Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:56:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gió Lửa  (Đọc 87016 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #170 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:34:24 pm »

Mang quân qua Nhị Hà, Chỉnh bắt giết Dương Trọng Tế. Bồng chạy thoát, ra miệt Hàm Giang nương tựa vào Ðinh Tích Nhưỡng, thủ hạ chỉ còn độ một trăm người. Nhưỡng tiếp, nhưng ý bạc bẽo, không nói gì đến việc quân, việc nước, lại thưa :

- Trời thanh, trăng sáng, vẻ thu rất đẹp. Thần đã đem rượu lên thuyền, xin Chúa đi chơi ngắm nhìn phong cảnh cho khuây khỏa.

Bồng nghẹn lời :

- Phong cảnh vẫn xưa nhưng non sông khác trước. Bơi thuyền uống rượu, ta chẳng có lòng nào. Xin tướng
quân cứ đi chơi.

Ðêm hôm đó, Bồng thảo một bức thư cho Trương Ðăng Quĩ, nhờ tâu lên Vua « ... Lúc mới đến Kinh chỉ lo giữ lấy công việc thờ cúng cho trọn đạo hiếu, thật không có bụng chuyên quyền. Chẳng ngờ thế sự đẩy xô, lại gặp các tướng ép uổng, thành ra trái ý Vua. Chỉnh vào, cung khuyết đã bị đốt tiêu, nên thần như con chim cháy tổ bay quanh không chỗ nương thân, xiêu bạt nay Quế Ổ, mai Hàm Giang, hóa ra mang tiếng kháng mệnh, tấm lòng kính thuận không còn cách nào bày tỏ được ... » Vua sai Quĩ đi đón Bồng về triều, nhưng vì sợ Nhưỡng thông đồng với Chỉnh bắt mình, Bồng đã cùng mấy người hầu cận thuê thuyền buôn giương buồm chạy xuống Sơn Nam. Sáng ra, Nhưỡng biết chuyện, liền kéo thuyền chạy theo, bụng bảo dạ nếu không theo Chúa, thiên hạ sẽ bảo mình là loài phản tặc.

Hợp với quân chủ lực của Lân, một thổ hào, Nhưỡng đánh lại tướng của Chỉnh là Hoàng Viết Tuyển, nhưng vì ô hợp nên thua tan nát. Lân cướp thuyền đưa Bồng chạy về Bái-Hạ. Ở vùng ấy, Khuông dấy quân Cần Vương, cùng Lân ra sức chống giữ. Bị Chỉnh vây chặt, quân đói phải đào củ chuối để ăn. Bồng nói với Khuông và Lân để Bồng tự trói ra hàng, tránh đổ thêm máu. Không chịu, Khuông và Lân phá vòng vây mang Bồng chạy về được Hải Dương rồi lên Yên Quảng. Lân xin về, rồi Khuông chết bệnh ...

Nói đến đây, Nhật bỗng im lặng, hồn lắng vào một cõi riêng, không biết đến gì xung quanh. Nghe Thức giục, Nhật thốt lên :

- Cái nghiệp quyền lực ! Gỡ ra không phải là dễ.

-…

Chậm rãi, Nhật tiếp tục kể :

- Trốn thủ hạ, Bồng một mình lên núi. Ðêm ấy, Bồng kể cho đệ nghe là nằm mãi, cứ nửa ngủ nửa thức, mơ mơ màng màng, bỗng thấy một góc núi sáng rực. Giọng đàn bà ở đâu cất lên, bảo Bồng từ nay tên là Ðạt Hải thiền sư, đã sắp tận được nghiệp rồi ... Bồng tỉnh ra, nghĩ « ... cõi phù sinh chỉ là giấc mộng, sao chúng sinh cứ chìm đắm vào bể khổ. Thôi, quay về là hơn, về cái thuở chống gậy dạo cửa thiền ».

Lấy kiếm gọt đầu, Án đô Vương Trịnh Bồng thỏa giấc mộng trở thành một vị thiền sư, từ đó lang thang hết chùa này đến chùa nọ. Nhưng nghiệp vẫn chưa dứt. Ở chùa Tam Giáo, có kẻ tên Vũ Kiều, đã từng là học trò ở trong Kinh, nhận ra Ðạt Hải chính là Chúa Án đô. Bảo với bọn phiên thần là Kỳ và Trân, Kiều đến lạy Bồng năm lậy, và xin tôn phù. Bồng kêu « ... Các vị nhầm rồi ! » nhưng họ không đứng lên, khóc kêu đòi dựng lại cơ nghiệp nhà Chúa. Bồng mềm lòng, nước mắt ràn rụa, nói «... Cái cảnh « thử ly », «mạch tri » trông mà nát lòng. Ta không phải gỗ đá, lẽ nào lại không đau xót ? Nhưng đã kiệt sức, ta vẫn chẳng tranh lại với trời nên phải nín nhịn giữ mình, không mưu tính để lại lầm lỡ thêm một lần. Gầm trời này ai Vua ai Chúa đã có chân mệnh, ta đã định chống gậy trong chốn sa môn mà rồi cũng chẳng được ! ».

Chưa đánh chác được gì, bọn Kỳ và Trân đã ngỡ là con đường công danh sắp đạt được, xin phong tước. Bồng lúc ấy cảm thấy cái bóng danh lợi vẫn là cái động cơ của sự mê muội, nên rắp tâm bỏ đi. Chưa đi được, cả Bồng lẫn Kỳ và Trân lại bị đám nông dân bắt nộp để lấy tiền thưởng. Chỉnh đích thân xuống trấn Kinh Bắc tra xét, sai chém đầu Kỳ và Trân ra oai ...

Nghĩ đến Chỉnh, một kẻ người đời gán cho hai chữ gian hùng, và là kẻ đã từng đối đáp chèn ép mình ngày Chỉnh còn phò Hoàng Tế Lý ở Nghệ An, Thức ngạc nhiên hỏi sao đã bị bắt mà Bồng còn toàn vẹn để sau này gặp được Nhật ở Ðền Sòng ? Nhật xuề xòa cười, rồi thủng thẳng :

- Anh đoán chắc không ra ! Chỉnh hỏi Bồng : « ... Sao mi chửi ta là giặc? ». Bồng đáp : « Nam mô a di đà
Phật, quả bần tăng đã phạm khẩu nghiệp ». Chỉnh lại trêu : « ... Rước về làm Chúa, mi có nhận không ? ». Bồng cười hềnh hệch : « Eo ôi, cái nghiệp ấy thì chịu. Xưa, bần tăng như khúc gỗ tròn, cứ bị bọn mê muội thèm muốn danh vọng xô đẩy nên mới lăn lóc thế. Nay, chẳng dại nữa, làm Vua làm Chúa thì thà chém chết ngay đi còn hơn ! ». Chỉnh hỏi tại sao ? Bồng nhẹ nhàng : « Nghiệp quyền lực là cái nghiệp của Quỉ Vương. Nó sai khiến hằng hà sa số ma quỉ, căng chặng bẫy ở ngay nhân tâm. Bây giờ nay bần tăng đã hiểu mà tránh được, dại gì lại dính vào nữa ! ». Chỉnh ngẫm nghĩ rồi quát thủ hạ : « Sao chúng mày bắt nhầm ông sư gàn gàn ương ương này vào đây ? » rồi ra lệnh đuổi Bồng ra ngoài. Sau đó, Chỉnh làm tờ cáo, bảo rằng Trịnh Bồng đã chết và cấm không cho ai được nói thêm để làm náo loạn lòng người ...

Thức mỉm cười :

- Làm thế, Bồng sau này khỏi cứ vất vả trốn tránh bọn tham tiền lừa bắt để lấy thưởng. Kể ra, thế là Chỉnh
cũng có chút lòng...

Nhật chợt buồn bã, nhớ đến cái chết của Chúa Út, nhẹ nhàng :

- Ðấy, cái nghiệp quyền lực nó thế. Bồng thoát ra, phải trả giá bao phen, sống đi chết lại mới thành được Ðạt Hải thiền sư. Chỉnh chạy theo quyền lực, nhưng tha Bồng. Ðến lượt Vũ Văn Nhậm, Nhậm ra giết Chỉnh. Rồi sau, Huệ lại ra giết Nhậm. Bao nhiêu sinh mạng khác, cũng chỉ vì quyền lực, chết tức tưởi. Và chết, vô nghĩa.Vì vậy, đệ cố gạt mọi chuyện yêu ghét, nhưng vẫn chưa thể nào chấp nhận được một thứ quyền lực nào !
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #171 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:35:37 pm »

Quay lại phường Bích Câu hai ngày sau, Toàn Nhật vừa gõ cửa thì bõ già đã vui vẻ nói :

- Ông tôi về rồi, rước sư vào !

Nhìn thấy Thức bên cạnh, bõ có vẻ ngần ngại, nhưng Nhật biết ý, lên tiếng :

- Mô Phật, vị này là anh tôi, cũng quen biết ông nhà ...

Bỗng một giọng khàn khàn cất lên :

- Bõ mời các vị vào, xin vào ...

Nhận ra Thức, tiếng như reo, nghe vẫn khàn khàn :

- Trọng Thức, có phải không ?

- Chào Ngô huynh. Bao nhiêu năm rồi !

Nắm tay Thức, Ngô Thì Nhậm nhướng mắt nhìn vào tận mặt. Lưng gần như còng xuống, tóc nay bạc phơ, Nhậm gầy như hạc, mảnh mai trong tấm áo thụng màu xám nhạt. Mắt sáng lên nhìn Thức, Nhậm tươi cười :

- Phải nói bao nhiêu đổi thay rồi ! Chứ không có đổi thay, năm tháng chỉ hệt nhau, bao nhiêu ta cũng chẳng đếm !

Quay sang nhìn Nhật, Nhậm từ tốn :

- Nam mô a di đà Phật !

Thức nhỏ nhẹ giới thiệu :

- Võ Toàn Nhật, đồng môn với đệ, lại như anh em một nhà.

Nhậm à một tiếng, rồi cười :

- Có phải Võ tướng quân của đội Tiền Kích không ? Người ta lại đồn là chết rồi, thế có lạ không ?

Nhật thủng thẳng :

- Lạy Phật, đúng đấy chứ ! Bây giờ chỉ có một vị sư đi cầu của bố thí của thiên hạ thôi, Võ tướng quân gì đó chết hẳn rồi. Ðệ ra tìm Ngô huynh vì thầy đệ có một lời nhắn ...

Nhậm cắt lời Nhật, nhại lại :

- Vô lượng thọ Phật ! Ngô huynh gì đó cũng không còn. Bây giờ chỉ có một vị sư già tên là Hải Lượng đây !
Nhậm bước vào, gọi bõ già nấu nước pha trà, tay đẩy Thức và Nhật vào chái bên, rồi kéo xuống ngồi trên bồ đoàn. Lấy bộ chén chè ra lách cách lau chùi, Nhậm tươi tắn :

- Này, ở đây đến xế trưa là gặp cả Phan Huy Ích và Vũ Trinh. Họ nghe bần đạo từ Thanh Oai về, chắc sẽ lục tục kéo đến chuyện vãn.

Nhìn Toàn Nhật, Nhậm tiếp :

- Nào, nói ta nghe xem La Sơn Phu tử nhắn gì?

Nhật thuật lại lời Nguyễn Thiếp. Nhậm trầm tĩnh :

- Ta về làng, lạy tổ miếu. Mấy hôm sau, quân Nguyễn Ánh đánh lấy Thanh Hóa. Khi ta từ Sơn Nam về, thì quân Nguyễn đi phía sau chừng một hai ngày đường, nay mai sẽ vào Thăng Long chấm dứt triều đại Tây Sơn ...

Thở dài, Nhậm đổ trà vào chén chuyên, tay rót, miệng khẽ nói :

- Trốn, ta không trốn ! Nhìn Thức, Nhậm trầm ngâm - ta trốn thì còn gì cái tiếng danh giáo của Ngô thì Nhậm ? Ta trốn thì sau này ai hiểu làm sao cho được cái việc chấn hưng Trúc Lâm Thiền Pháp của Hải Lượng ?

Thức hỏi, Nhậm nói rằng từ mấy năm nay, Nhậm đang cùng môn đồ hoàn thành « Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh ». Tập này gồm hai mươi bốn thanh, tương ứng vào hai mươi bốn khí của trời đất, là những giáo lý tổng hợp Nho và Thiền thành một khối. Nho và Thiền theo đó là cùng nguyên tắc, chỉ khác về cách ứng phó « ...Xử thế bằng Nho, xuất thế bằng Thiền, ... ung dung thoải mái trong cái lý ấy mà cũng vượt lên trên và ra ngoài cái lý ấy ».

Cuối giờ Thân, Ích và Trinh đến. Sau đó có thêm Nguyễn hữu Ðàm, Ngô thì Hành và Nguyễn đăng Sở, đều là những nhà nho nhưng nay mang pháp danh Hải Ðiền, Hải Huyền và Hải Hòa. Cuộc đàm đạo xoay quanh giáo lý, nhưng tất cả đều cuối cùng qui về Nho học. Ðề cập đến «không» và «ngộ», vấn đề được trình bày như mối quan hệ giữa «lý» và « dục» trong hệ thống Tống nho. Khi nói về « minh tâm » và « kiến tính » của nhà Phật, họ qui trở lại « chính tâm » và « thành tính », cho rằng đều là « đạo người quân tử rộng khắp và kín đáo ».

Hải Lượng thiền sư không vất bỏ nổi Ngô thì Nhậm. Dấn thân vì có ý thức xã hội, nhưng vốn là một nho gia theo dòng danh giáo, Nhậm dẫu muốn hóa ra Hải lượng nhưng vô hình chung vẫn bó buộc tư tưởng của mình trong một khuôn khổ nhất định. Chẳng hạn, Hải Lượng cho rằng: « Ðại bồ tát vô lực lượng không xuất gia mà tế độ được vô số trăm nghìn chúng sinh ». Khi bàn «... tinh thần cất giấu ở trong thân thể, thân thể là đồng một chất với trời đất », Hải Lượng thừa nhận sự tồn tại của thân và sự phụ thuộc của tinh thần vào cái thân vật chất đó. Nói về « luân hồi » trong sáu cõi của nhà Phật, các vị thiền sư ở phường Bích Câu lại xem như là luật « Tuần Hoàn » của nhà Nho. Ðề cập đến « Thiền » là một cách tu tập, họ cho là « Thiện Vị », tức là nhường ngôi kiểu Nghiêu, Thuấn...Tóm lại, việc động não ở phường Bích Câu thể hiện sự tìm kiếm lý lẽ giải thích những bế tắc xã hội, chỉ ra thái độ cần có và vạch rõ con đường đi tới. Dựa trên cơ sở « Tam giáo đồâng nguyên » đã có từ 10 thế kỷ trước, Nhậm và những người đông môn, đồng chí, vô hình chung mang Nho ra thay cả Phật lẫn Lão học, không đề ra được sự tương hỗ của ba cách nhìn có thể bổ sung cho một thế giới quan toàn diện hơn, tinh tiến, ảo diệu hơn cách nhìn của Nho giáo.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #172 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:36:24 pm »

Chiều tối, Thức và Nhật kiếu từ. Ngô thì Nhậm tiễn ra tới cửa, nói với Nhật :

- Ta có nghe đệ kể « Hứa Sử truyện vãn » trong nhân gian, hôm nào đệ ghé, có dịp cùng nhau bàn thêm..

Nhật buột miệng nói theo kiểu Trịnh Bồng :

- Còn duyên là còn gập...

Trên đường về, Nhật chép miệng nói với Thức :

- Ngô huynh vẫn đời lắm, có đạo được chút nào đâu !

Thức không trả lời, bước đi trong im lặng. Lòng chàng nặng chình chịch sự thất bại và niềm tuyệt vọng của những người có lòng, nhưng tư tưởng lại chỉ hạn hẹp trói buộc trong cái hệ tư tưởng phong kiến. Hệ tư tưởng đó nay quá lạc điệu, khi mọi con người trên thế giới này đã đến gần nhau hơn bằng những con tầu vượt đại dương gắn đại lục này vào những đại lục khác.

Hạ tuần tháng tám năm Nhâm Tuất , Thái Úy Nguyễn văn Thọ mở cửa thành Thăng Long ra hàng. Năm ngày sau Nguyễn Ánh đặt chân vào thành. Quang Toản cùng với hai em là Thùy và Thiệu, cùng Ðô Ðốc Tú, Ðô Ðốc Dụng vượt sông Nhị chạy sang Kinh Bắc. Ðêm ở Xương Giang, dân đến vây, Thùy và Tú tự vẫn. Toản bị dân Phượng Nhỡn bắt mang về nộp lấy thưởng. Sự nghiệp nhà Tây Sơn cáo chung sau khi Nguyễn Huệ xưng đế được đúng mười bốn năm.

Nguyễn Ánh tiến hành một loạt biện pháp để bình định Bắc hà. Như cô gái giang hồ đã quá tuổi, Bắc hà lại ỏn ẻn ton hót về sự trinh bạch, sắc đẹp, và gốc gác quí phái lương thiện của mình. Ánh chiêu dụ cựu thần nhà Lê, đặt lại các chức quan văn võ, dùng luật Hồng Ðức trị dân. Ðối với đám quan theo Tây Sơn, Ánh cho truy nã, bắt bớ, và đặt các trạm canh khắp nơi để thu hồi quyền uy.

Sau đó, Ánh mang quân thù ra xử. Tài liệu do giáo sĩ De la Bissachère lưu ở Hội Truyền Giáo Paris kể lại như sau :

«...vị Vua Tây Sơn là Quang Toản phải chứng kiến một cảnh đau lòng. Thi hài của cha, mẹ, ông bà đã chôn đều bị khai quật, xương cốt mang xẻ vụn ra để, theo dị đoan, không có thể mang lại phúc đức cho con cháu. Sau đó, những xương cốt đó đem đổ vào một cái chiếc vại sành rất lớn để cho quan quân đến đái vào. Tiếp theo, xương cốt lại bị nghiền thành bột đổ vào một cái uôm để trước mặt vị Vua trẻ. Người ta mang đến một mâm cơm thịnh soạn, một phong tục đối xử tử tù ở đất nước này trước khi thi hành quyết. Người em vua, can đảm hơn, trách anh đã ăn. Sau bữa, người ta bịt miệng Vua, để tránh vị này có thể chửi vị Tân Vương. Rồi họ cột tay và chân Vua vào bốn con voi để xé xác. Hai con chạy, làm rách toạc một chiếc đùi, gân lòi ra. Vị Vua bị hành quyết vẫn còn sức quay lại nhìn cái uôm có xương cốt của cha mẹ mình. Ðám hành hình dùng một thứ dụng cụ không thấy ở Âu châu, xẻ xác Vua ra làm năm mảnh, đem cắm trên những chiếc cột cao đặt ở năm cái chợ đông người, và đợi thịt rữa ra hay là bị diều quạ ăn hết.

Về phần Ðại tướng Thiên Phổ (Trần Quang Diệu), người mà ai biết cũng quí mến, ông ta xin vị Tân Vương tha chết cho mẹ ông nay đã tám mươi tuổi, không có thể làm gì hại đến chính quyền mới. Ông bị xử chém.
Ông ta có đứa con gái độ mười bốn, mười năm tuổi, nay đã đúng độ thiếu nữ, bị xử voi dày. Khi cô ta thấy một con voi lù lù tiến lại để cuốn lấy, cô ta quay nhìn mẹ, thét lên thảm thiết : « Mạ ơi, cứu con ! ». Mẹ cô ( nữ tướng Bùi Thị Xuân ) đã từng chỉ huy đội tượng binh đáp : « ... Làm sao cứu con khi chính mạ, mạ chẳng cứu được mạ. Thà con chết với cha với mạï còn hơn là sống với lũ người như chúng nó ! ». Trong số những người chứng kiến, nhiều kẻ quay mặt đi không dám nhìn. Con voi cuốn cô bé hất lên cao, rồi ngửng lên lấy ngà đâm vào thân xác cô rơi xuống, hai lần tất cả.

Khi đến lượt hành quyết vị nữ anh hùng, vợ của Ðại tướng Thiện Phổ, bà ngang nhiên đi vào, dáng kiêu hãnh, đến ngay trước mặt voi. Bọn hành hình hét bắt quì, nhưng bà không, cứ đứng sừng sững. Con voi không làm gì, hình như nhận ra chủ, mãi sau bị thúc nó mới cuốn lấy bà ...

Bọn hành hình, để có được sự can đảm của bà, đã móc tim, gan, phổi, và tay của bà để ăn ...».

Có một chi tiết nhỏ còn nghi vấn.Giáo sĩ De la Bissachère kể là Trần Quang Diệu bị xử chém, trong khi đó, sử ta lại viết là Ánh chỉ bắt Diệu uống thuốc độc, vì xưa Diệu đã đối xử với bọn tướng của nhà Nguyễn là Võ Tánh và Ngô Tòng Chu một cách cao thượng. Một điều không có nghi vấn gì là Diệu trước khi chết, sắc mặt không đổi. Và hình như Diệu có cười một tràng dài.

Về phía bọn văn thần phò Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan và khoảng mười lăm người bị đóng gông mang bêu. Hôm đó, trời đã sang đông, đêm xuống rất sớm và không hiểu ở đâu chim cuốc bay về đậu trên những hàng cây bàng trong Kinh. Sáng hôm sau, họ điệu đám văn thần sang Văn Miếu. Ðàn chim cuốc bay theo, tiếng kêu quốc, quốc vang động khắp một vùng hồ Thủy Quân. Những kẻ tò mò lũ lượt kéo nhau đi xem. Trong đám đông, Toàn Nhật cùng Trọng Thức chen vai thích cánh, nghe hàng dân bàn tán cách hành tội rồi đánh cược với nhau. Cứ như là đi xem hội, họ nói cười, thản nhiên, nhìn đám văn thần nay đã lụ khụ, còng lưng dưới những chiếc gông làm bằng gỗ lim, bước im lìm, mắt nhìn xuống đất. Duy một mình Nhậm, Nhậm ngửa mặt lên trời, miệng tủm tỉm, thỉnh thoảng đưa mắt hiền hòa nhìn thiên hạ.

Bọn lính đưa đám tội đồ vừa bước vừa dọa nạt, tay cầm roi vút vào không khí, mở đường đi trong tiếng chiêng trống ầm ĩ. Nhậm quay lại nhìn đồng bọn. Thấy họ vẻ ủ rũ, Nhậm bỗng chạnh lòng. Ðấy, tinh anh của đất nước cả đấy ! Bây giờ, họ là gì ? mình là gì ? Tặc loạn ? Phản quốc ? Không ! Mình chỉ là kẻ đứng về phía cái quyền lực bị đánh sụm. Thế thôi. Cái quyền lực chiến thắng kia làm ra danh nghĩa bằng chiến thắng. Vì đã chiến thắng, nó có thể sắp xếp lại hết, kể cả lịch sử. Và kết tội kẻ chiến bại thế nào thì kết, ai làm gì được !
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #173 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:37:10 pm »

Bị điệu vào sân Văn Miếu, bọn văn thần đứng lơ ngơ, đợi đọc chiếu hạch tội của Vua Gia Long. Dưới thời Cảnh Thịnh, Nhậm khuyên Quang Toản không được, đành rời chính sự, lui về coi sóc Văn Miếu này. Biết từng con ngựa đá cho đến hòn gạch, viên ngói và những tấm bia Tiến Sĩ sắp hàng từ mấy triều đại nay, Văn Miếu là nơi Nhậm tôn kính còn hơn Từ đường của gia đình mình. Trên những cành cây đại, chim cuốc lại đến đậu đông nghịt, thỉnh thoảng ùa nhau cất cánh bay, tiếng đập cánh như gõ cửa một mùa xuân chậm đến.

Từ một chiếc ghế bành phủ gấm, Ðặng Trần Thường, kẻ được Gia Long dành cho cái niềm vui gặp lại bạn đồng liêu ngày xưa, loắt choắt kiễng chân đứng dậy. Lời hạch tội đám văn thần khá tầm thường, đại khái cho rằng biết lễ nghĩa mà lại theo ngụy Tây Sơn, tội đáng nọc ra đánh để lấy đó làm gương cho thiên hạ. Nhậm lại cười ! Ai chả biết được làm vua, thua làm giặc. Kẻ nào thua, tất là ngụy. Lời hạch lại nhiếc móc bọn văn thần là tiếm nhà Lê để tâng công. Nhậm tự hỏi, thế bay đang làm gì đây ? Khi xưng đế hiệu, bay không tiếm ngôi đấy à ?

Bọn văn thần từng người một phải ra quì nhận tội rồi nằm dài mặt úp xuống sân để cho bọn hành hình đánh vào lưng. Nguyễn Gia Phan, rồi Phan Huy Ích. Tiếng roi vun vút quật xuống. Tiếng rên hừ hự. Hàng dân im lặng, không còn ồn ào. Chỉ có tiếng chim cuốc kêu. Rồi tiếng quát.

Ðến lượt Nhậm, Thường trừng trừng nhìn, rồi vênh váo :

- Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai

Nhìn những cánh chim chao ngang đảo dọc trong bầu trời ẩm đục buổi đầu đông, Nhậm bỗng chỉ thấy một sự thương hại tràn ngập tâm tư. Giọng tự mãn, Thường mỉa mai « Theo giặc, Hy Doãn quên hết chữ thánh hiền rồi sao? ». Cười hiền hòa, Nhậm rành mạch :

- Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.

Khinh khỉnh, Thường vẫy tay ra lệnh bắt quì. Nhậm vẫn đứng trơ trơ, khẽ lắc đầu. Viên quan có nhiệm vụ
hành pháp quát:

- Quì xuống !

Nhậm điềm tĩnh, lại lắc đầu. Một tiếng bốp vang lên. Ðó là tiếng cây côn đập vào đầu gối Nhậm. Nhậm cắn răng, chúi người ngã, nhưng lại cố đứng dậy. Lại một tiếng bốp nữa. Nhậm lại ngã, rồi xiêu vẹo, vùng người lên. Ðến lần thứ năm hay thứ sáu, Nhậm không đứng được, nằm trên sân đá, nhưng không rên la, kêu ca gì cả. Không nghe thấy tên pháp quan la hét những gì, Nhậm lẩm bẩm một lời tự vãn khi xưa :

« Tiên ? chẳng thể thành tiên

Phật ? cũng không đắc đạo

Chí theo hướng Thi, Thư

Khỏi trái dường danh giáo »

Một trận mưa roi ập xuống mình mẩy Nhậm. Pháp quan quát :

- Không sợ à ?

Nhậm lại cười :

- Thuận lý mà sống thì có dẫm lên đuôi cọp cũng chẳng có gì là đáng sợ !

Tiếng roi, tiếng gậy lại vang lên. Trong hàng dân, có kẻ la khóc. Vẫn tiếng chan chát, tiếng bôm bốp, và tiếng chim cuốc kêu lên thất thanh. Vết sẹo đâm xuống chân mày trên trán lại giựt lên, Thức nghiến răng nói nhỏ vào tai Nhật :

- Ðòn thù !

Nhắm mắt niệm Phật, Nhật nói thầm :

- Trời cao đất dày ! Tham là cái nền, tàn bạo là kèo cột, và xương máu là đồ trang trí của tất cả những lâu đài quyền lực.

Nhậm bị đánh như vậy cho đến lúc thình lình cả đàn hàng trăm con chim cuốc vỗ cánh bay lên, không ngớt kêu quốc, quốc, và bay về hướng biển. Ðúng lúc đó, Nhậm thở hắt ra, giẫy nhẹ, rồi bất động.

Chuyện chim cuốc kêu ngày xảy ra trận đòn thù trong sân Văn Miếu được truyền tụng đi khắp nơi. Hàng dân kháo rằng chim kêu ác, ác chứ không phải là quốc, quốc như thường lệ. Thật ra, rất dễ nghe lẫn tiếng quốc ra tiếng ác, hay ngược lại.

