Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:12:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gió Lửa  (Đọc 87404 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #120 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:30:37 pm »

Sieyès trầm ngâm, nhìn Saint-Just, rồi nói :

- Tôi vẫn băn khoăn, sợ rằng đôi khi quyền tự do tư riêng có thể mâu thuẫn không khoan nhượng với quyền tự do đặt trên bình diện một tập thể như quốc gia chẳng hạn. Trong trường hợp đó, ai giải quyết ? Giải quyết làm sao ?

Chen vào, Marat vừa vỗ vai Sieyès, vừa lạc quan :

- Quyền tự do khi đã thành quyền xã hội, thì tất nó là dân ý. Ðã thế, cái mâu thuẫn bạn vừa đề cập không thể có được về mặt thuần lô-gích.

Condorcet nhìn ngờ vực, hỏi :

- Làm thế nào biết là dân ý ? Bản Tuyên Ngôn dựa vào sự hiển nhiên và tính phổ quát, nên nếu mang nó ra trưng cầu ý kiến trực tiếp, có thể nó được nhất trí thông qua. Nhưng điều hành bộ máy xã hội không thể ngưng ở những nguyên tắc tổng quát. Khi lập hiến, ta phải đào sâu chi tiết. Khi lập pháp, cũng vậy. Với lập hiến - lập pháp, vấn đề kỹ thuật còn lại là làm sao có được một thể chế để xác định dân ý...

Cuộc thảo luận tiếp tục, càng lúc càng sôi nổi. Thức có cảm tưởng là cái nhìn của hội viên Câu lạc bộ Jacobin tương đối cực đoan, đặt xã hội nặng cân hơn là cái tổng số trọng lượng của mọi cá nhân cùng nhau tạo ra xã hội. Câu nói của Jefferson bỗng lại vang lên trong tâm trí Thức. Chàng hồi tưởng đến Dương Quang. Phải chi Quang có mặt hôm nay ! Vết sẹo đâm xuống chân mày bỗng nhiên giựt lên, Thức thoáng nghe tiếng rì rầm : “ Ta có ở đây chứ, chú em không biết à ? Ta có, vì là chú em ở đây đấy ... Hát đi, này con chim cánh đen, mỏ vàng mày nhọn. Cựa vàng mày sắc. Cái lồng nhốt mày làm bằng nan mục nát. Cứ phá cho tan, rồi bay ra, bay xa”.

Ngửng mặt lên nhìn những ánh sao lóng lánh ở chân trời tím thẫm, Thức bồi hồi. Chim muốn bay ư ? Phải biết cách đập cánh. Và đừng sợ khoảng không. Hãy lao mình lên, bằng tình yêu công lý và lòng can đảm. Ðó là điều kiện cần. Nhưng để đủ, phải đắp cánh bằng trí tuệ. Âu Châu đã xây dựng một nền văn hóa nhân văn cách đây hai thế kỷ. Một trăm năm nay, văn hóa đó thăng hoa bằng triết học duy lý. Và sau đó, tư tưởng thời Khai Sáng đã thực sự mở ra một kỷ nguyên mới. Như vậy, chim đã đủ khả năng bay chưa ? Những cái nan tre đan lồng chim đang từng cái một mục ra, xiêu vẹo rồi gẫy đổ trước đôi cánh của loài chim tự do đập lên tìm hạnh phúc trong một xã hội tôn trọng công bình và nhân phẩm.

Thức thấy thân mình bốc lên không trung, bay về hướng một vì sao sáng nhất ở góc trời Ðông.

Sáng hôm sau, Thức rời Bourg-la Reine quay về Paris. Vừa bước chân vào tu viện, Nghị gọi giật giọng, mặt hầm hầm :

- Thầy vào đây ! Vào ngay !

Trong phòng làm việc dành cho Bá đa Lộc, Tân và Bạch đã ngồi sẵn đấy, trông vẻ không vui. Lộc vừa nổi một trận lôi đình, mắng mỏ mọi người, rồi lại tất tưởi lên xe ngựa chạy vào điện Bourbons, giao cho Nghị khu sử những việc còn lại. Không mời Thức ngồi, Nghị quát :

- Ðêm qua thầy ở đâu ? Ðã dặn là đi đâu thì đi, cứ tối thì phải về tu viện rồi! Thầy ở đâu ?

- ...

- Thầy ở đâu, tôi không biết nhưng tôi biết thầy giao thiệp với ai, đi lại với bọn vô thần, lăng nhăng lít nhít

...

Làm như chợt nhìn thấy Tân và Bạch, Nghị dịu giọng, rồi xua tay mời họ ra. Sau đó, Nghị ghé sát vào tai
Thức, thì thào :

- Tại sao người Pháp cứ một mực phù trợ cho Nguyễn Ánh là nằm trong này ! Ðây, thầy xem ...

Thức mở ra. Ðó là một tờ trình của Bá đa Lộc, đề tựa là “ Ghi nhớ về ủng hộ việc thường trú ở
Cochinchine”. Thức chăm chú đọc :

“...Cán cân chính trị ở Ấn độ có vẻ đã nghiêng hẳn về phía Anh quốc, có thể coi như rất khó mà kéo về thế quân bình. Cho nên, có lẽ thường trú đóng ở Cochinchine sẽ là, trong số các đề án, một đề án chắc chắn và hữu hiện.

...

1- Ðó là cách phá hại để làm yếu đi thương mại của Anh quốc. Ở thời bình, chúng ta làm giảm lợi nhuận người Anh làm được qua thương mại với Trung Hoa, bởi vì ở Cochinchine, ta có thuận lợi thông thương với Trung Hoa nhưng chi trả tốn phí rẻ hơn.

2- Ở thời chiến, từ Cochinchine ta có khả năng dễ dàng cấm thương vận của các quốc gia Âu châu thù nghịch với ta; bởi vì đóng giữ cửa Vịnh, hay chắc hơn nữa giữ cửa khẩu tiếp liên với Quảng Ðông, chúng ta có thể ngăn cản xuất cũng như nhập của bất cứ ai.

...

6- Chúng ta ngăn chặn dễ dàng dự án của Anh Quốc là phát triển về phía Ðông.

... ” .
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #121 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:31:20 pm »

Trả lại tờ trình, Thức xoa tay, nói nhỏ trong miệng điều gì nghe không rõ. Nghị trầm ngâm, đến bên cửa sổ, khẽ hé mành nhìn ra ngoài. Quay trở lại, Nghị nhìn Thức, trầm trọng nói :

- Nhưng đây, đây mới là điều tôi không ngờ tới ...

Nghị chìa tay đưa cho Thức một văn bản viết tay. Thức ngần ngại đỡ lấy, nhìn Nghị dò hỏi.

- Thầy cứ đọc đi. Ðây là dự thảo tôi mới chép lại. Rồi thầy cho tôi biết ý thầy ...

Bản văn mang tên “ Ðề ước Liên Minh ... ” gồm mười điều, trong đó Vua nước Pháp sẽ gửi qua bốn tầu chiến, một nghìn hai trăm lính bộ, hai trăm pháo binh và hai trăm năm mươi lính Phi Châu được trang bị đầy đủ. Ngược lại Vua Cochinchine sẽ nhượng hẳn chủ quyền của cảng Hội An và Côn Ðảo cho nước Pháp. Khi nước Pháp có chiến tranh với bất cứ nước nào, Cochinchine phải giúp lại nước Pháp lính bộ, lính thủy, tầu chiến ,vv... Ngoài ra, nước Pháp độc quyền thương mại ở mọi nơi trên lãnh thổ, không phải trả bất cứ lệ phí nào, và có quyền cấm tất cả tầu ngoại quốc - tầu buôn cũng như tầu chiến - vào lãnh thổ Cochinchine trừ phi được nước Pháp cấp thông hành.

Ngửng lên nhìn Nghị, Thức thở dài :

- Nhưng chắc gì Nguyễn Ánh lại chấp nhận Ðề ước này ?

Nghị nói, tay vân vê tràng hạt, mắt nhìn xuống đất :

- Ánh đã nhận nhượng chủ quyền Hội An và Côn Ðảo cho Pháp. Tôi có hỏi André Tân. Chính Tân đã dịch tờ
ủy nhiệm này của Nguyễn Ánh cho cố Lộc và khẳng định là trong đó có ghi rõ những điều này.

- Ngoài độc quyền thương mại, nước Pháp lại còn có thể cấm mọi tầu buôn và tầu chiến nước ngoài đến nước ta thì vấn đề mất chủ quyền rộng hơn là nhượng hẳn Hội An và Côn Ðảo ...

Nghị thì thào :

- Ánh chỉ nhận độc quyền thương mại của nước Pháp trên lãnh thổ, không nói đến chuyện bắt tầu bè phải có thông hành của Pháp mới được nhập cảnh.

Im lặng một lúc lâu, Nghị lo âu, hỏi :

- Thầy nghĩ sao ? Phải làm gì ?

Thức trấn an Nghị, nói rằng nước Pháp đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi quyết liệt. Ngoài ra, nền quân chủ đang khủng khoảng tài chính, nên dẫu có ký kết đề ước gì đi nữa thì chắc là cũng vô hiệu vì không thi hành được. Nghe Thức nói, Nghị cứ lắc đầu thở dài sườn sượt. Một lát, Thức hỏi :

- Ngoài vấn đề chủ quyền, Thầy còn lo gì ?

Làm dấu thánh giá, Nghị rầu rầu :

- Lạy Chúa, đừng để cho giáo hữu mắc vào cái tiếng là cấu kết với ngoại nhân mang nước ta đi bán rẻ !
Chỉ việc này xảy ra, tất sẽ hại đến danh Chúa cả sáng không biết đến bao nhiêu đời sau.

Vừa lúc đó, có tiếng xe ngựa lọc cọc lăn trên sân gạch. Nghị lại vén mành cửa sổ. Trong sân, Bá đa Lộc vừa xuống xe, nét mặt rạng rỡ, bảo phu đợi để đi ra điện Versailles. Nghị khẽ đẩy Thức ra ngoài, hẹn sẽ cho Thức biết diễn biến, và dặn “... thầy nghĩ hộ, làm sao để chuyện ký kết Ðề ước đừng xẩy ra ”.

Thức lánh vào phòng bên khi Lộc cất tiếng gọi Nghị. Từ tầng trên, Hoàng tử Cảnh chạy xuống thang, miệng reo ầm ĩ. Bá đa Lộc bồng Cảnh lên, âu yếm hôn vào má, rên rỉ “ Quốc Vương bé nhỏ của ta ! Quốc Vương bé nhỏ của ta ! ”. Mắt ánh lên một thứ lửa đang chuyển sang màu đỏ của những ly rượu lễ, Lộc ôm Cảnh chui vào xe, thuận tay dập cửa mạnh đến nỗi con ngựa kéo cất vó nhảy lồng lên.

Nghe Thức trình bày xong, mọi người im lặng. Marat nhồi thuốc vào tẩu, châm lửa, nhả một bụm khói vào khoảng không, đưa mắt nhìn.

- Với tình trạng hiện tại, nước Pháp chẳng có khả năng can thiệp, đừng nói là đi tìm thuộc địa như Anh hay Ypha Nho. Sieyès quay sang Thức, giọng chắc như đóng đinh - ... Vậy bạn chớ lo, ký kết gì thì ký, không thể thực hiện gì đâu.

Người đàn bà trạc ba mươi, phụ tá Marat làm tờ báo “ Bạn Dân ”, chợt lên tiếng :

- Chúng ta tranh đấu cho chủ quyền, và chủ quyền đó chính là dân ý. Dân là công dân, cùng một lãnh thổ có biên giới nhất định. Cho nên một nước đến xâm chiếm nước khác, có nghĩa là tước đoạt chủ quyền của nước ấy ! Công dân Pháp ở kỷ nguyên mới này nhất định không phải là những kẻ đi ăn cướp. Chúng ta phải giúp Trọng Thức, tìm cách ngăn chặn sự ký kết này ! Chẳng phải là vì nó có hiệu lực hay không có, mà là vì bản ký kết “ Ðề ước ” là điều sỉ nhục trí tuệ và lương tâm, làm chứng cho sự mâu thuẫn nhục nhã giữa lòng tham và lý tưởng.

Saint-Just xen vào, giọng khôi hài để làm dịu sự căng thẳng :

- Như các bạn biết, công dân Madeleine nói ba điều thì tôi phản đối mất hai, nhưng khi bà ấy chỉ nói một điều thì tôi đành đồng ý.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #122 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:32:01 pm »

Thức quay sang nhìn Madeleine. Chàng đã gặp, nhưng thật sự chưa bao giờ để ý đến người đàn bà tóc óng ánh vàng, mảnh khảnh, mũi cao, môi mỏng, cằm vuông, mắt ánh lên một thứ nghị lực gang thép. Madeleine mỉm cười gật đầu đáp lại cái nhìn hàm ơn của Thức, rồi nói :

- Tôi đề nghị là chúng ta báo động trên báo “ Bạn Dân ”, đồng thời làm áp lực qua những công dân trong đẳng cấp quí tộc, buộc Louis XVI phải ngừng ngay chính sách thuộc địa.

Sieyès vun vào :

- ... và nhờ tăng lữ tiến bộ can thiệp với giáo hội đừng ủng hộ Bá đa Lộc.

Phà khói thuốc, Marat nhịp tẩu vào lòng bàn tay, chậm rãi :

- Bắt đầu, phải có một yếu tố xì-căng-đan nào gây lên tai tiếng, rồi mới vận động được dư luận. Nhưng làm gì thì làm, ta phải tránh được sự khủng bố của bọn cảnh sát.

Tuần sau, Thức mới gặp lại Nghị. Nghị giục “...gấp lắm rồi ! Bên điện Tuileries, quan chức đã đồng ý. Nay chỉ đợi chữ ký của Louis XVI.” Ngồi thần người ra một chập, Nghị cười khan một tiếng, rồi nhắc đi nhắc lại
“... Cái xì-căng-đan ấy, làm gì đây? Làm gì ? ”. Ðến đêm, Nghị gõ cửa phòng Thức, lẻn vào thì thầm. Nhìn theo Nghị co ro xuống những bực thang bằng đá trong gió lạnh vào buổi chớm đông, Thức hoang mang rồi chặc lưỡi, khép nhẹ cửa, cả đêm trằn trọc.

Madeleine giúp Thức sắp đặt mọi chuyện. Nàng lo cho Thức một chỗ trú ngụ gần chủng viện Jacobin, nằm ở góc phố St-Roch và Moineaux. Nếu có chuyện gì bất trắc, Madeleine dự tính sẽ đưa Thức về Marseille ở miền Nam nước Pháp, nơi chôn nhau cắt rốn của nàng. Sự chu đáo của Madeleine làm Thức vững bụng. Nàng tính toán chi ly từng khả năng có thể xảy đến, và sửa soạn sẵn những biện pháp đối phó với sự khủng bố của những cơ quan cảnh sát. Lúc đó, cảnh sát giăng lưới khắp mọi nơi để đề phòng tai biến trong
không khí sôi sục của Paris.

Vài ngày sau, Nghị báo Thức là bốn trong số bảy vị Thừa sai đi theo Bá đa Lộc quyết định không về Cochinchine để phản đối việc ký kết “ Ðề ước ”. Lộc lồng lên như điên dại, yêu cầu Giáo Hội và Hội Truyền Giáo ở Paris phải có thái độ. Ông ta cười nhạt, nói lớn “ ... chó cứ sủa, đoàn xe vẫn qua ”. Sáng ngày thứ hai, mồng tám tháng mười, Nghị chạy hớt hải vào phòng Bá đa Lộc, báo là không thấy Hoàng tử Cảnh đâu. Lộc nhảy ra khỏi giường, hò hét gọi mọi người ra hỏi và đếm mặt. Trọng Thức vắng mặt, không ai biết là đi đâu. Lập tức, Lộc chạy vào văn phòng Tổng Giám Mục rồi hai người cùng lên xe đến Nha Cảnh Sát ở Place Dauphin cạnh Quai des Orfèvres. Hôm sau, trên một trang của báo “ Bạn Dân ”, một hàng tít lớn loan tin “ Hoàng tử Cảnh mất tích : Tại sao ? ”. Bá đa Lộc xé nát tờ báo, quẳng xuống đất, hầm hè chửi bọn “ vô thần ”, “ ngoại đạo ”, rồi lại lên Nha Cảnh Sát. Một sĩ quan cao cấp bảo :

- Chúng tôi cũng đã đọc báo này. Chắc báo có người biết được tin Hoàng tử Cảnh mất tích, nhưng không có một chứng cớ nào để bảo rằng họ thông đồng toa rập. Vì vậy, chúng tôi không thể can thiệp trực tiếp, xông vào Tòa Báo mà tra hỏi.

Lộc gầm lên :

- Các ông cứ thế thì còn gì là phép tắc của nước Pháp. Tôi sẽ vào điện Versailles tâu Vua !

Vị sĩ quan cười khẩy :

- Nếu chúng tôi không thế, thậm chí thì còn gì là nước Pháp nữa. Xin Giám Mục cứ vào Versailles.

Về đến tu viện St-Victor, Lộc gọi Nghị mắng đến độ Nghị xỉu người đi, ngã ngật xuống. Trong thời gian đó,
Thức vừa dỗ cho Cảnh ăn, vừa hứa hẹn :

- Chỉ năm bữa nữa là lại về. Hoàng tử có tôi, đừng sợ gì ! Ăn đi.

Cảnh khóc, kêu ầm lên :

- ... Cho tôi về, sao lại ở đây, vừa tối tăm vừa chật hẹp. Anh Bạch đâu ? Cho tôi về với cố ! Sao lại giữ tôi ở đây ?

Nhăn nhó, Thức đứng lên, miệng dọa:

- Có bọn ăn cướp nó rình, Hoàng tử khóc nó đến bắt được thì chẳng về với cố được đâu. Thôi, nín đi.
Phải đợi đến lúc Madeleine về căn nhà ở phố Moineaux, dịu dàng ôm Cảnh vào lòng, tay lau nước mắt, thì Cảnh mới chịu ăn. Thức nhìn, tự dưng lòng bỗng sóng sánh một cơn ngậm ngùi không hiểu từ đâu ứa ra như nước tràn mùa lũ.

Ðích thân Hầu tước Condorcet đến tòa báo “ Bạn Dân ” cho biết là qua một người họ hàng làm việc trong Bộ Nội Vụ, bọn khủng bố dự tính sẽ vây bắt những kẻ chủ trì tờ báo. Nhắn Madeleine dặn Thức một địa chỉ mật ở Palaiseau phía ngoại ô Paris, Condorcet đi tìm Lafayette rồi cả hai cùng vào điện Tuileries đặt vấn đề với đám quan chức cao cấp của triều đình.

Madeleine lập tức cho người về báo Gilbert Delecourt, một vị tu xuất năm nay đã sấp sỉ sáu mươi. Ông lo việc đảm bảo an ninh cho Trọng Thức và Hoàng tử Cảnh, đã gài một số người xung quanh căn nhà phố Moineaux để báo động khi cần kíp. Việc canh chừng cảnh sát cẩn mật hơn, và Thức cũng sẵn sàng trốn đi bất cứ lúc nào, theo những lộ trình được vạch sẵn tùy theo biến cố có thể dự liệu.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #123 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:32:57 pm »

Chần chừ thêm một ngày, Delecourt cuối cùng quyết định rời chỗ ở cho Thức. Họ lên một chiếc xe hai ngựa vào chập tối, lẳng lặng đánh xe chạy ven đường St-Roch rồi rẽ trái trên St-Honoré. Ðược một quãng, người phu đánh xe đập tay vào thành xe. Delecourt kéo chiếc cửa nhỏ sau xe nhìn lại. Một chiếc xe bốn ngựa từ xa chạy tới với một vận tốc nhanh hơn bình thường. Người phu bỗng kêu lên :“ Ðằng trước có xe chặn ta rồi !”. Delecourt nghiêng đầu ra ngoài nhìn. Ông ta bảo : “ Rẽ nhanh về phía tay phải ”. Khi xe chạy thêm năm mươi thước trên con đường hẹp, Delecourt quát : “ Ngừng lại ! ” rồi mở cửa xe, giục Thức “... nhanh theo tôi ! ”. Thức ôm Hoàng tử Cảnh, nhảy vội xuống xe chạy theo, tay bịt miệng Cảnh. Không hiểu chuyện gì xảy ra, Cảnh sợ, khóc inh ỏi.

Ba người len vào những ngách nhỏ ra đến Route de la Monnaie. Họ nhắm Pont Neuf chạy tới, mặc những kẻ bộ hành nháo nhác dạt sang một bên. Ðằng sau có tiếng chân người đuổi theo và tiếng hò hét. Delecourt lại kêu : “ Nhanh lên, qua được cầu thì an toàn ! ”. Thức bế Cảnh, chậm hơn, cắn răng, cắm đầu chạy tới. Ðến giữa cầu, Delecourt thét lên : “ ... ngừng lại ! ”. Ðầu bên kia, bọn cảnh sát vừa mang hai chiếc xe ngựa tới chặn. Mấy tên lính kín mang súng, đeo gươm, xuống xe quát tháo. Delecourt rút ra một khẩu súng lục, miệng thét :“ ... Không dừng lại, ta bắn chết thằng bé này !”. Một người, dáng dấp chỉ huy, quát bảo bọn cảnh sát đang đuổi đằng sau. Họ ngừng lại. Dăm phút sau, Bá đa Lộc hớt hải chạy tới, miệng thở hồng hộc, giơ tay lên trời kêu : “ ... Ðừng, chớ bạo động. Phải bảo vệ Hoàng tử ! ”. Nghị, Tân và Bạch vừa lúc đó cũng ùa đến.

Nghị bảo với Bá đa Lộc : “ Ðể tôi đến gần thương thuyết với Thức ”, rồi chẳng đợi trả lời, lẳng lặng bước tới. Nhìn thẳng trước mặt, Nghị vừa bước vừa nói thầm, cứ bắn đi, có người chết là có xì-căng-đan, ta chết hay đứa bé kia chết cũng được. Bên này, Delecourt nâng súng về hướng Nghị bóp cò. Bốn năm tiếng đùng đùng nổ lên. Trong bọn cảnh sát, có kẻ bắn lại. Ðạn không trúng Nghị. Ông ta đứng sát mép cầu, mặt tái đi. Cạnh Thức, Delecourt ngã quị xuống, ôm lấy ngực. Thức với tay nhặt khẩu súng, kề vào màng tai Hoàng tử Cảnh, nói lớn : “ Ðừng đến gần, đến tôi sẽ bấm cò !” .

Lại có tiếng quát tháo vang lên. Bá đa Lộc nói, nhưng Thức nghe không rõ. Cúi xuống áp tai vào miệng Delecourt, Thức nghe ông ta thì thào. Thức gật đầu. Hoàng tử Cảnh thấy Lộc, vừa réo lên gọi, vừa nức nở. Lộc lại nói với Cảnh : “... cứ yên tâm, con đừng sợ !”. Thức ngửng lên nhìn Nghị, rồi quay ngang nhìn dòng sông Seine. Mắt Nghị không hoảng hốt, nhìn Thức một cách trầm tĩnh như nhắc nhở Thức một điều gì. Lúc ấy, Delecourt thở hắt ra, tay nắm vào áo Thức, đầu ngoặt xuống một bên.

Thức để ngón tay trên cò súng, tay kia vẫn ôm ghì lấy Cảnh đang giãy giụa. Chàng nghĩ là bấm vào cò thì cái bản “ Ðề ước ” kia dẫu có ký cũng chẳng còn gì là giá trị. Cứ tưởng tượng, trong số báo sớm ngày mai ở Paris, trang đầu nào cũng loan cái tin Hoàng tử Cảnh, con tin của nước Pháp, vừa bị sát hại. Cứ tưởng tượng Nguyễn Ánh, ở một góc rừng nào đó, lồng lên giận dữ. Lộc gào lớn : “... Thầy Thức, thương lấy đứa bé, đừng, đừng !” Thức lại nhìn Nghị. Mắt Nghị vẫn trầm tĩnh, nhưng thật là buồn.

Chỉ có một hai phút trôi qua nhưng Thức thấy nó dài hơn cả trăm năm. Tay chàng run lên. Máu của một đứa bé vô tội ! Làm thế nào đây ? Thức nhắm mắt, tưởng tượng những giọt máu từ chiếc đầu nhỏ nhắn đó vỡ toác ra, bắn tung lên, dính vào mặt mũi thân thể chàng. Có gì trên thế gian này đáng giá để đổi lấy những giọt máu này? Chàng chợt cảm thấy mình nhầy nhụa đến độ không có gì, và chẳng bao giờ, gột rửa được. Thức lại nhìn xuống sông Seine. Theo kế hoạch của Delecourt, chàng phải bấm cò súng rồi lao xuống bơi về phía đông, phía sẽ có thuyền đợi vớt chàng.

Nuốt nước bọt, Thức nhìn Cảnh, vết sẹo đâm xuống chân mày giựt mạnh như muốn vỡ toác ra. Miệng mím lại, nhưng tay Thức vẫn run lên bần bật. Cảnh vừa khóc vừa kêu : “... cho tôi về với cố, bỏ tay ra ”. Trong chớp mắt, Thức không nghĩ gì nữa, đẩy Cảnh về phía Bá đa Lộc, rồi tung mình nhảy qua thành cầu phóng người xuống dòng sông Seine. Chàng nghe loáng thoáng có những tiếng súng nổ, lặn xuống thật sâu, mở mắt trong màn nước lúc càng tối om om, trườn người đi.

Nghị chạy tới, theo sau là Bá đa Lộc vừa ì ạch, vừa reo: “ May quá ! ”.

Ngày 28 tháng 11 năm 1787, “ Ðề ước Liên Minh ” giữa nước Pháp và Cochinchine được ký kết, sau gọi là Hiệp ước Versailles trong sử liệu. Theo “ Niên Biểu Lịch Sử cổ trung đại ”, Bá đa Lộc lên tầu Dryade rời nước Pháp ngày 27 tháng 12 năm 1787, và đến Pondichery ngày 18 tháng 5 năm 1788. Lúc đó, Bá tước Conway, Tư Lệnh lực lượng Pháp ở Ấn Ðộ, không đồng lòng với việc gửi tầu chiến và lính Pháp vào Cochinchine. Thật ra, ông ta chỉ làm mệnh lệnh mật do chính Louis XVI trao.

Trong những bức thư trao đổi với Bộ Trưởng La Luzerne, Conway cho biết là Lộc không thành thật, cố tình thổi phồng sức mạnh của Nguyễn Ánh, và chỉ là một kẻ phiêu lưu, tính tình nông nổi, háo chiến. Viết cho Ðức Tổng Giám Mục de Castries, ngày 20 tháng 7 năm 1788, Conway khẳng định : “ ... Chúng tôi không biết Vua nước Cochinchine ở đâu. Dựa trên bức thư ông Vua này viết năm 1786, ông ta không có gì và cũng chẳng có khả năng làm gì. Vả lại, theo lời giáo sĩ Paul Hồ văn Nghị, ông Vua này có thật hay không là một điều đáng ngờ vực ”.

Ngày 16 tháng 4 năm 1789, Luzerne báo Bá đa Lộc là nước Pháp chính thức không cho phép mang tầu và lính vào Cochinchine. Bá đa Lộc dọa sẽ bán Hoàng tử Cảnh cho Anh quốc với giá là một triệu quan. Song không hiểu việc mua bán này có thật hay không, chỉ biết Lộc rời Pondichery vào giữa tháng 6 và đổ bộ vào Vũng Tầu hôm 28 tháng 7. Ngượng nỗi tay trắng không có gì cho Nguyễn Ánh, Bá đa Lộc nằn nỉ Thuyền trưởng Rosily-Mesros. Ông này để cho Lộc một nghìn kilô thuốc súng. Vào những năm sau, Lộc đi chiêu mộ một bọn phiêu lưu đến từ Tây phương làm lính đánh thuê. Ðến thời kỳ Nguyễn Ánh về Gia Ðịnh ba bốn năm sau, đếm ra bọn đánh thuê này vào khoảng trên dưới tám chục mạng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #124 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:37:11 pm »

Chương 10
Bờ xa

Nhật khẽ đẩy cánh cổng, lẳng lặng bước vào, lòng bâng khuâng. Sân gạch đỏ ẩn nhẫn sóng xoài dưới những giọt mưa tí tách rỉ rả. Cỏ ven sân mọc cao, trĩu xuống ủng nước, nằm xòa ôm lấy những mấp mô. Bước vòng ra bờ ao, Nhật đến gốc cây sung, dựa lưng vào, lơ đãng nhìn những gợn nước thoắt hiện thoắt biến theo những giọt mưa, khi nhỏ khi to, khi thưa khi nhặt. Một chớp mắt, đã hơn hai năm. Dinh Khương Tả hầu tàn phế như một người già trước tuổi, mái ngói uốn lượn vòng vèo theo những vết rêu phong ảm đạm. Hoang vắng đè xuống đám kèo cột ngang dọc vô hồn, lạc lõng. Thở dài, Nhật kéo chiếc áo tơi, nhẹ bước về căn phòng chàng đã ăn ngủ suốt gần một năm, hồi tưởng đến nào là Thức, là Mai, là Du. Rồi Tế Lý, Ðăng Khoa, và nhất là lão Hài, người lính già đã bị voi quấn lên rồi quật xuống trong buổi loạn Kiêu binh. Nước mắt rưng rưng, Nhật cắn môi, tay bâng quơ vuốt nhẹ vào vách nhà như vuốt vào một sinh vật.

Bỗng có tiếng khụt khịt sau lưng. Nhật quay lại, tay để lên đốc kiếm như một phản xạ. Hóa ra là lão bộc, xưa sống thui thủi với cái bóng của chính mình, công việc chính hàng ngày chỉ có đun nước pha trà. Ðến gần Nhật, lão đưa cặp mắt toét nhèm, hấp háy nhìn lên, rồi mũi lại khụt khịt như thể đánh hơi. Nhật vừa cất tiếng thì lão reo nho nhỏ :

- À, thì ra là Võ tướng quân ...

Ở lại dinh để « giữ nhà » như lão kể, lão sống một mình đã cả gần một tháng nay. Vừa nắm lấy tay Nhật, vừa run run, lão bảo :

- Khương Tả hầu mang cả gia đình chạy lên Sơn Tây rồi... Giặc Quảng đã vào, nó cướp nước mình, Võ tướng quân nay chạy đâu ?

Nhật không nói, nhưng lão đã thấy cái tua đỏ buộc ở đuôi kiếm để phân biệt quân Tây Sơn. Lão im bặt.
Giọng như khóc, lão cất tiếng :

- Võ tướng quân nay mang giặc vào Kinh à ?

Không biết trả lời thế nào, Nhật đành im lặng. Ấm nước sôi, vung rung lên như gặp cơn sốt. Nghẹn ngào,
lão bộc lấy trà tra vào ấm, động tác như một cái máy, nước mắt ứa ra chảy dài trên má. Nhật để tay lên vai lão, nhẹ nhàng :

- Lão trách tôi à ?

Giật phắt tay Nhật ra, lão bộc đứng lên, mắt lại hấp háy một lúc, miệng ấm ức một điều gì không nói được thành lời. Thảng thốt, Nhật nhẩm lại những biến cố vừa qua, nhớ lại bao nhiêu đưa đẩy khiến chàng trở thành chỉ huy của đội du binh Tiền kích. Ngạc nhiên, chàng ngẫm lại những biến cố xô chàng đi tới, đi khôngtự chủ, thậm chí không mục đích.

Lão bộc lại khụt khịt, đầu cúi xuống, thở than :

- Thằng cháu nội duy nhất của già này vừa chết trên bến Tây Long ... Võ tướng quân nhìn mà xem, mộ nó còn tươi đất ...

Nhìn ra góc vườn, một mô đất mới đắp nhô lên khỏi đám có dại, trên có cắm vài cây hương đã rụi. Lão bộc rên lên nho nhỏ :

- Cháu già chết cho ai, cho cái gì ?

- ...

- Ðất này lắm Chúa lắm Vua. Họ bắt binh bắt lính đánh nhau, độc chỉ làm có cái việc giật qua giành lại uy này quyền nọ. Sinh mạng người ở đây nào khác gì con rận con rệp !

Ôm mặt hu hu khóc, lão nghẹn ngào rống lên từng chặp :

- Ối giời ơi là giời !

Trong đầu Nhật, hình ảnh Nguyễn Huệ lại hiện ra với cặp mắt tóe lửa, miệng vênh lên ngạo mạn thách thức. Hai hôm trước, một viên tả phiên lỡ nhếch cười trong tang lễ vua Hiển Tông. Huệ nhác thấy, bắt lôi ngay ra sân chém vì tội bất lễ, nhưng mục đích là ra oai dọa dẫm. Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ và đám quần thần, mặt cắt không còn máu, quì run rẩy trong điện Kính Thiên. Huệ vờ khiêm nhường, nói :

- Kẻ này vâng mệnh Hoàng huynh mang quân ra làm việc tôn phù đã xong. Ngày mai, làm xong việc tang tế của con rể muốn tròn đạo với bố vợ, thế là trung hiếu vẹn cả hai bề, kẻ này sẽ rút quân về nước.

Ðám triều thần gập đầu vâng dạ, nhưng bụng mừng như mở cờ, vội chọn ngày đưa hài vị của Hiển Tông xuống thuyền. Huệ cưỡi voi, dẫn ba nghìn quân đưa ra bến, chờ cho lễ rước tử cung về đất tắm gội xong, bảo công chúa Ngọc Hân :

- Ngày nay báo hiếu lại là gái, trong khi Tiên Ðế có đến hơn mười người con trai. Thế có phải là « nữ tắc môn my » không ?
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #125 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:37:52 pm »

Khẽ nghiến răng, Hân dập đầu xuống đất lạy tạ ơn, nước mắt trào ra, lòng lại nghĩ về cơ nghiệp nhà Lê. Huệ đỡ lên, Hân nghẹn ngào :

- Tục ngữ bảo « trai không ăn mày vợ, gái phải ăn mày chồng ». Tôi như hạt mưa bụi ngọc, bay ở giữa trời, may được sa vào hầu hạ khăn lược ông lớn, thế là đủ cho tôi lắm rồi ...

Nhìn vào mắt Hân, Huệ bỗng thấy mình lớn bổng lên như một tên khổng lồ, ngồi trên mình con voi co chân dẫm xuống cả kinh thành Thăng Long. Từ em một tên ấp trưởng buôn trầu nguồn, Huệ đã thành phò mã Vua Lê, mặc sức vần xoay cả một Ðế chế, và tha hồ dầy vò cô công chúa tài sắc đang yếu đuối nép vào lòng mình tìm che chở. Hân lại thủ thỉ :

- Ngày ông lớn về, cho tôi theo với, đừng để tôi lại tôi không chịu được đâu !

Huệ cảm động, vòng tay kéo Hân xuống. Nàng công chúa nhắm mắt lại, đầu ngật ra sau, lòng chỉ mơ ngày quân Tây Sơn rút về Nam, trả cho nhà Lê những tấc đất Ðàng Ngoài đang hoảng hốt oằn mình dưới bước chân võ dõng.

Tiếng khóc của lão bộc lại bất ngờ vang lên như có cơn, kéo Nhật về thực tại. Chàng tự hỏi : « Ta đang về đâu, đi đâu ? ». Nhẹ nhàng, Nhật nhìn lão bộc, nói khẽ như nhận lỗi :

- Tây Sơn sắp rút về rồi…Ðâu sẽ lại đấy, chẳng mất mát gì.

Lão bộc cứ lắc đầu quầy quậy. Nhật buồn bã ra khỏi dinh Khương Tả hầu.

Hai hôm sau, Nhật nhét vào hầu bao bốn lạng bạc mang cho người lão bộc. Gọi lão, không thấy trả lời. Nhật đi quanh tìm. Bước đến cây cổ thụ bên cạnh nấm mộ mới đắp, Nhật nhìn lên chạc cao. Lão bộc đã xé quần áo làm giây treo cổ, thân thể như một cái cành mọc dọc khốn khổ tìm về nơi an nghỉ. Tai Nhật lại văng vẳng : « ... Ối giời ơi, là giời ! »

Tin thám mã báo vua Tây Sơn đang trên đường đến Kinh nổ như một cú sét làm choáng váng cả một triều đình đang chờ ngày lên đường của Uy-dực Quốc công Nguyễn Huệ. Cho yết bảng ở cửa Ðại Hưng để an lòng dân, Huệ nhắc Hoàng Tự tôn Lê duy Kỳ sắm sửa để đón tiếp Nguyễn Nhạc theo đúng nền nếp Ðế vương. Quần thần nhà Lê ngơ ngác, không hiểu ý tứ người Tây ra sao. Lúc đó, Chỉnh lại xin ra mắt Tự Tôn, bàn là dâng ngọc tỉ và thảo biểu xin hàng, khiến ai nấy đều nao núng, và có kẻ đã mang cả vợ con chạy trốn khỏi Thăng Long. Rắp tâm lập công để Nhạc tha cái tội xúi bẩy Huệ xua quân ra Ðàng Ngoài mà không có lệnh, Chỉnh định tâm thu ngay cả Bắc hà về một mối bằng đầu môi chót lưỡi, chẳng tốn đến một mũi tên hòn đạn. Trong đám thần tử nhà Lê, có kẻ chống lại ý hàng. Việc cứ chùng chình nên đến ngày Nhạc vào Thăng Long mà chưa viết cho xong tờ hàng biểu. Hoàng Tự tôn sợ quá, tự ra đón ở phía Nam Giao, sai hoàng thần quì bên đường chào Nhạc. Nhạc giục ngựa đi thẳng, nhắn lại là xin cứ ngự giá về cung, ngày khác thong thả sẽ đến gặp. Thấy yên, không còn ai bàn thêm về việc hàng, bọn quần thần bụng lại càng ghét Chỉnh.

Huệ thân chinh ra cửa ô đón Nhạc, tạ tội đã tự chuyên kéo quân ra Thăng Long, nhưng không giấu nổi người anh ruột thịt sự kiêu ngạo, nhất là khi Huệ mang Ngọc Hân ra chào. Nhạc bảo :

- Em vua Tây Sơn làm rể vua nước Nam, môn hộ kể là xứng, người thế này đáng là em dâu nhà ta.

Ðến tối, Huệ sai quây màn ở điện Chính Tâm, còn tự mình lui xuống ngủ ở Lân Các. Nhạc gọi con rể là Tả quân Vũ Văn Nhậm vào hỏi riêng một số chuyện, miệng tấm tắc khen Huệ là quyền biến. Hôm sau, vừa gặp
Huệ, Nhạc hỏi ngay, giọng cố làm ra tự nhiên :

- Chú đưa nộp ta binh phù.

Tia lửa trong mắt Huệ thoáng rực lên, nhưng tắt ngay khi Huệ cả cười, đáp :

- Anh chẳng cần hỏi, Huệ này cũng đã nghĩ đến trước, sẵn đây xin dâng lại.

Nhạc liền gọi cả Nhậm và Chỉnh vào hỏi việc quân. Cách sắp đặt cơ ngũ thay đổi quá nhiều, nhất là trong thủy binh dưới quyền Chỉnh. Nhạc cười xòa, lờ đi, nắm tay hai võ tướng khen ngợi không tiếc lời.

Hôm sau, Huệ sai bầy phủ đường rước Hoàng Tự tôn sang. Ngồi ghế giữa, Nhạc nhìn vị Hoàng tôn, miệng hỏi :

- Tự Hoàng xuân thu được bao nhiêu ?

Một viên trọng thần đáp, rồi nói tiếp :

- Thánh thượng là bậc từ nhân, đại nghĩa đã vì đấng quốc quân chúng tôi chỉnh đốn lại nếp hoàng đồ. Nay, nước Nam là do ngài gây lại, nếu sẵn lòng thu nhậân một vài quận quốc để khao thưởng quân sĩ đã ra công hãn mã thì đấng quốc quân chúng tôi xin vâng mệnh.

Nhạc trợn mắt, đáp ngay :

- Tôi vì giận cường thần áp Vua, nên ra đây làm việc tôn phù. Nếu là đất của họ Trịnh, một tấc tôi cũng không để, nhưng là đất nhà Lê thì một tấc tôi cũng không lấy. Yên ả cho bốn phương bình định - quay sang nhìn Huệ, Nhạc rành mạnh - anh em tôi lại về nước tôi. Mong sao Tự hoàng nhức nhổ rường mối triều đình, để cùng nước tôi đời đời kết nghĩa láng giềng, thì đó là phúc của hai nước.

Viên trọng thần rập đầu, thay Tự tôn, ấp úng nói :

- Thánh thượng mở lòng giúp đỡ, ơn ban cho thật là vô cùng. Quốc quân chúng tôi xin giữ lễ lân bang không bao giờ dám sai trái.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #126 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:38:36 pm »

Lên kiệu về cung, Hoàng Tự tôn sai triều thần vào phủ Chúa chào Nhạc. Nhạc nhìn một lượt, hỏi :

- Tôi đột nhiên ra đây, các ông có ai ngờ dạ tôi không ?

Không đợi trả lời, Nhạc tiếp :

- Ai ngờ, kẻ ấy là ngu. Tôi nếu tham nước Nam, dẫu có lấy ngay, thì đến đời con cháu tôi liệu có giữ được không? Chẳng bao lâu, anh em tôi về. Các ông nên phò Vua, giữ yên bờ cõi, hai nước kết nghĩa láng giềng, cùng hưởng thái bình là phúc chung cho thiên hạ ...

Các quan lạy tạ, lại nghe Nhạc nói :

- Tôi nghe nước ông có ông Nghè là quí lắm. Các ông có phải là ông Nghè không? Tôi sẽ xin với Tự hoàng cho năm ba ông theo tôi về dạy người nước tôi, các ông có đi không ?

Các quan lại phủ phục, lí nhí xin tuân mạng, không hiểu anh em Tây Sơn có ý định gì. Riêng Chỉnh, Chỉnh rất ngại vì biết rõ tâm địa Nhạc và tham vọng của Huệ. Nếu quả thật Nhạc về tay không, thì đó là cách Nhạc dùng để tước đoạt thắng lợi của Huệ, sợ cứ để thì uy thế của Huệ như nước vỡ bờ ào ra nhận chìm cái đế vị của Nhạc mà trên thực tế chỉ là làm chủ được thành Qui Nhơn. Trong trường hợp đó, Nhạc làm sao quên được Chỉnh đã xúi bẩy Huệ mang quân ra Bắc Hà ? Còn phần Huệ, Huệ sẽ chẳng ngần ngại gì mà không thí Chỉnh cho Nhạc an lòng, thừa biết là dẫu có dùng Chỉnh, Nhạc xưa nay vẫn coi Chỉnh là kẻ giảo quyệt, lúc nào cũng để ý giá ngự. Và Nhạc sợ để Chỉnh dưới trướng Huệ, vì thế thì có khác gì vuốt móng cho cọp ?

Tối hôm đó, Chỉnh vào cung Vạn Thọ, tâu với Tự hoàng :

- Tôi đem anh em hắn ra là chỉ để tôn phù, việc đã xong, nay tôi xin ở lại. Anh em hắn về, thì Nghệ An là phên dậu của xã tắc. Vậy xin bệ hạ cho tôi vào đó trấn thủ, mặt Nam tôi xin đương hết.

Hoàng Tự tôn lẳng lặng nghe Chỉnh nói. Nghĩ đến việc Chỉnh giục triều đình thảo hàng biểu cách đây mới vài hôm, Tự tôn không dám trả lời, chỉ nói qua loa cho xong chuyện.

Chỉnh ra khỏi điện Vạn Thọ. Ngửng lên nhìn bầu trời dày đặc những vì sao lóng lánh, Chỉnh căng mắt tìm ngôi bãn mệnh mình. Mím môi, Chỉnh lẫn vào trong bóng đêm, lặng lẽ dò dẫm như một con sói tìm đường sống trên bờ tai họa.

Ngọc Hân gọi nhũ mẫu vào Lân Các. Nhũ mẫu nuôi Hân từ ngày lọt lòng, đầu gối tay ấp thay cho mẹ đẻ ra Hân đã lìa dương gian khi Hân vừa dược năm tháng. Mắt nhìn van xin, miệng ngọt ngào, Hân nhắc đi nhắc lại :

- Già vào với bé, bỏ bé một mình sao được ? Phú Xuân nào có xa gì ? Nhé, già nhé !

Biết là nhũ mầu còn lo cho gia đình, Hân đưa vào tận tay một gói bạc bọc bằng lụa điều, tiếp :

- Già mang về nhà, hôm sau già lại vào đây ...

Còn một mình, Hân đứng dựa song cửa, thẫn thờ nhìn xuống khu vườn sau Lượng Phủ. Những cành thược dược xưa nhởn nhơ nay sũng nước chúi đầu xuống đất, chẳng khác gì đám quan lại nhà Lê đang thấp thỏm đợi chờ một biến động chưa ai hình dung ra nổi. Tiếng trống điểm canh bỗng rền rĩ ngân lên ảo não, xua những con quạ giật mình quang quác kêu lên. Hân bồn chồn, chỉ muốn sang cung Vua. Nhưng Huệ đã dặn, cấm không cho đi đâu. Tại sao ? Mấy hôm nay, quân « đầu đỏ » cấm trại, đường phố vắng hẳn, hàng dân xì xào to nhỏ. Ðúng là Huệ và Nhạc đang rục rịch lên đường. Ít ra anh em hắn cũng phải thông báo cho triều thần và Hoàng Tự tôn để sắp lễ tiễn hành cho đúng nghi thức. Lại nữa, chỉ hai ngày tới, Hoàng Tự tôn dự định đặt triều để giáng chiểu chỉ đổi niên hiệu là Chiêu Thống. Nhưng không hiểu sao Huệ và Nhạc vẫn im lìm. Riêng Vũ Văn Nhậm tất bật ở trại quân.

Từ ngày Nhạc đến Thăng Long, Chỉnh không còn dính gì nhiều đến việc quân sự, hiện chỉ còn lũ người nhà cùng ở với mình ở chùa Thiên Tích. Sáng sớm hai ngày sau khi Chỉnh đưa Nhạc vào làm lễ trong Thái Miếu, Nhạc vời Chỉnh vào, bắt ngồi một bên. Nhạc hỏi :

- Tây Sơn về, Bắc hà sẽ ra sao ?

- Bắc hà? Triều đình nhà Lê thành phỗng. Phỗng rỗng ruột, thưa Thánh thượng.

- ...

- Ðầu tiên, bọn Dương Trọng Tế ở bên Gia Lâm sẽ mang quân về Kinh. Thứ là Trịnh Lệ ở Văn Giang sẽ kéo về cướp lại ngôi Chúa. Tế không thể chống nổi, sẽ hàng Lệ, lập công.

- Rồi sao nữa ?

Chỉnh trầm ngâm :

- Bọn Ðinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ cũng sẽ kéo vào Thăng Long. Chúng có phù Trịnh không, ta chưa thể biết.

Cầm cái ống nhổ đưa lên, Nhạc thò mồm vào khạc đờm. Chiêu một hớp nước, Nhạc vu vơ :

- Ðể ông bao nhiêu binh thì ông giữ được nước cho vua Lê?

Chỉnh lòng rúng động, nhưng sợ, không dám trả lời ngay vì chưa rõ bụng Nhạc tính toán thế nào. Thật ra, Chỉnh nghĩ, chỉ với ba ngàn lính thì Chỉnh có thể dường hoàng chiếm Lượng Phủ, và ít thì cũng giữ được một năm, đủ thời giờ gây lực lượng. Nhạc lại nhìn, gặng :

- Ðộ bao nhiêu ?

Vòng tay, Chỉnh nghiêm trang, giọng hơi run:

- Chỉnh vào làm dưới trướng Thánh thượng, xin đi đâu cho Chỉnh theo, chẳng có lòng nào ở lại Bắc hà. Cho nên bao nhiêu lính, Chỉnh chưa hề nghĩ đến !

Nhạc ôn tồn :

- Ðấy là nói thế thôi. Có ở Bắc hà, ta giao cho Chiêu viễn hầu Vũ Văn Dũng, họ hàng bên ngoại nhà ta ...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #127 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:39:26 pm »

Chỉnh mường tượng ra Dũng, năm nay độ trên ba mươi, kẻ từ Hải Dương về Kinh xin ra mắt Nguyễn Huệ. Xưng là cháu đích tôn của Nguyễn Hữu Cầu, tức là bác của anh em Tây Sơn, Dũng phải đổi họ để tránh sự truy nã của những đời chúa trước. Huệ mừng lắm, phong hầu cho Dũng, và thưởng cho đám quân do Dũng đưa về với Tây Sơn. Từ đó, chính Dũng đã dần dần thay thế Chỉnh, nay nắm gần như toàn bộ thủy binh.
Chỉnh gật gù, nhưng lòng đau quặn lên, thưa :

- Thánh thượng chọn thế là đúng lắm. Chiêu Viễn vừa dũng lực, vừa mưu trí ...

Nhạc cắt lời :

- Chuyện đâu còn đó. Ta chưa định gì cả ngoài cái việc phải nhờ ông - Nhạc tươi cười, giọng cợt nhả -
Ông lấy vợ cho Huệ, còn ta, ông nghĩ là ta già, không chiều đãi nổi gái Bắc hà hay sao mà ông để ta « phòng không, chiếc bóng » thế này ?

Chỉnh cung tay, miệng nói :

- Thánh thượng không chê gái Bắc thì có khó gì. Ai lại chẳng đợi ơn mưa móc của « Long tòng Ðông Hải »...
Phá lên cười, Nhạc thân mật vỗ vai Chỉnh, rồi bắt rót rượu ra, cứ thế chén tạc chén thù, cùng nhau ôn lại những lần công thành phá ải. Càng uống, Chỉnh càng yên lòng, rồi khi được phép, Chỉnh khật khưỡng bước khỏi điện Chính Tâm, thủ hạ phải dìu mới lên được ngựa.

Trống canh một trong dinh trại Tây Sơn vang lên rộn rã khi Chỉnh về đến chùa Thiên Tích. Sang canh hai, trống chỉ thưa thớt. Lúc đó, Nhạc và Huệ cùng vào điện Vạn Thọ cáo từ Hoàng Tự tôn, rồi đi ra ngay trại quân, phát lệnh xuất hành. Người ngựa ngậm tăm, lẳng lặng kéo nhau đi ngay đêm đó, dân Kinh Kỳ không một ai hay.

Nghe tiếng Huệ giục lên kiệu, giọng cợt nhả : «Bây giờ, công chúa về nhà chồng nhé ! », Ngọc Hân đau thắt bụng lại, nhưng bề ngoài cố mỉm cười. Nàng lẳng lặng cắn răng, nước mắt ứa ra, khi bốn người phu nhắc bổng đòn kiệu để lên vai. Ðằng xa, những mái các của cung Kính Thiên vươn xa như để rồi mất cân bằng đổ xuống, gãy vụn dưới ánh trăng lạnh ngắt phủ lên dương gian màu lợt lạt của những xác chết sắp chôn. Kiệu đi, rập rình như thuyền trên sông. Vén bức mành lụa che cửa, Hân nhìn như chọc thủng đêm đen, khe khẽ rên : « ... Nhũ mẫu ơi, già ơi, thế là bé phải đi một mình mất rồi ! ». Hân biết thân mình nay là bèo bọt trôi dạt. Nhưng cái cơ nghiệp nhà Lê ở đằng sau kia vẫn còn đó, như mặt đất sũng nước của những trận bão bất thần ập xuống Bắc hà.

Mím môi, Hân tự hứa sẽ không bao giờ nhỏ nước mắt khóc gì nữa. Vì mặt đất kia đã sũng nước. Và con cọp lưng vằn vện đã nhảy lên lưng nàng ngày hợp cẩn cũng chỉ là một loài động vật có thể dạy cho thuần. Như voi. Như ngựa. Miễn sao là cái mặt đất đó còn. Còn, rồi sẽ khô đi. Và sẽ vững chắc như mặt đất ngày đức Thái Tổ vừa đuổi được quân Minh ra khỏi Lạng Sơn.

Ngọc Hân thấy miệng mằn mặn. Nàng thè lưỡi ra liếm đôi môi mím đến bật máu. Khi đó, ánh trăng Bắc hà đang chếch về phương Nam như bị nam châm hút đi, nhợt nhạt nhan sắc, không chống cự, mặc cho sức mạnh cường bạo đẩy sâu vào dốc gềnh định mệnh.

Một điệu hò Nam Ai vẳng lại từ đâu đó trên sông Hương mơ hồ sương đục buổi đầu đông. Giọng hò mang âm sắc Chiêm Thành, lê thê não nùng, ê a than kể, rồi trách móc, nguyền rủa và tan biến đi như những vạt áo Chàm chợt lẫn vào rừng sâu núi thẳm. Thành Phú Xuân chơ vơ trên cao, giấu sau những bức tường dày bao nhiêu cơn giận dữ đang làm nổi lên hàng đợt sóng đánh vào xé toạc mặt cát nằm xoài người nơi cửa biển. Huệ ra lệnh bắt lính từ mười sáu đến sáu mươi khắp Thuận Hóa, nghiến răng kèn kẹt, la hét như hóa dại khi thám mã về báo là Nhạc đã đưa quân đến Quảng Nam.

Mẹ anh em nhà Tây Sơn và Chúa Út tất tưởi ra Phú Xuân tìm Huệ. Nguyễn-bà, năm nay thất tuần, vừa khóc vừa nói :

- Bay làm sao mà nát cửa tan nhà, sự nghiệp chưa có gì đã tự mình phá nát ra? Nay còn thằng Toản,
thằng Thùy ở Qui Nhơn, động tịnh gì thì nó giết cả...

Toản và Thùy là con trai của Huệ. Tháng trước, Nhạc bắt vợ Huệ mang hai con lên, bảo :

- Mi nói sao cho thằng Huệ nó về đây gặp ta. Của cải nhà Trịnh nó cướp được, cứ chia cho ta một nửa ta cũng ưng. Nó tham, giữ hết, mặc dầu ta đã hạ chỉ phong nó làm Bắc Bình Vương, cho nó đất từ Thuận Hóa trở ra. Bảo nó, nếu không nghe ta sẽ giết cả ba mẹ con bay !

Run lên cầm cập, Phạm-thị ôm lấy hai đứa con, mếu máo :

- Thánh thượng, tôi phận đàn bà làm sao bức bách được chồng. Thánh thượng là anh, biết tính chồng tôi
...

- Nó không còn là em ta. Hừ ! Làm sao bức bách. Nhạc gầm lên, vẫy tay - Lại đây, lại đây ngay !

Phạm-thị co rúm người lại, miệng van xin « Thánh thượng thương lấy người trong nhà.» Nhạc phẫn uất quát:

- Trong nhà ? Thằng nghịch tặc đó trong nhà ai ?

Nhạc hùng hổ nắm tóc Phạm-thị lôi xềnh xệch, tay phải rút đoản đao, thở khò khè. Mặc cho hai đưa bé khóc ré lên, Nhạc vòng tay ra sau lưng Phạm-thị, lách đao vào áo rạch xuống một đường dài, tay trái nắm xiêm xé ra, tiếng vải rách xoàng xoạc. Phạm-thị mình trần, hai tay để lên ngực, miệng rú lên. Cơn thú tính theo tiếng rú thức dậy khiến Nhạc như điên cuồng, mắt đỏ rừng rực, mồm chảy nhớt nhãi. Lao tới vật ngửa Phạm-thị ra, Nhạc nằm đè lên trên, vừa thúc hạ bộ vừa thét « Thằng nghịch tặc, thằng nghịch tặc ! ».
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #128 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:40:11 pm »

Sau hôm đó, Nguyễn-bà mang ba mẹ con Phạm-thị về nhà, dặn cứ thấy Nhạc đến là bà sẽ tự đâm dao vào cổ để chết. Mặt đanh lại như thép tôi, Huệ nghe mẹ nói, im lặng một lúc, rồi lạnh lùng :

- Mạ đi, ba mẹ con nó chắc lại nguy. « Vua anh » loạn luân, không là Vua mà cũng chẳng còn là anh với con. Toản và Thùy cứ coi là chết rồi. Nhưng như vậy, kẻ phải chết sau đó là Nhạc !

Ðêm hôm đó, Huệ ngồi tư lự cho đến sáng. Ngày từ Thăng Long về, Nhạc cử Nguyễn Văn Duệ ở lại trấn thủ đất Nghệ mặc dầu đã mạnh miệng nói một tấc đất nhà Lê cũng không lấy. Huệ gài Vũ Văn Dũng đóng quân ngay sau lưng trấn Nghệ, nhưng Nhạc lại sai Nhậm giữ Ðồng Hới, làm thành thế da beo. Duệ là tướng của Nhạc, cái đó đã chắc. Nhậm thế nào ? Hắn là con rể của Nhạc, làm gì chẳng có lưu tình, dẫu hắn chẳng vừa lòng với cái tham vọng hạn hẹp của bố vợ.

Bấy giờ Huệ mới thấy tiếc Chỉnh. Ngay sáng sớm ngày Tây Sơn rút vào Ðàng Trong, Chỉnh hoảng hốt cướp thuyền ở bến Thúy Ái, theo đường biển chạy theo. Khi Chỉnh đến Nghệ An, quân bộ Tây Sơn cũng lục đục kéo tới. Chỉnh xin ra mắt Huệ, nhưng không muốn vào chào Nhạc, biết rõ là Nhạc chẳng có lòng nào cưu mang mình. Huệ bảo :

- Tướng quân ở Nghệ giúp Duệ, Bắc Hà còn Nhưỡng, Cơ là còn loạn.

Nói xong, Huệ để súng ống, một trăm quân và hai mươi lạng vàng cho Chỉnh. Chỉnh lạy tạ, chỉ nhận vàng, giao lại quân cho Duệ nhưng Duệ lờ đi, không giao thiệp với Chỉnh. Chỉ tháng sau, Chỉnh lấy danh nghĩa phò vua Lê tự mình kéo được một vạn quân, về Thăng Long đuổi Ðinh Tích Nhưỡng và Trịnh Bồng. Nay Chỉnh đã thành Bình Chương Ðại tư đồ, tước Bằng Trung công, thực tế là có quyền như chúa Trịnh thuở trước.

Nhưng dẫu tiếc Chỉnh, nay cũng đã quá muộn. Ðiều còn lại khiến Huệ băn khoăn là lá bài Nguyễn Lữ. Khi phong Vương cho Huệ, Nhạc cũng hạ chỉ cho Nguyễn Lữ làm Ðông Ðịnh Vương, cai quản từ ranh giới Bình Thuận cho đến Hà Tiên. Lữ vào Gia Ðịnh, cùng Ðặng Văn Chân lo ổn định an dân, nhưng vừa rồi lại đích thân dẫn thủy binh về đóng ở cửa Thị Nại. Huệ xưa nay tin Lữ, đứa em gần gũi mình, và thừa biết là Lữ dẫu đối xử có trên có dưới, lòng cũng không hẳn là phục Nhạc. Nhưng đó là khi thường. Lúc biến, liệu Lữ có thế chăng ? Lẽ thường, không dụng khi biến. Và ngược lại. Huệ bóp trán, sai quân đi gọi Toàn Nhật vào. Thở dài, Huệ thầm nhủ, Lữ theo ai là người đó thắng. Và nếu Lữ án binh bất động, chỉ lúc cuối mới ra tay làm ngư ông, thì Lữ là người độc nhất thắng, vì cả Nhạc lẫn Huệ đầu là trai, là cò.

Chúa Út dậy sớm, pha trà dâng vào, rồi khép nép ngồi xuống cạnh sập. Nàng đã thay đổi trang phục, nay mặc xiêm dài, tóc vấn lên cài trâm có đính một viên bích ngọc, không giắt roi đeo kiếm như ngày xưa. Huệ tủm tỉm cười, và dắt Ngọc Hân ra cho chị em chào nhau. Khi Toàn Nhật bước vào, chàng ngạc nhiên trước vẻ duyên dáng có hơi chút quê mùa của một tiểu thư mới biết trưng diện, chỉ cúi đầu thi lễ. Huệ đứng lên, đi về phía Nhật, vỗ vai nói thì thầm :

- Chú em « rậm râu » mang đội Tiền Kích về Thị Nại, nơi Ðông Ðịnh Vương trú quân, và ...

Hai ngày trước khi Nhật lên đường, Nguyễn-bà sai người đến vời vào đãi ăn. Ðến nơi, Nhật ngạc nhiên khi thấy mình là người khách duy nhất. Ngày trước, khi Huệ sai khênh Nhật về nhà Nguyễn-bà ở Qui Nhơn, chàng đã giả đau nằm dài cho đến tối. Chỉ hé mắt nhìn, nhưng Nhật vẫn nhớ giọng bà mắng kiểu Ðàng Ngoài : « Con gái con ghiếc, cứ huỳnh huỵch như trai. Mày thế thì ế chồng đấy con ạ ! ». Ðăng Vân thút thít, bỗng òa lên khóc, miệng lập đi lập lại : « Con lỡ tay, liệu anh ấy có chết không mạ ? » Bà lại la : « Chết được thế nào mà chết. Trẻ sức như voi, yên nào ...». Ðến xế chiều, Nhật giả như tỉnh hẳn, Nguyễn -bà ra ngồi bên cạnh, hỏi gốc gác. Khi nghe Nhật kể mình xuất thân ở Bùi Phong xứ Nghệ, bà chớp chớp mắt, rồi bảo :

- Thế cũng là chỗ tôi có chút giao tình. Các cụ khỏe cả chứ ?

Lúc ấy, Nhật lờ mờ đoán hiểu mối liên hệ của anh em Tây Sơn với gia đình Hà Công, kẻ đã lên Bùi Phong trên hai mươi năm trước rồi mới đi vào Ðàng Trong tìm đất đủ lửa cho rồng bay lên. Từ đó, Nhật vẫn để ý xem có ai là người có cái bớt đỏ sau gáy, nhưng tự mình không dám hỏi thẳng Nguyễn-bà về Thúc Khải.

Vẫn cái giọng đặc sệt miền biển Hải Dương, Nguyễn- bà vẫy tay :

- Tướng quân, xin mời tướng quân ngồi xuống cho già hỏi dăm câu chuyện.

Ðăng Vân ra chắp tay đứng sau mẹ, mắt thẹn thùng nhìn xuống đất, chỉ thỉnh thoảng ngửng lên liếc nhanh Nhật. Nguyễn-bà xoay quanh mục đích Nhật mang du binh vào Thị Nại, nhưng Nhật không dám trả lời, chắp tay tạ lỗi, thưa rằng việc quân là việc thố lộ ra tức là bất trung, bất chính. Nguyễn-bà nói thẳng :

- Nhà vô phúc, anh em mới tương tàn. Tướng quân có cứu vãn cho được không ?

Nhật cắn môi, im lặng. Nguyễn-bà lại tiếp :

- Cản đừng để Lữ dây vào, rồi làm sao cho Huệ và Nhạc giảng hòa, ấy là cứu cơ nghiệp Tây Sơn. Tướng
quân nghĩ thế nào?

Nhật vẫn im lặng. Nguyễn-bà thấy không ép được, lại rơi nước mắt, than vãn, thở dài rồi đi vào chái nhà
phía sau. Ðăng Vân bần thần nhìn theo mẹ, nét băn khoăn, không biết phải làm gì. Nàng lúng túng nói khẽ :

- Hay là tướng quân ra vườn dạo mát ?

Nhật bấm bụng cười, nhắc Vân rằng trời đã vào đông, có dạo thì dạo, chứ mát thì không vì nay khá lạnh. Tưởng là Vân sẽ nổi giận, Nhật thích thú khi nàng chỉ cười xòa rồi bước ra.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #129 vào lúc: 17 Tháng Năm, 2011, 02:41:02 pm »

Hai người bước đi về phía góc vườn. Nhìn xuống dưới, dòng sông uốn quanh như một giải ngọc bích lượn lờ, rải rác điểm dăm ba cánh buồm nâu căng gió trôi xa. Trong màn sương, tháp chùa Thiên mụ khẳng khiu, cô quạnh, trông ngóng một điều gì mông lung bất trắc. Mưa bỗng rơi, dịu dàng và nhẫn nhục. Rơi đi, những giọt nước mắt kiếp đàn bà rõi chồng mang thân lính chiến. Rơi đi, những giọt nước mắt con trẻ hờn khóc đợi cha đi trận, mang về những vết đao kiếm trên da thịt làm quà hồi hương. Mưa bỗng nặng hột, cắm xuống đất như cắm chông, đổ vào lòng sông Hương đang tan thành những mảng nước chập chùng xô đẩy.
Nhật kéo Ðăng Vân vào núp dưới tàn cây cổ thụ, đứng ra ngoài chắn những hạt mưa theo gió hắt vào người. Nhìn mắt Vân xa vắng, Nhật nói nhỏ :

- Công nương đứng sát vào gốc, kẻo ướt ...

Rùng mình vì lạnh, Vân đáp :

- Sao cứ một điều công nương, hai điều công nương ? Gọi bằng tên Vân đi ...

Mùi hương trầm quyện trong tóc Vân thoảng cái ẩm ướt như vướng vào hơi thở, theo âm thanh bay đi, len
lỏi vào tâm trí Nhật, đánh thức một phần linh hồn còn ẩn dưới sâu. Chàng bỗng bồi hồi, nhưng quay mặt nhìn về hướng núi Ngự, không nói gì. Mùi hương lại sực vào khứu giác Nhật, như mời mọc, như van xin. Cái thân thể tròn lẳn đúng tuổi dậy thì kia bỗng nép vào, mềm yếu, ngả ra tìm sự che chở, rồi giả như vô tình, buông xa nhưng không hẳn chia lìa, mà là vẫy gọi, chờ đón. Một động lực không biết từ đâu thúc đẩy khiến Nhật chợt nắm lấy tay Vân. Bàn tay đó cũng níu lấy tay chàng, hoảng hốt như sợ mất, rồi nhẹ nhàng để yên, hiền dịu đến mức thụ động. Nhìn sang, Nhật thấy Ðăng Vân ứa nước mắt, nhưng miệng thoáng một nét cười vì hạnh phúc.

Ðến bữa, Nguyễn-bà ra cùng ăn, nhưng không dấu được sự ưu phiền đang gậm nhấm tâm can. Toàn Nhật thấy mình bất nhẫn, lựa lời nói cho bà yên lòng. Giữa bữa, Ðăng Vân bỗng thốt lên :

- Con phải vào Qui Nhơn. Võ tướng quân cho tôi đi theo !

Nhật giật mình, miệng ngập ngừng :

- Công nương hỏi phép Vương thượng. Nếu được, tôi xin hộ giá cho đến chỗ Ðông Ðịnh Vương.

Ngước mắt đăm đăm nhìn con gái, Nguyễn bà nhận ra cái nét quả quyết của người anh ruột mình. Quận He, tiếng dân ven biển gọi Nguyễn Hữu Cầu, cũng có cách nói như đinh đóng cột, và cái nhìn lên ngang tàng, kiêu hãnh như chim đại bàng trừng mắt trước con mồi. Thầm nhủ rằng Vân không còn bé bỏng gì, Nguyễn-bà lẳng lặng ra dấu ưng lòng, rồi lại nhớ đến những vần thơ trước khi Cầu ra pháp trường đã hát lên, vừa bi ai, vừa hùng tráng :

« Hỏi sao, sao lụy cơ trần

Bận tài bay nhảy xót thân tang bồng

Nào khi vỗ cánh rỉa lông

Hót câu thiên túng trong vòng lao lung ...»

Hai ngày sau, khi đến Bồng Sơn, Nhật và đám Tiền Kích gồm năm trăm du binh gặp một người con gái cưỡi ngựa trắng, mặc áo Chàm, đầu đội khăn tía, vai đeo trường kiếm, tay cầm roi, đứng chờ. Nhật chẳng hỏi xem Chúa Út có được mệnh Vương thượng không, chỉ mỉm cười nghiêng đầu chào, rồi vẫy quân đi.

Nhìn mặt Huệ xám xịt, mắt đỏ ngầu ngầu màu máu tươi, chẳng ai dám hé răng, chỉ lẳng lặng cúi đầu. Huệ đập bàn thét :

- Không bảo hắn là heo chó, là sài lang làm nhơ nhớp triều chính thì bảo hắn là cái giống gì ? Không đánh trước, đợi rồi đánh trả thì lợi gì ?

Huệ gầm gừ, nhưng giọng bình tĩnh hơn :

- Ta vào Gia Ðịnh hai bận, vừa thắng trận, chưa kịp bình định là hắn gọi về kiềm chế ngay. Ta ra Bắc, tháng sau hắn theo đến, lấy binh phù rồi ra lệnh về, để trống cái đất Ðàng Ngoài cho ai muốn làm chi thì làm. Ðó, thằng Chỉnh đã ra « tôn phò » rồi, nay vào phủ Chúa ở. Nó đang bắt lính, lấy chuông nhà thờ nhà chùa đúc súng, đổ đạn. Bắc hà mạnh lên thì ta nằm giữa hai gọng kềm, tiến thoái làm sao? Chỉnh chưa thể đánh ta, nhưng ta ra Bắc thì Nhạc chiếm Phú Xuân ngay. Ta chỉ còn một đường là truyền hịch vào đánh Qui Nhơn, mặt Bắc còn Nhậm, Dũng thì giặc Chỉnh còn e dè, hẳn không dám vọng động. Nếu ta đợi lâu, e tình thế có thể thay đổi bất lợi.

Lúc bấy giờ, Nguyễn Huy Tự đứng dậy, vòng tay thưa :

- Về mặt binh, Vương công hoàn toàn có lý. Nhưng lòng dân Ðàng Trong nghĩ thế nào nếu nhà Tây Sơn đổ máu tương tàn ? Cái chính danh vừa sắp sửa có, không lẽ lại tự phá nó đi ! Rồi chỉ xem binh dịch như thế này, lòng oán hận đã vang ra đầu làng cuối xóm khắp một vùng Thuận Hóa, chẳng lẽ Vương công không nghe thấy hay sao ?

Huệ phất tay, gạt đi :

- Ta biết, ta biết ... Nhưng còn Nhạc ở đó « kiềm chế » thì ta vào Gia Ðịnh không được mà ra Thăng Long cũng chẳng xong, cái sự nghiệp Tây Sơn cứ quanh quanh quẩn quẩn ở một vùng lúa gạo không có, đồng, sắt hiếm hoi ... Giữ chính danh như vậy để làm chi ? Chính danh luôn luôn chỉ giành cho kẻ chiến thắng. Chưa chiến thắng, nói gì thì cũng có đứa bẻ ngược, chính danh là làm sao ? Cứ để ta đánh, ta thắng ... rồi các thầy khéo nói dùng miệng lưỡi tạo cho ta chính danh, không năm, thì bảy năm, thế nào cũng đặng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM