Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:23:05 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đứa con của đất  (Đọc 67296 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #30 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 06:41:02 am »

                               Tiếp theo:


- Ờ thì thôi, cho là con kiếm được đi, ngặt con còn nhỏ quá, tao e anh em họ không dám nhận.

- Nhỏ gì mà nhỏ. Hôm trước con dòm thấy ngoài mấy anh lớn cũng có mấy đứa coi còn nhỏ hơn con nữa! Má Năm lại chép miệng:

- Ờ ... thời buổi này con nít nó cũng đi, chớ theo lẽ là phải tới tuổi mười tám mới đúng tuổi quân, con thì mới có mười sáu mười bảy ...

- Mười lăm mười sáu gì mà không được, hễ có gan, hễ có đủ sức cầm súng là bắn té tụi nó được. Ối, mà lo gì, bất quá con cứ khai đại mười tám. Má nhắm tướng con coi nói mười tám mấy in không?

Má Năm cười, cái cằm móm sọm:

- Tin, con lớn tướng dềnh dàng, khai mười tám anh em họ dám tin lắm!

- Đó má thấy chưa, nhất định là ngon ăn mà!

- Chưa ngon ăn đâu ...

- Sao?

- Con bị Bảy Vàng đánh còn thương tích bệnh tật như vầy mà đi đâu!

- Thì chừng nào lành bệnh rồi con đi!

Má Năm ngó tôi nhưng nụ cười vụt tắt. Mắt má bỗng rân rấn, đỏ hoe lên. Má day mặt vô chỗ khác, dừng tay đặt bọc muối xuống, xỉ mũi rèn rẹt. Thấy tôi có ý cương quyết quá, mà cũng cầm lòng không đậu. Hồi sau má tiếp tục đắp muối cho tôi, và nói:

- Con phải ráng cho mau mạnh, rồi tính ... Có muốn đi bộ đội tao không cản, đi với anh em thì cực khổ đó mà nên người. ở đây mần tôi tớ cho người ta con khổ hơn, bị ức hiếp đủ điều. Để rồi tao với anh Vững con tính coi. Bây giờ cứ nằm đây, tao nuôi cho thiệt khỏe đã. Bữa nay nhà có con cá lóc lớn, để tao xuống nấu nồi cháo cá cho mà ăn ...

Má Năm lại xuống bếp, tôi nằm lại phấn khởi nghĩ miên man về cuộc ra đi sắp tới rồi ngủ thiếp. Trong giấc ngủ, tôi chiêm bao thấy mình đang lên đường. Con đường ấy là con đường tôi vẫn lùa bò mọi bữa, nhưng một chốc sau thì dẫn vô rừng. Cái lối rằng đó rợp ánh mặt trời buổi sớm và vang rộn tiếng chim kêu hót. Có đủ thứ chim, nào bù-chao, nào két mỏ đỏ, nào hít cô. Các con chim ấy vừa hót vừa xập xòe bay lượn, hễ tôi cất bước tới đâu là chim theo tới đó. Chưa bao giờ tôi được đi trên một con đường rừng vui vẻ dường ấy. Tôi tươi cười mải miết bước tới, miệng hát loạn xị. Đi một đỗi lâu chợt thấy từ phía bước thấp thoáng một tốp người đi ngược về phía tôi. Ban đầu tôi chưa kịp nhận ra tốp người đó là ai, nhưng lát sau tôi đã ngó thấy những chiếc mũ tai bèo vây vẫy như những cánh chim, những đôi dép cao su đen nhánh, những khẩu súng bóng loáng va chạm lách cách. Rồi hằng trăm khuôn mặt rám nắng chảy ròng mồ hôi tươi cười với tôi. Tuồng như là họ đã biết tôi từ lâu, nhao nhao gọi tôi nhập vô hàng. Trong lúc tôi còn đang ngượng ngùng thì có mấy anh với tay kéo tôi vô bảo: "Tụi tao là giải phóng quân đây đi theo tụi tao đi Quyết!" Vậy là tôi liền nhập vô hàng, đ với họ.

... Tôi đang bước thẳng trớn bỗng láng máng nghe có tiếng nói văng vẳng bên tai thiệt giống tiếng Bảy Vàng. Thế rồi đang bước, tôi bỗng thấy chân tụt hẫng như bị sụp lỗ chân trâu. Tôi giựt mình thức dậy, lưng toát đầy mồ hôi. Trong cơn mơ màng nửa mơ nửa tỉnh tôi nghe giọng nói Bảy Vàng mỗi lúc một rõ. Thoạt tiên tôi ngỡ còn trong chiêm bao: Nhưng không, đó là tiếng của Bảy Vàng thiệt. Hắn đang nói ở ngoài sân, rồi có cả tiếng cửa anh Vững. Tôi nằm im, lóng nghe.

Rõ là giọng Bảy Vàng:

- Vậy chứ hồi sáng tới giờ chú không thấy thằng Quyết vô đây à?

- Không mọi bữa thì có, bữa nay chưa thấy ...

Anh Vững đáp rất tỉnh tuồng.

- Đèo hỏa, nó bỏ đi đâu mất từ sáng sớm báo hại bữa nay bày bò nhịn đói thấy mẹ!

Anh Vững cười:

- Chắc nó ham chơi thả rêu đi đâu đó rồi về, lo gì. Có khi nó thả ra chợ Xà-bang chơi cũng nên, thứ còn con nít mà!

- Con nít con nôi gì, chú không biết chớ hồi hôm nó quánh vợ tôi hết kể. Tôi nực quá, mới sáng cho nó một cây, bửng mắt ra thấy mất tiêu nó luôn. Cái thằng ôn binh dịch vật đó lần này ló về là tôi còng đầu!

Bảy Vàng tuôn ra những lời bịa đặt, những câu chửi rủa tục tằn. Tôi nghe tới đâu nhức lỗ tai tới đó chịu không nổi. Đầu tôi vụt nóng như hơ lửa. Thế là đang nằm trên giường, tôi nhổm dậy. Ngó dáo dác thấy trong góc buồng có dựng con dao đấu, tôi liền thót xuống, bước tới chụp lấy. Đang lúc lửa giận bốc lên, tôi tính nhảy ra sả cho Bảy Vàng một dao rồi tới đâu thì tới. Nhưng mới vừa bước ra, tôi sực nghĩ tới má Năm với anh Vững nên khựng lại. Chợt nghe tiếng Bảy Vàng hăm he:

- Đ. mẹ, tôi đi kiếm. Thế nào cũng kiếm cho ra nó mới đặng!

Liền khi ấy, có tiếng chân từ ngoài sân bước vô nhà. Tôi vội nép mình sau cửa buồng, tay cầm con dao phăm phăm thủ thế. Tôi nói lầm thầm trong bụng: "Mầy mà ló vô là tao phứt đầu liền, tới nước này tao phải chém mày thôi!. Nhưng tôi không thấy Bảy Vàng bước vô. Chỉ nghe tiếng chân dừng lại, rồi tiếng anh Vững nói với xuống bếp:

- Nó đi rồi, má ơi!

Và nghe ở dưới bếp, má Năm thở khì ra một cái:

- Trời phật ơi, nãy giờ tao lên ruột hết trơn. Thôi cháo chín rồi, để tao bỏ tiêu hành đặng kêu thằng Quyết dậy cho nó ăn! ( Hết chương 13)
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #31 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 07:42:35 am »

                         
CHƯƠNG MƯỜI BỐN

Nhờ có má Năm đắp củ ngải nên chỉ ba hôm sau vết thương trên đầu tôi đã hàn miệng và bắt đầu lên da non. Mới hơi khỏe lại tôi đã tính chuyện lên đường.

Má Năm khuyên tôi ở nán lại năm ba bữa nữa dưỡng cho thiệt mạnh hẵng đi.

Tôi nói:

- Thôi để con đi, má. ở lại đây láng cháng Bảy Vàng nó tới kiếm nữa hoặc nó kêu lính tới bắt thì con hết đi à!

Nhắm bề không cầm tôi lại được, má Năm và anh Vững đành để tôi đi. Đêm hôm rạng ngày tôi lên đường, má Năm thức khuya lo cụ bị đồ đạc cho tôi. Thấy tôi chỉ có bộ đồ đang mặc, má xé vải may thêm cho tôi hai cái quần cụt nữa. Má còn cho tôi cái khăn rằn má mới mua, vì cái khăn của tôi đã cũ mèm sờn rách.

Khuya hôm đó, má dậy nấu một nồi cơm nếp, dỡ cơm nén chặt vào tấm mo cau non để tôi còn đem theo ăn đường. Má dặn:

- Kiếm không được bộ đội thì con trở về đây, bữa khác hẵng đi nữa, nghe con!

Tôi dạ, rồi khoác cái bọc khăn lên vai, theo anh Vững bấy giờ đã lùi lũi ra trước ra đường. Anh Vững đưa tôi đi khỏi xóm một đỗi dài. Lúc chia tay, anh rút cây mác vót trong người đưa cho tôi:

- Cầm cây mác này theo mà hộ thân. Em đi ít bữa, chắc tao cũng dông. Thế nào anh em mình cũng có ngày gặp nhau. Thôi đi đi kẻo trời sáng!

Tôi đặt bọc quần áo và cây mác xuống đất, vùng nhảy tới ôm anh Vững chặt cứng. Hồi sau tôi mới buông ra, cúi lượm ngọn mác xỏ ngang bọc quần áo, gác lên vai. Trời hãy còn tối. Tôi bắt đầu băng qua các trảng cỏ ướt sương, nơi tôi đã thả bò cho Bảy Vàng trên ba năm. Trong hơn ba năm đó, hầu như ngày nào tôi cũng có mặt ở cái trảng này. Kìa là lùm cây mà tôi vẫn thường lủi vô trốn nắng. Đen hù trước mặt kia là cây gáo độc chiếc tôi vẫn thường leo lên nằm trên cháng ba đánh giấc ngủ trưa. Nhưng ngó chỗ nào trên trảng tôi cũng thấy buồn. Buồn và trơ trụi. Tôi không biết rồi đây đứa nào sẽ thay tôi đội nắng dầm mưa trên cái trảng này mà coi đàn bò của Bảy Vàng. Phần tôi từ nay coi như là chấm dứt. Không đời nào tôi quay lại coi bò cho Bảy Vàng nữa.

Vào lúc trời vừa hửng sáng thì tôi đã băng qua gần hết các trảng, có trảng rộng tới hai cây số. Tôi bước sải như bay. Phần thì hy vọng gặp được bộ đội như giục giã bước chân. Phần thì ở đằng sau lưng chẳng hứa hẹn với tôi sự gì tốt lành. Tôi vẫn cứ luôn bị bóng dáng của Bảy Vàng rượt đuổi. Một mình Bảy Vàng thì tôi không sợ, nhưng rất có thể hắn nhờ lính rượt theo bắt tôi. Mà đi trên trảng thì lại trống trải quá. Thời may, tới lúc trời sáng rõ thì tôi đã cặp bìa một khu rừng chồi.

Nhưng khu rừng này chưa phải là khu rừng tôi muốn tới. Theo lời chỉ vẽ của anh Vững, thì tôi phải đi qua hết khu rừng chồi đó để tới rừng Hắc-dịch. Anh Vững bảo phải đón bộ đội ở mạn rừng Hắc-dịch thì mới có thể gặp, chớ đón ở phía ngoài này thì năm thì mười họa bộ đội mới kéo qua.

Tôi đứng nơi bìa khu rừng chồi, ngoái nhìn lại phía sau. Vườn cây cao su cùng các xóm ấp ở Xà-bang, Ngãi-giao giờ chỉ còn là một rặng xanh nằm ở cuối đồng trảng mù sương. Những vườn sở đó giờ đã ở lại sau lưng tôi khá xa.

Tôi đứng hồi lâu ngoái nhìn cái xứ mà số phận đã bắt tôi phiêu dạt tới ở đó trên ba năm. Tôi nghĩ tới má Năm, anh Vững, nghĩ tới những cô bác ở đó rồi sẽ càng thêm cực khổ hơn, vì chỉ ngày mai ngày kia tụi Mỹ- Diệm sẽ rào ấp, vì số giây thép gai mà Bảy Vàng lãnh thầu chở về đã quá đủ để vây bọc các xóm ấp ấy lại.

Làm não lòng tôi hơn cả là khi nghĩ tới đám trẻ nhỏ trong xóm, đám trẻ nheo nhóc, người lúc nào cũng lấm lem sình đất nhưng lại chính là những bậu bạn trong trẻo thân thiết với tôi nhứt. Bữa nay ra đi, tôi không gặp lại một đứa nào. Nhưng phải nói rằng cũng chưa có lúc nào tôi cảm thấy tôi được tự do thung thăng như lúc nầy. Sợi giây xiềng mà cách đây bốn năm do Biện Tư buộc ghịt vào chân tôi, giờ đã bị tôi giựt đứt, và sớm nay coi như tôi đã trả sợi xiềng đó cho thằng em của Biện Tư là Bảy Vàng. Lúc còn đi băng qua trảng, tôi còn sợ Bảy Vàng có thể cho lính rượt theo, chớ bây giờ thì tôi đã hết ngán. Bây giờ dẫu có mười Bảy Vàng với một trăm thằng lính tôi cũng không sợ. Có bề gì là tôi nhảy tọt vô rừng, đố Bảy Vàng với lính dám theo.

Mới thoạt ngó quanh, tôi thấy khu rừng chồi trước mặt thưa rêu. Không có cây lớn, toàn là cây ngành ngạnh, thân nhú đầy gai sắc, cây lào táo còn non thân thẳng đuột. Có lẽ cách đây vài năm, khu này còn là trảng. Trông xa tới trước là khoảng trời rộng, nơi mặt trời lên đang nhuốm hồng, ban đầu là màu hồng sen mát rượi, nhưng không mấy chốc màu hồng đã chói lói, gay gắt. Đặt chân lên con đường mòn đi xuyên qua rừng, tôi nghĩ là mình sẽ vượt qua cánh rừng đó một cách nhanh chóng. Không ngờ cánh rừng đã đánh lừa tôi, với cảnh rừng chỗ nào cũng thưa thoáng, với những mảng trời, như luôn hứa hẹn rằng rừng phía trước là sắp hết. Kíp đến khi tôi vượt tới trước thì rừng vẫn thế, trời vẫn trống sáng mà con đường thì vẫn dài hun hút. Nhưng tôi vẫn không nản chí, vẫn hăm hở bước đi vùn vụt. Bởi vì đối với tôi bây giờ, ở phía trước, ở bên kia rừng Hắc-dịch có một điều tốt lành nhất đời đang đợi tôi. Dần dần tôi mới biết con đường không phải trót lọt dễ dàng như tôi tưởng. Càng không giống với con đường tôi mơ thấy trong mơ. Suốt từ sáng tới trưa, tôi đi mải miết không dừng mà vẫn chưa qua hết quãng rừng chồi. Không lâu sau, mặt trời dội nắng xuống như dội lửa. Quãng rừng chồi chỉ có cây nhỏ lúp xúp không che nắng được bao nhiêu. Điều thắt ngặt cho tôi hơn cả là suốt dọc đường tôi chưa bắt gặp một dòng suối nào, một vũng nước nào. Trước khi thấy đói, tôi đã thấy khát.

Và cơn khát cứ theo độ đường nắng cháy mà tăng lên.

Cổ họng tôi khô se, lưỡi ráo hoảnh. Tôi muốn tìm một bóng cây ngồi nghỉ ăn cơm, nhưng cơn khát cứ buộc tôi phải cố rấn bước, để may ra đi tới một chút nữa thì gặp suối hoặc gặp một bàu nước nào đó. Mặt trời đã dội ánh nắng gay gắt xuống giữa đỉnh đầu tôi rồi, mà suối, bàu gì tôi vẫn không thấy. Chim chóc cũng đã rủ nhau đi kiếm bóng râm trốn nắng chớ cũng chằng xập xòe ca hót như tôi thấy trong giấc chiêm bao dạo nọ. Tôi ngửa mặt nhìn trời, mong một đám mây đen nào đó vần vũ báo mưa tới, nhưng trời xanh ngăn ngắt không có một gợn mây. Đó là bầu trời tháng ba, bầu trời mùa nắng ráo.

Đang lúc cơn khát làm cho mỗi một bước đi cũng trở nên nặng nhọc, bỗng một sợi dây leo vắt ngang cành cây bên đường khiến tôi chú ý. Đó là sợi giây chìu lớn bằng cổ tay. Tôi lập tức tháo cái túi khăn ra, xách ngọn mác luồn vô. Tôi mừng rỡ nhận ra đúng đó là sợi giây chìu, thứ giây leo có thể cho một lúc hằng đôi ba lít nước mà cô bác ở Xà-bang đã có lần chỉ cho tôi biết. Sau khi luồn mình tới bên nâng sợi dây chìu đó lên coi cho chắc chắn, tôi cũng chưa chém lấy nước vội.

Tôi trở ra dỡ cơm nếp ăn. Để tôi ăn đủ trọn ngày, má Năm nấu tới một lít nếp, ấp chặt trong tấm mo cau dịu dặt. ở giữa lớp nếp, má Năm nhét bốn năm con tôm càng kho mặn đỏ lưỡng. Tôi bốc cơm ăn, rưng rưng nước mắt. Tôi nghĩ sao má Năm không rứt ruột đẻ ra tôi mà lại thương tôi như vậy. Miệng nhai miếng cơm nếp ngon dẻo, tôi những lo cho má và anh Vững ở lại không biết rồi sẽ ra sao. Không bao lâu nữa, ở Xà-bang sẽ đều bị biến thành ấp chiến lược hết. ấp chiến lược là cái gì tôi không rành, chỉ biết là rào rấp, ngăn cô bác ra một bên, đằng giải phóng ra một bên, như là gạn nước để bắt cá. Tôi nghe nói đã có nhiều nơi bị làm ấp, cô bác tối ngày ở giữa vòng rào giây thép gai, khổ sở tù túng như con chó. Tôi sực nhớ tới những đống giây thép do Bảy Vàng hăng hái đốc thúc chở về chất đầy nhà công sở hội đồng xã mà tức dội, ăn miếng cơm hết ngon. Đầu tôi bắt đầu nóng hơ, nghĩ thầm: "Tổ cha tụi bây, cho tụi ba giỏi bày ra, tao mà vô bộ đội thế nào có bữa tao về phá banh trê, bao nhiêu hàng rào giây thép gai tụi tao guận lên như guận cỏ bờ cho bây coi!".
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #32 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 07:45:25 am »

                                 Tiếp theo


Ăn đã no, tôi gói kỹ mo cơm còn lại, rồi cầm cây mác trở vô chỗ có sợi dây chìu. Một tay nâng sợi dây, một tay tôi quơ ngọn mác nhằm chỗ vừa tầm mà chém. Sợi giây chìu bị chém ngọt, đứt rời một khúc văng xuống đất. Khúc dây còn lại lơ lửng trên không bắt đầu ri rỉ nước ở vết chém. Để nước có thể tuôn ra, tôi lại nâng sợi dây lên chém thêm nhát nữa. Lát sau, nước từ sợi giây chìu liền chảy rỏ giọt, trong vắt. Tôi mừng quá, rùn gối chân, há miệng hứng nước uống. Nước rất mát. Uống ngụm nào, tôi thầm cảm ơn bà con Ngãi-giao, Xà-bang ngụm nấy. Thiệt là lạ, cái giọt nước chảy lòng từ sợi giây rừng sần sùi này ngọt mát không kém nước mưa chút nào, mùi nước không bị pha trộn mùi vị uế tạp nào.

Tôi uống no bụng rồi đứng dậy, đăm đăm ngó nhìn khúc rễ cây cặm xuống đất ở gần đó. Tôi cho rằng rễ cây giây chìu chắc phải ăn sâu xuống đất dữ lắm, bởi vì có ăn sâu xuống đất, sợi dây mới rút nổi mạch nước bên dưới trong mùa đất rừng đang khô hạn. Tôi bỗng nảy ra ý muốn ước ao mình giống được sợi dây giỏi giang đó, không cắm thì thôi, đã cắm là hút lên cho kỳ được nước. Là con người, tôi phải hơn sợi dây đó, không làm thì thôi, đã làm là phải làm tới chốn. Ý nghĩ đó lại giục giã tôi tiếp tục lên đường.

Mặt trời đã chiếu chênh chếch, nhưng nó vẫn như một cái đĩa lớn, rót lửa chảy xuống. Nắng đến nỗi các ngọn ngàn xa bốc lên một thứ chi giống tự khói.c cho nắng dội, tôi vẫn đi bươn tới. Lần này thì cánh rừng đã phải chịu thua tôi. Cánh rừng chồi đã chấm dứt, khi chiều xuống. Bấy giờ tôi đứng sựng lại, tóc tai mắt mũi ướt đẫm mồ hôi, ngó thấy trước mặt mình một cánh rừng già khác lạ. Ven rừng đang cháy, bừng lên một vòm lửa dữ dội. Tôi đoán tôi đã tới miệt rừng Hắc-dịch. Chỗ tôi đứng là chỗ rừng đã bị cháy rồi, nhưng giữa buổi chiều tà, than lửa còn rớm hồng ở khắp mọi nơi. Những thân cây cổ thụ cháy ngã nằm ngổn ngang, ngút khói. Ngọn lửa cứ chốc chốc lại lùa vô mặt tôi từng luồng gió nóng hực, và tiếng lửa thì cứ hù hù réo dậy không dứt bên tai.

Chẳng có bóng người nào ở đó cả. Tôi đảo mắt nhìn khắp nơi. Không thấy bóng một anh bộ đội giải phóng nào. Mà chiều thì xuống thấp mãi. Mặt trời thu nắng về hết. Rồi chính mặt trời cũng không còn. Mặt trời để lại sau lưng tôi, ở phía rừng chồi tôi đã đi qua, cả một phương mây đỏ ối. Ráng chiều, giống như một đám cháy lớn thứ hai, đang dậy lên màu đỏ rói như bông lựu. Trên thinh không, bay ngang qua từng bầy chim lớn. Chim hồng hoàng, chim cao cát và tôi nhận ra có cả gà đãy. Từ phía rừng già, chúng bay thẳng tới vòm trời đỏ rực ráng chiều.

Cánh của những con chim lớn đó vỗ nghe ào ào, như gió dậy trên vầng khói. Lửa rừng đã xua đuổi chúng. Tôi nghĩ thế khi ngước nhìn đàn chim chạy trốn. Tôi cho rằng bây giờ chắc là heo, nai, mễn, cọp gì cũng đã bỏ chạy. Chỉ có tôi tự nãy giờ tuy chưa bước tới, nhưng không lùi lại. Tôi đứng dẫm trên tro than của cây lá cháy, ngó về mạn rừng già phía trước, chỗ mà dẫu có chết tôi cũng phải đến. Dẫu chưa gặp một anh bộ đội nào, mối hy vọng lớn giữa lòng tôi vẫn không tắt. Còn bìa khu rừng này tuy đang cháy, nhưng tôi đinh ninh rồi thế nào nó cũng tắt. Vả lại chẳng lẽ không còn có lối nào để tôi đi qua được? Giữa lúc đêm xuống, tôi vuốt mồ hôi rỏ ròng trên mặt, bắt đầu tìm lối vượt qua quãng rừng cháy. Quãng này ước chừng trên một cây số. Tôi chú ý xem coi chặng nào dẫn vô rừng ít có lửa than nhứt. Bóng tối đã giúp tôi điều đó. Cũng chính bóng tối đang dần dần trùm phủ khoảng ven rừng đã bị cháy trụi, bây giờ chỉ có một mình tôi xông xáo tìm đường. Tôi chạy tới chạy lui, khi ở chỗ này khi ở chỗ khác. Chỗ nào cũng có than lửa.

Thứ than lửa ngó thấy và thứ than lửa không ngó thấy, vùi dưới tro. Sau khi dò dẫm thấy chỗ nào cũng có lửa, tôi đã quyết định sẽ nhắm theo một lối lửa đã lụi tắt mà tôi cho là ngắn nhứt để chạy qua. Tôi chạy thiệt nhanh, bất kể lửa than dẫm phải. ở quãng cuối cùng tiếp giáp với rừng, tôi ngỡ là có lửa cháy dữ, may đâu ở đó lửa đã tắt. Đang chạy bỗng tôi hụt chân té ùm xuống nước. Thì ra đó là một dòng suối chắn ngang. Tôi không nhận ra trước dòng suối vì đã tối, vì mặt suối đầy tro tàn của lá cháy. Tôi hết hồn lồm cồm đứng dậy, lội sồn sồn sang suối.

Rừng bên nầy, nhờ dòng suối mà ngọn lửa không bò qua được Tôi ngồi bệt bên bờ suối. Người tôi áo dầy một lớp tro. Khắp đầu cổ tôi cũng đều dính đầy tro. Nhưng tro bụi chỉ làm tôi khó chịu, chớ than lửa mà tôi dẫm phải trong khi chạy đã khiến đôi bàn chân tôi bị bỏng cả. Ngồi một lúc, tôi mới thấy đau rát dữ, đến nỗi tôi có cảm giác hồ như đôi bàn chân vừa bị đem nướng.

Nhưng bây giò tôi không có thì giờ nghĩ tới chân đau. Tôi lo lắng nhìn đêm tối trùm phủ. Khu rừng tối sầm lại mau lẹ, đến cái cây gần bên cũng chẳng còn ngó thấy được. Chỉ có phía bên kia suối, nơi rừng hãy còn cháy là có ánh sáng. Thứ ánh sáng đục nhờ ở chỗ vừa bị dọn quang còn bập bùng lửa cháy, còn rạng ánh than đỏ và lan tỏa đầy khói. Nhờ có ánh sáng đó, tôi thấy dòng suối vẫn đang chảy, cuốn theo lá rừng đã cháy thành tro, những tàn than. Đám lá chết cháy giờ hãy còn chấp chới, chao liệng trên không rồi rớt xuống mặt suối nghe xèo xèo.

Sau chặng vượt lửa, tôi lại thấy khát. Chồm người tới bên vệ suối, tôi khoát tro, khoát nước thành một lõm trống rồi vốc nước lên uống. Đó là một thứ nước suối âm ấm. Ngọn lửa đã làm cho con suối rừng đêm ngày buốt lạnh kia trở nên ấm nóng.

Ngồi một lúc cho đỡ mệt và tỉnh táo trở lại, tôi liền lên bờ suối quờ quạng bẻ nhánh cây khô, bật lửa nhen đốt thành một bó đuốc. Cầm bó đuốc, tôi dẫm lạo xạo trên lá khô, quan sát bờ rừng cao trên suối. Toàn là những gốc cây cầy lớn, rụng đầy những trái cầy bằng ngón chân cái. Chân tôi dẫm phải những trái cầy chín rục, nhớt nhợt. Bỗng dưới ánh lửa chờn vờn của ngọn đuốc tôi ngó thấy một cái chòi dựng dưới một gốc cây.

Tôi tiến tới coi kỹ thì thấy đó là cái chòi nhỏ hẹp, chỉ vừa đủ cho vài ba người ngồi túm tụm. Nóc chòi che bằng vỏ cây gì in như vỏ cây dền, và dưới đất cũng trải thứ vỏ cây đó. Trong góc chòi còn có bắc ba tảng đá làm bếp. Mấy tảng đá này ám đen khói, chứng tỏ cái tép đã được nấu nướng nhiều rồi. Tôi đến bên, cúi xuống sờ tro thì thấy tro còn ấm. "Cái bếp nầy có ai nấu, mới tắt lửa hồi trưa thôi!". Tôi vừa rút bàn tay ra vừa nghĩ bụng, phấn chấn hẳn lên. Lúc mới đặt chân tới đây mà chưa thấy bóng người nào tôi đã hơi lo. Giờ thì khấp khởi hy vọng, vì tuy vẫn chưa gặp ai, nhưng tôi đã thấy có người ở hơi tro còn ấm lòng bàn tay: "Những người đây là người nào?". Tôi tự hỏi : "Có phải là mấy anh giải phóng không, hay là bọn bất nhơn như Biện Tư, Bảy Vàng, như tụi thằng Hoành?". Và tôi tự đáp: "Chắc không phải là tụi nó đâu ... Có thể là mấy anh, hoặc là bà con người Xê-điêng Châu-ro chớ tụi nó thì không ăn ở như vậy đâu!".

Tôi quyết định tạm nghỉ đêm trong túp chòi đó.

Đặt cây ná và cái bọc khăn xuống lớp vỏ cây trải trong chòi, tôi dỡ mo cơm nếp ra ăn nghiến ngấu vì đã quá đói. Nhưng tôi không dám ăn thả sức, sợ ngày mai ngày kia vẫn chưa tìm gặp bộ đội. Mặc dù má Năm và anh Vững có dặn nếu không gặp thì quay về, song tôi rắp tâm đã đi là phải tìm gặp chớ không quay về. Tôi còn trở về Xà-bang để làm gì, chẳng lẽ lại để Bảy Vàng làm tròng làm tréo bắt tôi ở đợ chăn bò nữa hay sao? Không, cho dù khổ cực tới đâu tôi cũng ráng chịu để tìm gặp bộ đội xin cầm súng. Khi đó tôi sẽ về. Tôi sẽ về Xà bang với cây súng trong tay.

Đêm hôm đó tôi nằm co như con tôm trên vỏ cây dền mà ngủ. Tôi bị thức giấc cả chục lần. Lần đầu tiên ngủ trong rừng một mình, tôi hơi ớn xương sống. Có lúc tôi lại giựt mình nghe tiếng gì như là con gấu, con beo nào đó đang đứng rình rồi ngứa ngáy gãi sột sột vào lòng bàn tay. Rừng đêm thử thách tôi không phải chỉ ở tiếng động mà còn ở sự lặng im của nó. Là lúc chẳng còn nghe thấy một tiếng động nào, rồi bất thần gió dậy ào ào trên ngọn lá. Là có lúc rừng như ngủ say, đột nhiên trăn trở với tiếng cành khô kêu răng rắc bắt gợi nghĩ tới những móng sắc dẫm lên, với tiếng gầm gừ, có vẻ khó chịu của con vật để vuột mồi. Lại thêm vào đó, một thứ tiếng lại càng làm cho tôi khó ngủ gấp bội, là tiếng trái cây rụng. Suốt đêm, trái cầy cứ rụng lộp bộp xuống mái chòi. May mà chòi lợp bằng vỏ cây nên trái cày không chọc thủng nổi, chớ nếu lợp lá thì tôi chắc phải u đầu.

Về khuya, khí trời bỗng trở nên nóng bức. Vào lối nửa đêm, trời nổi sấm ầm ì. Để đến lúc gần sáng đổ ngay xuống một trận mưa dữ dội. Đó là trận mưa đầu tiên sau sáu tháng ròng chói chang nắng lửa, báo hiệu mùa mưa đã đến. Cơ khổ, tôi bị ướt hết, vì nước mưa chảy như xối qua các kẽ hở của những tấm vỏ cây lợp chòi.

Tôi đành ngồi xổm ở giữa chòi mà chịu trận. Trời mưa tới sáng thì dứt. Trận mưa lúc chấm dứt cũng nhanh gọn như lúc mở đầu, không lê thê rỉ rả thêm một giọt nào nữa.

Buổi sáng đã đến. Tôi đứng dậy giũ nước mưa ướt sũng trên người, bước ra khỏi chòi.(Hết chương 14)
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #33 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 07:48:30 am »

                               
CHƯƠNG MƯỜI LĂM

Suốt ngày hôm đó và cả ngày hôm sau, vẫn không thấy có ai ghé chòi cả. Sáng hôm nay là sáng hôm thứ ba, tôi thức dậy giữa chòi. Mấy đêm liền, đêm nào tôi cũng mơ thấy bộ đội. Nhưng sáng ra, tôi chẳng còn nghe những bước chân, tiếng súng va chạm lách cách nữa mà chỉ nghe tiếng chim chíu chít và tiếng sóc nhảy động cành.

Qua ngàn lá chớm nắng, tôi cũng chẳng thấy hiện ra một vành mũ tai bèo nào đập vẫy. Tôi đói cồn cào. Hai hôm nay tôi không có gì để ăn. Cái mo cau cơm nếp đã hết nhẵn từ buổi sáng đầu tiên và tôi đã vét tới hột cơm cuối cùng. Đói quá, tôi luồn vô rừng kiếm coi có thứ gì ăn được không, nhưng rừng không có gì ngoài những cây dầu trút lá, những cây cầy rụng trái lộp độp, những bụi mây um tùm chằng chịt. Trong các thứ đó, may ra chi có cây cầy là còn có thể kiếm chác được, nhưng rất tốn công. Tôi đã từng chẻ hột cây ăn hồi ở nhà cô Tám tôi trên Phước-kiển, nhưng chỉ chẻ ăn thử chơi vài trái mà thôi. Hột cầy chẻ ra, bên trong có một thứ cơm trắng, đem hơ lửa cho chảy ăn béo béo như mỡ. Lúc đầu tôi nghĩ nếu ngồi chẻ từng hột cày mà ăn thì lâu lắc quá, ăn biết khi nào cho no. Nhưng sớm nay, cái bụng trống rỗng của tôi kêu gào rằng có hột cầy còn hơn không. Tôi không do dự nữa, đi lượm gom về chòi một đống hột cầy rồi lấy mác chẻ ăn. Từng miếng cơm hột cầy beo béo cứ như rơi thỏm vào dạ dày trống trơn của tôi, không thấm vào đâu. Tôi ngồi chẻ hết hột này tới hột khác. Thế mà, chẻ ăn tới cả trăm hột, tôi vẫn không bớt đói. Cái miếng ăn bé xíu đó không bù nổi với công chẻ. Tới trưa, tôi bỏ chẻ hột cầy, men xuống bờ suối tìm moi ngải ré.

Thứ này tôi chưa từng ăn, nhưng nghe nói có thể ăn được. Mới ăn vô mấy miếng, tôi thấy nó ngon ngọt, có mùi phảng phất mùi riềng. Thoạt tiên tôi thấy dễ chịu, nên rà cặp theo suối moi thêm. Một lát sau, chất ngải thấm dần làm tôi hơi chóng mặt. Tôi liệng bó ngải, bò lên chòi nằm. Nhưng mới nằm xuống, tôi thấy không chóng mặt nữa. Thì ra ngải ré chỉ gây chóng mặt một lúc là hết. Hơn hột cầy, ngải ré ăn vào bụng có phần dễ chịu. Tôi lại ngồi dậy, mò xuống suối, tướt ngải ré ăn.

Bên kia suối, cánh rừng cháy chiều hôm tôi đến đã rụi tắt. Trận mưa đêm đã dập được ngọn lửa. Tuy vậy, rải rác đây đó, vẫn còn khói vẩn vơ bay lên từ những thân cây cháy ngún mà mưa không thể dập tắt hẳn. Mặt suối không còn rắc đầy tàn tro của đám cháy nữa. Dòng suối im lìm mải miết chảy qua những bụi tre gai chằng chịt, những tảng đá đóng đầy rêu. Giữa lúc đang ngải ré, tôi nhìn dòng suối, sực nhớ ra mấy bữa nay tôi đã quên mất nó. Cái dòng suối đang chảy kia chắc chắn là có cá sao tôi lại không mò bắt cá ăn, bởi mò bắt cá lại là nghề của tôi. Tự cốc vào đầu mình một cái khá đau để phạt về lỗi lầm đó, tôi đứng ngay dậy cởi quần áo, lội ùa xuống suối. Tôi chuồi mình rà theo cập bờ suối, thò tay vào các bờ hẳm, các kẹt đá. Trong một chốc, tôi đã dơ lên khỏi mặt nước một con cá đỏ mang lớn cỡ ba ngón tay. Kế đó tôi lại bắt được cua, thứ cua đá ở suối rừng, nhỏ hơn cua đồng và coi đen đúa như màu đất.

Không bao lâu tôi đã bắt được gần chục con cá đỏ mang. Còn cua thì tôi phát hiện từng đống trong kẹt đá, cứ quờ tay vào mà hốt. Tôi bươi một cái hố cát bên suối để nhốt cua, và bẻ một nhánh cây nhỏ dẻo, xỏ qua mang những con cá. Bây giờ tôi không thiết gì tới hột cầy với ngải ré nữa Tôi mê mải lội bì bõm trên quãng suối, lát lát lại xỏ một con cá mới.

Tôi trở lên chòi quơ củi khô đốt một đống lửa lớn. Đợi lửa cháy một lúc cho có than, tôi cặp cá thành từng gắp đem nướng. Còn cua tôi bỏ đại vô lửa, rồi khều ra từng con, bốc nhai rau ráu. Chưa bao giờ tôi lại được ăn con cua ngon ngọt dường ấy. Tới miếng cá nướng cũng vậy tôi thấy cá quá béo, có lẽ là béo và ngọt thịt hơn hết thảy những con cá trong đời. ấy bởi vì hai ngay nay trong bụng tôi chẳng có miếng nào, ngoài mớ ngải ré và hột cầy. Ăn hết chỗ cua và một nửa chỗ cá, tôi khoan khoái nằm ngã ngửa trên lớp vỏ cây, phì phèo hút thuốc.

Tôi nằm như vậy một lúc bỗng thấy người uể oải, mấy lóng tay chân mỏi nhừ nắm lại không chặt. Thế rồi tôi thấy ơn ớn lạnh ở sau xương sống, mình phát nổi đầy gai ốc. Dần dần người tôi lạnh run. Tôi ôm bọc quần áo, sau khi đã tháo chiếc khăn đắp lên người Nhưng tôi cảm thấy không hết lạnh. Cái lạnh không phải ở ngoài nhập vào, cái lạnh như từ trong xương trong ruột mà lạnh ra. Cố ghìm mấy, tôi cũng không giữ được người bắt đầu run lên bần bật. Những miếng vỏ cây dền ở dưới người tôi cũng run theo phành phạch. Cơn sốt rét rừng đầu tiên đã đến với tôi như thế.

Cơn sốt quái ác ấy tấn công đột ngột và mạnh mẽ vào giữa lúc tôi chưa gặp một anh bộ đội nào, sau khi bị lửa đốt phỏng cả hai gót chân, sau khi khát và đang bị đói. Tôi đã không sợ lửa, vì lửa tôi đã vượt qua. Tôi cũng không sợ đói khát, vì tôi đã tìm được nước ở dây rừng, tìm được cua cá nơi nguồn suối. Giờ đây trước cơn sốt ập đến phũ phàng, tôi không biết lấy gì chống chọi. Đã mấy lượt, tôi gắng trở dậy, bò tới bên đống lửa vừa nướng cua cá, gầy cháy thêm để hơ cho ấm. Nhưng ngọn lửa cũng vô hiệu, lửa không át được cái lạnh từ trong. Cuối cùng tôi đành nằm lại như cũ.

Cho tới chiều, khi rừng tắt nắng, cơn lạnh mới lui dần. Nhưng liền đó, cơn nóng lại đến, đẩy tôi vào một giấc ngủ hầm hập, khó thở. Tôi nằm mê có tới cả chục giấc mơ, mà giấc mơ nào cũng đều khủng khiếp.

Có lúc tôi thấy Biện Tư từ đâu hiện ra, chằm chằm nhìn tôi. Chiếc ba-toong bịt bạc trong tay y xoay tít. Rồi thì Bảy Vàng, tay cầm cái cây có cạnh vuông còn nhễu máu, chạy xớn xác dồn đuổi bầy bò. (Hình như từ hôm tôi bỏ đi, hắn phải chăn lấy bày bò đó). Tôi còn thấy cả thằng Hoành, chồng của con Len, mặc bộ đồ rằn ri đang ngồi ăn đĩa gan người xào. Ăn xong đĩa gan, mép thằng Hoành còn ứa máu, nó nhảy xổ về phía tôi đòi ăn cả gan tôi. Tôi liền lấy hết sức mình, đạp cho thằng Hoành một đạp.

Cái đạp của tôi không trúng thằng Hoành nào cả mà lại trúng vào một người khác. Tôi choàng tỉnh, ngó thấy người đó là một người đàn bà tuổi trạc trên ba mươi vóc dạc vạm vỡ cao lớn, có cặp lông mày rất rậm. Cùng ngồi xổm bên chị ta, có một anh thanh niên và một cô gái, cả hai người này đều có đeo lựu đạn da láng ở thắt lưng, mang ruột tượng gạo ở vai. Chị đàn bà lớn tuổi, người bị tôi đạp trúng, đang ngã ngồi xuống. Anh thanh niên và cô gái thì cười rộ lên. Tôi dụi mắt bàng hoàng nhìn họ, không biết họ là ai, còn mình hiện đang ở trong cảnh ngộ nào, trong cảnh thiệt hay là còn cảnh chiêm bao.

Dần dần tôi nhận ra cây cột chòi sù xì, lớp vỏ dền lợp bên trên, cái bếp còn trơ những mẩu củi đã tắt ngấm.

Chị đàn bà lạ mặt ngồi xổm lên, ngó tôi cười to:

- Chắc chú em nó nằm chiêm bao thấy ẩu đả với ai rồi nhè tôi mà đạp chớ gì?

Chị ta đặt bàn tay to lớn của chị lên vầng trán hãy còn nóng hực của tôi, rồi nói:

- Nóng quá. Chú em này bị sốt rồi!

Đợi tôi thiệt tỉnh, chị hỏi:

- Em ở đâu tới rồi bị bịnh nằm đây?

Bây giờ tôi phần nào cũng đoán ra những người này là ai rồi, nên tôi mừng rỡ cứ thiệt tình mà

- Dạ em ở ngoài Xà-bang vô đây?

- Em ở nhà nào ngoài Xa-bang?

- Em ở đợ coi bò cho thằng cha Bảy Vàng. Thằng chả quyết đánh em cho chết mà em không chết, nên em trốn vô đây!

Tôi chỉ thẹo trên trán trên cằm tôi:

- Đây nè, nó đánh em còn thẹo đây nè!

Chị nọ ngó tôi trân trân, đôi mày rậm của chị cau lại. Chị lẩm bẩm:

- Tưởng ai chớ Bảy Vảng thì tôi biết. Cái thằng đó ... Mà nó đánh em hồi nào, rồi em trốn đi tới đây hồi nào?

- Nó đánh em cách dây chừng năm sáu bữa. Còn em tới đây tính hết hôm nay là được ba bữa ...
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #34 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 07:50:59 am »

                                 
Tôi mừng quên cả sốt, ngồi lên kể lại chặng đường từ Xà-bang vô đây, gặp rừng cháy ra sao, nhịn đói nhịn khát thế nào. Tôi còn nói rõ là tôi tính đi kiếm bộ đội giải phóng để xin đi theo. Chị nọ chăm chú lắng nghe tới khi tôi nới cái nguyện vọng sau cứng đó thì chị không nén nổi, mắt đỏ cả lên. Nhưng chị đứng phắt ngay dậy, cất tiếng oang oang như hạ lệnh cho anh thanh niên:

- Em Hai Bình Toong, em lấy hăng-gô xuống suối vo gạo đi!

Day qua cô gái, chị bảo:

- Em Mịn cấp tốc nhóm lửa nấu cháo cho em đây ăn, nó nhịn đói tới ba bữa rồi!

- Còn em - Chị day lại nói với tôi: - Em cứ vững bụng. Ăn cháo xong chị sẽ cho em uống thuốc, sau đó sẽ đưa em đi. Trước tiên em phải về chỗ chị, chớ bộ đội người ta đi như chim, đến như chị đây là dân đường giây mà còn khó tầm ra họ, huống chi là em!

Đường giây, lần đầu tôi nghe nói đến hai tiếng ấy. Tôi chẳng biết đường giây là cái gì. Thì liền đó tôi đã nghe chị nọ tiếp lời, giọng như phân bua:

- Lẽ ra em không phải đợi ở đây lâu tới ba bữa

Tụi chị tính tới đây sớm kia, ngặt địch nó nằm ngáng lộ 15, đường giây bị đứt. Mấy bữa nay, tụi chị phải đi xoi đường mới, giờ mới tới đây được đó! Bây giờ tôi mới vỡ nghĩa. Té ra đường giây là vậy. Là đường đi của cách mạng, từ nơi này tới nơi khác. Đường giây giống như các mạch máu, chảy từ trái tim ra khắp thân mình. Và đường giây không thể để bị đứt, nếu bị đứt chỗ này là phải xoi liền chỗ khác, như chị nọ vừa nói.

Trong lúc cơn sốt từ từ hạ xuống, tôi vui sướng nhìn những người mới tới chòi. Tôi thấy người nhẹ nhàng hơn và có cảm tưởng cơn sốt như là cuộc thử thách sau cùng đối với tôi, sau lửa, đói và khát. Nỗi mong đợi của tôi giờ đã trở thành sự thực. Dẫu chưa thể nói là hoàn toàn, vì họ vẫn chưa phải là bộ đội, nhưng là giao liên giải phóng. Về chỗ họ thì việc tìm tới bộ đội cũng chẳng khó khăn. Thiệt là lạ lùng, giữa cái lúc tôi nằm mê ngó thấy toàn tụi ác ôn, thì bừng tỉnh dậy, trước mặt tôi hiện ra những người mới thoạt trông đã thấy gần gũi. Tôi có cảm tình ngay với chị phụ nữ cao lớn vạm vỡ kia. Cả cái tiếng nói oang oang của chị, tôi cũng lấy làm ưa. Câu nào chị nói ra cũng dứt khoát như dao chém.

Một lúc lâu, tôi đánh bạo hỏi khẽ chị:

- Dạ thưa ... chị thứ mấy?

- Chị hả, chị thứ Tám!

- Biệt hiệu là Bà Chủ Rừng.

Cái anh có tên gọi là Hai Bình Toong mới vo gạo dưới suối lên, cười nói chêm vào. Chị Tám cũng cười, cái cười mở rộng hết miệng. Thế là một lần nữa tôi lại ngạc nhiên, thắc mắc không biết tại sao chị Tám lại còn có thêm biệt hiệu đó. Tên Hai Bình Toong tôi còn có thể gẫm ra, chớ Bà Chủ Rừng thì nghĩa làm sao? Chị Mịn đã nấu xong cháo, đem lại cho tôi. Tôi ăn hết nửa hăng-gô cháo rồi uống hai viên thuốc ký-nin của chị Tám đưa cho. Mồ hôi tháo ra dầm dề ướt đầm cả áo tôi. Chị Tám bảo tôi nằm nghỉ một chút cho khỏe rồi sẽ đi. Tôi ngoan ngoãn nằm xuống. Chị ngồi bên nói:

- Em cố ráng theo chị vô sóc đồng bào gần đây nghỉ. Chị gởi em ở tạm đó, rồi đi công tác tới sáng sẽ về ghé rước em. Từ đây vô sóc cũng gần thôi!

Tôi gật đầu. Không hiểu tại sao tôi rất tin ở chị Tám có biệt hiệu là Bà Chủ Rừng này. Mặc dù gặp chị có một chốc, tôi thấy chị rất dễ. Chị Tám đi đứng ăn nói bộ tịch y như mấy thím mấy chị nông dân ở trong xóm tôi hồi đó. Nói sao làm vậy, và làm nhậm lẹ chớ không uốn a uốn éo như kiểu vợ Bảy Vàng. Nghe nói là vào nghỉ trong sóc, tức thì tôi liền nghĩ ngay tới ông Cổ. Tôi vụt hỏi:

- Bộ sóc ở gần đây hả chị? Có phải sóc của bà con Châu ro không?

- Ờ sóc của bà con Châu-ro. Cái sóc mình sẽ vô kêu là sóc Chùm-đuông.

- Ủa, sóc Chùm-đuông à, trời ơi ...

Tôi buột miệng kêu, bật ngồi nhổm dậy. Chị Tám trố mắt nhìn tôi:

- Sao, em biết cái sóc đó rồi sao?

- Không, em chỉ nghe nói chớ chưa biết. Em có quen một người ở sóc Chùm-đuông, người đó cùng ở đợ với em tại nhà Bảy Vàng ...

- Ai vậy?

- Một ông già, tên là ông Cổ.

Chị Tám nói:

- Tưởng ai chớ ông Cổ thì chị biết quá. Ông là chỗ cơ sở của tụi chị. Tội nghiệp, có gì ông già đó cũng đem cho trạm của chị. Cho từ miếng thịt con heo rừng mắc bẫy tới trái bầu trên giàn. Té ra hồi trước em ở chung với ông Cổ hả? Em có muốn gặp ông thì để lát nữa chị dắt em tới nghỉ ở nhà ông luôn cũng được. Ông ở cùng một ông già khác tên Xà, ông Xà cao niên dữ lắm ...

Tôi mừng rỡ quá chừng. Trời ơi, thiệt tôi không ngờ còn có ngày gặp lại ông Cổ, ông già Châu-ro đáng thương ấy. Vậy mà trên một năm nay tôi cử tưởng ông Cổ không còn sống. Ngày ông rời nhà Bảy Vàng, ông đã yếu lắm rồi. Ông đã để lại nơi nhà Bảy Vàng hầu hết sức lực biết bao mồ hôi và cả máu. Cái buổi sớm đưa tiễn ông ra tới cuối đồng trảng, tôi đã không cầm được nước mắt. Tôi còn nhớ rằng tôi đã đứng lại rất lâu trên trảng, ngó nhìn ông đi về rừng, ngó bóng ông già Cổ nhỏ thó mờ dần trong sương sáng. Tôi ngỡ đâu về sóc ít tháng chắc là ông phải chết vì cái bệnh ho của ông. Nào ngờ ông hãy còn sống, còn là người có ích cho cách mạng.

Không biết lát nữa gặp tôi, ông còn nhận ra tôi không, và ông có mừng không. Chớ tôi mà gặp tôi mừng lắm.

Anh thanh niên có tên gọi Hai Bình Toong đã ra đi. Anh lội qua suối đi ngang cánh rừng cháy trụi mà chiều hôm nọ tôi vượt qua. Tôi cũng sắp sửa đi với chị Tám.

Chị Mịn ở lại chòi, đợi chị Tám trở ra. Trời vừa sụp tối chị Tám dẫn tôi đi. Cơn sốt hãy còn làm tôi nhức đầu, chân bước không được vững như mọi bữa. Đi một lúc, chị Tám day lại nói:

- Sao em, có đuối lắm không? Đuối quá thì lên lưng chị cõng ... Không xa đâu, qua một cái trảng dầu nữa là tới thôi!

Tôi nghe chị Tám nói thì tức cười quá. Dẫu có mệt, tôi cũng ráng sức bươn theo, chi mà phải lên lưng cho chị cõng. Nhưng tôi biết chị nói thiệt, nếu tôi "ừ" một tiếng ắt chị cõng tôi đi thiệt đó. Tôi đáp:

- Không, em không đuối lắm đâu, em đi được mà!

Con đường xuyên qua rừng dày, bên dưới có nhiều gai mây và gai chà là. Nhưng tôi không bị vướng lần nào, vì chỗ nào cá gai ve ra là chị Tám đều báo trước. Hình như chỗ nào có gai chị đều biết cả. Đến như cái cây ngã ngáng ngang đường, chị cũng bước tránh qua một cách dễ dàng. Đang đi, tôi chợt nghe có tiếng con gì bươi đất rạo rạo bên đường. Chị Tám đứng lại nghe, nói với giọng tiếc rẻ:

- Không rảnh ở lại bắt con trúc này đem về ăn thịt.

Em nghe chưa, nó đương đào hang đó! Rồi chị lại đi tới. Giờ tôi mới hiểu ra phần nào cái tên Bà Chủ Rừng của chị Tám ... Có nghĩa là chị làm chủ rừng này, thuộc hết đường ngang ngõ tắt, trong rừng có thứ gì coi như đều nằm trong lòng bàn tay chị hết. Tôi nghĩ chắc là như vậy.

Ra khỏi rừng dày, con đường lên dốc xuống trũng và sáng ra. Đã có đồi lượn thoai thoải, những đồi nhấp nhô hiện ra trong đêm mờ như những cồn sóng. Trên đồi mọc đầy thứ cỏ trúc, dưới lũng trảng là rừng dầu đã rụng hết lá. Qua một mùa nắng, mọi cây dầu đều trơ trụi.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 07:52:45 am »

                                  Tiếp theo :


Xa xa sau những thân dầu, tôi thấy có ánh lửa. Chị Tám bảo đó là sóc Chùm-đuông. Lúc tôi và chị Tám đến nơi, cả sóc im lìm như ngủ. Những cái nhà sàn mái nhọn vót, thu mình đứng lặng, in xuống đất bóng bậc thang cao cao, bóng những trái bầu khô lủng lẳng dưới gậm sà

Tôi không nghe thấy tiếng động, nhưng lại ngửi thấy nhiều cái mùi chứng tỏ sóc chưa ngủ. Như mùi khói, mùi bò và phân bò nồng nặc. Tôi còn nghe sực lên mũi cỏ tươi đang bị vầu nghiến, do đó mà biết có nhiều con bò đang nhơi cỏ ngon lành trong bóng tối. Sóc Chùm-đuông buổi đầu đêm coi im lìm vậy mà chưa ngủ thiệt. Vẫn còn có tiếng đờn tre thánh thót, vẫn còn ánh lửa trên nhà sàn, và từ đó bay tới mùi thịt nướng, mùi lá bép ngầy ngậy bị nấu rục.

Thình lình trên một nhà sàn có tiếng Châu-ro quát hỏi xuống. Chị Tám trả lời cũng bằng thứ tiếng ấy. Trên nhà người vừa quát hỏi bỗng trở nên vui vẻ, lơ lớ bảo nhau bằng tiếng Kinh: "Chị Tám, chị Tám!". Tôi lại nghe chị Tám nói tiếp một tràng, khiến họ vui vẻ cười rộ. Chị Tám cũng cười, rồi phăm phăm đi sâu vào sóc.

Tới gần cuối sóc, chị dừng lại trước một cái nhà sàn, bảo tôi:

- Nhà ông Cổ đây!

Tôi hồi hộp ngước nhìn cái nhà sàn chênh vênh nhô nóc giữa những tàng mít lá ướt bóng như có thoa mỡ. Cái nhà có sân, có bậc thang, có ánh than hồng ràng rạng.

Đấy là cái nhà của ông Cổ. Chỉ riêng điều đó không thôi cũng đã đủ làm tim tôi đập mạnh. Ông Cổ giờ mà cũng có được cái nhà sao. Ông già Châu-ro tưởng đã hóa xà- niên ấy, ông già mà đã có lúc tôi mường tượng rồi chắc có ngày ông sẽ chết gục giữa bầy bò của Bảy Vàng ấy.

Chị Tám cất tiếng oang oang hỏi vọng lên:

- Ông Cổ ơi, ông Cổ có còn thức đó không?

- Ai đó, ai kêu tui?

- Tôi là Tám Mây đây. Ông Cổ ơi, có người quen đây nè!

Tiếp theo là tiếng chân bước lạch xạch, rồi tiếng thổi lửa phù phù. Chị Tám bước lên bậc thang, với tay kéo tôi lên. Tôi leo lên hết bậc thang chót thì bếp lửa ở giữa sàn nhà bùng cháy. Tôi ngó thấy một người đang ngồi xổm bên bếp, đun cái đầu củi lớn cho chụm vào, lưng day về phía tôi. Nhưng chỉ cần ngó cái bóng của người đó in lên vách, tôi cũng biết đó chính là ông Cổ. Khi ông vừa quay lại, tôi đã nhào tới phía ông, ôm lấy ông. Ông Cổ trong giây phút đột ngột, vẫn chưa tôi. Tôi la lên:

- Ông ơi, cháu là Quyết đây, cháu là thằng Quyết đây ông ơi! Ông già chưng hửng, ngó tôi mãi một lúc sau mới run run buột kêu:

- Trời ...

Đôi bàn tay ông cập rập, quờ quạng lưng tôi. Hai ông cháu tôi ôm lấy nhau ở giữa sàn nhà, giữa ánh lửa cháy sáng hơn trước. Chị Tám Mây nén nỗi xúc động, đứng cười nói:

- Đó tôi dắt thằng em đây tới cho ông đó, ông Cổ. Bây giờ tôi có công chuyện phải đi gấp, mai tôi về qua đón em nó đi. Nó vừa bỏ trốn khỏi nhà thằng Bảy Vàng, nhịn đói ba bữa nay, hồi chiều lại bị sốt. Ông Cổ coi có lá thuốc gì cho nó uống nghen!

Ông Cổ nhẹ buông tôi ra, lật đật đến bên chị Tám:

- Ủa, con Tám tính đi liền bây giờ sao. Khoan đã, đợi tao nấu cơm nếp ăn rồi hẵng đi mà!

- Thôi khỏi nấu ông Cổ à, để tôi đi cho kịp. Rồi mai tôi về ăn cơm nếp của ông Cổ, lo gì!

Chị Tám buộc thắt cái khăn rằn ngang đầu như thể đàn ông, chào ông Cổ lần nữa, thoăn thoắt nhảy xuống bậc thang.  (Hết chương 15 )
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #36 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 08:32:17 pm »

                                   
CHƯƠNG MƯỜI SÁU

Ngọn lửa giữa sàn nhà vẫn cháy bập bùng. Tôi chợt để ý thấy ngoài ông Cổ, trong góc sàn còn có một người nữa. Người ấy nãy giờ vẫn nằm ngủ, hai bàn chân rộng bè châu những ngón chân khô lớn về phía những cây củi đang cháy. ánh lửa tỏa sáng, chiếu rọi cho tôi thấy người đang nằm ngủ đó cũng là một ông già Châu-ro, có lẽ còn già hơn cả ông Cổ nhưng khỏe mạnh và vạm vỡ lạ thường. Ông già đó chỉ vận có mỗi chiếc khố, để lộ ra một thân hình trần trụi, to ngang, chắc nịch và nâu bóng.

Tôi ngó thoáng thấy một khuôn mặt vuông, râu bạc bó chặt cằm, một bờm tóc dày cũng bạc óng, xõa gần chấm mí đôi vai rộng như vai một con gấu. Lát lát, tôi lại đưa mắt nhìn về phía ông già đó, lấy làm kinh ngạc, vì tôi chưa từng gặp người Châu-ro nào có tướng mạo khác thường như vậy. Lạ thay, mọi tiếng động, tiếng nói cười và cả ánh lửa bừng sáng dường như không làm hề hấn gì đến giấc ngủ của ông. ổng vẫn ngủ ngon. Tiếng ngáy nghe như là tiếng cối xay lúa.

Ông Cổ nói:

- Ông Xà đó, ông Xà lớn tuổi lắm, lớn hơn tao tới trên ba chục tuổi. Đây nè, tuổi của ông Xà nè!

Ông Cổ trỏ cây cột cái giữa nhà. Tôi ngó thấy trên thân cột có không biết bao nhiêu vết dao khứa. Những vết dao đó khía dài từ dưới lên gần mút đầu cột. Giữa lúc tôi bỡ ngỡ chưa biết tại sao cây cột lại bị khứa khấc như vậy, thì ông Cổ bảo:

- ở đây bà con người ta không biết đếm đâu. Bà con tính tuổi theo mùa rẫy. Cứ một năm làm một mùa rẫy là tính một tuổi, khắc một cái khấc lên cây cột. Ông Xà năm nay đã một trăm lẻ ba tuổi. Tự tay ông đã làm gần một trăm mùa rẫy rồi đó!

Nghe ông Cổ nói, tôi lại ngoái dòm ông Xà, hết sức ngạc nhiên và thán phục. Tôi chăm chăm ngó cây cột cái, ước chừng nơi thân cột có tới cả trăm vết dao thiệt. Tôi không ngờ ở trong sóc Châu-ro rừng Hắc-dịch này lại có đời người dài quá là dài, mà người đó còn được mạnh khỏe đến như vậy.

- Quyết à, bữa tao ở ngoài Xà-bang về, nhờ có ông Xà chớ không thì chắc chết rồi. Về tới suối Châu-pha tao té xỉu ở đó. Thời may ông Xà đi đặt bẫy heo gặp, mới cõng tao về. Ông Xà là người trang lứa với cha tao hồi đó, nên ông thương tao lắm, biểu tao ở đây với ổng.

Mấy tháng liền, ông cho tao uống thứ thuốc củ gì đó đào tận rừng sâu, rồi cho tao uống rượu xương cọp. Lần hồi tao mạnh lại. Bây giờ tao khỏe rồi Quyết à, tao không chết nữa đâu!

Tiếng ông Cổ nói, tôi nghe từ tiếng của người chết đi vừa sống lại. Nghe là tiếng reo vui đó, mà hãy còn chút não ruột. Có điều là tôi nghe tiếng ông Cổ nay không giống như hồi ở nhà Bảy Vàng nữa. Cả bàn tay ông đang cầm tay tôi cũng chặt hơn, bàn tay có da thịt, nghe ấm chớ không khô lạnh như hồi trước. Chỉ sau hai năm trở lại sóc nơi nhau chôn rún cắt, ông Cổ bây giờ như sống lại. Tôi thấy ớ nơi ông có nhiều sự đổi khác. Như đôi mắt chẳng hạn. Cái lớp tro ngày trước bao giờ cũng che rợp đôi mắt ấy nay đã tan dần, mỏng vợi, cho nên đôi mắt sáng hơn, phấn chấn hơn. Như ở dáng dấp cử động của ông coi cũng mạnh dạn mau mắn chớ không run run cóm róm như hồi còn ở nhà

... Đêm nay, tôi lại nằm bên cạnh ông như ngày trước.

Nhưng không phải nằm trên bộ phản lạnh lẽo nhà Bảy Vàng mà là nằm trên sàn tre bóng, ấm ánh lửa. Tôi với ông Cổ trò chuyện tới khuya. Tôi kể cho ông Cổ nghe từ ngày ông đi, tôi ở lại buồn bã thế nào, rồi bị Bảy Vàng lén đánh ra sao. Ông Cổ nhổm dậy, đưa tay rờ rẫm mặt tôi coi những vết thẹo, nguyền rủa Bảy Vàng. Đó là điều lạ trước kia tôi không nghe ông chửi rủa Bảy Vàng lần nào. Ông Cổ háo hức kể cho tôi nghe nhiều chuyện từ khi ông trở lại sóc. Càng nói ông càng đâm ra hăng hái, lúc ông chợt nằm lúc lại chợt ngồi, hoa tay hoặc đẩy thêm củi vào bếp. Có những chuyện ông nói, tôi nghĩ rất ngạc nhiên, rồi từ chỗ ngạc nhiên tôi đâm ra mê mẩn đến nỗi hết biết buồn ngủ. Ông Cổ bảo tất cả các sóc Châu-ro đều là sóc giải phóng, nghĩa là khỏi có thằng Mỹ-Diệm nào vô đây được, hễ tụi nó vô là bị chết ở ngay ngoài rìa sóc chớ đừng nói đi luông tuồng như trước. Ông cho biết ở xung quanh đây đều có chông bẫy, có cái bẫy cần vọt có thể treo một đứa lơ lửng trên không như chơi, có cái bẫy phóng tám cây lao từ tám phía khó mà né khỏi. Ông Cổ nói sở dĩ hồi nãy tôi đi vô sóc dễ dàng là nhờ có chị Tám Mây, chớ không phải ai cũng đi vô được đâu.

- Vậy mà có lần - ông Cổ kể - Tụi Mỹ-Diệm ùa vô đại, mặc kệ chông bẫy. Ông xà bắn mấy mũi, giết chết và làm bị thương mấy tên. Trời ơi, thằng Quyết mày chưa được thấy cảnh đó đâu. Hết thẩy mọi cây ná trong sóc đều bắn. Tụi tao núp kín lắm. Thằng Mỹ-Diệm không ngó thấy ai hết. Tên bay vù vù. Thằng nào rủi ro bị tên thuốc thì té tại chỗ. Ông Xà đây tẩm tên thuốc giỏi lắm!

Tôi nhóng lên hỏi ông Cổ:

- Còn ông, ông có biết chế thứ thuốc đó không?

Tao cũng biết làm rồi, ông Xà chỉ cho tao làm. Cũng dễ thôi, mà phải chịu khó, phải kiếm cây cồng cộng, vạt lấy mủ ... Cây cồng cộng ở trong rừng sâu lắm ...

Nói tới đó, ông Cổ dừng lại. Một ánh lửa dọi lên khuôn mặt ông. Tôi không còn nhận ra cái vẻ nhẫn nhục thường có ngày trước trên khuôn mặt đó nữa. Tôi thấy ông Cổ khác, không phải là dữ tợn, nhưng không phải là một ông Cổ lúc nào cũng kiêng nhịn. Từ một ông già luôn cóm róm sợ sệt mới rồi ông nói với tôi những chuyện mà tôi không ngờ người nói chính là ông. Toàn là chuyện sóc Châu-ro của ông đánh giặc. Từ cái bẫy cò ke, cái bẫy phóng lao, cho tới những mũi tên làm độc. Một ông già hiền lành như ông Cổ mà nay còn cầm đi tầm các thứ mủ cây để chế ra thứ thuốc độc tẩm tên, thì tôi, tôi nghĩ sao đây? Tôi có sức khỏe, tôi phải giết lũ người độc ác ấy, phải xin lãnh một cây súng dữ dằn có thể bắn chết một lúc chừng cả chục, cả trăm tên giặc. Cây súng đó là cây súng gì tôi chỉ có nghe đại khái chớ cũng chưa biết, nhưng tôi ham muốn có một cây súng như vậy.

Chợt ông Cổ lại bảo:

- Mà điều mũi tên thuốc là chỉ đùng để giết con cọp, giết tụi Mỹ-Diệm. Còn như con nai con mễn thì mình chỉ dùng mũi tên thường. Con thú nào dữ phải trị bằng mũi tên dữ ... Quyết à, tao cho thằng Quyết mày hay, ông Xà đây còn có cây ná bắn voi nữa kia, mày chưa biết cây ná đó đâu!

Tôi nghe nói mà giựt mình. Thiệt là tôi chưa hề nghe có cây ná nào mà lại hạ nổi voi. Nên tôi lại nhổm dậy:

Trời đất, vậy cây ná đó lớn dữ lắm hả ông?

Lớn lắm. ở mấy sóc đây đâu có ai lên nổi cây ná đó. Hôm rồi có mấy anh bộ đội ghé chơi, thử lên ná mà không anh nào lên được. Anh nào cũng chỉ lên được hai phần giây ná là hết hơi, đành buông cho mũi tên rớt xuống đất. Chỉ có ông Xà mới lên nổi cây ná đó thôi. Để mai tao chỉ cho coi cây ná!

Tôi ngả mình nằm xuống sàn như cũ. Một lần nữa tôi thất kinh đưa mắt ngó về phía ông Xà đang nằm ngủ.

Ông già Châu-ro đã sống qua một trăm lẻ ba mùa rẫy đó vẫn cất tiếng ngáy ồ ồ. Ngọn lửa giữa sàn cháy le lói rồi tắt. Nhưng than vẫn đỏ hồng, ấm áp. Ông Cổ đưa tay sờ trán tôi:

- Mát rồi. Thôi cháu ngủ đi, khuya rồi. Mai tao nấu thuốc cho uống là hết dứt thôi!

Tôi cảm thấy trong người dễ chịu. Cơn sốt buổi chiều đã lui. Hình như cơn sốt đã rút lui kể từ lúc tôi bước lên ngôi nhà sàn này, hay nói cho đúng là kể từ lúc tôi gặp chị Tám Mây, gặp ông Cổ. Gặp ông Cổ, tôi vui quá, tôi được nghe nhiều chuyện lạ lùng hay ho quá. Tôi êm ái ngủ thiếp đi trong nỗi vui đó, khi ở phía dưới, bếp lửa vẫn cháy lặng lẽ tỏa hơi nóng ran vào gan bàn chân tôi, truyền hơi ấm khắp cả người tôi.

Trời vừa sáng, tôi tỉnh dậy đã thấy ông Cổ dậy trước tôi từ lâu. Ông đang lúi húi nấu một cái nồi gọ, bắc ngay trên đầu ba cây củi cháy hồi hôm. Từ nồi bay tỏa khắp sàn nhà một mùi thơm ngào ngạt giống như mùi chè.

Thấy tôi đã thức, ông Cổ vui vẻ nói:

- Cháu dậy đi, dậy ăn cái này!

Tôi ngồi dậy đi rửa mặt. Trở vào đã thấy ông Cổ nhấc nồi xuống, múc cho tôi một chén. Thì ra đó là một thứ chè nếp nấu sánh đặc, vàng tươi.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #37 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 08:36:04 pm »

                                 tiếp theo :


Tôi ngó khắp nơi không thấy ông Xà đâu. Ông Cổ bảo:

- Cháu ăn đi, tao nấu nếp với mật ong rồi hòa thuốc luôn trong đó. Ông Xà đi rừng rồi. Ông đi thăm bẫy, lát nữa ông về chắc thế nào cũng có thịt!

Tôi bưng chén chè lên húp. Miếng chè mật ong thấm vào đầu lưỡi tối vị ngọt hơi gắt, thứ vị ngọt của bông nhụy kết tụ qua con ong, qua ngày tháng. Còn vị thuốc thì tôi chỉ nghe thoảng mùi thơm của một giống ngải nào đó. Tôi ăn xong chén thứ nhất thấy cả người nóng ran.

Và khi ăn đến chén thứ hai thì mồ hôi toát ướt đầm lưng áo. Thế rồi, khi đặt chén xuống bỗng tôi thấy người la đà nghiêng ngửa như say rượu. Ông Cổ nhớm tới đỡ lấy tôi vừa cười vừa lau mồ hôi chảy tuông có giọt trên mặt trên cổ tôi. Ông nói:

- Thằng Quyết mày chịu thuốc rồi ... Thôi cứ nằm xuống nghỉ một chút là khỏi!

Tôi chỉ lơ mơ nghe tiếng ông Cổ nói. Rồi không nghe ông nói nữa. Sức mạnh của thuốc ngải làm cho tôi say lịm đi, dìu dặt, êm ả như một cơn buồn ngủ. Nhưng lát sau, tôi tỉnh dần, tỉnh dần. Cũng rất êm ả, tôi từ từ thoát khỏi cơn say đó và chừng nửa giò sau thì nhẹ nhõm cả người. Tôi lồm cồm định ngồi dậy, nhưng ông Cổ ngăn lại, bảo tôi cứ nằm thêm chút nữa. Tôi đành nằm xuống, bụng luôn nghĩ tới cây ná bắn voi của ông Xà. Tới chừng ông Cổ cho phép tôi ngồi lên, tôi rất khỏe khoắn, đi lại bình thường. Việc đầu tiên là tôi đòi ông Cổ chỉ cho tôi cây ná. Ông Cổ gật đầu, lẳng lặng kéo tay tôi đi xuống bậc thang.

Cây ná bắn voi của ông Xà gác dưới gầm sàn nhà. Mới thoạt nhìn thấy, tôi bàng hoàng đứng sững, trố mắt nhìn. Quả là tôi chưa được trông thấy một cây ná nào to lớn dường đó. Cây ná dài tới hai phần ba chiều dài của sàn nhà. Hệt như chủ, sắc gỗ thân ná nâu bóng, sẫm đậm, mới nhác trông đã thấy nó đòi sức lực, đòi gân cốt. Tôi đứng im, ngước nhìn cây ná lẫm liệt. Và cây ná dường như càng tỏ ra vẻ thách đố tôi. Đây là lần đầu tiên tôi đứng trước một sự thử thách lớn. Phải nói hồi còn ở nhà Bảy Vàng, tôi có tiếng là đứa khỏe, làm được những chuyện nặng có khi vượt quá sức mình, bơi tôi thích làm được cái gì hơi quá sức mình. Đã có lần hai con bò húc nhau, tôi len vào giữa nắm sừng hai con từ từ đẩy chúng ra. Sau khi nhìn kỹ cây ná, tôi chịu là cây ná lớn thiệt, ấy vậy mà bụng tôi vẫn chưa hoàn toàn nghĩ rằng tôi không thể lên cây ná đó được. Tôi rất muốn được tận mắt nhìn thấy ông Xà lên ná. Nên tôi hỏi ông Cổ:

- Ông Xà đi rừng chừng nào về hả ông? Cháu muốn được coi ông Xà lên cây ná này quá!

- Chắc ổng cũng gần về thôi. Được, khi nào ông về tao nói ổng lên ná cho mà coi. Tánh ông Xà dễ lắm, ổng hiền khô thôi.

Tôi nghe nói thì mừng rơn. Thế là từ đó trở đi tôi cứ ngong ngóng đợi ông Xà về. Leo lên sàn nhà rồi, lát sau tôi lại leo xuống, quẩn quanh không rời cây ná ra được. Lúc mặt trời tráng bóng những lá mít trước nhà thì ông Xà về tới. Ông già ấy sáng nay cũng chỉ đóng mỗi chiếc khố, từ ngoài rừng đi lụi đụi về tới sân và liệng xuống giữa sân một con heo rừng máu me ướt đầm lông gáy.

Tôi theo ông Cổ đến bên. Ông Xà nhìn tôi cười hịch hạc. Ông nói bằng tiếng Kinh nghe lơ lớ:

- Con heo nó chết rồi ... Cắn sợi giây bẫy treo chân không nổi, nó cắn bỏ cái chân. Cắn gần đứt rời cái chân ra rồi, tui tới đâm nó chết luôn ...

Giờ tôi mới chú ý ngó thấy một chân sau của con heo cũng dính đầy máu. Khúc chân đó lặc lìa, chỉ còn chút nữa là đứt hẳn. Con heo đã chết, nhưng coi nó vẫn còn đầy vẻ táo tợn. Lông nó mọc dựng đứng, hoe vàng, như màu nắng. Miệng nó sùi bọt hồng, cặp nanh nhọn hung dữ chìa ra như lúc cũng sẵn sàng chém sả vào kẻ địch. Thú thiệt, tôi đâm nể con heo, mặc dù nó đã chết. Nhưng bởi vì trước đó nó dám có gan vượt chết, liều cắn bỏ lại một chân. Rủi cho nó là ông Xà tới sớm, chớ nếu không thì nó đã thoát. Dẫu còn có ba chân, nó vẫn sống, vẫn được tự do xông xổ nơi rừng bụi.

Ông Cổ lên tiếng:

- Ông Xà ơi, thằng cháu nó muốn được coi ông lên cây ná lắm đó. Lát nữa ông Xà lên ná cho nó coi nghe!

Ông Xà phóng cây mác cắm phập xuống đất, cười khà. Tiếng cười của ông nghe hồn nhiên lạ nghe như tiếng cười của một đứa trẻ. Ông hỏi:

- Thằng cháu hết bịnh chưa, có uống thuốc chưa?

- Nó uống rồi, nó khỏe lại rồi! Ông Cổ đáp thay tôi.

Đâu như hồi khuya, truớc lúc đí rừng, ông Xà đã có nghe ông Cổ kể chuyện về tôi nên bây giờ ông Xà chẳng tỏ vẻ gì ngạc nhiên trước sự có mặt của tôi cả. Sau khi hỏi vậy rồi, ông Xà đứng xuôi hai tay, ngắm nghía dòm tôi từ đầu tới chân. Coi bộ ông có vẻ vừa ý với tướng mạo tôi. Mắt ông sáng rực, hồ hởi, rồi bỗng ông bước thình thịch tới trước mặt tôi, vỗ bập đôi bàn tay rộng bè lên vai tôi lắc mạnh và bật cười kha kha:

- Nghe thằng cháu tính đi bộ đội phải không? Tốt, tốt, đi đi. Bộ thằng cháu mày ưng cây ná của tao lắm hả. Nhắm vác nổi đem theo thì tao cho đó, vác đi mà bắn thằng Mỹ-Diệm. Muốn coi tao lên cây ná à, được được ...

Vẫn với bước chân đùi đụi, ông Xà mau mắn đi vô sàn nhà. Lịch kịch một lúc, ông vác cây ná khổng lồ đó ra giữa sân, với một ống tên dài có tới một sải tay đeo nơi lưng. Chẳng nói năng lâu lắc, ông già một trăm lẻ ba tuổi thọ ấy từ từ ngồi rùn xuống, duỗi chân trái ra.

Trong cái động tác ngồi hơi khom khom, ông đã đồng thời với tay qua vai mà rút tên. Cánh ná khổng lồ gá mũi tên dài vút ấy bắt đầu bị uốn cong một cách dễ sợ. Cánh tay phải ông Xà kéo giương sợi giây sắt bện đôi, bắp thịt tay nổi cuồn cuộn. Suốt từ lúc đó, tôi thấy ông không thở một hơi nào. Chòm râu bạc của ông vểnh dựng dậy. Tôi có cảm tưởng râu của ông Xà bây giờ sợi nào cũng cứng như thép. Khi tôi nghe ông thở một cái khiến bờm râu rung rung thì cũng là lúc ông đã lên cây ná tới mức. Tôi nghe một tiếng "rắc". Mũi tên đã được cài xong.(Hết chương 16 )
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #38 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 10:52:45 pm »

                               
     CHƯƠNG MƯỜI BẢY

Rõ là chị Tám Mây có ý muốn giữ tôi ở lại công tác nơi trạm giao liên của chị. Trưa ngày hôm ấy, sau khi ghé đón tôi ở nhà ông Cổ, dọc đường về trạm, chị rủ rỉ nói với tôi:

- Quyết à, hay là em ở lại đây với chị đi em?

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Em ở lại để làm gì?

- Để đi giao liên. Trạm của chị thiếu người quá. Một ngày phải đi năm ba mối đường, mà người thì không có.

Tôi kêu lên :

- Em không biết đi giao liên đâu, em không biết chữ làm sao coi thơ từ được!

Chị Tám choàng vai tôi nhỏ nhẹ bảo:

- Đi giao liên không khó đâu. Ăn thua là có chịu đựng được cực khổ với lại có gan hay không. Hễ không sợ cực, không sơ giặc thì đi giao liên được. Còn như em nói là em dốt không biết chữ, vụ đó cũng có trở ngại chút đỉnh, nhưng chẳng sao. Hễ dốt thì phải học, anh em trong trạm sẽ dạy cho, chớ đi làm cách mạng mà dốt thì hẻo lắm, mắc cỡ chịu gì thấu, nhất hạng là với mấy đứa con gái.

Tôi nghe chị Tám nói thì nín thinh. Mặc dù lúc ấy tôi những muốn nói lớn với chị Tám rằng tôi không có nhát đâu, với lại sự dãi nắng dầm mưa đối với tôi là sự thường rồi. Từ lâu tôi cực khổ nhiều rồi. Duy có điều chị Tám bảo tôi dốt là làm cho tôi thấm đau tới trào nước mắt.

Tôi không giận chị đâu, tôi chỉ tủi thân. Tôi những muốn nói với chị rằng khi tôi tới tuổi đi học thì tôi bị lùa chung với người lớn đi tố cộng đêm ngày, và thay vì dựng lên trường học người ta chở máy chém tới. Còn sau lúc cha tôi bị chúng nó mổ bụng, má tôi bị đâm chết thì tôi đi ở đợ cho tới bây giờ. Làm sao mà tôi lại không dốt cho được. Về chuyện chị Tám muốn tôi ở lại trạm, thiệt tình tôi không thích lắm. Là vì tôi bỏ đi vô đây cốt chỉ muốn được cầm súng. Nên lát sau, tôi nói nho nhỏ giọng như nài nỉ:

- Chị Tám ơi, em đi bộ đội thôi ... Em muốn đi bộ đội!

Đến lượt chị Tám lặng im. Chị nhìn tôi muốn nói gì rồi lại thôi. Tôi cảm thấy chị nhìn những vết sẹo trên mặt tôi. Có lẽ chị hiểu được quyết tâm của tôi. Nếu không quyết tâm đi bộ đội sao tôi dám lội suốt một ngày đường tới nơi này. Nếu không quyết tâm sao tôi dám chạy qua quãng rừng cháy, đến bỏng cả chân và trọn ba ngày liền nán đợi ở chòi. Tôi tưởng chị Tám sẽ thay đổi ý định. Nhưng không, lần này chính tiếng nói của chị đã bắt tôi phải suy nghĩ, đó là tiếng nói của một người từng sống chết cho những con đường.

- Em muốn được trực tiếp cầm súng đánh giặc chớ gì? Em ơi, làm cái nghề giao liên này cũng phải nổ súng với tụi nó liền liền đó em à. Nè, em có nhớ cái anh giao liên đi vo gạo nấu cháo cho em hồi chiều hôm qua không?

- Anh Hai Bình Toong?

- Ờ, Hai Bình Toong. Bị thương rồi. Không dấu em làm chi, đêm qua chị cùng Hai Bình Toong và cô Mịn qua lộ. Lượt đi không sao, lượt về đụng mìn tụi nó gài. Hai Bình Toong đi trước, bị thương bụng khá nặng. Cô Mịn phải lo đưa Hai Bình Toong vô quân y, rồi ở lại đó coi sóc ... Nên chị mới về có một mình.

- Trời, vậy hả chị?

- Ờ!

- Vậy mà em cứ ngỡ ...

- Em ngỡ sao. Đó, em thấy không. Giặc bây giờ ở đâu cũng có, chạm mặt với tụi nó hoài hoài thôi. Em nghĩ là ở bộ đội mới có giặc để đánh à. Không, ở đâu cũng có giặc để đánh hết. Cái gì chớ vụ đó em đừng lo. Sở dĩ chị muốn em ở lại trạm chị công tác mà không cần hỏi han chi là vì chị tin em. Vả lại, như chị đã nói, trạm thiếu người quá. Đó, mới đó mà trước mắt kẹt hết hai người rồi. Một thành hai ...

Sự việc chị Tám Mây vừa kể tác động rất mạnh tới tôi. Tôi không dè con đường giao liên lại quyết liệt đến như vậy. Chị Tám thiệt kín tiếng. Về gặp tôi ở nhà ông Cổ chị vẫn thản nhiên như không có gì xảy ra. Khi tôi hỏi hai người kia đâu thì chị bảo là còn mắc công chuyện sẽ về sau. Hóa ra anh Hai Bình Toong đã đổ máu trên đường. Nghe cái tin đó, đầu tôi nóng ran và bỗng dưng sốt ruột chịu không nổi. Nghĩ tới anh Hai Bình Toong, tôi thắc mắc:

- Sao lại kêu ảnh là Hai Bình Toong vậy chị Tám? Bộ ảnh nhậu dữ lắm hả?

- Không. Chú thứ Hai tên Bình thôi. Ngặt Hai Bình đi giao liên chuyến nào cũng không đem bình-toong nước theo, toàn uống nước của mấy đứa con gái, nên tụi nó đặt Hai Bình Toong để cho Hai Bình nhớ đem bình-toong nước theo.

- Nhắm anh Hai Bình Toong có sao không chị Tám?

- Cũng chưa biết chị hy vọng Hai Bình Toong không chết. Trên quân y có một anh bác sĩ mới về. Anh này rất giỏi, hôm trước đã mổ cho một chiến sĩ bị đạn bắn lủng ruột, khâu tới năm sáu chỗ. Anh chiến sĩ sống, trở về đơn vị chiến đấu như thường!

Suốt dọc đường, tôi cứ suy nghĩ mãi những lời chị Tám vừa nói về công tác giao liên, lại thấy rõ ràng trước mắt trạm thiếu người. Cho nên lúc gần về tới trạm, tôi nói khẽ:

- Chị Tám à.

- Cái gì?

- Được rồi, em nhận lời chị, em đi giao liên. Nhưng em đi giao liên một thời gian rồi chị cho em đi bộ đội được không?

Chị Tám hồ hởi:

- Vậy thì tốt lắm. Được rồi, về công tác ở trạm chị một thời gian rồi chị sẽ giới thiệu cho em đi bộ đội. Hứa chắc với em mà!

Đi một đỗi nữa, chị Tám trỏ cụm rừng trước mặt nói:

- Tới rồi!

Tôi ngó thấy một ngả rẽ bít bùng đủ một người đi lọt. Trên cái lối nhỏ hẹp đó có những cây rừng gác lên các cọc cắm như cầu bắc trên cạn. Chị Tám bảo tôi đi lên cây cầu đó. Chị dặn:

- Từ rày em nhớ đừng có lội đi ở dưới nghen. Đây là ngõ vô trong trạm, ở dưới có chông ngầm. Sở dĩ mình phải bắc cây để đi là vì vậy. Khi có giặc càn vô, mình rút bỏ cây. Lối đi không có dấu vết, giặc nó không biết.

Những thân cây gác thành cây cầu đó cứ nối nhau chạy đài tít tắp. Cho tới khi đi mút hết cây cầu đó, tôi ngó thấy nhà. Một mái nhà sàn rất lạ. Hầu như mọi thứ đều làm bằng tre, từ cột kèo, sàn nhà cho tới mái. Cái mái không lợp lá mà lại lợp toàn bằng những thân tre chẻ đôi, xếp chồng lên nhau thẳng tắp. Tôi láng máng nhớ hình như tôi có thấy một mái nhà lợp tre như vậy, nhưng chẳng nhớ ra ở đâu. (Không, tôi chưa gặp ở đâu cả mà là nghe ông Cổ kể lúc cha ông cõng ông vô rừng có lợp một mái nhà kiểu đó).

Tôi đang còn ngơ ngác dòm cái nhà thì chị Tám cất tiếng gọi

- Ê bà con nhà mình đâu hết rồi, bữa nay có lính mới về đây nè!

Tức thời sau đó có tiếng la dậy lên:

- Úi, chị Tám về rồi tụi bây ơi!

Ba bốn nam nữ thanh niên từ trong nhà túa ra. Họ lăng xăng đón mừng chị Tám về, và để ý dòm ngó tôi. Một chị mắt long lanh đầy vẻ tinh nghịch dòm tôi, rúc rích cười nói:

- Cha, đồng chí tân binh này ngó bộ cao quá hé, đây rồi dắu khách đi ào ào khách theo không kịp kêu trời như bộng cho coi!

Mọi người cười rộ lên. Tôi mắc cỡ đứng lựng xựng không biết bấu rớ vào đâu. May có chị Tám nạt vùa cô gái:

- Cái con nhỏ này, em nó mới tới chưa chi đã ...

Rồi nắm tay tôi chị kéo tôi lên sàn nhà. Chợt có ai đó lên tiếng hỏi:

- ủa, Hai Bình Toong với út Mịn chưa về tới à?

Chị Tám không đáp, lặng lẽ tháo cái xanh-tuya lựu đạn ở lưng ra. Cởi chiếc bồng ra khỏi vai đặt xuống sàn đàng hoàng, rồi chị mới nói:

- Đường 15 găng quá. Hai Bình Toong bị thương rồi, qua lộ trúng mìn. Cũng khá nặng, út Mịn nó phải theo vô quân y săn sóc. Găng thiệt, lóng rày cứ hở mối đường một chút là tụi nó gài bẫy mình rồi!

Báo xong cái tin đó, chị Tám vỗ vai tôi:

- Có tin buồn, nhưng cũng có tin mừng. Tôi xin giới thiệu đây là em Quyết, vừa ở ngoài Xà-bang vô. Em Quyết tính đi bộ đội, nhưng thấy trạm mình hẻo người, em ở lại trạm công tác. Em ở đợ cho người ta, bị đánh đập bỏ trốn vô tới suối Châu-pha nằm nhịn đói ba bốn bữa đợi bộ đội, rồi lại bị sốt. Tôi phân công em nhập vô tiểu đội của Ba Lúa, nhưng đề nghị cho em nghỉ ít hôm cho khỏe rồi hẵng giao công tác.

- Ba Lúa đâu, ra lãnh lính!

- Có

Anh Ba Lúa bước ra, cười khì khì nắm tay tôi. Anh trạc hơn ba mươi, hơi lùn mà chắc. Có lẽ anh là người lớn tuổi nhất sau chị Tám Mây. Ngó anh, tôi biết anh là dân ruộng. Anh nhìn tôi, nháy mắt:

- Đi liền theo tôi về chỗ ở, chú em nó!

Từ buổi chiều ấy, tôi bước vào một cuộc sống hoàn toàn mới. Ăn cơm cả trạm hai chục người cùng ăn. Nghe đọc tin, cả trạm cùng nghe. Tôi có phần bỡ ngỡ, ngượng nghịu nhưng đồng thời lại vui, vì cái trạm giữa rừng này coi vậy mà chẳng có lúc nào buồn cả, chẳng có lúc nào tôi cảm thấy lủi thủi đơn độc như hồi ở với Bảy Vàng cả. Tối đó, tôi ngủ trên vạt tre, cạnh anh Ba Lúa. Anh nói chuyện nghe vui lắm, nghe phát cười nôn ruột. Lần hồi đôi ba bữa, tôi mới hay anh không phải là dân ruộng mà lại là cu-ly vác gạo ở nhà máy xay. Quen rồi, anh nói chuyện với tôi xưng tao nhưng lại gọi tôi bằng em. Anh nói anh đi tham gia cách mạng bắt đầu từ một cuộc dụ dỗ:

- Ở xóm nhà máy tao vác gạo, có một thằng công an răng bạc nó tính dụ tao chớ. Biết nhà tao ở sát vùng giải phóng mình, nó biểu tao hễ tối nào thấy có bộ đội đóng trong xóm thì tức thời dông ra báo cho nó biết.

Vừa nói nó vừa móc bóp xỉa luôn cho tao một ngàn. Tao cầm một ngàn của nó, giả đò sợ sệt, rồi hứa sẽ làm theo lời nó dặn. Tao về gặp mấy anh an ninh giải phóng, kể đầu đuôi cho mấy ảnh nghe và giao số tiền một ngàn nói trên. Mấy bữa sau thằng công an gặp tao đang vác gạo từ nhà máy xuống bến, nó nhe răng cười hỏi tao có tin túc gì chưa. Tao nói có, có bộ đội về, mà họ rút đi liền rồi. Thằng công an hậm hực tiếc rẻ, xây qua chửi tao: "Đ. mẹ, tao đã dặn, hễ có tụi nó về là phải tức tốc ra báo tao ngay. Mày ngu quá, lần sau nhớ đừng có chậm trễ nghe. Mầy phải ráng mần có kết quả một cú thì tao mới tin, mới báo cáo lên trên xin thưởng số tiền lớn cho mầy được. Còn nếu mày cứ làm trậm trầy trậm trật hoặc phản phé thì a-lê, cái này không có giỡn với mày đâu!". Nói tới đó, nó kéo vạt áo xá xẩu lên đủ cho tôi vừa ngó thấy cây ru-lô úyt-xông 1 lòng ngắn treo trong nách.

Lẽ ra theo kế hoạch đã tính với các anh mình thì sẽ chờ dịp gài tụi nó vô bẫy, ngặt vì cái thằng công an răng bạc làm phách chó đó làm tao nóng mũi. Mấy bữa sau tao lận một cây búa thợ trong lưng, kiếm nó giả bộ rủ nó ra chỗ vẳng để báo tin và bàn bạc. Nó mắc lừa, khoái chí đi riết theo tao ra cầu sắt. Dòm trước ngó sau không thấy ai, tao rút búa la: "mẹ, có tin cho mầy đây nè!'' rồi đánh một búa thiệt mạnh vô óc o nó. Nó té nhào, dãy tê tê như một con cá lóc bị đập đầu. Tao tốc áo nó, chộp cây Uýt-xông bươn luôn.

Tôi khoái quá, hỏi anh Ba Lúa:

- Thằng công an đó chết luôn hả anh?

- Tao cũng không biết nó sống hay chết. Coi như chết. Thằng Quyết em tính, tao nện búa đó thẳng tay mà. Nói giả dụ như thằng đó còn sống chắc nó cũng khùng luôn.

Tôi nghe sướng rơn, cười vang.

Mấy hôm sau, thấy trong người khỏe rồi, tôi xin anh Ba Lúa giao công tác. Anh hỏi tôi:

- Sao, em nhắm bề dắt khách đi được không. Đi con đường chị Tám Mây đi hôm trước đó. Phải qua lộ 15 đó giặc thường hay kích lắm. Chỗ Hai Bình Toong bị thương đó!

- Anh Ba cứ giao, em đi được. Miễn là cho em lãnh kha khá lựu đạn một chút để đụng trận em đánh đậm tay một chút!

- Em muốn lãnh mấy trái?

- Bảy trái - Tôi đáp không do dự: - Mà cho em ra rừng liệng thử một trái!

Anh Ba Lúa cười:

- Bảy trái thì nhiều quá. Cho em hai trái thôi, nhưng sẽ giao em thêm cây súng, được không?

Được chớ, vậy thì được. Mà anh cho em thử ít phát!

- Ừ, cho em bắn thử vài ba phát, còn lựu đạn thì không được thử. Lựu đạn hẻo lắm, chỉ để thử với giặc thôi. Lát nữa tao giao súng rồi tao chỉ cho.
Logged
vmt
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 959



« Trả lời #39 vào lúc: 23 Tháng Tư, 2011, 10:56:10 pm »

                          Tiếp :

Anh Ba Lúa giao cho tôi một khẩu Mi-tuyn, và dắt tôi ra ngoài trảng. Đầu tiên anh chỉ cho tôi cách tháo lắp rồi cách ngắm bắn. Trong phút chốc, tôi đã tháo ra lắp vào được. Tôi cũng biết qua cách ngắm bắn, nghĩa là nhắm mắt trái nhìn qua lỗ chiếu môn, còn các tư thế đứng bắn, quỳ bắn, nằm bắn thì tôi bảo với anh Ba Lúa rằng không cần. Anh Ba Lúa ngạc nhiên ngó tôi. Tôi nói mấy vụ đó tôi sẽ tính khi gặp giặc, chớ bây giờ tập sẵn nó gò bó quá. Anh Ba Lúa vốn dễ tính, nên nói cũng được. Thấy mày  theo khá nhậm lẹ, ảnh nghi tôi đã biết bắn súng, hỏi bộ trước đây tôi có bắn súng rồi sao. Tôi lắc đầu nói không. Kỳ thiệt là do tôi học mau. Làm như là tôi có duyên nợ với cây súng từ lâu rồi. Tôi cầm khẩu Mi-tuyn gọn hơ, nhẹ nhàng, không tốn sức gì hết. Anh Ba Lúa nói:

- Thằng em mày khá. Tao coi bộ em có hoa tay cầm súng lắm. Nhưng còn phải bắn khá mới được. Bây giờ chuẩn bị bắn thiệt, nhớ kỹ tao dặn cái này. Bữa nay tiêu chuẩn em được xài có ba viên đạn, riêng tao cho thêm em ba viên nữa là sáu. Với sáu viên đạn đó, em phải bắn sao thành hai loạt ngắn. Nghĩa là phải cắt chia ra làm hai lần chớ không được nhấn hết một lần. Bắn chia ra từng loạt ngắn mới giỏi, chớ đẩy hết ra-phan là coi như dở nghe không. Kỳ thực là ở chỗ đó đó em!

Anh Ba Lúa định dùng chữ kỹ thưật, nhưng lại nói sai đi.

Sau khi chọn một gốc cây dầu ở giữa trảng làm bia, anh cầm khẩu súng đặt ngón tay trỏ vào cò súng, dặn tiếp:

- Ăn thua là ngón tay mình phải bóp và thả cò thiệt lẹ, có vậy mới chia được loạt đạn ra. Trước khi bắn, em bóp cò thử tao coi.

Tôi đặt ngón tay trỏ vào cò súng, bóp và thả ra nhạy lia. Anh Ba Lúa khen được, bảo tôi chuẩn bị bắn đạn thiệt. Tôi chỉ đợi có lúc đó, cầm lấy súng nhằm mục tiêu trên thân cây dầu bắn luôn hai loạt ngắn. Anh Ba Lúa chạy tới cây dầu coi rồi la lớn:

- Ngon lành, thằng em mầy bắn ngon lành lắm!

Tôi cũng ngó thấy trên thân cây dầu, sáu viên đạn tôi bắn rất gom, để lại sáu vết chúm thụm vào nhau.

Sau buổi tập bắn đó, tôi trở nên mạnh dạn hơn. Các anh chị trong trạm cũng thôi không đem cặp giò cao như sếu của tôi ra đùa ghẹo nữa. Mặc dù vậy, cái tên Quyết giò đã thành danh.

Tôi được giao nhiệm vụ đi thư cho các cơ quan thuộc tỉnh ủy đóng ở vùng lân cận. Trở ngại đầu tiên mà tôi gặp phải là không đọc được các địa chỉ trên bao thư. Chị Tám Mây cũng không biết tính sao, vì bước đầu chỉ chưa muốn giao tôi dắt khách cán bộ. Sau đó, chị Tám Mây mầy mò tìm ra một cái cách ngộ nghĩnh để giúp tôi có thể đem thư đi được. Thư nào gởi cho chú Tám Ban Quân sự thì chị chiếu theo biệt danh của chú là Tám Đầu Rìu, vẽ lên bao thư hình một lưỡi rìu. Thơ nào gởi bác Tư Hậu cần có biệt danh là Tư Cá thì vẽ lên bao thư hình một con cá. Thím Ba Thu ở Hội phụ nữ có tên là chị Ba Đu Đủ thì vẽ trái đu đủ. Nói tóm lại, chị Tám Mây chế ra sáng kiến giúp tôi đi giao thư. Ai đời nhè ông Chín Bí thư Tỉnh ủy mà chị lại đặt tên ông Vua, bị ông Chín la cho một trận, về sau đôi lại thành ông Chín Thợ.

Nhưng đi thư theo kiểu đó cũng là đi tạm vậy thôi, chớ tôi phải học chữ. Tôi đi thư cách một bữa, nên bữa nghỉ, tôi ở nhà học. Mấy anh mấy chị dạy cho tôi học riết. Họ hạ quyết tâm dạy cho tôi biết đọc biết viết trong thời gian ngắn nhứt, vì để trong trạm còn có người dốt thì kỳ cục quá. Đâu chừng một tháng, tôi đã ráp vần đọc được.

Tới khi tôi đọc kha khá thì do thiếu người tôi được phân công sang tổ đưa khách. Tôi thấy nhiệm vụ đưa khách đi công tác là một nhiệm vụ rất quan trọng, nên hết sức cố gắng. Cứ đưa tốp khách từ trạm mình đi tới nửa đường thì đổi trực, đón khách của trạm khác dắt sang. Đường đi rất gian nan. Phải đưa dẫn khách qua lộ, qua sông, qua trảng. Bất cứ lúc nào cũng có thể gặp giặc phục kích. Tôi luôn đi trước, súng lên đạn cầm sẵn. Có quãng vượt qua, lựu đạn phải mở sẵn chốt. Với giặc là thế, mà với khách cũng không phải dễ. Cả đoàn mấy chục người cùng đi với nhau, mỗi người mỗi tánh, có người quá sức chủ quan, qua trảng trống không thèm ngụy trang. Có người dắt đi đường dài hoặc lầy lội, cực quá nổi nóng. Tôi thường im lặng khi họ nổi nóng, vì tôi biết chỉ sau đó một chốc tới chỗ đổi trực là họ vui vẻ lại ngay. Tuy vậy tôi rất nghiêm. Bao giờ trước khi dẫn khách xuất phát, tôi cũng tập họp kiểm danh kiểm số, coi từng người có đem đủ gạo ăn nước uống theo không. Bình-toong của khách nào chưa có nước, tôi dứt khoát bắt trở vô trạm lấy nước. Chừng nào lấy xong, tôi mới dẫn cả đoàn đi. Kinh nghịệm nhiều chuyến cho tôi thấy chỉ vì thiếu nước uống, khách cũng dễ càu nhàu nổi nóng.

Lần đầu tiên tôi lập được thành tích là lần ban ngày tôi dẫn một đoàn khách băng qua trảng trống. Lúc ra tới trảng, thình lình có một chiếc "đầm già" bay tới. Tui hô anh em chạy vào rừng, còn tôi chĩa súng bắn con "đầm già". Con đầm già bị tôi bắn, nổi khùng siết lấy tôi nhằm vào tôi mà phóng hỏa tiễn "cảo ... đùng". Nhưng mỗi trái hỏa tiễn phóng xuống, tôi đều nhanh chân chạy trớ, né khỏi hết. Phóng tới trái thứ sáu, con đầm già còn giả bộ cắm xuống phóng nữa. Tôi thừa biết nó hù dọa, chớ kỳ thiệt nó đã cạn túi. Hồi bấy giờ, theo sự phổ biến của anh Ba Lúa, thì mỗi con đầm già chắc chắn chỉ đem được có sáu trái hỏa tiễn mà thôi. Cho nên tôi vững tâm đợi nó cắm xuống thiệt thấp. Khi ngó thấy thằng Mỹ ngồi rõ ràng trên buồng lái, tôi nhè ngay đầu nó mà bắn hết trọn băng đạn. Con đầm già rú qua đầu tôi, cắm xuống trảng, bốc cháy, cách chỗ tôi đứng chừng năm công đất. Tôi không ngờ nó rớt dễ dàng, mau lẹ như vậy. Trong băng đạn tôi bắn lên có lẽ chỉ còn bảy tám viên đạn. Thế mà nguyên một con đầm già rớt nằm một đống, bốc cháy ngùn ngụt. Nói cho đúng, là do tôi bắn trúng ngay giữa đầu thằng giặc lái Mỹ. Việc này tôi xác minh được sau khi đoàn khách ở mí rừng túa trở ra trảng, phụ sức cùng tôi kéo xác tên Mỹ xuống. Tên Mỹ chết nầy chỉ mới bị cháy xém. Tôi lấy được của nó một khẩu ru-lô Uýt-xông, một cái bóp gồm nhiều tiền ngụy, đô la đỏ 2 và một xấp ảnh gái Mỹ ở truồng. Mấy anh trong đoàn khách hoan hô tôi, xúm lại khiêng tôi vô mí rừng, hò reo vang dậy. Mấy anh nói bữa nay tưởng bị thua lỗ hóa ra lời to. Mà thiệt, chúng tôi không bị trầy một chút da, mà cả một con đầm già và thằng Mỹ lái phải bỏ thây.

Ngày hôm đó, tôi còn được kiệu lên vai hai lần nữa. Một lần ở chỗ dổi trực, và một lần lúc trở về trạm. Tôi được cấp giấy chứng nhận dũng sĩ hạ máy bay. Có tin đồn sau đó máy bay trinh sát L19 tức con đầm già võ trang thêm tới chín trái hỏa tiễn là do vụ tôi bắn rớt nó. Tôi nghĩ chắc không phải do một mình tôi, mà do nhiều người biết rõ vốn liếng của nó và đã xử trí nó giống như tôi. Có người không bắn rớt nó, nhưng lại bắn lủng cánh, khiến nó hoảng quá bỏ chạy. ở vùng tôi, có một con đầm già mang một bên cánh lủng to bằng cái rổ bay rà rê hoài mà không chịu vá lại. Mỗi lần bắt gặp con đầm già tàn tật đó, chúng tôi cười rùm la lên: "Ê, có đầm già lủng cánh tới nghe!". Chúng tôi cũng thường hay vui cười chế nhạo nó mỗi khi gặp nó trên đường giao liên "Thôi, lo về vá cánh lại đi!".

Cuộc đời ở trạm, ở trên những chặng đường thiệt không phải phẳng lì như tôi tưởng. Không phải khi nào trạm cũng đủ gạo ăn. Có khi mấy tháng liền phải ăn toàn củ mì. Chúng tôi dắt khách đi suốt ngày mà chỉ lận theo mấy củ mì ăn đường. Cũng có lúc ăn thịt thừa mứa, ấy là lúc bắn được nai, mễn và đôi khi hạ được cả bò rừng và voi. Bắn hạ được voi, chính tôi thông báo cho các trạm bạn các cơ quan tự do tới xả thịt đem về. Thịt voi ăn không ngon lắm, nhưng nó nhiều ê hề, ăn không hết thì đem phơi khô để dành. Ở trong trạm rừng, chúng tôi thường gặp lúc no thì no dồn, đói thì đói góp. Anh em trong trạm là một cái tập thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đói cùng đói no cùng no, sống chết có nhau. Chúng tôi bị sốt rét hành hạ riết rồi quen đi, vừa cất cơn sốt lại choàng dậy đi dẫn khách, có khi dẫn khách mà mình lại lên cơn sốt phải vừa run vừa đi.

Tôi đọc thạo viết thạo là nhờ thời gian ở trạm. Chi đoàn Thanh niên Nhân dâ đã tổ chức kết nạp tôi vào đoàn sau một chuyến đi công tác với anh Ba Lúa và kể từ đó tôi mất hẳn anh. Tôi vẫn thường đi với anh Ba Lúa nhiều chuyến, nhưng không chuyến nào gặp phải tình huống gay go như chuyến đó. Buổi chiều sau khi giao số khách mười bảy người cho trạm bạn, tôi với anh Ba Lúa quay về. Tới khuya, tôi và anh lọt vào ổ phục kích của giặc. Chúng nổ súng. Ngay ở loạt đạn đầu, anh Ba Lúa bị đạn xuyên qua lưng, cái bộ lưng nở nang của anh mà tôi biết rõ là trên đó đã chất lên không biết bao nhiêu bao gạo vác mướn. Giữa lúc đạn giặc bắn như mưa, anh Ba Lúa phều phào:

- Anh không sống đâu, bỏ anh chạy đi!

Nhưng tôi không bỏ anh. Cõng xốc anh lên vai, tôi bắn mở đường máu. Trong đêm tối, nghe có thằng giặc kêu rú. Chúng rượt theo tôi rất sát, nhưng nhờ tôi bỏ lựu đạn ngược lại phía sau nổ đùng đùng cản bước tiến của chúng mà tôi chạy thoát. Lát sau anh Ba Lúa gục đầu vào vai tôi. Gọi mãi không nghe anh nói gì nữa. Biết anh đã chết, tôi khóc ròng và cõng xác anh đi suốt đêm.

Thiệt ra tôi cũng có thể đặt anh dựa tạm nơi gốc cây nào đó để về trạm báo tin, nhưng tôi không làm như vậy. ở rừng chúng tôi có nhiều mối và kiến bù nhọt. Loại mối và kiến nầy có thể ăn sạch một con chồn lớn khi con chồn bị bẫy rập chết cách đêm. Tôi muốn thi thể anh Ba Lúa phải còn nguyên, nên mặc dù rất đuối sức, tôi cũng ráng cõng anh đi. Khi mệt quá, tôi dừng lại đặt anh nằm xuống cỏ, nghỉ một chốc rồi lại đi tiếp. Tới rạng sáng mới về tới trạm. Đứng vịn vào cổng trạm tôi gọi lớn, các anh chị vừa ra tới thì tôi cũng vừa khuỵu xuống, xỉu đi.

Đó là lần sau cùng tôi gặp nguy hiểm trên đường dây. Sau khi anh Ba Lúa hy sinh, tôi buồn nhớ anh hoài. Đêm đến, ngủ trên sàn tre mọi bữa vẫn có anh Ba Lúa nằm cạnh, tôi cứ chảy nước mắt. Nhưng cũng không phải vì cái chết của anh Ba Lúa mà tôi xin rời khỏi trạm giao liên. Tôi xin rời trạm để đi bộ đội là vì một lý do khác.

Một hôm tôi cùng chị Út Mịn đi công tác. Sáng sớm chúng tôi đi ngang qua ấp Long-tịnh thì ấp còn nguyên, tới chiều về ngang thì ấp đã bị máy bay liệng bom và bắn phá tan nát. Máy bay Mỹ vừa đi khỏi thì chúng tôi tới. Cả xóm ấp chìm ngập trong khói, có nhiều nhà còn đang cháy. Tụi Mỹ liệng nhiều bom xăng, nên bà con bị phỏng bị chết cháy khá nhiều. Có nhiều em bị đốt thành than, có cô bác bị cháy tuột hết da, nóng quá nhảy xuống biền rồi chết luôn ở dưới. Các em nhỏ bị thương kêu khóc vang xóm. Tôi và chị Út Mịn nhảy vô dập những đám cháy còn lại, xông vào cứu những bà con đang bị lửa vây. Tôi vào một nhà đem ra được hai vợ chồng chú thím nọ. Cả vợ lẫn chồng đều bị phỏng nặng, tóc tai cháy rụi. Người chồng chết trước, người vợ còn ngắc ngoải. Trong cơn oằn oại hấp hối, thím ta biểu tôi đem hai đứa con thím tới bên. Hai đứa nhỏ, một trai một gái, không hiểu vì sao lại còn nguyên. Nghe má nó kêu, hai đứa không dám lại, cứ ôm chặt lấy tôi. Nó biết là má nó, nhưng có lẽ nó sợ quá, vì má nó bị cháy coi rất thảm. Người mẹ kêu con tới khản giọng rồi chết, hai cánh tay ngòng ngoèo dơ về phía hai đứa con. Tôi đứng sững, hai chân như trồng xuống đất. Đau đớn quá, tôi đưa tay bụm mặt quay mình bỏ đi một nước, để mặc chị út Mịn đứng đó với hai đứa nhỏ. Thú thiệt là khi đó tôi hết chịu nổi, tôi như điên lên. Lúc chị Út Mịn đã giao lại hai đứa nhỏ cho địa phương và đuổi kịp theo, tôi hơi bình tĩnh lại, bảo chị:

- Chị Út ơi, cảnh chú thím đó chết giống cảnh ba má em lắm. Còn hai đứa nhỏ thì cũng y hệt như chị Hòa em với em hồi trước ...

Về tới trạm, suốt đêm đó tôi cứ trăn trở không ngủ được. Qua ngày hôm sau, tôi vẫn bị cảnh giặc tàn phá ấp Long-tịnh ám ảnh, làm tôi luôn bị dày vò, uất ức, đau đớn. Tôi nghĩ bụng đã đến nước nầy thì tôi sẽ xin đi bộ đội chớ không ở trạm giao liên nữa. Đành rằng công tác giao liên cũng là công tác cách mạng, nhưng dịp trả thù giặc rất hiếm. Tới tối, tôi đi riết lại nhà chị Tám Mây kêu:

- Chị Tám ơi!

- Quyết đó hả em? Nghe nói mấy bữa nay em muốn bịnh phải không?

- Em không có bịnh gì hết, em lên đây đề nghị cho em thôi đi giao liên!

- Sao, có chuyện gì vậy?

Chị Tám ngạc nhiên ngó tôi. Chị ngạc nhiên là phải. Hơn một năm về trạm, tôi công tác rất tốt. Từ một đứa trẻ không nơi nương tựa, tôi đã tìm được một mái nhà ấm cúng không đâu bằng là cái trạm nầy. ở trong trạm ai cũng thương tôi, ngược lại tôi quyến luyến tất cả mọi người. Nói tóm lại ở trạm tuy vất vả gian khổ, nhưng tôi rất sung sướng. Và nỗi sung sướng ấy tôi cũng để lộ rõ ra ngoài. Cho nên thình lình tôi xin rời trạm làm cho chị Tám chưa hiểu ra.

Sau một lúc lâu im lặng, chị nhỏ nhẹ hỏi tôi:

- Tập thể ở đây có điều gì làm em không được vừa ý à?

- Hay là có đứa nào nó ghẹo em?

- Đâu có.

- Vậy thì lý do tại sao em xin đi, em cứ nói đại ra!

Tôi không trả lời thẳng câu hỏi của chị Tám, mà chỉ nhắc lại gọn lỏn lời hứa của chị:

- Như chị đã hứa, bây giờ cho em đi bộ đội thôi, em phải đi bộ đội mới được chị Tám ơi!

Câu sau cùng tôi thốt lên như một lời van nức nở.

Điều đó có lẽ đã làm cho chị Tám phần nào hiểu được tâm trạng tôi. May mắn cho tôi là tôi gặp một chị trưởng trạm tuy vóc dạc to lớn, ăn nói đôi lúc bậm trợn, nhưng lại hiểu thấu hết thảy. Ngay lúc đó, chị không hỏi thêm tôi câu nào nữa, bảo tôi về ngủ. Ba hôm sau chị gọi tôi lên nhà, luộc một con gà, tự tay xé ra cho tôi ăn. Có miếng nào ngon chị đều dành cho tôi cả. Và bằng một giọng vừa trang nghiêm vừa xúc động, chị nói:

- Quyết à, nguyện vọng xin đi bộ đội của em là chánh đáng. Chị đã bàn vói Ban chỉ huy trạm, tất cả đều nhứt trí cho em đi. Vậy em về lo chuẩn bị để sáng ngày mốt lên đường. Trạm sẽ tổ chức buổi liên hoan tiễn em vào tối mai, và khi đi sẽ cử người đưa em tới tận nơi. Nơi em tới là D445, tiểu đoàn chủ lực tỉnh. Đó là tiểu đoàn dũng cảm nhứt của tỉnh nhà, em cần cố gắng. Nên nhớ trạm đưa em tới đó là đưa một chiến sĩ ra trận, chớ không phải đưa một người mà trạm không cần. Tức nhiên chị sẽ nói rõ điều đó trong thơ gởi cho đồng chí tiểu đoàn trưởng mà chị có quen. Em đi, chị tiếc lắm! ( Hết chương 17 )
--------------------------------
1   Súng ngắn kiểu Mỹ.
2   Thứ đô la có kỳ hạn Mỹ phát hành cho 1ính Mỹ ở Miền Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM