Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:42:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gió Lửa  (Đọc 87215 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #70 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 03:45:12 pm »

Nghe Vũ quát, Trịnh Tông lạnh sống lưng, tay bóp vào nhau, xương nghe lách cách. Hoàng tự tôn là Lê Duy Kỳ, bị Trịnh Sâm bắt từ lúc tấm bé, bỏ ngục cho đến ngày kiêu binh đưa ra thì đã mười sáu tuổi. Mặt mũi uy nghi, Kỳ đúng là bức truyền thần sống của Ðông cung thái tử Lê Duy Vĩ, kẻ đã bị Sâm sát hại khi Sâm lên ngôi Chúa. Vua Lê Hiển Tông đón cháu đích tôn về cung Vạn Thọ, vừa khóc vừa bảo “ ... thế là hồng phúc nhà Lê chưa dứt ”. Từ đó, Kỳ ở cạnh Vua, ngày ngày đọc sách Chu Tử, có gì thắc mắc lại đem ra luận bàn với những nhà danh nho như Ninh Tốn, như Phan Huy Ích, và có tiếng là thông tuệ. Hiển Tông rất quí Kỳ, không cho ra ở riêng, lại bắt nhận Thái tử Lê Duy Cẩn làm nghĩa phụ. ý Vua là sau này Cẩn sẽ truyền ngôi lại cho Kỳ vốn thuộc dòng trưởng nhà Lê.

Cẩn vốn thân tình với Thái hậu Dương Ngọc Hoan và Chúa. Thái phi vẫn nghĩ rằng một khi Cẩn lên nối ngôi Vua, vị trí Chúa của Trịnh Tông lại càng vững, nên luôn luôn săn đón mời mọc. Có lần, Cẩn dẫn cháu là Duy Kỳ đi theo, Hoan thấy tướng mạo Kỳ đúng là có quí phúc, đem lòng ngấm ngầm ganh ghét. Gọi một thày tướng nổi danh vào Phủ, Hoan đãi một bữa tiệc có cả Tông lẫn Kỳ. Cuối bữa, Hoan hỏi. Thày tướng nói nhỏ vào tai : “ Một người là Chúa thì người kia không thể là Vua. Một người là Vua thì người kia không thể là Chúa. Ðằng Kim, đằng Mộc, tướng khắc mà mệnh cũng khắc ... ”. Hoan nghe xong, mặt tái nhợt, đứng dậy kiếu đi nghỉ trưa.

Về đến phòng, Hoan vẫy gia nhân tín cẩn ra dặn dò. Ngoài sảnh điện, Kỳ và Tông tiếp tục uống rượu. Thêm dăm chén, Kỳ thấy nhức đầu, xin phép đi về. Bấy giờ, kiệu rước Kỳ đã về cung Vạn Thọ vì gia nhân nhà Chúa ra bảo rằng Hoàng tự tôn còn ở lại ăn yến bữa tối. Kỳ đành lên kiệu nhà Chúa, nhưng chưa đi ra đến cổng thì kiệu rẽ về phía nhà hậu. Có người vén kiệu, úp một chiếc khăn vào mặt, làm Kỳ mê đi.

Khi nửa tỉnh nửa mê, Kỳ thấy mình nằm bó giò trong một chiếc võng có hai người khiêng chạy. Kỳ cố hé mắt ra. Trời lúc đó đã chạng vạng tối. Kỳ thét “ ... bay đưa ta đi đâu ? ” Chỉ có tiếng quát nhỏ “ Nhanh lên nào ! ” và bước chân phu võng lại càng vội vã. Kỳ thấy nguy, hết sức vùng vẫy la hét. Ðám cấm binh trong đội Trung Kính nghe tiếng chạy đến giải cứu cho Kỳ, khiến đám gia nhân ba chân bốn cẳng trốn mất.
Sau khi nghe Kỳ thuật chuyện, Bằng Vũ ngẫm nghĩ rồi cho mời Bật Trực và Gia Thọ vào. Họ bàn tính gì đến nửa đêm không ai hay biết, nhưng sáng hôm sau, cả bọn nai nịt rồi kéo kiêu binh đến vây phủ Liêu hạch hỏi. Ðặng chẳng đừng, Tông đành phải cho mời Thái hậu ra đối chất. Bằng Vũ nhỏ nhẹ :

- Võng mang Hoàng tự tôn đi đâu ?

- ...

- Lối đó võng chỉ có thể ra hồ Thuyền Quang. Vậây ai định dìm chết Hoàng tự tôn ?

Mặt tái mét, Dương Ngọc Hoan lắc đầu :

- Tôi không biết !

Lúc ấy, Bùi Bật Trực vẫy tay, kiêu binh xốc nách một gã đàn ông chạc tứ tuần, đầu tóc bù xù, mặt mũi bị
đánh sưng vêu lên, mang vào đẩy cho ngã xuống thềm điện. Trực hỏi :

- Thái phi có nhận ra y không ? Ðây là người em con dì con già của Thái phi, và là một trong hai người khiêng chiếc võng bắt Hoàng tự tôn đấy !

Dương Khuông nhìn chị, mặt xanh như tầu lá. Khản chép miệng, thở dài không nói không năng gì. Bằng Vũ đằng hắng :

- Việc đã đến thế này, không giải quyết không được. Thái tử Cẩn vốn là do Tiên chúa đặt lên, xét đến công đức thì không có gì, chỉ độc có tiếng là cục đất tròn, lăn đến đâu thì lăn. Nay, Vua giỏi Chuá tài thì xã tắc mới yên ổn. Chúa có rồi, Vua già yếu, tất ai cũng nghĩ đến chuyện nối ngôi. Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ vốn là trưởng nam của Ðông cung thái tử Vĩ, lên ngôi là hợp lẽ và đúng ý của Ðức Vua. Quí vị nghĩ thế nào ?

Khuông lập cập :

- Thế là phải truất Cẩn đi à ?

Trực cười nhạt, không thèm trả lời. Khản hắng giọng :

- Việc như thế, phải có cả triều đình, không chỉ một hai người mà làm thì mới giữ được danh cho chính.

Vũ gật đầu, nhìn Tông dò hỏi. Như một cái máy, Tông lắp bắp :

- Phải, phải đấy. ý ta cũng thế, ta nói vào để việc lập Ðông Cung cho Kỳ suông sẻ, được không ?

Trực lại đưa mắt nhìn Gia Thọ, xưa vốn là thư lại của Tông. Tên này bước lên, chân quì, tay vái, miệng ráo hoảnh :

- Chúa nghĩ thế quả là phúc cho xã tắc. Toàn thể cấm binh chúng tôi xin đời đời đội ơn. Nay chúng tôi sẽ
ăn khao cái tin mừng mà hàng dân đang trông đợi ...

Tông ngạc nhiên :

- Ăn khao ?

Gia Thọ hềnh hệch cười, giọng nhẽo nhẹt :

- Vâng, khải Chúa. Tốn kém cũng không phải ít.

Người hiểu đầu tiên là Dương Ngọc Hoan. Thái hậu nay đã bớt sợ, chép miệng rồi bảo Thọ :

- Ðược, mai đến có rượu thịt ê hề cho trăm người ...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #71 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 03:46:11 pm »

Thọ mặt dạn mặt dày :

- Ðội ơn Thái hậu, mai chúng tôi sẽ đông đủ để chúc mừng công đức nhà Chúa. Thế còn hôm nay ...

Thái hậu thở dài, xót xa :

- Hôm nay thì ta còn một nghìn lạng bạc, cứ lấy mà chia nhau. Có thế thôi, nài ta cũng chẳng đào đâu ra thêm cho được !

Câu chuyện ám hại Lê Duy Kỳ tưởng đến đấy đã xong, nhưng Bùi Bật Trực vẫn không bằng lòng. Trực vào thẳng Hoàng cung tâu với Vua Lê rằng Tông bất tài bất tướng, phải phế đi để lập Trịnh Bồng lên thay. Thật ra, lý do chính là Trực thấy với Bồng thì có vẻ thế nào cũng được, trong khi đó Tông vẫn âm thầm tìm cách khống chế kiêu binh. Vua không thuận mà cũng không chống. Ðược thể, Bật Trực tìm Trịnh Bồng nói thẳng.

Bồng nghe xong, buổi tối hôm ấy đến ẩn trong Vương phủ, kể lại đầu đuôi cho Tông và Dương thái phi nghe. Trịnh Tông mời Khản và Khuông đến vấn kế. Khuông lầu bầu :

- Thế này thì chẳng còn lề lối phép tắc gì nữa. Chúng nó làm càn đến độ chẳng còn trời còn đất, đúng là quân bất trị !

Khản bình tĩnh hơn, đề nghị với Bồng là nên rời Kinh đi trong một thời gian. Bồng nghe như mở cờ trong bụng. Mẹ con Tông không phản đối nên Bồng xin phép đi ngay để tránh sự cấm cản của kiêu binh. Khản lại nói :

- Thượng công có thể lên hai trấn Sơn-Nam gọi Quận Thạc mang quân về không ?

Bồng chắp tay, lắc đầu :

- Chuyện này, xin thứ cho. Bồng tôi đã vào cửa Phật, không đành lòng vướng vào những hệ lụy nhân sinh.

Trịnh Tông vội nắm lấy tay Bồng :

- Nhưng cơ nghiệp tổ tiên, bỏ đi sao đành ? Họ Trịnh ở ngôi chúa đã ba trăm năm, một lúc mang đổ xuống
sông hết ư ?

Nhìn vào mắt Tông, Bồng hiền hòa :

- Có sinh, tất phải có diệt. Có cơ nghiệp nào mãi mãi được ?

Thái phi Dương Ngọc Hoan chen lời :

- Còn nước, còn tát. Hay là Thượng công cần vàng. Có cần, cứ cầm lấy ba trăm lạng tôi còn giữ được đây!

Bồng niệm Phật, nhìn Hoan, nhẹ nhàng :

- Bồng tôi không cần gì.

Lúc ấy, Khuông gằn giọng buông sõng :

- Không mang chiếu gọi quận Thạc về thì không đi đâu được !

Bồng lại niệm Phật, không đáp. Khản gạt tay rồi từ tốn :

- Thượng công ở Kinh ngày nào, kiêu binh có cớ ép Chúa thoái vị ngày ấy. Nhưng tu thì cũng dăm bảy đường tu. Có khi biến, có khi thường. Lúc biến mà xử như khi thường thì mang tiếng là vô trí lự, xin Thượng công nghĩ lại cho.

Trịnh Bồng quay vái Khản một vái, miệng cười, chậm rãi :

- Thượng quan quả là người danh giáo trí tuệ hơn thiên hạ. Song với đệ tử nhà Phật, không có thường mà chỉ có biến. Rồi qui cái biến hiểu ra lẽ, thì biến lại hóa thường ở chỗ sinh, lão, tử, bệnh. Giải thoát khỏi được những cái khổ ấy, đệ tử nhà Phật thấy gốc nó ở lục căn, ngũ uẩn và tìm diệt chúng đi từ sự tỉnh thức vô tướng vô ngã để rồi chỉ nhập thế bằng từ - bi - hỉ - xả. Chuyện quyền lực không phải là chuyện kẻ xuất gia, xin Thượng quan hiểu cho, Bồng này chắp tay cúi đầu cảm tạ.

Khản vội đứng dậy đỡ lấy Bồng, mắt nhìn có thoáng ngậm ngùi, không nói gì nữa.

Nửa đêm hôm đó, Bồng đến dinh Khương Tả hầu, nói với Nhật :

- Tôi đến chào tướng quân, và nhờ đưa tôi một thôi đường.

Toàn Nhật không ngạc nhiên, chỉ đáp nhỏ : “ ... Xin mừng cho Thượng công ”.

Giắt kiếm sau lưng, Toàn Nhật cùng Trịnh Bồng đi về phía sông Nhị Hà. Trên trời, những giải sao chi chít lấp lánh mỗi lúc một xa đi với cõi nhân gian. Bọn lính tuần canh gặp chủ tướng cũ, không hỏi han gì, chỉ cúi đầu chào. Gió thổi từ phía bắc về đã bắt đầu se sắt lạnh. Bỗng Trịnh Bồng lên tiếng :

- Mắt tướng quân còn sát khí là vì tướng quân chưa giải được nghiệp. Tôi nghe kể là tướng quân đã tránh được một trường binh đao, nhưng cũng vì thế mà phải ngộ sát cha mình ...

Nhật nghe Bồng nói, hồi tưởng lại những giằng co trong tâm tưởng đêm trước ngày cấm binh làm loạn. Cũng trên bờ sông này, cũng với dòng nước cuốn xiết dưới kia, chàng đã chực buông xuôi hết, rũ áo qua bờ bên kia, bỏ lại Kinh Kỳ với những dối trá, những lọc lừa, với những âm mưu quyền lực và nhất là lòng tham muốn không bờ bến. Nhưng làm thế thì xương máu hàng vạn người phải đổ ra! Không, không làm thế được! Bỏ đi như vậy là trốn chạy trách nhiệm của một con người trước sinh mệnh đồng loại. Vũng máu kia đổ ra sẽ là niềm ân hận theo Nhật suốt đời. Và nếu thế, chắc chàng chẳng bao giờ còn dám nhìn mặt mình trong gương. Vậy thì chỉ còn một cách độc nhất : cứ để ai làm gì thì người đó phải đối đầu với trách nhiệm của mình. Nghiệp người nào, người đó trả.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #72 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 03:47:06 pm »

Nhưng khốn khổ chưa, Lý là cha ngươi đấy, Toàn Nhật ơi ! Lý vẫn là cha ngươi dẫu mẹ ngươi chết trong dòng nước sông Lam vì cái con người bạc bẽo đó bỏ mẹ lấy công chúa Ngọc Tĩnh để rồi được tấn phong Quận Công ? Mẹ đâu ! Mẹ ! Thoắt lại thấp thoáng người đàn bà miếu Ba Cô ở đâu đó, trả lời : “ ... Mẹ đây ! ”. Gió bỗng thổi dựng đứng những hàng lau ven bờ nước. “ Con đã làm gì ? Mẹ ơi !”. Hình như chỉ có gió trả lời qua những tiếng vi vút nghe tưởng muôn đời không dứt được. Quay lại nhìn xoáy vào mắt Trịnh Bồng,
Nhật buông gọn một câu đau xót :

- Không. Không phải ngộ sát mà...

Nghẹn giọng,Toàn Nhật cố mở miệng nói tiếp, nhưng rồi nghĩ thế nào lại mím môi lại. Bồng đầm ấm :

- Ta không có, thì làm gì có cái gọi là cha Ta. Sợi dây oan nghiệp vô thủy vô chung, gọi là con cũng được mà là cha cũng thế, ai biết được cái chi trước cái chi sau ? Thôi, cởi dây ra đi ! Ðể chết có thể là cứu đấy. Ðể sống có thể lại đọa đầy thêm. Ðường trần còn dài, càng ít vướng bận càng hay.

Từ đấy, hai người không nói gì, lặng lẽ bước trên con đường dẫn về phía sông, giữa tiếng côn trùng rên rỉ và tiếng ễnh ương thỉnh thoảng lại ộp oạp vẳng lên từ bờ mương. Ðến khi tạt về mé phải là ra đến bờ sông Nhị, Bồng ngừng bước, nắm lấy tay Toàn Nhật, lại lặp lại :

- Còn duyên là còn gặp.

Nhật đứng nhìn theo bóng Bồng một mình khuất bóng sau lũy tre già ở lối rẽ.

Khi Nguyễn Khản được thăng Thượng Thư, tước Tán quận công, lo việc triều chính cho Trịnh Tông, Du quay về ở hẳn trong dinh Kim Âu. Khản nổi tiếng là người sành chơi, nhà đầy đồ cổ từ đời nhà Tần cho đến đời nhà Thanh. Còn sách xếp chật hai dãy thư phòng, từ sách Xuân Thu Chiến Quốc cho đến đủ loại Tân Thư. Quí nhất là vô số những bản thảo tự tay những khách tài tử như thủ bút của Ðặng Trần Côn, của Ðoàn Thị Ðiểm.

Dinh Kim Âu không lớn lắm, nhưng cảnh trí xếp đặt tài tình, nét phong nhã khiến xưa Tiên Chúa Trịnh Sâm phải trầm trồ khen, và mỗi khi có dịp, Tiên Chúa lại đến ngự, chuyện trò đôi khi suốt ngày với Khản. Chúa rất thích ngồi cạnh hồ bán nguyệt, ngắm một cây đa triết thụ gần nghìn năm chỉ cao bằng ba đốt tay, nghe nói là lấy từ Ðỗ-Lăng, quê nhà thơ Ðỗ Phủ.

Du ít khi ra khỏi dinh, đăm chiêu tư lự, chỉ thỉnh thoảng mời Nhật đến chơi. Khản coi Nhật cũng là loại kiêu binh, ngầm khinh khi nhưng không lộ ra mặt. Trong triều, Dương thái phi, Dương Khuông và Khản tìm cách kiềm chế sự thao túng quyền thế của đám Bằng Vũ, Bật Trực, Nguyên Nhưng và Gia Thọ. Họ chia rẽ kiêu binh bằng cách mua chuộc. Trịnh Tông gần gũi Nguyên Nhưng hơn những kẻ khác, định sắc phong cho tước Quận công, và cho hưởng một trăm mẫu công điền. Vũ, Trực và Gia Thọ nói thế nào mà Nguyên Nhưng không dám nhận, nhưng trong bụng đã hằn học. Sau đó, bộ ba lại o ép đến độ Tông uất quá, nói :

- Biết thế thì chẳng làm Chúa còn hơn !

Bằng Vũ khinh khỉnh đáp :

- Tưởng Chúa muốn nên mới lập, nay nếu không thì chúng tôi xin phò Thụy quận công lên thay !

Tông sợ, im ngay. Khuông và Khản đều lấy làm ức, tìm Chiêm Võ hầu là một võ quan khẳng khái và cầu được hỗ trợ. Chiêm Võ bàn là nên xa giá lên Sơn Tây, rồi mang quân của Hoàng Phùng Cơ về dẹp kiêu binh. Họ bí mật liên lạc với Cơ, hẹn mang thuyền đến bến Tây Long đón Chúa, sau đó tức thì khởi sự tiến công vào dinh. Việc vỡ lở, kiêu binh vào cật vấn, Dương thái phi khóc lóc :

- Nào có việc ấy, ba quân nghe đồn mà tin, làm gì có căn cứ.

Bật Trực quát :

- Chuyện đại sự không nói với đàn bà !

Trịnh Tông thót bụng lại, từ ghế ngự bước xuống, chưa kịp nói gì thì Bằng Vũ đã mím môi dằn giọng :

- Cái chuyện định ra Tây Long lên thuyền đi trốn, chúng ta biết cả rồi. Ðừng dài hơi mất công.

Từ đó, kiêu binh canh gác cẩn mật Vương phủ, người ra người vào ai nấy e dè, sợ sệt. Bọn Vũ, Trực tính đến đường truất nhà Chúa. Họ biết là hai mẹ con Trịnh Tông vẫn chần chừ trong việc phế Ðông cung Lê Duy Cẩn nên vào tâu thẳng với Vua Lê xin lập Hoàng tự tôn là Lê Duy Kỳ lên làm Thái tử. Suốt đời bị họ Trịnh ép uổng, Vua Hiển Tông thuận lòng ngay, lại khêu ý cho Vũ và Trực là sẵn sàng để cung điện làm chỗ ba quân hội bàn. Cẩn sợ quá, chạy vào Vương phủ, kiêu binh đuổi theo dẫm nát cái kiệu, chửi : “... ngôi Vua chẳng đứa nào cầu xin mà được ! ”. Tông phải ra trấn an, sai triều đình lập ngay Kỳ lên ngôi
Ðông-cung cho được lòng kiêu binh.

Bọn kiêu binh kéo nhau vào điện Vua đòi thưởng cái công truất Cẩn lập Kỳ. Bắt phiên tả sai người đánh cá hồ sen bắt lấy cá trắm làm gỏi để đãi, rồi cho kiêu binh vào cung Vạn Thọ, Vua tuyên chỉ ủy lạo và mang tiền ra phân phát. Trần Nguyên Nhưng chạy về báo cho Tông, Tông mời ngay Khản và Khuông đến hỏi ý.
Khản nghiến răng :

- Xin cho bắt và giết đi.

Khuông bực tức, xen vào :

- Không cần hỏi tội trạng gì ! Chúng cậy đông mà ngông nghênh. Ðũa bẻ cả nắm không được thì cứ rút ra một hai chiếc mà bẻ, dần dần phải hết.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #73 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 03:48:00 pm »

Tông liền sai Chiêm Võ lấy lính phong vân vào vây bắt. Chiêm Võ người huyện Yên Lãng, đỗ Tạo sĩ, có tiếng là gan dạ. Tuốt gươm ra, Võ bảo : “ Gươm này đủ sắc để lấy đầu bọn phản tặc ”. Ðang chè chén, bọn kiêu binh bất ngờ bị vây, bỏ chạy toán loạn, Võ bắt được bảy mạng điệu về Vương phủ nghị tội. Ðám triều thần xưa nay vốn nhút nhát, sợ bị kiêu binh trả thù nên ai cũng có ý che chở họ. Khuông hằn học :

- Cứ chiếu pháp mà làm.

Tông sai đem cả bảy người chém luôn hôm đó.

Bọn kiêu binh họp nhau lại, có kẻ nói nếu nấn ná nín nhịn chịu cái kế “bẻ đũa ” thì sớm muộn cũng sẽ chết. Gia Thọ lại bàn cứ đến Vương phủ hỏi ân oán cho ra lẽ, rồi hẹn nhau khởi sự khi tan triều hôm sau.

Sáng sớm, một tốp kiêu binh bất ngờ đến vây nhà Khuông và Chiêm Võõ. Hai người này ra cửa sau, chạy thẳng đến Vương phủ. Kiêu binh vào khuâân bàn, ghế, tủ sập ra chất lên xe, lấy hết đồ tế nhuyễn tư trang rồi phóng hỏa đốt nhà. Họ chia của vừa cướp, cười nói nhốn nháo, dân hàng phố chỉ đứng nhìn ngao ngán. Một tốp kiêu binh khác ùa đến dinh Kim Âu, nhưng còn thập thò không dám vào, e rằng dinh có phòng bị. Khản ở trong nhà phái gia nhân ra ngoài nghe tin tức, nhưng họ đều bị kiêu binh đánh chết tại chỗ, không người nào về được.

Ðến trưa, kiêu binh kéo nhau vây Vương phủ, đòi mang Dương Khuông và Chiêm Võõ ra trị tội. Dương thái phi lo cho em, quên cả địa vị tôn kính của mình, đưa ra biếu một nghìn lạng vàng, quì lạy :

- ... cắn rơm cắn cỏ xin chư quân tha cho.

Bọn kiêu binh hềnh hệnh cười, bảo một nghìn lạng thì tha Khuông, muốn tha Chiêm Võ phải thêm vào năm trăm lạng. Dương phi xót của không chịu, lải nhải mặc cả. Trịnh Tông khẩn khoản :

- Giết Chiêm Võ, bẩn gươm đao. Thôi, hai trăm lạng, được nhé ...

Ba quân lại ồ ồ cười, quát ầm lên là nhà Chúa gì mà keo bẩn thế.

Chiêm Võ trốn trên lầu các nghe thấy hết, chán ngán thở dài, rút đôi song kiếm, đĩnh đạc bước xuống, nói :

- Vâng lĩnh mệnh Chúa, Võ này trước khi chết cũng lấy đầu được chục đứa loạn binh.

Ðám kiêu binh ngán võ nghệ của Võ, lùi hết lại rồi nhao nhao lên:

- Hễ động kiếm là chúng ta đốt Vương phủ, vạn lạng lúc đó cũng mất, nói chi đến hai với chả năm trăm lạng

Tông sợ quá, níu tay Võ kéo vào, năn nỉ :

- Thôi, tướng quân vì xã tắc hãy thôi đi ...

Nói rồi, Tông viết sáu chữ “Trung Nghĩa Tráng Liệt Ðại Vương ”, ban cho Võ một nghìn mẫu ruộng làm đất nối đời, và sắc phong làm Phúc Thần. Chiêm Võ vo tròn mảnh giấy bỏ vào miệng nuốt, chỉ nói :

- Tôi chẳng xin tước lộc, chỉ mong Chúa dựng lại phép nước mà thôi !

Nói xong, Chiêm Võ hiên ngang bước ra, vạch lối giữa đám kiêu binh mà đi, không mảy may hãi sợ. Có đứa hỏi “ Kiếm sắc của mi đâu ? Lúc này mi phải đền bảy mạng ! ” rồi xông vào. Võ trừng mắt quát :

- ... ra khỏi Cấm cung đã.

Ði đến chân cầu bắt ngang hào vào Vương phủ, Võ khoan thai ngồi xuống, miệng mỉm cười, nói lớn :

- Ta vâng lệnh Chúa không thi võ với bay, nhưng vẫn có thể thi gan.

Bọn kiêu binh mỗi đứa lấy một cục gạch đến đập vào đầu Chiêm Võ, máu me bắn đầy ra, nhưng đánh cả giờ mà Võ vẫn ngồi không ngã, mắt mở trừng trừng, miệng vẫn nhếch ra ngạo mạn. Ðến khi mây xụp xuống, mưa đổ như trút nước, sấm sét nổ một cơn thịnh nộ vỡ tung trời đất, thì lúc ấy Võ mới ngã ra, mắt nhắm lại.

Về phía dinh Kim Âu, đích thân Bằng Vũ phải đến để bắt Khản. Chỉ thấy một tay kiếm đi đi lại lại trong sân, Vũ ngại có mai phục, đứng ngoài vung tay làm loa vừa gọi vừa chửi Khản. Ðột nhiên, Toàn Nhật cùng chín người cận vệ xuất hiện, đi thẳng lại phía cổng dinh. Vũ ngạc nhiên nhưng chỉ cười khẩy hỏi :

- Toàn Nhật ! huynh đến để cứu cho giặc ư ?

Không trả lời, Nhật trườn mình đu lên cổng, thoắt một cái đã nhảy vào trong dinh. Vì Nhật là khách quen thường đến dinh Kim Âu, tay kiếm trong sân chỉ nghiêng đầu chào. Ði thẳng vào mé sau, Nhật gặp Du đi ra.
Mừng rỡ, Du nắm lấy tay Nhật, nhưng miệng vẩn đùa :

- Bắt phong trần, phải phong trần ...

Nhìn quanh, Nhật nói nhanh :

- Phải đi gấp. Nếu chúng kéo đến đông quá, bất lợi. Ta đã cho người sắp sẵn thuyền ở ven sông rồi ! Quan Thượng thư đâu ?

Du cười tủm :

- Lệnh huynh cứ khi lâm nguy lại đau bụng. Ðể đệ vào trình ...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #74 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 03:48:57 pm »

Một lát sau, Khản bước ra, mặt mũi nhăn nhó, cố gượng cười :

- Ða tạ Võ tướng quân. Ðúng là Khản này được cứu mạng, làm sao đáp đền cho được !

Nhật xua tay, giọng đanh thép :

- Xin Thượng Quan cùng gia quyến sửa soạn đi mau lên, và chỉ mang theo những gì cho gọn, nhẹ.

Ðợi cho mọi người lục tục ra đến sảnh đường, Toàn Nhật quét mắt nhìn đám đồ đạc ngổn ngang, rành rọt nói :

- Các vị mang kềnh càng, chỉ làm mồi cho bọn cướp cạn rình mò khắp nơi, của không giữ được, lại có thể thiệt thân. Vậy xin mỗi vị chỉ hai tay nải, cái gì giấu được trong người thì giấu. Trai tráng nhớ giắt theo đao kiếm, có lúc phải dùng. Khi đi theo tôi, tuyệt đối không được la hét hay khóc lóc. Ðàn bà con trẻ đi vào giữa, thanh niên kèm hai bên, và không được tản ra rời hàng. Quí vị đã hiểu chưa ?

Ðến trước mặt Khản, Nhật nói vừa đủ Khản nghe :

- Xin Thượng quan giữ mình. Qua sông Nhị, ngài nên chia thành nhóm nhỏ, cải trang làm thợ gặt mà đi. Của cải vàng bạc lúc đó tìm chỗ chôn giấu, chớ có mang theo mình mà mang họa.

Vái tạ Nhật, Khản hỏi :

- Tướng quân có cần tiền để chi dùng không ?

Nhật lắc đầu. Du lật đật ôm một chồng sách ra bỏ vào túi nải, miệng cứ xuýt xoa, chắc còn đang tiếc nuối những quyển sách quí không mang theo được. Nhật bật cười, quát nhỏ :

- Du đệ. Ta chỉ cho phép mang theo bản thảo những trứ tác của đệ. Còn bao nhiêu, vứt lại hết trừ vàng.
Có vàng là mua được hết.

Ðợi đến hai khắc sau, BằngVũ vẫn không thấy động tịnh. Chẳng hiểu Nhật định làm gì, Vũ thét kiêu binh cẩn thận và cho đi gọi lính tiếp viện. Lúc ấy, đám gia nhân đang dìu Khản ra, đi đằng sau có Du. Nhật ra trước cổng, nhìn Bằng Vũ, nhỏ nhẹ :

- Bằng huynh còn nhớ tình cũ thì để đệ đem họ đi là tốt hơn cả. Nhà họ Nguyễn với đệ đây là chỗ ân tình, đệ không thể phụ họ được.

Bằng Vũ vừa quát “... vào bắt ! ” thì Nhật đã lạng người đến bên, tay trái kẹp lấy cổ Vũ, tay phải để con dao trủy thủ vào cuống họng. Bọn kiêu binh hò hét nhưng không dám làm gì. Nhật bảo Vũ :

- ... ra lệnh cho họ lùi ra, cách xa ít nhất là mười trượng, tuyệt đối không được động thủ. Nếu trái lời, kẻ mất mạng đầu tiên là Bằng huynh đấy.

Nhật đi đoạn giữa, đoạn tiền và hậu do đám hộ vệ đảm lấy, di chuyển về bến Hàm Như theo thế kiếm trận tam giác. Bằng Vũ bị Nhật nắm lấy gáy, dao kề cổ, đẩy đi, đầu cúi gầm xuống, mặt mũi tái nhợi.

Dân hàng phố ra đứng hai vệ đường, hò reo hể hả như bắt được cướp. Bật Trực và Gia Thọ được báo, kéo thêm kiêu binh ra, nhưng chỉ đi theo, không dám đến gần, quát tháo dọa nạt bàn dân.

Ðến bến, Nhật chia tay với đám thủ hạ, lấy hết tiền bạc chia đều ra, bảo ai về quê thì về, ai muốn phò nhà Chúa thì theo Khản. Họ mượn thuyền nhỏ qua sông Nhị, đám xuôi xuống Thanh-Trì, tìm đường lên Sơn-Lạng, đám đi thẳng về miệt Thái Bình.

Trên chiếc thuyền con, chỉ có Vũ, Du và Nhật. Trời đã tối, đằng xa vẳng lại tiếng trống và tiếng reo hò. Kiêu binh ập vào dinh Kim Âu hôi của rồi châm lửa đốt. Nhân dịp đục nước béo cò, vô số dinh thự của đám Công Hầu cũng chịu chung số phận. Hơn nửa những công trình xây cất từ hai trăm năm phừng phừng cháy, lửa bốc lên cao, hừng hực, điên dại, không có gì kìm chế được. Du hồi tưởng lại đống kinh, sách làm bạn với mình từ thở thơ dại, ứa nước mắt, vừa thương vừa tiếc.

Nằm chèo queo trong khoang, Bằng Vũ không biết số phận mình sẽ ra sao. Thuyền ngược nước, nhà đò ra sức đẩy, hò lên từng chặp. Toàn Nhật nghiêm nghị, nhìn Vũõ, rồi thủng thẳng nói :

- Từ vụ án Canh Tý, ta đã đoán biết Bằng huynh là người trong Nội Mật viên, lập mưu lấy cớ bắt Trọng Thức, ép thầy ta phải phế Tông lập Cán. Rồi Bằng huynh lại trở mặt, phế Cán lập Tông. Nhưng nghĩ cho cùng, kỳ thật là Bằng huynh chỉ tìm cách tiến thân, cũng muốn trở nên công, hầu, khanh, tướng ... Ðạt được rồi, song vẫn còn chưa thấy đủ, nay Bằng huynh lại mơ tưởng đến tước Vương. Bịa ra nào là «Nông chế», nào là « Chiến sách », Bằng huynh lấy chữ lòe đám kiêu binh, đem lợi riêng lung lạc dân tình, gây nên mầm chia rẽ, gieo họa cho cả nước.

Ngưng lại, Nhật nhìn về phía Kinh đang phừng phừng khói lửa, nói tiếp :

- Cứ theo lời Hàn Tử, chính sách pháp trị có hai điểm phải làm. Thứ nhất, pháp phải phổ biến ra để ai ai cũng biết. Thứ nhì, pháp phải nhất chấp, nghĩa là ai phạm vào cũng bị tội. Vừa đây, bất cứ cái gì cũng là pháp mà cũng là vô pháp, cứ theo cách suy diễn của Gia Thọ mà làm. Tệ hơn, đám kiêu binh đứng ra ngoài vòng pháp luật, rồi dùng bạo lực ứa hiếp cả thiên hạ, quả thật đã đi quá cái mức khó có ai tưởng tượng ra nổi ...Tội của Bằng huynh, Bật Trực và Gia Thọ chất cao như núi, cứ nghe tiếng oán thán trong bàn dân, tất hiểu ...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #75 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 03:50:03 pm »

Bằng Vũ đột nhiên rú lên như thú cùng đường, đầu rúc vào sàn thuyền, mắt lạc đi, nhìn Du, nhìn Nhật, lưỡi ríu lại không nói được. Sợ quá, Bằng Vũ ỉa đái ra đầy khoang, miệng rên ư ử. Lạ chưa ? Lúc xưa chẳng có gì trong tay, Vũ hiên ngang chẳng kể chi đến cái chết trước mặt Tế Lý. Thế mà nay, có quyền có lực trong tay để ép Vua chèn Chúa, Vũ lại hóa ra khiếp nhược, khóc hu hu xin tha.

Thuyền cập bến. Nhật lên trước, rồi đưa tay kéo Du theo. Nhìn người lái đò cong lưng đẩy cho thuyền ra,
Du hỏi Nhật :

- Bây giờ ta đi đâu ?

Nhật nhắm mắt, tưởng ra trại Bùi Phong, song miệng lại đáp :

- ... chưa, chưa đi đâu hết !

Nói rồi, Nhật cởi hết mũ, miện, cân, đai ném hết xuống sông. Trần truồng như nhộng, Nhật lao người vào dòng nước, chồi lên hụp xuống, vừa bơi vừa hát :

“... Ới này sông ơi.!

Nước trong ta rửa giải mũ.

Nước đục ta rửa chân.

Nhưng chớ cạn.

Nhưng chớ kiệt..

Bởi nước cạn kiệt thì ta còn gì là ta...”

Nhật vẫy vùng ngụp lặn, sải tay bơi, rồi hụp xuống thật sâu, thật sâu cho đến độ buồng phổi căng tức ra đẩy Nhật trồi lên thở hít khí trời. Nhật lại lặn xuống, mắt mở, tưởng như nhìn thấy nào là Bố-già, là Sâm, là Huệ, là Tông ... vùn vụt trôi bên cạnh, tay cứ quờ quạng bám víu, miệng kêu cứu trong tiếng ì ầm chuyển động của dòng nước cuốn băng băng trong cơn thịnh nộ. Nhật bỗng thấy một người đàn bà đưa tay vẫy. Có phải là mẹ chàng, người quay lưng ở miếu Ba Cô trên Phố Hiến ? Chàng chỉ nhớ tiếng mẹ gọi. Gọi chàng với giọng nặng nhọc oan khiên. Những xoáy nước ở đâu nổi lên, vỡ ra, rồi lại hợp lại. Nhật nhận ra mặt Tế Lý, người bỏ mẹ đi lấy công chúa Ngọc Tĩnh con Chúa Trịnh Sâm để tìm đến danh vọng và quyền lực.

A, cái Ta, lời Trịnh Bồng đâu đó vẳng lên. Tưởng có Ta, nên tìm cái danh vọng cho Ta, cái quyền lực của Ta. Vì cái Ta của mình, Lý cam tâm phụ rẫy, bỏ mẹ chàng với cái bào thai trong bụng. Nước lại xoáy vòng làm mặt Tế Lý khổ sở nhăn nhó, chiếc cổ bị chém đứt máu loang đỏ trên mặt sông. Mắt nhìn chàng, miệng phì phào đòi lại thân mình chẳng biết là ai đã chôn cất ở đâu, khuôn mặt Lý dần dần nhòa nhạt đi, lẫn vào bóng cây ven sông, chìm xuống một vực sâu không có đáy. Cái Ta biến mất. Nó thoắt đến thoắt đi. Danh vọng, quyền lực, phú quí đi kèm cũng thoắt đi thoắt đến. Rồi cả giọt nước mắt và lời oán hờn của mẹ. Cả nỗi đau lòng của Toàn Nhật khi ném trả thanh kiếm Hoàng gia vào tay Lý, cắn răng không nhận gốc gác mình. Cả niềm ân hận dằn vặt Nhật từ mấy tháng vừa qua. Tất cả bỗng chốc hững đi như chưa hề có. Hay giả nếu có thì chỉ như một cơn ác mộng, bập bềnh rồi biến vào những bọt nước vỡ tan, trả mình lại cho lòng sông thản nhiên nhận chìm mọi điều ân oán. Ðột nhiên, tiếng ì ầm nhỏ dần đi. Dòng nước lại trở lại hiền hòa ôm Nhật vào lòng như bồng bế. Nhật nhô đầu ra khỏi mặt sông, hả miệng hét : “ Nước ơi, chớ cạn, chớ kiệt. Bởi nước cạn kiệt thì ta còn gì là ta... ”.

Lên bờ, Nhật mở cái tay nải bằng vải thô chàng mang theo từ lúc xuống trại Bùi Phong. Lôi ra ngắm nghía, rồi vuốt ve bộ quần áo thường dân nhuộm nâu có dăm miếng vá do chính tay mẹ nuôi chàng khâu cho, Nhật cảm động áp nó vào mặt mình. Nó thơm hương cốm tươi có thoảng mùi mồ hôi. Nó nhẹ tênh, khác hẳn bộ võ phục nặng nề chàng phải mang trên người từ ngày rời phố Hiến.

Tồng ngồng bước lên bờ, Nhật vuốt nước trên mặt, miệng hỏi Du « Xem ta đã sạch bụi Kinh Kỳ chưa ?»
Chẳng đợi trả lời, Nhật vươn vai ưỡn người, hít không khí tự do đầy lồng ngực, vui vẻ mặc quần áo thường dân vào. Bên kia sông, lửa vẫn bốc cao, khói bay lên nhuộm hồng những đám mây đang còn ngơ ngác sợ. Bên này, gió sông mát rượi mơn trớn những tấm hình hài đổ xuống bờ đê những chiếc bóng khổng lồ.
Bỏ lại phía sau Kinh Kỳ hừng hực cháy sáng một góc trời, hai người nhắm hướng Nam lên đường.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #76 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:14:52 pm »

Chương 7
Nẻo dương gian

Trên đê nhìn xuống, làng Ða Phạn trông như một cái cù lao khoảng trăm nóc nhà chơ vơ trong màn nước nối liền vào mặt biển chạy xa ra tít tắp chân trời. Nước mặn nên chỉ trồng được đay và cói, một số giáo hữu buộc phải chuyển sang đan chiếu để phụ với nghề chài lưới, vốn là nguồn thu hoạch chính của những người sống ven biển. Những mẻ cá, mẻ tôm, những cuộn chiếu cạp điều được đem lên bán ở chợ Xuân Trường, lấy tiền đem mua thóc gạo, cám, đỗ chở về Ða Phạn. Thừa không bán được, cá mang ướp muối hoặc phơi khô. Giáo sĩ Charles-Antoine Sieyès lại tìm cách hong khói theo kiểu Âu, nhưng cá hong khói không hợp vị, ít người tiêu thụ, nên rồi đành thôi. Tuy mới phần nào ổn định, thế nhưng giáo hữu đã dành hẳn một căn nhà năm gian làm nhà nguyện.

Sau khi đợi Danh Kỷ ở bến Thanh Trì ba ngày nhưng không gặp, Trọng Thức tìm cách bắn tin cho Toàn Nhật rồi giả dạng lái buôn đi ra Ða Phạn. Thời gian đó, người của viện Nội Mật được lệnh đi dò hỏi khắp nơi để bắt Thức về nộp cho Ðặng Thị Huệ. Thừa biết là họ chắc sẽ giăng bẫy ở mọi nơi, Thức ngày nghỉ đêm đi, tránh những lộ chính, lội đồng lội ruộng ra đến bờ biển, rồi từ đấy men vào làng. Charles- Antoine gửi gấm Thức vào nhà lão Hựu chăn vịt ở tận rìa làng, tiện trốn ra bờ biển mỗi khi có động tĩnh. Ở bờ biển, lão Hựu lại giấu một chiếc thuyền con dùng để thoát thân phòng khi quan quân xô vào tróc nã.

Gia đình lão Hựu có hai người con gái là Nhu và Mì. Nhu năm nay mười sáu, mảnh mai, cao nhưng lưng hơi gù, da mặt trắng hồng, khi cười răng hở lợi, đen tuyền như những hạt na. Cô nhút nhát ít nói, nhưng giọng trong như chuông ngân, và mỗi lần hát Thánh ca là cả làng rưng rưng nước mắt. Ở nhà, hai chị em Nhu giúp mẹ đan chiếu, nhuộm điều, cạp viền rồi cứ đến phiên lại đem ra chợ. Nhu ngoan đạo, ham học nên đã bập bẹ nói được tiếng Pha- Lang- Sa với giáo sĩ Charles- Antoine, thường cầu nguyện Ðức Mẹ Ðồng Trinh cho mình được phúc lành đi tu. Từ khi Thức tới ở ẩn trong nhà, Nhu học thêm được Quốc-âm, cách dùng mẫu tự La-tinh để phiên âm tiếng ta. Nhu sáng dạ nên học rất nhanh, dùng dao sắc cắt lông ngỗng làm bút, chép Kinh Thánh và những bài Thánh ca để dạy lại giáo hữu. Ðùng một cái, Nhu ốm, mặt xanh tái, khi chóng mặt, có lúc lại nôn mửa. Bà Hựu bảo với chồng: « ... có lẽ nó ốm nghén ».

Ngày hôm sau, lão Hựu nói với Thức: « ... thầy ạ, con cháu nó cũng vào tuổi lấy chồng rồi, thầy có thương nó thì tôi cho thầy, lẽ mọn gì cũng được ! » rồi chằm chằm nhìn. Thức cầm chén nước chè xanh bốc khói, vừa uống, vừa chững chờ chưa biết đáp ra sao. Nhu đẹp, thông minh, thánh thiện. Có những buổi sáng dạy Nhu viết, chàng bắt chợt nhìn gặp những sợi tóc non nhỏ như tơ mọc sau gáy Nhu, những sợi tóc mượt mà ánh sắc xanh, mỏng mảnh nhưng dẻo dai, nồng một mùi hương thầm gọi sự sống. Có những buổi tối chàng lẳng lặng nhìn Nhu quì gối cầu nguyện, đôi vai gầy chập chờn cánh vạc bay đêm, thỉnh thoảng lại rung lên chạm vào cõi tâm linh, nài nỉ chốn thiêng liêng chút vỗ về an ủi. Có những buổi trưa nắng chói, chàng choáng ngợp trong ánh mắt Nhu, hồn nhiên tựa áng mây trời trắng ngần, nhìn chàng nghịch ngợm, viền mắt nhung đen thấp thoáng chào mời. Chàng chần chờ, bàn tay rát bỏng, chén nước nóng sóng sánh nước.

Hình ảnh Mai bỗng hiện ra trong tâm tưởng Thức. Mai không đẹp nhưng duyên dáng. Mai từ chối không lấy một vị Thái tử dẫu mai sau thành Hoàng hậu. Mai vào dinh Khương Tả hầu, vừa khóc vừa cởi áo, hiến cái trinh bạch cho chàng, quyết liệt sống chết với tình. Mai giả trai ra bến Tây Long trốn đi với Thức. Bị bắt lại, bị cùm kẹp trong dinh Trịnh Cán, nay nàng ra sao ? Lòng dạ nào ai nỡ phụ bạc một người trao thân gửi phận, đồng sinh cộng tử với mình...

Ngay buổi trưa, lão Hựu tất tả lên gặp Charles-Antoine. Ðến tìm Thức, vị giáo sĩ thì thào nói nhưng Thức chỉ lắc đầu, rồi nhờ hai thanh niên giúp mình dựng một mái lán phía biển và kê một chiếc chõng. Nhìn ra, biển trải dài tít tắp, sóng vỗ nhẹ vào bờ thành những vòng bạc xô lên cát vàng, tan ra rồi hiện lại, hằng có hằng không, trùng trùng nối tiếp. Giáo sĩ Charles- Antoine có vẻ bất bình, chẳng mời chàng về và cũng không lên thăm hỏi. Vào phiên chợ đầu tháng, bà Hựu giắt Nhu lên Bỉm Sơn. Bán xong đống chiếu, bà đưa con đến ông lang Thuần, nhìn vào bụng Nhu, miệng nói: « ... cháu nó ốm, phải chữa cho được ! Gửi cháu ở lại nhà thầy, bao nhiêu chi phí xin trả trước một phần». Lang Thuần bắt mạch cho Nhu, mắt nhìn bà Hựu, lắc đầu không nói gì.

Lang Thuần hiếm hoi, sinh được một cậu con trai đặt tên là Hình. Thời đó, Thuần ở Phủ Lý, làm nghề bói, chuyên xem Tử Vi và Dịch. Ðến khi Hình lên năm, Thuần mới biết là Hình câm, mồm chỉ ú ớ, không nói lên tiếng. Thuần bảo vợ: « ... thôi, bố lộ ¨ thiên cơ ¨ nên con chịu nghiệp, câm không nói được. Tôi bỏ, không bói toán nữa ». Thuần dọn về Bỉm Sơn là nơi chôn nhau cắt rốn, rồi dần dà bắt mạch, cắt thuốc được chục năm nay, có tiếng là mát tay. Năm mười hai tuổi, Hình ốm nguy kịch tưởng chết. Khỏi ốm, Hình bị năïng tai, gần như là điếc. Nhưng bù lại, Hình cao lên như thổi, lực lưỡng ăn làm bằng hai người thường. Bà lang thường đùa: « mồm miệng đỡ chân tay. Người có chân tay rồi ai cần đến mồm miệng ! ».
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #77 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:15:34 pm »

Từ ngày Nhu đến, Hình thay đổi hẳn. Mấy ngày đầu, Hình ngượng, ngay bữa cơm cũng lỉnh đi, đợi tối về lục cơm nguội ăn dưới bếp một mình. Dạn dĩ dần, nó chỉ thỉnh thoảng nhìn trộm Nhu, nhưng lúc nào cũng dành phần sắc thuốc cho Nhu. Nhu biết, chỉ cười, tay chắp lên ngực làm dấu cám ơn. Rồi Nhu dạy cho Hình chữ Quốc âm. Học được chữ nào, Hình cứ nhẩm đi nhẩm lại, dùng bút lông ngỗng, đã viết được đôi điều miệng không nói ra được. Dăm tuần sau khi Nhu đến ở, lang Thuần bảo: « ... cháu chẳng bệnh tật chi, mà cũng không nghén nghiếc gì cả. Ðến tuổi phải lấy chồng thôi ».

Ðến phiên chợ, bà Hựu lên nhà lang Thuần, nghe ông lang nói, mắt quắc lên nhìn Nhu. Khi chỉ còn hai mẹ con, bà cấu vào đùi Nhu rồi riếc: « mày động cỡn lên hóng trai, việc gì phải giả vờ giả vịt, làm tao tốn cả một tháng công đan chiếu! ». Nhu khóc rấm rứt, nhớ đến Thức, lòng vừa căm vừa buồn, vừa thương vừa giận.

Hình xin với ông bà lang cho mình theo mẹ con bà Hựu về Ða Phạn để học «chữ » . Thương con, ông bà lang đành gửi gấm, nhưng trong bụng không tin là cái chữ nghĩa vòng vèo viết bằng bút lông ngỗng có thể dùng vào được việc gì. Bà lang nói nhỏ: « ... bác ạ ! cháu nhà tôi nó phải lòng con bé nhà bác đấy, nếu thành, tôi xin gửi rể ». Bà Hựu thầm nghĩ đến cái nhà lang Thuần ngay mặt chợ sau này thế nào lại chẳng sẽ vào tay Nhu, chịu đưa Hình theo, nhưng dặn « ... để xem đã. Nhà tôi thiếu tráng đinh, chỉ có ông ấy, nay già nên cũng bắt đầu yếu rồi ». Hình mừng lắm, tay xách nách ôm, theo mẹ con bà Hựu, đi không quay đầu lại.

Từ ngày có Hình trong nhà, lão Hựu bớt khó nhọc. Việc nặng, Hình lo chu đáo, kể cả cái công lợp lại mái nhà đã bắt đầu bị dột mưa. Nhưng chẳng hiểu sao lão Hựu cứ bồn chồn, thỉnh thoảng lại đi sang tận làng trên nghe ngóng, mặt mũi đăm đăm, vợ hỏi cũng không hé răng. Về phần Nhu, nàng bắt Hình đưa mình đến túp lều nơi Thức ở, mặt vênh lên nhưng giọng lại run run, nói: « ... em đến chào thầy, nay mai lấy chồng thì còn dịp nào nữa. » rồi nước mắt cứ chảy ròng ròng. Nhưng đau đớn nhất vẫõn là Hình. Nhìn những giọt nước mắt trên má Nhu, linh tính báo cho nó hiểu hết mặc dù không biết gì cả. Nó thấy bụng nó như rỗng ruột, rồi máu bốc lên giần giật hai bên thái dương, miệng chan chát đắng, lòng cồn cào một cơn thù hận tựa bão biển nổi lên giữa mùa gió động.

Khi về đến nhà, Hình lẳng lặng xếp quần áo vào cái giỏ đan bằng lạt, nhưng Nhu giằng lại. Kéo Hình ngồi xuống đất, Nhu nhìn nó, miệng ấm ức khóc thành tiếng nhỏ. Hình thẫn thờ như phỗng đá. Nhu lấy tay mình đặt lên má nó, rồi vòng tay ra sau đầu nó đỡ lấy. Xong, nàng cầm tay Hình để vào má mình. Hình nghĩ thầm: « ... thế có nghĩa là đầu gối tay ấp ». Nhu lại thò tay rút chuỗi vòng quanh cổ có cây Thánh giá làm bằng gỗ mun màu nâu đậm. Nàng nhét cây Thánh giá vào tay nó, tay kia chỉ lên trời. Hình không hiểu. Rút trong giỏ một tờ giấy, Hình đưa chiếc bút lông ngỗng cho Nhu. Nàng nghĩ ngợi, rồi cắm cúi viết « Muốn thành vợ thành chồng thì Hình phải rửa tội và xin làm con chiên của Ðức Thánh Chúa ».

Những ngày cuối tiết Hạ Chí, gió lặng khiến bao nhiêu cụm mây trắng trên cao kia lênh đênh di động về phía biển như đi dạo mát, thảnh thơi, không chủ đích. Buổi trưa, nắng như bốc lửa, đất sình khô đi, muối trắng đọng lại thành những vệt chạy vòng vo suôi theo triền đất. Những lúc ấy, Ða Phạn im ắng đến lạ lùng. Dăm ba con cò co chân đứng, lặng yên, thỉnh thoảng mới vục đầu xuống nhổ con bọ cái sâu, rồi lại ngửng lên, thản nhiên đợi con mồi mới.

Thức gấp cuốn sách, mắt trĩu nặng, đầu như mê dần đi vào một giấc ngủ đang chậm chạp lê từng bước đến. Chợt tiềng kẻng ở đâu khua inh ỏi. Rồi tiếng mõ. Tiếng la gọi. Tiếng chó sủa. Tiếng chân người chạy bì bõm dưới ruộng ngập nước. Thức choàng dậy nhìn ra phía biển. Thấp thoáng có bóng người. Thức nhìn về phía gò Ðay. Cũng vậy. Trèo lên một chạc cây, Thức quan sát tứ bề. Lính ở đâu đã vây chặt Ða Phạn, từng tốp xiết dần vào, gươm dao sáng lòe. Vội vàng trèo xuống, Thức quơ bọc quần áo và sách vở lúc nào cũng xếp sẵn, giấu vào bụi cây gai phía sau lán. Lối ra biển đã bị chặn, Thức chỉ còn đường vào khu nhà nguyện. Lập tức, Thức băng mình chạy đi, đầu óc tính toán chọn chỗ ẩn Thức đã dự trù sẵn. Vòng vèo tránh những giáo hữu đang chạy nhốn nháo, Thức đu lên cây đa cổ thụ phía nam rồi bám lấy một chạc ba khá cao, quấn giây chão buộc mình vào thân cây cành lá xum xuê.

Dưới kia, lính tráng đang lùa giáo hữu vào sân nhà nguyện.

Kể từ cuối năm Quí Tị, Tĩnh đô vương Trịnh Sâm lại ra lệnh cấm đạo ở Ðàng Ngoài. Mươi năm nay, giáo hữu ở trấn Sơn Nam tản dần, một phần đi vào Ðàng Trong, một phần chạy ra vùng đồng chua nước mặn vùng Tiền Hải, Kim Sơn ở ven biển. Lính trấn Sơn Nam ban đầu gắt gao, nhưng sau có phần lơ là vì lẽ giáo hữu nay nghèo đến chẳng có gì để lột. Kỳ này họ vào Ða Phạn, quyết không phải là vì lệnh cấm đạo. Quả thế, họ bắt giáo hữu ngồi sắp hàng rồi lần lượt gọi từng gia đình ra bắt cung khai tên họ. Ðám tráng niên được đặc biệt chú ý, mỗi lần có hai người lính đến nhìn tận mặt, rồi so đo với một bản vẽ mặt người trong giấy ngờ ngợ nhìn như Trọng Thức.

Quan Chưởng Cơ dí bản vẽ vào mặt giáo sĩ Charles- Antoine, quát hỏi: « Người này có ở đây không ?». Charles-Antoine lắc đầu. Thầy Quản và thầy Xứ, phụ tá của Charles -Antoine cũng làm hệt như vậy. Cai Cơ, tên là Bá, thẳng tay quất cây côn vào đầu gối thầy Quản, chửi :

- Tiên sư bố mày, đứa nào không nói thì tao đánh què !

Rồi cứ thế, Cai cơ Bá cầm bản vẽ đi một vòng sân, bước đến đâu là có tiếng rên la đến đó. Hắn lấy tay lau mồ hôi, đến gần nói nhỏ với quan Chưởng Cơ. Quan gật gù, phẩy tay, ý bằng lòng. Bá lại ồm ồm :

- Không ưa nhẹ thì tao nặng. Chúa chúng bay thờ bị đóng đinh. Tao cũng mang theo đây ít cái, xem coi đứa nào có gan theo Chúa chúng bay không...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #78 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:16:27 pm »

Nói xong, Bá quay sang dặn lính, rồi lại giơ bức vẽ, cười cười hỏi Charles -Antoine :

- Thằng này ở đâu ?

Charles -Antoine lại lắc đầu. Lấy tượng Chịu Nạn từ tay một người lính vừa mang từ nhà Nguyện ra, Bá quát :

- Thằng này là ai ?

Charles -Antoine từ tốn :

- Người là Gia Tô Ðức Chúa Blời, là Ðấng Cứu Thế ! Người đã chịu chết vì tội thiên hạ.

Bá ném tượng xuống đất, chân đạp lên, miệng gầm gừ :

- Tốt ! Chúa của bay giỏi thì vật chết ta xem ! Ha, ha. Ðấy, ta có làm sao đâu. Bây giờ, mày đạp lên như ta đạp ...

Charles- Antoine mỉm cười nhìn Bá rồi lại lắc đầu. Bá vung chiếc côn đánh vào đầu gối Charles Antoine, cười điên dại, thét lên :

- Giỏi, giỏi!

Lúc ấy, hai người lính dùng hai mảnh ván đóng lại, làm được một cây thập tự đang khiêng ra. Bá sai xốc Charles- Antoine dậy, chỉ tượng Chịu Nạn, gằn giọng :

- Mày đạp lên, tao tha. Nếu không, tao đóng đinh ...

Lẩm nhẩm : « Lạy Chúa lọn tốt lọn lành, người vì chúng con mà chịu nạn chịu chết, nay con xin chân Chúa như các tông đồ xưa », miệng lại nhếch cười, Charles-Antoine quay sang thầy Quản, bảo :

- Thầy dẫn cho giáo hữu đọc Kinh, rồi sẽ qua cơn nạn.

Bá dang chân đạp vào bụng Charles-Antoine, hét đám lính ra khênh giáo sĩ lên, tay quơ quơ mấy cái đinh mười phân. Giáo hữu khóc la, người giơ tay bịt mắt, người rúc mặt vào đầu gối. Dăm tiếng thét đau đớn, rồi tiếng búa tạ đập vào đầu đinh cồm cộp nghe chói vào tai.

Thầy Quản đọc to :

- Lạy Chúa, xin nhìn đến giao ước của Chúa, và xin đừng bỏ rơi mãi những tâm hồn nghèo khổ. Lạy Chúa xin hãy chỗi dậy và xét xử, xin đừng làm ngơ không nghe tiếâng những kẻ kiếm tìm Chúa. Tôi ngước mắt nhìn lên Chúa, Ngài ngự trị ở chốn cao xanh…

Giáo hữu đồng thanh đáp :

- Mắt chúng tôi nhìn vào Chúa cho tới khi Ngài thương xót chúng tôi.

Thầy Quản xướng :

- Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Blời là của họ.

Giáo hữu đáp : Alléluia.

- Phúc cho kẻ chịu thử thách vì sẽ lãnh nhận triều thiên sự sống. Nếu anh em bị sỉ nhục vì danh Chúa Gia
Tô, thì phúc cho anh em, vì Thánh Thần Chúa sẽ ngự trên anh em.

Giáo hữu lại đáp : Alléluia, alléluia.

Cai Bá hung hăng, quất ngang ngọn côn vào đầu Thầy Quản. Thầy hộc lên một tiếng, ngã chúi xuống, mình giật lên giãy giụa, óc phụt ra trắng hếu. Bá gào :

- Ðứa nào dẫm chân lên tượng Chúa bay, ta thả cho đi.Ðứa nào không, thì ở lại đây rồi lần lượt ta đóng đinh cho về với Nước Trời của bay ...

Nói xong, Bá lại cầm tượng Chúa đi một vòng, ném xuống chân mỗi giáo hữu. Chỉ có tiếng côn đánh vỡ
xương nghe lạo xạo, tiếng khóc đau đớn trong lời Kinh vẫn vang lên từng chặp.

Avê Maria, Chúa Dêu ở cùng bà...

Thánh Maria Ðức Mẹ Chúa Blời, cầu cho chúng con lá kẻ có tội. Khi nay vào trong giờ lâm tử. Amen.
Ðến trước mặt Hình, Cai Bá lại quát :

- Cha tiên sư mày, dẫm lên ...

Nhìn sang Nhu, Hình mếu máo. Không, dẫu là người lương, nó có thể làm thế được không ? Cặp mắt Nhu đang lạc đi vì hãi sợ, sao bỗng lại lóng lánh sáng rực lên ? Có lẽ Nhu nắm lấy bàn tay nó ? A, cái bàn tay đó đã áp lên má nó, vòng qua đầu nó ! Hình cười sung sướng. Ðúng vậy, thế có nghĩa là đầu gối tay ấp cho Nhu. Hình quay sang nhìn Nhu rồi nó ngửng lên cương quyết lắc đầu. Cai Bá trợn mắt nhìn, giằng tay Nhu ra rồi thuận đà xoay người tát vào mặt, rít lên :

- Con đĩ này !

Hắn vừa đưa ngọn côn lên cao chực đánh thì Hình đã xông tới đấm thẳng vào mặt. Tên lính đứng cạnh đấy hoảng lên, phóng một ngọn kích rồi chạy lùi ra sau. Hình gục xuống, nhoi nhói đau trong ngực.

Ngọn kích đâm trúng tim Hình. Nhu ôm lấy nó. Ðúng đấy, đầu gối tay ấp là thế, Hình lại cười sung sướng. Nó cố hết sức đưa tay lên cổ Nhu với vào chiếc thánh giá bằng gỗ mun màu nâu. Tay nó quờ quạng đụng vào ngực Nhu, ấm áp, thơm mùi hồng non còn ủ trong gạo. Nó chỉ tay lên trời. Mặt Nhu ướt nhòa nước mắt. Ðấy, Hình xin làm con chiên của Ðức Chúa, phải không Hình ? Nhu ghì tay níu lại nhưng cổ Hình nhũn ra rồi oặt xuống.

Giáo sĩ Charles-Antoine Sieyès cố ngước đầu lên nhìn ánh trăng đã chếch về phía mái chuông nhà nguyện. Ông nghe văng vẳng :

« Này là đêm làm cho các người tin Chúa Kitô ngày nay trên khắp vũ trụ thoát khỏi nết xấu thế gian và bóng tối tội lỗi ...Ðêm sẽ sáng như ban ngày, đêm sẽ chiếu soi sự hoan hỉ của ta, sẽ phá tan ghen ghét mang lại hòa thuận và khuất phục mọi quyền bính ... »

Ðầu lại gục xuống, Charles -Antoine nhìn giáo hữu lũ lượt ngồi, đầu dựa vào gối, miệng lầm rầm đọc Kinh. Cảm xúc đau đớn ở hai bàn tay và bàn chân bị đinh đóng sau một chặp bỗng như không còn, nhưng cơn khát bỏng rát cổ họng vẫn đó. Charles- Antoine tưởng tượng vài giọt nước trôi qua miệng. Nó ngọt, mát, tinh khôi. Oâng mê đi, tâm trí lạc mãi đâu, về đến tận quê cha đất tổ bên kia đại dương. Ngồi cạnh mẹ ông, người đã kiêu hãnh khi ông báo rằng ông sẽ vào chủng viện đi tu cách đây hai mươi năm, ông quàng lấy vai bà. Ông nói với Emmanuel, người em giống ông như hệt, rằng trong Nước Chúa, sự công chính ở ngay trái tim mỗi người. Emmanuel nhăn mặt : « ... nhưng Nước Chúa nào có ở đây đâu, trên trái đất này ? » Charles-Antoine thì thầm : « Hãy tin và nhìn xem ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy sống can trường, và chờ đợi Chúa. Chúa phán Ta đã gọi con trong công lý, đã đặt con thành giao ước của dân để con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người sự xiềng xích ... ».
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #79 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2011, 09:17:13 pm »

Charles Antoine lại mở mắt ra. Ở góc sân, sương trắng phủ trên toàn thân Nhu đang nằm xoài ra ôm lấy xác Hình cứ trong dần, rồi sáng lên ánh pha lê. Hình đứng dậy, miệng cười như hoa nở, bay vụt lên không trung trong tiếng hát thiên thần, chỉ để lại cái xác đang được ấp ủ bằng một tình yêu đến muộn. Charles-Antoine mỉm cười. Ông nghe như có ai kêu « Eloi, Lamma - Sabatchtani ». Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi. Tại sao Chúa bỏ tôi ? Tại sao ? Vì trong câu hỏi đã có câu trả lời. Và trong câu trả lời sẵn ngay câu hỏi. Charles-Antoine trút hơi thở cuối cùng khi ánh trăng tan vào bầu trời gần sáng. Tiếng cầu kinh của giáo hữu như van vỉ, thảm thiết vang xa với gió sớm.

Lạy Chúa tôi, tôi ở vực sâu kêu lên Chúa tôi, xin Chúa tôi hãy thẩm nhận lời tôi kêu van, hãy lắng nghe tiếng tôi cầu xin, nếu Chúa tôi chấp tội nào ai rỗi được, bởi Chúa tôi hằng có lòng lành cùng vì lời Chúa tôi phán hứa....

Khi ánh nắng bình minh vừa lên, hàng trăm dân đinh từ Bỉm Sơn đã kéo vào Ða Phạn. Có người trốn ra vòng vây hãm của lính Huyện rồi chạy đến báo, lang Thuần vội vã trình làng rồi tất tưởi lên đường. Lúc ấy, giáo hữu đã ngồi qua đêm trong sân nhà nguyện lục đục đứng dậy. Quan Chưởng Cơ bước ra hỏi :

- Bớ hàng dân ! Ðến đây làm gì ?

Lang Thuần chẳng nói chẳng rằng bước vào sân, đảo mắt tìm, rồi tiến về phía Nhu. Ông ta gỡ Nhu ra, nhìn xác Hình nay đã lạnh nhưng môi vẫn giữ được nụ cười. Bà lang chạy ùa đến, miệng gào thảng thốt :

- Ối con ơi là con ! Con bỏ mẹ con đi đâu hả con ? Ối trời cao đất dày, làm sao bắt con tôi nông nỗi này !

Ông lang xốc Hình lên ôm trong tay, lê từng bước, mắt đỏ rừng rực. Ðến trước mặt quan Chưởng Cơ, ông nghiến răng :

- Tại sao mày giết con tao ? Con tao người lương, không phải người giáo, mày phải trả lời tao ngay ...

Quan Chưởng Cơ lùi lại một bước. Ở đâu, lão Hựu bỗng xô ra thét :

- Ði đạo thì tội tình gì ? Lạy Chúa tôi, chúng tao tội tình gì ?

Không biết làm thế nào mà có trong tay một cây mác, lão Hựu quơ tay lên chém ào ào. Quan Chưởng Cơ la toáng lên rồi nhảy về đằng sau. Lang Thuần hò : « Bớ anh em, cứ xông lên » rồi cầm cây đinh ba đâm thốc vào đám lính huyện ngạc nhiên kéo nhau vừa kêu vừa chạy.

Tráng đinh Bỉm Sơn gọi nhau ào tới, rồi giáo hữu ùa đi tìm gậy gộc dao búa cũng lăn xả vào. Lão Hựu nhướng đôi mắt rỉ toét tìm bóng Cai Bá. A, nó kia kìa. Nó chạy về phía đầm Cả. Cai Bá như con lươn, luồn bên phải, lách bên trái, lẩn mình sau rặng cói, lom khom chạy. Trọng Thức cắt dây chão, từ chạc ba leo xuống, tay chỉ lão Hựu, mồm kêu :

- Về phía bên này, nó chạy về phía bên này !

Lão Hựu quên tuổi tác, vác thanh mác chạy bổ theo, tiếng chân bì bõm lội nước. Một lát sau, Thức nghe lão Hựu quát :« Ði ra, ra ngay ! ». Cai Bá trông hệt như con chuột đồng chạy lụt, bò ra, tay ôm đầu, miệng lắp bắp nói. Lão Hựu hét lên rồi chém xuống, như điên dại, cứ thế chém, vừa chém vừa hét.
Lúc Thức đến, máu Cai Bá đã loang đỏ trên mặt nước đục ngầu gợn quanh gốc những cây cói chĩa thẳng lên trời. Lão Hựu vừa đấm vào ngực bình bịch, vừa rên rỉ :

- ... Lạy Chúa tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đường !

Ngửng lên nhìn Thức, lão Hựu nghẹn ngào :

- ... lỗi tại tôi. Tôi lên huyện báo cho huyện bắt thầy vì tôi tưởng thầy làm cho con Nhu có chửa mà định bỏ rơi ... Có ngờ đâu, bây giờ thì Cố chết, Thầy Quản cũng chết vì Chúa, chỉ có tôi đây tội lỗi, Chúa ơi ...
Thức chưa biết xử sự thế nào thì lão Hựu đã vùng chạy ra biển. Thức đuổi theo gọi lão. Lão cứ chạy. Chạy đến chỗ giấu chiếc thuyền con. Lão kéo thuyền ra, vừa đẩy vừa rú, rồi nhẩy tót lên chống sào cong người đẩy. Khi Thức chạy đến bờ, con thuyền chở lão Hựu vẫn còn trong tầm mắt, tai Thức còn nghe lão Hựu gào: « Lạy Chúa, xin thương xót linh hồn tội lỗi này. Lỗi tại tôi ...Lỗi tại tôi ... ».

Ðứng ngơ ngẩn, Thức biết rằng lão Hựu đã đi xa, xa lắm, xa như cánh chim âu đang tít mù bay về một miền chưa ai đến. Một lúc sau, chàng lủi thủi quay về. Lính huyện chết mất hai người, còn lại chạy trốn hết. Bà lang Thuần ôm xác Hình vừa khóc vừa kêu Trời kêu Phật. Giáo hữu đã hạ xác thân của Charles-Antoine từ cây thập tự xuống, đặt cạnh Thầy Quản trong nhà nguyện. Nét mặt người chết xem ra có gì hạnh phúc,
miệng vẫn nhếch lên cười một nụ cười bình thản.

Người lương ở Bỉm Sơn sợ lính huyện đến đánh trả thù. Ðến tối, giáo hữu cử hai người lớn tuổi theo họ về. Bàn bạc với nhau thế nào không biết, mấy ngày sau đó, một đoàn cả lương lẫn giáo gần năm trăm nhân mạng đưa nhau đi dọc bờ biển về phía nam.

Hình như chỉ có một mình Nhu ở lại. Nàng đến trú nhà lang Thuần chịu tang Hình ba năm. Sau đó, nàng xin tu trong dòng Mến Thánh Giá. Ðó là điều nàng đã cầu xin với Ðức Mẹ. Phép lành Mẹ ban cho nàng chắc có vấy một chút kỷ niệm thế gian hẳn chẳng dễ mà quên đi ngay được.

Về đến La Sơn, Trọng Thức nhờ người lên Bùi Phong liên lạc với Phu tử. Thời gian đó, Chúa Tĩnh Ðô vừa băng hà, Tế Lý và Tuyên phi Ðặng thị Huệ lập Cán lên ngôi Chúa nên phải ra sức đối phó với những kẻ phò Trịnh Tông. Thấy chính sự chưa ngã ngũ, Phu tử dặn Thức tiếp tục lánh mặt, nhắn rằng Tiệp Dư Trần Danh Kỷ đã ghé tìm. Nhận lời mời của một người học trò cũ, Thức đến xã Nam Hoa rồi về ở ẩn dưới chân núi Bạch Tượng.

Nơi Thức trú ngụ là một căn lán lợp lá cọ nằm khuất sau một rặng chèm, cửa mở ra hướng con suối đổ xuôi xuống Vũng Bạc. Mùa này, suối ứ nước, ồ ồ chảy. Cứ dăm ba bữa nửa tháng, người học trò lại ghé mang cho Thức vài cân gạo và chút ít mắm muối. Bẹ, măng sẵn đấy, rồi Thức lại học đặt bẫy thú và đi câu cá, cuộc sống thanh bần hóa lại thảnh thơi.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM