vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:42:47 am » |
|
Tiếp theo :
- Không có gì đâu. Ông cứ nằm sát đất tránh đạn đi. Chúng tôi không động chạm tới một hột bụi vàng trong nhà ông đâu, chúng tôi chỉ cần lên lầu nhà ông một chút thôi!
Chúng tôi bước qua khỏi chỗ vợ chồng con cái người chủ tiệm đang nằm. Ông chủ tiệm nhổm cái đầu hói lên, lắp bắp:
- Mấy ông ... mấy ông đi lối này. Đó, đó cái bực thang lên lầu đó!
Chúng tôi nhảy một lúc ba bực thang, chạy riết lên.
Tới tầng lầu trên, tôi không mở cửa sổ đối diện với cái nóc bằng địch đang nổ súng, mà dắt anh em luồn ra tận phía sau, leo lên một sân thượng lộ thiên tráng xi-măng dùng làm chỗ phơi quần áo. Tôi đã để ý ngó thấy chỗ này từ lúc còn ở dưới đường. Tôi vẹt đám áo quần đang phơi, đem súng đạn đến chỗ lan can sân thượng chéo sang phía địch. Bấy giờ chúng tôi trông thấy địch ở sát một bên. Tất cả bọn ngụy trên hai mươi tên mặc đồ "trai-di" chật khít đang lúm xúm bên những khẩu trung liên Bar và đại liên đuôi cá, chăm chú nhả đạn xuống mặt đường. Bọn chúng chưa hề hay biết gì sự có mặt của khẩu đội tôi ở bên này. Có mấy thằng ngụy cởi phanh áo ngồi chồm chỗm bên các thùng lựu đạn sơn xám mở nắp, liên tiếp rút chốt an toàn, dang tay ném xuống. Cả những thằng này cũng tuyệt nhiên không chú ý gì tới cái sân thượng phơi đầy quần áo chim cò, lẫn áo lót phụ nữ, nơi mà tôi đã chĩa thẳng họng đại liên sang chúng.
Khởi nín thở nâng giây đạn lên trao cho tôi lắp. Tôi nổ súng ngay. Trước tiên tôi bắn quét bọn xạ thủ đại liên và trung liên, rồi tiếp đó bắn té những tên đang ném lựu đạn. Tôi đã tính hễ diệt được bọn này thì các tên bắn súng trường tự động sẽ không đủ sức cản nổi bước tiến của anh em tôi bên dưới. Quả nhiên bọn này còn lại chừng mươi tên hoảng quá đến đỗi bỏ cả súng chạy tán loạn khắp mái bằng. Tôi giao súng cho Khởi:
- Bắn mấy thằng đó đi, tụi nó hết chỗ chạy rồi!
Khởi chồm tới thay tôi tiếp tục nổ súng. Dạo này Khởi bắn rất khá. Bọn địch không có chỗ tháo thân, bị Khởi bắn nhảy dựng hết tên này đến tên khác. Có tên sợ quá co chân nhảy đại xuống. Tôi và Cần đứng hẳn lên. Trên nóc bằng đã sạch sẽ không còn một tên nào nữa.
Cần ngó xuống đường, kéo tay tôi chỉ:
- Mấy thằng nhảy ẩu chết nát xương rồi kìa!
Tôi nhìn xuống thấy hai tên địch nằm chết trên đường. Và anh em chúng tôi bên dưới đã vượt qua khỏi thây chúng, chạy xốc tới. Chúng tôi liền trở xuống nhà dưới. Thấy vợ chồng người chủ tiệm vàng còn nằm bẹp dí dưới sàn gạch, tôi vui vẻ nói:
- Bây giờ thì dậy được rồi đó, ông ơi!
Ra tới đường, chúng tôi gặp Lắm đứng đợi, Lắm hỏi:
- Tụi nó có chạy được thằng nào không?
- Chạy đâu mầy, trừ phi tụi nó biết bay. Đó, có hai đứa bay xuống nằm kia kìa!
Chúng tôi đi đến bên chỗ hai tên giặc nằm. Cả hai chết nằm sải tay, mình mẩy đẫm máu. Đi tới một đỗi nữa, chúng tôi bỗng gặp mấy anh ở C3 đang đi ngược lại, dẫn theo sau một tốp người không ra tù binh, ăn mặc bà ba và xám tro coi giống như cán bộ ta. Lắm Kèn ngó lom lom, khều tôi:
- Hình như mấy thằng đầu hàng!
Tôi cất tiếng hỏi một anh C3:
- Dẫn đám nào đó?
- Tụi chiêu hồi, mới thộp được ở đằng kia!
- Vậy hả?
Tôi và Lắm Kèn bước tới ngó từng tên một. Cả thảy là mười tám tên, vừa đi vừa cúi mặt xuống. Tôi dòm mặt tụi này, giận không nén nổi, quát to:
- Ê, mấy thằng này kêu bằng hồi chánh viên đây hả? Khoan, đứng lại, đứng lại tao hỏi cái coi!
Tôi bước tới xách tai một tên, kéo xểnh mặt nó lên. Tên này trạc ba mươi, mặt dài như ngựa, mắt láo liên. Tôi thét:
-Sao mầy, từ ngày ra đầu thú tới nay mầy đã chỉ chọc moi được mấy cái hầm, dắt địch về đánh bao nhiêu căn cứ, lãnh được bao nhiêu tiền thưởng?
Tên chiêu hồi cúi gầm mặt. Tôi nói:
- Tụi bây tưởng đi đầu hàng rồi là lọt lưới hả? Không có lọt nổi đâu. Tụi tao đánh vô tới ổ, gạn bắt tụi bây như bắt cá đó, thấy chưa?
Khởi vác đại liên nhảy lại:
- Sẵn có đại liên, để tôi quét mấy thằng này cho rảnh!
Anh chiến sĩ áp giải dơ tay lên ngăn:
- Tụi nó bây giờ như cá nằm trên thớt, mình muốn xử lúc nào không được. Nhưng chúng tôi được lệnh giải nó đi, xin anh em mình bớt giận để chúng tôi làm...
Tôi nén giận bảo:
- Anh em có giải tụi nó thì giải lẹ đi, chớ dang ca một hồi chắc tụi tôi mần thịt mấy thằng nầy quá. Ê, mà nhớ đừng có cho tụi nó ăn cơm nghe. Cái quân sớm đầu tối đánh đó cứ xúc cứt cho nó ăn, tới bữa cứ xúc cho mỗi thằng một vùa cứt!
Lắm cũng nói lớn:
- Ừ phải đó, dọn cứt cho tụi nó ăn. Thằng nào cự nự, a-lê bắn bỏ! Hễ đầu hàng được thì ăn cứt được mà! ( hết chương 28 )
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:44:12 am » |
|
CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN
Năm nay mùa mưa đến sớm. Mới bước sang tháng tư những con ve và những con mò mùa khô còn bám đầy cả mình mẩy chúng tôi mà cắn làm hết sức ngứa ngáy thì mấy trận mưa đầu mùa đã đổ xuống như trút trong rừng Hắc-dịch. ấy là bây giờ còn lúc mưa chiều sớm tạnh chớ chưa tới tháng mưa dầm. Như buổi sớm hôm nay tôi cùng khẩu đội ra suối mò cá thì rừng đầy nắng, nhưng vào buổi chiều lúc tôi đi gác thì trời đã âm âm u u. Tôi còn đang trên đường đi tới chỗ gác, bỗng rừng bắt đầu dậy gió. Từ cái cây nhỏ như cây tài nghé cho đến cái cây lớn như cây cầy trong phút chốc đều lả lay, nghiêng ngả. Lá rừng bay vẫy như chim, rồi mưa rắc hạt. Tôi tới điểm gác thay cho Cần. Điểm gác nằm trên một triền đồi có dốc thoai thoải đổ xuống con đường mòn bên dưới. Tôi cầm lấy khẩu AK của Cần giao lại, ngồi xuống một tảng đá. Loại súng AK này đơn vị tôi mới được trang bị, nhưng chưa đủ. Đại đội ưu tiên phân về khẩu đội tôi một cây. Tôi ngồi mân mê coi cây AK thì mưa lọt vào cổ áo. Nhưng thấy trời còn mưa lâm râm chớ chưa mưa to, tôi không vội lấy tấm ni-lông bên thắt lưng ta che. ở rừng, tôi thích mùa nắng hơn. Mùa nắng là mùa có nhiều quả rừng và vui hơn. Mùa mưa thì buồn.
Giá không có đông anh em, giá phải ở rừng một mình giữ kho hoặc coi cứ thì chắc tôi buồn chết đi được. Từ sau trận đánh vào trung tâm chiêu hồi, rồi tiếp sau đó là trận Đá Giăng, tiểu đoàn tôi trở về rừng tính tới bữa nay đã được năm hôm. Nghe nói nhiều lắm là một tuần nữa, chúng tôi lại về đồng bằng, và lần này rất có thể về Đất Đỏ. Tôi cũng như anh em trông riết rời rừng cho sớm, trước lúc mưa già.
Mưa vẫn lâm râm rơi đều, nhưng vẫn chưa to hạt hơn. Rừng dần dần tối sầm lại, mặc dù chưa đến bốn giờ. Trời bắt đầu gầm gừ. Trên ngọn rừng, ánh chớp ì nhằng lóe dậy. Đoán trời sẽ mưa to, tôi rút tấm ni-lông ra. Mới vừa hất tung ni-lông định che người và súng thì trời lại chớp. Trong ánh sáng của làn chớp ấy, tôi bỗng giựt mình nhìn thấy như có bóng người đang từ dưới con đường đi lên dốc đồi. Đang lúc chưa tin chắc ở mắt mình, thì tiếp đó trời lại lóe sáng. Lần này, tôi trông thấy rõ ràng có một người đang đi lên dốc thật. Tôi cầm chặt khẩu AK, định thần nhìn kỹ. Bóng người vẫn cứ đi lên. Nhờ tia chớp liên tục, tôi nhìn thấy khá rõ đó là một người hầu như trần truồng. Tóc người đó xõa quá vai, tay người đó cầm vật gì giống như một con dao. Trên tấm thân con người kỳ lạ kìa, ngoài một túm lá che ở phần dưới, chỉ có thêm một sợi giây buộc ngang thắt lưng nữa mà thôi. Giặc thì chắc không phải rồi. Mặc dù gần đây, đơn vị tôi có được thông báo trinh sát phát hiện thấy nhiều dấu giầy của biệt kích Mỹ. Nhưng Mỹ gì lại thế kia. Còn nếu đây là một người dân Châu-ro, Châu-mạ thì càng không có lý, vì các sóc của bà con dân tộc ở cách đây rất xa. Bỗng dưng tôi nổi gai ốc khắp người. Thế rồi, phản ứng một cách tự nhiên, tôi đứng bật dậy, chĩa súng thét lớn:
- Ai, đứng lại!
Bóng người đang đi chợt dừng sững rồi vụt quay đầu bỏ chạy. Tôi bóp cò bắn bổng luôn ba phát. Người đó vẫn chạy, tóc bay xõa. Tôi lập tức xách súng rượt theo.
Nhưng muộn rồi, chỉ loáng sau, người đó đã lẩn biến vô rừng. Trước mắt tôi không còn tăm hơi bóng người lạ lùng ấy nữa. Chỉ còn lại tứ bề là rừng đang rập vã lá cành dưới cơn mưa ngày một lớn. Tôi đành quay lại.
Dọc đường tôi nhìn thấy trên lối cát còn in những dấu chân mới nguyên. Dấu những bàn chân này lún xuống cát coi cũng như bàn chân người thường nhưng hơi rộng bè ra.
Chiều tối về đến nhà, tôi đem chuyện này kể lại với anh em. Trong trung đội 1, có anh Krô là một chiến sĩ người Châu-ro nghe chuyện thì nhíu mày đăm đăm một chốc rồi thốt:
- Tui nghi là xà-niên!
Anh bảo tôi thuật lại tỉ mỉ lần nữa. Nghe xong, Krô vỗ đùi đánh đét kêu lên:
- Thôi đúng là xà-niên rồi!
- Sao biết chắc là
- Tui có ngó thấy xà-niên mà. Tóc con xà-niên lâu ngày không hớt ra dài xõa lưng vậy đó. Xà-niên không có quần áo như mình đâu, chỉ có khố bằng lá cây thôi. Còn cái sợi giây buộc ngang lưng xà-niên là cái gì các đồng chí có biết không? Sợi giây lưng quân còn sót lại đó. Hồi còn ở sóc, tui nghe người già nói xà-niên cũng là người, họ bị lạc hoặc trốn vô rừng không biết đường về. Lâu ngày quần áo họ rách tơi hết, chỉ còn lại sợi giây lưng quần đó. Bây giờ họ đóng khố vỏ cây lá cây chớ cứ để hoài sợi giây lưng ...
Dừng lại, trầm ngâm một chút, anh Krô đưa tay chỉ bao quát ra ngoài rừng:
- Ở vạt rừng này chắc có xà-niên. Đêm trước tui nghe có mấy tiếng hú thiệt xa ...
Nghe anh Kia nói, tôi chợt nhớ dường như tôi cũng có nghe tiếng hú trong một phiên gác đêm hôm trước. Nhưng lúc bấy giờ tôi không chú ý, vả lại cái tiếng hú đó nghe xa lắm, nghe nửa vời, như có như không. Nay nghe anh Krô nói, tôi mới ngờ ngợ nhớ lại.
Sau cuộc hội ý của khẩu đội, đến giờ ngủ tôi lên võng nằm nghĩ ngợi hoài không ngủ được. Trận mưa ban chiều kéo dài tới giờ vẫn chưa ngớt hẳn. Nằm nghe mưa rơi tí tách lên nóc tăng ni-lông, tôi lại nghĩ tới chuyện xà- niên. Nếu đúng như lời anh Krô, thì con xà-niên bị tôi rượt hồi chiều đó bây giờ đã chạy đến đâu, trú lại ở đâu? Cũng có thể vì quá sợ hãi, cái con người đã biến thành xà-niên ấy không biết chừng hiện hãy còn đang lang thang chạy ở giữa rừng cũng nên. Hoặc nếu như nó có thể trú, thì chỗ trú ấy liệu có thể che mưa được không. Tự nhiên tôi mường tưởng ngó thấy một cái chòi lợp bằng lá mây, cái chòi của cha con ông Cổ mà ông Cổ đã kể cho tới nghe. Tội nghiệp biết chừng nào cái cảnh hai cha con ôm chặt lấy nhau trong những đêm mưa rừng đổ trút xuống cái chòi mong manh kia. Thảm thương thay cho người cha ấy, rốt cuộc bị một phát đạn xô ngã té xấp xuống. Tôi nghĩ rằng tôi không thể nào bắn ra được một phát đạn như vậy. Chính vì vậy mà hồi chiều tôi đã nghếch nòng súng lên trời. Chớ nếu đành bắn ắt hẳn tôi đã bắn chết người nọ tại triền dốc rồi. Tôi bỗng muốn đi kiếm anh Đấu để hỏi anh rằng tạỉ sao mình không đem xà-niên trở về, tại sao mình không tìm cách đưa họ từ con xà-niên trở lại thành con người như mình.
Cái ý nghĩ đó như một tia sáng lóe dậy trong đầu tôi, và tôi cứ miên man nghĩ ngợi quanh ý tưởng định giải thoát cho những con người bất hạnh nay đã biến thành những con thú ấy. Giữa tâm can tôi bây giờ đang bùng lên một ngọn lửa, mỗi lúc một thêm nóng nảy, giục giã.
Thế rồi tôi trỗi dậy, nhảy xuống võng. Nhưng tôi không đi lại chỗ anh Đấu mà đi lay võng của Lắm, Khởi và Cần. Cả ba đứa đều hãy còn thức. Tôi nhắc câu chuyện hồi chiều, nói ra ý định của tôi:
- Tao tính như vầy ... Ngày mai còn nghỉ quân ở đây, tụi mình sục sạo thử coi. Theo như anh Krô nói thì ở vạt rừng nầy chắc chắn có xà-niên. Nếu gặp, tụi mình ráng bắt sống một hoặc hai con đem về. Tao tin là mình đem xà-niên về gởi trong sóc ít lâu, thế nào xà-niên cũng dần dần trở thành người ...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:46:11 am » |
|
Tiếp theo :
Lắm hăng hái:
- Ừ, đâu mình cứ đi thử coi. Lâu nay tao cũng có nghe nói mà chưa biết ra sao!
Khởi hỏi:
- Có phải báo cáo cho mấy ảnh không?
Tôi gạt:
- Khỏi, mình đi vụ này như đi bẻ măng mò cá thôi mà, có gì đâu! Mình sẽ đem khẩu AK theo. Ba đứa đi thôi. Tao, thằng Lắm, thằng Khởi, còn thằng Cần ở nhà coi súng, coi đồ đạc ...
- Tôi cũng muốn đi quá. Cần tha thiết bảo.
- Thôi thằng Cần ở nhà, phải có một đứa ở nhà chớ đâu đi hết được!
Mấy đứa tôi ngồi bàn bạc tính toán mãi một lúc nữa mới trở lên võng. Lên nằm trên võng rồi, một lát tôi còn ngóc đầu dậy đưa thêm ý kiến là nhất thiết phải đem giây dù theo, để có bắt được xà-niên thì trói, chớ mặc dù có súng, xà-niên nó vẫn cứ chạy nhào. Ý kiến đó của tôi được Lắm và Khởi tán thành. Đêm hôm đó, tôi ngủ thiếp đi với nỗi hào hứng khấp khởi, với cái ý định nhiệt thành bùng cháy sáng rực trong lòng.
Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy rất sớm. Mưa đã dứt hạt từ khuya. Tuy trận mưa đêm còn đẫm ướt lá rừng, nhưng bình minh đã chiếu ánh nắng lên những chiếc lá ướt nước đó, lóng lánh báo hiệu ít ra cũng có được hơn nửa ngày tạnh ráo.
Ăn cơm xong, chúng tôi đem theo cơm vắt và đổ nước đầy bi-đô rồi đi ngay. Ra khỏi khu vực đóng quân tôi trỏ con đường mòn dưới chân đồi nói:
- Mình cứ đi theo đường một đỗi rồi cắt qua tay phải. Chiều hôm qua, xà-niên chạy theo lối này, mà mấy đêm hôm trước tao nghe cái tiếng hú cũng từ hướng này vọng lại.
Trận mưa đêm đã xóa mất dấu chân người rừng chiều qua in trên lối cát. Đôi quãng, tôi thấy có dấu chân nai đi cặp đường, và một bầy heo vượt qua để lại những dấu chân heo lún sâu xuống cát. ở rừng, tôi thấy thường là thế. Lúc mưa hơi ngớt, ấy là lúc thú đi kiếm mồi đông đảo hơn bất cứ lúc nào. Con heo rừng hoặc con nhím đi bươi bật các thứ củ rễ cũng dễ dàng hơn, bởi đất đã được mưa làm cho mềm xốp. Con thú lớn đi tầm con thú nhỏ. Vì vậy nên mưa ngớt là lúc thú rừng dễ kiếm sống, nhưng cũng lại là lúc chúng dễ dàng chuốc lấy cái chết. Kìa kìa là dấu chân cheo, con vật nhỏ bé đáng thương suốt đời chỉ trông cậy ở đôi chân chạy lẹ để thoát khỏi nanh vuốt của cọp, của rắn hổ mây. Tôi ngó thấy hình như là cả một cặp vợ chồng cheo mới chạy qua, để lại trên lối cát những móng chẻ đôi gọn sắc, coi hệt những móng nai thu nhỏ lại. Đi theo con đường mòn một chốc, tôi ra hiệu cho Lắm và Khởi dừng lại. Đây là chỗ mà chiều qua, người xà-niên đã lẩn mất. Tôi đi đi lại lại xem xét kỹ quãng này. Sau rốt tôi thấy ở một bìa đường có vẻ khang khác. Những bụi cây nhỏ ở đây bị dẫm đạp, vẹt ra một lối nhỏ. Tôi đưa tay ngoắc Lắm và Khởi lại. Chúng tôi theo dấu đó, bắt đầu luồn rừng. Nhưng chúng tôi bươn đi một quãng thì không còn dấu vết gì nữa. Bỗng liền đó, Khởi phát hiện có một nhánh cây xương cá bị rập gẫy. Tôi xem chỗ gẫy, thấy dấu còn mới. Thế là chúng tôi lại tiếp tục lủi tới. Chỉ một lát sau, chúng tôi lại thấy hiện ra những bụi cỏ và cây con bị dẫm. Cứ thế, chứng tôi phăng theo. Cả tiếng đồng hồ, chúng tôi phải lần mò, khi mất dấu, khi thì tìm lại được, mãi cho đến lúc chúng tôi nhác thấy rừng trước mặt chợt trống sáng. Rừng thưa dần. Thì ra đó là trảng. Một cái trảng không lớn lắm, mọc đầy cỏ khấu, cỏ chỉ và những cây sâm đất nở hoa giống như những nụ hồng. Một con đường không mòn lắm nằm vắt ngang qua trảng. Chúng tôi đứng sựng nhìn cái trảng không biết có nên theo con đường mòn xuyên trảng kia không, vì vừa đến đây thì dấu chân cũng biến mất.
Dừng một lúc, tôi quay trở lai đoạn đường vừa đi. Đó là tôi vừa sực nhớ lại lời chị Tám Mây. Hồi còn ở trạm giao liên, chị Tám có lần dặn tôi nếu khi nào cảm thấy lạc lối thì điều tốt hơn hết là không nên tiếp tục đi tới mà nên quay lại lối cũ, rà coi, rồi hẵng đi. Trong trường hợp nầy tuy có khác hơn, vì đây là lối tôi chưa từng đặt chân tới, nhưng việc coi kỹ lại dấu cũ vẫn có hy vọng xác định được người xà-niên về hướng nào. Quả nhiên, sau khi cúi nhìn cẩn thận tại mí đường mất dạng dấu chân, tôi đã nhận thấy sở dĩ dấu chân mất hẳn là vì tại đó đã tiếp giáp với cát. Nếu có dấu chân thì mưa cũng đã xóa đi rồi. Lúc tôi trở về chỗ bìa trảng giáp với con đường mòn đi qua trảng, tôi chợt nhìn thấy một mảnh lá chuối rừng. Mảnh lá chuối nầy đã héo quăn lại. Tôi nhặt mảnh lá chuối đưa cho Lắm và Khởi coi, rồi nói:
- Mình băng qua trảng thôi. Tao chắc là họ cũng băng qua trảng bằng con đường mòn này! Họ làm rớt chuối đây nè!
Lắm bàn:
- Đồng ý qua trảng, nhưng đừng đi đường đó. Đi giữa trảng trống dễ lộ lưng lắm, cứ cặp bìa rừng mà đi qua mối đường bên kia, có vòng một chút nhưng bảo đảm ...
- Ừ, phải đó!
Chúng tôi liền đi bọc theo bìa trảng. Chừng mươi phút sau, chúng tôi đã tới mí tráng bên kia, chỗ con đường mòn chấm tới. Quả nhiên, tại đây chúng tôi tìm thấy lại dấu chân đã mất. Dấu chân đó giờ xuất hiện trên những tảng đá đóng rêu cặp theo bờ một con suối đang ào ào chảy. Con suối này có lẽ bị cạn vào cuối tháng ráo, nay bắt đầu có nước, nhờ những trận mưa đầu mùa. Chúng tôi nhảy trên những tảng đá lớm rớm rêu xanh, đi ngược dòng suối. Dấu chân trên rêu đi tới chừng nửa tiếng đồng hồ thì đột nhiên rẽ chếch lên, rồi bỏ suối. Lên quá khỏi bờ suối một chốc, chúng tôi lọt vào một cánh rừng lười ươi ... Trái lười ươi rụng đầy dưới gốc.
Trận mưa hồi đêm làm cho trái lười ươi nở lè ra, nhầy nhợt. Tôi cúi xuống vốc lên một vốc lười ươi, gạt bỏ vỏ rồi cho vào miệng ăn. Lắm và Khởi cũng ăn theo.
Trái lười ươi mát rượi khiến tôi thấy rất đã khát. Giữa lúc cả ba chúng tôi đang lúm xúm ăn lười ươi thì chợt từ đâu vẳng tới tiếng gì như tiếng khóc. Tôi liệng nhúm lười ươi còn lại, ra hiệu cho Lắm và Khởi chú ý lắng nghe. Lắm lào thào:
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2011, 08:48:56 am » |
|
Tiếp theo :
- In như có tiếng cơn nít khóc!
- Ờ tao cũng nghe vậy! Tôi nói và khoác tay, hạ thấp giọng:
- Đi lại đó đi đi cho thiệt êm
Ba đứa chúng tôi rón rén tiến về phía có tiếng khóc. Chúng tôi đi quá khỏi cánh rừng lười ươi, tới một vùng mọc nhiều cây trâm sắn phơi thân đỏ sẫm. Tiếng con nít khóc nghe đã rõ, mỗi lúc một gần hơn. Và khi tiếng oa oa của đứa trẻ vẳng lên rõ mồn một thì chúng tôi bỗng nghe còn có tiếng nói rú rí. Tôi liền đứng lại, dơ tay ra dấu bảo Lắm và Khởi bước thiệt nhẹ chân. Khi chúng tôi bước rấn lên thêm mấy bước nữa, thì chúng tôi chợt nhìn thấy ở ngay trước mặt mình hiện ra một cái chòi thấp lợp lá chuối rừng rủ xuống. Bị một cành cây xòa phủ, tôi chưa nhìn thấy trong chòi có gì. Nhưng khi ngồi thụp xuống, tôi vô cùng kinh ngạc suýt bật lên tiếng kêu. Trong chòi đang có hai người mà không giống hẳn như người. Cả hai đều trần truồng hệt như người mà tôi gặp chiều hôm qua. Tóc họ xõa dài, vàng khè và rối đanh lại. Có cái khiến tôi phân biệt ngay ra được, đó là một người đàn ông và một người đàn bà. Người đàn bà có bầu vú căng đang bế đứa nhỏ đong đưa, dỗ dành. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa, tin đó đúng là xà-niên. Một cặp vợ chồng xà-niên, với một đứa con, chắc là mới đẻ không lâu. Lắm và Khởi cùng đều trố mắt sửng sốt như tôi. Thiệt là từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ chúng tôi nhìn thấy cái cảnh lạ lùng như vậy. Chợt Khởi mở khóa súng. Có lẽ Khởi sợ và đó là một động tác rất bản năng của Khởi. Tôi vội vàng đưa tay đè nhẹ nòng khẩu AK trong tay Khởi xuống, lắc đầu ngăn Khởi tuyệt đối không được bắn. Hình như Khởi cũng không hề có ý định bắn. Kỳ thiệt, chúng tôi không thể nào bắn cho được. Thoạt đầu tôi thấy lạ lùng, nhưng rồi liền đó thấy trào lên giữa lòng mình cả một niềm trắc ẩn thương tâm. Cặp xà-niên không có gì che thân kia đang dỗ con, và đứa con đang oa oa khóc ấy cũng trần trụi nốt. Bỗng dưng, tôi thấy mắt mình cay xốn khó chịu. Tôi hầu như quên cả việc đốc thúc anh em xông vào vây hắt. Tôi sực nghĩ tới ông Cổ, sực nghĩ tới mình, chị em Biếc, Cần, Lắm, chú Chín Thắng cùng bao nhiêu số phận khác, và có cảm tưởng như đời mình và mọi người đó đều có chút gì in bóng xà-niên. Tất cả đềư như có lâm vào một phần cảnh ngộ của xà-niên. Rồi hai chữ xà-niên giờ đây đối với tôi không phải chỉ là cặp vợ chồng xà-niên thật sự đang dỗ con đó mà thôi. Xà-niên, ấy là tiếng gọi chung cho mọi số phận bị dồn đuổi trên đời. Xà-niên như là sự tước đoạt, sự vứt bỏ, sự cùng cực bi thảm nhứt của con người.
Trong giữa lúc lòng tôi đang rúng động trước cảnh ngộ bi thương đó thì Khởi vô ý để chạm báng súng đánh "cách" vào cái bi-đông bên sườn. Tiếng động gây ra không lớn, nhưng cặp xà-niên trong chòi đã nghe thấy, cả hai nhớn nhác thô lố ngó ra. Biết đã lộ, tôi thúc nhẹ khuỷu tay vô mạn sườn Khởi, Lắm rồi vụt chạy về phía lều. Không may, một nhánh gai mây móc vướng vào áo tôi. Tôi vừa gỡ được thì đôi vợ chồng xà-niên đã chạy vụt ra khỏi chòi. Tôi trông thấy rõ ràng người giống đực bế thốc đứa con đỏ hỏn trên tay vợ mà chạy rất nhanh. Còn người xà-niên cái hớt hải chạy đàng sau, tóc bay xõa trên những nhánh lá. Biết tình thế nguy khốn, cặp vợ chồng xà-niên chạy như bay. Không để lỡ cơ hội, tôi gấp rút rượt theo. Chỉ có mỗi mình tôi là bám sát theo được cặp xà-niên, chớ Lắm và Khởi thì bị rớt lại phía sau. Nhưng rồi chính tôi cũng bị cặp xà-niên bỏ xa dần. Cặp xà-niên chạy rất nhanh, không mắc vướng cây cối chi cả. Điều làm cho tôi ngạc nhiên nhứt là cái dáng chạy của cặp xà-niên coi rất lạ. Cả hai chạy bần bật, thân người hơi ngả về phía sau, hai tay hơi đưa về phía trước.
Còn người xà-niên chồng bế đứa con chạy trước lát lát lại ngó ngoái, coi vợ mình có theo kịp không. Cái con người đã hóa thành thú ấy vừa đảm nhiệm đứa con, vừa không bỏ quên vợ.
Quãng cách giữa tôi và cặp xà-niên cứ xa dần. Không phải tại tôi chạy chậm hơn, mà tại tôi bị cây cối cản trở. Ngược lại, cặp xà-niên thì không bị một rễ cây gốc cây nào làm vướng bước. Tôi thầm mong cho cặp xà-niên bị vấp một cái, nhưng cặp xà-niên không bị vấp cái nào cả. Cứ thế, cặp xà-niên bỏ tôi xa ra mãi. Có lúc xà-niên khuất mất sau những lùm lá, rồi lại hiện ra. Ban đầu tôi còn trông thấy, dần dần chỉ thấy loáng thoáng màu da đen xạm, mớ tóc bay xõa của xà-niên, thế rồi sau cùng tôi chẳng còn thấy gì nữa. Cặp vợ chồng xà-niên đã biến mất trong rừng cây dày bịt trước mặt. Chỉ nghe tiếng oa oa văng vẳng. Tiếng khóc của con xà-niên sơ sinh. Chạy rấn tới một chặng nữa, tôi từ từ đứng lại thở dốc. Mặc dù hãy còn nghe thấy tiếng khóc kia, tôi cũng không muốn đuổi theo nữa. Một nỗi thất vọng, một nỗi buồn bã kỳ lạ bỗng nhiên dâng tràn, khiến tôi không thể nào nhấc chân lên đuổi theo nữa. Rõ ràng cặp xà-niên nọ cố chạy cho thoát. Dẫu rằng anh em chúng tôi rượt theo với một ý định tốt, nhưng xà-niên không biết vậy. Chúng tôi khó mà kêu, khó mà nói sao cho xà-niên biết được rằng anh em chúng tôi không phải loại người làm cho xà- niên kinh khiếp. Tôi buồn bã nghĩ bụng: "Chắc mọi con xà-niên ở rừng Hắc-dịch bây giờ đều như vậy cả. Cũng thời là người, nhưng xà-niên sợ người tới cái mức ghê gớm vậy đó!".
Lắm và Khởi chạy tới, hổn hển hỏi tôi:
- Đâu rồi, xà-niên đâu rồi?
Tôi thẫn thờ đáp:
- Chạy mất rồi! Lắm dậm chân:
- Tiếc quá. Tại thằng Khởi làm , chớ không thì hồi nãy mình áp vô chòi bắt được rồi!
Khởi nói như nhận lỗi:
- Nó chạy lẹ thiệt!
Tôi đứng ngẫm giây lâu rồi khoát tay:
- Thôi, đi về!
Chúng tôi quay lại con đường cũ. Gần tới chỗ cái chòi lúc nãy, tôi bàn nên ghé vô chòi. Bấy giờ đã quá trưa. Trời bỗng tắt nắng, tối sầm lại. Chừng như sắp chuyển mưa. Cảnh rừng vụt trở nên buồn bã, lặng lờ. Cái chòi của cặp vợ chồng xà-niên vẫn còn đó, nhưng trống vắng và trơ trọi. Tôi khom lưng bước vô chòi, đứng đảo mắt ngó nhìn cái nơi xà-niên trú ngụ. Giữa khu rừng già đầy những đe dọa bất ngờ, cái chòi coi thiệt mỏng manh đáng thương. Chòi dựng trên một gò hơi cao hơn đất xung quanh. Những cây tai nghé nhỏ dùng làm cột chống đỡ cái mái chòi lợp bằng các tàu lá chuối rừng thuôn dài đã héo quắt lại. Trên nền chòi lồi lõm không được phẳng, chúng tôi bắt gặp mấy vật còn sót lại. Một cái bếp kê bằng ba tảng đá lớn còn ấm hơi lửa. Cạnh bếp là một đống củ mì và một con dao đã cùn gần hết lưỡi. ở giữa chòi có một ổ lá bện lót cẩn thận. Thoạt trông tôi đã đoán biết ngay là chỗ cặp xà-niên dành cho con. Chiếc nôi bện kết bởi lá rừng đó làm cho chúng tôi không cầm được nước mắt. Lát sau, chúng tôi rời khỏi túp chòi với nỗi thương tâm trĩu nặng trong lòng. Đi về chưa được nửa đường, trời đã đổ mưa giông. Rừng dậy gió ào ào. Chẳng mấy chốc, mưa bắt đầu rớt hạt.
Tôi nói:
- Sớm mai mình sẽ trở lại chòi!
Lắm hỏi:
- Chi vậy, chắc xà-niên bỏ chòi đi luôn chớ không dám về đâu?
Tôi bảo:
- Ừ, không chắc gì xà-niên quay về chòi. Tao tính mình cũng không rình bắt nữa, nhưng tính đem vô cho xà-niên một ít gạo, một cái hộp quẹt với một con dao hay cây rựa càng tốt ...( Hết chương 29 )
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:16:11 pm » |
|
CHƯƠNG BA MƯƠI
Khác với dự đoán của chúng tôi, xà-niên có trở lại chòi. Hôm đầu, khi tôi và Lắm đem gạo, hộp quẹt đến bỏ trong chòi thì chưa có dấu vết gì chứng tỏ xà-niên trở về. Cái chòi vẫn còn nguyên như cũ. Nhưng bẵng đi hai hôm, khi chúng tôi vô chòi thăm coi thì thấy một hiện tượng lạ. Tất cả những thứ gì của mình, xà-niên đều đến đem đi. Còn những vật mà chúng tôi đem đến cốt ý cho xà-niên thì xà-niên không lấy; không đụng tới. Chiếc ruột tượng gạo vẫn treo thòng ở chỗ cũ, cái hộp quẹt và cây rựa vẫn nằm nguyên cạnh bếp.
Xà-niên đã khước từ tất cả những vật chúng tôi đem cho. Điều đó càng làm cho chúng tôi thêm buồn bã.
Sớm hôm sau, trời lại tạnh ráo. Khẩu đội chúng tôi cơm nước xong thì có Biếc đến. Cùng đi với Biếc, còn có chín cô gái khác trong tiểu đội Biếc mà hầu hết đều đã trở thành thân thiết với khâu đội tôi. Mới đến nơi, Biếc đã tập hợp tiểu đội nữ thành một hàng dọc. Biếc cười chúm chím, quay về phía tôi trong tư thế đứng nghiêm:
- Báo cáo đồng chí khẩu đội trưởng, sáng hôm nay tiểu đội chúng tôi có ba nhiệm vụ phải hoàn thành: thứ nhất tải gạo, thứ hai xắn măng, thứ ba vá quần áo rách cho khẩu đội của đồng chí. Tôi đã phân công hai nữ đồng chí Hường và Đẹp nhiệm vụ vá quần áo, vậy yêu cầu đồng chí khẩu đội trưởng giúp đỡ hai nữ đồng chí của chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Biếc vừa dứt lời, cả tiểu đội nữ thanh niên chạy khỏi hàng, cười phá lên. Anh em trong khẩu đội tôi, vui vẻ vỗ tay hoan hô lốp bốp. Tôi nói:
- Tưởng gì chớ giúp làm vụ đó thì dễ ợt. Nhưng tôi giao trước, tốp nào đi xắn măng lát nữa về phải ghé đây thân tặng anh em một xâu đó nghe!
Các cô gái lao nhao:
- Cái vụ đó cũng dễ thôi. Đó, chị Biếc cầm đầu tốp xắn măng đó, anh Quyết cứ thương lượng với chị Biếc là có măng liền thôi mà!
Biết các cô gái chọc phá, tôi giả bộ tỉnh bơ:
- ờ được, thương lượng thì thương lượng chớ ... Nói chung là từ bữa nay cô nào muốn theo chúng tôi lên miệt Đất Đỏ thì phải lo lót cho chúng tôi lần lần đi. Nghe đâu có một số cô phải ở lại giữ cứ. Đó là tôi nghe nói vậy. Nhưng nếu có vụ đó thiệt thì các cô có được đi hay ở lại là do chúng tôi ...
- Ý, anh Quyết nói thiệt hay chơi vậy anh Quyết?
- Nói thiệt, ví dụ như chúng tôi có ý kiến: mấy cô nầy khá, có thể chịu đựng nổi, khẩu đội tôi xin lãnh thì tức nhiên là ... Còn nếu như ...
Câu nói của tôi kỳ thiệt là câu nói chơi, không ngờ lại có tác động ngay đến các cô. Đang cười nói, chợt các cô túm tụm lại, xầm xì to nhỏ với nhau. Và trước khi đi xắn măng, Biếc đến bên tôi hỏi khẽ:
- Bộ tiểu đoàn mình sắp đánh về Đất Đỏ thiệt hả anh?
- Cũng mới nghe nói vậy thôi. Hôm qua có mấy "chư" trinh sát ở trên đó về!
- Nè, nếu có thiệt thì mấy anh nói vô cho tụi em được đi hết chớ đừng có nhận xét này nọ để tụi em ở lại là không có được đâu nghen!
Tôi cười khì. Thấy vậy, Biếc càng nghiêm vẻ mặt:
- Thiệt đó, em nói thiệt đó!
Tiểu đội nữ thanh niên xung phong chia thành hai toán kéo đi. Một toán theo Biếc đi ra suối bẻ măng, còn một toán đi đến kho gạo. ở nhà, tôi hối anh em soạn bồng, đem quần áo rách ra cho cô Hường và cô Đẹp vá. Hai cô này ngồi vá quần áo cho chúng tôi, cùng cất tiếng hát nho nhỏ bài ca may áo của Xuân Hồng rồi khúc khích cười với nhau.
Thấy có nắng lên, tôi kêu anh em đem đạn ra phơi, nhân thể tôi đem khẩu đại liên ra lau chùi. Tôi rờ rẫm thân súng bị mảnh bom và đạn cào xước nhiều chỗ, nói với anh em:
- Con cọp lửa của mình bị thương trầy trụa hết ... Nhưng không sao, mình sẽ o bế nó lại, kỳ này lên Đất Đỏ nó sẽ khạc lửa rần rần cho coi!
Tôi cầm cây thông nòng và mớ giẻ lau, chờ Cần tháo súng ra. Nhưng lúc Cần vừa mới mó tay vào thì thình lình từ phía rừng trước mặt chợt liên tiếp phát lên mấy tiếng nổ lớn. Lắm chạy ra giữa sân lắng nghe tôi kêu lên:
- Quyết ơi, đúng là tiếng mìn Cơ-lây-mo. Mà sao nó lại nổ ở phía kho gạo, kỳ quá!
Tôi đứng bật dậy hỏi:
- Nè, nhắm coi mấy cô đi tải gạo nãy giờ được nửa tiếng chưa?
Cô Đẹp nói:
- Chừng nửa tiếng. Chắc mấy đứa nó đã tới kho gạo rồi, cái kho nầy gần!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:18:09 pm » |
|
Tiếp theo :
Tôi chặn tay không cho Cần tháo súng để lau chùi nữa, rồi lập tức xách khẩu đại liên lên, ra lệnh:
- Tất cả anh em theo tôi! Chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu!
Trong tình thế cấp bách không thể đợi hỏi ý kiến của đại đội, tôi tức tốc dẫn khẩu đội mình chạy về phía có tiếng nổ. Tôi ôm đại liên vọt lên trước và nói với anh em:
- Chắc là có biệt kích, mìn Cơ-lây-mo thì chỉ có tụi nó thôi. Mau lên!
Chúng tôi không đi theo đường mòn nữa, mà cắt rừng chạy thẳng tới kho gạo. Cái kho gạo này chúng tôi đã biết, vì đã từng đến đấy lấy gạo nhiều lần.
Chạy chừng mười lăm phút, chúng tôi vừa đến gần kho gạo thì nghe có tiếng rên la từ trong vẳng ra. Chúng tôi dừng lại nghe ngóng. Rõ ràng tiếng kêu rên đó là của các cô gái trong tiểu đội Biếc. Lâm thì thào:
- Lạ quá, không lẽ kho gạo bị tụi nó gài mìn?
Tôi không đáp, hất hàm ra lệnh cho anh em tiến vô. Cả khẩu đội bắt đầu vẹt lá rón rén bước từng bước đi vào. Lát sau, tôi loáng thoáng ngó thấy mái tranh kho gạo. Tiến thêm mấy bước nữa, tôi đã suýt buột miệng kêu lên. Tại kho gạo hiện ra một cảnh tượng hết sức khủng khiếp. Những cô gái vừa mới ở chỗ chúng tôi đến đây lấy gạo bị mìn đánh nằm té dài từ bên ngoài dẫn vào giữa kho. Có cô đã chết rồi. Có cô bị thương nằm rên rỉ. Tất cả năm cô đều trần truồng lõa lồ trông rất thương tâm. Máu chảy đọng vũng trên khoảng đất sân kho. Máu loang đỏ lòm trên những đám gạo trắng từ trong bồng đổ vung vãi. Quân giặc đã nổ mìn giữa lúc các cô đang xúc gạo từ kho mang ra.
Sau một lúc đứng im nghe ngóng coi giặc còn nằm lại không, tôi vẫn chưa cho anh em vào vội. Đề phòng giặc còn phục lại, tôi cùng anh em đi bọc rỏn rừng cây ở chung quanh mấy vòng. Cuối cùng biết chắc là chúng đã rút đi, tôi và anh em mới vào kho. Vừa trông thấy chúng tôi, các cô gái bị thương còn sống sót kêu lên:
- Mấy anh ơi, cứu tụi em!
Thế rồi không nói thêm được lời nào, nước mắt các cô chảy ròng ròng. Không đợi các cô nói, chính cái cảnh tượng đau lòng trước mắt đã nói hết với chúng tôi rồi. Rõ là sau khi cho nổ mìn đánh quỵ các cô gái, bọn giặc đã ùa vào hãm hiếp những cô còn sống sót nhưng bị thương nặng không thể chạy nổi. Bọn thú người ấy còn để lại trên bãi cỏ rừng nhầu nát mọi hành tích ghê tởm nhứt. Một trong số ba cô bị thương thều thào kể lại rằng một tiểu đội biệt kích Mỹ đã gài mìn sẵn rồi cho nổ mìn. Nhưng sau loạt mìn, chỉ có một cô bị chết, còn một cô nữa sau đó chết vì đã bị thương mà còn bị chúng tiếp tục cưỡng hiếp.
Tôi xốc khẩu đại liên và hỏi giọng lạc hẳn đi:
- Tụi nó đi khỏi đây lâu chưa?
Cô gái trỏ tay về phía sau kho gạo, miệng phập phào:
- Tụi nó mới đi khỏi là mấy anh tới!
Tôi nói:
- Thằng Cần ở lại đây băng bó tạm cho mấy cô rồi về báo tin cho anh em tới khiêng mấy cô về. Còn Lắm, Khởi với tôi phải rượt theo bắn tụi Mỹ chó đẻ này mới được!
Nói dứt lời, tôi chạy ra rừng, theo hướng cô gái chỉ. Khởi xách thùng đạn chạy theo. Lắm ôm AK bám sát. Ra khỏi kho, tôi thấy ngay đấu giầy Mỹ dẫm lên đất cát. Thế là lửa giận như bừng lên đốt cháy tâm can, tôi bươn gấp theo dấu giặc, mũi súng lăm lăm chĩa về phía trước. Bỗng dưng tôi chợt nghĩ chỉ cách đây vài bữa, chúng tôi đã từng cầm súng theo dấu xà-niên. Cũng luồn rừng vẹt lối như thế này, nhưng lại là với ý định tìm đem xà-niên trở về đời sống con người. Bây giờ thì khác hẳn, bây giờ chúng tôi đang theo dấu những tên Mỹ đã biến thành dã thú, với cái ý định tiêu diệt sạch bọn chúng. Mặc dù chúng tôi chỉ có ba, và được biết bọn biệt kích Mỹ có tới một tiểu đội, nhưng điều đó không mảy may khiến chúng tôi phải đắn đo. Hình ảnh những người con gái thân thiết yêu thương đã từng san sẻ gian khổ, sống chết với chúng tôi, nay vừa tức thời bị bọn Mỹ đánh mìn và hãm hiếp nằm oằn oại trên những vũng máu đã làm cho chúng tôi chỉ biết xông đuổi nhanh tới, tìm bắt chúng đền tội.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:21:15 pm » |
|
Tiếp theo :
Không đến mươi phút sau, chúng tôi đã đuổi kịp bọn ác thú. Mười hai tên biệt kích Mỹ mặc quần áo rằn ri đang lom khom lủi riết về phía trước. Chúng dàn hàng ngang, cắt rừng mà đi chớ không đi theo đường mòn. Hình như sau khi gây nên tội ác, bọn chúng không dám nấn ná lâu gần khu vực kho gạo. Cả bọn mải miết luồn rừng, chưa hề hay biết chúng tôi đã trông thấy chúng. Tôi ra hiệu cho Khởi, Lắm cố dấn lên một chút nữa, để có tầm bắn thiệt chắc ăn. Chúng tôi bước những bước thật dài, nhẹ nhàng đặt chân, rồi lại bước sải tới. Lắm có vẻ sốt ruột, nâng khẩu AK lên trong tay chỉ chực nhả đạn. Cả ba chúng tôi giờ đều giống nhau tâm trạng căm uất như dâng nghẹn cổ. Vừa chòng chọc vào những tấm lưng áo rằn ri Mỹ đang lom khom tôi lại vừa ngó thấy máu, máu trên thân thể các cô gái, máu loang trên gạo trắng đổ vung vãi trước kho.
Chúng tôi nổ súng khi đã tiến sát bọn Mỹ chừng ba mươi mét. Tôi quét qua quét lại tới ba loạt đạn thiệt căng. Hết loạt thứ ba, khi tôi rời tay khỏi cò súng thì hầu hết mọi thân cây nhỏ ở trước mặt tôi đều bị gãy gục, trống hẳn ra. Những tên mỹ đang lom khom đi tới, giờ vụt biến mất. Tất cả mười hai tên đều gục xuống hệt như những thân cây kia. Sau khi siết thêm mấy loạt đạn rà sát mặt đất cho chắc ăn và cho hả giận, chúng tôi xông tới. Bọn Mỹ trúng đạn đủ số mười hai tên, nằm sấp cách nhau rất đều quãng. Cái cảnh tượng mà chúng vừa gây ra tại kho gạo như thế nào thì giờ đây chúng đều trả y như vậy. Chợt tôi nghe Khởi la:
- Có một thằng chưa chết!
Tôi nhìn theo ngón tay Khởi, thấy thằng Mỹ nằm còn động đậy. Tôi bước tới bên đưa chân đá nghiêng người nó sang một bên. Tên này rất to lớn, bị đạn xuyên từ lưng ra bụng. Những đận ruột lớn nhuốm máu thòi lòi ra khỏi bụng tên Mỹ. Nhưng nó chưa chết, lại còn mở mắt ngó tôi lườm lườm. Cơn giận lại trào lên tôi thét lớn:
- Lắm, đem con dao lại cho tao!
Lắm rút soạt lưỡi dao găm Mỹ giắt bên lưng, nhảy tới trao cho tôi. Tôi từ từ nắm chặt cán dao, đưa mắt nhìn thẳng vào mặt tên Mỹ. Nó kêu rú lên, cái tiếng kêu ơ ớ kinh hãi khi nó thấy tôi lặng lẽ đưa nhích mũi dao tới chỗ bụng đang thòi ra mớ ruột phập phều của nó. Sự thiệt là vì căm giận quá tôi định ngoáy mũi dao vào vết thương nơi bụng tên Mỹ để giết chết nó luôn.
Nhưng lúc mũi dao còn cách bụng tên Mỹ chừng một gang tay thì tôi dừng lại để mũi dao dừng lại rất lâu ở tầm đó, suy nghĩ về hành động mình sắp thực hiện, và bỗng nhiên tôi không muốn làm việc ấy nữa.
Tôi đã từ từ buông lỏng tay cho lưỡi dao rơi cắm xuống đất. Rồi bước thoắt ngang qua mình tên Mỹ, tôi chạy ra một chỗ cách tên Mỹ mấy mét, đứng ngó trân trối vào một quãng trống không. Sau lúc kìm lại cơn giận, tôi không thể nào đứng ngó tên Mỹ lâu hơn được nữa.
Cả cái mùi hăng hắc toát ra từ bộ đồ da cọp vằn vện trên người nó, tôi cũng không chịu nổi nữa.
Nhưng cũng vừa vào lúc tôi tránh ra nơi khác thì tên Mỹ lại tiếp tục kêu lên ơ ớ. Tiếng kêu nghe như kẻ đang ngủ gặp cơn ác mộng. Tôi quay lại, nhìn thấy hai chân tên Mỹ chòi đạp dữ dội. Đôi cẳng chân đó mới đầu còn chòi đạp khỏe nhưng về sau yếu dần, rồi cuối cùng duỗi bật ngay đơ ra.
Bấy giờ từ ngoài trảng bỗng thổi lùa vào mấy cơn gió lạnh. ánh mặt trời buổi sáng vụt tắt. Rừng cây đang rợp nắng chợt âm âm u u sa sầm lại. Những luồng gió tiếp tục lùa ngang rừng, thổi mặt tên Mỹ chết kia tái dần đi. Gió lạnh lùa lá vật vã, run rẩy. Vậy là mùa mưa rừng đã bắt đầu tỏ ý muốn xâm chiếm cả ngày, không chỉ buổi chiều mà cả buổi sớm. ( Hết chương 30 )
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:23:48 pm » |
|
CHƯƠNG BA MƯƠI MỐT
Tiểu đoàn chúng tôi rời rừng khi mùa mưa đến. Gần sáu trăm chiến sĩ và đội viên thanh niên xung phong mình mang đầy súng đạn, gạo muối đã ra khỏi rừng đúng vào lúc rừng sắp đổ mưa già. Anh em chúng tôi chân đi dép cao-su, đầu đội nón tai bèo. Quân phục của chúng tôi là thứ vải hột dền nhuộm màu khói, có nhiều bộ đã sờn cũ và mang nhiều miếng vá. Chen lẫn trong đội hình màu khói ấy là màu áo đen hoặc xanh sẫm của các cô gái thanh niên xung phong. Những giải khăn rằn của các cô quấn cổ bay phần phật.
Tiểu đoàn chúng tôi đi, để lại sau lưng những cánh rừng già ngút ngàn mà mưa không ngớt xối xuống, giăng mù. Có hôm chúng tôi đi suốt trong mưa, người ướt đẫm, nhưng tốc độ hành quân vẫn không chậm lại. Cả một niềm hy vọng lớn đang rạng lên phía trước. Có biết bao nỗi đợi mong, những điều hứa hẹn đang vẫy gọi. Mưa vẫn ngày một lớn hơn, vẫn xối xả rỏ ròng ròng xuống mặt chúng tôi. Nhưng những khuôn mặt đang ướt đẫm nước mưa ấy của anh em chúng tôi vẫn tươi cười, hớn hở. Những đôi mắt có lúc bị nước mưa nhòa ướt, rồi sau đó lại mở to, lóng lánh, sáng trưng.
Chúng tôi đang tiến về miền Đất-đỏ.
Hôm ở rừng học sa bàn đánh vào Đất-đỏ, anh Ba Đấu nói lần này chúng tôi về Đất-đỏ là về quê hương chị Võ Thị Sáu nên chúng tôi phải đánh thắng, phải đưa cho được đồng bào ở đó ra khỏi vòng kềm kẹp của giặc. Ý chí quyết đánh quyết thắng cùng cái niềm tin giải phóng cứ lớn ra, nở nang ra giữa lòng chúng tôi. Hy vọng mỗi lúc một khởi sắc, như chính đất dưới chân chúng tôi thêm một ngày đi tới lại thấy thẫm hồng hơn.
Miền Đất-đỏ kia xích lại gần mãi. Đường đi chuyền dần từ màu cát ngà sang màu nâu nhạt, và đến ngày thứ tư thì đỏ hẳn lên. Đất-đỏ không còn xa chúng tôi nữa. Sắp đến đất đó rồi. Tên đất nghe sao như nỗi đắng cay lắng đọng, như mồ hôi, như màu cờ hòa chan với máu. Ấy là miền đất rất giàu, mà đời người thì lại rất nghèo, xưa nay máu không khi nào ngơi tưới đẫm gốc cây cao-su. Tôi biết đó là một miền đất anh hùng như mọi miền đất khác của tổ quốc tôi. Tại đó có một người con gái chết rồi mà bất tử, là Võ-Thị-Sáu, người con gái hãy còn sống mãi trong bài hát ngợi ca mở đầu như một kỷ niệm rưng rưng: "Mùa hoa lê-ki-ma nở, quê ta miền Đất-đỏ ...". Hôm nay lời ca đó đang mấp máy trên môi chúng tôi, khi chúng tôi đang cầm súng cất bước đi tới nơi đã sinh ra người nữ anh hùng thời kháng Pháp.
... Hôm nay chúng tôi đã thiệt sự đặt chân lên vùng đất đỏ. Đế dép cao-su của anh em tô quện dính thứ đất đỏ như chu sa. Bỗng nhiên hôm nay trời hửng nắng. Chúng tôi vui mừng chạy cẫng lên giữa khung cảnh hực hỡ sắc đỏ của đất, của những chùm chôm chôm, trái dừa lửa, của ráng chiều.
Đêm đến, tiểu đoàn chúng tôi đóng lại trong vườn cao-su cách thị trấn Đất-đỏ bốn cây số. Chúng tôi được lệnh nghỉ quân sáu tiếng đồng hồ, sau đó sẽ tiếp tục hành quân đến chỗ đánh. Và trận đánh, theo dự định sẽ nổ ra vào lúc trời sáng. Tôi leo lên võng, vấn một điếu thuốc to, vừa hút vừa ngẫm ngợi khoái trá về cái giờ khai hỏa rất kiên quyết và táo bạo của tiểu đoàn cho tới phút nầy vẫn được giữ nguyên. Trong khi những viên đạn pháo 105 của địch từ phía Đất-đỏ thụt bay véo qua đầu, tôi ngả lưng phà rít điếu thuốc một cách ngon lành. Thấy Cần cứ trở mình trên võng mắc cạnh võng tôi, tôi nhắc:
- Đi mệt, tranh thủ ngủ đi mầy Cần!
Cần làm thinh không đáp. Tôi biết Cần đang lo lắng. Trong khẩu đội, lần này có Cần là người hồi hộp xúc động hơn cả. Tôi đ điều đó ngay từ khi biết có một cuộc hành quân đánh lên Đất-đỏ. Cần sinh đẻ tại đất nầy, cái đó đã đành. Hơn thế, bà mẹ mù lòa của Cần hiện còn ở đợ giữ con cho người tại nơi nầy. Suốt dọc đường hành quân, tôi biết Cần hết sức băn khoăn lo lắng về mẹ mình. Cần thổ lộ với tôi: "Anh Quyết à, không biết má tôi giờ ra sao, không biết má tôi có còn hay là không?". Tôi đã nói: "Chắc không có sao đâu!". Rồi tôi bảo Cần rằng nếu má Cần còn nguyên ở chỗ cũ thì hay lắm, vì ấp chiến lược đó nằm trong điểm làm ăn của đơn vị. Lần này cả khẩu đội tôi sẽ quyết đưa má Cần ra một xã giải phóng, có bà con cô bác đùm bọc che chở (cái nơi đó tôi cũng đã bàn với anh Đấu). Mấy hôm trước, khi tôi báo cáo xin ý kiến về việc này, anh Ba Đấu và anh Sáu Dũng vừa ở quân y về đều tán thành ngay. Anh Đấu bảo: "Mấy anh biết hoàn cảnh bà má thằng Cần đã lâu, nhưng cũng chưa biết tính sao, bây giờ nhân dịp nầy mấy em tính luôn như vậy là hay lắm!".
Trong khẩu đội, ngoài tôi ra, Lắm và Khởi đều quyết lòng cứu bà mẹ. Lắm Kèn nói kiếm được bà má Cần, Lắm Kèn sẽ lãnh cõng.
Thấy Cần nằm yên không nói gì, tôi tiếp lời:
- Đừng lo mày Cần. Tao tin thế nào bà già cũng còn ở đó. Nội nhật ngày mai là mình biết thôi mà. Nếu gặp má trong khi nhiệm vụ khẩu đội mình còn phải tiếp tục chiến đấu thì tao bàn với tiểu đội thanh niên xung phong của Biếc lo đem má đi. Còn nếu mình đã "dứt" tụi nó hết rồi thì anh em mình cõng má về dư sức!
Nghe tôi nói, Cần vẫn im lặng. Tánh Cần xưa nay vẫn thế. Trong khẩu đội, Cần mủ mỉ ít nói. Ngay cả sự cực khổ sự đau đớn, Cần vẫn không nói không than.
Tôi biết sự lo lắng của Cần về bà mẹ chính mà nỗi đau đớn bởi đó là một người mẹ vừa cơ cực vừa tật nguyền; bởi mẹ Cần đã khổ mà còn ráng khổ thêm một mình để Cần ra đi. Dẫu chưa biết mặt mẹ Cần, nhưng nghe chuyện, tất cả chúng tôi đều thấy phục bà mẹ, đều xót xa canh cánh bên lòng như xót xa đối với chính mẹ mình. Trong trận đánh ngày mai, ngoài nhiệm vụ chiến đấu, việc đem bà mẹ ấy ra khỏi vòng lao khổ là một nhiệm vụ rất đỗi thiêng liêng của chúng tôi.
Hút hết điếu thuốc, tôi nằm một lúc rồi nhảy xuống võng, đi tới đi lui giữa những gốc cao-su, căn dặn anh em:
- Như trên cho hay, giờ chót trinh sát báo cáo là có hai C biệt động Da Beo ngụy nằm tại mấy ấp chiến lược mình sẽ đánh vô. Tụi Da Beo này hồi giờ mình chư, nhưng nghe nói là tụi ác ôn có tiếng. Ban chỉ huy vẫn giữ y kế hoạch tác chiến, gặp tụi nào cũng mần, Da Beo Da Cọp gì cũng mần ráo, nghĩa là tụi nào đút đầu vô thì mình nhai luôn ... Hễ nổ súng, là thằng Lắm phải thổi kèn thúc tới liền. Thằng Khởi, thằng Cần phải theo sát tao ... À quên, mấy cục cơm vắt tụi bây cất kỹ chưa, coi chừng chuột xực, tới sáng nhịn đói xung phong không nổi nghen!
Lắm cười:
- Tao treo ở đầu võng rồi!
Khởi nhóng người lên nói:
- Anh Quyết đừng có lo, rủi chuột có xực, bữa mai mình cũng không sợ đói. Có bà con cô bác mà lo gì đói!
Tôi nói:
- Đừng có chủ quan. Đụng tụi Da Beo, dang ca với nó một tăng rồi mới gặp bà con, mới có ăn uống được chớ bộ mầy tưởng ...
- Nè mấy anh, tụi ngụy sao nó khoái đặt tên nghe ác ôn không. Da Beo là tên đơn vị của nó hay là tụi nó bận đồ rằn ri như da beo?
- Thì là tên đơn vị tụi nó, mà tụi nó cũng bận đồ y như da con beo vậy. Hồi giờ, tụi ngụy tụi Mỹ gì cũng hay đặt tên nghe hì hợm: "Trâu Điên nè, Cọp Biển nè, Báo Đen nè. Đặt tên hì hợm ác xiêm lại để chi vậy, để hớp hồn mình, làm mình mới nghe mất thần. Ngặt mình là dân "chì" không, nên hớp hồn hơi khó. Tao nói thiệt, tụi nó cũng có thằng gan, nhưng gan kiểu liều mạng mục, chớ không phải gan kiểu như mình. Để mai giáp mặt rồi biết, Beo Cọp gì mai rồi biết!".
Tôi nói và trở về võng. Thói thường khi sắp bước vào một trận đánh mới, tôi có tật hay rột rẹt, đi tới đi lui. Coi còn anh em đã sửa soạn kỹ càng chưa? Có tướng nào hơi "nhợn" không, và coi lại từng thùng đạn, cục cơm vắt. Không biết nếu không có giặc ở nhà làm ruộng thì sao, chớ bây giờ hễ mỗi lần có một trận đánh mới là tôi nghe mở cờ trong bụng, nghe như có người rủ đi ăn giỗ, và lập tức trong đầu tôi dãn ra hết, mường tưởng ra mọi góc cạnh diễn biến của trận địa mà ở đó tôi thấy rõ thằng giặc tiến thoái, thấy rõ mình phải bắn nó ra sao. Tất cả đều y như chiến trường đang diễn, tất cả đều chắc mẩm, hệt như hồi nhỏ tôi cởi truồng lội dưới sông Phước-lai dẫm dấu mò cá, y như rằng mỗi một dấu chân đẫm qua lát sau trở lại là chộp dính ngay một con rô biển. Lắm khi, trận đánh còn theo tôi vào c� giấc ngủ. Tôi thường chiêm bao thấy mình ở giữa trận, tả xung hữu đột, nô nức la thét vùng đạp đến nỗi có lần Lắm giựt mình kêu rùm. Mỗi lần như vậy, sau khi thức giấc, tôi nằm tức cười một lúc lâu, mới ngủ lại.
Đêm nay cũng thế, tôi mới chợp mắt một chút thì chiêm bao. Nhưng cảnh chiêm bao hiện ra không phải là cảnh xung sát với địch trên chiến trường. Giấc mơ tái hiện cái cảnh do cô Tám kể hôm cô xuống thăm tôi ở Xã bang. ấy là cảnh con chó Phèn của tôi bị thằng Hoành bắn trọng thương, mang vết thương đi trong đêm tối. Con chó cùng thời thơ dại với tôi đó lê lết tru rống qua một quãng đồng dài, qua sông rạch, bưng trấp mò về tới một vùng lau lách. Con vật đáng thương đó trườn mình đến bên hai ngôi mả nằm giữa những thân lau lả lay, xào xạc. Con chó rên nho nhỏ, rồi thè lưỡi liếm đất bên mả. Đôi mắt nó long lanh ướt rượt dưới ánh sao. Máu con vật vẫn ri rỉ chảy ra. Máu đọng thành vũng chỗ nó nằm, thấm vào mả. Cuối cùng tôi nghe con vật tru lên một hồi dài. Tôi giựt mình tỉnh dậy. Đã mở mắt ra, thấy rõ mình đang đóng quân giữa vườn cao-su rồi mà tôi hãy còn nghe tiếng tru. Tiếng tru rền rỉ thê thảm của con Phèn tưởng như còn nghe thấy hoài không bao giờ dứt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:33:20 pm » |
|
tiếp theo :
Tôi ngồi bật dậy trên võng. Bàng hoàng mất một lúc bởi giấc mơ, tôi ngồi thu mình trên võng, càng nghĩ tới cái chết của con Phèn càng thêm đau lòng. Lúc này pháo địch đã thôi bắn. Lâu lâu nghe vọng lại những tràng súng lụp bụp ở hướng Đất-đỏ. Vòm lá cao-su trên đầu tôi rì rào gió thổi, làm rơi nhẹ những hạt sương. Có lúc vòm lá im bất động, và trong ánh trăng lên muộn, hàng trăm ngàn cây cao-su hơi nghiêng mình về một phía, thẳng tắp, đều đặn. Tôi vấn một điếu thuốc. Chợt nghe tiếng Cần hỏi khẽ:
- Anh Quyết thức rồi à?
- Ờ, tao nằm chiêm bao, thức dậy nãy giờ buồn quá!
- Chiêm bao gì mà buồn?
Tôi thở khói thuốc phào ra, nhỏ giọng:
- Chiêm bao thấy con chó Phèn của tao. Nó chết đã lâu bị thằng Hoành ác ôn bắn, con chó đi cả chục cây số về chết bên mả của ba má tao ... Nó chết thiệt như vậy chớ không phải là tao chiêm bao ra đâu. Theo anh Ba Đấu, thì cũng thằng Hoành nầy đã giết ba má tao ...
- Vậy sao?
Cần buột kêu. Lát sau, Cần nói nho
- Bữa nay tôi cũng ngủ không được. Nằm trong vườn cao-su này, tôi ngủ không xiết. Hồi đó tôi đi cạo mủ ở đây chớ đâu. Anh Quyết à, anh có ngó thấy mấy cái chén trắng trắng nằm rải dưới gốc cây cao-su kia không? Chén đựng mủ đó, mà cô bác kêu bằng chén đựng máu. Năm mười hai tuổi, tôi đã đi cạo mủ với má tôi. Má tôi khi đó lén lút nuôi mấy cô chú cán bộ. Bữa nào đi làm má tôi cũng dỡ cơm nhiều hơn, có khi đem gạo đem cá khô vô rừng cho các cô chú đến lấy. Từ khi má tôi bị pháo Mỹ bắn hư hai con mắt thì tôi cạo mủ một mình, rồi bỏ nơi đây mà đi. Tôi đi qua mấy vườn cao-su nầy để kiếm bộ đội. Tôi lội đi lội lại nhiều lần, lên tuốt trên miệt rừng trên, cạp ăn hết túm củ mì luộc để đón bộ đội kéo ngang ...
Cần ngưng nói. Có tiếng chân ai đi sột soạt. Khởi từ điểm gác ở cặp ngoài đường vô báo:
- Gần tới giờ rồi, mấy anh mình dậy đi, cơm nước xong là vọt!
Tôi nói:
- Chỉ còn thằng Lắm, chớ tao với thằng Cần dậy lâu rồi!
Không ngờ khi Khởi tới giật giây võng Lắm thì Lắm đã bật ngay dậy, nói giọng tỉnh rụi:
- Tao thức rồi!
Chúng tôi ai cũng đều đã thức trước cả. Từ lâu, điều đó hầu như đã thành lệ. Cái đêm hôm rạng ngày mở ra một trận đánh mới nào hầu như ai cũng tỉnh ngủ, ai cũng thức trước giờ trực gác. Chúng tôi nhanh chóng cuốn võng, và phút chốc đã ăn xong cơm trong im lặng, trong bóng tối chớm rạng ánh trăng lên.
Cánh rừng cao-su chứa cả tiểu đoàn chúng tôi không rlghe xao động gì lắm. Chúng tôi biết rõ sự im lặng từ giờ phút nầy trở đi là hết sức quan trọng. Suốt chặng đường hành quân từ rừng lên đây, chúng tôì đã cố gắng che kín mọi dấu vết, mọi sự dòm ngó của địch, kể cả bọn điệp dưới mặt đất và cặp mắt hết sức soi mói của con "đầm già" con "cầu tiêu" 1 từ trên không trung rong rễu ngó xuống. Giờ đây không có gì đáng tiếc bằng mọi bí mật lại bị phát hiện từ điểm áp kề trận địa. Hồi đầu hôm thấy pháo bắn vọt qua đầu, tôi đã mừng. Vì điều đó một phần nào chứng tỏ bọn địch chưa hay biết g
Chúng tôi rời bỏ khu rừng cao-su, nơi chúng tôi đã nghỉ tạm trên sáu tiếng đồng hồ. Nhưng chúng tôi vẫn hành quân trong rừng cao-su chớ không đi giữa đường cái.
Đại đội chúng tôi đến nơi và đã bố trí xong trước khi trời sáng. Nơi chúng tôi chiếm lĩnh nằm sát ấp chiến lược Phước-thạnh. Cái ấp nầy ở bên con đường đi Long- tân có một cái núi đất nhỏ cao chừng năm chục mét. Ngoài ra còn có hai con lộ chạy từ Bà-rịa đi Xuyên-mộc, và từ Đất đỏ ra Phước-hải. Chính nơi đây là quê nhà của chị Võ thị Sáu. Khẩu đội tôi đi cùng trung đội Một, lãnh nhiệm vụ khi nổ súng thì chi viện cho toàn đội. Anh Đấu anh Dũng đầu buộc chặt khăn như mọi khi, khom mình chạy từ trung đội nầy tới trung đội khác, nói giọng xúc động:
- Chỗ nầy là chỗ chôn nhau cắt rún của chị Võ Thị Sáu. Cho nên anh em mình phải đánh coi cho được. Chị Sáu sẽ ngó coi mình đánh đó!
Nghe mấy lời của anh Đấu anh Dũng, tôi nổi gai ốc khắp người. Về chị Võ Thị Sáu, tôi đã được học tập, được nghe kể chuyện từ lâu. Tôi còn thuộc nhiều bài hát ca ngợi chị, trong đó có một bài vọng cổ tả lúc chị bị giặc Pháp đưa đi bắn. Bài ca ấy nói chị hiên ngang đứng trước họng súng, dưới chân chị là những ghềnh đá Côn-đảo trào sóng. Trong sóng biển gió biển réo dậy ầm ầm, chị Sáu thét lên những lời bất khuất, đã gọi Bác Hồ, rồi ngã xuống nơi cái đảo tù ngục đó. Chị Sáu chết ở Côn-đảo, nhưng chị sinh ra ở đây. ở mảnh đất đỏ tươi mà anh em chúng tôi đang nằm chờ nổ súng, chính là nơi chị cất tiếng khóc oa oa chào đời. Cách đấy chỉ vài trăm thước, hãy còn ngôi nhà cùa chị. ở đó cho tới hôm nay vẫn còn giặc. Trong mấy chục năm, hết quân thù nầy lại tới quân thù khác lũ luợt kéo đến. Tin mớt nhứt của trinh sát cho hay: nắm chắc tại Phước-thạnh có một đại đội Da Beo, một trung đội dân vệ phòng thủ ấp, còn ở cách đó hai cây số có một tiểu đoàn biệt động quân.
Trời đã rạng sáng. Đêm tối vẹt ra, đất từ từ đỏ lựng và cây lá xanh lên. Trước mắt chúng tôi, ấp Phước-thạnh nằm trong vòng ràọ giây thép gai, nhú những nóc ngói của lô-cốt, nhà công sở, trường học. Vẫn chưa có lịnh nổ súng. Tôi nghĩ: "Bộ mấy anh Ban Chỉ huy tính đợi tụi biệt động bung ra rồi thanh toán nó ở ngoài hay sao kìa? Hay là mấy anh đợi cho sáng hẳn, đánh cho nó bất ngờ?" Tôi thấy như vậy càng tốt, ban ngày ban mặt bắn té thằng nào đếm đủ thằng nấy ...
Tới bẩy giờ sáng, súng lệnh mới nổ. Tôi chỉ vừa kịp thoáng ngó thấy anh Đấu tay cầm "Côn 12" nòng còn tóe khói, thoát mạnh. Thế là tôi ôm đại liên vọt lên như bay. Anh em trong khẩu đội cũng như bay theo tôi. Hồi kèn xung phong của Lắm thổi vang. Tôi vừa lọt được vô ấp thì đụng ngay lưng địch. Bọn nầy khoảng hai chục tên mặc đồ lốm đốm vàng đen coi y hệt da beo.
Bị chúng tôi ập tới quá nhanh, chúng còn nhốn nháo chưa kịp bắn, thì tôi bắn quét liền. Năm bảy tên Da Beo nhảy dựng, té chúi. Tôi xông tới. Bọn còn lại bỏ chạy. Khởi và Cần lượm luôn mấy khẩu "cạc-bin" băng cong khoác vào vai. Không để tụi Da Beo kịp xoay trở, chúng tôi rượt nà. Bọn nầy bị bắn té vài tên nữa, còn lại bao nhiêu chạy nhào vô một ngôi trường học. Sở dĩ tôi biết đó là một cái trường học là vì tôi ngó thấy ở trước sân các em học trò đang lố nhố rất đông và có cả một cô giáo mặc áo dài trắng. Giữa lúc tôi tính xách đại liên xông thẳng vô trường học, thì đột nhiên cô giáo mặc áo trắng chạy vụt ngược về phía tôi. Cô giáo vừa chạy vừa dơ cả hai tay lên trời, la lên tiếng được tiếng không:
- Mấy em ở trỏng đông lắm ... - Đừng, đừng bắn anh, đừng bắn anh ơi!
Mới vừa nghe cô la lên như thế thì tôi đã nghe đạn bay chao cháo. Bọn Da Beo chạy vô trong trường học đang bắn xỉa ra, bất kể các em học trò đang đầy sân. Cô giáo chạy tới mặt mày tái mét coi rất tội nghiệp.
Tôi lập tức kéo cô nằm xuống đất. Bây giờ bọn Da Beo bắn như mưa. Tôi tính bắn mấy tên lấp ló sau khung cửa, nhưng sợ trúng các em nhỏ nên tôi không bắn. Khởi thét:
- Mẹ, nó dựa vô mấy đứa nhỏ, nó biết mình không dám bắn đó anh Quyết! Tôi đã nhận ra điều đó rồi. Không thể nào bắn quét được, vì nếu bắn quét thế nào cũng có em chết. Tôi đành phải ghìm súng, giữ cửa. Hễ tên nào ló ra cửa thì tôi bắn, vớ ý đồ kềm chặt không cho chúng chạy vượt ra, đợi đơn vị tôi tới bắt sống. Bọn Da Beo chừng như cũng biết mối nguy cơ ấy, nên chúng cố tìm cách tháo ra.
Nhưng tên nào ló đầu ra, cũng đều bị chúng tôi bắn. Có thằng thụt vô kịp, có thằng chết. Chúng cứ thụt ló như vậy hoài tới mươi phút thì anh em trung đội Hai tràn tớí, ào vô. Mười mấy tên biệt động Da Beo lúc đó mới dơ tay đầu hàng. Chúng bị lùa ra khỏi trường học.
Sau lưng tôi, cô giáo còn nằm sát đất, run cầm cập như lên cữ rét. Tôi tức cười quá kêu:
- Cô ơi dậy đi, run gì mà run dữ
Cô ta ngước mặt lên. Rồi cô lồm cồm ngồi dậy. Da mặt xanh mét của cô dần dần ửng đỏ. Giờ có lẽ cô mới kịp mắc cỡ vì thấy tôi cười. Giờ tôi mới nhìn kỹ, thấy cô ta còn rất trẻ, tuổi ước chừng mười tám mười chín là cùng. Cô có khuôn mặt bầu bĩnh, đôi má phính và cặp mắt trẻ thơ. Bỗng tôi ngạc nhiên ngó thấy chiếc áo dài trắng cô đang mặc đã đứt phăng đâu mất cả một vạt sau, khiến cho chiếc áo phía trước thì dài, phía sau thì ngắn coi rất tức cười. Tôi kêu lên:
- Ủa, cái áo của cô sao mất tiêu vạt sau rồi?
Cô giáo nhỏ tuổi đưa tay quờ ra sau lưng, nói giọng tấm tức:
- Hồi nẫy tụi nó có cho tôi chạy ra đâu. Một thằng chụp vạt áo tôi níu lại, mà tôi thì chạy đại tới nên bứt luôn.
Chúng tôi cười rộ lên, làm cô gái càng đỏ mặt. Nhưng rồi cô đâm dạn lên:
- Mấy anh ở đâu mà xung phong vô lẹ quá trời. Tôi vừa mới tới trường, chưa kịp vỗ tay biểu mấy em vô lớp, là nghe bùm bùm, rồi kế thấy đám lính Da Beo bị mấy anh rượt chạy túa tới ... Tôi cười:
- Thì bộ đội giải phóng phải lẹ chớ cô. Nói thiệt tụi tôi không tới thì thôi chớ tới thì tới cấp kỳ. Mà thôi, bây giờ xin chào cô nghe, tụi tôi còn phải đánh dọn tuốt lên trên kia. Còn cô cũng cứ vô lớp dạy mấy em học như thường đi!
Cô giáo hơi dẩu môi:
- Dạy gì, súng nổ rùm còn ở đó mà dạy!
- Không có sao đâu, ở khúm nay kể như yên rồi. Cô cứ vô lo dạy đi. ủa mà chưa được, cô phải về thay áo đi đã không thôi mấy em nhỏ nó cười chết. Thôi chào cô, tụi tôi đi nghen!
Chúng tôi quày quả đi sâu vô ấp. Cô giáo vẫn đứng tần ngần ngó theo chúng tôi. Rời khơi trường học một đỗi, chúng tôi nghe súng nổ ran trước mặt. Bọn Da Beo cụm lại trong mấy hàng dừa, bắn rất rát, khiến anh em lên không nổi.
Anh Đấu ở đâu chạy tới, đưa tay trỏ một ngôi nhà dưới rặng lê-ki-ma:
- Mấy em ngó thấy cái nhà đó không, nhà chị Sáu đó!
Tôi phóng người lên nhìn, ngó thấy một cái nhà vách đất, nóc lợp tranh đã cũ rệu. Chung quanh nhà cây cối đi đốn rạp, chỉ còn lại mấy cây lê-ki-ma.
Từng lớp giây thép gai vây kín quanh nhà tuồng như hiện có bọn địch cố thủ ở đó. Anh Đấu ngó vô vườn dừa sốt ruột bảo:
- B2 đánh lăng nhăng lâu quá. Thôi mấy em đem đại liên đánh tạt sườn địch cho thiệt mạnh, bứng nó ra khỏi mấy gốc dừa đó đi!
Tôi nhận lệnh, dẫn khẩu đội đi vòng, rồi đánh thốc ngay vào các bờ dừa. Đại liên chúng tôi nổ miết không ngừng. Giây đạn vàng chóe cứ như bị khẩu Brô-ninh nuốt chửng. Bọn địch bị đánh núng quá, nhảy xào xào qua các mương dừa. Đang bắn bọn biệt kích Da Beo thình lình tôi nghe sau lưng súng nổ dậy lên. Tôi sửng sốt không biết có chuyện gì thì liên lạc chỗ anh Đấu chạy vô báo bọn Biệt động quân đã tiếp viện, chúng đang bắt từ sau đánh tới. Tôi xách đại liên nhảy vào bờ dừa.
Lần này, đặt đại liên xong, tôi kêu anh em trong khẩu đội tản ra. Đợi bọn biệt động xáp tới thiệt gần, tôi mới bắn. Bọn này bị chết nhiều, hoảng hốt lùi lại. Tôi ôm xốc đại liên, hô anh em rượt theo. Nhưng mới rượt tụi biệt động được chung một công đất thì bọn biệt kích Da Beo ban nãy còn trong vườn dừa bám theo đánh. Bọn biệt kích rõ ràng có ý muốn xé khẩu đội của tôi để kết liền với bọn biệt động. Đang rượt ngon trớn, bị bọn này làm mất hứng, tôi giận quá quay trở lại kêu Khởi đem cho tôi một thùng đạn lum đum. Lắp đạn xong thì bọn Da Beo cũng vừa ào tới.
Khởi và Cần thét:
- Bắn!
Tôi bắn hết tới nửa thùng đạn, xô ngã hằng chục tên. Bọn còn lại quýnh quá, vừa lùi vừa tụt cởi đồ da beo, nhảy sồn sộn xuống mương dừa. Cần và Khởi la:
- Tụi nó chém vè!
Đang giận vì bọn này bám đít đánh, tôi xách đại liên phóng qua mương, nhảy đến sát từng tên Da Beo đang lóp ngóp dưới mương. Hầu như tôi dí sát đại liên vào từng tên mà bắn. Còn lại một tên hình như là chỉ huy, tay hẳn cầm súng ngắn tay cầm một trái lựu đạn da lá đưa lên ghé răng rút chốt. Tôi chạy trên bờ dừa còn hắn thì lội dưới mương Tên sĩ quan cố gắng bươn về phía cuối mương. Khi đã đến cuối mương, bỗng hắn xây lại, tựa lưng vào bờ mương, sẵn sàng đợi tôi rấn tới. Tôi không thể dây dưa, liền bắn một viên ngay vào giữa bộ ngực lông lá bê bết sình của hắn. Hắn ngoẻo vật đầu vào bờ mương. Khỏi và Cần tính chạy lại chỗ tên sĩ quan vừa chết, thì tôi thét:
- Đừng, đừng lại!
Tôi vừa thét dứt thì một tiếng lựu đạn nổ ầm. Đó là trái lựu đạn mà tên chỉ huy đã rút chốt cầm tay, nhưng chưa kịp liệng. Đợi khói lựu đạn tản bớt, tôi chạy đến chỗ tên chỉ huy chết. Ngực hắn nát bấy thêm ra, vì trái lựu đạn của chính hắn. Tôi chợt nhìn thấy ở nơi cánh tay chạy lên bả vai trần của hắn có thấy hình xâm rất tục tĩu. Tôi ngờ ngợ nhớ đâu như mình đã có lần ngó thấy hình xâm này rồi, nên đưa chân đá khều cái kết rằn ri giờ đang trụt che mất nửa mặt hắn. Khi cái kết văng ra, tôi kinh ngạc trố mắt rồi kêu lên:
- Trời ơi, thằng Hoành!
Đúng là thằng Hoành. Tôi không thể nào quên bộ mặt hung ác của hắn. Cho dù đã sáu năm trôi qua, tôi vẫn nhớ rõ mặt hắn. Cái da mặt sạm đen, hơi rỗ một ít và đôi mắt đặc biệt hầu như chỉ có toàn tròng trắng giờ đây vẫn chưa nhắm, trừng trừng ngó vào một cõi khác. Tôi không ngờ là hắn, kẻ thù của bà con cô bác nhưng cũng chính là kẻ thù của tôi mà bấy lâu tôi đỏ mắt, kiếm tìm, thì hôm nay khi giết hắn tôi cũng chưa biết được đó chính là hắn. Ngược lại, khi chết hắn cũng nào ngờ chết bởi tay tôi. Cái chuyện ác báo ác lai tưởng như là lời răn, hóa ra có thiệt vậy đó, có thiệt một cách ngẫu nhiên. Trong khoảnh khắc, tôi thấy lại những cảnh mà tội ác của tên Hoành gắn liền. Cảnh chết của ba má tôi, cảnh đêm tối nơi chòi trâu năm nọ tụi thằng Hoành đâm lên người các cô chú cán bộ. Và cảnh con Phèn, con chó bị hắn bắn trọng thương băng mình đi trong bóng đêm, máu rỏ dài trên suốt một quãng đồng hiu quạnh. Vẫn chưa hết, trên mặt tôi vẫn còn vết sẹo do hắn dùng lưỡi hái mà quấu. Còn những bữa tiệc rùng rợn tại nhà Biện Tư, thằng sát nhơn đó uống rượu với gan người xào. Và biết đâu còn những cảnh xảy ra ở chỗ khác, có bàn tay hắn nhúng vào? Những năm qua, hẳn hắn còn tiếp tục gây ra biết bao món nợ máu khác. Bây giờ thì hắn đã trả nợ. Ngồi chết thõng thượt dưới mương lầy lụa bùn sình trộn lẫn máu, tên ác ôn lưng dựa vào bờ mương trổ đầy rễ dừa, đầu ngoẻo vật sang bên. Trên người hắn chẳng còn bộ đồ da beo, mà chỉ còn mặc có cái quần cụt vằn vện. Tay phải của hẳn giờ hãy còn cầm khẩu súng ngắn, nhưng các ngón tay đã rã rời buông lỏng
Tôi cúi xuống gỡ khẩu súng ra khỏi tay hắn, đó là một khẩu "Côn 12", đạn trong gắp còn bảy viên, chưa kể một viên đã lên nòng.
Anh em đang lục soát đồ đạc vũ khí của bọn Da Beo. Lắm Kèn từ đâu chạy tới đưa cho tôi coi một cái áo da beo sĩ quan:
- Tao mới lượm được dưới gốc dừa.
Thấy nơi ve cổ áo có thêu ba bông mai, tôi lẩm bẩm:
- Áo này chắc thằng Hoành mới cởi vụt. Nó đã lên tới chức đại úy rồi!
- Ai, thằng nào?
Tôi đưa tay trỏ:
- Thằng ngồi chết đó ... Tụi bây lại coi mặt nó đi. Đó chính là thằng Hoành tao vẫn thường kể chuyện, hồi tao coi trâu ở Phước-kiển ...
- Ủa, thiệt vậy sao?
- Tao đã nhìn kỹ, đúng là nó. Tao cũng không dè gặp lại nó ở đây. Tiếc cái là tao đã cho nó một viên vô ngực trước khi nó nhận ra tao.
Lắm bước lại dòm tên Hoành rồi bảo:
- Mặt thằng nầy ngó nháng qua là thấy ác ôn liền. ý là nó đã chết rồi. Nó chết tới hai lần. Một lần bị bắn, một lần lựu đạn trong tay tự nổ, thôi vậy cũng đáng đời.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vmt
Cựu chiến binh

Bài viết: 959
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 02 Tháng Năm, 2011, 08:37:44 pm » |
|
Tiếp theo :
Cầm khẩu "Côn" dắt vô lưng, tôi hô anh em ra khỏi bờ dừa, tiến thẳng về phía ngôi nhà chị Võ Thị Sáu bây giờ súng đang nổ dữ dội. Bọn lính biệt động vừa rúc vào đó và các nhà của đồng bào. Mới vừa trở ra khỏi bờ dừa, tôi đã nghe trung liên từ trong nhà quét ra. Bọn địch đã chiếm nhà chị Sáu, đặt trung liên lên bệ cửa sổ khoét giữa vách đất. Cả hai cửa sổ đều có trung liên nhả đạn. Như vậy là chúng có một công sự đề kháng khá vững. Trước đó ngôi nhà chị Sáu chỉ là một ngôi nhà bị quản thúc, trống không. Chung quanh nhà chị quả là có rất nhiều lê-ki-ma nhưng giờ đã bị đốn trụi, chỉ còn lại vài cây.
Sợ đánh cù nhầy lâu lắc không yểm trợ được anh em tràn vô xóm, tôi bàn với anh
- Ba đứa bây ở đây bắn kềm tụi nó, để tao vô!
Tôi bí mật ôm đại liên bò vòng vào hông nhà, nên bọn địch không chú ý vì đã có tường đất che chở. Tôi bò trườn tới, lôi theo khẩu đại liên, lanh lẹ như một con cá rô đang lóc mình. Tới lớp dây thép gai rào nhà, tôi vẹt lên, chui qua. Lọt khỏi hàng rào, tôi bò thêm chút nữa, rồi xách đại liên nhổm dậy chạy áp sát mình vào bức vách đất. Từ đó tôi men riết ra phía cửa sổ có cây trung liên địch đang bắn. Tới sát bên khung cửa, tôi đứng lại. Đợi tên xạ thủ vừa bắn đứt đoạn, tôi liền thoắt mình bước tới ngay cửa sổ đưa thẳng họng đại liên bắn chĩa vào giữa mặt tên xạ thủ. Tên này buông súng ngã vạt vào trong. Tôi chồm người qua cửa, thọc đại liên bắn ngoáy. Bọn địch trong nhà thất kinh la rú lên.
Tên địch đang bắn trung liên ở cửa sổ bên kia lẽ ra phải bắn tôi thì lại bỏ súng chạy. Tôi nhảy phốc qua cửa sổ, vào nhà. Trong nhà có tám chín tên địch dồn về phía vách bên kia. Tôi quét qua một loạt, chỉ còn sót lại một tên rú như điên, bò càng bò lê dơ thẳng hai tay lên:
- Được rồi, đứng dậy! Tôi thét: - Ê, còn thằng nào trong nhà không, ra hết không thôi tao bắt dược là chết!
Ở trong buồng chợt vang ra tiếng một giọng nói như ríu lưỡi:
Dạ có em ... em xin hàng, đừng bắn ... em ... em mới dám ra!
Tôi ráng nín cười:
- Ra mau, không ra là tao quét liền!
Hai tên mặt mày xanh mét từ trong buồng ló ra.
Tôi nói:
- Từng đứa trói lẫn nhau, trói thúc ké, nghe không?
- Dạ tụi em không có giây. Một tên ngơ ngác trần tình.
- Cuộn giây gì tụi bây đeo ở "xanh-tuya" đó, hả?
- Dà dà ... Trong phút hãi hùng, hai tên lính đã quên khuấy đi l bọn chúng đứa nào cũng có đem sẵn một cuộn giây để trói người. Nghe tôi nhắc chúng mới nhớ ra, tháo giây trói lẫn nhau. Thấy hai tên vừa trói vừa láo liên ngó tôi, tôi biết ý nói ngay:
- Ê đừng tưởng tao có một mình nghe. Anh em tao vô tới kia kìa. Mà dầu có một mình tao, thằng nào rục rịch dở trò phản phé là tao "dứt" liền, khỏi có ý kiến đa!
Mà thiệt, anh em tôi đã vô tới. Cả ba leo qua bậu cửa sổ, nhảy vô nhà lịch phịch. Tôi chỉ hai cây trung liên "Bar" nằm dưới đất nói:
- Tụi bây ráng chịu khó mang thêm hai cây nầy nữa. Của Mỹ đưa ngụy nộp cho mình, tội gì không lấy!
Ngôi nhà của gia đình chí Võ thị Sáu nay hoàn toàn không có vẻ gì là nơi của một gia đình hiện còn ngụ nữa. Ngôi nhà đã bị niêm phong, bị vây quanh bằng giây thép gai, và mới rồi là nơi cố thủ của bọn biệt động quân. Thời kháng chiến chống Pháp đã qua rồi, nhưng mọi dấu vết gì thuộc về chị Sáu, kể cả cái nhà cha mẹ chị cũng đều kích động cổ võ mạnh mẽ bà con đánh Mỹ. Cho nên bọn Mỹ ngụy đã đuổi cha mẹ chị Sáu đi nơi khác, và cấm tiệt không cho ai lui tới ngó nhìn. Kẻ thù hôm nay có đổi mặt, nhưng cũng cùng một duộc như nhau. Chúng nó cũng biết ngăn ngừa hậu họa do một người chết còn để lại, chúng sợ đến cả miếng đất ngôi nhà của người đã khuất. Nhưng sự ngăn cấm, sự quản chế ngôi nhà mái tranh vách đất đó lại gây nên nỗi phẫn khích với chúng tôi. Kể từ lúc anh Đấu chỉ cho tôi ngó thấy ngôi nhà chị Sáu, một ngôi nhà bị giam thế đó thì lòng tôi như có lửa đốt. Tôi đánh bọn biệt động cố thủ trong nhà mà không tưởng rằng mình đánh được mau như vậy. Mấy tên địch còn sống sót cũng phải bàng hoàng kinh ngạc.
Bọn địch trong nhà chị Sáu bị đánh tan làm cho bọn lính náu ẩn ở trong xóm cũng lần lượt bị tan rã. Lắm Kèn của chúng tôi chạy ra sân, leo lên một cành ổi, giương kèn thổi thúc. Đại đội tôi tràn ngập khắp xóm.
Anh em sục vào các nhà bắn diệt bọn địch còn chui rúc trong đó. Chúng xé vách lá chui ra, có thằng chạy ra được, nhưng có thằng mới chui được một nửa người thì bị bắn chết nằm nửa trong nửa ngoài. Có tên trốn dưới gậm giường của đồng bào, anh em chúng tôi vừa vô thì bà con đã đưa mắt ra hiệu chỉ cho anh em bắt.
Tại ấp chiến lược Phước-thạnh, lực lượng địch coi như bị quét sạch. Các tiểu đội thanh niên xung phong, trong đó có tiểu đội Biếc lui lui tới tới lo khiêng thương binh và thu súng đạn. Anh em trong đại đội chạy vô nhà chị Sáu xúm khiêng tôi. Cần, Lắm tung lên. Anh em hoan hô khẩu đội tôi ầm ầm. Một lát sau, anh Đấu và anh Sáu Dũng chạy tới. Anh Dũng nói:
- Các đồng chí khẩu đội đại liên bữa nay có vinh dự rất lớn vì đã đánh chiếm lại được nhà của chị Võ Thị Sáu. Thay mặt Ban chỉ huy chúng tôi biểu dương các đồng chí. Riêng đồng chí Quyết, Chi ủy Đảng chúng tôi vừa hội ý và có xin ý kiến Đảng ủy Tiểu đoàn, quyết định kết nạp ngay đồng chí Quyết vô Đảng!
Tôi không ngờ có chuyện đó, mừng và cảm động rưng rưng nước mắt. Cuộc lễ kết nạp tôi liền được tổ chức ngay, giữa lúc trong ấp khói súng chưa tan, giữa tiếng kêu la rền rĩ của bọn địch bị tử thương đang hấp hối. Thiệt ra lễ kết nạp tôi không có nghi thức đầy đủ, nó khác hẳn những cuộc lễ kết nạp khác nhưng lại hết sức thiêng liêng. Là vì buổi lễ được cử hành tại nhà chị Võ thị Sáu. Cuộc lễ không có cờ Đảng, nhưng lại có Lắm thổi kèn bản Quốc tế ca. Đó lại là một sự bất ngờ mới. Tôi không rõ Lắm đã học thổi bản đó hồi nào mà nó thổi nghe hay và trang trọng hệt một tay kèn nghề. Điều đặc biệt hơn nữa là ngoài các chiến sĩ đảng viên còn có nhiều anh chưa vào Đảng được mời dự, vai khoác súng kéo tới đứng đầy nền nhà chị Sáu có rất nhiều chỗ còn ướt máu thù.
Buổi chiều của ngày hôm ấy, đại đội tôi đánh tràn tới ấp chiến lược Long-tân. Trên đường tiến, đại đội bị máy bay khống chế gắt gao. Chúng liệng bom, bắn phá suốt dọc đường. Mấy con đầm già rà rê cặp đường theo dõi. Một đại đội biệt động quân còn lại kéo ra cản đường trước khi đại đội tôi đến ấp. Nghe tin chúng kéo ngược lại, tôi đề nghị với Ban chỉ huy cho khẩu đội tôi ra dọn đường một mình chớ trời còn sáng cả đại đội hành quân sẽ bị máy bay phát hiện và gây khó khăn. Anh Đấu hỏi tôi:
- Em tính dọn ra làm sao nói nghe thử?
Tôi dơ tay chỉ một vườn chuối nằm sát đường vừa bị bom phá trụi nói:
- Vườn chuối đó trụi hết không còn gì, nhưng tụi em có thể nằm ém ở đó, đợi tụi nó tới thì tốc lên đánh!
Anh Đấu lắc đầu bảo:
- Khi không mà vác tới vườn chuối thoi loi đó cho nó vây à?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|