Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:43:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gió Lửa  (Đọc 87216 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #150 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:08:17 pm »

Hôm sau, Huệ kéo quân vào Tam Ðiệp và Biện Sơn. Ðến ngày ba mươi tháng chạp, Huệ điểm binh, cho sĩ tốt ăn tết Nguyên Ðán trước, và hẹn ngày mùng bảy tháng giêng năm Kỷ Dậu sẽ mở tiệc lớn mừng cuộc đại thắng ở ngay tại Thăng Long.

Chính sử ghi lại khá chính xác chiến công hiển hách phá tan hai mươi vạn quân Thanh của Quang Trung Nguyễn Huệ, duy thiếu có một điều. Ðó là Huệ có thể vào ngay Thăng Long hôm mồng sáu, nhưng quyết định đợi thêm một ngày để khớp với lời hẹn bọn sĩ tốt khi xuất quân tiến công đám quân binh của Tôn Sĩ Nghị.

Ngô Ngọc Du, một nhà thơ sống ở ven đô, kể lại chiến công đó trong bài Long thành Quang phục Kỷ thực:
« ... Hỏa long nhất trận tặc phi mi

Khí thành sang độ tranh đào sanh »

Hai câu cuối, tạm dịch là:

« Lửa rồng một trận tan tành giặc

Bỏ thành, thuyền cướp, trốn cho nhanh »

Ngọc Du chú thích thêm rằng « Quân Tây Sơn tiến công thành Thăng Long, nhân dân chín xã ngoại thành
sôi nổi bện rơm cỏ thành hình rồng, tẩm dầu đốt, đánh trận rồng lửa». Bài thơ kết như sau :

« Ba quân đội ngũ chỉnh tề vào

Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh

Mây tạnh, mù tan, trời lại sáng

Ðầy thành già trẻ mặt hân hoan

Chung vui sát cánh cùng nhau nói :

Cố đô trở lại nước non ta ».

Áo bào đen thuốc súng, Nguyễn Huệ từ cửa Nam cưỡi voi vào, nhìn thấy hàng dân reo hò múa may như vỡ chợ. Huệ chợt hiểu. Ðúng thế, kẻ chiến thắng thực sự là những người dân kia đang cười nói như mở hội, mặc dầu xác người còn đầy ra ở đầu đường cuối phố, và gươm giáo cờ quạt ngả nghiêng khắp nơi. Ðúng vậy. Không có Huệ này thì có Huệ khác. Nhưng nhân dân kia thì chỉ có một.

Dìu thầy bước trên dốc lên trại Bùi Phong, Thức tự nhiên thấy mình nhỏ bé hẳn lại. Cỏ cây trên ngọn Lạp Ðính buổi chớm đông co ro trong cơn gió bấc đến hẹn lại về với nhân gian. Ðằng xa, rặng Giăng Màn trong sương mù ùn lên thành một khối âm u, trông tựa lưng những con voi xám bất động.Sương che lấp những chỏm núi Thiên Nhận, dọa ụp xuống đè những cánh rừng lá rạc chĩa ra như đám nhím xù lông rúc vào bụi. Suốt mười năm nay, Thiếp không lên cơn động kinh nào như thời còn trẻ, nhưng mắt ngày một kém, đi phải lấy gậy dò đường. Từ ngày chiếm Phú Xuân rồi ra Bắc hà, Huệ đã ba lần viết thư cầu Thiếp giúp. Thiếp vẫn tránh, khéo léo chối từ, rồi trả lại tặng vật, không nhận bất cứ thứ gì. Lần cuối, Thức chỉ xin giảm sưu thuế cho dân Nghệ vừa lại mất mùa, dân chết đói xác nằêm đầy đồng. Nhưng nay, dù không nghe Thiếp nói ra miệng, Thức biết là thầy mình không còn có thể tránh né mãi được.

Mở cửa bước vào, Thiếp lớn tiếng gọi :

- Bà ơi ! Thức nó về đây này.

Nhà trống không một ai, nhưng than trong bếp còn hồng. Thức lách tấm liếp bước ra vườn chè. Ðặng-bà đang với tay hái những chiếc lá non, tai giờ ù chẳng nghe thấy gì. Thức chạy ùa lại, run run nắm lấy cánh tay, nước mắt ứa ra. Ðặng- bà sững sờ, tay bíu lấy tay Thức, nghẹn ngào :

- A, con đấy à ! Khốn khổ. Ði đâu mà bây giờ mới về ? Vào nhà, vào mợ pha chè ...

Nâng bát nước chè xanh biếc, Thức đưa tay lên miệng nhấm nháp chất chát đang từ từ chuyển sang vị ngọt. Nhìn Ðặng-bà co ro têm trầu, Thức hỏi tin Mai và đứa con Thức chưa biết mặt. Ðặng-bà chậm rãi :

- Mai có lên Bùi Phong, rồi vào Phú Xuân tìm con. Không được, nó lại ra, cắp con về Thanh Hóa theo mấy
người nữ tu Gia Tô. Cách đây hai năm, nó có ghé chào thầy và mợ, rồi bặt tin…

- Mai hiện ở đâu ?

Ðặng-bà ngần ngừ :

- Mợ không rõ lắm, đâu như ở miệt thượngï nguồn sông Mã.

Ðặng-bà lảng chuyện, hỏi Thức :

- Thế anh trôi nổi đến những đâu, kể lại cho mợ biết với !

Thức nhẩn nha thuật lại bước phiêu lãng năm năm qua, từ việc vật vờ trên biển cho đến lúc giạt vào bờ, gặp Ánh, rồi theo Bá đa Lộc sang Paris. Thiếp hỏi :

- So Huệ và Ánh, ai là kẻ đáng làm Vua ?

Thức ngẫm nghĩ :

- Huệ đánh được xâm lăng nhà Thanh, thì là Huệ đáng. Nếu không, chưa biết được. Về quân sự, Ánh không bằng. Nhưng xem những cải cách mới đây ở Gia Ðịnh, quả Ánh có tầm nhìn rộng rãi hơn người.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #151 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:09:12 pm »

Thiếp gãi cằm, lắc đầu :

- Giá họ đừng đánh nhau, thì tốt. Gia Ðịnh mở mang, thì đất từ Bình Thuận, Phú Yên trở ra Huệ cũng phải lo gầy dựng. Nhưng tiếc thay, họ mở mang gầy dựng là nhắm vào thế thắng quân sự như mục tiêu tối hậu. Ta chỉ sợ khi một trong hai thắng rồi, cả cái công trình gây dựng mở mang cũng sẽ bị ách lại vì không còn mục đích nữa. Nhưng đánh quân Thanh, Huệ chắc thắng và thắng to, thắng nhanh ...

Thiếp bỗng ngưng nói, lẩm bẩm một mình :

- Trời ơi đất hỡi, nhà Lê tuyệt số mất rồi ! Có cứu, giờ cũng muộn... Thôi thì đành !

Những ngày sau đó, trong khi đợi tin chiến trận ở Bắc Hà, hai thầy trò ngồi bàn chuyện. Nghe Thức tường thuật về tư tưởng cách tân bên Pháp, Thiếp bảo :

- Dân vi trọng, quân vi khinh, đó là tư tưởng thầy Mạnh, có chi gọi là mới ? Sách ta cũng bảo ý dân là ý
trời !

Thức đáp :

- ý có, nhưng nó chỉ là ý nên thực tại vu vơ, diễn đạt tùy tiện. Hàng sĩ nương vào cách diễn đạt, tạo ra quyền lực của đẳng cấp mình. Cái mới ở nước Pháp là họ tìm ra cơ chế để thể hiện dân ý. Quan niệm Quốc hội, Hiến Pháp và cơ chế Tam quyền phân lập là những điều mới. Khẳng định mỗi con người, không phân biệt đẳng cấp, đều có những quyền công dân cơ bản đặt ra một nền tảng mới cho cơ sở quyền lực.

Thiếp đưa tay ngăn Thức, chậm rãi :

- Xã hội nào, qui củ nấy. Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia thế nào được.

Thức ngẩng lên :

- Xã hội Pháp hiện là xã hội quân chủ. Họ cũng có Vua như ta, và Vua cũng lại dựa vào thiên mệnh. Nhưng ở nước họ, thiên mệnh đó do tổ chức tăng lữ tôn giáo đảm bảo cho, trong khi đó ở ta thì hàng sĩ làm cái chức phận đó từ thời nhà Hán đến giờ. Hai trăm năm vừa rồi ở Âu-la-ba, tôn giáo lùi dần trước trào lưu tư tưởng đặt con người làm trọng tâm, lấy lý trí làm cơ sở. Cùng một lúc, công thương nghiệp phát triển và tạo ra một lớp người mới - lớp tư bản. Họ có khả năng kinh tế, ủng hộ trào lưu này, và tất nhiên là muốn đổi cái cơ cấu quyền lực cố hữu. Ðó là tiến trình vận động xã hội. Thưa thầy, biết được qui luật tiến trình này, ta hẳn không thể xem qui củ của xã hội ta là điều bất biến. Nếu nó đổi, thì nhiệm vụ của kẻ sĩ là làm sao cho sự thay đổi đó tốt đẹp nhất cho hàng dân. Dân có yên, mới giàu. Dân có giàu, nước mới mạnh. Dân giàu nước mạnh mới sinh lễ, nhạc, nghĩa là mới có văn hóa. Dân có văn hóa, biết mình là ai, mới giữ được gốc gác, không sợ mai một như bọt biển trên cơn sóng mà những thương thuyền từ Âu-la-ba đang xô giạt vào bờ đất Ðại Việt ...