Kẻ nào nọc người ra đánh cho đến chết cũng sẽ chóng chầy bị quả báo. Chỉ hai năm sau, chính Gia Long
đã bắt giết Ðặng Trần Thường.

Triều đại nào nọc kẻ sĩ của đất nước ra đánh là triều đại không thể khá được.

Quả nhiên, chỉ xấp xỉ năm mươi năm sau trận đòn thù, hậu duệ của Nguyễn Ánh đã khờ khạo làm mất nước
Việt Nam trong gần một thế kỷ.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #174 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:38:47 pm »

Chương Kết
Bọt nước sông Mê

Quay người lại, Nhật mỉm cười nhìn Mai đang vén áo ngồi xuống mỏm đá chênh vênh bên bờ sông. Mai nhỏ nhẹ :

- Ở khúc sông này, nước xô vào ghềnh, bọt sủi trắng gào như người giận đến sùi bọt mép. Thời gian anh Thức chưa về đây, cứ vào ngày nghỉ, tôi bế cháu Thư ra ngồi lắm khi từ sáng đến tối. Chờ đợi. Ðợi một cánh thư. Ðợi một lời nhắn. Cứ thế năm này đến năm nọ. Nhìn bọt nước, nghĩ mãi. Rồi tôi học được một
điều : ở mức cuối cùng của mọi chờ đợi, có hay không chung cục chẳng khác gì nhau.

Ánh nắng mai vừa đậu cánh óng ánh vàng trên những tàn cây muốt màu ngọc bích. Mây lưng chừng hòn núi chắn cuối sông lững lờ tách ra thành những sợi bạc mỏng mảnh tan lẫn vào màu da trời. Vết sẹo dài trên má Mai khơi nhắc Toàn Nhật thuở sống ở Kinh Kỳ, trước buổi loạn kiêu binh lập Tông phế Cán thời Chúa Trịnh.Vết sẹo ấy do chính bàn tay Tuyên phi Ðặng thị Huệ quào vào mặt em mình vì Mai trốn khỏi Cấm cung, nhất quyết không chịu lấy Thái tử Lê Duy Cẩn, chỉ một lòng dâng hiến đời mình cho Trọng Thức.
Vừa lên ngôi Chúa, Tông bắt giam Huệ. Cán lên sáu, sợ quá cấm khẩu, lại nóng sốt li bì, chỉ khóc ư ử trong họng. Rêu rao thưởng một trăm lạng vàng cho ai chữa được Cán xong, mẹ Tông là Ngọc Hoan vào, thò hai tay ra bóp mũi Cán. Rồi Hoan bắt Huệ đến quì trước mặt. Huệ cắn răng đứng lên, bị đánh vỡ đầu gối, nhưng ngạâm miệng nhất định không rên rỉ. Sau, Ngọc Hoan bắt Huệ lên lăng Thịnh Phúc, nơi chôn cất Chúa Trịnh Sâm. Ngày Huệ vào lạy bài vị, đồ thờ bằng vàng chảy ra như bị thiêu, đồ thờ bằng gỗ mủn đi hóa thành bụi. Ba ngày sau, Huệ tự thắt cổ, chết lưỡi thè ra dài chấm đến bụng dưới.

Nhật bất giác mỉm cười. Nhìn kìa, những bọt nước giữa dòng kia vỡ thành nghìn hạt li ti, mỗi hạt đều phản chiếu hình ảnh núi, rừng, cây cỏ, và cả hình ảnh Mai lẫn Nhật. Có hạt rơi trên đá, bốc hơi thành mây, mây bay đi gặp lạnh hóa mưa, mưa rơi trên núi cao, trên đồng ruộng. Có hạt rơi trên nước, theo dòng luân lưu, về sông Nhị hay sông Ðà, lúc bồi vào đất, khi ra biển rộng. Không có gì tự sinh, không có gì tự diệt. Hạt nước đó đã có từ nghìn vạn đại, mang vô số hình tướng trong cái lẽ biến dịch bất thường từ những duyên khởi vô thủy vô chung. Chỉ một hạt nước, đã là vạn vật, đã có nắng, có mưa, có đất, có Mai, có Nhật, có những kiếp người từ trăm nghìn năm trước, có rừng núi từ thuở nguyên sơ. Như vậy, hạt nước làm gì có tự ngã. Như vậy, Huệ, Sâm, Tông, Cán ... làm sao có thể có gì gọi là tự ngã. Mà đã không có ngã, thì phế - lập - đánh - giết - ... để làm gì ? Tạo nghiệp. Chỉ là tạo nghiệp. Rồi nghiệp sinh nghiệp. Vòng vô minh rộng ra, phủ xuống cõi nhân sinh u mê đắm đuối.

Nước mắt bỗng rưng rưng, Nhật nói nhỏ nhẹ :

- Mô phật. Chị nói phải. Có - Không là hai mặt của một đồng chinh ta cầm trong tay. Ta nhận thức, phân biệt ra cái ta gọi là Có, cái ta gọi là Không. Nhưng vẫn chỉ là một đồng chinh.

Mai tần ngần :

- Lúc ấy, tôi tỉnh ra. Ôm cháu vào lòng, tôi nhủ rằng sống là sống với hiện tại. Cứ thế chục năm ròng, sự sống đó đối với mẹ con tôi ở trong kia ...

Tay chỉ, Mai đứng lên tiếp :

- ... là cái cưu mang được phần hồn. Chú vào với tôi, chú sẽ thấy. Cháu Thư đã vào thưa với Mẹ-bề trên rồi.

Quanh co sau hai cái dốc, những mái nhà lợp lá cọ thấp thoáng hiện ra trong tầm mắt. Chạy lên đón Mai và Nhật, chàng thanh niên tên là Quốc Thư, có cái miệng giống hệt miệng Trọng Thức, tươi cười :

- Chú với mẹ đến vừa lúc ăn sáng. Con đã xin thêm một xuất và báo là cha con hôm nay nghỉ không lên trại được...

Ðưa tay đỡ cái giỏ cho mẹ, Thư hồn nhiên :

- Chú đến đây là thật là hi hữu, lần đầu một nhà sư vào thăm trại đấy ! Giê-su-ma, Mẹ-bề trên cứ hỏi đi hỏi lại, sợ cái này cái nọ - Thư cao giọng, vừa cười vừa nói - lại còn bắt cả trại quét dọn cho sạch sẽ để tiếp khách. Con có thưa là chú Nhật thay cha làm việc thường ngày nhưng Mẹ-bề trên không bằng lòng đâu.

Thân ái vòng tay ôm vai Thư, Nhật xuống dốc, nghe Thư láu táu :

- Biết con từ ngày con còn trong bụng mẹ con - Thư ranh miệng, đùa - chú có thấy con lớn lên không ?
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #175 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:39:27 pm »

Nhật vui vẻ, đùa lại :

- Có, nhưng hình như chỉ một tí ! Cha con đi đâu ?

- Cha con có chú vui hẳn lên. Cha con ở nhà viết lách cái gì cho chú đấy.

Vào đến trại trong, một người đàn bà đã cao tuổi mặc áo thụng màu xám, đầu đội mũ rộng vành kiểu các

bà sơ, chạy ra đon đả :

- Xin chào thầy. Thầy quá bộ đến thăm thật là quí hóa. Trại chúng tôi nghèo, chẳng làm sao tiếp thầy cho
trịnh trọng, thầy đừng lưu tâm, bỏ qua cho.

Nhật chắp tay, cúi đầu :

- Cám ơn Mẹ. Kẻ xuất gia đâu có giàu hơn ai. Mẹ đừng bận lòng. Cũng xin phép Mẹ cho được làm cái việc của anh tôi là Trọng Thức hôm nay không lên trại...

- Úi giào ! Cái đó thì thầy để khoan cho. Xin thầy dùng bữa sáng với chúng tôi đã.

Bước theo Mẹ-bề trên, cả bọn vào một căn nhà sáu gian, nơi trại dùng làm phòng ăn. Nhật thót bụng nhìn.
Trên những dãy bàn là những người mà xã hội xua đi. Kẻ mất mũi chỉ còn hai lỗ thở sâu hoắm. Người bị rụng ngón, bàn tay bàn chân nay chỉ còn hai ba ngón, chốâng nạng lết đi ... Họ đứng cả dậy để chào, ngượng nghịu cười, rồi lại lục đục ngồi xuống.

Trại có lẽ có đến gần hai trăm người. Bệânh còn nhẹ, măït họ chỉ sần sùi, mắt sưng lên, da dẻ như bị ban ửng đỏ rồi thâm sịt lại sau một thời gian. Nặng hơn, bệnh đục vào ăn xương ăn thịt, làm lở loét, khoét vào mồm vào mũi, rồi chân tay. Trại tự lực cánh sinh. Những người bệnh nhẹ có sức phải canh tác, phạt rẫy trồng trọt ngô, khoai, cấy mười mẫu ruộng nằm ở tả ngạn sông Mã. Những người sức đã yếu thì thêu may hoặc đan rổ đan rá, gộp lại nhờ mang bán ở chợ trên vùng Nghĩa Bình không ai biết đến trại hủi ở xa mãi tít sông Mã. Còn lại, người bệnh nặng kiệt sức chỉ lo những việc nhẹ, nấu nước, lau chùi. Khi lập gia đình, họ ở riêng. Nếu không, họ tụm vào cứ năm sáu người một nhà. Tất cả đều ăn chung với nhau, việc củi lửa nấu nướng tập trung cho toàn trại để tiết kiệm nhân lực và thời giờ. Thuốc men thật không có gì, chỉ toàn là lá và rễ cây theo những bài thuốc Nam nhặt nhạnh được. Không hy vọng khỏi, họ yên phận, hẹn với nhau là có đau đớn thì tìm chỗ riêng mà rên rỉ để khỏi làm nhụt lòng những kẻ đồng bệnh. Và họ sợ nhất là tuần trăng lên. Trăng lên khiến họ có cố nhịn mà vẫn không kìm được, tiếng rên la kêu đau và tiếng cầu kinh om lên một vùng. Mai vào Hương Sơn tìm Hải Thượng Lãn Ông, tạ ơn đã cứu cái bào thai trong bụng mình ngày còn bị giam hãm ở kinh kỳ, rồi xin Lãn Ông một bài thuốc. Lãn Ông đích thân vào trại, ở suốt một tháng, đi quanh kiếm cỏ kiếm lá rồi sao rồi sắc, hì hục cả ngày. Bài thuốc tìm ra xong, Lãn ông giao cho Mai, dặn dò kỹ lưỡng rồi về. Từ đó, dẫu bệnh chưa chữa được khỏi, đã bớt đi dăm phần đau đớn, những tuần trăng lên không còn là một nỗi kinh hoàng cho cả trại.

Mẹ-bề trên kéo ghế mời Toàn Nhật, rồi thì thào :

- Bệnh phong cùi này nếu biết chống thì không lây được - Nắm tay Mai, Mẹ nói tiếp - đấy, dì Mai ở đây đã
gần hai mươi năm nay mà có sao đâu ! Thầy đừng sợ, cứ ăn nhé !

Nói xong, Mẹ Bề trên cúi đầu, mắt nhắm lại, miệng đọc kinh :

« Lạy Cha chúng con ở trên blời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên blời vậy... »

Mọi người đều lẳng lặng, nghiêm trang. Nghe xong, họ đưa tay làm dấu thánh giá.

Với tay cầm một khúc sắn luộc nóng, Nhật từ tốn ăn, mắt nhìn Mai, lòng cảm phục pha với chút ngậm ngùi. Sau khi sinh hạ Quốc Thư ở quê nội làng Phù Ðổng, Mai gửi con cho một bà cô rồi lên đường lặn lội đi tìm Thức. Thời gian đó, Thức đã lưu lạc qua Pondichéry bên Ấn Ðộ, rồi phiêu dạt đến Paris, nhưng chẳng một ai biết tin. Ngày Mai gặp được Trần Danh Kỷ ở Phú Xuân, Kỷ không nỡ kể chuyện Thức bị đẩy ra biển, chỉ nói là đã gặp Thức, sau đó thì bặt vô âm tín. Mai khóc, nhưng linh tính rằng còn có ngày thấy mặt Thức. Về Phù Ðổng được ít lâu, Mai bế con lên trại Bùi Phong chào gia đình La Sơn Phu tử. Sau đó, Mai lại quay lại Ða Phạn, vùng Thức đã lẩn trốn sau ngày bị Tế Lý lùng bắt. Giáo hữu đón tiếp mẹ con Mai như ruột thịt. Ai cũng gọi Mai bằng « cô », nhắc đến « thầy » Thức bằng những lời trìu mến trang trọng, mặc dầu không phải không có người biết Mai là em Ðặng thị Huệ và Ðặng Mậu Lân, kẻ bàn dân Kinh Kỳ gọi là « hung thần mắt cú » đã từng thiêu sống những người cùi hủi.

Giáo hữu ở Ða Phạn tản đi, có kẻ tạt xuống Hải Hưng, có kẻ suôi vào miệt Bùi Chu, phần để tránh bị vây hãm bởi đám quân quan thời Nam đoan Vương, phần muốn tạo thế ỷ giốc để nương tựa vào nhau. Từ khi giáo sĩ Seiyès đã tử vì đạo, chỉ còn có Thầy Xứ dẫn giắt giáo dân trong vùng kéo vào Hưng Nguyên. Thời đó, số người bị bệnh hủi từ Kinh Kỳ bị đẩy đi vẫn còn sống tụ tập ở thôn Bùi Ngõa phía đông kênh Sắt. Mẹ-bề trên, thuở còn trẻ tên gọi là dì Phước, một mình cưu mang đám người tật bệnh, tất bật từ sáng đến tối. Khi Mai vào thăm trại hủi, một thằng bé chừng mười hai mười ba, hai bàn tay ngón bị rút cụt hết, xỉa xói vào mặt, thét : « ... thằng anh mi đã thiêu sống cả gia đình nhà tao », mắt trợn trừng đỏ ngầu màu máu. Mai sợ run bắn lên, ôm chặt con vào lòng, lùi ra. Ðêm hôm ấy, Mai không chợp mắt, thao thức tưởng tượng ra cái cảnh Lân quây người hủi đem đốt sống. Sáng ra, Mai nói với dì Phước «... cho tôi ở lại đây giúp dì một tay ». Dì ngần ngại cười : « nhìn thấy bệnh tật mà «cô» không hãi à ? ». Mai lắc đầu. Dì làm dấu thánh giá, rồi nói « Giê-su-Ma lạy Chúa, khi nào «cô» không chịu được nữa thì phải nói ra nhé ...».
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #176 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:40:05 pm »

Ở trong trại phục dịch được nửa năm, Mai vất vả nhưng lại cảm thấy mình đâm gốc mọc rễ chứ không như thuở trước, cứ lênh đênh dẫu là sống trong nhung lụa ở Kinh Kỳ. Bé Thư nay đã đi chập chững, bập bẹ hỏi mẹ cha đâu. Những lúc đó Mai chỉ tay lên trời bảo con là « cha ở trên cao kia kìa ! » , lòng lại gợn lên những ngậm ngùi. Ðùng một cái, trại nhốn nháo. Nghe đâu tiền quân Tây Sơn từ Ðàng Trong đi đường biển đã vào chiếm lấy Vị Hoàng. Chưa thấy bóng dáng quân bộ, lính nhà Trịnh ở huyện Hưng Nguyên vừa vội tháo chạy, vừa cướp bóc hệt một đàn chó đói vô chủ. Những người cùi hủi bỗng nhiên biến thành nạn nhân của những cuộc chém giết dã man phát xuất từ sự tự ti của những kẻ đào binh hèn nhát. Dì Phước bàn với Mai mang cả trại chạy về phía tây bắc. Ðến bờ sông Mã, họ gom góp tiền mua được sáu chiếc thuyền, rồi chặt cây đóng bè, theo triền sông đi ngược lên thượng nguồn.

Thuyền bè cứ thế chống đi hai ngày đêm. Gió đông se sắt đầu tháng chạp trên sông lạnh thấu xương. Trăng thượng tuần đã xế đầu trải một lớp sáng xanh ma quái lên bìa rừng âm u. Thỉnh thoảng, những cặp mắt hươu nai xanh lè, những cặp mắt hổ báo đỏ rực, vàng khè, thấp thoáng ẩn hiện cạnh bụi cây, bờ cỏ. Mai ôm bé Thư, ấp hơi nóng của mình cho con, răng đánh cầm cập. Nàng bỗng nghe tiếng rên, rồi tiếng khóc thút thít. Men đến cuối bè, nàng thấy thằng bé độ nọ đã thét vào mặt mình, nhắc chuyện Ðặng Mậu Lân đem thiêu sống không biết bao nhiêu người hủi năm Canh Tý ở ven đô. Nó nhìn Mai, răng nghiến lại, nhưng lạnh quá, lại lập cập đánh vào nhau nghe lách cách. Mai ngồi xuống bên cạnh nó. Hình ảnh những thân người bốc lửa lên như đuốc, mỡ cháy xèo xèo, mùi thịt nướng, tiếng la hét hãi hùng, tiếng gào thét thất thanh, cùng một lúc ập về làm đầu óc Mai căng ra đong đưa như cái màng nhện mảnh mai trước gió. Mắt Mai cay sè, cổ họng nghèn nghẹn. Nàng cởi chiếc áo bông, đưa cho thằng bé. Nó vẫn run cầm cập. Ðặt bé Thư xuống một bên, Mai nằm vào giữa, đắp thêm chiếc chăn rồi một tay ôm con, một tay ôm thằng bé. Ủ hơi nóng thân thể mình vào cái thân thể cùi hủi bệnh hoạn bên cạnh đang run rẩy co quắp, nàng nhắm mắt quên đi những vết ghẻ lở tàn phá, miệng nho nhỏ nói « ... ngủ đi, ngủ đi ! »

Thư vất chiếc cuốc vào gốc cây, mồ hôi nhễ nhại, đến với ống nước tu ừng ực. Nhìn lên trời, Thư vui vẻ :

- Sắp Ngọ rồi, chú nghỉ tay đi. Ta bới cơm ăn.

Phạt nốt cho xong đám cỏ tranh, Toàn Nhật lững thững xuống suối rửa tay. Vừa ăn, Thư vừa rủ rỉ kể cho Nhật nghe về cuộc sống gia đình mình. Trốn khỏi Phú Xuân cách đây đâu gần mười năm, Thức trở lại trại Bùi Phong. Sau đó Thức ngược dòng sông Mã đi tìm mẹ con Mai. Thư gặp cha lúc đã lên mười, vẫn còn nhớ cảnh mẹ mình cuống quít lên gọi tên cha rồi ngã bất tỉnh. Từ đấy, cuộc sống an vui cho đến ngày Thức nhận được tin đến từ Pháp qua một linh mục ghé thăm giáo phận Tây Ðang Ngoài. Người bạn Thức rất quí là hầu tước Condorcet - kẻ đã cưu mang và giúp Thức từ Paris trở về nước - nghe đâu bị chém cổ. Một số những người lãnh đạo Cách Mạng Pháp cũng lần lượt lên đoạn đầu đài. Nước Pháp hỗn loạn rồi từng bước được ổn định dưới thời Tam đầu chế, nhưng bao nhiêu lý tưởng xã hội Cách Mạng cứ dần dần tiêu vong. Sáu bảy năm trở về đây, Thức trở nên thầm lặng, có khi cả ngày không mở miệng. Nhiều hôm, thình lình Thức nói một mình cả buổi bằng tiếng Pha-Lang-Sa. Mẹ-bề trên đến lắng nghe ở cửa, lắc đầu không hiểu gì. Từ ngày nghe tin Nguyễn Ánh chiếm lại được Phú Xuân, Thức thỉnh thoảng nổi cơn lên đập phá, miệng quát « ... thế thì còn hy vọng gì ! ». Sau thời gian đó, hễ có dịp là Thức lại dọ hỏi tìm tin tức của Toàn Nhật.

Nhìn ra xa, Thư cười :

- ... mà chú thì như cánh nhạn đầu trời cuối bể. Lạy Chúa tôi, mẹ cháu cầu xin với Ðức Mẹ mãi, cho đến
ngày biết rằng chú về Thăng Long là bố cháu đòi lên đường đi gặp chú ngay.

Toàn Nhật nhắm mắt, hồi tưởng lại ngày mình bỏ Qui Nhơn, ôm xác Chúa Út chạy một mạch vào rừng cho đến lúc chân nhũn ra khuỵu xuống. Khi Nhật tỉnh lại, Nhật thấy cặp mắt một nhà sư hiền lành nhìn mình, không nói, không hỏi, thản nhiên như chẳng có chuyện gì. Nhật bật khóc hu hu. Nhà sư ngồi yên, vẫn nhìn hiền dịu.

Ðợi Nhật khóc xong, nhà sư hỏi trống không : « ... đỡ khổ chưa ? ». Chẳng đợi trả lời, nhà sư đứng dậy lấy một cây thuổng ra lặng lẽ đào huyệt. Cởi bộ áo giáp võ quan ra bọc lấy xác Chúa Út, Nhật ôm đặt vào lòng huyệt, quơ tay vun đất. Nhà sư giọng đều đều, tụng kinh cầu siêu trong tiếng khóc rấm rứt của Nhật. Một lúc sau, nhà sư lên tiếng: « ... vợ của thí chủ? ». Nhật lắc đầu. « Vậy sao lại khóc thảm thiết thế ? ». Nhật nhìn nhà sư, không biết nói gì, gật đầu. « ... Ðỡ khổ chưa ? ». Nhật lại lắc đầu. Nhà sư đứng dậy vừa đi vừa hỏi : « Có muốn dứt được khổ không ? ».

Nhật bước theo, từ đó trở thành vị pháp tự truyền đăng thứ hai mươi hai của Diệu Nguyên thiền sư. Sau hai năm tu tập cạnh thầy, Nhật xuống núi đi hoằng pháp. Nay đây mai đó đã mười lăm lần xuân về rồi lại xuân lại đi, lấy gió trăng làm bầu bạn, thiên hạ làm anh em, và đất trời làm nhà cửa, Nhật chẳng đậu ở chùa chiền nào hơn dăm ba tháng.

Thư tưởng Toàn Nhật ngủ, định đứng lên, bỗng nghe hỏi về quyển từ điển Việt - Pha Lang Sa - Latinh ngày xưa Thức đã bỏ công ra tu sửa. Thư đáp :

- ... quyển ấy thì xong lâu rồi, cháu không nghe thấy cha cháu nhắc. Từ ngày ở trại đây, cha cháu soạn quyển từ điển Pha-Lang-Sa -Việt - Pha-Lang-Sa. Riêng phần cháu, cha cháu bảo cháu dịch quyển « Về tinh thần luật pháp » của Montesquieu và quyển « Công ước Xã hội » của Rousseau, mười phần nay đã được bảy.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #177 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:40:53 pm »

Nhật trầm ngâm :

- ... còn cha cháu cặm cụi viết lách cả ngày, chắc cháu biết viết gì chứ ?

- Vâng, cha cháu đang hoàn thành một trước tác gọi là « Tề Nhân Thế Ðạo », chỉ thỉnh thoảng mới nói đến
với mẹ cháu. Cha cháu thảo ra cả mấy thếp giấy, nhưng cháu chưa được đọc ...

- Sao lại « Tề Nhân » ? Con người như nhau, bằng nhau là thế nào ?

Thư lắc đầu :

- Chú phải hỏi cha cháu - Thư cười - Ngày rộng tháng dài, chắc cha cháu chỉ đợi chú hỏi là nói. Mấy năm
nay cha cháu có nói được với ai đâu.

Chợt có tiếng chân người bước lại. Mẹ- bề trên cùng Mai bước lại, miệng tươi cười :

- Thầy vất vả, làm chúng tôi không yên tâm. Lên đây xin thầy giúp cho một việc. Trong trại chúng tôi, vừa có con chiên của Chúa, lại cũng vừa có người bên lương. Người lương vẫn theo đạo Phật, nhưng cho đến nay không có duyên được gặp một nhà sư nào viếng thăm. Run rủi thế nào mà có thầy ở đây, vậy tôi xin thầy gặp họ giúp họ tu tiến phần tâm linh ... Nếu được như thế thì quí hóa lắm !

Nhật ngạc nhiên đứng sững người ra. Bỗng dưng, những lời đồn đại về sự hẹp hòi của người bên giáo không có cánh mà bay tuyệt tăm hơi. Trước mắt, Nhật chỉ thấy một người đàn bà độ lượng mỉm cười chờ câu trả lời. Chắp tay, cúi đầu, Nhật vui vẻ :

- A di đà Phật, kẻ tu hành này xin hết sức mình.

Một trong ba gian nhà dùng làm thư phòng, là nơi Trọng Thức viết lách sau công việc ở trại hủi. Sau khi Mai và Thư cầu kinh rồi đi ngủ, Thức pha nước, nhắc Nhật kỷ niệm vào trà thất uống tràvới Koji ở Phố Hiến đã gần hai mươi năm trước. Tiếng thác đổ sau nhà nhặt khoan như ru như hát trong âm thanh rủ rỉ của muôn vàn loài côn trùng hòa tấu đón buổi đông về. Ðêm co lại dưới những cơn gió bấc lạnh lùng. Khêu đèn lên, Thức lẳng lặng rót nước vào ấm trà nhỏ bằng nắm tay. Ðợi một lát, Thức đổ sang chén tống, sau đó san trà qua chén con đưa cho Nhật. Hai tay đỡ lấy, Nhật nhắp uống, mũi phập phồng hít hương trà ngan ngát xông lên. Nghe Nhật hỏi, Thức chậm rải :

- Thế nào là Tề Nhân ư ? Con người ta dĩ nhiên là khác nhau. Từ trong bụng mẹ, cái bào thai đã có cái mạnh, cái yếu, cái khôn, cái dại. Sinh ra, có đứa sinh trong nhung lụa ngọc ngà, có đứa mới vào đời đã chịu ngay sốù phận cơ cực cùng với cha mẹ mình. Mạnh, yếu, khôn, dại phát triển trong những điều kiện dị biệt, ắt chúng lớn lên, lại càng khác nhau. Nhà nghèo thì chết non, thất học, sau làm thân tôi mọi để có mà ăn. Nhà giàu, ngược lại, bệnh thì có thuốc, được học hành, rồi sau thi cử đỗ đạt, thành quan thành tướng, tự xưng mình là phụ mẫu, cha mẹ bàn dân để đè đầu cưỡi cổ. Ngẫm cho cùng, xã hội phân hóa như vậy thành những đẳng cấp. Nếu cứ thế, những đẳng cấp đó tiếp tục tồn tại, bất dịch, cho nên đại thể « con vua thì lại làm vua ...».

- Nhưng phải chăng thân mệnh khác nhau là từ đấng Hóa Công mà ra ? Nhật ngắt lời - Cái bào thai trong bụng mẹ có là từ duyên nghiệp ...

Thức khẽ giơ tay, chặn ngang :

- ... Khoan vào vòng siêu hình vội. Này nhé : mẹ cái bào thai cũng từng đã là một bào thai, nó có mẹ nó, rồi mẹ nó cũng từng đã là một cái bào thai. Cứ thế đi ngược lên, số người ít dần, cho đến khi có đúng một cặp đàn ông đàn bà thuở nguyên thủy. Con cái họ chắc là cũng khác nhau. Nhưng khác bao nhiêu ? Hẳn là phần dị biệt nếu có không thể có nhiều như xã hội bây giờ. Ðám con cái đó cùng một giống di truyền, sinh hoạt trong cùng một điều kiện vật chất lẫn tinh thần, dẫu có phát triển khác nhau thì sự khác biệt trên cùng một cơ sở vẫn ít hơn là sự khác biệt trên những cơ sở đối chọi nhau như giàu nghèo chẳng hạn. Từ Hóa Công sinh ra ở lúc khởi đầu, con người gần như nhau, gần bình đẳng như nhau, đó là lẽ Tề Nhân từ nguyên thủy.

Về sau, con người tổ chức thành xã hội với nhau, tạo ra thế sự bằng luật lệ, tư tưởng, chính trị của mình thì mỗi ngày con người một khác nhau, phân chia ra, đối kháng, đàn áp nhau, đi ngược hẳn lại sự bình đẳng nguyên thủy. Thế sự là do người, không phải do Hóa Công. Vậy, có thể quan niệm một thế sự nào đó có khả năng trả lại và thể hiện ý thức công bình không ? Ðó là vấn đề đặt ra trong « Tề Nhân Thế đạo » ...
Chữ « Thế » là hàm ý đó.

- Theo lẽ biến dịch, người ta phát triển tiến hóa không thể cứ như nhau. Dị biệt là tất yếu. Vậy công bình là ý niệm không loại bỏ, thậm chí phải chấp nhận tính dị biệt - Nhật điềm tĩnh hỏi - Thế thì công bình cho đồng loạt chúng sinh là thế nào ?

- Công nghĩa là chung, vậy ý thức công bình là một ý thức chung về sự bình đẳng đặt ra như một ước lệ được mọi người chấp nhận. Ước lệ đó tự thân là một Công ước: nó dựa trên ý chí của mỗi con người tự do nhận mình là một thành viên xã hội. Nó là ý chí phổ quát trên cái chung, tức là trên phạm trù xã hội. Xã hội đó, mỗi người ở vị thế tư riêng có hoàn toàn tự do trong sự chọn lựa tự ràng buộc mình vào người khác qua cái Công ước nói trên. Chính cái Công ước là nền tảng của ý thức công bình được xác định.

- ...

- Trước hết, mỗi người khi sinh ra đã có một số quyền căn bản không ai xâm phạm được. Bất luận sang hèn, giàu nghèo, trai gái, lương giáo, họ đều tự do và bình đẳng về quyền hạn trước pháp luật. Một số quyền cơ bản là quyền được sống, quyền tự chủ, quyền bất khả xâm phạm về tinh thần cũng như thể xác

... Ðể phát huy tính công bình xã hội, lại phải khẳng định thêm một số thứ quyền cho tất cả mọi người như quyền đi học, quyền có công ăn việc làm, quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, quyền chuyển hoán bổ nhiệm những kẻ được cử ra quản lý guồng máy xã hội ...

Thức chậm rãi, nói như thì thầm :

- Công ước xác minh những quyền hạn ấy làm khung cho luật pháp. Làm sao biết đó là từ ý bàn dân và do chính bàn dân định ?

Ðưa tay lên bóp trán, Thức im lặng một lúc lâu. Uống xong chén trà, Thức từ tốn tiếp :

- Làm sao ư ? Phải nghĩ ra cái cơ chế để thể hiện ý bàn dân hầu có một xã hội mà luật lệ ràng buộc là do dân định. Nhưng dân đông, lại ở rải rác khắp nơi. Hội ý dân bằng cách nào ? Có người, như Emmanuel Sieyès, cho rằng bàn dân có thể cử người đại biểu, rồi những người đại biểu này họp nhau lại soạn ra và tu chính công ước từng bước một. Có người chống lại, như học giả Rousseau, không chấp nhận nguyên tắc đại biểu, đòi hỏi một nền dân chủ trực tiếp. Nhưng dẫu có hội ý được mà rồi mỗi người một phách thì làm sao ? Bàn dân có thể hợp lại thành những tập đoàn đảng phái để gây ảnh hưởng lớn hơn so với mỗi cá nhân lẻ tẻ. Vì thế, cái đề nghị một nền dân chủ trực tiếp cũng vẫn dẫn đến có kẻ lợi người hại, kẻ theo người chống, và khả năng họ tập hợp với nhau ... Còn chấp nhận nguyên tắc đại biểu ? Ðiều này có nghĩa là chấp nhận những tiểu tập đoàn, và chính vậy mà cũng đưa đến cùng một hệ quả tương tự với nền dân chủ trực tiếp!
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #178 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:41:33 pm »

Thức đứng dậy ra đứng cạnh cửa sổ. Sương núi buông xuống mờ mịt như vây hãm thế gian trong vòng đen đặc của kiếp phù sinh. Ðóng cửa xong, Thức quay vào ngồi, tiếp :

- Người bạn quá cố ta là Condorcet cũng mang vấn đề này ra bàn trên mặt lý học.

Trầm ngâm, tay chấm vào chén nước trà, Thức vẽ lăng quăng lên mặt bàn, rồi chậm rãi :

- Chẳng hạn như bầu người đại biểu dựa trên sự chọn lựa của mỗi cá nhân hợp với nhau thành một tập thể. Giả dụ có ba người, ông A, B hay C để chọn. Giả dụ ba người đó có quyền bầu. Sự chọn lựa của tập thể ba người đó phải thế nào ? Lại giả dụ rằng người thứ nhất ít nhất là thích ông A hơn ông B; ông B hơn ông C. Người thứ nhì, ông B hơn ông C, ông C hơn ông A; và người thứ ba, ông C hơn ông A, ông A hơn ông B. Trong thứ tự chọn lựa đó, nếu ta để ba người đi bầu hoàn toàn bình đẳng, nghĩa là không ai có cái quyền độc đoán áp đặt cách xếp hạng của mình lên tập thể ba người, thì A hay B, hay C hoàn toàn tương đương. Vậy sự chọn lựa tập thể trong trường hợp này là không xác định được ! Dĩ nhiên, thí dụ này là một thí dụ đặc thù chỉ nhằm biểu trưng sự khó khăn tạo ra cơ chế chọn lựa hợp lý của một tập thể.

Nhưng không phải xã hội nào cũng rơi vào cái trường hợp trên để biện minh cho sự độc đoán độc tôn. Môät xã hội chấp nhận sự độc đoán độc tôn của ông A chẳng hạn, xếp ông ta lên trước nắm quyền, tô vẽ nó như thiên mệnh theo kiểu quân chủ phong kiến. Ép cả thiên hạ phải tuân mệnh, công nhận sự sắp xếp đó vô thời hạn là việc không thể làm mãi được. Sớm muộn cũng có người dặt lại câu hỏi, thậm chí chống lại. Nhưng nếu chống lại sự độc tôn độc đoán ở xã hội này, thì chỉ có một cách là nổi loạn ... Ðấy, đất nước ta là như vậy đấy. Mấy trăm năm rồi, giặc dã liên miên vì thế ...

Nhật ngửng đầu nhìn lên những chiếc kèo ngang dọc trên trần nhà, lẳng lặng nghe tiếp hệ tư tưởng Thức dày công đặt từng viên gạch xây nền đắp móng. Uống một ngụm trà, Thức gõ nhẹ lên mặt bàn, rồi trầm giọng :

- Gạt tạm sang một bên cái thực tế nước ta, hãy tiếp tục xét mặt lý của vấn đề tổ chức quyền lực một cách tổng quát. Trở về thí dụ trước, và cứ ba người bầu ra một để đại biểu cho hai người kia. Người thứ nhất là ông A, thứ hai là ông B, thứ ba là ông C. Bây giờ, giả thử chọn A, dĩ nhiên, người thứ hai xếp B trên C, C trên A là kẻ bất đạt nhất. Vậy nếu chọn lựa có định kỳ thì sau khi A là đại biểu, ta chọn B. Cứ thế, sau B thì chọn C, sau C thì lại chọn A. Ðúng một vòng luân chuyển đại biểu, tính công bình được tái tạo lại. Rút cục, quyền lực đại biểu phải luân hoán ở trong một cơ chế trong đó đa nguyên được bảo đảm thì tính công bình xã hội mới khả thi. Nếu không, công bình chỉ là sáo ngữ rỗng tuếch ...

Thức lại im lặng, tay đốt đóm châm vào chiếc điếu cầy, rít sòng sọc. Những sợi tóc bạc rối bù như đang nổi loạn trên mái đầu Thức, trắng toát, cô đơn, ngạo nghễ chổng ngược lên trời. Thức lẩm nhẩm nói một mình :

- Ở mức độ trừu tượng vừa đề cập, bài toán chọn lựa tập thể đã khó. Vào thực tế, lại càng khúc mắc. Tập thể bắt đầu là gia đình. Lúc ấy, sự chọn lựa là ăn chung, ngủ chung, nuôi con dạy cái. Sau gia đình là thôn xóm, rồi làng xã. Sau làng xã là tổng, là huyện, là tỉnh rồi đến trấn, đến vùng cho đến cả nước. Ở mỗi mức, sự chọn lựa tập thể lại khác. Làng có việc làng, tỉnh có việc tỉnh. Nước có việc nước. Làm sao để trong mọi việc, từ việc làng xã đến việc đất nước, mỗi người đều có một tiếng nói bình đẳng với mọi người ? Cái cơ chế đó phải được định đoạt thế nào trong Công ước ? - Thức ngừng nói, rồi mơ mộng - một mẫu hình Công ước có cơ cấu chồng chất lên nhau, sắp xếp trong nhau như dạng một bài toán đố.

Ngập ngừng, vết sẹo đâm xuống chân mày giựt lên, Thức thầm thì như chỉ để cho mình nghe :

- ... Một bài toán đố ta vẫn chưa giải được .

Thư đến tìm Nhật vào buổi xế chiều, vừa đúng lúc Nhật làm xong nghi thức tụng niệm cầu an cho Phật tử trong trại hủi. Với những con người mà thể xác bị đày đọa cùng cực, phần tâm linh tự nhiên trở thành cái phao cứu độ trong dòng nước trầm phù của cuộc sống. Luận về luân hồi mở ra cho họ con đường chấp chế khổ đau, thôi oán thán, mở tâm thức đón nhận từng ngày từng giờ niềm an lạc ở trong điều kiện của họ. Niết bàn ở ngay đây, và Phật là chính trong ta, sao hoài công kiếm gì ở những đâu xa, như kẻ trên thuyền trôi đi mà vẫn lao tâm khổ trí nhìn trời hỏi tìm ra nước ?

Hai chú cháu thư thả xuống dốc về nhà, vừa đi vừa đợi Mai còn bận bịu chút việc. Nhật điềm đạm :

- Cháu ạ, bố cháu lao tâm vào cái việc viết Tề Nhân Thế đạo, vận trí tìm cho xã hội một phương thức điều hành dựa trên công bình bác ái. Nếu thành, thì con người ta sẽ sống với nhau yên vui hài hòa hơn, thôi ức hiếp, cướp bóc lẫn nhau, và hẳn sẽ bớt giặc dã chiến chinh ... A di đà Phật, cái tâm lớn thế, chú cầu xin cho bố cháu đủ trí lực để hoàn thành mãn mỹ cái quan niệm xã hội cộng hòa đó cho thế nhân... Nhưng chú ngại vì thế nhân trong tư tưởng của bố cháu khác xa với người đời trong thực tế...

Nhật tiếp, giọng trầm xuống như nói cho chính mình nghe :

- Người đời xử thế không hẳn thuần lý. Cho nên dẫu sự công bình và lòng bác ái đến từ lý lẽ, nó chưa đủ là mẫu mực cho hành vi con người, vốn còn bị chi phối bởi hỉ nộ ái ố lạc dục. Hành vi đó phát xuất từ lục căn, ngũ uẩn nên tham - sân - si làm bức màn vô minh ngăn sự tỉnh thức.

Thư xen vào, giọng đầy phấn khởi :

- Cũng chính vì thế mà giáo dục là một thứ quyền hạn cơ bản cho mỗi con người. Có biết, làm mới tốt. Làm
tốt dân sẽ giàu. Dân giàu, nước phải mạnh. Lẽ tư riêng và lợi ích chung dựa vào nhau, không có cái nọ là
chẳng có cái kia ...

Nhật mỉm cười, nhớ rằng việc Thư nhận là cứ mỗi tuần dạy ba buổi học cho những người cùi hủi trong trại. A, cái tuổi trẻ kỳ diệu, như trồi cây non tìm ánh sáng mặt trời, nhú ra và vươn lên như lẽ tất nhiên. Dịu giọng, chàng hỏi :

- Nhưng còn cái quyền hạn tự do. Giả thử có một người không chịu sự giáo dục, cháu làm thế nào? Bắt người ta đi học à?

- Vâng. Quyền hạn đi đôi với bổn phận. Cái học để biết, biết để không nhiễu người khác, là bổn phận. Pháp
luật nhằm bảo vệ lẽ chung khi cái riêng tư của mỗi con người đối chọi lại nó. Tự do cá nhân ngừng ở ngưỡng cửa quyền lợi của tha nhân. Kẻ canh cửa là pháp luật định trong Công ước.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #179 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2011, 04:42:14 pm »

Nhớ buổi nói chuyện tối qua, Nhật nhủ thầm rằng Thư chắc hẳn chưa rõ hết vấn đề thuần lý khúc mắc để xác định ra cái Công ước kia đang dày vò Trọng Thức. Chàng bỗng rùng mình. Một nỗi sợ ùa đến. Sợ những khẳng định cực đoan về cái cơ chế chi phối nhân và thế. Sợ những nề nếp con người đặt ra để trói buộc con người trong cách tư duy giản lược rút về một mối. Ngừng chân, Nhật nhìn vào mắt Thư, hỏi :

- Dạy người, cháu dạy đọc, dạy viết, dạy nghĩa lý, dạy trồng trọt ... Cháu có dạy họ yêu thương được không ?

Thư lạc quan, nhanh nhảu đáp :

- Thưa được ! Yêu người rút cục là một cách yêu mình. Ðắc nhân tất đắc kỷ.

- Tất cả là do vị kỷ mà ra ?

Ngần ngừ, Thư gật đầu. Nhật trầm giọng :

- Chú nghe Mẹ-bề trên giảng : « Chúa Giê-Su dạy : Ta không bảo các người chỉ yêu cha, mẹ, anh em, vợ con. Ta bảo các người hãy yêu lấy kẻ thù của các người. Hãy thi ân, cho vay mượn cho dù không có báo đền. Các người sẽ là những người con của Ðấng Tối Cao, vì người nhân lành với những kẻ vô ơn độc ác.
Các người hãy biết thương xót, như Cha các người là Ðấng thương xót ».

Thư lặng im. Nhật đẩy cửa vào nhà đi rửa tay, lòng bâng khuâng. Một lát sau, Mai cũng về, miệng nói :

- Không hiểu sao cứ máy mắt.

Ánh nắng tà giữa mùa đông nhuộm cây cỏ một màu vàng pha sắc tái trông như nước da người sốt rét. Thư lúi húi nhóm lửa trong bếp, xuýt xoa kêu lạnh. Bỗng nhiên, Mai thét lên. Nhật chạy vội vào chái nhà bên cạnh. Mặt tái nhợt, Mai không nói được, tay quơ quơ một tờ giấy, rồi ngã chúi xuống chân giường. Thư cũng vội vã chạy vào đỡ lấy mẹ. Nhật đưa tay lấy tờ giấy. Nhìn nét chữ của Thức, mực chắc vừa khô, Nhật thảng thốt. Không nói không rằng, Toàn Nhật bung cửa chạy sổ ra ngoài. Như một vết khói màu xám khổ hạnh, chàng thoắt biến thoắt hiện trong rừng cây xào xạc gió.

Cứ thế, Toàn Nhật chạy lên núi, theo con đường chàng đã nhiều lần đi dạo với Trọng Thức, như bị hút tới phía trước bằng một sức kéo vô hình. Manh áo sồng bay về đằng sau như cánh chim giạt gió, chàng co chân sải như hươu nai, đầu óc tê liệt đến trống không, mặc cho linh tính dẫn dắt. Nhật chạy, cứ chạy, rồi bỗng nhận được ra một cái cây bị chặt cành, nhựa ứa trắng chỗ dao chém. Thêm vài bước, lại một cái cây khác cũng hệt như vậy. Theo những thân cây có vết chém, Nhật tiếp tục chạy, mũi bỗng ngửi thấy mùi củi đốt. Chàng bỗng chột dạ. Phải thế chăng ? Theo mùi củi cháy, Nhật leo lên. Trên cao, trong tầm mắt Nhật, khói bay lên lững lờ rồi loãng dần, tan biến trong cơn gió bần bật. Lúc này, Nhật không còn nghi ngờ gì nữa, trống ngực đánh như muốn phá bung cơ thể, tim nhói lên một niềm đau đớn xé ruột xé gan. Rẽ vào khúc ngoặt dẫn lên đỉnh núi, một con chim bàng ở đâu xổ ra, bay lên, rồi lượn vòng trên đầu. Mùi củi đốt nồng hơn. Ðến chỗ chàng thường ngồi trò chuyện với Thức những ngày vừa qua, Nhật ngừng chạy, nhìn chằm chặp vào mỏm đá cao quay ra phía cuối sông. Cạnh đấy, những nhành cây đã cháy thành than vẫn còn bừng đỏ lách tách nổ . Nhật hiểu.

Thức đã hóa thân thành đống tro tàn nằm kia, lặng lẽ không một lời, đón Nhật từ nay cho đến mãi mãi sau này bằng cách trả lại tịnh không cái nín im ở phút giây đầu tiên tạo thiên lập địa.

Nhật hổn hển, chúi chân xuống đất, miệng mặn chát, chẳng hiểu là vì mồ hôi hay vì nước mắt. Gió, lại gió.
Cứ từng cơn thốc tháo vào cõi nhân gian. Bụi, lại bụi. Ta cũng là cát bụi. Bụi mịt mù xoáy tròn một cơn lốc phù sinh. Nhật quì xuống xếp chân tọa thiền, nhập vào cõi không, miệng niệm :

« Sắc bất dị không, không bất dị sắc .....

Sắc chẳng khác không, không chẳêng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế....Tướng không của vạn pháp, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt cho nên không có sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức...»

Như một hòn giả sơn, Nhật bất động, mặt hướng về mỏm đá nơi Trọng Thức đã chặt cây xếp củi, sửa soạn lưu huỳnh và diêm sinh rồi tự mình châm lửa, cháy bùng lên như một ngọn đuốc cô đơn trên đỉnh núi cao. Con chim bàng vẫn lượn đi lượn lại thảng thốt kêu tiếng kêu thương. Nắng đã tắt trên đầu những chòm cây lặng lẽ. Sương muối thấp thoáng ẩn hiện dần dà bốc lên lơ lửng. Thinh không bỗng nhầu nát quặn mình qua tiếng hát giọng đàn bà kéo dài dằng dặc. Hát rằng :

Anh nằm xuống

sau một lần, đã đến đây

đã bay cao trong bầu trời này

đã đi xa trong cuộc đời này ...

Rồi nằm xuống

không nói năng

không tiếng tăm....

Như giọt nước kia, về cội nguồn.

Như áng mây xa, quay lại nhà,

rồi nằm xuống

trong tiếng ru người, đến từ thinh không...
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM