Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:35:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những kiến giải về sự hình thành và danh xưng quân hàm thế giới  (Đọc 150452 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #40 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2011, 08:39:56 am »

Các bác cho em hỏi câu nói "Lột lon", "Lên lon". "Đeo lon" Có phải do ảnh hưởng từ thời kì Pháp thuộc không ạ.

Có thể nói đúng như thế! "Galon" trong tiếng Pháp dùng để chỉ các vạch trên cấp hiệu, mỗi vạch là một galon. Về sau, chính người Pháp cũng dùng từ galon để chỉ quân hàm. Còn ở ta, có lẽ ban đầu, các thông ngôn ban đầu canh theo cấp hiệu để diễn giải cho bình dân, sĩ quan "cinq galons" thì gọi là "quan năm", "quatre galons" thì gọi là "quan tư", "trois galons" là "quan ba" và "deux galons" thì gọi là "quan hai". Cách này còn khỏe chỗ không phải giải thích tại sao cùng là quan capitaine mà có ông 3 vạch, có ông 4, 5 vạch. Từ galon từ đó gọi trại thành "lon". Các thuật ngữ "Lột lon" (tước quân hàm), "Lên lon" (thăng quân hàm), "Đeo lon" (mang quân hàm) chính là từ đó mà ra.
Logged
linhthongtin
Thành viên
*
Bài viết: 58


« Trả lời #41 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2011, 12:39:09 pm »

Em ủng hộ chủ đề này của bác. Em đang chờ đến phần cấp bậc quân hàm của Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ để tìm hiểu, so sánh với hệ thống quân hàm của quân đội ta. Chắc đến lúc đó em sẽ hiểu hơn về cách dịch cấp bậc quân hàm trong phim ảnh, sách báo. Nhân đây bác cho em hỏi có phải QDND Việt Nam là quân đội duy nhất có cấp "thượng" như thượng úy, thượng tá, thượng tướng hay không ?
Logged

Kịp thời - Chính xác - Bí mật - An toàn.
Lính Thông tin coi đó là sự sống !!!
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #42 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2011, 10:59:19 pm »

Em ủng hộ chủ đề này của bác. Em đang chờ đến phần cấp bậc quân hàm của Liên Xô, Trung Quốc và Mỹ để tìm hiểu, so sánh với hệ thống quân hàm của quân đội ta. Chắc đến lúc đó em sẽ hiểu hơn về cách dịch cấp bậc quân hàm trong phim ảnh, sách báo. Nhân đây bác cho em hỏi có phải QDND Việt Nam là quân đội duy nhất có cấp "thượng" như thượng úy, thượng tá, thượng tướng hay không ?

Cảm ơn các bạn ủng hộ! Chủ đề này tuy sờ sờ trước mắt nhưng vẫn không ít trường hợp hiểu lầm đáng tiếc, nhất là trong dịch thuật, dẫn đến hiểu sai cả. Ngay tại Việt Nam, một trường hợp có thật, một chuẩn đô đốc bị trung úy vệ binh ra lệnh cho lính ra lệnh kiểm tra kỹ vì cho rằng: "Chuẩn úy thì có, chứ làm gì có chuẩn đô đốc". Chuyện thật, do chính khổ chủ kể, nên không thể không tin.

Như đã nói ở đầu bài, không phải duy nhất chỉ Việt Nam có cấp Thượng.... Có đầu tiên phải nói đến ... Triều Tiên, sau là Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam có cuối cùng. Còn nếu mở rộng ra so sánh cả châu Âu, Nga có Старший лейтенант, CHLB Đức có Hauptmann cũng có thể xem là cấp Thượng úy chăng?

Thật khó mà tường!
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Tám, 2011, 11:36:59 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #43 vào lúc: 23 Tháng Tám, 2011, 09:57:27 am »

Hệ thống cấp bậc Không quân Pháp lấy nguyên từ Lục quân Pháp. Chỉ khác là có thể thêm hậu tố "aérien" (không quân) để phân biệt mà thôi.

Lực lượng Hiến binh Quốc gia (gendarmerie nationale) thì lấy nguyên từ Lục quân.

Các cấp bậc sĩ quan Hải quân khá dài, nên các thủ thủ thường gọi cấp bậc các sĩ quan chỉ huy của mình bằng tên lóng ngắn gọn như:

- Capitaine de vaisseau: cap de veau
- Capitaine de frégate: frégaton
- Capitaine de corvette: corvettard
- Lieutenant de vaisseau: loufiat

Một điều khá thú vị về cách xưng hô trong quân đội Pháp. Tùy theo cấp bậc, các quân nhân Pháp khi giao tiếp với cấp trên phải xưng hô theo quy tắc. Mặc dù có thể xưng hô theo cấp bậc cụ thể, nhưng thông thường, người Pháp lại xưng hô theo bậc. Điều này dẫn đến thông lệ của nhiều quốc gia khác, kể cả trong văn viết, tuy nhiên, tại nơi khai sinh ra thông lệ này, nó thường xuyên gây nhầm lẫn nếu không nằm trong ngữ cảnh.


- Toàn bộ cấp tướng được xưng là "général" và đô đốc là "amiral"
- Cấp Colonel và Lieutenant-colonel xưng là "colonel"
- Cấp Capitaine de vaisseau, Capitaine de frégate, Capitaine de corvette (Hải quân) và Commandant (Lục quân, Không quân) được xưng là "commandant"
- Cấp Lieutenant de vaisseau (Hải quân) và Capitaine (Lục quân) đều xưng là "capitaine"
- Cấp Enseigne de vaisseau (cả 1 và 2), Lieutenant và Sous-lieutenant đều xưng là "lieutenant"

Tương truyền, nguyên thủy các sĩ quan đều là gốc quý tộc, nên khi binh sĩ xưng hô với sĩ quan phải gọi sĩ quan đó phải thêm tiền tố "mon" ở trước như "mon colonel", "mon commandant". Tuy nhiên, Napoleon do quá giận dữ với trận thua Trafalgar của Hải quân Pháp, nên đã ra lệnh tước tiền tố này đối với các sĩ quan Hải quân. Từ đó các thủy thủ không xưng với các sĩ quan là "mon amiral" hay "mon commandant" nữa.

Ngày nay, ở Pháp, các binh sĩ cũng không dùng tiền tố "mon" khi xưng đối với các sĩ quan nữ.

Tiền lệ này đã dẫn đến tiền lệ của nhiều quốc gia khác. Đồng thời nó cũng dẫn đến không ít sự nhầm lẫn trong các tài liệu ta khi truy nguyên nguồn gốc cấp bậc của các sĩ quan chỉ huy. VD như 2 sĩ quan chỉ huy Pháp bị ta bắt trong chiến dịch Biên giới 1950 là Pierre Charton và Marcel Lepage, rất nhiều tài liệu ta ghi là Đại tá. Một phần do nhầm lẫn bởi từ "quan năm" trong tiếng Việt, phần khác bởi không biết rằng "colonel" vừa là cấp bậc đại tá vừa là danh xưng chung cho cả cấp đại tá lẫn trung tá. Kỳ thực cả 2 đều là trung tá. Hoặc cụ Đặng Văn Việt, tuy chỉ mang hàm Trung tá, nhưng sách báo nước ngoài đều ghi cụ là "colonel Viet".

Tương tự vậy, trong sách báo Anh ngữ, cần phân biệt theo ngữ cảnh để biết general khi nào dịch sang cấp bậc "Đại tướng", khi nào chỉ đơn giản là danh xưng "Tướng quân". Cũng như khi nào dịch admiral sang cấp bậc "Đô đốc" hay chỉ là danh xưng chung "đô đốc" cho các tướng hải quân.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Tám, 2011, 11:46:15 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #44 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2011, 08:54:09 pm »

Đế quốc Đức được thành lập năm 1871, hình thành từ các công quốc độc lập của Đế quốc La Mã thần thánh. Quân đội Đức cũng thành hình từ các đội quân của các công quốc, dù trước đó, họ từng chiến đấu dưới ngọn cờ minh chủ của quân Phổ. Ngay từ khi thành lập, hệ thống quân hàm Đức gần như theo hẳn hệ quân hàm của Phổ, nhưng vẫn giữ những dấu hiệu phân biệt của các tiểu quốc (nay là các bang) của Đức.

Hệ thống quân hàm sĩ quan của Phổ nguyên thủy hình thành theo hệ cấp bậc của Đế chế La Mã thần thánh, căn bản phân chia 6 cấp như sau:

Cấp Quân (Heer)    
1. Tổng soái (General bzw. Feldmarschall)
2. Phó soái (Generalleutnant bzw. Feldmarschallleutnant)
*. Phụ tá tổng soái (Generalwachtmeister)

Cấp Đoàn (Regiment)
3. Đoàn trưởng (Obrist)
4. Đoàn phó (Obristleutnant)
*. Phụ tá đoàn trưởng (Obristwachtmeister)

Cấp Đội (Kompanie)
5. Đội trưởng (Hauptmann/Rittmeister)
6. Đội phó (Leutnant)
*. Phụ tá (Wachtmeister/Feldwebel)

Thay vì cấp bậc Kapitän, người Đức lại dùng nguyên thủy của nó là Hauptmann (trong tiếng Latin, "caput" có nghĩa là đứng đầu). Trong các lực lượng kỵ binh, cấp bậc tương đương với Hauptmann là Rittmeister.

Cấp chỉ huy Trung đoàn của người Đức là Obrist, sau được viết là Oberst (nghĩa là "cao nhất").

Trong quân đội Phổ, các cấp bậc Wachtmeister không hẳn là cấp sĩ quan mà chỉ đơn thuần là phụ tá cho các sĩ quan thực thụ. Tuy nhiên, các Wachtmeister vẫn được xếp hưởng lương của cấp quân nhân cao nhất của đơn vị liền kế nó. Ví dụ như Obristwachtmeister không phải là sĩ quan cấp trên của Hauptmann mà chỉ là phụ tá cho Oberst và được hưởng lương như Hauptmann.

Đến thế kỷ 18, các cấp bậc có sự điều chỉnh lại. Cấp bậc Wachtmeister/Feldwebel chính thức bị loại khỏi ngạch sĩ quan. Không như các quốc gia khác (thường là từ Trung úy "đi xuống" như Sous-lieutenant của người Pháp và 2nd Lieutenant của người Anh), thì với người Đức thì Leutnant (Trung úy) là cấp bậc thấp nhất thay vì Unterleutnant (Thiếu úy).

Ở các quân đội khác, Lieutenant liền kề với Captain, thì các Leutnant Đức phải "bò" qua cấp Oberleutnant ("ober" nghĩa là "trên", trên Trung úy, tức Thượng úy  Wink ) mới tới được Hauptmann.

Khi mới thành lập, ở một số bang Đức (như Bavaria, tức Bayern ngày nay) còn duy trì Hauptmann 2 cấp (classe). Sự phân cấp này không bao gồm phân biệt cấp hiệu. Tuy nhiên, sự phân cấp này dẫn đến hình thành một cấp bậc đặc biệt sau ngày của quân đội Đức là Stabshauptmann (Đại úy). Như vậy, trả lời cho các thắc mắc của các bạn hỏi ở phần trước, có thể xem người Đức có cấp bậc "Thượng úy" được không?

Các cấp bậc Obristwachtmeister được thay bằng Major và Generalwachtmeister thay bằng Generalmajor.

Người Phổ cũng hình thành hệ thống cấp hiệu cầu vai. Như thông lệ bấy giờ, người Phổ cũng không phân chia chi tiết từng cấp bậc mà chỉ phân theo cấp sĩ quan.


Cấp Generale


Cấp Stabsoffiziere


Cấp Hauptleute


Cấp Leutnante

Trong cuộc chiến tranh Napoleon, các cấp hiệu Generale được quy định lại, bao gồm cả quân phục thường lẫn lễ phục. Ở quân phục thường sẽ sử dụng hệ cầu vai bện, còn ở lễ phục sẽ dùng lon tua (epaulette). Đồng thời, Phổ cũng đặt ra cấp bậc Thống chế (Feldmarschall).


Cầu vai thường phục của Thống chế


Cầu vai lễ phục của Thống chế

« Sửa lần cuối: 26 Tháng Tám, 2011, 11:39:32 am gửi bởi thainhi_vn » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #45 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2011, 10:19:26 am »

Quân đội Phổ từng có một thời kỳ dài hoàng kim. Họ chỉ mất đi ưu thế trước thống soái vĩ đại Napoleon, vì vậy, sau khi Napoleon bị bắt, họ đã học tập người Pháp và cải tổ lại quân đội. Số lượng cấp bậc tăng lên, cấp hiệu cũng được mở rộng chi tiết hơn, tương xứng với quy mô quân đội cùng với quá trình thống nhất thành nước Đức. Các cấp bậc cao cấp mới được đặt ra như Generaloberst, Generaloberst mit dem Rang eines Feldmarschalls và General-Feldmarschall. Trước khi đánh bại Napoleon III và thống nhất Đức, hệ thống quân hàm của quân Phổ như sau:


Thống chế (General-Feldmarschall)


Chuẩn thống chế (Generaloberst mit dem Rang eines Feldmarschalls)   


Đại tướng cao cấp hoặc Đại tướng (Generaloberst)


Đại tướng hoặc Thượng tướng (General)


Trung tướng (Generallieutenant)


Thiếu tướng (Generalmajor)


Đại tá (Oberst)


Trung tá (Oberstlieutenant)


Thiếu tá (Major)


Đại úy (Hauptmann)


Thượng úy hoặc Trung úy (Oberlieutenant)


Trung úy hoặc Thiếu úy (Lieutenant)    
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Tám, 2011, 12:29:24 pm gửi bởi thainhi_vn » Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #46 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2011, 10:45:47 am »


Một tài liệu của người Đức ghi nhận, vào năm 1859, hệ cấp bậc sĩ quan Lục quân Pháp gồm 12 cấp, mượn từ Hải quân, như sau:

* Maréchal de France: Lon tua vàng với biểu tượng gậy thống chế bắt chéo
* Général de division: Lon tua vàng với 3 sao
* Général de brigade: Lon tua vàng với 2 sao
* Colonel: Lon tua vàng
* Commandant: Lon tua vàng
* Capitaine: Lon tua bạc
* Lieutenant: Lon tua bạc
* Sous-lieutenant: Lon tua bạc

Trong khi đó cấp hiệu hải quân như sau:
* Amiral de France: giống Maréchal de France
* Vice-amiral: giống Général de division nhưng có thêm một vạch vàng nhỏ (petite soutache)
* Contre-amiral: giống Général de brigade
* Capitaine de vaisseau: giống Colonel với 2 vạch vàng
* Capitaine de frégate: giống Colonel với 1 vạch vàng
* Lieutenant de vaisseau: giống Capitaine với 2 vạch vàng
* Sous-lieutenant de vaisseau: giống Capitaine với 1 vạch vàng

Năm 1865, hệ thống cấp hiệu Hải quân được quy chuẩn giống hàng hải (cũng được quy định vào năm đó), theo đó cấp hiệu sĩ quan đeo ở cổ tay phân làm 4 vạch vàng với vạch thứ 4 cao hơn 3 vạch còn lại để chỉ vị trí chỉ huy. Trước đó, hệ thống cấp hiệu hàng hải chỉ phân 3 cấp với Capitaine (3 cặp vạch vàng), Lieutenant (2 cặp vạch vàng) và Enseigne (1 cặp vạch vàng).

Năm 1866, hệ thống quân hàm của Lục quân bổ sung thêm:

* Maréchal d'Empire
* Général de division
* Général de brigade
* Colonel
* Lieutenant-colonel
* Major
* Commandant
* Capitaine
* Capitaine de 2ème classe
* Lieutenant
* Sous-lieutenant
* Sous-lieutenant de 2éme classe

Hải quân cũng bổ sung:
* Amiral de France
* Vice-amiral
* Contre-amiral
* Capitaine de vaisseau
* Capitaine de frégate
* Major de vaisseau
* Lieutenant de vaisseau
* Lieutenant de frégate
* Sous-lieutenant de vaisseau
* Sous-lieutenant de frégate
* Enseigne de vaisseau
* Enseigne de de frégate

Không thấy ghi chép cấp hiệu như thế nào. Có lẽ từ đó mà cấp hiệu Pháp mới có sọc vàng sọc trắng chăng?

Nếu theo giả thuyết này, sẽ có một mâu thuẫn thú vị: Các cụ nhà ta bắt đầu gọi sĩ quan Pháp là "quan hai, quan ba" từ khi nào? Mãi đến 1865, hệ thống cấp hiệu theo vạch mới được áp dụng, vậy trước đó các cụ ta có gọi sĩ quan Pháp theo cấp hiệu không? Hay về sau mới gán quan hai quan ba vào?



Theo em hiểu thì trước 1865 có thể các cụ nhà ta đã gọi sĩ quan Pháp là "quan hai" (vì năm 1859 hải quân Pháp đã có cấp hiệu và hải quân Pháp cũng là lực lượng đầu tiên đổ bộ vào Việt Nam), đến năm 1865 hệ thống cấp hiệu được quy chuẩn thì lúc đó mới phát sinh thêm tên gọi "quan ba", "quan tư". Như vậy có đúng không bác?
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #47 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2011, 11:53:22 am »

Theo em hiểu thì trước 1865 có thể các cụ nhà ta đã gọi sĩ quan Pháp là "quan hai" (vì năm 1859 hải quân Pháp đã có cấp hiệu và hải quân Pháp cũng là lực lượng đầu tiên đổ bộ vào Việt Nam), đến năm 1865 hệ thống cấp hiệu được quy chuẩn thì lúc đó mới phát sinh thêm tên gọi "quan ba", "quan tư". Như vậy có đúng không bác?

Đây là nghi vấn, vì không thể xác định chính xác thời điểm người Pháp áp dụng hệ thống cấp hiệu theo vạch. Điều có thể khẳng định được chính xác là từ năm 1870 thì Hải quân Pháp đã dùng hệ cấp hiệu theo vạch ở cổ tay mà thôi.
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #48 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2011, 10:25:05 am »

Vào thời hậu kỳ Trung cổ, các công quốc của Thánh chế La Mã đều duy trì lực lượng lính đánh thuê của mình. Chỉ huy các đội quân này là những quý tộc giữ vị trí tướng lãnh. Chỉ huy tối cao, đương nhiên chính là lãnh chúa của công quốc đó, thường được xưng là "Oberster General". Các tổng chỉ huy dưới quyền ông được phân thành các General der Kavallerie phụ trách kỵ binh, General der Infanterie phụ trách bộ binh và General der Artillerie phụ trách pháo binh. Các chức vụ tổng quan chuyên trách này về sau ảnh hưởng rất nhiều đến người Nga cùng thời, cũng như quân đội Đức Quốc xã sau này.

Như đã nêu ở bài trước, khi người Phổ phát triển quân đội của họ trở nên hùng mạnh, từng được mệnh danh là "Quân đội có một quốc gia", các vị trí chỉ huy dần cũng chuyên nghiệp hóa. Thống chế (General-Feldmarschall) là cấp bậc cao nhất chỉ huy quân đội.

Cấp hiệu Thống chế Phổ

Tuy nhiên, theo truyền thống, cấp bậc Thống chế không được trao cho các thành viên của gia đình hoàng gia. Chính vì vậy, vào năm 1854, một cấp bậc mới được đặt ra để phong cho Hoàng tử Wilhelm Friedrich Ludwig von Preußen, với danh xưng Generaloberst mit dem Rang eines Feldmarschalls (Tổng quan cao cấp mang hàm Thống chế). Cấp bậc này nhằm mục đích khẳng định ông là một Tổng quan quân sự cao hơn tất cả các tổng quan khác và ngang với Thống chế. Cấp hiệu của cấp bậc này cũng thể hiện rõ với 3 ngôi sao pip (các tổng quan chỉ mang 2 pip) xen với biểu tượng 2 baton bắt chéo của cấp hiệu Thống chế.

Cấp hiệu Generaloberst mit dem Rang eines Feldmarschalls

Việc đặt ra cấp bậc mới quả nhiên là đúng người đúng việc. Wilhelm Friedrich Ludwig quả nhiên là một thống soái lừng lẫy. Với tài năng quân sự của mình, ông lần chiếm được vị trí mình chủ của các công quốc Đức. Sau khi kế vị vua Phổ, với sự nỗ lực của ông và thủ tướng Phổ Otto von Bismarck, năm 1871, các công quốc Đức đã thống nhất lại thành Đế chế Đức và Wilhelm (bấy giờ mang hiệu Wilhelm I của Phổ) đã trở thành Hoàng đế (Kaiser) đầu tiên của đế chế này. Sự nghiệp chính trị và quân sự của ông đã khiến người Đức xưng tụng ông là Đại đế (der Große), ngang với Friedrich der Große (Friedrich II). Cũng như Friedrich II, vị vua đã làm nước Phổ từ một tiểu quốc trở nên hùng cường, Wilhelm I đã đưa các công quốc Đức từ những tiểu quốc rời rạc của Thánh chế La Mã, thống nhất thành một Đế chế Đức hùng mạnh, mà chính ông cũng không thể ngờ chỉ vài mươi năm sau trở thành tai họa cả thế giới.


Wilhelm I với quân phục mang cấp hiệu Generaloberst mit dem Rang eines Feldmarschalls

Năm 1888 là một năm tai họa với Hoàng gia Đức. Trước đó 5 năm, từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1883, chỉ trong 4 tháng 3 Hoàng đế Đại Nam lần lượt lên ngôi. Thì với người Đức, từ tháng 3 đến tháng 6, lần lượt 3 Hoàng đế Đức kế vị. Nếu như Wilhelm I là vị Kaiser đầu tiên, con ông là Friedrich III chỉ kế vị được 90 ngày, thì cháu ông Wilhelm II trở thành vị Kaiser cuối cùng của Đế chế Đức và cũng là vị vua Phổ cuối cùng.

Trở lại vấn đề quân hàm Đức, trong thời trị vị của Wilhelm II, tuy không có sự nghiệp quân sự lừng lẫy như ông mình nhưng cũng có đóng góp không ít đến sự phát triển của quân đội Đức, đặc biệt là sự hình thành của lực lượng Hải quân Hoàng gia Đức. Thời của Wilhelm II, quân đội Đức đã mở rộng rất nhiều, nên ông đã cho áp dụng một hệ quân hàm thống nhất nước Đức, nhưng vẫn giữ được dấu hiệu phân biệt của các tiểu quốc trước kia. Ông cũng cho tách cấp bậc Generaloberst mit dem Rang eines Feldmarschalls thành Generaloberst mit dem Rang eines Feldmarschalls (4 pip) và Generaloberst (3 pip).

Hệ thống quân hàm sĩ quan 12 cấpĐế chế Đức từ năm 1888 đến 1918 (các sợi chỉ màu thể hiện biểu tượng của công quốc thành viên):


1. Thống chế (Generalfeldmarschall) - Phổ


2. Chuẩn thống chế (Generaloberst im range eines Feldmarschalls) - Hessen


3. Đại tướng cao cấp hoặc Đại tướng (Generaloberst) - Sachsen


4. Đại tướng hoặc Thượng tướng (General) - Württenberg


5. Trung tướng (Generalleutnant) - Mecklenburg


6. Thiếu tướng (Generalmajor)    - Bavaria


7. Đại tá (Oberst) - Phổ


8. Trung tá (Oberstleutnant) - Hessen


9. Thiếu tá (Major) - Sachsen

   
10. Đại úy (Hauptmann) - Bavaria

   
11. Thượng úy hoặc Trung úy (Oberleutnant) - Württenberg


12. Trung úy hoặc Thiếu úy (Leutnant) - Mecklenburg
Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 02:57:02 pm »

Mặc dù từ thời Trung cổ, người Đức đã có một chức vụ cao cấp chuyên phụ trách về Hải quân gọi là Oberst Admiral, có địa vị tương tự như Oberster General, nhưng sau thời kỳ của vị tuyển hầu tước vĩ đại Friedrich Wilhelm I, các vị vua kế tục của Phổ không mặn mà lắm với việc phát triển Hải quân. Mãi sau cuộc chiến tranh Napoleon, người Phổ mới chú ý phát triển Hải quân trở lại.

Năm 1815, Phổ tiếp nhận vùng Pomerania từ Thụy Điển, trong đó bao gồm cả 6 chiến hạm. Một sĩ quan Hải quân Thụy Điển là Johann Diedrich Longé ở lại phục vụ cho Hải quân Phổ và được vua Phổ bấy giờ là Friedrich Wilhelm III phong cho cấp bậc "Hauptmann der Marine" (Đội trưởng Hải quân). Đây có thể được xem là cấp bậc hải quân chính thức đầu tiên của Phổ, dù rằng nó chỉ tồn tại một thời gian ngắn. Được sự tín nhiệm của vua Phổ, Longé đã dồn nhiều tâm huyết để phát triển Hải quân Phổ. Ông được xem là người đã đặt những nền tảng đầu tiên cho sự thành lập Hải quân Phổ.

Năm 1840, Hoàng tử Adalbert von Preußen được bổ nhiệm làm Hải quân Đại thần (Oberbefehlshaber der Marine). Cấp bậc hải quân của Phổ bấy giờ rất đơn giản, chỉ gồm 2 cấp: Kapitän (thuyền trưởng) và Leutnant zur See (thuyền phó). Hậu tố "zur See" (trên biển) của cấp bậc Leutnant là để phân biệt với cấp bậc Leutnant của Lục quân.

Theo hệ thống cấp bậc này, Longé được phong cấp bậc Kapitän. Năm 1842, Longé cũng được tân vương nước Phổ là Friedrich Wilhelm IV phong hiệu "Wirklicher Oberst von der Marine" (Đoàn trưởng thực thụ của Hải quân). Chính danh hiệu này là đối chứng đầu tiên giữa hệ cấp bậc lục quân và hải quân Phổ.

Năm 1848, việc triều đình Đan Mạch muốn sát nhập một tiểu quốc Đức là Schleswig vào Đan Mạch đã làm bùng nổ cuộc Chiến tranh Schleswig lần thứ nhất (1848-1851). Các công quốc Đức đã hợp thành Liên minh các quốc gia Đức chống lại Đan Mạch. Trên đất liền, lục quân Phổ làm chủ lực, thì trên biển, hạm đội Liên minh do nhiếp chính vương Liên minh các quốc gia Đức là Johann von Österreich chủ trì xây dựng với sự giúp đỡ của một sĩ quan hải quân Hy Lạp gốc Đức là Karl Rudolf Brommy. Liên minh nhanh chóng xây dựng một hạm đội nhỏ và giao cho Brommy làm chỉ huy. Với kinh nghiệm của mình (Brommy từng phục vụ cho lực lượng hải quân của nhiều quốc gia), Brommy đã chỉ huy hạm đội nhỏ bé của Phổ đánh trả hiệu quả hạm đội Đan Mạch hùng hậu hơn nhiều. Do thành tích này, Brommy được nhiếp chính vương Liên minh các quốc gia Đức là Johann von Österreich phong cho hàm Contreadmiral.

Sau chiến tranh, Liên minh các quốc gia Đức giải thể. Tuy nhiên Phổ không dừng các kế hoạch phát triển hải quân của mình. Năm 1854, Hoàng tử Adalbert được phong hàm "Admirals der preußischen Küsten" (Đô đốc bờ biển Phổ). Hải quân Phổ mở rộng hơn, số lượng cấp bậc cũng tăng lên. Cấp bậc Kapitän được tách thành Kapitänleutnant, Korvettenkapitän và Kapitän zur See.

Sự tăng cường hải quân Phổ quả là không thừa. Năm 1864, cuộc Chiến tranh Schleswig lần thứ hai nổ ra, nhưng lần này cả lục quân lẫn hải quân liên minh Áo - Phổ đều đặt dưới quyền chỉ huy của Phổ. Adalbert cho lập lại cấp bậc Contreadmiral và đặt thêm Vizeadmiral để phong cho các sĩ quan hải quân cao cấp phụ tá cho ông. Dù sau chiến tranh, liên minh với Áo tan rã, nhưng Phổ đã có lực lượng quân đội, cả hải lục quân, cực kỳ hùng mạnh làm nòng cốt cho công cuộc thống nhất Đức sau này.

Trước khi thống nhất vào Hải quân Đức, Hạm đội Phổ đã hình thành một hệ thống cấp bậc riêng như sau:

1. Admiral
2. Vizeadmiral
3. Contreadmiral
4. Kapitän zur See
5. Korvettenkapitän
6. Kapitänleutnant
7. Leutnant zur See

Cũng giống như người Pháp, các cấp bậc admiral chỉ là những chức vụ hành chính. Cũng chưa tìm thấy tài liệu nào mô tả hệ thống cấp hiệu của Hải quân Phổ bấy giờ.
« Sửa lần cuối: 31 Tháng Tám, 2011, 02:34:37 am gửi bởi thainhi_vn » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM