selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #110 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:23:34 pm » |
|
Ba ngày sau, Huệ từ Vĩnh Trấn về Gia Ðịnh. Nghe Lữ kể xong, Huệ biết ý, bảo ngay : “ ... chú định tha họ ? ”. Lữ gật đầu, nói :
- Phía Bắc, quân chúa Trịnh đóng đấy đợi thời cơ là kéo vào ép đánh Qui Nhơn và Quảng Ngãi. Từ Phú Yên đến Bình Thuận, quân ta mới chiếm, vẫn phải dàn mỏng ra để giữ. Vào miền Nam này, dẫu nay ta có chiếm được toàn bộ thì vẫn không đủ sức giữ hết, giỏi là phòng bị được Gia Ðịnh trở ra. Ánh nay lại xin cầu viện với Xiêm La và với Pháp. Xiêm ở gần, kéo sang tới nước ta chỉ hai ngày. Nếu hắn lại có thêm Ypha Nho từ Phi luật Tân đến giúp, thuận buồm xuôi gió thì chắc ba ngày hai đêm là có thể đổ bộ vào. Lại nghe quân Mã vừa sục đến đánh Cao Man, sự thể không biết sẽ ra sao ! Vì vậy, ở thế ta, bớt được kẻ thù, thêm được đồng minh là thượng sách.
Huệ cười : “ ... ừ thì tha, nhưng cứ giam cho đến khi nào ta về Qui Nhơn đã ”. Ngay hôm đó, Huệ dặn Trương văn Ða sửa soạn chuyển quân sang cứu Cao Man. Một tuần sau, Huệ cho gọi hai giáo sĩ lên. Ngồi bên Lữ, Huệ quắc mắt hỏi :
- Hai vị muốn sống hay muốn chết ?
Castuera cúi đầu, gập người xuống, miệng khẩn cầu :
- Chúng tôi mắc tội, chót lỡ lầm. Nay làm gì chuộc được, chúng tôi sẽ xin hết lòng.
Huệ đưa một phong thư đã viết sẵn, rành mạch :
- Một trong hai vị mang phong thư này sang Phi luật Tân đệ trình cho quí Vương rõ : Tây Sơn chúng tôi để mọi giáo sĩ tự do đi lại truyền đạo từ Qui Nhơn vào Hà Tiên, sẵn sàng mở cửa khẩu Thị Nại và Cần Giờ để thông thương buôn bán với quí quốc Ypha Nho. Phép độc quyền đặt thương quán tại hai nơi đó có thể dành cho quí quốc sau khi hai bên thỏa thuận.
Ngừng nói, Huệ quay sang Ginestar ra lệnh :
- Còn một vị ở lại nước này, cứ đi rao giảng nhưng nói lại với giáo hữu rằng họ sẽ được miễn sưu miễn thuế trong ba năm tới đây nếu như họ vào sổ đinh và chịu binh dịch, cứ năm đinh bắt một lính.
Chỉ hai tháng sau khi Huệ và Lữ rút quân về Qui Nhơn, để Gia Ðịnh cho Trương Văn Ða giữ, thì tướng tá quân chúa Nguyễn lại xuất đầu lộ diện. Hồ văn Lân tiến chiếm Cần Thơ, bắt được mười ba chiến thuyền đi biển của Tây Sơn. Lê Văn Quân mộ quân giữ sông Tân Hòa. Tôn Thất Hội thu thập tàn binh cướp đồn Tinh Phụ. Trong khi đó, đoàn thuyền Nguyễn Ánh lại từ Thổ Châu giong về đất liền. Men vịnh Xiêm La, thuyền phải ghé vào những cù lao rải rác để hái rau đào củ ăn cho qua ngày. Tháng giêng năm Giáp Thìn, Ánh ghé vào một hòn đảo cách Chantabun hơn một dặm. Cùng lúc đó, đám tướng Nguyễn bị Tây Sơn vây đánh. Lê văn Quân và Tôn thất Hội lại thua, cùng đường cũng chạy sang Xiêm.
Ngồi bất động nhìn vào đất liền, Ánh như một bức tượng đổ bằng thạch cao, phần hồn chỉ lóe lên qua tia mắt u uẩn thỉnh thoảng lại rực lên ánh căm hờn. Giơ tay vẫy, Ánh gọi tên con. Mấy tháng nay, Ánh sai Thức dạy vỡ lòng cho Hoàng tử Cảnh, cứ hai ngày lại chính mình xem Cảnh tiến bộ thế nào. Mỗi lần Cảnh không nhớ mặt chữ, Ánh quát tháo, lắm khi tiện tay là tát, miệng lầu bầu “ ... còn nghiệp nhà đó, mày làm sao cho tao thì làm ! ”. Thức dắt tay Cảnh đến gần.
Ánh nhìn Cảnh, rồi nhìn Thức. Một lúc sau, Ánh thở ra, bất ngờ hỏi :
- Thầy xem nghiệp nhà ta có cứu vãn được không ?
Thức thận trọng, trả lời :
- Trong quân họ đồn với nhau lời sấm ký, bảo rằng Song Ngư nước cạn, cơ nghiệp nhà Nguyễn lại về tay nhà Nguyễn ...
Ngửa mặt lên cười u oán, Ánh nhìn ra xa :
- Thày tin sấm ký à ? À, phải đấy. Thầy là học trò La Sơn Nguyễn Thiếp thì tin cũng đúng. Mà thầy có tin thật không ?
- ...
Ánh chợt gằn giọng, nhìn xoáy vào mắt Thức :
- Chính ta đặt điều nói ra thế ! Kẻ theo ta bôn tẩu phần lớn đều tin như vậy mà giữ hy vọng !
- ...
- Thầy có nghe Bắc hà mắc loạn Kiêu binh không? Tay vỗ xuống cát, Ánh nhẩn nha - Chúa Trịnh yếu đi thì mặt Phú Xuân không còn là mối nguy của Tây Sơn, nên có hai khả năng. Hoặc nó tập trung đánh ta, hoặc giả nó ngó ngàng muốn cướp đất Bắc, giảm áp lực trên đất Gia Ðịnh. Thầy thấy tình huống nào sẽ xảy ra?
Thức chần chừ rồi đáp :
- Tôi không biết. Nhưng trong tình huống nào cũng vậy, Vương công muốn giữ nghiệp nhà Nguyễn vẫn chỉ có một lối, đó là xây dựng binh lực. Cứ thếâ yếu thì rút, thế mạnh lại tiến lên giữ.
Ánh nghe, nhìn khuyến khích cho Thức nói thêm. Thức trầm ngâm :
- Nếu Tây Sơn dòm ngó Bắc hà, Vương công xin hòa, cướp thời gian để củng cố. Nếu họ tấn công Gia Ðịnh trước, Vương công cố thủ, không chống được thì rút, mặt khác liên kết với Chúa Trịnh tạo ra áp lực trên Tây Sơn từ phía Bắc ...
- Nhưng Trịnh mạt rồi, quân đội trong tay Hoàng Phùng Cơ và Ðinh Tích Nhưỡng không có uy vũ gì cả ! Ánh thở dài tiếp - ... ta đã liên lạc với bọn Lê văn Quân và Tôn thất Hội hiện đang lưu vong ở Vọng Các, và đệ thư xin Xiêm vương cứu viện đưa quân vào đánh Tây Sơn !
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #111 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:24:16 pm » |
|
Cau mày, Thức can :
- Vương công hẳn biết, cái gương Trần Ích Tắc còn đấy, việc cõng rắn cắn gà nhà vẫn là hạ sách.
- Ta hiểu - Ánh ngắt lời - vì thế ta chống việc đi cầu viện nhà Thanh. Ðó là con rắn lớn. Còn Xiêm La, chỉ là con rết nhỏ, may ra thì giúp ta lúc khốn cùng này chút ít thời gian để góp quân, gom của mà thôi.
- ...
- Ngoài Xiêm, còn Ypha Nho và Pháp-lan-tây là có thể cầu viện được. Nợ xa, đòi nợ có thúc cũng không bằng nợ gần. Nhưng chủ nợ là bọn da bệch mắt xanh, ta vẫn ngại họ hơn người Xiêm. Mà lạ thật, Tây Sơn cho truyền đạo tự do, đám giáo sĩ Pháp không hiểu sao cứ trốn chui trốn nhủi không chịu ra mặt, ngấm ngầm rời các trường đạo sang Xiêm La, Cao Man ...Thày có hiểu gì không ?
- ...
- Sắp tới, Giám Mục Bá đa Lộc và Cai trường Liot sẽ đến đây với ta. Thày xem, liệu tìm hiểu ý họ... - Ánh bật cười chua chát - Sao họ lại đi giúp cho một kẻ bại hết trận này sang trận khác như ta !
Ðứng lên, bỗng nhiên Ánh nắm vai Thức, hỏi :
- Còn thầy, có phò nhà Nguyễn ta không ?
Sững người ra, Thức mím miệng, nhưng Ánh đã nói ngay :
- Cứ tiếp tục dạy Hoàng tử, đừng quên là thày còn nợ ta một câu trả lời đấy.
Trái với dự liệu của Thức, gặp lại Bá đa Lộc và Liot nhưng Ánh lại không nhắc gì đến việc Thức muốn theo trường đạo để tiếp tục việc làm từ điển, cũng như ý định để Thức đi kèm Hoàng tử Cảnh sang Pháp. Ở với Ánh độ nửa tháng, Bá đa Lộc lại từ tạ, mang tám mươi giáo hữu chạy ra Thổ Châu rồi cuối cùng đến ở đảo Poulo-way. Tháng hai năm Giáp Thìn, Ánh hẹn Chu văn Tiếp cùng đến Vọng Các. Vua Xiêm cho hai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem hai vạn thủy binh và ba trăm chiến thuyền tiến vào Gia Ðịnh.
Tháng bảy, liên quân Xiêm - Nguyễn đổ bộ lên Rạch Giá. Ánh không vội công thành Gia Ðịnh, từng bước chiếm các vùng từ vịnh Xiêm La đến Tiền Giang, đánh ăn chắc, và đến đâu là củng cố đến đó. Với lệnh miễn sưu, thuế, lại năm đinh mới bắt một lính của Tây Sơn, Nguyễn Ánh quả lúng túng, không biết thế nào để lấy lòng dân mà đồng thời lại có thể chiêu binh, góp của. Trong vòng hơn ba tháng, quân Xiêm - Nguyễn mới lên được Cần Thơ, chiếm đồn Ba Thác, Trì Ôn rồi tiến về Sa Ðéc. Nhưng ở lâu, lính Xiêm sinh ra khinh mạn, giết người cướp của, làm dân oán thán. Ánh hoảng sợ, viết thơ mời Bá đa Lộc về, trong khi đó tướng Tây Sơn Trương văn Ða đem quân án ngữ Long Hồ để phòng thủ. Liền sau đó, Chu văn Tiếp chết trong trận Mang Thít, quân Nguyễn thắng nhưng không tiến thêm được một bước nào cho đến cuối năm.
Bá đa Lộc vào đến quân dinh khoảng đầu giờ Ngọ. Nguyễn Ánh đích thân chạy ra, ôm hôn tay như người có đạo, rồi mời lên ghế cao, tự mình ngồi xuống thấp, thái độ vô cùng kính cẩn. Bá đa Lộc cười hể hả, nói tiếng Việt làu làu :
- Thấy Vương công khỏe mạnh, tôi mừng lắm.
Lộc trên dưới năm mươi, béo phệ, lông mày như hai con sâu róm châu đầu vào nhau, miệng lúc nào cũng như cười, đôi mắt đen nâu thỉnh thoảng lại có tật cứ nháy nháy giựt lên từng chặp. Ánh đưa Thức ra giới thiệu là Tư giảng của Hoàng tử Cảnh, lại khoe rằng Thức đã từng cùng giáo sĩ Sieyès làm từ điển. Bá đa Lộc nghe xong, quay sang Thức hỏi về những ngày cuối cùng của Sieyès, làm dấu thánh giá, rồi cầm tay Thức, ân cần :
- Hy vọng rằng ông cũng sẽ giúp tôi như giúp Sieyès. Tôi cũng đã từng làm một cuốn từ điển sơ lược cách đây mươi năm. Chẳng hiểu ông có còn bản nháp đã làm với Sieyès không ?
Thức lắc đầu, buồn bã kể lại là đã thất lạc tất cả từ ngày bị Tây Sơn bắt giam ở Qui Nhơn. Lộc an ủi, cười nói :
- Rồi ông xem, ta sẽ làm lại. Nhưng với ông, bước khởi đầu như vậy là đã đi được xa rồi, phải không ? Ba hôm liền, Bá đa Lộc và Ánh bàn bạc suốt ngày, nét mặt nghiêm trọng. Ðến ngày thứ tư, Ánh trao cho Lộc một phong thư và chiếc ấn tín bằng ngọc tỉ. Tay dắt hoàng tử Cảnh, Ánh nhìn Lộc, giọng thỉnh cầu :
- Con tôi, tôi xin giao cho cố giữ nó, dạy nó giúp tôi. Nó còn là Hoàng tử của cả nước tôi, sau này thế nào là tùy cố ...
Quay sang Thức, Ánh tiếp :
- Ta cũng xin cho thầy đi kèm Hoàng tử, phụ cố một tay trông nom cho Hoàng tử.
Tối hôm ấy, Thức đang sửa soạn cho chuyến đi thì Ánh bước vào. Nhìn Thức chằm chằm, Ánh buồn rầu :
- Ta mang con đi gán, mong vay được bốn tầu chiến và một nghìn rưởi quân Pháp, chẳng biết họ có cho nợ không ? Thầy kèm Hoàng tử, đừng để ảnh hưởng Tây dương xâm nhập quá độ vào cái trí óc còn ngây thơ. Sự mong muốn xưa thầy nói, nay có cơ thành tựu. Nhưng thầy còn nợ ta một câu trả lời ... Thầy nghĩ ra chưa ?
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #112 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:24:54 pm » |
|
Thức chột dạ. Chàng ngập ngừng, rồi thành thật :
- Tôi là kẻ tiện dân học đòi chính giáo, đã mấy đời nay là tôi của vua Lê. Dưới Vua, thì có Chúa. Ở đất Ðàng Trong, Chúa là nhà Nguyễn nên trung với Vua ai lại chẳng phò Chúa. Nhưng thế sự này thì cuộc đổi đời xem ra như không còn xa ... Nghiệp nhà của Vương công cũng vì thế mà sẽ không là nghiệp xưa. Thời gian tới đây, sự nghiệp lớn lao là sự nghiệp canh tân đất nước, bình định cho yên giặc giã, hết chiến tranh, để dân nhà nhà được yên ổn làm ăn, được học hành cho mở rộng tầm mắt. Vương công làm như thế, tôi xin phò ...
Ánh chặn tay, ngắt ngang :
- Ta vẫn còn ở thời phải bình định ... Giặc đánh, ta phải chống, thời giờ nào mà nghĩ xa nghĩ xôi.
Ánh im lặng, mắt nhìn vào bóng đêm, búng tay rồi nói :
- Ta không ép thầy. ý chí canh tân cũng là ý chí ta, nhưng trước mắt ta không làm ngay được. Vậy thầy cứ đi, thấy cái hay về bảo cho ta !
Cười nhạt rồi đưa tay bóp trán, Ánh trầm giọng:
- Người Tây dương thấy ta còn trẻ, lại có cái thế chính danh, nên vun xới vào để mưu đồ việc họ qua ta, rồi về sau sẽ qua Hoàng tử Cảnh. Thầy thừa biết. Ta biết. Họ cũng biết. Nhưng cứ như đánh cờ, biết thế vẫn phải chịu thế.
Ánh đột nhiên đứng dậy, quay ngoắt đi ra ngoài, không nói thêm một tiếng. Thức nhìn theo, lòng bâng khuâng chút thương cảm. Từ năm mười lăm tuổi, Ánh đã xuôi ngược bán chết bán sống chạy chí mạng. Bảy năm qua, Ánh cứ đụng trận là thua, đánh đâu bại đó, lắm khi trốn lênh đênh trên biển phải nhịn đói chịu khát sáu bảy ngày liền. Sức mạnh nào khiến Ánh cứ tiếp tục một cuộc chơi lạ lùng cứ ngã xuống lại đứng lên ? Thức nhớ lại, một hôm Ánh ví von, nói đùa với đám tướng sĩ tùy tùng : “ ... thằng Huệ trời sinh nó là con cọp, nó tát nó quào rồi nó bỏ đi. Còn ta, trời sinh ta làm con sói. Ta không tát, không quào, chỉ biết cắn. Nhưng khác nó, ta đã cắn vào con mồi rồi thì nhất định ta không nhả răng ra, dù trời có sập cũng vậy ! ”
Thức ngước lên nhìn sao trời. Mai đây, ở bên trời Tây, liệu Thức có thấy cũng những vì sao lấp lánh kia hay là những vì sao khác ? Bùi ngùi lấy tay gạt những hạt cát bám trên áo, Thức thầm hứa với mình là dù có đến chân trời góc biển nào đi nữa, mảnh đất mẹ vẫn là chốn cuối cùng buộc chàng vào cõi nhân gian oái oăm đa sự này.
Hai tháng sau khi đến Pondichery, Bá đa Lộc được công ty Ðông Ấn chuyển thư của giáo sĩ Liot báo cho biết là Nguyễn Huệ lại vừa đánh tan liên quân Xiêm - Nguyễn ở Rạch Gầm và Xoài Mút và truy lùng Ánh đến tận Thổ Châu. Ánh dẫn năm chiến thuyền và hai trăm quân chạy sang Xiêm, xin vua Xiêm cho trú tại Ðồng Khoai ở ngoại thành Vọng Các. Ở đấy, Ánh sai quân làm rẫy khẩn hoang, nhưng vẫn phái người lẻn về Gia Ðịnh âm thầm chiêu mộ để tìm thế khôi phục. Bá đa Lộc lồng lộn, đập bàn, hét tướng lên rồi uống rượu say hai ngày liền, mắt đỏ ngầu ngầu nhìn như muốn ăn sống mọi người. Sau, Lộc gọi thầy Paul, tên ta là Hồ văn Nghị, bảo :
- Bọn ta đến đây có ba mươi bốn người, tiền mang theo lại sắp hết. Thầy hỏi xem ai muốn về Gia Ðịnh, ai muốn ở lại đây ?
- Cố làm thế, có vội vã quá chăng ? Người An Nam chúng tôi bảo còn nước là còn tát !
Nhìn Nghị, Bá đa Lộc trợn mắt :
- Ánh lại chạy sang Xiêm rồi ! Thở dài, Lộc lẩm nhẩm - ... Cứ đánh là thua, thế thì ai làm gì giúp được ? Ta có cảm tưởng là ta đang tát nước cạn. Bây giờ, thầy bảo phải làm sao ?
Nghị cúi đầu nghĩ ngợi một lát rồi nói :
- Trước hết, tin nhà Chúa thua chạy, ta hãy tạm giữ kín. Sau là Cố viết thư xin Hội Truyền Giáo giúp phương tiện để ở lại Pondichery thêm một thời gian, tìm cách gặp quan Toàn Quyền Souillac hòng thuyết phục ông ta can thiệp ...
Lộc lắc đầu :
-Ta gặp rồi, không đi đến đâu ! Sáng mai, ta sẽ trình bày với tướng Coutanceau, may ra ta có thể... Bước ra ngưỡng cửa, cái nóng hừng hực làm Lộc choáng váng. Trời oi bức nhưng ẩm áp, tay sờ vào đâu cũng nhớp nháp. Nắng đổ trắng xóa lên tháp chuông, lóe lên ánh phản chiếu trên kim loại chói lòa mắt. Lấy tay che, Lộc lẩm nhẩm, rồi nói với lại :
- Hãy thay ta làm lễ sáng mai là ngày thánh St-Joseph.
Về đến phòng, Lộc lôi giấy trắng ra ngồi hí hoáy viết. Ðoạn chót, Lộc cắn tay suy nghĩ, rồi đặt bút : “ ... điều khác tôi khẩn cầu là lo việc giáo dục cho Hoàng tử mà tôi đang chịu trách nhiệm. Tôi muốn rằng, dẫu chuyện gì xảy ra cũng vậy, dạy dỗ nó trong đạo; như vậy là để bù đắp vào cái mất mát ngai vàng vốn chỉ là cái mất nhất thời bằng sự sáng quí báu và hằng vĩnh ... Nó mới sáu tuổi, nhưng đã biết cầu nguyện, tâm linh sẵn hướng về siêu nhiên tôn giáo. Một điều lạ là nó gần gũi tôi đến độ chẳng luyến tiếc gì bố mẹ nó, bà nó, vú em và hơn năm trăm nhân mạng đổ nước mắt ra khóc khi nó theo tôi lên tầu. Giáo hữu đều cho rằng đó là ơn thiêng liêng của Chúa, nhưng người ngoài đạo bảo rằng tôi đã đánh bùa bỏ ngải ...”.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #113 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:25:34 pm » |
|
Tờ mờ sáng hôm sau, Lộc một mình vào gục đầu lẩm nhẩm đọc Kinh trong nhà nguyện. Sau đó, Lộc gọi Tân và Thức đi cùng, lên xe do hai ngựa kéo, chạy qua những đường phố đã đầy ắp người quấn sa-ri, đi chân trần, rao hàng inh ỏi. Ðến phủ Toàn Quyền, cả bọn được mời vào phòng khách dành cho khu quân sự. Một lát, tướng Coutanceau bước ra. Sau khi giới thiệu là Tân và Thức đều là người phù tá Nguyễn Ánh và dăm câu mào đầu, Lộc đi thẳng vào vấn đề :
- Thưa thiếu tướng, đánh và thắng bọn giặc tiếm ngôi Quốc Vương An Nam không cần đông quân. Thứ nhất - Lộc nhìn về phía Thức, tiếp - dân họ biết là văn minh thua kém ta, nên cứ thấy da trắng là đã hàng phục. Thứ nhì, giặc chuyên dùng đao kiếm. Còn súng, cứ năm đứa mới có một, súng lại xấu, bắn chậm và không có tầm xa. Giặc không sử dụng súng thần công trên bộ, chỉ đặt ở thuyền, lại chưa biết dàn trận theo kỹ thuật mới là dàn dựng hỏa lực từng đợt, nên không phát huy hết tiềm năng được. Thứ ba, thủy quân giặc chỉ có thuyền chiến, cỡ to nhất thì cũng chỉ nhỏ như loại tầu chasse - marée của ta. Tôi từng thấy một tầu chiến với mười khẩu súng ca-nông và một chục người của ta đã đương đầu suốt một ngày với cả đọâi hàng trăm chiến thuyền của giặc ...
Bá đa Lộc ngừng nói, rồi say sưa mở một tấm bản đồ, trải ra tay chỉ vào Hội An, miệng reo :
- Ðây, đây ... Ðổ bộ vào đây, ta lập tức đánh lùi giặc, lập phòng tuyến để giữ đường ra biển. Bao giờ cũng vậy, phải không thưa thiếu tướng, luôn luôn nên tính đến cách rút khi cần. Hà hà ... Phòng tuyến này sẽ là lũy đắp bằng đất thó trộn với lá dừa như quân Pháp đã từng làm ở Ấn Ðộ, đạn ca-nông bắn vào cũng chỉ xoáy thành lỗ, không phá được. Ở đây, ta để hai trăm lính giữ. Còn lại, là xung phong vào rồi quay sang phía Nam tiến về Qui Nhơn, sào huyệt bọn cầm đầu đám giặc. Trong khi đó, Quốc Vương Cochinchine mang quân từ Gia Ðịnh xông lên, hai mặt đánh vào ...
Coutanceau vẫn im lìm nghe, bỗng ngước mắt, rồi hỏi :
- Thưa giám mục, ngài nghĩ đội quân đánh Qui Nhơn phải bao nhiêu người ?
- Một nghìn, một nghìn là đủ !
- Có cần pháo binh không ?
- Có chứ, bộ binh có trọng pháo là cái mạnh của ta !
- Vâng, thế lấy bò ở đâu để kéo pháo đi ?
Bá đa Lộc ngẩn ra, rồi đáp :
- An Nam không có bò, chỉ có trâu !
Coutanceau tiếp :
- Cho một nghìn quân bộ, như thế cần khoảng trên một trăm con trâu để kéo pháo ! Thế tìm đâu ra trâu ? Lộc ngần ngừ :
- Ta chở từ Côn Ðảo tới bằng tầu !
- A, thật là tuyệt diệu. Vậy là cần thêm hai tầu chiến để trở có trâu thôi ! Coutanceau cười, tay chỉ vào Phú Xuân nằm sát ngay Hội An trên bản đồ, hỏi tiếp - Thế đây là chỗ quân đội Tonkin đóng. Thưa giám mục, ngài nghĩ là họ sẽ để yên, không kéo quân xuống ?
Mím miệng, Lộc lắc đầu :
- Chắc là không ! Ranh giới nước họ đến đấy thôi !
Coutanceau nghiêm giọng :
- Thế ranh giới nước Pháp ở đâu mà ta lại đến đánh Hội An đây ?
Lộc ngẩn người ra, chưa biết đối đáp thế nào thì Coutanceau, để tránh căng thẳng, quay sang Thức và Tân hỏi lấy lệ :
- Quí vị nghĩ thế nào ?
Tân thở dài sườn sượt nhìn xuống đất không nói gì. Thức đành trả lời :
- Tôi vốn không biết gì về quân sự, mọi việc đều tùy Ðức Giám Mục.
Bá đa Lộc hắng giọng chen vào :
- Nhưng thiếu tướng, ngài vẫn chưa hỏi rằng đánh Hội An thì nước Pháp của chúng ta sẽ được những gì ? Coutanceau giơ tay chặn Lộc, miệng tươi cười, lịch sự nói :
- Bây giờ là giờ dùng trà ở Ấn Ðộ. Xin mời quí vị sang phòng bên.
Quay về phía sĩ quan tùy tùng, Coutanceau đưa mắt nhìn. Người này đi ra mở cửa. Contanceau nháy mắt, hóm hỉnh nói nhỏ : “ ... ông kiếu họ cho tôi. Cứ tiếp cho chu đáo. Nhưng chớ có học về chiến thuật quân sự với Ðức Giám Mục. Cần thì chỉ nên hỏi ngài về lối nào lên thiên đường cho nhanh nhất mà thôi ! ”.
Buổi đi thăm sáng hôm ấy nhất định không thể gọi là một thành công trong chuyến vận động của Bá đa Lộc cho một cuộc viễn chinh của Pháp ở Ðàng Trong xứ Ðại Việt. Về đến nhà dòng, Lộc bực bội ra mặt, gọi Paul Nghị lên thì thầm rồi đi ngủ trưa. Hôm ấy, Thức hẹn mang Hoàng tử Cảnh ra phố xem mấy tay fa-kia thổi sáo cho rắn hổ mang ngửng đầu lên múa. Vào phòng Cảnh, Thức chỉ thấy Bạch, người anh họ của Cảnh năm nay đã mười tám tuổi, đang ngủ gà ngủ gật. Hỏi, Bạch chỉ tay về phía phòng ngủ của Bá đa Lộc. Cửa phòng khép hờ. Thức đẩy nhẹ, nhìn vào. Bá đa Lộc lõa lồ, miệng ngáy pho pho, bên cạnh Hoàng tử Cảnh nằm trần truồng như nhộng. Thức lặng người, tay đóng nhanh cửa phòng lại. Bước ra ngoài nắng, Thức tự nhủ rằng Hoàng tử chẳng cần đi đâu xa để mà coi rắn múa.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #114 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:26:13 pm » |
|
Ðứng trên boong chiếc tầu buôn Malaban, Thức nhìn bờ nước xa dần. Sáng nay, chuyến đi Ấn từ tháng hai năm 1785 coi như kết thúc, sau thời gian gần một năm chạy chọt không kết quả với đám quan chức Pháp. Ðến khi tiếng kèn và tiếng sáo trên đất liền nghe chỉ còn văng vẳng, Thức ngửng lên trời, ngắm những cánh hải âu lượn qua lượn lại trong ánh nắng chói chan. Thầy Nghị đến cạnh Thức, trầm ngâm không nói năng. Không còn thấy Pondichery trong tầm mắt, Thức mới quay lại hỏi :
- Thưa Thầy, tầu chạy bao lâu mới đến nước Pháp ?
Nghị gật gù :
- Nếu đi thẳng thì chưa đầy hai tháng. Nhưng tầu này là tầu buôn, còn ghé chỗ này chỗ kia, chắc phải bốn tháng hay hơn thế nữa.
Tiếp tục tán gẫu, Thức mới biết là Nghị người gốc Nghệ An, trước có học chữ Hán rồi sau vào chủng viện ở giáo phận Tây Ðàng Ngoài. Nghị ít nói, thường lánh chỗ đông, tay lúc nào cũng lần tràng hạt. Nhìn ra tít tắp chân trời, Nghị bỗng hỏi :
- Thầy bỏ lỗi, tôi cứ băn khoăn không biết thầy ... thầy định gì, chí hướng ra sao ?
Thức ngạc nhiên, nhìn dò hỏi. Nghị thủng thẳng :
- Thầy là tư giảng cho Hoàng tử, phàm thì phải là người tin cậy của Chúa Nguyễn. Muốn thế, ắt là người Ðàng Trong ...
Mỉm cười, Thức bình tĩnh đợi, mắt nhìn Nghị. Hơi bối rối, Nghị ngần ngừ :
- ... nhưng không, thầy bỏ lỗi, tôi biết thầy chính là “ anh thầy đồ cứng cổ ” xứ Nghệ nhất định dạy chữ Nôm, không chịu dạy chữ Hán. Miệng cười nhẹ, Nghị tiếp - Thế thì trái ngược thật, Chúa Nguyễn có coi chữ Nôm ra gì đâu !
Thức bật cười rồi cao giọng :
- Thầy vậy là rõ thân thế tôi, thế Thầy có biết tôi còn bị cả chúa Trịnh lẫn Tây Sơn bỏ vào ngục không ?
Gật đầu, Nghị thủng thỉnh :
- Biết, tôi biết. Nhưng tìm chỗ dung thân ở nơi Chúa Nguyễn thì khó hợp lý. Ðấy, thầy rõ rồi, cứ đánh đâu thua đó ! Vả lại, tôi cũng biết thầy đâu có ham gì quan tước, nếu ham thì thầy đã chịu ra đi thi rồi, đâu có mắc tiếng “ cứng cổ ” ...
Biết không thể nói quanh mãi, Thức kể việc làm từ điển và cái chí đi tìm học ở Tây phương chẳng những kỹ thuật mà còn cách tổ chức và cái tôn ti trật tự của xã hội của họ. Nghị nghe Thức nói xong, lại hỏi :
- Học được, thầy rồi làm gì ?
- Tôi mở trường học, viết sách, đi du thuyết ...
Bật cười, Nghị cắt ngang :
- Thầy cho rằng đám sĩ phu hủ học khoanh tay ngồi nhìn thầy ? Thầy quên là chỉ dạy chữ Nôm của ta thôi mà họ đã xuýt bỏ thầy vào tù qua tay quan Hiệp Trấn Nghệ An à ?
Thức chưa biết nói gì thì Tân đi đến. Nghị chào, rồi lái ngay câu chuyện sang sức khỏe của Hoàng tử và đám tùy tùng. Ðợi Tân đi ra xa, Nghị tiếp tục câu chuyện nói dở :
- ... những điều mới mẻ không cứ thế mà mang vào được, phải hội nhập và thích ứng từng bước vào xã hội với những nền nếp xưa cũ, chẳng thể thay đổi toàn bộ ngay được. Cách tân, tất gặp sự ù lì đối kháng lại ... Thầy có nghĩ là một thân thầy không thể kham hết, mà thầy phải có những kẻ ủng hộ thầy, tập hợp đứng đằng sau không ? Người đồng chí với thầy, thầy thấy ở đâu ? Thầy làm gì để tiếp cận với họ rồi sau đó mới nói đến mở trường, viết sách ...
Thức ngạc nhiên, không ngờ một kẻ tu hành như Nghị lại có cái nhìn sâu sát thực tế. Chàng xoa tay rồi trầm giọng :
- Thưa Thầy, tôi xin trân trọng những lời Thầy dạy. Nhưng hiện tôi phải biết cái kiến thức Tây phương đã. Chưa biết, nói gì đến bước sau! Nhưng còn phần Thầy, xin cho tôi hỏi một câu ...Tây Sơn cho giáo sĩ Gia Tô tự do đi truyền đạo. Vậy lý do gì cố Bá đa Lộc cứ một mực phò Nguyễn Ánh ?
Ngần ngừ, Nghị nhìn ra xa :
- Cố là người kín đáo, khi nói chỉ nói một nửa sự thật. Ðấy là điều cố lại không nói, tôi làm sao biết được. Thức không ép, mỉm cười, nghĩ thầm đến vai trò của Nghị như cánh tay phải cúa Bá đa Lộc. Nhớ lại buổi gặp thiếu tướng Coutanceau, Thức có cảm tưởng như Lộc đang đánh bạc. Lại đánh lớn, mang cả đời mình ra để đặt cược. Rồi đặt vào cửa khó trúng nhất, chắc để “ được ăn cả, ngã về không ”. Nhưng ăn gì ?
Nhất là đối với một kẻ tu hành như Lộc? Nghị bỗng lên tiếng :
- Chắc thầy cho rằng tôi biết mà không muốn nói. Thế, cũng đúng nhưng chỉ đúng một nửa. Lạy Chúa, ngày nào tôi biết hết, tôi sẽ không quên câu thầy hỏi hôm nay.
Nói xong, Nghị bước về phía cuối boong, tà áo chùng thâm phần phật tung bay trong gió biển. Thức nhìn theo, lòng thoáng một niềm lo âu. Ðã một năm rưỡi nay, chàng sống cạnh Nghị ở Pondichery, ra vào hàng ngày gặp mặt, thường chỉ chào nhau và nói dăm ba câu thăm hỏi. Chàng không hề biết gì về Nghị, nhưng ngược lại, Nghị biết gốc gác chàng. Nghị đã nói gì với Bá đa Lộc ? Câu Nghị hỏi, là hỏi cho Lộc hay cho Nghị ? Sao lại đợi đến lúc ở trong boong tầu chạy về Pháp thầy Nghị mới mớm lời dò xét ý định và chí hướng chàng ?
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #115 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:26:50 pm » |
|
Thức ngẫm lại những biến cố một năm vừa qua. Sáu tháng sau khi đến Pondichery, Bá đa Lộc không thuyết phục được Coutanceau, nản lòng đến độ viết thư về Macao, sẵn sàng giao lại Hoàng tử Cảnh cho Toàn Quyền Ypha Nho ở Goa. Việc này dẫn đến sự kiện là hơn một năm sau, vị này đã sẵn sàng gửi giúp Nguyễn Ánh 56 tầu chiến và lính tráng. Nhưng sau khi gửi thư đi ít lâu, Cossigny và d’Entrecasteau qua thay Souillac và Coutanceau. Lộc lại lấy lại hy vọng, năm lần bảy lượt lên gặp quan Toàn Quyền mới, hết sức vận động sự can thiệp quân sự giúp Nguyễn Ánh. Nhưng dù không hẳn là không đồng lòng, đại tá Cossigny vẫn do dự, chỉ cử một chiến hạm đến vịnh Xiêm La thăm dò và tìm cách bắt liên lạc với Ánh. Cuối cùng, Lộc cho rằng phải về Paris thì mới hòng được việc, vì đám quan chức ở đây dẫu cao cấp cũng chưa đủ thẩm quyền để tự quyết định gì theo ý mình. Chắc là Nghị cũng đồng lòng, nên tháng sau cả bọn đều lên tầu sang Pháp. Thức chép miệng, định bụng có một lúc nào sẽ hỏi lại Nghị câu Nghị hỏi chàng. Ngẫm nghĩ rồi biết là chẳng bao giờ Nghị đáp, chàng cười mình vẩn vơ, chân chưa bao giờ đạp hẳn xuống đất để sống trong thực tế. Niềm lo âu trong lòng Thức dần dần tan như những sợi mây vào bầu trời trên cao xanh ngắt. Nếu như Nghị có ác ý, Thức thầm nhủ, thì dễ gì mà chàng đang đứng trên boong tầu này và ngắm những sợi mây kia.
Mất ba tuần lễ, Trọng Thức mới tìm được Emmanuel Sieyès. Dẫu là gặp lần đầu, Thức có cảm tưởng gần gũi vì hình dạng Emmanuel giống hệt người anh song sinh là Charles-Antoine. Nghe chàng kể lại những phút cuối cùng trong đời Charles-Antoine ở Ða Phạn, Emmanuel lặng người đi, ngơ ngác, mắt như vô hồn thả vào khung cửa sổ nhìn ra Thánh đường Notre Dame. Emmanuel đứng dậy, bước ra đẩy cửa. Một đàn chim bồ câu ở đâu bay lên, cánh trắng chao nghiêng dưới ánh nắng vàng nhạt của buổi chớm xuân.
Hai người đi dọc đường St-Jacques về phía sông Seine. Bờ sông thấp thoáng những bông mimôsa vàng tươi đang độ đâm ra chào chúa Xuân của muôn loài tạo vật. Chỉ tay, Emmanuel buồn rầu nói :
- Anh tôi rất thích mimôsa. Chẳng hiểu có loại hoa này trên thiên đường cho anh không ?
Ngồi xuống ven bờ, Emmanuel nhặt dăm viên sỏi trắng ném xuống dòng sông. Một lát sau, Emmanuel hỏi :
- Chắc anh cũng đi tu như anh tôi ?
- Không, tôi không theo đạo.
Emmanuel ngạc nhiên, nhìn Thức, nói :
-Lạ nhỉ. Vậy mà anh ở Ða Phạn với Charles-Antoine và giáo hữu ?
Thức thuật lại chuyện trốn tránh lính Chúa Trịnh, nhưng không nhắc đến Mai và những chi tiết dính dáng. Emmanuel nói trống không :
- Cứ gần đám có quyền hành là thế nào cũng có chuyện, trừ phi anh chịu chúng chi phối. Chắc anh làm chính trị ?
Thức không rõ Emmanuel nói làm chính trị là làm gì. Emmanuel giải thích :
- Nghĩa là tổ chức và vận động mọi người cùng một cách nhìn những vấn đề chung có tính xã hội.
Thức nghe, lắc đầu :
- Ở xứ tôi gọi thế là làm giặc. Và thường như vậy là phải sắm binh khi vì thế nào quan quân nhà Vua nhà Chúa cũng đến đánh giết !
Emmanuel gật gù :
- Âu châu cách đây trăm năm cũng vậy. Nhưng nay thì có khác đi được đôi chút, nhưng vẫn phải đề phòng bọn cảnh vệ khủng bố.
Thức hỏi :
- Chẳng hạn viết sách như viết cuốn “ Công Ước Xã Luận ” của Rousseau có phải là làm chính trị không ?
- Có chứ. Nhưng chưa đến mức tổ chức. Chính quyền để Rousseau yên, nhưng đẩy cho ông ta bỏ xứ, tự lưu đầy, cuối đời phải đi chép tay những bản nhạc để kiếm ăn, rồi chết trong bệnh hoạn, đói nghèo ...
- Bên xứ tôi, sách có viết cũng chẳng thể in để phổ biến được. Thức thở dài, nói như than - ... mà dẫu có in, ngay những kẻ biết chữ cũng sẽ kéo bè để kết tội, bịt miệng người nghĩ khác, nói khác mình. Và thậm chí bọn có chữ nghĩa còn bóp cổ những người suy nghĩ độc lập cho đến đứt hơi mà chết ngạt chứ chẳng đợi cho chết trong bệnh hoạn và đói nghèo. Bọn đó, chúng có biết chữ là chỉ biết có mặt chữ, chẳng cần chi đến nghĩa của chữ, bởi xưa nay chúng chuyên sáo tụng những cái hữu danh vô thực.
Nhìn Thức, Emmanuel chợt hỏi :
- Ở xứ anh, có được nửa số dân đi làm giặc không ?
- Không !
- Thế họ khoảng bao nhiêu ?
- Hai trăm năm nay, đời nào họ cũng khoảng mười phần trăm. Họ dấy quân, sắm vũ khí, không chịu sưu thuế, chống lại triều đình.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #116 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:27:35 pm » |
|
Emmanuel lắc đầu :
- Thế chín mươi phần trăm còn lại là một đàn cừu dễ bảo ?
- Dễ bảo ư ? Vừa đúng, vừa sai. Ở trên cao, Vua Chúa thì huých tay đạp chân nhau. Nhưng từ Vua xuống đến quan thì đúng. Rồi giữa các quan, họ đối kỵ rình mò lẫn nhau để hất cẳêng nhau? Từ tỉnh, huyện xuống đến thôn làng, cũng dễ bảo! Nhưng trong mọi thôn làng, họ cũng lại so đo nhòm ngó, ai cũng cố chiếm cái miếng to trong đình làng. Người ta bảo “ một miếng giữa làng bằng một sàng ở chợ ”.
Thức chua chát cười, tiếp :
- Anh có biết không, ở nước tôi, những kẻ thứ hạng cao trong làng chia nhau từng miếng cái đầu một con gà ngày đình đám. Chúng tôi nhân phong tục này phát huy một nghệ thuật rất tinh xảo. Một cái đầu gà, chúng tôi có thể chặt thành ba mươi sáu miếng, từ miếng to đến miếng nhỏ. Miếng to nhất, dành cho tiên chỉ, thứ đến, là loại có đỗ đạt, rồi lần lượt lý trưởng, hương tuần ...
Ngẫm nghĩ, Emmanuel nói :
- Như vậy, dân tộc của anh là một đàn cừu có thứ bậc. Một tập đoàn nô lệ nhưng lại tôn ti trật tự ! Lặng lẽ nhìn Thức gật đầu, Emmanuel tiếp - Giá mà ngược lại, đàn cừu chỉ có mười phần trăm, còn lại làm giặc, nhưng không sắm khí giới, mà chỉ dùng lý lẽ thì xứ các anh sẽ khá hơn nhiều ...
Emmanuel bâng quơ :
- Anh có đọc “ Emile ” của Rousseau chưa ? Nếu chưa, tôi đọc một đoạn anh nghe nhé ?
- ...
- “ Thầy bảo : không được làm thế này - Ðứa trẻ hỏi : tại sao không được làm thế này ? - Bởi vì làm thế là xấu - Xấu, làm gì là xấu ? - Làm xấu là làm những gì người ta cấm không cho làm - Làm những gì cấm thì làm sao ? - Người ta sẽ hành phạt vì bất tuân - Tôi sẽ làm sao cho người ta không biết - Người ta sẽ rình mò - Tôi sẽ giấu - Người ta sẽ hạch hỏi - Tôi sẽ nói dối - Không được nói dối - Tại sao không được nói dối
- Vì thế là xấu, v.v... Ðó là vòng luẩn quẩn tránh không được ” .
Thức ngẫm nghĩ, rồi nói :
- Viết như thế, ở xứ tôi chính quyền nào cũng sẽ chu di tam tộc kẻ viết. Toàn là những vấn đề không ai có quyền đặt ra mà hỏi. Chẳng đứa trẻ nào dám nói ngược lại thày cả. Cái khuôn đời trước đặt lên đời sau, không cho cựa quậy, trói con người trong trăm thứ bổn phận, cuối cùng tất cả thành nô lệ.
Nhìn Thức, Emmanuel thủng thẳng :
- Cái ghê gớm nhất là sự nô lệ của mình với chính mình. Một thứ nô lệ nhưng cứ có ảo tưởng là chủ nhân ông. Tôi lại đọc Rousseau để anh nghe nữa :
“ Con người sinh ra vốn tự do, nhưng rồi sống trong kìm kẹp ở khắp nơi. Kẻ nghĩ mình là chủ tể của người khác cũng nô lệ không kém gì những người nô lệ cho họ. Làm sao sự chuyển hóa đó thành hình ? Tôi không biết. Nhưng cái gì đã khiến sự chuyển hóa có cơ sở lý lẽ của nó ? Tôi nghĩ rằng có thể giải quyết vấn đề này ”
Thức đứng lên, bước về phía nhà thờ, đầu mông lung. Emmanuel đi bên cạnh, miệng vui vẻ :
- Này anh bạn, cả nước Pháp sẽ gặp một cơn địa chấn vì những lời tôi vừa đọc đấy. Không chừng cơn địa chấn này lây qua cả Âu châu nữa. Nó đặt thành vấn đề cái trật tự của thời kỳ trung cổ trước bước tiến của tư duy hiện nay.
- ...
- Tôi sẽ mua tặng anh cuốn “ Phương pháp luận ” của Descartes. Anh có đọc chưa ?
Thức lắc đầu. Vỗ vai Thức, Emmanuel kéo vào một nhà bán sách ở Place St-Michel rồi chúi đầu lục lọi trên những kệ xếp đầy ắp sách. Thức nghĩ trong bụng, bao giờ mới có một nhà bán sách ở Thăng Long? Sách vở trong nước chép tay truyền nhau, đem ra gom qua góp lại chẳng có được bao nhiêu, lại là loại sách Tống nho đã mang những lớp bụi bặm của năm trăm năm về trước rồi. Chàng mủi lòng, để mặc Emmanuel loay hoay, buồn bã bước ra cửa. Emmanuel chạy theo, gọi :
- Anh bạn, chờ một tí. Tôi tìm ra sách rồi. Thêm được cả cuốn Tư Duy của Pascal. Giúi sách vào tay Thức, Emmanuel thành khẩn nói - ... đây có lẽ lả những món quà quí nhất nước Pháp chúng tôi dành cho bạn.
Sau khi sắp đặt nơi ăn chốn ở cho mọi người ở tu viện St-Victor, Nghị đốc thúc một số người trong đoàn đi học. Qua trung gian của tu viện, Nghị ghi danh cho Thức tham dự những buổi giảng triết học và thần học ở Sorbonne. Về phần Bạch, sau khi thụ lễ rửa tội, Bạch được cho đi học về Vật lý và Thiên văn. Tình cờ một hôm bắt gặp Thức đang cầm cuốn “ Phương pháp luận ” trong tay, Nghị giở sách, trầm ngâm một lát rồi bảo :
- Thầy đọc sách này nên kín đáo, đừng phô ra mà gặp khó khăn.
Hỏi lý do, Nghị không nói, dặn Thức là muốn dùng thời gian đi nghe giảng ở Sorbonne hay làm gì cũng được, chỉ nhớ là tối phải về tu viện, tiếp tục dạy Hoàng tử Cảnh chữ Hán.
Trong thời gian đó, cố Bá đa Lộc đã bắt liên lạc với Ðức Cha Vermont xưa kia ở Áo đã kèm dạy Marie-Antoinette, hôn thê của Ðức Vua. Lộc tranh thủ được sự ủng hộ của Giám Mục Dillon và quan Kiểm Sát Loménie trong triều đình Pháp. Dẫn Cảnh đi đây đi đó trong những buổi họp mặt của đám quí tộc, cuối cùng Lộc được Ðức Vua Louis XVI nhận cho tiếp kiến vào đầu tháng 5 năm 1787, mặc dầu lúc ấy tình hình chính trị nước Pháp đang sôi nổi vì những buổi nghị họp của Ðại Hội Thân Hào Quí Tộc.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #117 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:28:06 pm » |
|
Sau những giờ nghe giảng ở Sorbonne, Thức thường ghé thăm Emmanuel, nhiều khi đi với nhau cả ngày, gặp gỡ chuyện trò với rất đông người. Nước Pháp đang sống những giờ phút báo hiệu một cơn giông bão mà ngọn gió đầu thổi lên từ những tư tưởng reo mầm trong thời kỳ Phục Hưng. Hàng tuần, một số người trí thức tiến bộ gặp nhau ở chủng viện Jacobin nằm góc đường St-Honoré. Họ gọi nhau là công dân. Công dân Emmanuel Sieyès, công dân Saint-Just, công dân Dumas ...Họ tập hợp lập “ Hội bằng hữu cho Hiến Pháp ”. Hội sau này nhận cả “ công dân ” Trọng Thức. Thức rất ngạc nhiên, bảo mình đâu phải người Pháp. Họ cười. Công dân trừu tượng hơn Thức tưởng : công dân là người sống trong một xã hội họ đồng thuận, không phải đơn thuần chỉ là một cá nhân có gốc gác chủng tộc. Vì thế, công dân Thức có quyền cũng họp cũng bàn về cái xã hội anh đang sống trong đó. Thời gian đó, họ luận về “ Quyền con người và Quyền công dân” mà theo Sieyès phải là những quyền hạn cơ bản “ ... cho bất cứ quốc gia nào, ở bất cứ thời điểm nào ”.
Ðối với những hội viên của câu lạc bộ Jacobin, người ta sinh ra vốn tự do và bình đẳng, và từ đó có những quyền tự nhiên không một quyền lực nàotước đoạt được. Ðây là điều ai cũng coi như lẽ hiển nhiên không cần phải bàn cãi, và là điều căn bản trong Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Mỹ quốc vào năm 1776. Nhưng Emmanuel Sieyès không chịu ngừng ở đấy, cho rằng bản Tuyên Ngôn trên vẫn giữ hình ảnh những quyền lực của chế độ cũ, không thể phù hợp với “ một nhân dân có chủ quyền tối thượng toàn diện ”. Trong điều kiện này, cần “ phải đổi hoàn toàn bản chất và tinh thần của một bản tuyên ngôn mới. Bản tuyên ngôn này không là một sự nhượng bộ, một trao đổi, một thoả hiệp hay một khế ước giữa một quyền lực với một quyền lực khác ... Chỉ có một quyền lực, là quyền lực của của nhân dân mà thôi ”.
Cách nhìn của Sieyès khiến nhiều người ngỡ ngàng. Ông nhấn mạnh sự phân biệt quyền tự nhiên của cá nhân và quyền công dân, con người tham gia tích cực vào xã hội. Vì vậy, quyền tự nhiên dẫu căn bản, nhưng không thể đồng hóa với quyền xã hội của công dân. Ở đây, xã hội dựa trên Hiến chương, một công ước của tập thể cá nhân tạo ra xã hội. Theo Sieyès, Hiến chương này thể hiện dân ý, nghĩa là cái ý chí phổ quát và toàn diện tạo ra xã hội. Tự thân nó chính là chủ quyền, một quyền tối thượng không tước đoạt, phân chia hay hủy diệt được. Dân ý, thể hiện qua Hiến chương, giữ vai trò cơ bản trong phương thức Lập pháp, tách bạch phân quyền với Tư pháp và Hành pháp.
Nghe Sieyès trình bày ý kiến của mình xong, một người mặt mũi xương xẩu, để ria mép, nhẹ nhàng hỏi sau khi tự giới thiệu tên mình là Condorcet :
- Chủ quyền tối thượng đó nếu là chủ quyền toàn dân, thì làm cách nào biết được là dân ý nếu không dùng thể thức trưng cầu. Như vậy, rất là ôm đồm và phức tạp, làm sao điều hành xã hội được ? Sieyès ngẫm nghĩ rồi trả lời:
- Nếu chủ quyền là chủ quyền quốc gia, thì dân bầu ra đại biểu, đại biểu họp nhau lại soạn thảo Hiến chương và quyết định Luật pháp.
Người để ria mép lại lên tiếng :
- Theo Rousseau, chủ quyền và dân ý là một. Dân ý không thể chuyển nhượng ; vì thế chủ quyền chỉ có thể tự nó đại diện cho nó. Hiến chương và Luật pháp là tuyên chỉ của dân ý cho nên không thể dùng thể thức đại biểu nghị viện để xác định ra... Và chỉ có một chủ quyền là chủ quyền của toàn dân. Có toàn dân, rồi mới có quốc gia. Quốc gia chỉ thành một thực tế như là sự thể hiện của dân ý.
Cuộc tranh luận về dân chủ có thể qua hệ thống đại biểu hay bắt buộc phải là dân chủ trực tiếp diễn ra sôi nổi. Nó kéo dài cả tháng. Thức ngạc nhiên thấy mỗi diễn giả đều có thời gian nói hết điều mình suy nghĩ. Những điều này được đào sâu, phê bình, phán xét dưới mọi góc độ. Kẻ chê, người khen, kẻ chống, người theo, đều không vì thế mà mất đoàn kết, vẫn luôn luôn lịch sự, thẳng thắn chỉ trích, vui lòng nhận thiếu xót, và cùng nhau đúc kết những tư tưởng, quan điểm làm của chung. Họ không tị hiềm đố kỵ - Thức thầm nhủ trong bụng - và không hẹp hòi hợm hĩnh như những kẻ sĩ hám danh lợi Thức đã gặp suốt từ Ðàng Trong ra Ðàng Ngoài.
Một tối, khi ra về với Sieyès, Thức nghe tiếng gọi sau lưng. Condorcet vui vẻ mời hai người đi ăn tối. Thức lại càng ngạc nhiên khi biết Condorcet là hầu tước, người thuộc đẳng cấp quí tộc tức là đẳng cấp đang thống trị ở nước Pháp. Condorcet tinh nghịch hỏi Sieyès : “ ... ông bạn giấu chiếc áo chùng tu hành đâu rồi ? ”. Emmanuel hóm hỉnh trả lời : “ ... tôi gửi lại thiên đường, đợi sau này mới đến lấy ”. Thì ra chính Sieyès là một tu sĩ cấp cao ở tu viện Charte mà chàng không biết. Ông thuộc đẳng cấp tăng lữ, tức cũng là đẳng cấp đang thống trị.
Trong gió đêm thốc cái lạnh bên bờ sông Seine, Thức mủi lòng nhớ đến đất nước mình, nước mắt ứa ra chảy ròng ròng. Chàng kín đáo đưa tay quệt, vẫy tay chào bạn, rồi tách ra men theo đường St-Jacques quay về tu viện St-Victor.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #118 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:28:44 pm » |
|
Sau khi triều kiến Vua Louis XVI, Bá đa Lộc tìm cách làm thân với đám sĩ quan, viên chức và một số quí tộc kề cận Vua. Hoàng tử Cảnh mặc trang phục kiểu Âu, trở thành một nhân vật thu hút những tò mò, được hoàng hậu Marie-Antoinette vời đến làm vui cho đám khách khứa ở điện Versailles. Khách đến từ mọi nơi, nhiều nhất là từ Áo. Cả đàn ông lẫn đàn bà, họ đội tóc giả, má phấn môi son, xông nước hoa ngào ngạt. Họ thường ăn tối rất muộn, thức khuya uống rượu, rồi nhảy múa theo tiếng nhạc hòa âm của dàn nhạc gồm ba chục nghệ nhân. Trưa trưa, họ ngồi tán chuyện gẫu, trầm trồ khen lẫn nhau về những món trang sức hiếm hoi, những kiểu mũ, hoặc những kiểu áo quần mới. Thỉnh thoảng lắm họ mới bàn đến chính sự, nhưng chỉ xoay quanh chuyện Hội Ðồng Thân Hào Quí Tộc vừa họp đã nhất định không chịu nộp thêm thuế cho Vua đang ở trong một tình trạng tài chính thâm thụt. Họ trách đẳng cấp tăng lữ, và phàn nàn rằng chính những thầy tu là những kẻ trách nhiệm làm mất ổn định của Vương Quốc.
Hồ văn Nghị thường tránh mặt mọi người ở điện Versailles, chỉ cặm cụi làm việc với Bá đa Lộc. Phần Trọng Thức, Bạch và André Tân, họ phải tháp tùng Hoàng tử Cảnh. Riêng Thức và Bạch, Bá đa Lộc ép họ ăn mặc kiểu triều phục, đội mũ cánh chuồn, mặc áo thắt đai, đi ủng, để “... gây thích thú cho quan khách ” như Lộc vừa cười vừa nói. Thức phải nghe, nhưng có cảm tưởng mình chẳng khác gì một con khỉ làm trò mua vui cho thiên hạ.
Buổi đầu thu, lá đã loáng thoáng chớm vàng trên những ngọn cây mọc ven rừng ở quanh điện. Từ dãy phòng dành riêng cho đám khách đến “ từ Viễn Ðông ” nhìn xuống là vườn tược được cắt tỉa gọn ghẽ theo những đồ hình đối xứng rất đẹp mắt. Phía sau vườn, một ao nước hình tròn có vòi phun nước lên cao, chung quanh ao là những bức tượng đàn bà khỏa thân to bằng người thường, nằm ngửa ra trong tư thế mời đón. Mỗi lần dẫn Hoàng tử Cảnh đi qua, Lộc lại trỏ tay vào những bức tượng, tay khẽ béo tai, miệng cười khềnh khệch.
Vào giữa trưa, Bá đa Lộc và Nghị hộc tốc lên chiếc xe bốn ngựa kéo chạy vào điện Tuileries trong Paris, chỉ dặn Thức cứ lưu lại với Hoàng tử Cảnh ở Versailles đợi. Cảnh đứng vẫy tay, mếu máo nhìn theo. Hoàng hậu Marie-Antoinette cho gọi, Thức lại cùng Bạch đưa Hoàng tử lên. Marie-Antoinette xoa đầu Cảnh, vừa cười vừa nói :
- Ta nghe nói cậu bé sắp phải về Vương quốc của cậu rồi. Bây giờ, cậu muốn gì, ta chiều lòng cậu.
Cảnh ngước mắt, bập bẹ :
- Kẹo, cho tôi kẹo !
Thị tỳ bưng ra một hộp vuông đầy những viên kẹo bọc đường, tròn nhỏ như đầu ngón tay cái, đủ màu sắc, thơm mùi bạc hà. Cảnh nhón một viên, mắt sáng lên, bỏ vào miệng mút. Marie-Antoinette cười :
- Cứ ăn nữa đi, của cậu cả đấy ...
Cảnh cám ơn, tay lại thọc vào hộp kẹo, bỏ lên miệng. Bỗng Cảnh ngã ngửa ra, ú ớ, rồi khò khè như tắt thở. Tham ăn quá, Cảnh nghẹn. Bạch cuống lên, chạy lại lấy tay vỗ vào lưng Cảnh. Nghe Marie-Antoinette kêu, bọn thị tỳ đùng đùng xô nhau kéo vào. “ ... Lấy cho chút nước, nước đâu cho nó uống ?”. Không có nước, họ đổ rượu chát. Một người đứng tuổi, cao lớn, nắm lấy chân Cảnh xách lên, đầu quay ngược xuống đất. Cảnh ọe ra, thoát chết ngạt. Marie-Antoinette phe phẩy quạt, miệng nói “ Lạy Chúa tôi, may quá ...”. Tối hôm ấy, Cảnh sợ không dám ăn gì nữa, đòi đi ngủ sớm. Thức ra đứng ở hành lang, nhìn ánh trăng trong xanh vừa vặn treo lơ lửng ngang đầu. Thế là đã bảy tháng chàng đặt chân đến Paris. Bỏ những buổi giảng nhàm chán ở Sorbonne, về sau chàng thường cả ngày ở Câu lạc bộ Jacobin, thảo luận với những hội viên kéo đến từ khắp nơi. Gần gũi với Marat, nhà báo in tờ “ Bạn Dân ”, chàng ban đầu ngạc nhiên, rồi sau cảm thấy sức mạnh của phương tiện truyền thông này. Báo ra hàng tuần, vừa thông tin, cũng lại vừa đem những vần đề lớn ra viết một cách dễ hiểu để quảng bá những tư tưởng mới. Marat bảo : “ ... chúng tôi là chất xúc tác, những con người thật sự thay đổi xã hội Pháp là những kẻ không có bánh mì ! ” .
Thời đó, nạn đói kém khá phổ biến không những ở nông thôn mà ngay trong thành thị với nạn thất nghiệp tràn lan. Nông dân đóng từ 40% đến 60% địa tô cho chủ đất, từ 10% đến 30% thuế thập phân cho nhà thờ, và thêm một khoản thuế cho nhà nước đôi khi cũng xấp xỉ khoản địa tô. Tóm lại, họ trắng tay, chỉ đủ ăn cho nửa năm ! Ðó là đẳng cấp bị trị - Sieyès gọi là “ đẳng cấp thứ ba ” - chiếm tuyệt đại đa số. Tầng lớp thống trị gồm đẳng cấp quí tộc và đẳng cấp tăng lữ. Họ vừa từ chối chính sách thuế mới có phần phụ thu lãnh thổ. Marat tiên đoán là Vua Louis XVI phải tranh thủ “đẳng cấp thứ ba” để tìm cách ép buộc đám quí tộc và tăng lữ. Sieyès ngờ vực, bảo : “ Ðẳng cấp thứ ba là cả một dân tộc bị xiềng xích và áp bức. Làm sao họ có thể thỏa hiệp với kẻ đi xiềng xích họ được ? ”. Saint-Just trầm ngâm, giọng cương quyết : “ Phải sửa soạn. Ðến lúc đó, ta sẵn sàng cướp lấy thời cơ xây dựng một xã hội mới, một thể chế mới, một quyền lực mới ... ”. Những ngày sau đó, vần đề được thảo luận xoay quanh hai sự việc : tu chính bản “ Tuyên ngôn Quyền con người và Quyền công dân ” và hình thành một quan điểm chung về Hiến chương. Không biết từ đâu đến, bìa rừng cạnh Versailles vang lên tiếng từng đàn cú rúc nghe nổi gai ốc. Tiếng cú ngưng lại, một lúc sau lại nổi lên, kéo dài ra, đập vỡ cái yên bình sang trọng của nơi quyền quí. Thức bỗng nghe văng vẳng tiếng thút thít. Chàng lần đến, đẩy cửa phòng bước vào. Hoàng tử Cảnh thức giấc, lao xuống giường rồi chúi vào một góc, khóc một mình. Thấy Thức vào, Cảnh nức nở hỏi :
- Cố ở đâu ?
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
selene0802
Moderator

Bài viết: 2783
...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...
|
 |
« Trả lời #119 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:29:56 pm » |
|
Cảm thấy xót thương trong lòng, Thức từ tốn :
- Cố vào Paris ! Thôi đi ngủ đi, khuya rồi ...
Thức đến, hai tay bế Hoàng tử Cảnh lên, tiếp :
- Mai Cố sẽ về, ngủ đi.
Vừa lúc đó, Tân và Bạch nghe lịch kịch cũng bước vào. Bạch ở lại phòng, dỗ Cảnh, và ngủ lại luôn tại đó. Thức quay ra hàng hiên, tay cầm ngọn nến đang cháy, trở về phòng mình. Lật đật theo sau, Tân gọi Thức rồi rảo bước đi cùng.
- Lạy Chúa, chắc sắp về nước rồi, ông Thức ạ ! Cố Bá đa Lộc vui vẻ lắm, thế nào Ðức Vua ở Pháp đây cũng sẽ ủng hộ Vương công ta ...
Thức lẳng lặng mỉm cười không đáp. Tân lại nói :
- ... và thế là chẳng có khó gì đuổi Tây Sơn lấy lại cơ đồ họ Nguyễn.
Nghĩ đến mảnh đất từ Thuận Hóa vào đến Gia Ðịnh - cái cơ đồ ấy nói ra miệng cứ như là của riêng một họ tộc - Thức bực mình, định hỏi Tân là lấy lại cơ đồ để cho ai thì tiếng cú lại rúc lên, lần này nghe như một bản đồng ca lạc điệu.
Bá đa Lộc cho xe lên đón Hoàng tử Cảnh về Paris hai ngày sau, gấp làm một số việc theo lời yêu cầu của quan chức ở điện Tuileries, nhất là việc ước tính chi phí cho cuộc viễn chinh của Pháp ở Cochinchine. Vừa vào sân tu viện St-Victor, Nghị xuống đón, kéo Thức ra một chỗ rồi nói nhỏ :
- Việc xưa thầy có hỏi, nay mười phần tôi biết được quá tám, để thuận tiện sẽ nói lại ...
Ðến trưa, Thức rời tu viện đi đến nơi hội họp của Câu lạc bộ Jacobin. Không khí ở đấy hôm nay nghiêm trang hơn bình thường, ai nấy đều như chờ đợi một sự việc quan trọng. Nhìn quanh, những nhân vật chủ chốt của hội đều có mặt, kể cả những người vốn ít kề cà như Robespierre, Danton ... Ngoài ra, còn có cả một số những nhân sĩ có tiếng nhưng là người ngoài hội được mời tham dự. Trong đám đó, phải kể Lafayette, đi kèm có Thomas Jefferson, hiện làm lãnh sự Mỹ ở Paris, là kẻ đã soạn thảo Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Mỹ quốc mười năm về trước.
Ðang đứng một góc, Condorcet đến sau lưng Thức, tay vỗ vai, miệng tươi cười :
- Chào bạn, bạn đến nghe bản Tuyên Ngôn nhưng chắc thân với Sieyès, bạn đã rõ nội dung rồi ...
Thức bắt tay Condorcet, lắc đầu. Mắt hướng lên bục, Condorcet nhếch mép, nói vào tai Thức :
- Ðây là kết tinh của tư tưởng Khai Sáng, và sẽ đánh thức toàn cầu trong ba thế kỷ tới ...
Ðúng lúc ấy, Sieyès bước lên bục, cười vẫy tay chào Thức, rồi lẳng lặng đeo kính, mở chiếc cặp bằng da. Người đứng ra giới thiệu là Marat. Ông ta người tầm cỡ, tóc đen nháy, mắt trông như lúc nào cũng mơ mộng, nhưng giọng nói chậm rãi chắc nịch :
-Bản dự thảo của “ Tuyên ngôn Quyền con người và Quyền công dân ” là công trình tổng hợp những buổi hội thảo tại câu lạc bộ từ một năm nay. Nó dựa trên nguyên lý sau : con người vốn tự do; con người dấn thân vào xã hội không mất tự do tư riêng, lại còn tự do hơn cả sự tự do ở trạng thể tư riêng. Sự tự do đó là kết quả của tiến trình mang quyền tự nhiên của mỗi con người ra để mọi người trong xã hội bảo đảm thành những quyền “ xã hội ”. Từ sự chấp nhận tha nhân có cùng một số quyền đó như bản thân mình, mỗi người công dân đã đồng thời tự giác những nghĩa vụ của mình đối với xã hội.
Ðến lượt mình, Sieyès nhìn cử tọa, rồi đọc bằng một giọng trang nghiêm:
“ Con người sinh ra và có quyền sống tự do, cũng như bình đẳng. Mọi phân biệt xã hội chỉ có thể dựa trên cơ sở ích lợi chung cho xã hội.
- Mục đích của mọi hội đoàn chính trị là gìn giữ những quyền tự nhiên không hủy diệt được của con người. Quyền đó là quyền tự do, tư hữu, an ninh và quyền chống trả áp bức.
...
- Tự do có nghĩa là có thể làm tất cả những gì không phương hại đến người khác : như vậy, thể hiện quyền tự nhiên của mỗi người chỉ có giới hạn ở chỗ nó bảo đảm cho mọi người trong xã hội cùng thụ hưởng quyền tự nhiên đó. Giới hạn đó được xác định bằng luật pháp.
...
- Luật pháp là biểu hiện của dân ý ... và áp dụng cho mọi người như nhau.
...
- Ai cũng phải được coi là trắng tội khi chưa đem xét xử và bị kết án.
...
- Tự do thông tin tư tưởng là một quyền quí báu nhất của con người.
...
- Mọi xã hội trong đó không có sự bảo đảm về quyền con người, không xác định sự phân quyền, là xã hội không có hiến pháp.
... ”
Sieyès đọc xong, bỏ kính xuống. Trong phòng, sự im lặng bao trùm lấy gần trăm con người, nét mặt khẩn trọng, nghiêm trang. Từ góc phòng, một người râu ria xồm xoàm bật dậy, miệng hô lớn “ nước Pháp muôn năm ! ”. Mọi người vỗ tay, kéo ghế, đứng lên. Có kẻ chạy lại ôm hôn Sieyès, nước mắt đầm đìa. Một người đề nghị kéo chuông nhà thờ, nhưng Robespierre cản lại. Ông lạnh lùng bảo : “ ... không thể báo cho nhân loại một thời đại mới bằng những tiếng chuông cũ đã hoen rỉ !”.
Tối hôm đó, từng đám kéo nhau lên xe đi về tư dinh của hầu tước Condorcet ở vùng Bourg- la Reine, để chào mừng ngày lịch sử vừa mở ra cho xã hội Pháp một kỷ nguyên mới. Lafayette, người anh hùng đã tham dự chiến tranh đòi độc lập của Mỹ, rủ Jefferson đi theo. Nâng cốc rượu, Jefferson trịnh trọng :
- ... Xin thêm vào bản Tuyên Ngôn là xã hội có nghĩa khi nó nhằm mục đích mưu cầu hạnh phúc cho mọi con người đã đồng thuận cùng nhau lập ra xã hội.
|
|
|
|
|
Logged
|
...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
|
|
|
|