Thiếp để học trò nói, bụng tự nhiên xót xa như kẻ đi chậm bị rơi về phía sau. Lẽ nào cái trật tự cũ đang bắt đầu rồi đây thay đổi ? Thế thì tam tòng tứ đức lộn lạo ư ? Còn cái đạo quân tử, nó sẽ đi về đâu ? Thiếp dằn lòng, biết mình chẳng có thêå mang những luận điểm xưa ra tranh cãi, chỉ quơ cái điếu cày lên châm lửa rít xòng xọc. Trong khói thuốc xanh mơ hồ, vừa thật vừa ảo, Thiếp nhắm mắt không nhìn Thức nữa.

Hôm Thức rời Bùi Phong, chàng nắm tay Ðặng-bà nói :

- Con ra Thanh Hóa tìm Mai và cháu !

Hốt hoảng, Ðặng-bà líu nghíu :

- Không được, không được !

Thức ngạc nhiên không biết vì sao, lòng chợt ngại rằng Mai đã có chồng, gặng hỏi. Ðặng-bà cuối cùng vừa khóc vừa nói :

- Mai nó ở trong trại hủi.

Cổ nghẹn lại, mắt hoa lên một nghìn con đom đóm bảy màu, Thức ngã vật xuống đất như một con trâu vừa bị búa tạ bổ vào đầu, vết sẹo trên trán từng hồi giựt lên như sắp lại toác ra để rồi không bao giờ liền lại nữa.

Dặn dò Ngô thì Nhậm về việc cầu hòa và bang giao với nhà Thanh xong, Quang Trung giao tướng ấn cho Ngô văn Sở ở lại Bắc Hà, rồi cấp tốc kéo quân về Phú Xuân hôm mười chín tháng giêng, chỉ ở lại Thăng Long đúng bảy ngày. Bấy giờ, Phạm văn Tham ở Gia Ðịnh đã vào thế cùng lực kiệt, đành tự đóng gông xin hàng với Ánh. Quân Ánh cũng nhân thời cơ Huệ bận mặt Bắc tiến chiếm Trấn Biên và trực tiếp uy hiếp Bình Thuận.

Tuy thế, ngày khải hoàn ở Phú Xuân vẫn được tổ chức long trọng. Ðứng trên lưng voi, Huệ nhìn tứ phía, ngửng mặt cười, tay vẫy đám quân dân chen chúc dọc bờ sông Hương, miệng hò lên mỗi khi ngơi tiếng chiêng tiếng trống.

Ngay hôm sau, toàn thể các quan văn võ vào triều nghị họp để chia công cắt việc. Huệ sai Trần Quang Diệu làm trấn thủ Nghệ An, một mặt canh chừng vương quốc Ai Lao đang bắt tay với hoàng tôn Lê Duy Chi vẫn còn mộ quân mưu khôi phục, một mặt làm hậu thuẫn cho Bắc hà trù bị trường hợp cầu hòa với nhà Thanh không mang đến kết quả tốt đẹp. Dựa theo ý Nguyễn Thiếp và Ngô thì Nhậm, Huệ tổ chức lại hành chính theo kiểu nhà Chu, nhà Hán, cắt đất dành cho các con, lấy quan võ phong làm Trấn thủ, quan văn phụ tá làm Hiệp Trấn. Thiên tai, nạn đói lại hoành hành. Huệ ra lệnh miễn thuế ruộng, và xá cho thuế còn thiếu ở bốn trấn. Tháng ba, Huệ xuống chiếu cho khắc in sách Tứ Thư, Ngũ Kinh và các bộ sử để lưu hành trong dân chúng. Tháng năm, Huệ lại ban chiếu « khuyến nông » và « lập học ».
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #152 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:11:18 pm »

Chiếu « khuyến nông » kêu gọi dân phiêu tán trở về làng mạc, cấp thiết khẩn hoang, nhằm khôi phục sản xuất nông nghiệp trên những vùng đất bị bo phí. Huệ cấp tín bài « Thiên hạ đại tín », bắt làm lại sổ đinh, sổ điền hòng quản lý chặt chẽ nhân đinh. Thuế má cũng đơn giản đi nhiều. Ruộng công hay tư đều phải nộp thuế theo ba hạng, bỏ hết phần phụ thu, chỉ giữ lại tiền thập vật, khoán khố và cước mễ. Về nhân đinh cũng vậy, bãi hẳn thuế điệu, chỉ giữ thuế dung.

Chiếu « lập học » do Thức và Tự đề ra, gặp rất nhiều đối kháng của quan lại chẳng những ở Phú Xuân mà còn ở khắp các trấn. Lúc bấy giờ, Thức đã hoàn chỉnh cách phiên âm tiếng ta bằng mẫu tự La-tinh và gọi là chữ « Quốc ngữ ». Như vậy, có chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ để chọn cho việc học.Thức tâu :

- Chữ viết làm sao cho giản tiện, hàng dân học cho dễ dàng, nhanh chóng, tất nghĩa lý được ban ra vừa rộng vừa xa. Thần xưa đã bỏ chữ Hán, dạy học dạy bằng chữ Nôm, ý là phân biệt ta hẳn ra với nước Tầu phương Bắc, giữ lấy tinh thần độc lập. Nhưng thật ra, chữ Nôm phức tạp, phần hình tượng của chữ Hán vẫn có, lại đèo phần âm vận đặc thù, nên muốn học cho nhanh, truyền cho rộng vẫn là chuyện khó khăn. Chữ Quốc ngữ đơn giản, tiện lợi hơn, hẳn là nên chọn.

Trong triều, Bùi Ðắc Tuyên chống lại, đề nghị giữ chữ Hán. Tuyên khấu đầu thưa :

- Xưa nay, từ Ðàng Trong ra Ðàng Ngoài, phép tắc thi cử học hành mấy trăm năm nay vẫn vậy. Tân triều giữ lệ cũ, không mắc tiếng « nôm na », lại chẳng dấy vào điều thị phi là chạy theo Tây dương và bọn tà
đạo Gia Tô.

Trần Danh Kỷ không đồng lòng với Tuyên, tâu Vua nên đổi sang dùng chữ Nôm. Kỷ nói :


- Từ thời Hàn Thuyên, chữ Nôm đã có, nhưng cái tinh thần bảo thủ đời Trần đời Lê thời trước còn nhiều nên không đổi được, vẫn lấy chữ Hán làm mẫu mực. Cứ mỗi lần đuổi được giặc Nguyên giặc Minh, những triều đại trước đây, một khi dành được độc lập rồi đều muốn tránh việc phải tiếp tục binh đao. Chứng tỏ rằng nước ta có lòng thần phục để hòa hoãn, các vị Tiên Vương đều triều cống rồi ban hành luật lệ giống Trung Quốc, bắt chước sự học cũng như về tổ chức chính trị. Lấy thí dụ luật Hồng Ðức chẳng hạn.

Nhìn Huệ, Kỷ khích :

- Nay Hoàng thượng đuổi hai mươi vạn quân Thanh như một đàn ruồi, thế ta khác hẳn, đâu có thể nào bị ràng buộc o ép như xưa.

Quay sang Trọng Thức, Kỷ tiếp, giọng bực bội :

- Còn về chữ Quốc ngữ, tôi đồng lòng với Thái sư, và xin thêm rằng sự học cho nhanh, hơn kém thế nào chưa biết. Vả lại, giả thử như ai cũng biết đọc biết viếât, lãng chuyện làm ăn, lời ra tiếng vào thì chỉ « lắm thầy thối ma », lẽ lợi hại cũng không phải là không đáng bàn.

Câu cuối Kỷ nói làm Tự nhăn mặt. Ngước lên nhìn Huệ, Tự chậm rãi :

- Kính tâu Hoàng thượng, thần trộm nghĩ nước muốn mạnh, dân phải hiểu biết. Xưa nay, dân ngu mà nước mạnh là điều chưa có. Cái học càng quảng bá, càng hay, chữ nào tiện thì dùng. Việc chính là quảng bá gì ? Dĩ nhiên, có đạo nghĩa, rồi đến những điều thực dụng, nhằm canh cải nông nghiệp và công thương nghiệp.

Tự khôn khéo, nói tiếp :

- Nay thần cúi đầu xin Hoàng thượng xét việc chạy theo Tây dương và đạo Gia Tô, mặc dầu là chọn thứ chữ nào thần vẫn còn lưỡng lự. Giả thử ta chọn chữ Hán và cùng cách nghĩ như Thái sư, vậy là ta chạy theo Tầu chăng ? Nếu thế, thần đồng ý với Quan Trung thư Danh Kỷ. Lại xin thêm vào : theo đúng như lệnh Hoàng thượng, thần đã gặp thầy Labartette và De la Bissachère bàn về việc tự do truyền đạo, và nhất là qua sự trung gian của họ, nước ta sẽ giao thương với Pháp quốc và các nước Bồ đào Nha, Ypha Nho, Hòa Lan và Anh quốc. Như vậy, thế là ta đã chính thức giao thiệp với Tây dương và các giáo sĩ đạo Gia tô, đâu có gì mà gọi là điều thị phi nữa. Vậy tóm lại, sự chọn lựa thì cứ chữ nào tiện là ta dùng. Tiện, dễ, tất học nhanh. Muốn biết không phải là việc khó. Cứ lấy ba đứa trẻ cùng lứa, dậy mỗi đứa một thứ chữ rồi cho thi với nhau là xong.

Huệ giơ tay ngắt lời Tự, thủng thẳng :

- Phải, cứ cho thi thì biết ngay ! Nhưng việc học, ta muốn rộng rãi, đến tổng đến xã, chỗ nào cũng phải lập ra trường. Chọn chữ, ta sẽ hỏi thêm đám bề tôi ở mọi nơi đã rồi mới định được.

Ðắc thắng, Tự nháy mắt với Thức, không để ý cặp mắt đục ngầu của Tuyên nhìn trộm mình hằn học. Tan
triều, Huệ giữ Thức và Tự lại, bảo :

- Việc lập trường, ta bắt làm ngay. Hiện nay giáo thụ nào mấy ai biết Quốc ngữ ? Lại sách vở đã chuyển ra Quốc ngữ đâu mà lấy để học ? Về việc chọn chữ, ta sẽ hỏi ý La Sơn Phu tử, khiến không ai nói gì nữa. Nhưng thi, ta cứ chọn ba đứa trẻ bắt học cho thi với nhau để mọi người cùng biết, sau này không còn dị nghị. Nhưng hai thầy phải sửa soạn, cho chép lại Tứ Thư, Ngũ Kinh bằng Quốc ngữ và tìm ra người dạy học. Chắc cũng năm bảy năm nữa mới chuyển đổi được !

Quay sang Tự, Huệ tiếp :

- Còn học cái gì, cũng vậy. Thầy và Thức lo bổ túc kinh nghĩa bằng các thứ sách về kiến thức thực dụng, và cấm ngặt sách bói toán, mê tín, đồng bóng chỉ rặt làm hư con người.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #153 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:12:17 pm »

Ngọc Hân được Huệ giao cho việc tìm ba đứa trẻ bắt học ba thứ chữ rồi thi với nhau. Nàng dò hỏi mãi mới kiếm được một gia đình sinh ba, hai trai một gái, nay đều lên bảy tuổi. Tư chất chúng gần như nhau, song Danh Kỷ và Bùi Ðắc Tuyên dành chọn hai đứa trai, để cho Thức đứa con gái. Ngọc Hân hỏi cần dạy bao lâu để những đứa trẻ đó có thể chép lại một bài văn, hay dăm câu thơ mà nàng sẽ giữ kín. Tuyên đòi tám tháng, Kỷ đòi cũng tám tháng, nhưng Thức chỉ xin đúng ba tuần trăng. Ðến ngày thi, Tuyên và Kỷ đều vào chầu nhưng không mang hai đứa trai theo. Hỏi ra, Tuyên bắt một đứa học ngày học đêm, đánh đập đến độï nó hóa câm. Về phần Kỷ, Kỷ chịu thua, nhưng giao hẹn là nếu đứa bé gái không chép được mấy câu thơ thì coi như là Thức khoác lác, không tiếp tục thi nữa.

Hân dâng lên bốn câu thơ mình làm ca tụng Huệ. Huệ đưa lại, bảo đọc. Giọng Hân thánh thót :

« Nghe trước có đấng vương Thang Võ

công nghiệp nhiều, tuổi thọ càng cao

Mà nay áo vải cờ đào

giúp dân dựng nước xiết bao công trình... »

Ðứa bé gái hí hoáy chép bằng chiếc bút lông ngỗng chấm mực, xong lại hai tay đưa lên cho Ngọc Hân. Khốn nỗi không đọc được, Hân lại phải trao lại cho Thức đọc. Danh Kỷ lắc đầu :

- Không ! Nhỡ thầy Thức nghe, nhớ mà đọc lại thì sao ?

Huệ cười, giọng mỉa mai khen :

- Quan Trung Thư tinh tường thật. Thầy Thức ra ngoài ngay, đợi gọi mới được vào.

Ðợi Thức ra xong, Huệ ra lệnh :

- Quan Trung Thư đọc cái gì thì đọc đi, Thức không ở đây, không nhớ được gì hết !

Kỷ ân hận, biết mình quá lố lăng, nhưng đặng chẳng đừng phải nói:

- Ðấy là thần nói vui, đâu có ý gì. Nhưng Hoàng thượng đã dậy, xin tuân lời.

Nói rồi, Kỷ đọc :

« Thiên địa phong trần

Hồng nhan đa truân

Du du bỉ thương hề thùy tạo nhân »

Ðứa bé gái lại hý hoáy chép. Ngọc Hân trong bụng bực mình, nhưng vẫn nhỏ nhẹ nói:

- Ðó là thơ là của Ðặng Trần Côn. Ðoàn phu nhân đã dịch nôm là :

« Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Vì đâu gây dựng cho nên nỗi này »

Bé, chép đi !

Ðứa bé lại cắm cúi viết. Thức được gọi vào, và đọc rành rọt hai đoạn thơ. Mọi người đều trầm trồ. Bỗng
Thức nói, giọng có chút châm biếm :

- Dịch nôm thế, Quan Trung Thư thấy thế nào ?

Kỷ ngượng ngập, cúi nhìn xuống, không nói gì. Thức cười, tiếp :

- Dịch thoát lắm, nhưng có một điều là âm vậân không phải như nguyên bản Hán văn. Ðể mua vui hầu
Hoàng thượng và nhị vị Hoàng hậu cũng như chư quan, tôi xin dịch lại thế này :

« Ðất trời gió bụi

Má hồng nổi trôi

Nỗi đắng cay ai chuốc phận người »

Vừa dứt lời, Thức lại liên tưởng đến ngày đầu gặp Mai ở Khiêm Các đất Kinh Kỳ cách đây đã gần mười năm, khi nàng luận về thơ dịch và ngâm bản dịch « Phong kiều dạ bạc » của nàng. Lòng buồn bã, chàng cúi xuống không để ý đến tiếng khen của Ngọc Hân và tiếng vỗ tay của Huệ. Chỉ một mình Phạm hoàng hậu là khẽ trề môi, lầm bầm chửi trong bụng :

- Cha chúng nó cái bọn Ðàng Ngoài, văn mới chẳng chữ !

Nhìn Ngọc Hân tươi cười, Phạm-thị thầm rủa: « Con mẹ mi, năm nào cũng đẻ, như heo nái ...» rồi đứng lên theo chân Bùi Ðắc Tuyên ra. Ðến ngoài cửa điện, Phạm-thị chợt dừng bước hỏi :

- Cậu ơi ! Việc phong Thái tử và Vương tước tới đâu rồi ?

Tuyên nhăn mặt, nói nhỏ :

- Chưa định gì ! Nhưng đám quan võ Tây Sơn đã chịu làm hậu thuẫn để xin với Hoàng thượng. Chắc nội nhật năm nay là thành. Trần Quang Diệu cũng đồng tình, nay chỉ đợi tin Ngô Văn Sở.

Huệ truyền cho Phạm-thị hôm sau đặt tiệc đãi món « óc nghé » cho bọn quan văn võ đến từ Ðàng Ngoài,
trong đó có Phan Huy Ích đích thân mang thư của Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân cho Huệ. Món « óc nghé » là một món chỉ Phạm-thị làm mới mang đủ hết cái hương vị đặc biệt của vùng An Cựu phủ Qui Nhơn. Nghé không được quá non, quá già, phải đúng năm tháng, và là nghé đực. Óc lấy ra làm thế nào cho nguyên lành, được ướp bằng những loại rau thơm ép thành nước, trộn với sả và những gia vị mà Phạm-thị nhất định không chỉ dẫn cho một ai biết. Ngày trước, Phạm-gia đãi Huệ món này sau chiến thắng Phú Yên cách đây một giáp. Huệ khen ngon thì Phạm-lão gọi con gái ra, bảo : « ... nó làm đấy. Tướng quân thích, lão cho nó về hầu, muốn ăn lúc nào cũng được ! » Huệ gật đầu chịu. Sau này thoát được bàn tay Nguyễn Nhạc ở Qui Nhơn, Phạm-thị về Phú Xuân nhưng chỉ gặp Huệ mỗi lần Huệ thèm món « óc nghé ». Có lần trộn gia vị, Phạm-thị bỏ cả các chất khích dương, nhưng ăn xong Huệ lại hấp tấp bỏ về ngay, chuyện chăn gối ăn nằm với Phạm-thị từ ba năm nay không có. Trong khi đó, Ngọc Hân đẻ cứ ba năm đôi, nay lại có mang, nhìn đã thấy bụng. Phạm-thị than thân trách phận, rồi đem dạ căm thù chẳng những chỉ Ngọc Hân mà còn tất cả những ai đến từ Ðàng Ngoài. Và Ðàng Ngoài đối với nàng là kể từ Quảng Ngãi trở ra, vì đó là nơi chôn rau cắt rốn của họ Bùi bên ngoại nhà nàng.

Trong bữa tiệc ở Tây cung, Huệ gọi Ngọc Hân đi theo, cho vời cả Danh Kỷ và Bùi Ðắc Tuyên, cùng với bọn Dũng, Tự, Thức và Phan Huy Ích. Huệ cầm bức thư của Nguyễn Thiếp, nốc một chén rượu, nói lớn:

- Tốt thay ! La Sơn phu tử đã nhận làm đề điệu kỳ thi tháng tám năm nay ở Nghệ An. Lần này thi, thi bằng chữ Nôm. Ngoài ra, ta phong Phu tử làm Viện trưởng viện Sùng Chính, phải huy động người dịch ngay ra Nôm các sách Luận ngữ, Ðại học, Trung dung...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #154 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:13:04 pm »

Nheo mắt nhìn Kỷ, Huệ gật gù :

- Chữ Nôm, ấy là ý quan Trung thư, mà cũng là ý ta và ý Phu tử. Thái sư thấy có gì phải bàn lại không ?
Tuyên cúi mặt lắc đầu. Huệ nhìn mái tóc bạc của Tuyên, lòng bỗng thương một ông già đã thi sáu lần cho đến năm sáu mươi tuổi mà vẫn không đỗ, suốt đời bực dọc về chuyện cử nghiệp dở dang. Gắp vào bát
Tuyên một miếng óc rán cháy xém, Huệ thân mật :

- Tháng nào Thái sư được thất thập, vào cái lớp người cổ lai hy nhỉ ? Dịp đó, để ta làm lễ thượng thọ cho, đừng từ chối phụ lòng ta ...

Huệ vui, lại uống rượu ừng ực, đùa bắt Ngọc Hân phải nếm « óc nghé ». Phạm-thị cười tươi như hoa, xẻ vào bát Hân, miệng nói :

- Nào, mời Bắc cung Hoàng hậu, xem bọn người man rợ chúng tôi ăn uống làm sao !

Hân không biết Phạm-thị chợt nghĩ đến một miếng óc nghé có thêm chút thuốc độc của bộ lạc Sa Huỳnh, uống vào không chết ngay mà cứ chết từ từ, chết không cứu được. Nhưng Phạm-thị cũng chẳng ngờ là Hân ngọt lời vâng dạ, nhưng trong bụng lại thầm nhiếc : « Bắc với Tây, cung với điện. Ta là công chúa nhà Lê tên Ngọc Hân, trả cho bọn mọi rợ bay cái ngôi Hoàng hậu ! »

Huệ tự mình chống sào đẩy thuyền ra, rồi lấy mái chèo chọc xuống nước, bẩy lên, chân đạp vào chiếc then gỗ ngang, thái dương hằn lên những gân máu chạy chéo xuống tai, phập phồng theo nhịp tay đều đặn. Nắng đã lên ngang đầu những ngọn cây, nhuộm một màu vàng tươi trên những mái dạ thấp thoáng nằm an bình tựa những thớt voi còn ngủ. Thôn Vĩ xanh mướt như một viên ngọc nằm ngoan ngoãn trên lồng ngực phập phồng một nàng ca kỹ vừa quá đi cái tuổi chỉ mơ mộng. Tuổi của thành Phú Xuân, hết mơ mộng sau những chiến thắng nhanh chóng và hiển hách, đã bắt đầu biết tính toán, mưu đồ, biết ngó trước nhìn sau, và biết nghĩ đến những điều xa xôi qua từng bước cụ thể, từng liên minh quyền lợi, gốc gác. Phần Huệ, Huệ không chỉ còn là một ông tướng bách chiến bách thắng. Huệ nay là Vua. Là Quang Trung Hoàng Ðế với mọi cái rối rắm của quyền lực nội bộ. Lắm lúc, Huệ bực mình, dọa rằng sẽ đòi Lưỡng Quảng bằng đường quân sự, gây sự can qua với bên ngoài để yên bên trong. Vả lại, Huệ nhắc, miền Nam vẫn còn dưới tay bọn giặc Ánh. Những dịp ấy, Huệ gắt với bọn bề tôi : « Thế mà các ông chưa dẹp xong giặc, đã chỉ nghĩ đến tranh giành với nhau ư ! ».

Hôn nhân gán ghép giữa đám quân tướng Qui Nhơn bơ vơ đi tìm một ý thức hệ và bọn sĩ phu vẫn chênh vênh trên bờ vực. Sĩ phu dưới trướngï, chỉ trừ Kỷ là người Ðàng Trong, đều gốc từ Bắc hà. Ngay giữa họ với nhau, cách nhìn chung cũng đòi hỏi nhiều nhượng bộ từ mọi phía. Huệ bảo với Ngọc Hân :

- Về văn thần, Nhậm và Thiếp giúp ta giữ bờ cõi, dựng nên nghiệp đế. Chuyện mười, mười lăm năm sau giữ được nghiệp là nhờ tay Nguyễn Huy Tự. Còn Ðế nghiệp Tây Sơn từ đó có thêm một vài trăm năm nữa hay không, cái đó tùy vào trí tuệ của Trọng Thức.

Ngọc Hân ngước lên, mắt dò hỏi. Huệ trầm giọng:

- Thức đề ra chế độ gọi là Quân Chủ Lập Hiến. Dân ý phải làm thế nào phản ánh trong Hiến Pháp, và Vua dẫu có, nhưng chỉ có để thể hiện dân ý, có như biểu tượng một quốc gia. Một khi thiên hạ yên ổn, thể chế đó có khả năng giữ được rường mối thái bình cho hàng dân. Có Hiến Pháp là quan trọng, rồi có tinh thần thể hiện Hiến Pháp, tạo điều kiện cơ bản để thực sự tạo ra một kỷ nguyên mới. Vua trở nên thứ yếu. Một kẻ quá nhiều cá tính, như ta chẳng hạn, không phải là một vị Vua tốt trong kỷ nguyên đó. Vì thế, ta mới chọn Quang Toản làm thái tử. Nó kém nhất trong đám anh em...

Hân nghe Huệ nói, thấy bóng cha mình là Lê Hiển Tông lại chập chờn đâu đây, buồn bã thốt lên :

- Thế thì như Phụ Vương tôi à ? Là Vua nhưng suốt đời người chỉ mong thực sự thành Vua. Nhớ đến nhà Trịnh, Hân rơi nước mắt, tiếp - Vua mà bị ức hiếp thì làm Vua làm gì ?

Nhìn Hân, Huệ chậm rãi :

- Ở kỷ nguyên mới thì khác, làm gì có chuyện đó. ý dân nào ức hiếp ai ? Vua tốt là vì Vua không tùy tiện làm gì thì làm.

Hân xin phép lui ra, cắn răng nghĩ đến con mình là Cương, thầm nhủ : «... không, không thế ! Nhà Lê dẫu chỉ có nửa dòng máu, con vẫn sẽ là một ông Vua, như đức Thái Tổ. Không cần Chúa, và cái Hiến pháp gì đó... »

Huệ ngừng tay bơi, nhớ lại lời mình nói với Ngọc Hân, bất chợt hiểu rằng muốn thành một vị Vua tốt - một minh quân - thì phải biết làm gì để định ra cái giới hạn giữa uy lực và quyền lợi của mỗi người dân. Mặc cho con thuyền lênh đênh không định hướng, Huệ ngả mình xuống nằm, ngửa mặt nhìn lên trời xanh lồng lộng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #155 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:13:51 pm »

Hồi tưởng lại hai năm vừa qua, Huệ nghiêm khắc đánh giá lại chính bản thân mình và những quyết định đã làm. Cắt đất phong cho Quang Thùy, Quang Bài ? Danh thế nhưng thực là để thưởng công cho Trấn thủ Bắc thành và Trấn thủ Thanh Hóa. Không sao. Chính quyền trung ương mạnh, không thể có vấn đề. Ðuổi quân Ánh khỏi Phan Rí ? Chuyện đó phải làm để lấy lại lòng tin cho đội quân Nhạc chỉ huy. Sai Diệu đánh đến Ai Lao ? Ðó là phá tan ý đồ của em Lê chiêu Thống là Duy Chi cầm quân Cần Vương ở Cao Bằng. Thế là vừa dẹp cho sạch mầm mống, vừa nhân tiện bắt voi, cướp vàng bạc, ngọc ngà mang về. Giao thiệp với Tây dương ? Chưa đến đâu ! Việc Nhạc đánh phá Hội an khi xưa cũng như lần tàn sát người Tầu ở Gia Ðịnh vẫn còn làm cho họ ngần ngại. Ðến nay, chỉ có dăm ba thuyền Bồ đào Nha vét hàng ở Quảng Châu mang đến bán mà thôi ! Mở cửa thông thương ? Phía biên giới Bắc hà, chợ búa đã mở lại tại bốn nơi, hàng hóa lưu thông. Chính sách khuyến nông ? May được mùa, dân khí có hưng lên, nhưng nạn đói năm nào cũng đe dọa vì lụt lội ! Có lẽ phải thẩm xét việc thủy lợi cho vùng đồng bằng sông Nhị. Chính sách lập học ? Việc học là lâu dài, nhưng Sùng Chính viện đã dịch được bộ Tiểu học và Tứ thư gồm ba mươi hai tập ra chữ Nôm, và nay đang tiếp tục dịch Kinh Thi, Kinh Thư và Kinh Dịch. Ðồng thời, Trọng Thức cũng chuyển tất cả ra chữ Quốc ngữ, mặc dầu đám nho sĩ vẫn ngấm ngầm tẩy chay.

Trong triều, nội bộ Phú Xuân vẫn chưa vào thể thống nhất. Văn quan người Ðàng Trong quá ít, trong khi đó thì ngược lại, võ quan quá đông. Gia đình họ Phạm, đứng đầu là Phạm công Hưng, liên minh chặt chẽ với Bùi Ðắc Tuyên. Trần Quang Diệu có người vợ họ Bùi, tên thị-Xuân, hẳn là hậu thuẫn cho hai nhà Phạm - Bùi, đang dần dần kéo về phía mình những hổ tướng như Lê Trung, Nguyễn văn Hưng.

Chính dưới áp lực của đám võ biền này mà Huệ đã lập Quang Toản mới chín tuổi lên làm thái tử vào cuối năm Canh Tuất. Việc này, Trần Danh Kỷ và Vũ văn Dũng đã can gián hết lời. Sau lễ tấn phong, Ngọc Hân có vẻ giận, xin được lui về Bắc cung không dính dáng đến việc thảo chiếu biểu như xưa. Về phần Tự và Thức, họ dẫu khôn ngoan tránh né, nhưng vẫn là hai cái gai dưới con mắt Bùi Ðắc Tuyên, lúc nào cũng bị coi như người « nước ngoài », và có dịp là dè bỉu ra mặt, chẳng nể nang gì.

Ngoài cõi, việc bang giao với nhà Thanh thành công qua sự khôn khéo của Ngô Thì Nhậm. Vấn đề phải giải
quyết là miền Nam còn dưới tay Nguyễn Ánh. Không phải là tay vừa, Ánh tổ chức lại Gia Ðịnh một cách chặt chẽ, mộ dân lập các nậu, đồn điền, mở xưởng đúc súng, đóng tầu, xây lại thành Gia Ðịnh, thi hành lệnh khuyến nông và tập hợp được đám xử sĩ Gia Ðịnh thành một khối đoàn kết. Dùng chính sách « tự thực kỳ lực » bắt lính lập đồn điền cày cấy, rồi lại mang kỹ thuật quân sự Tây dương do Bá đa Lộc và đám đánh thuê du nhập vào, Ánh tạo được một lực lượng khá hùng mạnh, nhất là đội thủy binh rõ ràng có khả năng áp đảo được Tây Sơn. Ðể đối phó, Huệ cho chiêu dụ bọn thủ lãnh cướp biểàn Tề Ngôi, tục gọi là Tầu Ô, phong làm Thống binh. Ra công làm những « Ðại hiệu thuyền » chở được voi, trọng tải lên đến một trăm năm mươi tấn, rồi loại thuyền « Ðịch quốc » có trang bị đại pháo, Huệ nhằm khắc phục yếu kém của mình trong một trong một thời gian ngắn. Ðến tháng hai năm Nhâm Tý, Huệ chuẩn bị được hai mươi vạn quân, sẵn sàng vào đánh Gia Dịnh. Lực lượng Ánh lúc đó quân bộ có mười một vạn và thủy binh có hai vạn sáu nghìn người. Tháng trước, Ánh đánh trước, bất ngờ mang một trăm hai mươi tám chiến thuyền đột kích đốt thủy trại Thị Nại, thu vũ khí, lương thực rồi rút về. Nhưng lần này Huệ sợ. Sợ chẳng phải là vì lực lượng của Ánh mà là vì Nhạc viết thư báo rằng quân dân hai phủ Quảng Ngãi và Qui Nhơn không dám phản công, thấy giặc là bỏ trốn.

Huệ ngồi dậy, tay với lấy mái chèo, khuấy vòng cho thuyền quay mũi, nhắm bờ chèo vào. Quân dân hai phủ sợ giặc ? Không có lý, dân Qui Nhơn xưa nay vốn là dân thượng võ, chuyện sợ chắc là không ! Hay họ mất tin tưởng vào Nhạc. Có thể. Nhưng đất là đất Ðại Việt, đâu phải chỉ là đất của Nhạc. Hay họ ngỡ là Nhạc thua, Huệ sẽ không cứu. Ðúng, chắc thế. Và vì vậy họ mất tinh thần. Nếu Huệ để mặc cho Nhạc chết, thì việc gì đến họ mà họ phải liều mình.

Ngẫm nghĩ, Huệ càng thấy thấm thía hậu quả của việc nồi da nấu thịt hơn ba năm trước. Tướng Tây Sơn có kẻ đi hàng Nguyễn Ánh, có người xin lui về cày ruộng. Ðông Ðịnh Vương Nguyễn Lữ, Tiền kích Du tướng quân Võ Toàn Nhật và cả Chúa Út chắc cũng đều chết oan vì vụ tương tàn nhà Tây Sơn. Huệ cắn răng, chèo mỗi lúc một nhanh, môi mím chặt, mặt bạnh ra, những sợi tóc quăn cứng ánh lên như giây thép dưới ánh mặt trời.

Khi đã quyết những việc phải làm, Huệ như mũi tên bật tới phía trước, có phương có hướng chứ không để như con thuyền lênh đênh không lèo lái trên dòng sông Hương mới cách đây chừng dăm khắc.

Ðợi đến khi Ngọc Hân đọc xong, Huệ nhìn Thức và Tự, giọng diễu cợt :

- Thế nào ? Các vị thấy thế được chưa ?

Tự vui miệng :

- Bắc cung Hoàng hậu chữ nghĩa tôi luyện đã công phu lắm, thần không thêm được gì.

Ngọc Hân cười :

- Không phải tôi viết. Chính tay hoàng thượng đã thảo ra hịch này.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #156 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:14:37 pm »

Mới năm trước, Huệ viết lách còn như người ta vật lộn, sáng sáng vẫn ngồi học chữ, đọc những bản dịch Nôm, sách Tiểu Học và Tứ Thư do Nguyễn Thiếp đưa vào. Thức và Tự đều ngỡ ngàng, chưa biết nói gì thì Huệ cất tiếng :

- Các thầy xem lại, đoạn ta viết: ...Như tên Chủng đê hèn kia đã phải lẩn trốn sang những nước tầm thường phương Tây, thì có gì là đáng kể. Còn như đám dân ươn hèn Gia Ðịnh, nay dám ngóc đầu dậy mộ binh, tại sao các người sợ hãi chúng như vậy, tại sao tinh thần các người khiếp đảm đến thế ?

Thức hắng giọng:

- Mắng thế, nhưng sau lại khích lên, cũng được! Duy có đoạn sau - Thức đọc - «...Trẫm sẽ đập tan bọn giặc cựu Nguyễn dễ dàng như bẻ một cành củi khô, đập một cây gỗ mục...Như thế để ai nấy hiểu rõ là trẫm cùng Hoàng đại huynh là hai anh em ruột, là cùng chung một dòng máu. Trẫm không bao giờ quên điều đó »- liệu có nên chăng? Nhắc lại chuyện tương tàn khi xưa lại khơi ra ân oán, có được lợi gì ?

Huệ cúi đầu ngẩm nghĩ, rồi chặc lưỡi, thở dài :

- Ta chỉ muốn cho quân dân hai phủ rõ rằng nhà Tây Sơn là một. Bất trung với Nhạc cũng là bất trung với ta. Ðiều làm cho ta lo hơn cả là lần đầu quân dân Qui Nhơn hèn nhát bỏ trốn... Sự khiếp đảm ấy phải chăng là dấu hiệu đầu tiên của tinh thần suy nhược ? Vì thế ta không thể chần chừ được. Dẫu mùa này gió chướng không thuận lợi cho đường tiến quân của thủy binh, ta vẫn phải đánh ngay.

Huệ ngưng nói, nhìn vào khoảng không, rồi nghiến răng :

- Cũng vì sợ quân dân hoang mang, ta thêm «...các người chớ nhẹ dạ nghe những lời phao đồn về bọn người Tây dương. Tài giỏi gì bọn chúng ? Mắt chúng là mắt rắn xanh, chúng chỉ là những xác chết trôi từ biển Bắc về đây, các người nên hiểu như thế ! Những tầu bằng đồng, những khinh khí cầu của chúng thì có gì kỳ lạ mà phải đệ trình lên trẫm biết ? ...»

Thức nhìn Huệ, ngập ngừng:

- Về khinh khí cầu, để một tháng thì thần cũng chế tạo ra được. Nhưng đúng là tầu bằng đồng của chúng có lợi hại, và nhất là thuốc súng Tây dương bắn mạnh và có tầm xa hơn của ta. Hoàng thượng đợi thêm dăm tháng cho đến mùa thuận gió, chỉnh đốn lại thủy binh vừa bị thiệt hại ở Thị Nại, dùng thời giờ đó tìm cách chế thuốc súng tốt hơn, thế có phải là diệu sách không ?

Mắt cau lại, Huệ nắm thành ghế bóp như muốn nghiến vụn ra, quay hỏi Tự :

- Thầy nghĩ sao ? Thầy đã từng chạm trán với chúng ở Gia Ðịnh, nói cho ta nghe.

Tự đáp, giọng trầm tĩnh :

- Thủy quân của chúng mạnh, nhưng bộ binh không phải là đối thủ của ta. Duy có thành Gia Ðịnh, bề ngoài hình thể theo bộ vị bát quái, nhưng ở trong chúng phòng ngự theo cách Tây dương, chưa biết đánh phá có nhanh được không ? Nhưng giả thử ta vây để tuyệt lương, thì chỉ ba bốn tháng cũng lấy được Gia Ðịnh. Ðám đánh thuê Tây dương nay bỏ đi khá nhiều, chỉ còn Bá Ða Lộc và dăm tên, không đáng kể. Ðánh lần này, Hoàng thượng phải như đánh rắn, đánh cho dập đầu. Thần thiển nghĩ, quân bộ ta chia làm hai đạo, một từ Bình Thuận xuống, và mượn đường Chân Lạp đi vào biên giới, đạo thứ hai đánh thốc lên, hai mũi kìm tiến vào vây Gia Ðịnh thì chỉ sáu bẩy tháng là bình định được...

Huệ mừng rỡ reo :

- Ðúng như lời Ngô thì Nhậm, văn và võ là một. Thầy chuyên cầm bút mà nghĩ hệt như ta là kẻ chỉ biết cầm gươm. Vì quân bộ là chính nên xuất thủy binh mùa gió chướng là nhằm tạo bất ngờ, giặc không tính đến nên ta mới có cơ thắng...

Ra lệnh truyền hịch đến quân dân hai phủ Qui Nhơn và Quảng Ngãi, Huệ chỉ cho Thức chiếc kỷ bên cạnh bắt ngồi. Huệ nhỏ nhẹ :

- Thầy Thức, xưa thầy xin dùng Quốc ngữ, nay thầy đề nghị đợi đến gió mùa mới xuất quân. Cả hai sách ta đều bác đi, thầy có oán ta không ?

- ...

- Hai tháng nữa, hết gió chướng nhưng lại đúng gió ngược, ta để thủy binh đi trước rồi mới cho bộ binh xuất trận. Từ nay đến lúc đó, ta sẽ nghe thầy, và lại nghe một việc quan trọng nhất. Thầy từng bảo ta, đừng đợi đến lúc làm Vua rồi mới hỏi làm Vua để làm gì ? Thầy còn nhớ không ?

Thức gật đầu. Huệ lại cười, tiếp :

- Rồi khi ta hỏi làm sao để biết cái phải làm gì thì thầy đáp «...phải sống một cuộc sống bình thường, từ đó mới thấu hiểu được niềm hạnh phúc của những kẻ bình thường ». Bây giờ ta muốn thử một cuộc sống bình thường, ta phải làm thế nào ?

Thức nhìn lên , ngẫm nghĩ rồi đáp :

- Người ta quí nhất là tính mạng. Kẻ bình thường sợ đao binh, nhưng Hoàng thượng thì lại thừa biết chuyện sống chết với binh đao rồi. Kẻ bình thường còn sợ mất mạng vì đói. Chắc Hoàng thượng không biết thế nào là sợ chết đói, và có biết thì mới hiểu miếng ăn thực sự là gì !

Gật gù, Huệ lẩm mhẩm :

- Ðược, ta nhịn ăn ư, được...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #157 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:15:20 pm »

Ngọc Hân bật cười :

- Nhưng khi Hoàng thượng muốn ăn lại gọi. Thế thì làm sao biết được cái sợ chết đói ?

- Ðúng ! Ðói đến có thể chết mà không làm gì được thì mới là sợ chết đói.

Nhìn Tự cầu cứu, Huệ tiếp :

- Nhưng ta, ta làm thế nào ?

Ngẫm nghĩ một chặp lâu, Tự cúi đầu thưa :

- Làm thế này ! Hoàng thượng nhịn, nhưng không được gọi ai, giao tính mạng mình vào tay một người như kẻ bị đói phó thác sự sống chết cho cơ may do trời định. Cứ đánh một cái chìa khóa nơi Hoàng thượng nhịn ăn, giao cho một ai đó. Khi đến cái giới hạn của sự sống và cái chết, chỉ có người đó có thể cứu Hoàng thượng, hoặc để mặc cho Hoàng thượng chết đói...

Cười lên ha hả, Huệ nhìn Ngọc Hân, nói lớn :

- Thế thì Hoàng hậu giúp ta làm việc này nhé ! Ðừng có phụ lòng ta.

Giao Quang Cương vào tay nhũ mẫu, Ngọc Hân lẩm bẩm : « Ta xuống cung Long Chính. Hoàng thượng đã nhịn ăn được năm ngày rồi ! ». Nói xong, Hân biết mình hớ miệng, dối :

-...nhịn ăn để chữa bệnh mà !

Chỉ có Thức, Tự và Hân biết việc Huệ nhịn ăn để hiểu thế nào là nỗi sợ chết đói của những kẻ bình thường. Ngay cả với Phạm Hoàng hậu, Huệ nói thác là Thái Y mách cách trị những cơn đau ruột thỉnh thoảng Huệ lại bị. Hân bước ra ngoài, tay nắm chặt chiếc chìa khóa, chân men theo ven hồ, thầm nhủ cả tính mạng mình lẫn ba đứa con đều nằm trong tính mạng của Huệ ở Phú Xuân này. Thức đợi sẵn, đi đến mở một ô vuông trên cánh cửa bằng gỗ gụ, rồi lách sang đứng một bên.

Nhìn qua ô cửa, Hân thấy Huệ bất động, lưng dựa vào tường, hai mắt nhắm nghiền dưới ánh sáng ngọn bạch lạp hiu hắt vàng bệch. Ngước lên, Hân nghe tiếng Thức thì thầm :

- Hai hôm trước, Hoàng thượng còn bò đi lùng dán, thạch thùng... trong điện. Ngài bắt được, ăn sống, nhưng lại nôn mửa ra. Hôm qua, ngài chỉ uống nước, cả ngày chỉ đủ sức chửi có ba câu, không như mấy hôm đầu la hét quát mắng...

Hân bỗng thỏa mãn, miệng nhếch lên cười. Thức tiếp :

-Tâu Hoàng hậu, hôm nay Hoàng thượng ngồi một góc, chỉ thỉnh thoảng tay chân mới đụng đậy. Tôi nghĩ chắc thế là đủ rồi...

Bỗng Huệ như trực giác thấy Ngọc Hân ở đâu đây, quơ tay lên vẫy, rồi lại mệt nhọc lả ra, miệng mấp máy
cầu khẩn. Hân thầm nghĩ, thế là hết oai phong nhé ! Nhớ lại đêm động phòng ở lầu Tử Các và cái đau đớn tủi hổ khi Huệ đẩy mình chúi xuống, xách cho chổng mông lên rồi đâm vào như thúc kích để trả thù, Hân
trả lời Thức, giọng ráo hoảnh :

- Tôi lại không mang theo chiếc chìa khóa !

Huệ bỗng cựa mình, lết dần về phía cửa, hổn hển, cứ được dăm ba thước lại phải nghỉ để thở. A, cái đói. Bây giờ mi là địch thủ của ta. Xưa nay, ta luôn luôn nhủ mình rằng khóc nhục, than hèn, rên yếu đuối. Ðến ngày thứ tư, ta khóc, than và rên rỉ. Ta lại còn sợ nữa. Ta biết là ta chết thì cả triều đại Tây Sơn này cũng sụp, và bọn chúng bay phải chết theo ta. Vậy, đứa nào dám giết ta ? Không. Không một đứa nào ! Nhưng ta vẫn sợ. Sợ chúng bay nhân ta vắng mặt, gây gỗ can quan, đánh lộn bậy, đốt phá, để mất chiếc chìa khóa. Sợ con mụ họ Phạm nổi cơn ghen và giết Ngọc Hân. Ta lo. Ta lo nhỡ Hân để cho đám con ta là Cương, là Quí chơi, lỡ tay vứt mất chiếc chìa khóa thì sao.

Ô, đầu ta, cái đầu ta bắt đầu loạn rồi. Này, có chất gì ứa ra làm xót ruột thế này. Quan thị y đâu ? Thị dược đâu ? Bay để Quang Trung Hoàng Ðế khổ thế này à ? Thôi, cho ta đánh đổi. Ta đổi Vĩnh Trấn lấy một đĩa óc nghé. Không à ! Vậy thì Cao Bằng - Lạng sơn lấy ba bát cơm trộn mắm. Còn Thanh - Nghệ, ta không đổi đâu ! Ta định xây Ðế đô ở Nghệ. Ðất đó là đất tổ ta họ Hồ, sau đổi ra Hà, và lưu lạc vào Tây Sơn thì lại thành họ Nguyễn. Họ mẹ ta. Bác ta là Quận He đấy. Cũng công hầu nhà Lê, có kém ai. Còn ta, ta là phò mã, lấy Ngọc Hân về hầu hạ, quắc mắt lên là cha con Lê Hiển Tông xám mặt cúi đầu.

Thanh - Nghệ và thêm cho cả Quảng Bình, đổi lấy một miếng cháy bôi mỡ nhé ! Thế mà bay cũng nói không à ? Ta sắp chết sao ? Bớ Ngọc Hân. Chìa khóa đâu, mở cho ta ra. Hay mi cũng phản ta rồi. Tự và Trọng Thức lập mưu giết ta với mi chăng ? Ðúng, đúng rồi. Thị vệ, có bọn tạo phản, giết chúng cho ta... Nhưng giết chúng để làm gì ? Huệ mơ màng tự hỏi mình thì mắt hoa lên, thấy Vũ văn Nhậm bị trói ở bãi Tây Long. Nhậm trợn mắt :

- Giết ta để làm gì ?

Huệ nghiến răng :

- Ðể từ rày ta chỉ lo một mặt phía nam Phú Xuân vì bố vợ mi ở Qui Nhơn. Còn mi là chàng rể, mi còn sống ở phía bắc là ta còn phải lo thế gọng kìm. Vì thế ta phải giết mi !

Nhậm hét lên, và Chỉnh ở góc phòng, mặt mũi máu me hỏi :

- Thượng công sai Nhậm giết tôi. Tôi phản hay chính Thượng công phụ tôi ?
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #158 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:16:07 pm »

- Mi không phản lúc đó, nhưng để mi ở Bắc hà hai năm sau thì mi cũng sẽ phản. Còn ta phụ mi ? Biết mi sẽ phản thì ta có phụ cũng là luật chơi mà thôi. Giá khi mi dẹp được Trịnh Bồng, mi đừng chịu nhận tước Quốc công của nhà Lê, vẫn cứ nhân danh Hữu quân Tây Sơn rồi đợi lệnh ta, thì ta lấy danh nghĩa gì mà giết mi được ? Giết mi, ta tiếc lắm chứ. Giả thử có mi, thì về thủy binh ta có lo gì thằng Chủng. Thủy binh ta mạnh, tiếp ứng được Gia Ðịnh thì ta đâu có mất Thái bảo Phạm văn Tham. Chính mi, mi chết là phụ ta ... Mà ta đói thế này, chắc cũng sắp gặp mi ở dưới tuyền đài rồi.

Huệ lại thở, nước mắt ứa ra đầm đìa, tay cố vẫy, giơ lên rồi lại rơi xuống tuyệt vọng. Thức nói lớn, giọng hoảng hốt :

- Hoàng hậu đi lấy chìa khóa đi. Không đợi được thêm nữa đâu ! Có mệnh hệ gì thì chúng ta đều chết hết.

Nhìn Huệ lả người trên mặt đá hoa lát điện, mắt đã nhắm nghiền, thở thoi thóp, Hân lạnh lùng :

- Hoàng thượng muốn đến ranh giới sự chết, để hiểu cái đói và nỗi bấp bênh của sinh mạng đám hàng dân. Ngài chắc sẽ được như ý. Tôi về, sáng mai quay lại, bây giờ khuya rồi đi tới đi lui sợ điều tiếng dị nghị.
Một đứa thị nữ nấp sau bức trướng nghe rồi vội vã chạy về Tây cung báo. Phạm hoàng hậu nghe xong, rủa « ...con khốn nạn, được rồi ! »

Sau sáu hôm không được ăn, Huệ rạc người đi, nhưng chỉ được uống cháo có đổ sâm trong hai ngày liền. Ngày thứ ba, Huệ mới bắt đầu ăn cơm, dần dần lại sức, sai người qua Tây cung bảo Phạm hoàng hậu làm cho món óc nghé. Huệ nhìn Thức, trầm ngâm :

- Bài học đói là bài học lớn nhất của trẫm, cám ơn thầy. Từ nay, trẫm biết bụng hàng dân, hiểu ra cái lẽ thịnh, loạn. Khi đói, quả người ta mất hết nhân phẩm và lý lẽ. Thầy biết không, trẫm đói quẫn trí oán cả thầy, cả Tự, rắp tâm sẽ chém cả hai. Thế thì nói gì đến dân chúng. Họ đói, họ oán trời, rồi tất nhiên oán trẫm, có làm loạn cũng không lấy gì làm khó hiểu ! Họ lại đâu chỉ đói một mình. Cả nhà đói. Cả làng, cả huyện đói. Ghê thật, và trẫm hiểu được những cái quyền dân thầy từng nói, không còn lờ mờ như trước. Ðúng. Cái quyền tối thượng của mỗi người dân là quyền sống. Và sống có nhân phẩm thì không phải đói, phải xin, phải cầu cạnh gì ai. Câu thầy bảo làm vua phải biết là để làm gì nay trẫm đã hiểu ...
Huệ đứng dậy vái, nhưng Thức đã vội nghiêng mình chắp tay vái lại, miệng kêu :

- May thay. May cho thiên hạ !

Thời gian sau đó, mắt Huệ bớt rừng rực lửa, cung cách độ lượng, không bàn chuyện vào Gia Ðịnh dẹp lực lượng Nguyễn Ánh, bỏ ra mấy buổi liền để bàn với Tự về cách chống đói và tiềm năng kinh tế của Ðại Việt. Về phần Thức, Huệ giao cho trách nhiệm tìm những kẻ còn trẻ cầu học cầu tiến, dự định gửi họ sang Pháp lan tây và Anh quốc. Gọi Kỷ và Tuyên vào, Huệ ướm hỏi họ về vấn đề cho giáo sĩ tự do giảng đạo, và để cho giáo hữu mở trường dậy học ở mọi huyện.

Xế chiều, Huệ sang Tây cung, cho Tự, Thức và Ngọc Hân đi theo. Trầm tĩnh hẳn, Huệ nhẹ nhàng phủ dụ Phạm hoàng hậu chứ không hắt hủi như xưa, gọi đám Toản, Thùy và Bàn ra hỏi việc học, lòng có chút ân hận đã sao nhãng con cái những năm vừa qua. Ðến khi dọn tiệc ra, Phạm hoàng hậu chắp tay thưa :

- Vì Hoàng thượng gọi gấp, lại chỉ tìm được có một con nghé, cho nên tôi làm thêm món miến gà là món Ðàng Ngoài để khoản đãi Bắc cung hoàng hậu và các vị văn thần Bắc hà. Xin cứ tự nhiên.

Ðang mải nghĩ ngợi về phản ứng của đám quan võ đối với sự hòa hoãn khoan nhượng các giáo sĩ Gia Tô, Huệ chẳng nói chẳng rằng, cắm đầu ăn ngấu nghiến, nhưng mắt đăm đăm nhìn vào khoảng không. Chưa thấy Huệ cho phép, mọi người cúi đầu lẳng lặng đợi. Miệng khô, Huệ với một bát miến, húp nước. Tiếp tục ăn được dăm ba miếng, Huệ bỗng kêu nhức đầu. Thế là không một ai đụng đến những bát miến gà còn nóng, và cũng chẳng có người nào để ý thấy Phạm hoàng hậu mặt tái mét, cúi mặt không nhìn lên.

Về đến cung vua, Huệ sai đóng cửa lại, kêu :

- Gió chướng độc lắm. Khéo không lại bệnh đấy !

Trên thành Phú Xuân, gió khi thổi khi ngừng, không có phương hướng nhất định, lắm lúc lại xoắn vào nhau quay cuồng gào lên điên dại.

Quả gió chướng là gió độc. Huệ ngã bệnh tối hôm đó, đầu nhức, người ra mồ hôi như tắm. Y quan vào bắt mạch, cho thuốc. Thuốc uống xong, Huệ đỡ. Nhưng mấy ngày sau, những cơn nhức đầu lại quay lại. Rồi kèm với nhức đầu là những trận đau bụng. Y quan không chẩn được bệnh, cầu cứu bọn đồng cốt. Huệ đuổi ra. Mấy ngày sau, Phạm hoàng hậu treo cổ tự vận nhưng ai cũng dấu, không cho Huệ biết. Lúc đó, có những cơn đau làm Huệ bất tỉnh, mặt cứ sạm dần đi, miệng lở, môi khô, hai con mắt lồi ra nhìn như hai cục máu đông lại. Cho người về Qui Nhơn tìm An, người bạn gái thuở niên thiếu, Huệ đợi từng ngày. Có lẽ lúc đó, Huệ biết mạng của mình đã đến chỗ tuyệt.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #159 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:16:56 pm »

Phạm hoàng hậu rắp tâm đánh thuốc độc giết cả bọn «nước ngoài » vào chiếm chồng, chiếm vua nước Ðàng Trong, mê hoặc triều đình bằng những luận điệu huyễn hoặc. Mưu ấy, chỉ một mình Bùi Ðắc Tuyên biết. Nhưng oái oăm thay, chút nước trong bát miến gà ngay tầm tay Quang Trung trong bữa ăn ở Tây cung không hại được một ai khác ngoài vị Hoàng Ðế cầm hết vận mệnh nhà Tây Sơn. Có lẽ Huệ biết mình bị đánh thuốc độc vì một hôm Huệ hỏi Tự :

- Cùng đi ăn ở Tây cung, có ai làm sao không?

Nghe Tự nhắc lại là hôm ấy chẳng có ai kịp đụng đũa, Huệ chỉ à lên một tiếng rồi không đả động gì đến nữa.

Huệ sai gọi Trần Quang Diệu ở Nghệ An và Vũ văn Dũng đang trên đường đi sứ sang Trung Quốc về gấp. Ngọc Hân ngày đêm bên cạnh Huệ, khóc thưa :

- Hoàng thượng có mệnh hệ gì thì mấy mẹ con thiếp trông cậy vào đâu ?

Ngậm ngùi, Huệ nhỏ nhẹ :

- Trông vào Dũng, về Bắc Hà, đừng ở đây nữa!

Gọi Thức và Tự vào đứng bên giường, Huệ gượng cười :

- Ðến ranh giới cuối của sự sống với cái đói, nay ta ghé lằn mức đầu tiên của sự chết bằng mấy miếng óc nghé và chút nước miến gà. Thầy thấy có buồn cười không ? Cái quyền lực ta còn đây, ta cũng chẳng biết làm gì với nó ? Ta giết kẻ hại ta, cũng chẳng thay đổi được gì, chỉ phá cho nát ngay cái sự nghiệp Tây Sơn mà thôi !

Ngừng lại để lấy sức, Huệ tiếp như than van, mắt nhìn Tự :

- ...Có cứu lấy gì được không ?

Tự ngẫm nghĩ rồi đáp :

- Rút về Ðàng Ngoài, có Thiếp, Nhậm và bọn quan võ như Dũng, Huấn, Sở, Lân thì còn giữ được lâu ! Ðàng
Trong chưa đủ sức để đánh ta ngay...

Huệ buồn bã ngắt lời Tự :

- Kẻ làm được việc này là Diệu. Chỉ Diệu mới khiến được đám cựu thần Qui Nhơn thôi. Nhưng để làm chi ? Không nhẽ lại phân ra Trong, Ngoài, Nam, Bắc đánh nhau thêm một vài trăm năm nữa ? Bài học về cái đói đã dạy ta điều ngược lại, nghĩa là phải tìm cách cứu vãn hòa bình, chứ không phải là tiếp tục cuộc nội chiến đã manh nha từ thuở Mạc triều. Còn cắn cấu lẫn nhau, còn nghèo, còn đói ...

Ngừng một lát, Huệ dặn Tự và Thức :

- Ta đi rồi, cả hai vị phải rời ngay Phú Xuân tránh nạn. Chúng sẽ ăn sống hai vị ngay !

Trần Quang Diệu về tới Phú Xuân, vội vào cạnh Huệ. Huệ thều thào :

- Ngươi gấp xây Trung đô ở Nghệ rồi kéo ra đó, nếu không thì bọn giặc Gia Ðịnh vào, lũ các ngươi chết không có đất mà chôn. Việc tang ma, lẳng lặng làm cho nhanh, và hai ba tháng sau hãy báo cho thiên hạ rõ.

Gọi Ngọc Hân đến bên giường, Huệ ứa nước mắt :

- Duyên ta với nàng có thế. Nghĩ lại, tội cho nàng. Ta không nghĩ là nàng yêu ta. Nhưng dẫu sao, nàng cũng cho ta mấy mụn con đáng mặt vương đế. Phần ta, ta chỉ quí nàng, và cũng xin nàng quí ta là đủ.
Người ta yêu - Huệ bật cười - chỉ muốn ta là một kẻ bình thường. Suốt đời, từ năm mười bảy đã làm tướng cầm quân cho đến nay là trên hai mươi năm, ta mới sống được sáu ngày nhịn đói có thể tạm gọi là bình thường. Nhưng khi chết, tất là ta chết như mọi người. Gọi người ta yêu đến để nàng thấy lúc cuối cùng này ta cũng trở thành bình thường như mọi người trước cái chết, nhưng sao nàng vẫn không đến ...
Bỗng từ ngoài không biết bao nhiêu là những con dán cánh vàng mật ong ở đâu bay vào điện nơi Huệ đang thoi thóp thở. Dán bay, cánh đập rào rào như tiếng mưa, khiến Huệ mở mắt, thều thào trong cơn mê sảng :

- Ai đấy ! An, An phải không ?

Chỉ có mái tóc Ngọc Hân run rẩy dưới ánh bạch lạp đang ngả nghiêng hắt lên tường bóng những con dán bay toán loạn. Tiếng Huệ nhỏ dần :

- An xem, chết thế này bình thường chứ hả ...

Ðêm hôm ấy là đêm hai mươi chín tháng bảy âm lịch năm Nhâm Tí. Trên trời Phú Xuân, sao lấp lánh rồi từng trăm vì sa xuống. Ðó là những vì sao chết cách đây hàng vạn năm ánh sáng, chờ đúng lúc rủ nhau về đón một linh hồn vừa rời thế gian. Như mọi người, rất bình thường. Kể cả chuyện đến phút cuôí cùng vẫn chỉ chờ đợi bóng người yêu. Nhưng nàng không bao giờ đến.

Ngọc Hân lủi thủi về Bắc cung, lấy bài thơ làm dở cho Huệ ra ngắm nghía. Nàng nhanh tay thảo ba chữ Ai
Tư Vãn, rồi viết tiếp :

« Công dường ấy mà thân nhường ấy

Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công

Rộng cho chuộc được tuổi rồng

Ðổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi »

Ðó là bài văn tế chẳng phải cho riêng Quang Trung mà là cả cho triều đại Tây Sơn. Cái kỷ nguyên mới kia chỉ còn là một giấc mơ bám bụi. Ngay sáng hôm sau, Bùi Ðắc Tuyên vây bắt Nguyễn Huy Tự rồi mang dìm xuống sông ở ngả Ba Sình. Tự cười ằng ặc, chẳng phải là chỉ vì bị sặc nước.

Hai trăm năm sau, một học giả tìm ra nguyên bản Hoa Tiên do Tự trước tác, một tập thơ truyện bằng chữ Nôm đặt tình yêu lên trên vòng ràng buộc của luân lý phong kiến. Sau đó, một dị thuyết cho rằng Tự trốn chứ không bị Tuyên bắt, rồi già mà chết.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM