kia, trung đoàn trưởng mỉm miệng cười: “Đồng chí nên bỏ thuốc, tớ có một đứa con gái mới thi đỗ đại học, nó đang khao khát một tình yêu với lính. Nếu cậu bỏ thuốc, tớ sẽ “xin nhau” cho”. Tôi cảm ơn nhưng trong bụng thầm nghĩ, trung đoàn trưởng ở tận xứ Thanh, sức đâu mình yêu xa thế.

Cho đến một hôm.

Trời chiều, nắng vàng hoe dội xuống sông Lục Nam. Còn vài giờ nữa hết ca gác, thường ca gác này rất nhiều cậu hoảng. Thứ nhất, nắng ấm dễ ngủ gật. Thứ hai, cũng là lúc các thủ trưởng ở thao trường về. Nhưng với tôi lại khá an toàn, hễ hai mí mắt đè díp xuống liền đưa tay vón ngay điếu thuốc bắn một phát là hết ngái ngủ. Đang ngồi rung đùi ngâm mấy câu Kiều bỗng một chiếc xe SUZUKI như từ trên giời rơi xuống xịch đỗ ngay trước mặt. Người đàn ông cầm lái từ từ nhấc chiếc mũ bảo hiểm ra. Ngồi sau là một cô gái mặt hoa da phấn khẽ cúi đầu chào. Tôi đang ngỡ ngàng, tâm trí đang dồn cả vào cô gái thì người đàn ông lên tiếng quát:

- Đồng chí Thanh, nghiêm!

Tôi giật bắn người nhìn sang. Ôi! Thủ trưởng Ngô.

- Dạ… Dạ… Em chào thủ trưởng! Vừa nói tôi vừa chạy lại gỡ tấm ba-ri-e.

- Dạ, thủ trưởng đội mũ bảo hiểm kín quá lại quần áo dân sự nên…

- Tớ đùa cậu tí thôi - Giọng nhỏ nhẹ, vừa nói Trung đoàn trưởng vừa rút trong cốp xe ra một cái bọc được gói bằng giấy báo, tươi cười dúi vào tay tôi:

- Này, quà của cậu đây!

- Dạ… Tôi tròn mắt - Thủ trưởng mua quà cho em?

- Lần này ở quê ra, duy nhất tớ chỉ mang quà cho cậu. Còn nữa, tối nay mời cậu lên phòng.

Tôi ngây người, ngoái nhìn cô gái e thẹn ngồi sau xe, thầm nghĩ - Trung đoàn trưởng tâm lý ra phết - rồi thủng thẳng trở vào trạm gác. Lúc này, tôi mới bóc gói quà Trung đoàn trưởng vừa tặng mình. Hả? Thuốc lào! Khà… Khà… đúng thuốc lào Thanh Hoá. Thuốc lào Thanh Hoá có một ưu điểm rất đặc biệt, sợi nhỏ li ti, óng vàng, hút vào “phê” chết thôi luôn, không loại thuốc nào “nhái” được. Tôi lôi điếu ra hút thử luôn.

 Khoái chí “bắn” luôn mấy điếu. Khói chưa kịp chui ra hết khỏi miệng, hai mắt tối sầm ngã chúi về phía trước. Trời ơi! Thuốc ngon quá! Tỉnh dậy, miệng đắng ngắt. Thấp thoáng có bóng người vào ra qua cổng, mặc. Nhưng dù thuốc có ngon đến mấy vẫn không khoả lấp được hình ảnh xinh tươi của cô bé đi cùng Trung đoàn trưởng ban chiều.

Cơm tối xong, tôi thay đồ, quần đen áo trắng, tóc chải rẽ ngôi rất phong lưu lững thững lên phòng thủ trưởng. Tới cửa phòng, tôi khựng lại, chút suy tư hiện trong đầu. Đích thị là con gái của thủ trưởng rồi. Mình đến một mình thế này mọi người cho là đánh quả lẻ. Nghĩ vậy, tôi liền quay về gọi thêm lão đồng hương. Lỡ xảy ra chuyện gì sẽ có đồng hương cùng gánh đỡ.

Cửa phòng mở. Ánh điện từ trong hắt ra kẻ một đường sáng chạy xuống chân đồi. Thấy hai chúng tôi xuất hiện, Trung đoàn trưởng vẫy tay mời vào.

- Chào các cậu, các cậu thấy đặc sản quê hương tớ thế nào?

Chúng tôi khép nép ngồi vào ghế đối diện. Mắt sáng lên khi thấy cái điếu cày tre nhẵn thín nạm inox bóng loáng dựng ngay đầu bàn. Tôi nghĩ bụng, thủ trưởng đúng là một tay thuốc lào có hạng, lại cho lính cả bánh thuốc đủ thấy quý lính đến mức nào. Thấy hai chúng tôi ngắm nghía cái điếu, Trung đoàn trưởng Ngô khẽ mỉm cười.

- Đồ xịn đấy! Mời các cậu!

- Dạ! Chúng em dùng rồi, ngon lắm thủ trưởng ạ!

- Tớ nói là nói cái điếu của tớ kia! Đồ gia bảo đấy.

Vừa lúc ấy, từ phòng trong bước ra cô gái. Thấy tôi lúng túng, Trung đoàn trưởng nói ngay:

- Con gái tớ! Ra chào các anh đi con, lính của cha đấy.

Cô gái nhè nhẹ đi qua chỗ chúng tôi, hương thơm thoang thoảng, không phải hương quế cũng chẳng phải hương trầm mà là hương của hoa rừng ngất ngây lăn rơi trên da mặt đờ đẫn của tôi. Ôi! Em xinh quá, tôi khẽ thốt thầm nhìn vào ánh mắt nàng. Nàng cũng bạo dạn nhìn tôi, đôi mắt long lanh như chú nai ngơ ngác bên dòng sông Lục.

 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #134 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2011, 08:52:10 pm »

                                          Tiếp :

Bỗng có tiếng điếu cày rít lên, tôi sực trấn tĩnh. Đó là thuốc mà Trung đoàn trưởng mời bạn tôi hút thử. Bạn tôi là người nghiền nặng nên một phát không đủ đô, phát thứ hai lại bắn tiếp. Trung đoàn trưởng phá lên cười, hai tay vỗ vào nhau bồm bộp. Tôi rất thèm nhưng đành phải ngồi im chấp nhận, vì cái nhìn sắc lạnh của nàng đang chĩa vào anh bạn đồng hương. Vốn dĩ anh đã có vợ nên không phải ý tứ hãi sợ gì nữa. Đang khi tôi ớ người ra đờ đẫn vì khói thuốc quện vào mắt, vào mũi, đánh thức các tri giác của tôi thì nàng đứng dậy xin phép ra ngoài. Tôi nhìn theo nàng thầm rủa ông bạn đồng hương vô ý cố đấm ăn xôi giải tỏa cơn nghiền. Khói thuốc đã khiến nàng không thể ngồi lâu thêm được nữa? Tôi như kẻ mất hồn khi nàng khuất sau cửa phòng khách.

Nhưng cơ hội đã đến, nhân lúc vắng nàng, Trung đoàn trưởng ra hiệu và tôi hiểu ý ngay, liền véo một điếu rõ to thả vào nõ. Ngọn lửa bập bùng liếm từng sợi thuốc vàng ươm. Bỗng cổ họng tôi rát bỏng, có cái gì rất lạ xộc vào tim óc, khói quặn lên yết hầu khiến cuống họng như bị một vật cứng nhọn chẹn lại. Tôi vội buông điếu, chân tay đờ đẫn, mắt tối sầm, máu trong huyết quản sôi lên òng ọc và ngã vật xuống.

Tôi cố vươn cái cổ ngẳng ra để thở, nước từ hai hố mắt trào ra, chập chờn phía trước là sếp và anh bạn chả hiểu gì đang huơ chân huơ tay cổ vũ cho một cầu thủ thuốc lào nghiệp dư tội nghiệp đo ván trên sân. Một lát sau lập cập bò dậy tôi khó nhọc nói:

- Đặc sản của thủ trưởng có lẫn tóc. Em vừa phát hiện ra thì khói đã xộc vào rồi.

Rồi chúng tôi uể oải xin phép ra về. Ngoài trời đen thui, cơ ngực vẫn co thắt dồn dập. Không biết từ đâu, nàng xuất hiện từ khoảng sáng bước đến. Nàng cười, ngước nhìn tôi, phía sau là những vạt rừng tối sẫm. Đứng bên nàng, chân tay tôi lóng ngóng, lại vẫn như còn mùi khét của khói thuốc lẫn tóc chết tiệt đang phả ra. Nàng thỏ thẻ:

- Em sơ ý để rơi tóc vào thuốc. Em xin lỗi.

Tôi ấp úng:

- Không phải lỗi tại em. Có lẽ là tóc của người hái thuốc trên đồng.

- Không! Nàng phụng phịu- Đó là tóc của em. Em không muốn bố em cũng như các anh hút thuốc. Em ghét mọi người hút thuốc…  Với cả, bộ đội các anh… ai cũng thế… khờ lắm!

Nói xong người con gái òa khóc chạy hút vào bóng đêm.

Tôi nén tiếng thở dài, vậy là mình phải chia tay với thuốc?… Gói thuốc thủ trưởng tặng tôi gửi cho người bạn đồng hương. Cậu ấy là vầng trăng đã có nơi có chốn chẳng sợ mây sợ gió, còn tôi thân phận binh nhất phòng không phải nâng niu dù là đám mây thoảng qua.

Nhưng sự đời thật quá đỗi bất ngờ.

Không một ai ngờ được sau cú ấy, tôi trở thành con rể của thủ trưởng thật. Không biết do trời xui đất khiến thế nào lại bén duyên cầm sắt. Nàng thử thách tôi cũng kỳ lạ. Nếu thi đỗ sĩ quan thì cho bắn thuốc lào và yêu thoải mái. Ái chà chà! Đố nhà giầu húp tương. Bây giờ, mỗi khi lễ tết ngồi với bố vợ nay đã là đại tá sư đoàn trưởng, hai bố con vừa khề khà nhả khói bên cái điếu gia truyền vừa ôn lại câu chuyện sợi tóc duyên nghiệp và binh nghiệp.

Chợt làn gió ở đâu thổi đến mang mùi hương hoa rừng đặc biệt chỉ tôi mới nhận ra. Và, một sợi tóc khe khẽ đậu xuống những ngôi sao trên đôi cầu vai thượng úy…

 

Nguyên Thanh
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #135 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:01:33 pm »

                               Ba người bạn đường
                                   Tác giả :Phan Viết Dũng

 “Để mình kể các cậu nghe chuyện này”, ông với tay lấy gói thuốc trên bàn, rút một điếu, đặt lên môi, châm lửa rồi hít thật sâu.

Không khí bàn nhậu lắng xuống, chúng tôi im lặng chờ đợi. Biết ông là người ít nói, nghe là chính, ít khi góp chuyện. Cánh báo chí, văn nghệ mỗi khi ngồi lại, thôi thì đủ chuyện. Sôi nổi nhất là chuyện chính sự, chuyện tham nhũng, nhưng cũng có những lúc say sưa với những câu chuyện tình. Như hôm nay chẳng hạn, đề tài tình yêu thời “a còng” đang được bàn đến. Chuyện sống thử của sinh viên, những mối tình không kể tuổi tác và cả chuyện tình tay ba thời hiện đại cũng được bàn sôi nổi. Ông ngồi đó, vẻ chăm chú lắng nghe nhưng ánh mắt tư lự đang dõi nơi đâu. Biết ông là người từng trải, có học, làm quan nhưng có máu nghệ sĩ nên được anh em quý mến, coi như người bạn cao niên...

 
     PHAN VIẾT DŨNG

“Đó là một buổi chiều, biển lặng, trời quang mây như chiều nay…”. Ông chậm rãi, lại rít một hơi thuốc - “Thôi, để mình kể cho có đầu có đuôi”. Dụi tàn thuốc lá vào chiếc gạt tàn, làm cạn một cốc rượu đế, lúc này câu chuyện mới thực sự hanh thông.

- Bọn mình có ba người. Trước hết kể về mình. Hồi mới nhập ngũ, lính trong đội gọi là Vinh bột, để phân biệt với thằng cha quản lý có nước da đen cháy là Vinh sắt. Cái tên Vinh bột được gắn với nước da trắng trẻo, có nguồn gốc thị thành nhưng còn có nghĩa là mỉa mai công tử bột. Đó cái mũ thường được chụp cho bọn học trò “dài lưng tốn vải” mới rời ghế nhà trường vào lính. Ba năm ở chiến trường C, nước da không còn “bột” như trước nữa mà tai tái bởi những trận sốt rừng. Đánh đấm nhì nhằng những dẫu sao cũng là lính cựu nên được đi học Trường quân chính Quân khu. Thông thường, đã được đi đào tạo ít thằng được trở về đơn vị cũ mà phải bổ sung về đơn vị mới. Chiến trường đánh lớn, bọn mình như muối bỏ biển, nhất là cánh bộ binh. Về Trạm 50 mình nhận quyết định đến một đơn vị mới thành lập ở Quảng Bình. Mình biết đó là một sư đoàn chủ lực chuẩn bị tăng viện cho chiến trường miền Nam. Lần này chắc sẽ đánh đấm ra trò. Có điều này nói trước để các cậu thông cảm, vì liên quan đến chuyện sau này. Lúc đó mình chưa vợ, tất nhiên, có mà tảo hôn. 18 tuổi đã đi bộ đội, ở rừng miết, những đau khổ còn hơn là chẳng có người con gái mà để thương, để nhớ. Lính ở chiến trường C quanh năm chui lủi trong rừng mấy khi được gặp các cô gái mở đường đông đúc như hội ở bên này nên khát khao tình cảm lắm. Buồn cười, hồi còn ở bên đó, mỗi lần nhận lương thực, quân trang, nhu yếu phẩm ở các binh trạm gần biên giới thằng nào cũng hăng hái xung phong. Hàng chục cây số luồn rừng, bom tọa độ, lại bọn phỉ hay rình rập thế, đổi lại chỉ được thấy các em quân nhu, tán gẫu một hồi rồi quay về cũng sướng lắm rồi. Quan điểm của mình khi vào lính là không mối tình vắt vai càng nhẹ gánh. Lần này, trước khi vào đơn vị mới mình sẽ ghé thăm nhà. Nghe đâu, ở nhà bà cụ đã ngắm một đám. Thương cụ quá, thư nào cụ cũng giục mong có cháu bế. Bố mất sớm, nhà có ba anh em, chỉ có mình là con trai. Trận mạc bom rơi lạc, nói dại, không may mất gáo, không có cháu đích tôn thì tuyệt tự. Nói thế, nhưng để có người mình thương và người thương mình cũng khó lắm.

Ông dừng lại, biết ý, tôi châm cho ông điếu thuốc và nôn nóng hỏi:

“Còn người thứ hai? Có phải bà chị bây giờ không?”.

- Không phải, bà chị bây giờ thì nói làm gì - ông cười, rồi nâng chén - Nào dô! Chúng tôi cụng cốc, nghe đã lâng lâng, không biết do rượu hay bắt đầu háo hức bởi câu chuyện.

- Người thứ hai tên là Dương, gì Dương không nhớ, không phải Thuỳ Dương hay Bạch Dương đâu, con gái bấy giờ Dương là dương liễu ấy, mình đoán thế vì quê của mình ở vùng cát Lệ Thủy. Dương vừa tốt nghiệp lớp quân y sĩ ở Quân y viện 4 và  được phân về Đội phẫu thuật tiền phương đóng ở gần quê mình. Gặp mừng khôn tả: “Trời ơi, đồng hương. Anh Vinh phải không. Anh còn nhớ Dương không?”. Làm sao mình quên được. Dương là mẫu người con gái mà gặp một lần người ta khó quên bởi cái mặn mà, cái duyên thầm và đặc biệt là cái tươi trẻ cuốn hút. Ban đầu mình hơi ngờ ngợ bởi nàng gầy đi nhiều và ba năm rồi trông có vẻ chững chạc hơn. Mình biết Dương hồi còn làm y tá ở Đội điều trị 46 đóng ở Hương Khê, Hà Tĩnh. Thương, bệnh binh ở mạn Trung Lào những năm ấy thường được đưa về đây điều trị. Cánh lính trẻ quê ở Quảng Bình khi nằm viện 46 về thường nhắc đến cô y tá đồng hương có mái tóc dài và đặc biệt đôi mắt đen tròn “thương thương quá đi thôi” như một câu thơ nào đó mà lính hay thuộc. Nghe thì biết vậy, chứ chưa biết mặt. Ấy thế mà cũng đến lượt mình. Số là mùa mưa năm đó đơn vị được về an dưỡng ở Hương Khê. Mấy năm ở chiến trường không sao, chỉ sốt qua loa, vài viên ký ninh hoặc cùng lắm một liều quynatrin là dứt. Không hiểu sao được bồi dưỡng theo tiêu chuẩn tiểu táo, lúc nào cũng có thịt cá, lại không phải luồn rừng cắm chốt, ấy thế mà lính ta cứ quay ra sốt ly bì. Quân y nói do ngã nước, quen khổ rồi, giờ sướng quá, sinh chứng. Cơn sốt rét ác tính đã quật ngã mình. Sốt 39, 40 độ mà người cứ rét run cầm cập, bao nhiêu chăn cũng không đủ. Mà sốt ác tính thì kinh lắm, có thằng hôn mê rồi đi luôn. Lần đó, mình bị sốt li bì suốt ba, bốn ngày, đơn vị phải cáng đi viện. Tỉnh dậy, thấy đầu giường một cô y tá đúng như cánh lính trẻ thường nhắc tới. Mắt đen, tóc dài, có điều này chúng nó không nói đến là nước da không được trắng. Lúc đầu, thú thật mình thấy cũng thường thôi nhưng nhìn kỹ mới thấy nàng đẹp. Nói đẹp thì chưa hẳn đúng, bây giờ người đẹp phải là “nhất dáng nhì da”, hồi đó cũng vậy thôi, những cái đẹp lộng lẫy kiêu sa thì đào đâu ra nơi bom đạn. Cái đẹp mà mình cảm nhận là sự trẻ trung nhưng duyên dáng của nàng và… mình bắt đầu yêu. Những ngày còn sốt cao, Dương thường đến bên mình bón từng thìa cháo, ép mình uống từng viên thuốc và động viên, dỗ dành khi phóng mũi kim tiêm bơm liều thuốc sốt rét lên cái mông trai lì của thằng lính chiến. Những lúc đó, nàng thường long lanh đôi mắt, có lúc ngấn lệ nhưng nụ cười vẫn nở trên môi trông thật tội. Bình thường không thấy cái lúm đồng tiền nhưng khi nàng cười hiện rõ trên khuôn mặt trái xoan trông càng duyên. Dương chỉ phục vụ ở lán sốt rét ác tính, vì vậy khi đỡ sốt mình phải chuyển xuống lán khác lên không còn được người đẹp chăm sóc. Lúc đó mới thấy nhớ, cứ mong đến ca trực của nàng. Trong ca trực, nàng mặc áo Blu trắng lướt nhẹ qua các lán, rồi lúc nào cũng vậy, Dương ngồi với mình hơi lâu một tý. Không biết chúng mình đã nói với nhau những gì chắc là chuyện anh em, đồng hương chứ không dám nói đến yêu đương gì đâu. Trước khi vào lính, mình cũng đã có người bạn gái thân, nhưng đó chỉ là tình cảm của tuổi học trò và chỉ còn trong kỷ niệm. Mấy năm ở chiến trường tưởng trái tim đã chai sạn, nào ngờ giờ lại thổn thức với người con gái mới quen. Mình thật sự sống tâm trạng của kẻ đang yêu. Mỗi lần Dương nghỉ trực, chỉ một buổi thôi, mình lại thấy thiếu vắng cái gì đó, mơ hồ. Có lúc mình ghen, cũng không hẳn là ghen những buồn khi thấy Dương quan tâm đến người khác, mặc dù người đó đang sốt cao và chăm sóc là bổn phận của nàng. Hai tuần điều trị, thời gian lặng lẽ trôi qua. Bao lần dự định muốn nói với nàng một điều những không sao mở miệng được. Biết là vạn sự khởi đầu nan nhưng mình là kẻ vụng nói. Lại nghĩ nhỡ nàng đã có người thương rồi thì sao, thật bẽ bàng. Có lẽ mình đã ngộ nhận, sự quan tâm của nàng đối với mình cũng như đối với mọi người, lương y như người mẹ hiền mà. Lại nghĩ, mình là thằng lính quèn, xung quanh nàng biết bao anh chàng đẹp trai, tài giỏi, các bác sĩ, y sĩ trong viện, lại thêm các chàng sĩ quan “bốn túi” dân Hà Nội hẳn hoi vào điều trị, thiếu gì… Cứ lại nghĩ, đủ mọi lý do, rồi mình lặng lẽ mang ba lô xuất viện không một lời tạm biệt. Các cậu xem mình đụt không?

Trời bắt đầu có gió, gió nồm nam thổi lao xao trên ngọn phi lao, tôi thoáng thấy trên mặt ông nhiều nếp nhăn ưu tư. Tôi hỏi: “Thế còn người thứ ba”. Nhấp một hớp rượu, lần này không đốt thước, ông vui vẻ: “Từ từ, đâu có đó, người thứ ba rồi sẽ tới”. Ông kể tiếp:

- Gặp lại Dương ở T 50, các cậu xem có phải duyên kỳ ngộ không. Vui nhất là khi mình thăm dò các em cùng lớp học quân y sĩ biết nàng chưa có ai, chúng còn bảo: “Nàng đang đợi đồng hương đó”. Thế mới hy vọng chứ. Biết mình nhận công tác ở Quảng Bình, Dương vui lắm vì có bạn đường. Còn mình thì khỏi phải nói. Tự mình phác họa một kế hoạch thật chu đáo. Trên đường vào đơn vị, trước tiên mời nàng ghé nhà mình, vì muốn hay không đường đến đơn vị mới của mình và Dương đều qua nhà mình trước. Mình hình dung, tự nhiên thấy bọn mình cùng về chắc bà cụ vui lắm. Cụ sẽ tưởng con dâu tương lai, rồi lại sẽ mắng mỏ: “cái thằng tẩm ngẩm tầm ngầm, rứa mà mẹ cứ lo không có cháu bế”. Con dâu như Dương người mẹ nào chẳng ưng ý. Sau đó, nếu thuận tiện mình sẽ ghé thăm nhà Dương, ngỏ lời với nàng, không do dự như lần trước nữa. Mình đã chững chạc, tự tin hơn ba năm trước. Phương châm của mình lúc nay là đánh chắc, tiến chắc.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #136 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:03:40 pm »

                             Tiếp :
  Đang mùa khô, xe binh trạm chạy tuyến miền Tây, không có xe vào phía Nam. Đợi ngày nào chậm được ghé thăm nhà ngày ấy, nóng ruột, mình và Dương quyết định cuốc bộ. Đáng lẽ chúng mình lên đường từ mấy hôm trước nhưng chỉ vì mấy cân gạo và ít thức ăn đi đường lên phải chậm mất một ngày. Chậm một ngày mới sinh chuyện, mới có người thứ ba xuất hiện.

Hắn sà vào bàn ăn bọn mình, tự nhiên như người Hà Nội:

- Chào hai đồng hương.

Giọng Bắc ngọt xớt, đích thị lính Khu Ba thế mà vẫn nhận đồng hương mới lém. Cao to, đẹp trai, đặc biệt hắn có đôi mắt nheo cười, con gái chỉ có chết. Tên hắn là Tuấn, sinh viên Bách khoa năm thứ nhất, nhập ngũ được ba năm vừa tốt nghiệp lớp Bổ túc sĩ quan Phòng không được điều về F 375 đang đóng quân ở nam Quảng Bình.

- Nghe nói hai đồng chí đi vào tớ đến xin nhập đoàn - hắn thay đổi cách xưng hô, nghe còn được. Tất nhiên là không vui vẻ gì khi đón vị khách không mời, nhưng làm sao từ chối được. Còn Dương thì reo lên: “Vui quá, lại có thêm bạn đường”.

Sáng hôm sau chúng mình lên đường sớm, vẫn theo tuyến giao liên của các đơn vị hành quân vào Nam nhưng khác với đơn vị chủ lực ngày nghỉ đêm đi, bọn mình chỉ có ba người, gọn nhẹ nên ngày đi đêm nghỉ. Để rút bớt thời gian chúng mình quyết định không nghỉ tại các trạm mà tuỳ nghi, ngủ nhờ nhà dân để đi được nhiều đường đất. Tuyến đường này chủ yếu đi giữa đồng bằng, không trèo đèo lội suối nên đối với mình khá nhàn, lính bộ binh cuốc bộ quen rồi. Tội nhất là hắn, lính phòng không chỉ có lên xe xuống pháo, giờ mới biết “Hành quân xa biết bao điều gian khổ”. Hắn cứ ì à ì ạch, chậm như rùa làm cho mình phải vừa đi vừa đợi, tức anh ách. Mà cũng tại thằng cha điệu bộ, ai đời đi đường trường mà hắn nện đôi giầy da coóc-sa-ghin như đi duyệt binh. Lại thêm bộ tô châu bốn túi mới tinh cứ sột soạt nghe đến chướng tai. Phải hy sinh cho hắn mượn đôi giày cao cổ còn mới mà cứ tiếc đứt ruột. Thấy hắn vất vả quá, mình đưa chiếc ba lô lép kẹp của mình cho hắn và khoác lên vai chiếc ba lô cóc to đùng của hắn. Khiếp, gì mà nặng thế, lại cứ lục cục sau lưng. Hỏi ra mới biết toàn đường, sữa, thịt hộp, đêm qua các cô ả quân nhu ở T50 cố nhét khi không còn chỗ mới thôi. Số cái thằng sướng thật, chẳng bù với mình, 5 lạng cá khô còn kì kèo vi phạm tiêu chuẩn. Ngày đầu tiên  nghỉ sớm. Đôi chân hắn sưng vù. Dương giúp hắn tháo giày, ngâm chân vào nước ấm, có pha thêm chút muối. Nhìn Dương bóp chân cho hắn mà mình tức đến lộn ruột, đúng là lính cậu. Dương nhờ mình lo cơm nước. Gì chứ khoản đó thì thằng lính bộ binh nào cũng thành thạo. Thấy mình lui cui với mớ rau tập tàng hái dọc đường, hắn mở ba lô quẳng ra hộp thịt bảo giải quyết cho nhẹ vai. Trong bữa ăn, Tuấn kể hắn đã từng ở Quảng Bình. Hai năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, trung đoàn của hắn rải quân từ Hạ Cờ đến Đèo Ngang bảo vệ các trục đường giao thông, bến phà, kho tàng quan trọng. Hắn đã đánh nhau với lũ giặc trời ở Mỹ Đức, Thác Cóc, Long Đại không biết bao nhiêu trận. Hắn nói, bài báo “Khẩu đội bay” mà báo Quân đội Nhân dân đăng chính là khẩu đội của hắn. Bài báo kể, một loạt bom nổ sát hầm pháo, hất tung cả khẩu đội lên trời thế mà pháo thủ còn kịp đạp một loạt điểm xạ dài bắn rơi một thần sấm (F 105) trước khi hạ cánh xuống đất an toàn. Kể ra thằng cha nhà báo viết hơi bốc - hắn nói - cả khẩu đội tung lên rồi hạ cánh an toàn thì có. Mà không hiểu sao không thằng nào sứt mẻ gì mới lạ, nhưng có đạp được một loạt đạn hay không thì có trời mà biết. Còn chiếc thần sấm là công của cả trận địa, biết khẩu đội nào bắn trúng mà vơ vào. Hắn còn kể, hắn bị thương ở trận địa bảo vệ phà Long Đại, làn đó hắn đã “long đầu” nhưng chỉ sướt da, chưa vỡ gáo nên vào viện mấy ngày lại ra quần nhau tiếp. Hắn vừa đi tập huấn một lớp bắn loại pháo lớn bằng khí tài. Vừa nói chuyện hắn vừa lùa cơm, nhìn hắn ăn ngon lành mà mình phát thèm. Bốn bát B52 đầy có ngọn, hắn đánh nhanh gọn, hèn gì hắn to con đến thế. Hắn không quên cảm ơn hai  đồng hương đã giúp hắn một ngày vất vả. Nghe hắn kể mình nghĩ thằng cha phốc phét. Nhìn mặt mà bắt hình dong, ngữ ấy thì đánh đấm gì, trên đời này thiếu gì thằng vơ trời một nắm. Nhưng phải công nhận hắn có khoa nói, nghe có lý và đầy thuyết phục. Thôi thì cứ nghe, bom đạn có mắt, phét lác lắm rồi có ngày con ạ. Còn Dương, vừa nghe vừa lo xới cơm cho mình và hắn, suốt buổi ăn chưa xong một bát nhỏ. Không hiểu Dương đang nghĩ gì mà mình có cảm giác nàng thật sự tin hắn, không những tin mà phục vụ. Mấy lần nhìn trộm, mình thấy mắt hắn đong đưa nhìn Dương và Dương, nói sao nhỉ, cũng long lanh lắm. Cái dũng khí, cái quyết tâm ban đầu của mình trong chuyến đi này dần dần nguội lạnh. Không biết còn có cơ hội nào không để được nói với nàng điều mình ấp ủ bấy lâu nay.

Ngày thứ tư, thứ năm gì đó, lỡ độ đường nên phải nghỉ sớm. Chúng mình vào một nhà dân ven đường. Bếp lạnh ngắt, chắc chủ nhà đã đi sơ tán lâu ngày. Nhà chỉ có một gian, một chái bếp. Cạnh bếp có một hầm chữ A đắp nổi, tre còn tươi, có vẻ vững chãi. Chúng mình sửa soạn bữa tối. Vẫn thịt hộp xào với nắm rau lang hái ngoài vườn. Bữa nay có thêm món bột trứng tráng do Dương đạo diễn. Cũng phải nói, nhờ cái kho thực phẩm trong ba lô của hắn mà chúng mình luôn được bồi dưỡng nên không xuống sức mấy. Tuấn có vẻ khá hơn, chân đỡ sưng, mặt mày tươi tỉnh, hắn càng nổ dữ. Hắn bốc trời về những trận đánh dọc đường 15, ở bến phà Gianh có sự phối hợp của các khẩu đội trực chiến 12 ly 7 của dân quân gái. “Phải nói con gái quê mình đánh trận gan cóc tía, nhưng tình củm lắm” - hắn nói và không quên đánh mắt đưa tình về phía Dương. Các cậu xem hắn tán có bài bản không. Thấy mình có vẻ hững hờ với những câu chuyện kể, hắn quay sang hỏi mình đánh đấm ra sao. Có gì mà kể, nếu có, thú thực cũng không thể kể có đầu đuôi, lớp lang như hắn được. Mấy năm ở Lào chỉ có vài ba tận tập kích lẻ tẻ, luồn rừng, cắm chốt bảo vệ hành lang phía Tây của tuyến vận tải chiến lược, có đánh đấm gì ra trò đâu. Mà kể làm gì.

Đêm đó, Dương móc võng ngủ trong hầm, nhỡ có máy bay đỡ phải chạy, còn mình và hắn móc võng ngủ ở nhà trên. Vừa đưa võng hắn huyên thuyên đủ mọi chuyện trên đời. Còn mình thì cứ nghĩ lung tung, không đầu cua tai nheo gì cả. Trong suốt cả quãng đường hắn biết mình không thích hắn, có chút ghen ghét ra mặt nhưng sao hắn cứ vô tư, thân thiện. Xem ra cái lợi thế đồng hương không ăn nhằm gì trước một đối thủ tự tin, đầy bản lĩnh lại tài hoa, đẹp trai như hắn.

- Cậu có người yêu chưa? - Hắn hỏi.

- Có thì sao mà chưa có thì sao. - Mình trả lời nhấm nhẳng.

- Chưa thì về quê tớ, tớ làm mai cho. Mà không đi đâu xa, mấy cô em tớ, bảo đảm cậu không chê vào đâu được. Gái Thuỷ Nguyên trắng hơn gái Quảng Bình là cái chắc - hắn tự độc thoại một mình.

Kệ hắn… Trằn trọc mãi rồi mình cũng thiếp đi được một lúc. Gần sáng, có tiếng máy bay, mình tỉnh dậy thấy võng hắn trống không. Nghe tiếng nói chuyện rì rầm đâu đó. Nhìn ra vườn, ánh trăng hạ tuần chiếu sáng bàng bạc. Dưới bụi chuối góc vườn mình thấy hắn và Dương bên nhau, nàng nép vào hắn tin cậy. Các cậu nghĩ có đau không. Thế là cơ hội để đến với nàng đã khép lại. Điều mình định nói với Dương chắc hắn đã nói.

Ông dừng lại, rít một hơi thuốc thật sâu rồi uống cạn rượu trong cốc. Ông đưa tay xoa ngực, như có một cơn co thắt nhẹ trong tim. Chuyện đã qua mấy chục năm rồi mà ông như vẫn còn day dứt lắm. Tôi nghĩ, cũng tội cho ông, nếu chỉ có thế thì cuộc đời này khối thằng đàn ông đau khổ hơn. Tôi định nói đôi lời an ủi nhưng chưa kịp thì ông kể tiếp:

- Quãng đường còn lại với mình thật nặng nề, may mà không còn bao lâu nữa. Mình vượt lên trước bỏ mặc hắn và nàng vừa đi vừa tâm sự. Hết đất Kỳ Anh bọn mình quyết định vượt Đèo Ngang chứ không đi lên đường 21. Dạo này xe pháo không chạy qua đèo, máy bay địch cũng ít đánh phá. Qua đèo an toàn, rút ngắn được hơn một ngày đường. Thế là thoát, mình tính  sẽ đi suốt đêm, đến sáng chắc về tới nhà. Mỗi đứa mỗi ngả, rồi tất cả sẽ qua, quan trọng là mình trút được gánh nặng của mối tình đơn phương, một ảo ảnh. Xuống đèo, bọn mình men theo con đường cát nhỏ cách đường quốc lộ không xa. Nồm nam mát rượi, mặt biển bình yên, xanh mướt, thật là một buổi chiều hiếm có trong chiến tranh. Bỗng có tiếng máy bay nghe xa lắm, nhưng Tuấn phát hiện ngay: “Mẹ, thằng OV10, có chuyện đây”. Đúng là có hai chiếc OV10 đang bay dọc bờ biển. Đột nhiên, chúng vòng ra xa và phóng liền hai loạt đạn khói vào trận địa phòng không cách chỗ bọn mình vài trăm mét. Lập tức, từng tốp máy bay phản lực từ đâu bu tới, bổ nhào đánh vào trận địa. Bọn mình nằm xuống mấy hố cát nông choèn giữa một rừng dương cụt ngọn đã bị đánh phá trước đó. Những quả bom đen trũi xé gió nghe rin rít trên đầu. Trận địa đồng loạt nổ súng.

Tiếng khẩu lệnh từ một khẩu đội gần chỗ bọn mình nghe rõ mồn một. Từng loạt đạn cao xạ 37 vây lấy đội hình tốp giặc lái. Nằm bên mình, nhìn lên trời Tuấn càu nhàu: “Đánh dở bỏ mẹ”. Rồi hắn hét to: “Bỏ tốp đầu, bắt tốp thứ hai. Ngu thế”. Đúng như hắn nói, tốp đầu làm động tác giả cho tốp sau đánh vào trận địa. Khói bom đạn mịt mù. Bỗng hắn nhỏm dậy: - Tớ đến giúp bọn nó một tay đây. Bọn mình chưa kịp ngăn, hắn đã lao về phía trận địa. Mình và Dương không biết gì cũng vội lao theo. Một khẩu đội trưởng bị thương, hắn lao tới, quát to: - Để tôi. Hắn nhảy lên bệ chỉ huy.

- Hướng 34 bắt đầu, điểm xạ dài. Bắn! - Hắn vừa hô vừa phất cờ lệnh. Loạt đạn chụp gọn mục tiêu, một chiếc thần sấm trúng đạn bốc cháy như một bó đuốc khổng lồ rơi xuống biển. Dính đạn, đội hình địch loãng ra xa. Lúc mình chỉ biết xoay hoay giúp pháo thủ số 6 tiếp đạn, còn Dương đang băng bó thương binh ở khẩu đội bên cạnh. Hắn lừng lững trên vị trí chỉ huy, cao lớn, trên tay là ngọn cờ như ngọn lửa nhỏ bập bùng in tạc vào ráng chiều.

Củng cố đội hình xong, bọn địch tiếp tục đánh vào trận địa. Lần này chúng đánh từ hai hướng. Lợi dụng ánh nắng chiều, bọn F4H cắt bom từ phía tây, bọn F100 và 105 phóng rốc két từ phía biển vào. Bom phá, bom sát thương, bom bi nổ ran trận địa. Lưới lửa hất chúng lên cao. Pháo bắn đỏ nòng. Thêm một chiếc con ma F4 rơi cách trận địa không xa. Thua đau, bọn giặc trời càng hăng máu, như lũ thiêu thân điên đảo lao vào trận địa. Chiều tím dần. Đợt oanh kích cuối cùng chúng rút hết số đạn bom còn lại trước khi bay ra biển. Một loạt rốc két phóng trúng bệ chỉ huy hất Tuấn từ trên cao xuống. Một mảnh đạn phá toang lồng ngực rộng, máu nhuộm đỏ bộ tô châu còn thơm mùi vải mới. Mình và Dương cùng chạy đến. Dương lau máu, khói đạn trên người hắn, rồi ôm vào lòng khóc nức nở. Những người lính trong khẩu đội lặng người trước vị chỉ huy không quen biết. Mình thấy có lỗi trước linh hồn của hắn. Mình đã nghĩ sai về hắn, ghen ghét hắn. Mới biết bên hắn mình chỉ là cái bóng mờ nhạt. Hắn mạnh mẽ quá, phải không các cậu. Đã yêu là yêu bằng được, đã đánh thì đánh ra trò. Tình yêu cũng vậy, phải thuộc về kẻ mạnh. Đêm đó, đơn vị cùng bà con địa phương khâm liệm Tuấn và các chiến sĩ hy sinh. Họ đưa các anh ra an nghỉ trong một rừng dương sát biển. Trong khi chính trị viên đơn vị nói lời tiễn biệt, Dương lặng lẽ lấy cuộn băng cá nhân quấn lên đầu một vành khăn trắng.

Ông ngừng kể, quay mặt đi, cố giấu những giọt nước mắt. Rồi không nói thêm một lời nào, ông đứng dậy, dốc cạn ly rượu, lặng lẽ đi xuống bãi biển. Như sực nhớ ra điều gì, chúng tôi bàng hoàng đứng dậy nhìn theo ông. Gió nồm nhẹ thổi, mơn man cùng sóng vỗ. Ông đứng lặng bên mép nước nhìn trời sao, xa xa có một ngôi sao nhấp nháy…

                                       Hết
 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #137 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:10:20 pm »

                                               Bến đàn bà
                                                Tác giả :Nguyễn Mạnh Hùng

  Có một đêm, họ cười và bảo với chị rằng: Ba đứa chúng tao đã hy sinh hết rồi. Chỉ còn mày! Phải cố mà sống. Sống để mai sau còn đẻ hộ chúng tao mỗi đứa một đứa con nhé!

Nhóm tứ quý giờ chỉ còn lại Đông. Chỉ còn lại một mùa đông cô đơn,  lạnh giá.

  Khi chị đến bến sông thì trời đã về đêm. Lưỡng lự một chút, chị đứng lại xác định phương hướng. Bóng tối, thời gian làm cho cảnh sắc xoay vần khiến chị không đủ tự tin để tiếp tục cuộc hành trình như ý định. “Giờ thì phải kiếm một chỗ ngủ, sáng mai sẽ tiếp tục tìm”. Bao bọc không gian là đêm tối hoang mang. Ở giữa một nơi vắng vẻ thế này, hy vọng kiếm một nhà trọ chắc chắn là không được. Nén tiếng thở dài, chị đặt túi xách xuống và vặn lưng mấy cái cho đỡ mỏi rồi đưa mắt nhìn quanh. Hướng về phía có ánh sáng đèn, chị rảo bước. Hóa ra, đó là một chiếc lều vó bên sông với bà cụ già khoảng bảy mươi tuổi đang ngồi đan nan. Sau lời ngỏ ý muốn xin nghỉ lại của chị, bà cụ nhìn chị một lượt từ đầu tới chân rồi gật đầu. Sau vài câu xã giao, hai mắt chị đã ríu lại, chực sụp xuống. Chị đưa tay khẽ đấm đấm cái lưng đau như dần vì suốt một ngày, một đêm chen chúc trên xe khách chật như nêm và xin phép bà cụ đi ngủ trước. Bà cụ kéo tấm liếp. Những chấm sáng của chiếc đèn bão lọt qua khe in lên vách lều lấm tấm hệt những chấm hoa. Chị nhắm mắt lại và thiếp đi…

 
 Không rõ chị đã ngủ được bao lâu, chỉ biết rằng khi chị thức giấc thì vẫn thấy những chấm hoa hoa in trên vách lều. Không thấy bà cụ đâu, kéo tấm liếp, chị bước ra ngoài. Ánh đèn hoi hóp rãi bóng chị dập dềnh trên mặt sông, với tay lấy cái thời đang đan dở, chị cầm nắm nan giộng giộng xuống đất và bắt đầu tỉ mẩn gài từng chiếc một…

  “Ũm”. Chiếc thời tuột khỏi tay rồi từ từ lăn xuống nước khe khẽ vọng trong đêm. Chị đứng dậy cố nén một tiếng thở dài. Tiếng nước tóc tóc chảy khan qua mắt vó dội vào đêm buồn thấu ruột.  Một con cá chưa xuống lách ngược trên miệng đam nghe lạch xạch.

 Đêm quánh lại. Tiếng côn trùng đột nhiên nín lặng rồi từ từ ri rỉ và rộ lên. Đầu chị lại ong ong. Chị bước xuống thuyền. Cảm giác lành lạnh từ mặt sông khiến chị lịm dần... Ơ kìa! Xuân, Hạ…  Lũ quỷ sứ! Hi. Hi. Đông! Qua bên này kì lưng cho tao với. Da tao mịn như da trẻ con í chứ con Thu ấy à? Mới chưa đến mười tám tuổi mà lưng gì toàn mụn như bà già tám mươi! Á a! Chị Xuân dám nói xấu em hả? Em thì em lột xác chị đấy! Thôi thôi cho tôi xin, đừng có mà nói đến trẻ con mà làm tôi thèm rỏ rãi đây này. Bằng tuổi tôi á, ở nhà ối đứa chồng con đề huề rồi. Ừ, chẳng biết bao giờ mới hết chiến tranh để còn về lo chuyện chồng con nhỉ? Hưm… Nếu mai sau hòa bình, cả bốn đứa mà còn sống, bọn mình sẽ đẻ một lũ con rồi thông gia với nhau nhé! Khi ấy, con cháu chúng ta sẽ là con chung và “Tứ Quý - Tứ Quỷ” vẫn tụ với nhau như thế này thì thích nhỉ! Con Thu mông to thế kia, chắc đẻ con gái rồi, con Hạ ngực săn lắm, chắc đẻ con trai. Còn con Xuân, tao cho mày chọn đấy! Em không đẻ con gái - con Thu hét toáng lên. Con gái như u em í, vất vả lắm! Lúc nào cũng thấy mang nặng đẻ đau, chăm bẵm con cái, làm lụng cáng đáng tất công việc nhà chồng! Đẻ con trai, như bố em sướng hơn. Cứ biền biệt, mỗi lần về gửi lại mẹ em một đứa rồi lại đi! Thôi thôi! Cho mày đẻ con trai – Con Hạ cười – Báu ngọc gì, chỉ tổ nghịch như quỷ sứ! Suốt ngày rát cổ bỏng họng! Con gái xinh đẹp, hiền, ngoan… ! Nhìn cái mặt con Hạ đang ngất ngây kìa! Ha! Ha! Ha! Mày cứ ngất ngây đi! Rồi mai sau mày sẽ đẻ một lũ một lĩ con gái khiến cho lão chồng mày phải đi kiếm một thằng quý tử để nối dõi, khi ấy mày mới sáng mắt ra chứ cứ ở đó mà mơ màng xinh đẹp hiền ngoan à! Ôi dào, tao cho thoải mái! Cá vào ao nhà ai, người ấy được. Càng đỡ phải mang nặng đẻ đau. Xí! Mày cứ ở đấy mà to mồm “Cá vào ao nhà ai người ấy được!”, chả không lồng thách lên ấy à. Ha. Ha. Thôi! Thôi! Con xin các mẹ! Tắm nhanh lên rồi còn về máy bay nó mà ập xuống đây thì cứ đứng đấy mà đẻ với đái…

 Oẵng...Oẵng... Tiếng con cá vật đẻ phía đám trà làm chị chợt tỉnh. Giật mình ngơ ngác, hóa ra, chị vẫn đang ngồi ở dưới thuyền. Những hình ảnh vừa rồi chỉ là những kí ức gặp không gian và tâm trạng thì ùa ra vây bủa mà thôi. Dạo này, những hình ảnh như thế xuất hiện thường xuyên trong cái bộ óc vốn đã u u, mê mê của chị...

 
Chị vừa bơi, vừa thò cả bàn tay đang cầm dầm xuống nước.

Br...r...rừ...Gao!...Gao! Tiếng gao vọng từ con đường dẫn vào làng. Đêm tình yêu của hai con mèo đã kết thúc. Mấy giờ đêm? Chị không rõ. Từ ngày nghỉ làm ở bệnh viện phụ sản đến giờ, hầu như chị ít để ý đến thời gian. Thời gian của chị bây giờ là thời gian quay ngược… Quay về phà Gù của bốn cô gái thanh niên xung phong Xuân, Hạ, Thu, Đông - Bốn cô gái nổi tiếng xinh đẹp mang cái tên của bốn mùa ngẫu nhiên ở với nhau nên cánh lái xe vẫn gọi là Tứ Quý. Quay về với hài nhi không rõ hình hài… Quay về với nỗi ám ảnh của thai nhi bầm nát...

 Khi người hộ lý ngập ngừng bế đứa con đến trước mặt, chị không dám tin vào mắt mình. Chị đã nhéo vào đùi mình đến thâm tím để mong đó chỉ là một ảo giác. Không phải một thằng bé kháu khỉnh nghịch như quỷ sứ. Không phải một đứa con gái xinh đẹp, hiền ngoan. Trước mắt, chỉ là một khối thịt đỏ hỏn. Con trai. Cái chi thứ năm, chính là dấu hiệu con trai của nó! Mặc cho chị chăm bẵm, mặc chị cưng nựng, hài nhi, cái khối thịt đỏ ấy cuối cùng cũng bỏ ra đi… Những ngày sau đó, sữa ở hai bầu vú lúc nào cũng căng tức, chảy tràn. Nó tiết ra nhưng không biết để làm gì, không còn biết chảy vào đâu. Nó làm cho nỗi đau trong lòng chị càng thêm nhói buốt. Chưa hết thời gian nghỉ theo chế độ, chị đã xin đi làm sớm mong công việc sẽ giúp vợi quên nỗi đau trong lòng. Thật trớ trêu, ca trực hôm đầu tiên đi làm ấy lại là một ca hút thai. Chị đã định xin bác sĩ thay người nhưng hôm ấy y sĩ trực chỉ còn mỗi chị. Người mẹ thai nhi ấy, chỉ mới khoảng mười bảy, mười tám tuổi, nét mặt ngây thơ, ngơ ngác. Nó nhìn quanh sợ sệt, nem nép tựa vào tường. “Qua bên kia!” - Tiếng quát của cô y tá khiến đôi chân nó ríu lại chỉ chực sụm xuống. Con bé líu ríu vòng sang phía bên kia bàn, đôi mắt cụp xuống, hai tay luống cuống không biết để vào đâu, chân di di trên nền nhà. “Không biết lối mà trèo lên bàn à!”. Bây giờ thì con bé hoảng thật sự, nó lập cập trèo lên rồi nằm xuống, hai bàn tay đan chéo vào nhau, mắt nhắm nghiền lại. “Dạng chân ra! Cái lúc ấy, ai bảo đâu sao mà dạng nhanh thế!”. Trong phòng chỉ còn thi thoảng là tiếng gắt gỏng của y tá, tiếng lách cách chuẩn bị dụng cụ và tiếng u u của máy điều hòa nhiệt độ. “Thai mấy tuần?”. Nó giật mình mở choàng mắt vì câu hỏi bất ngờ của bác sĩ. “Dạ... Cháu… Cháu… Cháu  không biết…”. “Sao lại không biết! Nếu không biết thì về! Thế có biết tắt kinh từ khi nào không?”. Con bé sợ hãi, nước mắt chực sẵn ở mí mắt: “Hình như ba bốn tháng gì đấy ạ…”. Chị khẽ thở dài, trên màn hình chiếu, thai nhi nằm ngủ một cách bình yên trong tư thế của một thiên thần. Không biết có phải ảo giác không, nhưng trong một tích tắc, chị nhìn thấy hình như thai nhi kia chớp mắt rồi nhoẻn miệng cười với chị. Hạ ơi! Đó là một thai nhi gái! Một thai nhi gái lành lặn, xinh đẹp, hiền ngoan… Con bé nằm trên bàn bỗng liếc nhanh một lượt như muốn tìm kiếm người thân, như muốn bấu víu vào một ánh nhìn an ủi. Ánh mắt của nó dừng lại trên khuôn mặt chị. Con bé bỗng òa khóc, nó bíu lấy tay chị nức nở: Hu. Hu. Mẹ ơi! Con sợ lắm! Con sợ lắm! Nhìn đôi mắt ngơ ngác thất thần giàn giụa nước mắt của đứa con gái, lòng chị thắt quặn. Hạ ơi! Con gái xinh đẹp, hiền ngoan. Trong đầu chị bỗng lóe lên một ý nghĩ. Chị vuốt tóc nó khẽ nựng nựng vỗ về: “Con gái ơi… Hay là đừng phá nữa… Cứ để lại, nếu con không muốn, đẻ xong cô sẽ nuôi cho…”. “Không!” Đứa con gái thét lên sợ hãi. “Cháu van bác sĩ! cháu xin bác sĩ…”.  “Bây giờ thì nó chỉ muốn tống khứ cái của nợ ấy ra ngoài càng nhanh càng tốt để rồi còn tiếp tục lại đú đởn nữa chứ!” Ông bác sĩ khẽ lầm bầm rồi lại gắt lên: “Há mồm ra mà thở cho đều. Lúc sướng thì sao không thấy kêu với khóc”.

 “Lấy cho tôi iốt”. Sau tiếng nhắc của ông bác sĩ, như linh cảm thấy điều chẳng lành, thai nhi khẽ rúc cái đầu vào hai cánh tay nhỏ bé yếu ớt của mình. Đó cũng là hình ảnh cuối cùng của thai nhi trên màn hình mà chị bắt gặp. “Nào! Ráng chịu nhé em ơi!”. Chị đã thì thầm những tiếng như thế vào tai con bé trước khi sự tước đoạt mầm sống kia sắp sửa bắt đầu. Con bé đã nhoẻn miệng cười đầy vẻ hàm ơn. Ngày xưa, khi Thu đang cong mình chịu đựng những cơn đau dữ dội của mảnh bom nằm trong ổ bụng trên chiếc giường tạm của bệnh xá dã chiến để cho bác sĩ chuẩn bị mổ, chị cũng đã ghé vào tai Thu thì thầm như thế. “Nào, ráng chịu nhé em ơi!”. Hôm ấy, Thu đã nắm chặt lấy tay chị, gương mặt nhợt nhạt cố chịu đựng sự đau đớn, nhoẻn cười. Nụ cười nhợt nhạt ấy biết rằng mình chỉ có một phần trăm sự sống nhưng vẫn lóe lên tia hy vọng, lóe lên khao khát về một sự thần kì. Trong cái nhoẻn cười ấy, Thu đã gửi gắm bao điều nhắn nhủ. Và chị, cứ đinh ninh rằng, trong đó có một lời nhắn nhủ về một đứa con. Con bé nằm trên chiếc bàn kia cũng nhoẻn miệng cười, một nụ cười cầu thị. “Cô ơi, cháu sợ lắm! Cô làm nhanh nhanh cho cháu với!”. “Hay là thôi…?”. Cái ý định ban đầu mong cứu vớt thai nhi kia lại trở lại trong chị khi bắt gặp cái cười ngơ ngác của con bé. Lướt qua trong đầu chị là một đứa trẻ bụ bẫm chập chững cười toe toét rồi bập bẹ: Mẹ, mẹ … “Cháu sẽ về ở với cô đến khi nào sinh xong thì để đứa bé lại cho cô nuôi rồi cháu trở về với bố mẹ? Cô sẽ đến nói chuyện với bố mẹ cháu và giữ kín chuyện này cho”. Chị ngập ngừng nhắc lại ý muốn lúc nãy cố vớt vát tia hy vọng mong manh. “Không! Không! Cháu van cô. Hãy giúp cháu ngay bây giờ! Hãy giúp cháu ngay đi!”

...Những que inox tiệt trùng lạnh tanh bắt đầu được ấn vào để nong rộng cổ tử cung. Con bé đau quá. Nó gồng mình, ưỡn mông nhưng không dám hét. Gương mặt con bé nhợt nhạt, trắng bệch ra, miệng xệch xạc. Ngày xưa, trên chiếc bàn mổ dã chiến, Thu cũng trẻ như thế. Cũng mười tám tuổi, cũng cong người chịu đựng đau đớn khi chiếc dao mổ bằng kim loại lạnh tanh chạm vào da thịt mình. Gương mặt Thu cũng trắng bệch ra, nhợt nhạt, cố gắng chịu đựng để tống khứ mảnh bom tử thần đang trú ngụ trong ổ bụng mình mong tìm đến một sự sống mỏng manh. Bây giờ, con bé kia cũng đang đau đớn như thế, cũng muốn tống khứ một vật trong ổ bụng mình ra như thế. Nhưng cái sự tống khứ kia là sự tống khứ sự sống, tống khứ một sinh linh bé bỏng. Nỗi buốt xót bỗng dội ngược lên đỉnh đầu. Nước mắt chị ứa ra…

 
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #138 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:13:48 pm »

                                 Tiếp theo :

 “Bật công tắc máy lên Đông ơi!”. Tiếng ông bác sĩ khẽ gằn. Hoảng hốt. Tai chị ù đặc. Đôi tay trở nên luống cuống, vụng về. Thay vì đưa tay bật công tắc điện ở chiếc máy ngay trước mặt, chị lại quơ quơ lên bàn khiến mấy chiếc banh, kéo, kìm rơi xuống đất kêu loảng xoảng. Ông bác sĩ nổi tiếng nóng tính ở bệnh viện trừng mắt định gắt câu gì đó nhưng kịp dừng lại. Ánh mắt dịu xuống, không nói gì, ông lặng lẽ nhoài người với tay ấn vào công tắc. Tiếng máy hút thai nổ sình sịch. Tất cả trước mắt bỗng tối sầm. Sình sịch. Sình sịch. Âm thanh kia không phải là tiếng động cơ nổ trong phòng máy lạnh im ắng mà là tiếng nổ của chiếc ca nô cao tốc ở phà Gù gió phần phật thổi. Nước sông đỏ sậm bởi ráng chiều tà đang tắt dần hắt lên từ phía đằng Tây, người Hạ và Xuân cũng nhuốm sậm một màu đồng hun như thế. Cả đại đội lặng đi trong giây phút truy điệu sống cho đội cảm tử trước khi họ bước xuống chiếc ca nô cao tốc để phóng hết tốc lực phá những quả thủy lôi đang nằm im dưới lòng sông, đảm bảo an toàn cho một đoàn gần ba mươi cháu nhỏ chuẩn bị qua phà gấp.  Không ai khóc. Lá cờ đỏ sao vàng bay phần phật. Bài Quốc ca trầm lan trên những cuộn nước…

 

“Ối! Chết mất mẹ ơi!”. Tiếng rên đau đớn của con bé làm chị sực tỉnh. Sình sịch… Trước mặt chị, chiếc máy hút thai vẫn đang làm việc. Tràn ngập căn phòng là cảm giác lạnh lẽo. Sình sịch… Rùng mình. Cảm giác ớn lạnh chạy dọc xương sống. Trước mắt chị, từng mảnh thân thể đỏ hồng của thai nhi đang trôi trôi trong ống hút. Chị loạng choạng bíu vội lấy cạnh bàn. Tất cả bỗng tối sầm. Chị hét lên một tiếng rồi đổ ập xuống bất tỉnh…

 

    Chiếc dầm bơi cứng ngắc trong tay, thuyền từ từ dừng lại rồi bắt đầu xoay tròn. Đêm cuối tháng, trăng mờ mờ phía đằng Tây như một mảnh sành vỡ. Chân trời xuất hiện những đụn mây hình người quấn xiết lấy nhau. Cái miệng con Hạ kìa! Cười mới xinh làm sao khi cùng Xuân bước xuống ca nô máy để phá thủy lôi. Tao cao số lắm! Không chết được đâu. Mà giả dụ tao có chết, đứa nào còn sống thì cho tao gửi một đứa để mai sau nó nhang khói cho tao nhé! Đừng có mà gở cái mồm! Về mà đẻ chứ ai hộ mày được hử! Chị đã quát lên với nó như thế rồi ba đứa ôm chặt lấy nhau. Hôm ấy, chị đã phải cố ghìm những giọt nước mắt cứ trực trào ra. Ngồi vào khoang lái, như sực nhớ ra, Xuân vội vã tháo chiếc cặp tóc có hình những chấm hoa trắng trên nền đen rất đẹp mà người yêu mới tặng xoay đi xoay lại ngắm nghía rồi đưa cho chị, nháy mắt: “Nói dại nếu tao có làm sao, mày mà đẻ con gái hãy đưa cho nó cái này. Coi như tín ước nhận nó làm con của tao nhé”.

  Chiếc ca nô từ từ tăng tốc lao vùn vụt trên sông. Uỳnh! Uỳnh!... Từng cột nước đỏ ngầu lẫn cả bùn đất đuổi theo sau đuôi chiếc ca nô đang phóng hết tốc lực. Vòng thứ nhất. Vòng thứ hai… Uỳnh! Uỳnh!... Đôi bàn tay của tử thần với những cú chụp giật sống sít như đã bắt đầu thấm mệt, đã bắt đầu rã rời, đã bắt đầu chán nản. Trên mặt sông, không còn những tiếng nổ, không còn những cột nước đục ngầu bùn đất. Những cuộn sóng tung bọt trắng bắt đầu đuổi nhau phía sau ca nô. Trên bờ đã có vài tiếng thở phào. Cố lên Xuân ơi! Hạ ơi! Vòng cuối rồi! Ba mươi mét… Hai mươi lăm… Hai mươi… Chị đã nhắm mắt cầu trời khấn phật. Nhưng rồi một tiếng nổ kinh hoàng. Một cột nước đỏ ngầu cuộn trùm nuốt chửng lấy chiếc ca nô, hất tung nó lên cao khi nó chỉ còn cách bờ chưa đến mười lăm mét. Tất cả lặng đi đau đớn. Mấy ngày sau, đồng đội và bà con hai bên bờ sông mới tìm được xác của hai người trôi dạt cách bến phà hai cây số. Chị đã khóc rất nhiều. Hồi ấy, đêm nào chị cũng thấy họ hiện về trò chuyện cùng chị. Có một đêm, họ cười và bảo với chị rằng: Ba đứa chúng tao đã hy sinh hết rồi. Chỉ còn mày! Phải cố mà sống. Sống để mai sau còn đẻ hộ chúng tao mỗi đứa một đứa con nhé!

Nhóm tứ quý giờ chỉ còn lại Đông. Chỉ còn lại một mùa đông cô đơn,  lạnh giá.

  Cơn gió mồ côi trong đêm vuốt nhẹ theo sống lưng, chị bỗng thấy lành lạnh. Hóa ra, người chị đã đẫm mồ hôi từ lúc nào mà không hề biết. Cái cảm giác lành lạnh ấy, chính là do cơn gió đang lau khô dần giúp chị. Con thuyền bấp bênh nhẹ trôi trên dòng. Không có sự điều khiển, nó quay dần mũi theo quỹ đạo tròn. Kịch… Những gợn sóng lăn tăn do thuyền vừa va phải làm gọng vó duềnh chúi xuống ánh lên màu bạc xỉn. Kịch. Kịch… Hai cú va liên tiếp. Nhưng lần này là cái đầu của chị va phải tóp vó. Những đàn đom đóm thi nhau túa ra nhảy múa. Nước từ ngoài sông ào vào thuyền lênh láng. Gập thấp người, chị vội vã quạt nước bơi ra xa bởi sau cú nẩy ra, thuyền sẽ trôi lại và cái tóp vó sẽ tiếp tục nện vào gáy chị những cú chí tử khác. Cầm lấy chiếc bát tát nước, chị cúi xuống lòng thuyền. Trong ánh trăng mờ mờ, bóng chị nhệch nhạc dưới đáy thuyền lênh loang rồi vỡ vụn. Trong đầu chị lại hiện lên hình ảnh thai nhi tan vụn trôi trôi… Suốt một thời gian dài, chỉ cần bắt gặp mùi hăng hắc của cồn hay nhìn thấy chiếc áo blu trắng, chiếc bàn mổ, panh, gạc, xi lanh, cái hình ảnh ấy lại trở về hành hạ chị một cách dữ dội. Chị đã phải xin nghỉ hưu sớm và trở về quê với mong muốn sự yên bình của kí ức tuổi thơ sẽ làm dịu đi những ám ảnh ấy.

 

Chợt nhớ đến những tiếng kẹt kẹt của cây vó, chị bơi lại dùng tay té té nước lên nạnh. Tóc... tóc... rào. Tóc... tóc… rào. Những giọt nước nhỏ li ti rơi xuống tạo một màn mỏng trắng mờ mềm như bông. Trong những giấc mơ, chị cũng hay bắt gặp trong cái màn mỏng mờ ấy hai đóa sen. Hai ấu hồn nhẹ như sương khói. Chị tắm cho chúng bằng hương của những loài hoa dại, cho chúng ăn những giọt sương tinh khôi đọng trên cành lá. Chúng nhảy nhót, vui đùa. Chúng hát. Chúng gọi chị là mẹ và kể chuyện cho chị nghe, hỏi chị những câu làm lòng chị như quặn lại. Mẹ ơi! Sao chúng con lại không có hình hài con người hả mẹ? Ôi! Những ấu hồn đáng thương! Chị biết trả lời chúng ra sao bây giờ?

  Phía bờ bên kia, những lùm cây in vào màn đêm tạo nên vô vàn những hình thù bất động như đám người đang lô nhô đứng ngồi. “Đông ơi!”, tiếng gọi cất lên nghe nhẹ như tiếng chiếc dầm trong một  khoảnh khắc ngắn ngủi khẽ va nhẹ xuống mặt nước. Thuyền vẫn dập dềnh. Đêm lễnh loãng trôi. “Đông ơi!”. Nước lóc bóc. Những bóng trắng chênh chao. Tròng trành. Nghiêng ngả. Hơi thở con gái hầm hập. “Đông ơi! Sao bây giờ mày mới đến thăm chúng tao?” “Thì tao bận quá!”. Câu trả lời của chị như một hạt nước đọng ở mũi thuyền rơi xuống mặt sông. Chị bỗng cảm thấy ân hận bởi câu trả lời vừa buột ra của mình. Câu trả lời biện minh thói quen vô cảm, bàng quan với mọi sự ở đời mà lâu nay chị vẫn quen dùng. “Bận. Bây giờ có ai mà không bận. Nếu mày bận thì chúng tao đi đây”. “Kìa! Xuân ơi! Hạ ơi! Thu ơi! Tao xin lỗi!Tại tao quen mồm! Ở lại với tao đã chứ!”. “Bận…Bọn tao cũng bận”. Chị đưa tay chới với, những bóng trắng cứ mờ dần cho đến khi chỉ còn lại những hình ảnh mơ hồ, chập chờn trong ánh sáng liêu trai…

 
 “Bà ơi! Hôm nay có cá ngon không vậy?”. “Có mớ cá trong giỏ ấy, đổ ra xem có lấy được không, tôi bán cho”. “Trông thì ngon thật đấy, nhưng mà toàn cá có trứng thế này, gầy giơ xương khó bán lắm! - Ba chục nhé!”. “Trả thêm cho tôi năm nghìn nữa. Được thì lấy”. Thoảng qua tiếng của người mua cá và bà lão kéo vó bè vọng vào lều. Hóa ra, những gì mà chị đã trải qua chỉ là một giấc mơ. Một giấc mơ pha trộn rất nhiều những hình ảnh thật và những điều tưởng tượng của quá khứ, hiện tại. “Bận. Tao bận quá!”. Chị vẫn còn nhớ câu nói ấy trong giấc mơ. Cái sự bận ấy của chị đã diễn ra mấy chục năm nay, và  nếu những cú sốc kia không giáng xuống cuộc đời chị, thì đến khi nào, cái sự bận kia mới hết để chị có thể nằm ở đây, ở cái lều vó này của bà cụ già - chỗ mà ngày xưa, rất gần nơi bốn chị em đã từng sống để mơ về những người đồng đội cũ?

Chị nằm im, nhìn trân trân lên khoảng không mờ trên nóc lều như muốn tìm ở đó sự giải thoát cho nỗi đau đang dội ngược. Chẳng có sự giải thoát nào ở trên đấy cả. Trái lại, cái khoảng không mờ mờ ấy càng dẫn chị đi xa hơn trong cái thế giới u u, mê mê mà chị đang phải chịu đựng. Cái thế giới nhờ nhờ tối ấy đè cứng lấy chị, làm chị không thể nào cựa quậy, không thể nào vùng vẫy. Có ai không? Hãy động vào tôi đi! Hãy gọi tôi một tiếng! Có ai không? Chị muốn hét thật to lên, kêu toáng lên nhưng kết quả chỉ là những tiếng ú ớ không sao thoát ra khỏi lồng ngực…

 Có tiếng hắng giọng. Rồi tiếng chuông ngân và vang xa. Chậm rãi và thật nhẹ, chị thấy gương mặt phúc hậu của bà cụ đang ghé sát mặt mình. Đôi bàn tay nhăn nheo lay nhẹ người chị. “Dậy… Dậy cô ơi!”. Chị chồm dậy. Ôi may quá. Dậy được rồi. Chị ngượng ngịu dụi mắt cười. “Tối hôm qua cô sảng ghê quá! Cả đêm cứ ú ớ suốt. Gần sáng lại bị bóng đè nữa”. “Vâng. Cảm ơn bà. Hôm qua con đi đường xa mệt nên đặt lưng xuống là ngủ như chết… Bà ơi! Bà kéo vó ở đây đã được lâu chưa ạ?”. “Dễ cũng có đến hơn chục năm rồi. Thì tôi cũng là ở đây vừa làm cái vó này, vừa nhang khói cho đền thờ Hai Cô”. “Đền Hai Cô?”. Câu hỏi của chị thốt ra hầu như đồng thời với câu trả lời vừa rồi của bà cụ. Chị bỗng nhớ đến tiếng chuông mơ hồ khi sáng và những gì mình đã trải qua trong giấc mơ. Bà cụ đưa tay lên bắt dây vó không nhìn chị. “Là hai cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh khi phá thủy lôi trên sông”. Bà cụ ngừng lại một chút rồi tiếp: “Hồi còn chiến tranh, có một cái phà ở chỗ dưới kia, nhưng rồi hòa bình, nó cũ nát, người ta không sử dụng nữa. Bến phà bị bỏ hoang, một thời gian sau người dân ở đây xây dựng đền Hai Cô. Bữa tối, khi cô đến, tôi đã thấy gương mặt cô rất nặng âm khí. Đêm cô lại mê sảng dữ quá nên tờ mờ sáng tôi ra đền thỉnh chuông kêu cầu Hai Cô phù hộ”. “Dạ con cảm ơn bà. Trước đây, con cũng đã từng chiến đấu ở đây”. “Ở cái bến sông này hả? Ừ. Tôi cũng đoán là cô có liên hệ gì đó với cái bến sông này”. “Đền Hai Cô có gần đây không hả bà?” “Mai là ngày rằm. Tôi đã mua hương hoa để sẵn trong thúng, chiều tối tôi xuống đó quét dọn và đón khách đến dâng hương hoa. Cô có đi cùng không?”.

  Chị gật đầu.

Và bỗng thấy trong lòng nhẹ nhõm đến kỳ lạ

           Nguyễn Mạnh Hùng
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #139 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 10:18:36 pm »

                                     Cà na đắng
                                     Tác giả :Nhất Phượng

 Năm tôi lên tám thì anh hai tôi hy sinh. Ngày được tin báo tử, mẹ tôi vật vã đến lịm người. Ba tôi lúc nào cũng kề một bên. Ông van nài: “Thôi mẹ nó! Phải sao chịu vậy. Âu cũng là...” Lâu lâu, ông quay mặt đi, lén chùi nước mắt...

 
  Mấy tuần liền nhà buồn như nấm mộ. Đi học về, tôi lủi thủi ăn cơm một mình rồi chui vào xó nhà buồn thỉu buồn thiu. Ba tôi kịp lấy đâu ra tấm hình của anh hai tôi đặt lên chiếc bàn nhỏ phủ khăn trắng, cạnh bàn thờ dì tôi. Từ nay, nhà có hai liệt sĩ - đều chết trẻ. Dì tôi, lúc hy sinh nghe nói cũng chỉ quá hai mươi.

Luôn một tháng, ba tôi không về Phước Chỉ. Ông tự tay lo cơm nước cho mẹ tôi. Việc này trước kia ông vẫn thường làm, kể cả khi còn là một cán bộ đương chức. Đáp lại sự vỗ về của ba tôi, mẹ tôi chỉ khóc. Hoặc ngồi thẫn thờ. Một đêm, tôi tỉnh giấc. Nghe khát nước nhưng không dám gọi mẹ, tôi đành rón rén rời giường mò ra phòng ngoài. Tôi giật thót mình khi nhác thấy một bóng đèn trước bàn thờ anh hai tôi. Trong ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu nhỏ và mấy nén nhang lập loè tôi định thần nhìn kỹ. Hoá ra là ba tôi. Ông lầm thầm khấn vái gì đó rất lâu, rồi đứng lim dim, đầu cúi gục. Hôm sau, tôi thì thào với mẹ: “Mẹ ơi! Ba cũng thương anh hai dữ lắm hả mẹ?” Mẹ tôi hơi sửng sốt. Bà nhìn tôi hồi lâu: “Sao con hỏi vậy”. Im lặng một lúc, bà thở dài: “Con ruột sao không thương? Rất đỗi là...” Thấy mẹ tỏ vẻ không muốn tiếp tục câu chuyện tôi đành im, dù lòng đầy thắc mắc.

  Rồi mẹ cũng nguôi, thôi không vật vã nữa. Sáng hôm ấy, bà dậy sớm lặng lẽ chuẩn bị các thứ cho ba tôi về Phước Chỉ. Vài ký đường, ít hộp sữa, rồi xà bông, thuốc cảm... Ba tôi đeo cái túi đầy ứ lên vai, ngập ngừng: “Mẹ nó ở nhà rán giữ sức. Thông cảm cho tôi...” Ông hấp tấp quay đi sau khi vỗ nhẹ vào đầu tôi: “Ba đi nghe Thảo”. Tôi không dạ, lòng bỗng trào lên nỗi tức giận. Trước đó, tôi cứ nghĩ ba tôi sẽ không đi đâu nữa sau cái biến cố đau buồn ấy. Từ khi có chút trí khôn đủ biết lưu ý những điều bất thường quanh mình, tôi đã lờ mờ cảm thấy gia đình tôi hình như không giống nhiều gia đình khác. Ba mẹ tôi chưa từng to tiếng với nhau bao giờ. Người này luôn tìm cách làm vừa lòng người kia từ những việc nhỏ nhất. Vậy mà vẫn có gì không ổn. ẩn náu bên trong cái hạnh phúc dịu ngọt êm đềm, có những khoảng tối mơ hồ, âm thầm và dai dẳng. Tôi không tự giải thích được điều gì, chỉ miết một cách mang máng rằng: ngoài cái gia đình nhỏ bé, trong đó có tôi, ba tôi còn có một gia đình khác ở Phước Chỉ – với một người đàn bà không phải mẹ tôi.

 
 Mấy năm sau, ba tôi vẫn giữ thói quen mỗi tháng về nhà một lần, mỗi lần năm ba bữa. Lần nào về, ông cũng rất chăm đốt nhang cho hai bàn thờ vẫn đề liền nhau. Bàn thờ dì không có ảnh. Có khi ba tôi lại đờ đẫn ngó bức di ảnh của anh hai tôi cả giờ, rồi lại lầm thầm khấn vái chi đó. Những lúc ấy, tôi cứ thắc mắc. Không biết ở cái cõi riêng của mình, anh hai tôi có nghe được lời nào không. Cũng chẳng biết vong hồn anh có về nhà được chưa, khi mà hai cốt vẫn còn đâu đó tận chiến trường. Mẹ tôi ngày càng ít nói. Bà vẫn chăm sóc cha tôi rất chu đáo, chu đáo đến từng bữa ăn, từng ký đường, hộp sữa mỗi khi ba tôi chuẩn bị rời nhà. Một hôm, mẹ tôi nói: “Thảo sửa soạn về Phước Chỉ với ba, thăm dì Lành”. Giờ, thì tôi đã biết tên người đàn bà từng chung sống với ba tôi bấy lâu. Chuyện thăm nom với tôi ăn nhằm gì. Điều làm tôi, con bé suốt mười mấy năm lớn lên ở đất thị xã quen thuộc, cảm thấy hứng thú là sẽ được quen với một vùng quê lạ, được lênh đênh trên sông nước như ba tôi thường kể.

Ngồi trên chiếc xuồng máy lướt băng băng trên con rạch Vàm, tôi như bay bổng. Cảnh vật mở ra trước mắt, tựa hồ trong một câu chuyện thần tiên nào. Những tàu môn nước lắt lay. Những giỏ lục bình nở bông tím ngắt, bập bềnh theo sóng nước. Cái gì cũng đều có vẻ kỳ diệu với tôi. Ba tôi ngồi gần đằng mũi, tay chỉ chỏ lên bờ, kể những kỷ niệm thời trai trẻ, hoạt động cách mạng vùng này. Tôi lơ đễnh nghe, mắt chỉ chăm chăm dõi theo tiếng con chim gì ánh ỏi trên đọt cà na. Lần đầu tiên, tôi biết cây cà na. Chúng mọc khá nhiều, xùm xoà theo bờ rạch, trái lít chít trên cành lá.

Nhà dì Lành nằm ở một góc ngã ba, nơi con rạch Vàm đổ hoà ra sông lớn. Ngôi nhà tranh có vẻ quạnh hiu bên cạnh cái mênh mông của trời nước. Làng xóm ở đây còn thưa thớt lắm. Nhà này cách nhà kia rất xa. Buổi trưa thật vắng vẻ, yên tĩnh ngoại trừ mấy tiếng gà xao xác gáy và tiếng mái chèo khua nước ì oạp trên sông. Tôi theo ba tôi, bước lên bờ, ngần ngại bước vào nhà dì Lành. Trong nhà mọi thứ đều sơ sài, cũ kỹ. Một người đàn bà xanh xao đang ngồi bệt dưới đất, tay bắt mấy cái nan rổ. Đó là dì Lành. Dì nhìn tôi sững sờ rồi cuống quýt chụp lấy cây nạng bên cạnh, lập cập đứng dậy, kêu lên: “Trời ơi! Thảo đây hả con?” Ba tôi đỡ nhẹ lấy lưng dì, dìu đến bên chiếc chõng tre. Dì đập đập tay xuống mặt chõng, hối hả nói: “Ngồi đây! Ngồi đây đi con! Ngồi đây, cháu!”. Ngây người nhìn tôi từ đầu đến chân, dì tiếp giọng vấp váp: “Trời ơi! Con mau lớn quá. Hồi mới giải phóng, dì có lên Tây Ninh thăm con. Lúc đó con còn chưa biết nói. Mới đó mà hơn chục năm...”

Gần như suốt cả ngày, dì Lành quấn lấy tôi. Nhưng cái chân teo tóp bất thường và cây nạng tre của dì cứ làm tôi rờn rợn. Tôi hay kiếm cớ chuồn khỏi nhà, theo ba tôi đi xúc tép hoặc vớt cá con. Ba tôi xúc thật giỏi. Chẳng mấy chốc, cái rá to đầy nhóc lũ tép mòng. Chúng nhảy rào rào chen chúc với đám rô non, bù niễng. Buổi chiều, khi ba tôi quẩy đôi thùng ra bờ rạch, tôi lẽo đẽo theo sau. Trong lúc ông lúi húi bên cây cầu ván, tôi đứng trên bờ tò mò nhìn mấy đứa trẻ trạc tuổi đang hụp lặn dưới nước. Chúng ném những trái cà na vào nhau, vừa la hét vừa cười rầm rĩ. Những tấm lưng trần đen nhẻm, bóng lên dưới nắng chiều trông cứ như được trát một lớp bùn mịn. Tám chán, chúng tồng ngồng kéo nhau lên bờ, mặc quần áo. Xong, chạy đến moi từ một bụi rậm mấy cái giàn thun cất giấu tự lúc nào chẳng biết. Rồi mặc cho đầu cổ tai lòng ròng những nước, chung đi dọc theo bờ rạch, vừa đi vừa nghiêng ngó theo tiếng chim trên cành cao.

Trưa hôm sau, ba tôi đi lấy thuốc cho dì Lành. Dì Lành nói dì uống thuốc nam đã ba bốn năm nay, chẳng biết phải uống đến bao giờ mới thôi. Tôi lại trốn ra hè nhà, thơ thẩn bên những cây cà na. Không rõ chúng được dì Lành trồng hay tự mọc? Chắc đang mùa nên trái nhiều lăm. Tôi lượm cành củi khô, với người lên quất. “Lấy sào mới thọc được con à”. Dì Lành đứng ở chái bếp nói vọng ra, rồi lọc cọc nạng tre bước đến bên vách nhà, rút cây sào trúc dài, đầu có móc lẽm đưa cho tôi. Tôi mải mê lần hết cây này qua cây khác. Dì Lành tay cầm bọc nilông, khập khểnh chống nạng theo sau, kiên nhẫn lượm từng trái một. Khi cái bọc căng phồng tôi cũng mỏi nhừ cổ. Dì Lành ngồi bệt xuống đất, tây lần bóp ống chân, vừa cười vừa thở gấp: “Để dì lấy muối ớt cho con chấm ăn mới ngon”. Nhưng tôi chỉ thích thọc chơi chứ không thấy khoái khẩu cái thứ này. Những trái cà na xanh xanh, mũm mĩm nhìn thấy hay hay ngồ ngộ nhưng cắn vào chát xít lại đắng và chua. Thấy tôi lè ra, nhăn mặt dì Lành cười: “Mai mốt khoe khoẻ, dì làm cà nà muối cam thảo gởi lên cho mẹ với Thảo ăn, ngon hơn”.

Ở Phước Chỉ thêm vài ngày, tôi theo ba tôi về thị xã. Dì Lành gửi biếu mẹ tôi mấy hũ mắm tép và một ít khoai môn. Dì lọc cọc nạng tre đưa cha con tôi ra bờ rạch. Tôi xách bọc cà na - đêm về chơi rải ruộng ngồi thảm xuống lòng xuồng. Dì Lành nước mắt giàn giụa, cố nói với theo: “Mai mốt rảnh, con về chơi. Dì trông nghe Thảo.”

*
     Tôi đỗ vào đại học. Mẹ tôi nói: “Con cứ đi. Mẹ còn khoẻ lắm. Ở nhà có cậu con tới lui thăm chừng, không sao đâu”. Thế là tôi xuống thành phố, lòng không mấy yên. Một hôm, nhà điên xuống: “Có việc cần. Về gấp”. Không kịp phép tắc gì, tôi lao ra bến xe.

Ào vô nhà, tôi gần nghẹn thở vì mừng khi thấy mẹ tôi ngồi trên bệ ván. Ơn trời, mẹ vẫn yên lành nhìn tôi một lúc, mẹ tôi buồn rầu báo tin: “Dì Lành sắp chết”. Tôi hơi sững người. Một chút xao xuyến thoáng gợn lên trong lòng. Đã lâu lắm gần một chục năm ròng tôi không gặp lại dì Lành. Gần chục năm tôi chưa một lần trở lại Phước Chỉ. Dì Lành đã năm lần nảy lượt nhắn gọi, tôi chẳng hề để tâm. Còn ba tôi, cứ mỗi bận quẩy túi rời nhà, ông lại cố hỏi tôi thêm lần chót: “Thảo không về dì Lành chơi thật à con?” Thấy tôi lắc đầu quầy quậy, ông thở dài quay đi. Cái làng quê sông nước nghèo nàn hiu quạnh ấy không đủ sức lôi cuốn tôi lần thứ hai. Những chú tép nhả lao xao trong chiếc rá tre cũ kỹ, những đứa trẻ đen cháy trần truồng bên sông, những trái cà na đắng nghét với người đàn bà tật nguyền xanh xao chỉ còn thấp thoáng trong ký ức xa xôi mờ nhạt. Ba năm qua, cứ lâu lâu dì Lành lại gửi lên cho tôi vài hũ cà na muối. Những trái cà na muối ngả màu vàng vàng, ăn nghe mằn mặn, chua chua, ngọt ngọt khá hấp dẫn. Thứ quà đồng quê là lạ ấy khiến cho lũ bạn cùng lứa tôi vô cùng thú vị. Tôi hào phóng chiêu đãi chúng trong niềm hãnh diện của kẻ có trong tay thứ vật quý không ai có được. Đó là tất cả những gì còn lại rõ nét nhất trong tôi về một vùng quê xa thẳm.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM