Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:46:58 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứa con của đất  (Đọc 67380 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #20 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 07:58:56 pm »

                       
CHƯƠNG MUỜI

- Thằng Quyết mày tưởng tao là người ở Xà-bang này hả? Không phải đâu, tao là người Châu-ro đó chớ. Tao sanh đẻ trong sóc Chùm-đuông, lớn gần bằng tuổi mày thì mới bỏ sóc. Tao đâu phải tên Hai, tao tên Cổ ...

Vào một đêm ấm trời và lặng gió, ông già thốt nói với tôi như vậy. Đêm ấy ông ít ho. Ông đã ngồi xổm dậy khi bắt chợt nghe có tiếng tù và văng vằng nổi lên từ đâu xa lắm. Ông già Cổ cả quyết với tôi rằng tiếng tù và đó là từ trong sóc Châu-ro vọng tới. Khi tiếng tù và đã tắt lịm trong đêm trường, ông Cổ vẫn cứ ngồi im lìm trên góc phản. Tôi đang nằm cũng ngồi nhổm dậy, nhích lại gần ông già mà mãi cho tới đêm nay tôi mới biết là người Châu-ro. Mấy bữa mới tới đây tôi cũng thấy ông có cái nét khang khác, nhưng tôi không phân biệt được.

Khi ông nói ra rồi, tôi mới bắt đầu để ý. Ông nói rất sõi, tuy hãy còn lơ lớ. Tóc ông đã bạc trắng mà xoăn, ngọn tóc cứ xoắn xít cắm vào gáy. Cái khiến tôi tin ông là người Châu Ro hung, là ở nơi hai dái tai ông còn có vết xỏ lỗ để đeo khoen. Tôi ngồi bên, len lén dòm ông. Lát sau, tôi khẽ hỏi:

- Ông ơi, vậy chớ sóc Chùm-đuông của ông cách đây có xa lắm không?

- Đi từ lúc có mặt trời tới lúc hết mặt trời mới tới.

- Sao ông không ở đó mà lại về ở đây?

Nghe tôi hỏi câu ấy, ông già im bặt. Thiệt là lâu, ông mới thở dài nói:

- Quyết à, tao mà còn ở đó thì chắc chết

Còn không chết thì bây giờ hóa thành con xà-niên già rồi!

- Con xà-niên là con gì hả ông ? Tôi hỏi.

Thế là ông già Cổ lại im đi một chập nữa. Có vẻ như ông chưa biết lựa lời nói sao để tôi hiểu được thế nào là con xà-niên. Hoặc cũng có thể hai tiếng xà-niên chính từ miệng ông vừa nói ra đó đang gợi lại cái cảnh bi thương mà bây giờ nghĩ tới ông hãy còn ghê sợ. Dường như đấy là tấm thảm kịch đã trùm phủ tâm hồn ông và tất cả tâm hồn dân tộc Châu-ro ông, và có thể là của dán tộc Xê-tiêng nữa. Nhưng rồi ông Cổ không nín im được ông bắt đầu kể cho tôi nghe chuyện con xà-niên, mà ông bảo ấy là chuyện của chính ông. Bởi vì, theo ông nói thì suýt nữa ông đã trở thành con xà-niên.

- Thăng Quyết mầy không biết chớ trong sóc hồi đó không còn có cái chi ăn nữa ... Con nít chết riết muốn hết. Lính tráng ngoài Xà-bang này vô bắt người trong sóc đem về đi khẩn đất, mở đồn điền. Thằng Quyết mầy không biết chớ người Châu-ro tao chết thì chết chớ không ai chịu đi. Không ai muốn bỏ sóc mà đi. Ông già tao cũng vậy, sau khi bà già tao chết đói rồi, ông cũng không chịu đi khẩn đất. Nửa đêm, ông xách xà-gạt 1, xách ná, cõng tao cùng mấy người nữa bỏ trốn vô rừng sâu. Hồi đó tao còn nhỏ hơn mày chút ít, ông già tao cõng tao đi suốt đêm, tới hừng đông mới dùng lại bên một con suối. Khu rừng đó cũng là rừng Hắc-dịch, mà sâu lắm, không có dấu chân người, chỉ có dấu chân thú. Đêm ngày gì cũng nghe con cọp nó gầm, con beo nó kêu. Cọp ở kế bên chòi mình, ỉa đống cứt nào cũng có lông, lông con thú nhỏ hơn bị nó ăn thịt như con nai con mễn.

Nhờ có cây ná, ông già tao bắn được con dọc, con chồn đem về ăn. Chỉ biết lấy thịt nướng, rồi ăn lạt chớ đâu có muối. Cái chòi của cha con tao lợp bằng lá mây, chịu mưa không xiết. Hễ ban đêm trời đổ mưa là ông già tao thức đậy ngồi ôm tao mà chịu. Mùa khô thì đỡ hơn, nhưng con ve con mò 2 nhiều quá, nó cắn bấy mình ngứa ngáy chịu không nổi. ở lâu ngày, mấy cái khố của cha con tao rách hết, rách như xơ mướp mà không đám bỏ. Tới khi rã rệu, mới đành đóng khố bằng lá, chỉ còn giữ lại sợi giây khố buộc ngang lưng. Để chịu đựng mùa mưa lại tới, ông già tao đi chặt tre về chẻ đôi ra lợp chòi, nhờ vậy không bị ướt ngoi ngóp như trước. Cha con tao còn lột vỏ cây trải trong lều, vạt cây nhọn cắm quanh chòi cho cọp sợ không dám vô. Trời ơi, cọp đầy rừng vậy đó mà nó động tới cha con tao. Con cọp nó còn cho cha con tao sống. Chớ người, người như tụi lính thì nó lại bắn ra hòn đạn giết chết cha tao. Cũng vì cha tao không muốn chết đói, mới phá rừng đốt cây để làm rẫy.

Chắc tại ngọn khói bay lên nên lính nó ngó thấy. Mấy bữa sau, lính vô vây chòi. Cha tao cõng xốc tao chạy vọt ra khỏi chòi. Súng nổ đùng đùng. Đương chạy, bỗng cha tao vấp ngã. Tao tưởng cha tao bị vấp rễ cây. Ngờ đâu một hòn đạn đã bắn trúng bụng cha tao. Vậy mà cha tao còn cố gượng nhổm dậy cõng tao tính chạy nữa. Chạy thêm được mấy bước, cha tao ngã xấp xuống. Tụi lính chạy tới. Thấy cha tao đã chết, tụi lính gỡ tao ra khỏi lưng cha tao, rồi bắt tao về.

Thằng Quyết mầy biết tụi nó nói sao không? Tụi nó nói: "Bắt được con xà-niên con rồi!". Con xà-niên, trời ơi, tao nghe cái tiếng đó là từ buổi chiều đó. Quyết ơi, con xà-niên là vậy đó cháu. Con xà-niên là người Châu-ro, người Xê-tiêng bị đói, bị đuổi rượt bỏ sóc trốn vô rừng. Chừng nào người đó rách khố, phải đóng khố bằng lá, rồi tóc tai mọc dài gần chấm chân thì người đó thành con xà-niên. Nghe nói đâu con người ta là từ con thú mà trở thành người, còn như con xà-niên thì lại từ con người trở thành thú. Lần đó tao bị bắt đem về sớm như vậy là may mắn lắm. Tao nghe người ta bảo là may mắn chớ tao đâu biết. Thiếu chút nữa, Tây sở đã nhốt tao vô chuồng sắt nuôi như nuôi con vật để coi chơi. May có người bảo với Tây sở là tao chưa thành xà-niên. "Xà-niên sao còn biết nghe, biết nói tiếng người?". Họ bảo tao là thằng nhỏ Châu-ro mới theo cha bỏ sóc trốn vô rừng chưa tới một năm. Chớ nếu là con xà-niên thì phải ăn lông ở lỗ đôi ba chục năm, quên hết tiếng người, chỉ có giữa xà-niên với xà-niên mới rú rí cho nhau nghe được.

Thiệt tình tao nghe họ nói mà ớn óc. Họ nói nếu để chậm thì bề gì tao cũng thành xà-niên. Nên tao phải cảm ơn những người lính, mặc dù họ bắn cha tao té xuống như cái cây đổ. Sau khi khỏi bị nhốt vô chuồng để chưng coi, tao được tha ra cho làm lụng. Tao làm khỏe, làm xấp đôi xấp ba người ta. Đầu tiên tao chăn bò, rồi lớn lên một chút tao đi phá rừng dọn cây, trồng cao su thành lô. Tao làm đủ thứ chuyện, làm như con trâu, suốt trong hơn ba chục năm.

Tới chừng già không cầm được xà-gạt hạ nổi cây nữa, tao còn đi cạo mủ. Rồi mới quày về đây chăn bò cho cậu Bảy Vàng. Cũng đã năm bảy năm nay rồi. Từ ngày nầy qua tháng khác, tao sống với bầy bò, bạn bầu với nó riết đến nỗi bị nó lây bịnh. Người ta nói cái bịnh của tao là do con bò lây, Quyết ạ. Tao chăn bò chớ tao buồn lắm. Buồn nhất là khi cậu Bảy chở bò cũ đi bán rồi dắt them bò mới về. Bò cũ bò mới gì cũng đâu phải của cậu Bảy. Chắc thằng Quyết mày ngỡ bò đây là của cậu Bảy hả? Không, bò của bà con hết. Cứ lâu lâu, tụi lính biệt kích ruồng vô sóc. Trận nào cũng có lùa bò về, ghé tạt qua đây bán cho cậu Bảy. Bán rẻ lắm. Tỉ như bốn ngàn một con thì bán chừng một ngàn rưỡi hai ngàn. Mà ở đây chỉ có cậu Bảy mới mua được. Vậy là bò lấy của bà con Châu-ro tao lại đưa về đây cho tao chăn dắt. Thiệt mấy con bò đó làm tao đau thắt cái ruột. Có điều là ngó thấy nó tao tưởng như thấy lại buôn sóc. Tao ôm từng con bò đó, ngửi mình nó coi thử có chút ít mùi khói, mùi cây ngải hoặc là mùi lá bép gì không. Tao dòm những con mắt bò ướt rượt đậu đầy những con bù mắt, trong cái bụng tao cứ nghĩ là bầy bù mắt đã đeo theo bò từ trong sóc. Rồi tao chăm chút cho mấy con bò đó, nuôi nó mập lên.

Khổ nỗi, bò cũng không ở lại với tao lâu. Hễ bò lớn mập là cậu Bảy lại đem bán. Bò mới dắt về hay bò đem đi bán đều làm tao đứt ruột. Bây giờ tao coi bò cũng hết nổi nữa rồi. Tao gần nằm xuống rồi. Không biết từ giờ tới chết tao có được về sóc một lần không.

- Ông cứ xin với cậu Bảy Vàng mà về thăm! – Tôi nói.

- Không được đâu. Ông Cổ lắc đầu, rồi ngập ngừng một chốc, ông tiếp, giọng lưỡng lự:

- Ờ, mà bây giờ có khi cậu Bảy cho tao về cũng nên ... Chớ trước đây không được đâu. Trước tao có trốn về mấy lần, đều bị bắt lại, cậu Bảy kêu lính bắt ...

- Cháu như ông thì cháu trốn tuốt. Trốn về tới sóc rồi có bị bắt lại cũng được!

Ông Cổ trố mắt, kêu lên:

- Thằng Quyết mầy nói nho nhỏ chớ, cậu Bảy nghe được cậu đánh rồi niệt chung với bò. Lần tao trốn rồi bị bắt về, tao bị nhốt chung với bò tới ba đêm.

- Ông có đi về sóc thì đi cho sớm đi. Chớ vài bữa

nữa cháu về rồi, chừng đó ông mắc coi bò rồi! Tôi nói.

Ông Cổ chưng hửng:

- Ủa, vài bữa nữa thằng Quyết mầy về đâu?

- Cháu về Phước-kiển chớ về đâu?

- Sao tao cậu Bảy nói mầy ở đây coi bầy bò luôn?

- Cậu Bảy nói với ông như vậy à?

Tôi hỏi lớn, và đang ngồi trên phản, tôi nhảy xuống đất:

- Cháu phải đi hỏi thằng chả liền mới được. Bộ thằng chả tính xí gạt cháu hay sao chớ? Nói với cháu là xuống đây phụ giúp năm mười bữa rồi về, bây giờ tính bắt luôn. Thằng cha này thiệt tráo trở!

Thấy tôi nổi nóng hầm hừ, ông Cổ chộp giữ tôi lại:

- Cháu đừng nóng, để rồi hỏi sau, gấp gì. Ngày mai hỏi cũng được mà. Bây giờ cậu Bảy có còn thức đâu ...

Ông Cổ hỏi tôi:

- Hôm rày cháu xuống ở đây được mấy bữa?

- Năm bữa. Đáng lẽ cháu về rồi. Cháu tính ở tới tám bữa là về. Được rồi, ba bữa nữa mà thằng chả êm rơ không nói gì thì cháu cũng về.

Ông Cổ buông tay tôi ra, đôi mắt ông ngó xuống một cách buồn bã. Nghe tôi tính tới chuyện về, hình như ông già đó lại thấy mình trơ trọi. Nếu như tôi đi, có nghĩa là một nỗi cô đơn mới lại đến với ông già đáng thương này. Như vậy, ông sẽ sắp phải chia tay nốt với tôi. Trong năm ngày qua, có tôi ông cũng đỡ buồn. Ông đã trò chuyện, giành phần cơm, và mỗi chiều lại nổi khói ngóng đợi tôi về. Có tôi, đêm đêm gian xép nầy ấm hơn, đỡ trống trải hơn và mấy bữa tôi tới hình như trời đỡ gió. Tui ngó thấy điều đó, thấy cái nguồn vui bé mọn của ông Cổ thế là sắp mất nốt. Bảy Vàng gạt tôi mà như gạt gẫm cả ông già.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #21 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 08:02:29 pm »

                             Tiếp :
Ông Cổ lặng đi một lúc rồi chợt ngẩng lên:

- Nè, thằng Quyết sao mày không ở đây với tao? Về trên Phước-kiển thì mầy cũng đi coi trâu mà?

Tôi thấy thương tội ông già hết sức. Nhưng tôi không biết nói sao cho ông hiểu được là cái gì đang chờ tôi ở Phước-kiển. Tôi đang hy vọng và đành chịu để ông thất vọng. Phải chi không có sự hứa hẹn gì cho tôi ở Phước-kiển, tôi cũng dám ở đây luôn cùng ông.

Mới rồi, nghe chuyện đời ông muốn chảy nước mắt. Cảnh tôi tưởng đã khổ, ngờ đâu cảnh của ông lại còn quá đỗi thương tâm. Ông nói thời may ông chưa kịp hóa thành con xà-niên, nhưng tôi nghĩ sau đó, cảnh ông còn hơn con xà-niên nữa. Ông đã ngả rừng, trồng cây cao su, chung sống với bò trong bốn mươi năm. Ông làm như con vật, và bây giờ sắp chết như con vật. Gào xé gan ruột tôi là cái tiếng kêu: "Bắt được con xà-niên con rồi!". Nhức nhói trái tim tôi là cái cảnh ông già ngửi tìm hơi hướng mùi vị của buôn sóc nơi mình những con bò mà nay tôi mới biết là bò của bà con Châu-ro. Hèn chi hôm nọ, mấy bác cu-ly cạo mủ nói cứ cái mửng này thì ít lâu nữa dân Châu-ro hết sạch bò với Bảy Vàng. Mới hay họ nói đúng. Dân Châu-ro đã mất bò rồi sẽ còn bị mất thêm nữa. Bảy Vàng sẽ bán bò cũ rồi sẽ có thêm bò mới.

Chừng nào còn Ngô Đình Diệm thì bọn lính còn len lỏi vô các sóc Châu-ro miệt rừng Hắc-dịch cướp giựt bò. Và nếu không phải là tôi thì sẽ là ông Cổ, phải chăn dắt đàn bò ấy. Dẫu cho sức ông Cổ đã kiệt tới đâu đi nữa, rồi đây ngày ngày cũng vẫn phải lùa bò đi ăn, cho tới lúc nào đó ông chết giữa đàn bò thì thôi. Tôi nghĩ nếu tôi mà rời đây trở về Phước-kiển thì chắc ông Cổ sẽ chết giữa đàn bò thiệt. Tự nhiên tôi mường tượng ra một buổi chiều tất nắng, ông già Cổ nằm lại nơi bìa trảng không tài nào gượng dậy lê theo đàn bò nổi. Thế rồi những con bò Châu-ro đứng quanh sẽ nhìn ông bằng những cặp mắt ướt. Tôi hình dung từng con một sẽ cúi xuống thè lưỡi ráp nóng hấm khắp người ông. Lần lượt cho tới hết con bò cuối cùng, sau đó cả đàn bò lẳng lặng đi về chuồng trại Bảy Vàng trong bóng đêm từ từ đổ xuống.

Ông già Châu-ro đã có lúc suýt biến thành con xà-niên ấy nay như cúi gập đôi người xuống. Sau khi thốt lên lời van nài tôi ở lại, ông cứ ngồi xổm bất động. Cái đầu tóc bạc xoắn tít dường như không bao giờ cắt, to sù sụ nặng nề như ấn khổ người nhỏ thó của ông xuống chiếc áo bành tô lính đã vàng xỉn và có không biết bao nhiêu chỗ rách dược khíu vá rất thô vụng.

Việc xảy ra không giống như những điều tôi dự tính. Chẳng bao giờ tôi có thể trở về Phước-kiển được nữa. ông Cổ cũng không chết như sự hình dung của tôi.

Mấy hôm sau tôi có lên gặp Bảy Vàng để nói chuyện tôi trở về Phước-kiển. Tôi nói rằng tôi đã coi bò được tám ngày rồi. Hôm ấy vào buổi sáng sớm có cả Bảy Vàng và vợ ở nhà. Hai vợ chồng đang ăn. Vợ Bảy Vàng mặc áo hở nách ngồi xổm trên ghế xa-lông, nhồm nhoàm cạp nhai một cái đùi gà quay. Còn Bảy Vàng thì đã ăn xong, đang ngồi bên một tách cà phê bốc hơi nghi ngút.

Tôi nói đã lâu, mà hắn vẫn điềm nhiên, chậm rãi khoắng muỗng trong tá châm một điếu thuốc. Hắn nhấp nháp cà phê, chép miệng một cách khoan khoái. Bỏ mặc tôi đứng chỗ ngưỡng cửa một lúc khá lâu, bỗng thình lình hắn liệng cái muỗng đánh keng xuống đĩa, nói gọn lỏn:

- Không về trên Phước-kiển được đâu, mầy nhỏ ơi!

Rồi hắn đứng dậy, đi đến trước mặt tôi, hạ thấp giọng hẳn xuống:

- Anh Tư tao chết rồi, anh Biện Tư của tao ấy ... Tao mới được tin là trển Việt cộng nổi dậy dữ lắm. Việt cộng bắt giết anh Tư tao với một số người khác trong nhà. Bây giờ không về trển được đâu!

Tôi sửng sốt khi nghe Bảy Vàng báo cái tin đó. Vậy là Biện Tư chết rồi sao. Có lý nào tôi mới xuống đây ít bữa mà trên Phước-kiển lại xảy ra chuyện long trời lở đất như vậy. Hay Bảy Vàng lại đặt điều nói gạt để bắt giữ tôi ở đây luôn. Không, chắc Biện Tư chết thiệt rồi. Chuyện đó có thể xảy ra lắm. Nhưng sao Bảy Vàng còn bảo có một số người ở trong nhà Biện Tư cũng bị giết. Không, vụ đó tôi không tin. Chắc vụ này Bảy Vàng nói thêm, cốt dọa cho tôi sợ không dám về. Còn nếu Biện Tư đã bị đằng mình giết chết tôi còn mừng nữa chớ có can gì tới tôi. Điều đó có nghĩa là lời chú Chín nói với tôi đã xảy ra. Bà con Phước-lai đã nổi dậy. Vậy thì chú Chín hoặc anh Đấu có thể cho người đến đón tôi và chị em con Biếc. Trời, phải chi tôi có cánh bay về Phước-kiển. Phải chi hôm rồi tôi không nghe theo Bảy Vàng đi xuống đây có hơn không. Đứng tại ngưỡng cửa, bụng dạ tôi như có lửa đốt. Tôi nói với Bảy Vàng:

- Tôi phải về Phước-kiển thôi!

- Tao đã nói anh Tư tao chết rồi, chủ của mầy chết rồi, mầy về trên đó ở với ai?

- Ông Tư chết thì chết, tôi về nhà cô tôi!

Bảy Vàng chưa kịp nói thì mụ vợ bỏ cái đùi gà đang gặm xuống đĩa, bỏ chân khỏi ghế xa-lông, lạch bạch tới nói như xỉa xói vô mặt tôi:

- Thằng này nói sao, nói lại tao nghe coi mậy. Mầy nói ông Tư chết thì chết, mày cứ về à? Á, thằng nầy nói nghe ngon lành ta. Mầy ở với ông Tư, ông Tư nuôi mầy mà dám nói vậy hả?

Day về phía Bảy Vàng bây giờ đã lại ngồi xuống uống nốt tách

- Nè mình, hay là nó muốn về thì cứ cho nó về. Về trển để tụi Việt cộng mần thịt nó cho rồi?

Tôi nói:

- Tôi làm gì mà Việt cộng mần thịt tôi?

Mụ Bảy Vàng xây lại chỏi đôi cườm tay trắng múp vô hông, ré lên:

- A, thôi tao biết rồi. Hay mầy muốn về trển đặng nhập theo Việt cộng thì cứ nói phứt rồi tụi tao cho về mà nhập bọn?

Mụ nói và cười gằn, để lộ hai hàm răng khít rịt. Mụ tiếp:

- Mà chừng nào mầy về nhà cô mầy được ... Mình à, vậy chớ nó ở coi trâu cho anh Tư đã hết hạn chưa vậy hả mình?

- Đã hết đâu!

Bẩy Vàng đáp. Uống tiếp cho hết cà-phê trong tách, hắn nháy mắt ra hiệu bảo mụ vợ đừng nói nữa. Hắn đến bên, vỗ vai tôi, giọng nhỏ nhẹ:

- Nói vậy chớ bây giờ ở trên đó động lắm, thằng em mày về trển làm chi. Cứ ở đây với tao, coi bầy bò cho tao, rồi tao sắm thêm quần áo cho mà bận. Chừng nào nhắm mòi trên đó êm, tao cho mầy về luôn với cô mầy. Tao nói thiệt!

- Thôi, cứ cho tôi về trển thôi!

Bảy Vàng cuời:

- Về dễ ợt chớ có khó chi. Thằng em mầy biết đó, xe đò chạy một tiếng đồng hồ là tới, đâu có lâu la gì. Mà điều như tao đã nói, ở trên đó bây giờ lộn xộn lắm, với lại thằng em mầy nghĩ coi thằng em mày đi rồi bỏ bầy bò cho ai. Không lẽ bắt ông Hai Cổ chăn, ổng gịà rồi, lại mắc bịnh ho lao nữa. Tức nhiên không có mầy thì rồi phải tới ổng, mà như vậy cũng bằng như là giết ổng, thằng em mầy không tội nghiệp cho ông sao?

Bảy Vàng đã thôi cười. Cùng lời lẽ ấy, bộ mặt hắn đổi khác, trông rất đỗi ảo não và thương tâm. Tuồng như trong những nguyên cớ cầm giữ tôi ở lại đây còn là vì hắn nghĩ tới ông Cổ nữa. Tôi thừa biết hắn chẳng thương gì ông Cổ. Nhưng tôi không thể không nghĩ tới ông già Châu-ro đáng thương mà cuộc đời khốn khổ của ông lúc nào cũng bóp nhức trái tim tôi kể từ lúc ông kể cho tôi nghe chuyện đời ông. Sau cái đêm thổ lộ đời mình cho tôi nghe, hầu như ông nằm liệt luôn trên bộ phản, chỉ trừ hai bữa cơm ông gắng gượng thổi nấu và chiều đến thì vẫn phải đốt khói un cho bò. Ông cũng ho nhiều hơn. Cho nên tôi đã lấy làm đau đớn khổ tâm. Không phải bây giờ nghe Bảy Vàng nói mà tôi đâm khó nghĩ.

Tôi đã khó nghĩ từ mấy bữa nay. Vì nếu tôi bỏ về Phước-kiển, thì thế nào Bảy Vàng cũng lại bắt ông Cổ coi bò, dẫu ông có yếu đau bệnh tật gì đi nữa, miễn là ông chưa chết.

Trong lúc nầy, tình thương đối với ông già còm cõi sắp chết kia tràn lấn tất cả. Không nói thêm một lời với Bảy Vàng, tôi xây lưng bước khỏi nhà. Tôi định về chỗ gian xép kiếm chút
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #22 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 08:05:36 pm »

                          
Trong lúc nầy, tình thương đối với ông già còm cõi sắp chết kia tràn lấn tất cả. Không nói thêm một lời với Bảy Vàng, tôi xây lưng bước khỏi nhà. Tôi định về chỗ gian xép kiếm chút cơm ăn, rồi sẽ đi lùa bò. Nhưng mới ra khỏi nhà Bảy Vàng chừng mươi bước, tôi bỗng thấy một toán lính mặc đồ rằn ri từ ngoài cổng kéo vào. Cả bọn chừng một trung đội, mình mẩy lấm lem bùn đất. Trên vài bộ đồ trổ vằn da beo, thấy rây nhiều vết máu. Những tên đi sau cùng đang khiêng hai tên dường như bị thương và kè dắt tên chỉ huy mặt mày nhăn nhó. Tôi thấy Bảy Vàng chạy ra. Hắn có vẻ như biết hết mọi sự, đợi cả bọn vào hết hắn liền ra đóng kín cổng ngoài.

Tôi nghe tên chỉ huy cà nhắc tới bên Bảy Vàng nói:

- Nguy lắm rồi. Tụị Châu-ro trong sóc theo Việt cộng hết rồi!

Tên chỉ huy chỉ nói vậy, rồi lại nhăn mặt, lê cái chân cà nhắc đi tới. Hắn ngồi phịch xuống bậc thềm xi măng. Thừa lúc chộn rộn lính tráng, tôi khựng lại nghe ngóng. Bảy Vàng sai vợ rót đem ra cho tên chỉ huy một ly rượu chi đó. Tên chỉ huy uống cạn, rồi gạt cái ly sang bên nói với Bảy Vàng:

- Như mọi lần là tụi tôi tràn vô sóc nổ súng, ai bắn cứ bắn ai lùa bò cứ việc lùa bò đi. Lần này mới nhào vô chưa kịp nổ súng thì tôi bị sụp chông trước tiên. Đ.mẹ mấy thằng Châu-ro chơi ác thiệt. Tôi bị trúng chông chưa kịp rút chân lên là đã nghe tiếng ná lải bật tanh tách, rồi tên bay nghe vù vù. Trời tối như mực, biết đâu mà tránh, tôi cứ bò mọp sát đất ... May là tôi đi giầy trận, mũi chông lụi vô không sâu. Hai thằng kia thì một thằng bị sụp hầm chông tới háng, còn một thằng chết rồi. Thằng đó bị tên bắn trúng sơ sài ở cùi chỏ tay, vậy mà chạy có một đỗi thì té chết. Tôi nghi chắc bị tên thuốc ...

Bảy Vàng gật đầu

- Như vậy chắc đúng là bị tên thuốc độc rồi!

Tên chỉ huy nghe Bảy Vàng xác định, hắn hoảng quá chồm lên:

- Trời trời ... Không biết tụi nó có tẩm thuốc ở chông không? Nếu có thì bỏ bà tôi?

Bảy Vàng lắc đầu:

- Thường nó chỉ tẩm ít tên độc thôi. Tên của tụi Châu-ro mười mũi cũng chỉ có một mũi là có tẩm thuốc. Gặp thú dữ như cọp tụi nó mới xài tới. Cái chân của anh tôi bảo đảm không hề gì đâu. Bởi vì đụng chông thuốc thì anh làm gì về tới đây nổi.

- Không biết sao chớ nhức dữ quá anh Bảy?

- Thôi được, muốn chắc ăn để tôi kêu ông Hai tới coi. Ổng là dân Châu-ro, coi qua một cái là biết thôi ...

- Vậy hả, vậy anh Bảy kêu ổng tới coi dùm tôi lẹ lẹ đi!

Bảy Vàng bước ra, gặp tôi, hắn bảo:

- Mầy xuống kêu ông Hai lên đây cho tao, Quyết!

Tôi chạy xuống kêu ông Cổ. Tôi nói:

- Không biết hồi hôm lính tráng nó đi đâu vô sóc, bị chết bị thương kéo về đây. Ông Bảy Vàng kêu ông lên hỏi gì đó.

Tôi cùng theo ông Cổ lên nhà. Tên chỉ huy đã trụt giầy ra khỏi chân. Hắn dơ cái bàn chân bị chông đâm ra. Mũi chông đã được nhổ, để lại một lỗ sâu hút rỉ máu giữa gan bàn chân. Bảy Vàng ngoắc ông Cổ lại, trỏ bàn chân tên chỉ huy:

- Ông thiếu úy đây đi vô sóc bị đạp chông. Ông Hai à, ông coi vết thương này có phải là bị chông tầm thuốc độc không?

Ông Cổ nghe nói thì lừ lừ dưa mắt ngó tên thiếu úy. Hình như đối với tên này, ông Cổ không lạ. Có lẽ nhiều lần hắn đã tới đây, dắt theo bò cướp ở các sóc Châu-ro, đem đến cho ông những nỗi đau lòng. Tôi nghe ông nói bọn nầy bao giờ cũng đi xuôi về lọt. Thế mà hôm nay chúng không được một con bò nào về, lại còn bị đánh khỏi sóc. Sự việc trái ngược ấy làm cho ông Cổ ngạc nhiên. Ông chăm chú nhìn vết thương nơi gan bàn chân tên thiếu úy, mắt mở trố ra, đầy vẻ kinh ngạc như lần đầu tiên ông trông thấy một điều kỳ dị. Vết thương đó đối với ông quả là một sự bất ngờ. Vết thương đó báo tin với ông rằng buôn sóc Châu-ro đã đánh trả bọn cướp bò, không cho chúng lùa bò đi một cách dễ dàng như trước nữa.

Vẫn với cái dáng của một người quen nhẫn nhục, ông già day lại cóm róm nói với Bảy Vàng:

- Thưa cậu Bảy, chỗ bị chông xốc nầy không có sao đâu. Cây chông đó không có ngâm thuốc đâu!

Nhưng khác với mọi khi, ông còn hỏi:

- Có ai bị nữa không, để tôi coi thử?

- Có, còn một người nữa.

Bảy Vàng dắt ông sang thềm nhà bên hông. Hắn trỏ tên lính nằm rên rỉ trên cái áo mưa:

- Người nầy bị thương ở háng!

Ông Cổ cúi xem, rồi cũng nói:

- Thưa cậu, chỗ xốc chông này nặng hơn, mà cũng không phải bị chông thuốc đâu!

Sau cùng, Bảy Vàng trỏ tên lính phủ vải bạt nằm ở cuối thềm:

- Người kia thì chết rồi, nghe nói bị tên bắn ...

Ông Cổ dở tấm vải bạt. Mùi hôi thối từ cái thây tên lính chết xông hắt lên, khiến ông Cổ phải buông tấm vải bạt ngay xuống. Ông không xem nữa mà nói:

- Thưa cậu, người nầy bị tên thuốc bắn rồi đó cậu. Con thú dữ như con cọp con beo bị trúng tên thuốc còn ngã tại chỗ chớ đừng nói chi người ta. Mà thứ nầy mau thúi lắm, cậu biểu mấy ông lo chôn liền đi, để đó lát nữa thúi chịu không nổi đâu! ( hết chương 10 )
--------------------------------
1   Một loại dao.
2   Một loại con nhỏ như con mạt, cắn rất ngứa.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 06:11:06 am »

                               
CHƯƠNG MƯỜI MỘT

Thấm thoát mà tôi về ở đợ chăn bò cho nhà Bảy Vàng đã được ba năm. Lúc tôi theo Bảy Vàng về Xà-bang là hồi cuối năm năm một ngàn chín trăm năm mươi chín, tới bây giờ đã bước sang năm sáu mươi ba. Ngày rời Phước- kiển, tôi tính đâu chỉ về ở đây chừng năm bảy bữa. Không dè số phận đẩy đưa buộc tôi phải ở đây lâu như vậy. Mới mười sáu tuổi, nhưng tôi dềnh dàng cao lớn. Cặp chân tôi hồi đó vốn đã cao giờ lại càng cao hơn. Mắt tôi hồi đó đã xếch giờ lại càng xếch hơn. Mấy năm chăn bò làm cho nước da tôi đen sậm. Tóc tôi hớt cua, luôn chĩa dựng ngọn ra phía trước. Tôi quen đi thì đi mau, bước chân như sải. Mỗi bữa cơm tôi có thể ăn tám chén cơm đầy.

Về khoản này, Bảy Vàng không keo kiệt như mụ vợ. Nhưng tôi cứ thấy đói bụng luôn luôn. Hôm nào tôi cũng ghé vô xóm kiếm thêm chén cơm nguội, vài củ mì luộc. Bà con trong xóm thương tôi, cho tôi cả thuốc rê để hút. Tôi sanh tật hút thuốc dữ là từ dạo ở đây.

Bây giờ thì ở khắp Xà-bang, Ngãi-giao này ai ai cũng biết tôi. Bà con làm ruộng và cạo mủ cao su thì biết rõ tình cảnh mồ côi, khổ cực của tôi. Tụi chủ sở thì biết tôi lì lợm, sẵn sàng cho bò húc phá vườn cao su non của chúng nếu chúng hiếp đáp tôi. Đã nhiều lần xảy ra việc đó nên chúng nể sợ tôi tới cái mức phải gọi tôi bằng ông, ông cả Quyết. Chính tôi đã đặt ra cái điều kiện ấy, tôi hăm nếu không gọi tôi bằng ông cả thì chẳng những tôi phá những lô cao su non mà tôi còn khắc đứt nhượng bò của sở. Không phải là tự dưng tôi làm ra sự căng thẳng với chúng, mà đầu tiên tại chúng gây chuyện với tôi, cho cả năm bảy tên Chà 1 gác-dan cao lớn vô dọa nạt bắt tôi phải rời bỏ những bãi cỏ tốt để bò của sở ăn.

Tôi bị dồn ép ở hai phía, phía Bảy Vàng và phía những tên chủ sở. Lẽ dĩ nhiên tôi không thể để bò Bảy Vàng bị đói, vì tôi lãnh chăn đàn bò ấy, thay cho ông Cổ.

Ông Cổ thì đã đi rồi. Ông già Châu-ro đó rời nhà Bảy Vàng về sóc Chùm-đuông đã được gần một năm nay.

Ông Cổ mà đi được cũng là nhờ tôi. Có tôi đứng ra lãnh đàn bò, Bảy Vàng không giữ ông ở lại nữa. Tôi còn đặt ra điều kiện đòi Bảy Vàng phải đối xử đàng hoàng với ông Cổ trước khi ông Cổ về sóc, ví dụ như phải cho thêm áo quần, chở đi khám bệnh và mua thuốc cho ông. Bảy Vàng cười rè, nói với tôi: "Mầy đúng là thằng con nít, ông Hai ổng ăn ở với tao năm sáu chục năm, bộ tao không biết đối xử với ô khiến tới mầy!". Tôi làm thinh không nói gì, nhưng thừa rõ bụng dạ Bảy Vàng.

Hắn biết ông Cổ gần chết rồi, cho về còn hơn giữ lại nuôi tốn cơm gạo của hắn. Phần tôi, tôi cũng nghĩ ông Cổ chắc không còn sống được bao lâu, tôi muốn ông thực hiện được cái ao ước trở về sóc trước khi nhắm mắt (vì ông nói với tôi rất đỗi tha thiết) nên tôi không do dự gì nữa. Sở dĩ tôi chịu ở lại chăn bò cho Bảy Vàng là vì nghĩ thương ông Cổ. Tôi coi như là mình thí thân mình đi. Đã thí thân mình thì phải lo ông già cho trót. Tôi chờ đợi xem, nếu Bảy Vàng không lo cho ông Cổ đàng hoàng, tức khắc tôi sẽ bãi bỏ lời ưng chịu coi bò cho hắn.

Chẳng biết có phải do tôi nhắc nhở hay không mà độ mười hôm trước ngày ông Cổ đi, Bảy Vàng đối xử với ông rất tử tế. Hắn cho chở ông đi khám bệnh, mua thuốc. Rồi đến sát hôm ông Cổ về, hắn bày hẳn hoi một cuộc tiễn. Hẳn tỏ vẻ cảm động, gặp ai hắn cũng nói: "Mai này ông Hai ở nhà tôi trở về sóc, tụi tôi làm tiệc đưa ông về đây!". Làm như mình đã có chủ định từ trước và tỏ ra mình ăn ở có hậu, lúc nào trong lời nói hắn đều làm ra vẻ như việc cho ông Cổ về còn có cái ý nghĩa chi rất thiêng liêng nữa. Mụ Bảy Vàng vốn keo kiệt như vậy chớ cũng nghe lời chồng, may cho ông Cổ một bộ bà ba đen mới và đưa cho ông hai trăm đồng bạc.

Tôi lấy làm vui sướng thấy mình đã hết sức cố gắng giúp đỡ ông Cổ kéo dài cuộc sống thêm một năm trước lúc ông về sóc. Ngày nào đi chăn bò, tôi cũng đều tầm kiếm hái lá thuốc dòi, hì hục giã ra, vắt lấy nước cho ông Cổ uống. Lần nào vắt nước thuốc dòi, tôi cũng nhớ tới con Biếc con Thắm, nóng lòng muốn rõ hai đứa hiện có còn ở Phước-kiển hay lưu lạc về đâu. ông Cổ nhờ uống cái thứ nước lá nhơn nhớt này mà bớt ho, người khỏe ra. Tôi mừng lắm, càng hăng hái bẻ về cho ông uống.

Buổi sáng ông Cổ đi về sóc, ông ôm tôi, xuống nước mắt ròng ròng. Sáng ấy nhơn lùa bò cho ăn tôi đưa ông đi một quãng khá xa. Lúc chia tay tôi nơi bìa trảng ông Cổ hẹn có dịp sẽ ra thăm tôi. Ông già vui mừng vì sắp được trở lại nơi buôn sóc, nhưng cũng rất buồn vì xa tôi. Chừng như điều ông áy náy nhất là một năm qua, giữa lúc ông đau bệnh lẻ loi thì tôi ở lại cùng ông, còn nay ông ra đi mà không ở lại được với tôi.

Mấy bữa đầu vắng ông Cổ trong gian nhà kho nửa trống nửa hở, tôi buồn thiệt. Sáng sớm tôi phải dậy nấu cơm ăn lấy. Chiều về, không có ông Cổ, tôi không còn thấy khói lên nơi chuồng trại nữa, và tôi luôn luôn phải gầy đống un bò trong cảnh nhập nhoạng, rồi mới về lo nấu cơm ăn thì bụng đã đói ngấu.

Nhưng rồi tôi cũng quen dần đi. Từ khi không có ông Cổ đêm nào tôi cũng ra xóm chơi với bà con tới khuya mới về. Tôi được bà con nói cho biết thêm về Bảy Vàng, nói hắn gian xảo khôn lường. Bà con lo lắng vì sắp bị quây lại trong ấp chiến lược, mà kẻ sửa soạn chở giây thép gai về rào ấp chính là Bảy Vàng. Ít hôm sau, tôi thấy bà con nói đúng. Bảy Vàng suốt ngày bận rộn đôn đốc chở vô số những cuộn dây thép gai từ đâu về, chất đống đầy sân. Công việc của Bảy Vàng làm tới đâu, những sĩ quan lính tráng tề ấp nào lui tới nhà Bảy Vàng tôi đều báo tin cho bà con biết. Điều đó làm cho Bảy Vàng đoán ra và không được vừa ý, hắn không muốn tôi lui tới với bà con ngoài xóm nữa.
                          
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 06:13:19 am »

                                         Tiếp :


Một đêm, tôi sắp đi ra xóm chơi, thì Bảy Vàng gọi tôi lại nghiêm giọng nói:

- Từ rầy, tối tối mày nên đi ngủ sớm chớ đừng ra ngoài xóm nữa!

Thấy hắn bắt đầu làm khó, tôi nói:

- Tôi đi chơi một chút rồi về, có sao?

- Mày không nên ra ngoài, ở ngoài lộn xộn lắm!

Ngược với lời hắn nói, tôi nhận thấy bà con ở ngoài xóm không có lộn xộn gì hết, có tụi hắn lộn xộn rục rịch xây ấp chiến lược rào rấp bà con thì có. Tôi đáp lại:

- Tôi ra ngoài chơi đâu thấy lộn xộn gì. Tôi đi chơi chớ ăn nhập gì, miễn là tôi cho bò ông ăn no đủ thì thôi chớ!

Tôi đã tức mình, nên gọi hắn bằng "ông" chớ không gọi cậu Bảy. Có lẽ cái tiếng "ông" nó chỏi vô lỗ tai Bảy Vàng, nên hắn quát:

- Nhưng mà tao cấm không cho mày ra xóm, nghe chưa?

- Sao ông cấm tôi được, tôi cứ đi!

Tôi mới dứt câu, Bảy Vàng đã nhảy tới cung tay thoi vô mặt tôi. Không chậm trễ, tôi gạt mạnh, hất Bảy Vàng té ngồi xuống đất. Hắn trở dậy, chụp thanh cây gài cửa dựng nơi vách. Tôi thấy hắn làm dữ, liền chạy vô góc nhà xách cây búa bổ củi vung lên:

- Đánh tao hả, đánh tao là tao đập đầu mầy cho mầy đi theo anh của mày luôn!

Bảy Vàng không dè tôi làm dữ lại tới mức đó, hắn hoảng sợ vùng chạy nhào ra sân. Vợ hắn tưởng tôi đã chém hắn, ở trên nhà lạch bạch chạy xuống bươi bươi tay trong không khí, la bài hải:

- Trời đất ơi, bớ làng xóm ơi, thằng Quyết nó giết chồng tôi!

Nghe mụ la om xòm, tôi xách búa bước sải ra:

- Tao chưa chém đâu, mày la thì thì nhơn tiện tao chém cho chết đủ cặp!

Vợ chồng Bảy Vàng tưởng tôi làm thiệt, cả hai chạy riết lên nhà. Tôi nghĩ mình đã cực khổ làm mọi cho vợ chồng nó đôi ba năm nay mà nó còn ngăn cấm tính giam lỏng mình thì phải trị cho nó bỏ luôn, liền xách búa bươn theo. Tôi cầm búa dơ lên giữa nhà:

- Từ rầy còn bức hiếp tôi là tôi chém. Tôi ở đây coi bò chớ đâu phải ở tù mà cấm cản không cho tôi đi lại?

Bảy Vàng lúc này đã hơi trấn tĩnh. Hắn xuống nước:

- Quyết ơi, tao chỉ mới nói vậy mà mày làm dữ với tao làm chi. Đó là lo cho mày tao mới nói. Bởi lóng rày ngoài xóm thiếu an ninh, nên tao mới khuyên mày đừng ra đó!

- Thôi đi, kệ tôi ... Từ rày tôi đi, ông mà cản đảng thì coi chừng tôi!

Bảy Vàng cười nhạt:

- Được rồi, mày đi đâu đó thì đi, có chết ráng chịu tao không thèm cản nữa đâu!

Tôi không nói nữa, xách búa bước ra. Từ đó trở đi, đêm đêm tôi lại ra xóm chơi như cũ.

Bà con ở Xà-bang thương tôi, cho tôi ăn uống, cho thuốc hút, và đôi khi còn cho tôi tiền xài nữa. Bà con thương tôi và thấy tôi mồ côi đi ở đợ đã đành, nhưng còn vì tôi thường giúp đỡ bà con nhiều việc. Thấy nhà nào thiếu củi chụm, tôi bắt bò Bảy Vàng đóng vào xe của chủ sở thường bỏ trong lô cao su, một ngày đôi ba lượt đi chở củi cao su về cho bà con. Người của sở có lần gặp, hỏi tôi:

- Sao mày dám lấy xe của sở đi chở củi? Tôi

- Mấy bác cu-ly tối ngày phải lo cạo mủ cho mấy ông nên không rảnh đi kiếm củi chụm, tôi mượn xe chở tạm cho cô bác xài!

Người của sở bỏ đi luôn không dám nói gì, bởi họ biết nếu trành tròn cự nự tôi thì tôi phá. Tôi chỉ cần lùa bò dẫm nát chừng vài trăm cây cao su non là họ còn bị lỗ lã hơn nhiều. Bọn chủ sở không dám động tới tôi vì họ kiêng Bảy Vàng. Tại sao họ lại kiêng Bảy Vàng, điều đó dần dần tôi mới vỡ lẽ, là vì Bảy Vàng thân thế với chánh quyền đâu trên tỉnh trên quận và có vây cánh với bọn sĩ quan từ biệt động quân cho tới biệt kích. ở trong xóm, cô bác cũng có nhà có nuôi bò, nhưng yếu thế không giành được cỏ với bò của tụi chủ sở. Tôi đứng ra sắp đặt cho cô bác có chỗ cỏ tốt, đố có đứa nào dám trành tròn hoạnh họe. Tụi chủ sở chủ bò ở Xà-bang đã từng kiếm cách đánh đuổi tôi ra khỏi các bãi cỏ tốt (Chúng gọi tôi là thằng chân sếu, thằng mắt xếch) bằng cách kiếm về những đứa chăn bò du côn anh chị bự để trừng trị tôi.

Nhưng tất cả những đứa đó đều bị tôi đánh chạy hết.

Có lần tôi bắt một thằng đem treo lên cành cây cao su, đến nỗi chủ sở phải năn nỉ tôi mới tha. Hồi năm ngoái, tụi chủ sở lại tìm một cách khác để trị tôi. Chúng liên kết tất cả những đứa chăn bò ở các sở lại với nhau định đánh tôi một trận. Biết được chuyện ấy, thay vì báo với Bảy Vàng, tôi đi gom hết tụi trẻ chăn bò con cái của bà con nghèo ở Xà-bang, lập thành hơn một tiểu đội, sẵn sàng nghinh chiến. Tụi con nít rách rưới trên thị trấn xuống đây bán cà rem cũng theo về phía chúng tôi. Mấy đứa nó tự nguyện bỏ hẳn tiền lời bán cà rem trong một ngày để mua giây thun, sắm cho mỗi đứa một cái nạng giàng thun. Chúng tôi tính trước khi xáp trận, chúng tôi sẽ phát mỗi đứa một cái nạng giàng thun mà bắn từ xa và bắn rượt khi kẻ địch bỏ chạy.

Sáng ngày xảy ra cuộc đụng độ, tôi lùa bò ra bãi rất sớm. Tụi nhỏ bán cà rem trên chợ vừa đạp xe xuống tới, tôi liền bảo giao hết những bình cà rem để tôi đưa vô xóm nhờ cô bác bán dùm. Tôi nói tụi nó khỏi lo, tàn trận tôi đi thâu tiền cà rem về giao lại không thiếu một cắc. Tôi phân những đứa bán cà rem này làm đội hậu bi, bí mật núp ở bìa rừng, cầm sẵn mỗi đứa một cây roi sầm. Chừng nào đánh nhau ác liệt mà nghe tôi hú lên, thì tụi nó cứ vác roi nhào ra.

Tôi nói đánh kiểu đó thì kẻ địch đuối liền, vì ngay khi ấy chúng cũng đã gần hụt hơi, bị đánh bồi thế nào cũng th

Trận giao chiến cánh chúng tôi với dám du côn do bọn con cái chủ sở cầm đầu đã diễn ra ác liệt, nhưng kết thúc nhanh chóng. Cánh tôi đã đánh tan bọn nó trên trảng rồi còn rượt theo ra tới lộ đá. Tôi bắt được hai đứa con chủ sở với một đứa chăn bò. Tôi thả thằng chăn bò nhưng bắt hai thằng con chủ sở, đòi chủ sở phải nộp năm trăm đồng mới thả con nó về. Chúng tôi mua gà vịt ăn mừng thắng trận bằng số tiền đó. Gà vịt đều đem bọc đất sét rồi đốt rơm nướng chín mà ăn với muối ớt.

Trận này, bọn chủ sở thất bại cay đắng, cô bác Xà-bang hết sức khoái trá, còn tôi thì bỗng trở thành như một ông tướng. Mãi tới nay, bà con vẫn nhắc tới trận đó như là nhắc tới một chiến thắng của vụ tranh chấp cỏ bò lớn nhất ở Xà-bang. Sau vụ này, tôi càng được bà con thương mến. Tôi vô xóm như vô nhà mình, tới đâu cũng có cơm ăn. Cái tên Quyết giò là do bà con đặt cho tôi từ dạo ấy.

Nhưng cũng có bà con bảo rằng tôi còn nhỏ mà hung hãn và liều mạng. Quả thiệt tôi có liều mạng, chớ hung hãn thì không phải với bất cứ ai. Trong vòng mấy năm nay, tôi thường nghiệm thấy đối với những kẻ như Biện Tư, như thằng Hoành, như Bảy Vàng hay tụi chủ sở, hễ mình càng nhịn thì càng bị chúng lấn tới. Hơn nữa, sao trong đầu tôi, cứ lởn vởn nghĩ rằng hình như đám người loại đó xa gần đều có dính dáng tới cái chết của ba má tôi, cái chết của ba má em Biếc. ít nhiều gì hạng người này cũng đã làm cho đời chúng tôi lăn lóc, khổ cực. Tôi cứ ngó thấy lại cái cảnh tụi thằng Hoành lấy dao đâm xỉa lên lưng chú Chín Khẩn, chị Tư Đạm, anh Sáu.

Tôi không thể quên thằng Hoành đá đạp, lấy lưỡi hái quấu vô mặt tôi. Còn ông Cổ, ông già Châu-ro, sù sụ ho mãi suốt trong những đêm thâu ấy nữa. Để cho ông được trở về buôn sóc, tôi đã đánh đổi, đã tự giam đời mình lại đây. Nhưng đã vậy rồi thì thử hỏi tôi còn phải nhịn nhục tới bước nào nữa. Không, tôi không nhịn nhục nữa, mặc dù do đó mà tôi có thể chết.

Gần đây, tôi đã lớn lên. Trái tim tôi phân rõ làm đôi, nửa bên ghét nửa bên thương. Con mắt tôi ngó nhìn cũng vậy. Ví dụ ở tại Xà-bang này, ranh giới đó vạch ra từ nhà trại Bảy Vàng đổ lên các ngôi biệt thự của chủ sở, đồn bót, tách bạch hẳn khỏi xóm nhà lợp tôn, nhà vách đất của cô bác làm ruộng và cạo mủ ở xóm trên, tức là xóm từ nhà Bảy Vàng đổ lên, đi tới đâu tôi cũng phát ghét. Còn ở xóm dưới, tức là xóm nhà của cô bác, đi tới đâu tôi cũng thấy dễ chịu.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 06:16:17 am »

                                     Tiếp :


Mới vác búa rượt vợ chồng Bảy Vàng đó, lát sau vô xóm, lũ con nít trong xóm cười giỡn vui vẻ vây quanh tôi. Hễ tôi đi tới đâu cả đám trẻ lau nhau í ới kéo theo. Ban ngày, tôi thường cho tụi nó cỡi bò, bẻ sim chín cho ăn, cõng đi tắm. Ra giêng tới mùa gặt, đêm nào tôi cũng ở trong xóm rất khuya, phụ giúp nhà nầy nhà nọ đập lúa có đêm tới gà gáy hiệp nhứt mới về nhà Bảy Vàng ngủ.

Ông Cổ đi rồi cái gian xép nhà kho thiệt vắng quạnh. Hầu như tôi chỉ ở đó ban đêm. Từ bữa Bảy Vàng bị tôi xách búa rượt chạy, hắn hết dám ngăn cản tôi. Tôi tự do đi, tới khuya vừa thả rễu về vừa hát nghêu ngao.

Nhưng hắn rất tức tôi. Thấy tôi càng gắn bó với cô bác ở Xà-bang bao nhiêu, Bảy Vàng càng thêm khó chịu. Theo hắn thì sở dĩ gần đây tánh nết tôi trở nên khó bảo và dám hành hung hắn chính là vì tôi thường la cà vô xóm. Có lần tôi nghe vợ chồng Bảy Vàng nói lén về tôi. Mụ vợ bảo:

- Cái thằng quỷ nhỏ đó lóng rày thiệt hết sức, cứ như chuồn chuồn đớp nước. Hễ ngó thấy mình là mặt nó cứ nghinh nghinh ...

Bảy Vàng nói:

- Thì tụi trong xóm xúi giục nó chớ ai? Mẹ, nhiều khi tôi muốn đuổi nó đi cho rảnh!

- Đuổi nó rồi lấy ai coi bò?

Bao giờ vợ Bảy Vàng cũng nghĩ tới bầy bò của mụ. Tôi thì nghĩ có đuổi, tôi cũng không cần. Biết mấy phen tôi đã tính bỏ trốn chớ có muốn ở đây đâu. Song tôi cũng biết Bảy Vàng bực mình hăm đuổi tôi, chớ thiệt ra hắn phải nhận là không có ai coi bò của hắn tốt bằng tôi. Tuy lắm lúc tôi làm hắn khó chịu, nhưng từ ngày có tôi bò hắn lúc nào cũng no, con nào cũng mập.

Tôi còn biết hắn thường rình ngó bò, đếm bò qua một khe cổng hở. Làm gì mà hắn không thấy trên bảy mươi con bò mập mạp sáng đi chiều về, con nào con nấy bỏ bước đều trân, móng chân sau luôn độp ngay dấu móng chân trước. Ba năm nay, Bảy Vàng không còn vớ bở được bò ăn cướp ở các sóc Châu-ro nữa, vì các buôn sóc đánh lại quân ngụy rất dữ làm cho chúng ít khi dám léo hánh tới. Với vốn bò cũ, Bảy Vàng không bán, để nuôi cho bò sanh sản. Cái gốc vốn ấy là của ăn cướp.

Nhưng sự làm ăn bất lương của Bảy Vàng bây giờ không phải chỉ ở các khoản bò. Có một công cuộc làm ăn khác, chường mặt độc ác hơn, mau giàu hơn. ấy là công việc hắn lãnh thầu chở giây thép gai để rào xóm làng thành ấp chiến lược. Ngày ngày hắn tới lui bận bịu từ xã lên quận. Những giây thép gai úc- đại-lợi do hắn đốc thúc chở về chất đống ở nhà công sở hội đồng hương chính xã ngày càng cao như núi.          ( Hết chương 11 )_
--------------------------------
1   Người Ấn Độ.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 06:19:58 am »

                         
CHƯƠNG MƯỜI HAI

Ở Xà-bang, có một bà má coi tôi như con ruột. Đó là má Năm, mà bà con gọi là má Năm Xuồng Chài. Vì nhà má chỉ có hai công ruộng cấy nên má sanh sống chính bằng nghề chài cá. Ngày ngày má bơi xuồng cho anh con trai độc nhất của má là anh Vững liệng chài dọc song Xà-bang. Anh Vững năm nay đã trên ba mươi mà không biết sao vẫn chưa vợ con gì. Anh có sức khỏe, vai u thịt bắp và là một trong những người sống nhờ sông nước chớ không bị buộc mình vô cây cao-su. Với sức vóc của anh Vững, nếu làm cu-li cạo mủ thì anh cung đủ nuôi mình và mẹ, nhưng anh không làm. Anh sợ tờ giấy giao kèo có dấu lăn tay còn hơn sợ chết. Má Năm cũng nói cùng làng xóm: "Thuở giờ tôi thấy ai mà buộc mình vô gốc cao-su thì khó bứt ra lắm. Thôi, hai mẹ con tôi sống nhờ nước, hễ còn nước là mẹ con tôi còn kiếm được con tôm con cá đắp đổi qua ngày!".

Thường vào lúc chạng vạng, má Năm một mình bơi xuồng dọc theo sông thả mồi đất trộn cám. Má đổi lái xuồng làm mũi, tay bỏ dầm bơi tay liệng mồi tom tõm. Những cục đất bằng nắm tay trộn cán rang thơm phức đó rất lâu tan, nó sẽ nằm gần trọn đêm dưới đáy song, mời gọi cá tới. Cá úc, cá chày tới nhanh, tôm càng tới chậm. Nhưng chậm gì thì tới lúc hừng đông, chúng cũng đều có mặt, tranh nhau gặm rỉa cục mồi cám đã bắt đầu rã ra. Bấy giờ cũng là lúc miệng chài của anh Vững sắp vãi xuống tóm lấy chúng. Anh Vững liệng chài giỏi quá, anh toàn liệng kiểu. Đứng trước mũi xuồng, anh cầm cái chài vo gọn như cái áo, rồi rún nhẹ chân, anh vụt chài tỏa ra, chụp xuống mặt nước thiệt căng tròn. Mỗi lần anh liệng chài, chiếc xuồng chỉ hơi nhún nhảy một chút chớ không nghiêng lắc. Anh Vững mà chài giỏi bao nhiêu thì má Năm cũng bơi xuồng khéo bấy nhiêu. Bà má người gầy đen sắt lại như cây gỗ ấy đã bơi xuồng chài cho con trên mười lăm năm nay. Tôi thấy bà con gọi má là bà Năm Xuồng Chài kể cũng không ngoa.

Nhiều hôm tôi đi cặp bờ sông coi mải mê. Tất cả những chỗ nào má Năm đã bỏ mồi từ chiều ngày hôm trước, thì sáng hôm sau má đều nhớ đủ. Má bơi xuồng tới những chỗ đó theo thứ tự bỏ mồi trước sau không hề nhầm lẫn. Má bơi rà, bơi chận, bơi móc, bơi nậy đủ kiều, mái dầm nào bơi đủ dầm đó, không dư. Có má bơi, anh Vững yên tâm chài hết chài này tới chài khác. Khi anh bắt đầu kéo chài lên, bà mẹ trở dầm bơi ngược nước giữ cho xuồng đứng sững. Lúc anh Vững lo bắt tôm cá, thì mũi xuồng đã re re rẽ nước tới một chỗ mới.

Xuồng má Năm đi chài từ hừng đông tới chín mười giờ là về. Giác đó bà con xách rổ tới đón xuồng má mua cá. Tôi cũng thường ở ngoài trảng lỏn về giác đó, tiếp phơi chài cho anh Vững, nấn ná ở chơi tới trưa mới đi.

Bữa nay tôi gởi bò cho mấy đứa nhỏ coi dùm, vô tới nhà má Năm cũng vừa lúc xuồng về. Tôi chạy xuống bến, tiếp kéo rấn mũi xuồng lên cái ồ, rồi ôm xốc cái chài anh Vững đã giặt đem lên sân phơi. Lúc căng chài ra, thấy chài đã dợt màu, tôi nói với má Năm:

- Cái chài coi bộ bớt mun, để chút nữa con vô rừng lột một ôm vỏ sắn vỗ vừng về ngâm nhuộm!

Má Năm nói:

- Ờ lột về cho anh Vững mày ngâm, mai mốt sắn chài.

Má Năm ngồi bệt dưới đất, vừa ngoáy trầu vừa dặn:

- Con có đi lột vỏ thì đi sớm, lát nữa về kịp ăn bánh canh. Bữa nay tao bán cá thôi, còn tôm càng tao để lại nấu bánh canh cho tụi bây ăn!

Tôi nghe nói tới bánh canh thì thích quá, cười bảo:

- Má nấu nhiều nhiều ăn mới đã thèm!

Má Năm trực ngó tôi, không nhịn được cười khiến miệng má móm sọm:

- Tổ cha mày, mày nhắm bụng mày chứa nổi bao nhiêu ... ờ được, để tao nấu đầy một trã 1 bự coi ăn có hết hay không?

Tôi cười khì khì:

- Má cứ nấu đầy nồi đi, con bảo đảm!

Láng cháng chơi một lát, tôi đi ra trảng. Trên đường ra bãi thả bò, nhơn có vụ bánh canh, tôi nhớ lại những ngày đã xa ở Phước-lai. Lâu rồi, từ ngày má tôi chết tôi có được ăn bánh canh nữa đâu. Cái món đó phải nói má tôi nấu ngon. Tuy nghèo chớ lần nào má tôi cũng nấu cho chị em tôi ăn no. Hồi đó nhà tôi làm bánh canh chỉ tốn gạo, tôm thì đã có ba tôi câu, khỏi mua. Má tôi mất rồi, tôi thường hay tủi thân. Nhưng gần đây tôi được cô bác Xà-bang làm cho bớt buồn tủi rất nhiều.

Tôi ở trong nhà Bảy Vàng, nhưng coi như không có Bảy Vàng, hễ rảnh lúc nào là tôi tọt vô xóm. Ở trong xóm tôi không hề thấy hiu quạnh như ở gian nhà kho của Bảy Vàng. Hơn nữa, ở đó tôi gặp lại những cái tôi đã mất, tuy không hoàn toàn giống nhưng cũng rất đỗi ấm áp. Đó là tình mẹ, như má Năm đối với tôi. Về hình dạng, nhứt định là má Năm không giống má tôi, nhưng tình nghĩa cũng tràn đầy. May áo cho tôi, má Năm cũng đã may. Thấy tôi thèm thứ gì, má cũng cho ăn.

Tới bìa rừng, tôi luồn vô quơ rựa hạ liền mấy cây sắn và vừng mà tôi đã để ý từ trước. Tôi ngồi cỡi lên thân cây, dùng sống rựa dần vỏ rồi lột riết. Lát sau tôi đã lột được một đống đầy vỏ vừng và sắn. Tôi bứt giây bó thành một bó lớn vác về. Dọc dường về nhà má Năm, bỗng tôi gặp một đám con nít báo cho tôi hay đứa coi bò dùm tôi ngủ quên, nên đàn bò của tôi đã càn lên đám vườn cao-su non của sở Nam-Trung. Tôi nghe tin, liền tạm bỏ bó vỏ xuống, chạy đi. Tôi chạy chưa tới vườn cao su của sở Nam-Trung, thì thấy đàn bò của tôi đã túa về. Trên sừng của mấy mươi con bò, thấy máng phơ phất những vật gì trăng trắng. Tôi lấy làm lạ, tới coi thử là vật gì. Thì ra đó là những tờ giấy, có ghi chữ trong đó Tôi ngạc nhiên cầm tờ giấy xây qua xây lại, nhưng tôi chớ biết nó nói chi, vì tôi có biết đọc đâu. Tôi nghĩ bụng: " Tụi này bữa nay chơi cái kiểu gì lạ quá, bộ đánh lộn với mình không lại, bây giờ tính đem chữ nghĩa ra xài xể mình chắc?".

Sau khi lùa bầy bò về nơi bãi cũ, tôi cầm xấp giấy lận lưng, trở ra đường vác bó vỏ sắn đi về xóm. Tới nhà má Năm, tôi liệng bó vỏ xuống sân, chạy vô kiếm anh Vững đưa xấp giấy:

- Đâu anh Vững đọc thử coi nó nói gì trong đó. Hễ xài xể thì tôi không nhịn đa!

Đang ngồi chụm lửa nồi bánh, anh Vững phủi tay cầm xấp giấy, cấm cúi đọc qua một tờ. Đọc xong, anh bật cười ha hả. Tôi sốt ruột hỏi:

- Nó nói cái gì hả anh?

Anh Vững vẫn cứ cười bò ra, làm má Năm đang ngồi lột vỏ tôm cũng phải sốt ruột:

- Thì nó nói sao, nói nghe thử, cái thằng ...

Anh Vững đọ mấy tờ nữa rồi mới bảo:

- Tụi nó năn nỉ thằng Quyết đừng cho bò lên phá cao-su non của nó chớ có gì đâu mà nó lại kêu thằng Quyết bằng ông Cả mới tức cười. Đây nè ...

Anh Vững bắt đầu chậm rãi đọc: "Kính gởi ông Cả Quyết. Chúng tôi có lời tha thiết yêu cầu ông đừng cho bò lên phá cây của sở chúng tôi. Cây chúng tôi là cây cao-su non mới trồng, nếu bò của ông lên vài lần nữa thì thiệt hại cho chúng tôi nhiều lắm. Sở Nam Trung".

Đọc xong, anh Vững dơ mấy tờ kia lên nói:

- Mấy tờ này cũng viết y hệt như vậy. Chắc tụi nó sợ viết một tờ móc vô sừng bò rủi rớt mất.

Tôi nói:

- Nó nói kiểu xeo nậy, em biết mà!

- Không, nó xuống nước năn nỉ em đó chớ. Em không thấy nó kêu em bằng ông Cả à?

- Kêu ông Cả ông chủ gì mà nghe nói xốc óc quá. Em có cho bò đi phá hồi nào đâu mà yêu cầu. Chẳng qua thằng nhỏ coi bò nó ngủ quên ...

Má Năm lột vỏ tôm xong, buông xuôi hai tay nơi gối, rầy tôi:

- Con ơi ... tụi nó đã xuống nước như vậy mà con còn làm hùng làm hổ mà chi. Quyết à, má hỏi con bao lớn mà con bắt người ta kêu bằng ông Cả. Ở đời, mình đừng có ác với ai, nghe không con? Thôi đi, lại hốt dọn mớ vỏ tôm rồi tiếp nạo dừa cho má!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 06:21:58 am »

                              Tiếp theo :  
Tôi nghe lời má đi hốt vỏ tôm rồi lấy bàn nạo ra ngồi xổm, nạo dừa rồn rột. Nạo được nửa miếng dừa, tôi mới nói:

- Má nè, hổi giờ con đâu có làm gì ác với ai, họ làm ác với con thì có. Tại con ghét mấy cái thằng cứ bắt mình phải kêu nó bằng ông chủ. Từ hồi nhỏ tới lớn con thấy họ lấn lướt mình không. Ở Phước-lai cũng vậy, ba má con động mở miệng ra một cái là phải thưa ông này ông nọ. Tại vậy đó nên bây giờ con bắt mấy thằng chủ sở phải kêu cơn bằng ông Cả chơi. Ông Cả còn trên ông chủ một nấc, phải không má?

Má Năm nghe tôi hỏi thì bật cười xòa, rồi chép miệng:

- Tao rầu mày quá Quyết, còn nhỏ mà gây gổ với họ hoài. Ừ phải, ông cả thì lớn hơn ông chủ một nấc, đó là theo hội tề hương chức hồi nẳm. Còn đời bây giờ mà bộ mày còn muốn làm hội tề nữa sao?

- Con không biết, miễn là tụi nó phải kêu ngược lại mình bằng ông thì con khoái rồi.

Má Năm đến bên. xỉa ngón tay vô giữa trán tôi, cười mắng:

- Tổ cha mày ... Thôi, nạo dừa riết đi, đặng tao vắt nước cốt đổ vô nồi, trưa trờ rồi!

Nồi bánh canh sau khi đổ thêm một tô nước cốt dừa, được má Năm nhắc ra đặt giữa nhà. Ba mẹ con xúm xít ngồi quanh nồi bánh canh bốc mùi thơm béo ngậy.

Má Năm múc đưa cho tôi tô đầy, có rất nhiều tôm, đến nỗi gạch tôm nổi đỏ một lớp dầy trên mặt. Rồi chính tay má rắc tiêu, chan nước mắm cho. Bánh canh nóng, tôi vừa thổi phù phù vừa ăn. Tôi ăn vừa hết tô bánh thì má Năm đã đón lấy múc thêm. Nhưng tới tô thứ hai tôi nuốt như mắc nghẹn, nghĩ xa nghĩ gần, nhớ tới má tôi, tưởng như mới hôm qua hôm kia má tôi còn nấu cho tôi ăn và ba tôi với chị Hòa ngồi bên lua húp sì sụp. Tôi đặt cái tô xuống mâm, ngồi ngẩn ra, khóe mắt rưng rưng. Má Năm lấy làm lạ, đưa mắt ngó tôi. Tôi biết sở dĩ hôm nay có nồi bánh canh chính là vì tôi.

Cách đây hai hôm, tôi có nói ước chi có bánh canh ăn. Tôi kể với má Năm rằng hồi má tôi còn sống, lâu lâu má tôi làm một bữa bánh canh thiệt là ngon. Chẳng qua vì hôm đó phụ bắt tôm cá dưới xuồng, những con tôm càng xanh chài được búng banh bách nơi khoang đã gợi tôi thốt ra lời ao ước đó. Không ngờ má Năm thì sốt sắng, hối anh Vững xay bột, gấp rút làm ra bữa bánh. Bánh canh thiệt là ngon, nhưng ăn một miếng tôi lại nghẹn ngào nhớ má tôi, nghĩ tình má Năm đối với tôi bây giờ nên không dằn lòng được. Tôi lẳng lặng bưng tô bánh ra ngoài thềm nhà, ngồi ăn một mình. Má Năm lên tiếng:

- Thằng Quyết đương ăn mà sao ra ngồi ngoài thềm vậy, vô đây ăn chớ con!

Cái câu nói của má Năm là câu nói ngọt ngào, ấy vậy mà lại khiến tôi khóc lớn thành tiếng. Chưa bao giờ tôi khóc trước kẻ mà tôi căm ghét, như trước Biện Tư hoặc Bảy Vàng. Nhưng trước những người như má Năm, anh Vững tôi khóc không kìm giữ, khóc xả r

Chiều hôm ấy, sau khi lùa bò từ ngoài bãi về, tôi bỏ cơm. Tôi cũng chẳng buồn nổi khói un cho bò nữa. Đóng cửa chuồng bò xong, tôi uể oải đi về gian nhà kho, nằm lăn ra trên phản. Trời tối mịt rồi mà tôi cũng không thắp đèn. Cứ vậy tôi nằm im trong bóng tối. Lâu lâu tôi lại có một bữa buồn như thế. Có việc gì nhỏ gợi lại là những kỷ niệm, những hồi ức đau thương liền trỗi dậy. Tôi mở mắt trố nhìn, trong bóng tối. Lại thấy ba tôi nằm nơi sân, bụng bị mổ, ruột lòi ra. Lại thấy dáng má tôi ngồi im lìm bên vách bếp. Lại ngó thấy những trái bần dĩa chị em tôi ra sông Phước-lai hái về chiều hôm đó, nhưng má tôi thì lại không được ăn. Khốn khổ cho tôi, lần nào trong hồi tưởng, những trái bần ấy cũng làm gan ruột tôi xót xa. Đã bốn năm trôi qua, mà cái đêm tôi đưa ba má tôi ra gò mả vẫn cứ hiển hiện, với ánh đuốc rơm cháy xèo xèo, với những thuổng đất từ long huyệt đỏ rói như máu, với tiếng rền rĩ tru rống của con Phèn. Và hơi bấc của đêm hôm ấy mới lạnh lẽo làm sao, miệng huyệt mới sâu làm sao, hòn đất tự tay tôi liệng đánh bộp lên nắp hòm nghe mới đau đớn làm sao ...

Vào lúc tôi đang nhìn thấy lại cảnh đó chợt có tiếng động ngoài cửa. Tôi giựt mình nghe tiếng dép đi lạch phạch. Đúng là tiếng dép của vợ Bảy Vàng. Nhưng tôi vẫn nằm im. Lát sau, khi tôi thấy ánh sáng cây đèn gió rọi hắt vô nhà thì mụ đã lên tiếng:

- Thằng Quyết bộ ngủ rồi hả?

- Tôi chưa ngủ.

Mụ Bảy Vàng dơ cao cây đèn gió có tháp kính lên, ngó tôi suốt từ đầu tới chân. Rồi mụ bước tới, đặt cây đèn xuống góc phản, hỏi:

- Sao hồi chiều mày không un muỗi cho bò?

Tôi không trả lời câu hỏi hậm hực của mụ. Tôi vẫn cứ nằm yên, cố tình tỏ vẻ như không màng tới câu hỏi đó. Thiệt ra, nếu lúc khác thì tôi cũng ráng trả lời. Nhưng giữa lúc này, câu hỏi đó chẳng khác gì một cú gậy phang bồi, giữa lúc tôi đang một mình lặng thầm nghe thấy trong đêm tối những bóng người, những tiếng nấc, những giọt máu thì mụ Bảy Vàng xuất hiện cùng câu hỏi của mụ như lạnh lùng bảo với tôi rằng dẫu tình cảnh tôi có bi thảm tới đâu chăng nữa thì mụ cũng không cần thiết, cái mà mụ cần biết là tại sao chiều nay tôi lại không đốt đống un bò, tại sao chiều nay tôi lại không tiếp tục làm nô lệ cho mụ. Trong đôi con mắt long lanh nhờn váng những thèm khát của mụ đàn bà chủ trại trắng mập này như còn nói: "Ê, cái thằng mắt xếch kia, bộ mày không biết nếu thiếu khói, bày bò tao bị muỗi cắn là nó�t đi bao nhiêu ký lô thịt hay sao?".

Dưới ánh đèn, mụ Bảy Vàng vảnh tay chống nạnh nơi hông, móng tay dài vút, bôi trát thứ son chi coi tợ màu huyết bầm. Chiếc áo ni-lông mụ đang mặc nó mỏng tang, rằn rện in hình các con thú dị kỳ. Chiếc áo ấy hở nách hở ngực và thít sát lấy cái hông đột nhiên eo thắt lại tưởng như có thứ dây nhợ gì bó chặt lấy cái nây mỡ.

Tôi ngồi nhổm dậy đưa mắt liếc nhìn hình tướng mụ Bảy Vàng. Bỗng dưng tôi thấy con mụ nầy như là có dính dáng tới cái chết của ba má tôi, có liên can tới sự đầy đọa khổ cực của đời tôi, của em Biếc em Thắm, của ông Cổ và của nhiều người khác. Bỗng dưng, dưới ánh đèn, tôi thấy con mụ Bảy Vàng không phải chỉ là con mụ ấy mà còn thay mặt hết, thay mặt cho thằng chồng, cho Biện Tư, cho tụi lính ác ôn.

Mụ nghiến hàm răng khít rịt kể tội tôi:

- Mầy còn có cái tội nầy lớn lắm nghe. Tối nay mầy có biết chồng tao đi đâu không? Suốt mấy bữa nay, ngày nào tự sáng tới tối ổng phải vất vả đi làm công vụ, lo xây dựng ấp. Rồi bây giờ còn phải lên trên sở Nam Trung năn nỉ người ta. Họ đòi bồi thường vì mầy đã để bò lên phá mất mấy lô cao su non của họ. Đó, mầy thấy tội của mầy chưa? Coi bò không chịu lo coi, cứ lo thả rễu đi chơi, để bò phá cây cho người ta bắt đền. Mà ai đền? Tụi tao chớ ai vô đó? Một cây cao su phải trả năm chục, mà họ nói bò nhổ phá tới chín mươi hai cây, tính ra phải đền gần năm ngàn đồng bạc!

Tôi nói:

- Để còn coi cây cao su của họ có bị phá tới chừng đó hay không, nếu có mà họ đòi đền thì tôi đền?

Mụ Bảy Vàng trố mắt, ré lên với giọng khinh bỉ:

- Á ... á, mầy nói mầy đền à? Mầy đào tiền đâu ra mà đền?

- Tôi không đào ở đâu, mà tôi đòi bà, bà phải trả tiền cho tôi!

Tôi bước xuống đất. Mụ Bảy Vàng không biết tôi tính làm gì, đâm hoảng. Nhưng tôi chỉ bước xuống và nói:

- Bà còn thiếu tiền tôi. Ba năm nay tôi coi bò, vợ chồng bà chưa trả tôi một đồng xu cắc bạc nào. Bây giờ rủi bò phá hư cây của sở, bà đưa tôi tiền đó đề tôi đền cho người ta. Cho là có đền tới năm ngàn đồng, cũng chưa hết số tiền vợ chồng bà phải tính để trả cho tôi!
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 06:27:41 am »

                                     Tiếp theo                                       

- Cha chả, thằng nầy bữa nay ăn nói nghe ngon lành dữ ha? Ê, ba năm nay, ai nuôi cơm, ai may quần áo cho mầy, hả? Mà mầy về đây coi bò là để trừ nợ cho cô mầy, chớ tụi tao chừng nào mới thiếu nợ mày? Nè mầy đừng có giỡn mặt với tao nghe!

- Tôi nói thiệt chớ không nói giỡn. Bà nói tôi về đây coi bò là để trừ nợ cho cô tôi hả? Cô tôi thiếu nợ bà hồi nào? Cô tôi có thiếu là thiếu của Biện Tư bốn giạ lúa, tôi ở đó giữ trâu coi như trừ dứt rồi. Nói cho mấy người biết, không phải tôi ở đây giữ bò không công cho mấy người đâu!

Lần đầu tiên bị tôi vặn bẻ, mụ Bảy Vàng bất ngờ tức tối đến sửng sốt. Chắc chẳn là mụ càng nghi có ai bày vẽ cho tôi. Bây giờ mụ tin chắc mười mươi là việc để tôi là cà vô xóm rõ ràng có hại:

- Cha cha, thôi tao biết rồi, chẳc tụi cu-ly cạo mủ với tụi Việt cộng nằm vùng ở Xà-bang nó xúi giục mày rồi. Nghe cái giọng mầy nói là tao biết liền!

- Không có ai xúi giục tôi hết!

- Cái kiểu đốc lói đòi công đòi xá là nghề của tụi Việt cộng, tụi cu-ly, tao đâu có lạ!

Mụ Bảy Vàng vốn keo kiệt, nên chạm tới tiền nong công xá, mụ làm như bị tôi cầm dao đòi lóc mỡ thẻo thịt:

-Thằng kia, tao nói cho mà biết, đi coi bò cho tao có cơm ăn, áo mặc là quý rồi. Mầy không coi bò cho tao thì mầy chết đói. Thử hỏi, một bộ quần áo, đứa khác chỉ cần bốn thước, còn mầy phải tốn bốn thước tư. Một bữa cơm đứa khác ăn cao lắm bốn chén, còn mầy dộng tới bảy tám chén. Nuôi mầy tổn hao quá đi mà mầy phủi bạc. Thứ đồ mồ côi chết cha chết mẹ cầu bơ cầu bất như mầy được vậy là phước rồi, còn làm eo làm sách!

Cái câu chửi của mụ Bảy Vàng, cái câu nguyền rủa tôi là đứa chết cha chết mẹ khác nào như chính giữa lúc tim tôi đang bị vết thương ấy hành cho nhức nhối, thì mụ lại xọc tay vào bươi thêm. Tôi tức giận nhảy tới túm lấy mụ. Tôi chưa đánh gì cả mà mụ đã la:

- Mầy đánh tao hả Quyết, mầy đánh tao hả Quyết?

Con mụ nầy luôn luôn như vậy giờ nó cũng nói thêm. Mình chưa giết chồng nó, nó đã bảo giết chết. Mình chưa đánh, nó đã rùm beng hô mình đánh nó. Tuy vậy, tôi cũng cố nén, chỉ nắm chặt hai tay nó bẻ quặt ra sau.

- Trời đất ơi, bớ làng xóm ơi?

- La hả?

Tôi bẻ quặt tay mụ một cái, mụ đau điếng không dám la nữa, nhưng lại nằm lăn xuống đất như muốn ăn vạ. Tôi ngồi xổm một bên, vẫn nắm chặt hai tay mụ:

- Tại sao mầy dám chửi cha chửi mẹ tao? Tao đánh cho mày chết, để lát nữa chồng mầy về lo đào lỗ chôn mày chơi!

- Trời ơi, thôi tôi xin lỗi cậu, tôi lạy cậu ...

- Lạy tao cũng không tha. Cha mẹ tao chết cũng là do bà con đồng đảng của tụi bây giết. Vậy mà bây giờ còn rủa tao nữa. Tao phải bóp mầy chết!

- Trời ơi, tôi lạy cậu, từ rày tôi không nói vậy nữa. Hổi nẫy tôi lỡ miệng ...

- Hồi đó tới giờ tao bỏ qua cho tụi bây nhiều lắm rồi!

- Tôi hứa từ rày không dám động tới sợi lông chân của cậu. Thiệt tình tôi thề có trời làm chứng, tôi mà còn nói cậu vậy nữa thì tôi chết thảm chết khốc, chết bỏ chồng bỏ con, chết cá ăn quạ rỉa ...

Mặc cho mụ Bảy Vàng viện đủ thứ ra thề thốt, tôi vẫn cấu bàn tay xuống cổ mụ, từ từ bóp siết lại. Mụ ta hồn phi phách tán, vừa thở khò khè vừa co chân chòi đạp tứ tung. Tới chừng đó tôi nới lỏng bàn tay ra. Rồi

bất thần tôi buông mụ, đứng xổng dậy, cười ha hả.

Phải mất một lúc, mụ Bảy Vàng mới vỡ lẽ là tôi chỉ dọa. Hoàn hồn lại, mụ lóp ngóp bò dậy, quơ vội đôi dép Nhựt xỏ vào, lạch phạch chuồn ra khỏi cửa. Tôi vẫn còn đứng cười. Thấy mụ bỏ quên cây đèn, tôi xách đưa với theo:

- Còn bỏ quên cây đèn đây nè!

Tôi đem đèn ra cửa cho mụ, rồi quay vào nằm ngã ngửa trên phản. Nghĩ lại việc xẩy ra vừa rồi, tôi vừa giận vừa ức cười, phần nào lại thấy hả hê vì chưa chi mà mụ Bảy Vàng đã hoảng sợ van lạy tôi lia lịa. Con mụ đó thiệt là ác mà cũng thiệt là hèn. Nằm một lúc, tôi ngủ thiếp đi.

Tới khuya, thình lình tôi bị một ánh đèn dọi sang chóa mắt và nghe có ngườỉ bước vô. Tôi mới dụi mắt, lồm cồm ngồi dậy thì ngó thấy Bảy Vàng. Hắn đã đến sát bên tôi, tay cầm thanh cây gài cửa vuông cạnh dơ lên thẳng cánh giáng xuống. Tôi bị cái cây đánh trúng ngay đầu, ngã bật ra. Bảy Vàng còn đánh tôi thêm một cây nữa, trúng cốp phía dưới cằm. Bấy giờ, tôi chỉ ngó thấy gian nhà đảo lắc và bóng Bảy Vàng cũng đảo lắc theo. Tôi nhận ra máu từ trên đỉnh đầu chảy xối xuống, ướt cả mặt. Tôi tính đưa tay lên vuốt máu, nhưng tay tôi bủn rủn không nhấc lên nổi nữa. Sau cùng tôi có cảm giác người tôi nhẹ hẫng. Tôi ngất đi.

Tôi bị Bảy Vàng đánh nằm ngất không biết bao lâu. Chỉ biết là lúc hơi tỉnh lại, tôi nghe văng vẳng tiếng gà gáy. Đầu tôi đau buốt, ê ẩm. Tôi khe khẽ cựa mình, muốn mở mắt ra mà mở không được, vì máu khô đặc cứng, hầu như dán kín mi mắt tôi lại. Nhớ lại mình bị Bảy Vàng đánh, tôi đưa tay rờ rẫm bóc lớp máu. Khi đã mở được mắt ra rồi, tôi vẫn không nhìn thấy gì. Lúc đó chừng hơn năm giờ sáng. Đêm đã nhợt rồi, mà ban đầu tôi vẫn thấy tối đen. Ngay những chỗ vách trống mọi đêm thường trổ từng khoảng sao trời thì bây giờ đối với tôi cũng đen nốt. Đầu tôi nhức nhối tê buốt đến nỗi tôi chỉ nghe có cái tiếng chi giựt băng băng, giống như tiếng của sợi thép căng bị búng, y như mọi lần tôi nghe thấy lúc lặn quá sâu xuống sông mà chưa kịp trồi lên. Chưa có khi nào người tôi bủn rủn, yếu nhớt, tưởng chừng khó ngồi

dậy được như lần này. Tôi chỉ còn nhớ bộ mặt đằng đằng sát khí của Bảy Vàng, thanh cây bổ vụt xuống. Tinh tỉnh lại một chút rồi mà tôi vẫn sợ Bảy Vàng còn đứng đâu đó, tay thủ cái cây để đánh tôi nữa. Càng về sáng, trời càng mát lạnh, cái khí trời trong lành của buổi sớm sắp đến đó giúp tôi dần dần tỉnh hẳn.

Tôi chòai tay, ráng gượng ngồi dậy. Giờ thì tôi biết Bảy Vàng không còn ở đây nữa. Tôi cũng đã nhận ra được những chỗ vách hở trống, in màu da trời xanh tái, chớ không còn ở trong tình trạng thấy cái gì cũng tối đen như lúc nãy nữa. Ngay khi đó, tôi tính đi kiếm cây búa bổ củi rồi lên nhà Bảy Vàng xông vô đập hắn cho chết rồi muốn ra sao thì ra. Nhưng sức tôi bây giờ không cho phép tôi làm được việc đó. Tôi tụt xuống gầm phản mò đụng cây búa, nhưng lúc cầm cây búa lên lại rất khó khăn. Bảy Vàng đánh tôi bị thương ra máu nhiều quá nên tôi mất sức. Chính lúc cầm cây búa lên không muốn nổi đó, tôi mới hiểu ra Bảy Vàng đánh tôi rất nặng, có thể hắn tính đánh tôi chết luôn cũng nên. Điều này đã làm tôi đổi ý định ngay lúc ấy. Chi bằng còn lại bao nhiêu sức, tôi ráng rời khỏi chốn này trước khi trời sáng. Tôi sẽ đi khỏi chốn nầy để có ngày tôi sẽ trở về tìm gặp lại Bảy Vàng. Trong đầu tôi bừng lên cái ý định mà từ lâu tôi đã nhen nhóm. Trước hết là phải đi khỏi đây.

Tôi ngồi dưới gậm phản một chốc cho khỏe thêm, rồi từ từ đứng dậy, mò mẫm lôi từ góc phản ra một bọc khăn xẹp lép, buộc trước ngực. Trong túm khăn, có một vật thế nào tôi cũng phải đem theo. Đó là cái áo vải xiêm đen má tôi may. Cái áo ấy nay đã chật, tôi không còn mặc được nhưng vẫn nâng niu cất giữ. Lâu rồi tôi tự dặn lòng rằng dẫu tôi có xiêu lạc tới chân trời góc biển nữa, tôi cũng đem tấm áo đó theo sát bên mình. Nếu không may tôi có chết, tôi sẽ ôm tấm áo đó mà chết. Buộc túm khăn có đựng cái áo lên ngực, tôi thấy như được hồi sức, thấy như có má tôi ở kề bên, trợ lực cho tôi đi thoát khỏi nhà Bảy Vàng.

Tôi sờ soạng bước ra khỏi gian nhà kho. Bây giờ tôi ra khỏi đó không chút bịn rịn. Có cái gì đâu để tôi bịn rịn. Gian nhà đó chẳng lưu lại lòng tôi chút tình cảm gì ngoài những kỷ niệm xưa kia giữa tôi với ông Cổ. Cái gian nhà trống hơ trống hoác như chính nó cũng không chịu nổi sự cô độc quạnh quẽ triền miên, bởi vì hầu như lúc nào nó cũng giam hãm có mỗi một người, với bóng của người đó. Trước thì là hình bóng ông già Châu-ro suýt hóa thành thú và gần đây là tôi.

Nhưng tôi đã bước khỏi chỗ đó. Tôi lê bước một cách vất vả, trong bóng tối lờ mờ, mãi cho tới lúc trời hé sáng tôi mới lết được tới ngõ nhà má Năm. Và tôi đứng sựng tại đó, không bước tới được nữa. Mắt tôi bỗng hoa lên, đôi chân tự nhiên khuỵu xuống. (Hết chương 12 )
--------------------------------
1   Một loại nồi bằng đất.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 06:38:16 am »

                               
CHƯƠNG MƯỜI BA

May cho tôi là tôi té xuống tại ngõ nhà má Năm vào giữa lúc má Năm và anh Vững đã thức dậy sửa soạn đi chài. Anh Vững đi xuống bến tát nước xuồng thì đụng phải tôi nằm sấp ngay ngõ, anh mới la lên và bồng tôi dậy. Lần này tôi ngất đi không lâu. Khi ánh đèn trong nhà má Năm dội sáng thì tôi đã tỉnh lại. Nhưng tôi cứ ngỡ là mình còn ở đằng nhà kho Bảy Vàng, nên vừa mở mắt tôi đã choàng mình bỏ chân tính chạy. Anh Vững phải ôm ghì lấy tôi. Tôi la lên:

- Trời ơi, Bảy Vàng, Bảy Vàng kiếm bắt tôi. Thằng chả tính giết tôi!

hiểu ra ngay mọi sự khi thấy mặt mũi tôi dính đầy máu và nghe tôi la hoảng. Anh nói:

- Tao đây mà Quyết, tao đây chớ không phải Bảy Vàng đâu!

- Má à, Bảy Vàng đánh thằng Quyết nặng lắm, đánh tới bể đầu thằng nhỏ. Thôi, bữa nay chắc mình phải hoãn vụ đi chài. Má lo nấu nước, đặng lau rửa máu me cho nó!

Má Năm dơ cây đèn lên. Ngó thấy đầu cổ tôi bê bết máu, má vụt oà khóc tức tưởi. Rồi không nói một lời, má lầm lũi đi vô bếp nhóm lửa nấu nước. Nước sôi, má lấy chậu, pha ra để anh Vững lau rửa vết thương cho tôi, còn má lại lật đật đem muối đi rang. Tôi nằm trên bộ ván cạnh bếp, nghe tiếng muối nhảy nổ, lòng dịu hẳn xuống. Má Năm rang muối xong, bảo anh Vững dìu tôi vô buồng. Má bọc muối vào khăn, ngồi bên giường, lặng lẽ áp bọc muối rang lên chỗ trán, chỗ cằm bị sưng vù của tôi. Má nhỏ nhẹ hỏi tôi:

- Bộ con cự cãi gì nó hay sao mà nó đánh con tới nông nỗi này?

Tôi đáp:

- Con mẹ Bảy Vàng nó làm trời, con cự lại, đè nó xuống hăm bóp cổ nó ...

- Trời đất ơi, hèn chi ...

Má Năm chép miệng, lắc đầu than thở:

- Tao rầu quá, tánh con ngang ngổ vậy mà không sanh chuyện sao được!

Tôi làm thinh. Thiệt ra tôi muốn nói để má Năm biết là không phải tại tôi ngang ngổ mà là tại vợ Bảy Vàng, nhưng tôi nghĩ cũng không phải chỉ tại bấy nhiêu đó mà còn tại nhiều lẽ khác nói ra thì dài dòng quá. Ví dụ như nhà Biện Tư nhà Bảy Vàng không ức hiếp tôi, ví dụ như ba má tôi không bị mổ bụng, ví như tôi không ngó thấy tụi biệt kích đâm hết nhát dao này tới nhát dao khác lên lưng những cô chú cán bộ bị bắt dẫn qua chòi ruộng trong cái đêm nọ thì có khi tôi chưa làm dữ với con mẹ Bảy Vàng. Giá như cô Tám tôi không bị giựt đất, chị em con Biếc không phải cơ cực như con tép lặn tép lội, giá như chị Đạm không chết trong lẫm lúa thì chắc tôi cũng chưa dọa bóp cổ con mẹ Bảy Vàng. Tôi chưa đánh vợ Bảy Vàng, chỉ bẻ quặt tay mụ, xô xuống đất và dọa giết mụ. Tôi dọa mụ Bảy Vàng là tôi dọa hết thảy đám người bấy lâu bức hiếp chúng tôi. Nhưng khi tôi bị Bảy Vàng nửa đêm lén đánh, tôi nghĩ mình còn khờ khạo quá, và cái ý muốn hành hung Bảy Vàng cùng đánọ lại càng riết siết tôi một cách dữ dội. Tôi dằn lòng gác bỏ cái ý định thủ cây búa rình đập Bảy Vàng, bỏ trốn tới đây rồi sẽ đi xa hơn nữa. Bây giờ nằm đây, tôi chỉ lo Bảy Vàng tới kiếm. Bảy Vàng kiếm được tôi thì hỏng hết. Cái nhà trại của Bảy Vàng bây giờ nhất thiết không phải là chỗ tôi nương náu nữa. Bằng mọi cách mọi giá, kể cả cái chết, tôi quyết đi đến một chốn khác. Cái chốn đó thì tôi đã chọn.

Không trả lời thẳng vô câu hỏi của má Năm, tôi nói:

- Con không về ở cho nhà Bảy Vàng nữa. Con sẽ đi vô rừng kiếm bộ đội giải phóng. Mai mốt là con đi!

Má Năm trố mắt sửng sốt nhìn tôi. Chắc má ngạc nhiên vì lâu nay má không hề nghe tôi nói ra điều đó. Chỉ có một lần, tôi có bảo má rằng tôi vừa gặp bộ đội giải phóng kéo qua rừng, quá khỏi chỗ tôi thả bò một chút. Lần đó tôi hồ hởi hết sức, vì đầu tiên tôi được tận mắt ngó thấy cá một đại đội có đầy đủ súng ống. Tôi chỉ ngồi trong bụi đưa mắt nhìn, thèm thuồng, tính chạy ra hỏi nhưng không dám. Sau đó về tôi tiếc đứt ruột, giận mình ngu chớ nếu mạnh dạn xin trốn theo thì không biết chừng anh chỉ huy dám cho tôi theo lắm. Để xẩy mất một cơ hội đáng tiếc, tôi ức quá, nhưng lại hy vọng, rình chờ. Tôi hy vọng rồi thế nào cũng có dịp bắt gặp bộ đội đi qua.

Nghe tôi nói ra cái ý định táo bạo ấy, má Năm ngó nhìn tôi giây lâu, như suy nghĩ gì lung lắm. Nhưng má vẫn không nói sao cả, vẫn chúm tay cầm cái bọc muối tiếp tục lăn nhè nhẹ lên chỗ trán bị sưng của tôi. Hơi muối nóng ran làm cho tôi thấy dễ chịu nhiều lắm. Còn dễ chịu hơn nữa là bàn tay má Năm chốc chốc lại rờ vuốt trán tôi. Cái bàn tay nhăn nheo gày guộc của má nghe như có mùi trầu lá, mùi nước sắn chài và mùi khói bếp. Ôi thiệt là dễ chịu gấp ngàn lần mùi dầu thơm gì mà vợ Bảy Vàng vẫn thường bôi xức, nghe thì thơm nồng thơm nực mà tôi chịu không nổi. Giữa lúc được má Năm săn sóc tôi nhớ tên má tôi quá. Tôi tưởng như còn nghe thấy cả hơi hướng má tôi nữa. Thiệt, mùi vị hơi hướng ở nơi má tôi hoặc má Năm đây sao cũng giống tờ tợ như nhau. Đâu như mùi lá sả lá chanh ở trước ngõ trong vườn, mùi thóc lúa rơm rạ, mùi bùn sông, tất cả những mùi nghe chừng lam lũ mà gần gũi, nghe chừng dầu dãi mà lại âu yếm đến se thắt cả ruột gan.

Tôi nằm im để má Năm chườm muối cho, lòng dâng đầy xúc động. Hết nhớ má tôi, tôi lại nhớ chị em con Biếc, nhất là Biếc. Hồi còn ở Phước-kiển, cái lần tôi bị thằng Hoành khảo tra đánh đập mang thương tích, chính nhờ có bàn tay Biếc tôi mới mau lành bịnh. Biếc đã lặn lộ đi bứt lá thuốc dòi về vò vắt nước cho tôi uống, bắt cua đồng về nướng cho tôi ăn. Tôi nhớ đời chén nước thuốc dòi nhơn nhớt mà Biếc vắt ra bưng tới kề miệng. Tôi nhớ đời những con cua nướng bay mùi thơm dễ chịu mà Biếc cời ra khỏi bếp đem đưa tôi ăn. Trong trí nhớ của tôi, dần dần ửng hiện khuôn mặt Biếc lúc đó, khuôn mặt nhuốm hồng màu lửa, khuôn mặt âu lo nhưng rạng ánh niềm tin ở món thuốc nghèo mọn. Bao giờ khuôn mặt Biếc hiện đến với tôi, trước tiên cũng là đôi mắt. Đôi mắt mở to, đen nhánh, lúc nào cũng có vẻ lo lắng nhưng lúc nào cũng như đang cười, như muốn được nhìn rõ. Vậy rồi khuôn mặt Biếc chậm chậm mờ đi, nhòa xóa. Lạ vô cùng, chẳng có lần nào hơn thế nữa, chẳng có lần nào tôi hình dung ra được mặt Biếc thiệt đủ đầy. Cơ hồ như lần nào cũng lơ lửng, vội vã biến đi. Dẫu có cố mà mường tượng, tôi cũng không trì kéo lại được. Và khi ấy chỉ còn vang xé trong tâm tôi tiếng kêu thương hãi hùng của Biếc nơi bàu rừng vắng quạnh.

Nỗi xúc động và nỗi nhớ bây giờ dâng lên giữa lòng tôi như con nước sông chiều tràn bờ. Bờ sông ấy là lòng tôi ngập nước, vỗ vã bởi nhiều con sóng nhỏ.

Vào giữa lúc bọc muối chườm đã nguội, má Năm cầm đem xuống bếp rang lại cho nóng. Còn có một mình, nước mắt tôi ứa ra. Tôi khóc lặng lẽ, không thành tiếng, chỉ có hai giọt nước mắt trào lăn ra khóe. Rồi tôi vội vàng đưa khuỷu tay lên chùi ngay trước khi má Năm từ dưới bếp đi lên.

Lần này vừa chườm muối cho tôi, má hỏi:

- Con nói tính đi theo bộ đội, mà đi cách đó tao e khó. Bộ đội giải phóng người ta rày đây mai đó như chim trời biết đâu mà tầm, hở con?

- Khó chi mà khó má, vô rừng là gặp mấy ảnh thôi. Con vô rừng gần đây không gặp thì con vô rừng xa, vô tới rừng Hắc-dịch thế nào cũng gặp!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM