Thử nhìn lại các bước phát triển của chiến thuật công kiên trên chiến trường Bắc Bộ, ta có thể tạm chia ra 3 thời kỳ (cái này là đánh giá cá nhân) :
- Từ 1948 đến đầu 1950 : đây là thời kỳ các LLVT còn rất yếu kém về vũ khí, đặc biệt là hoả lực mạnh cần cho công đồn. Trong các đơn vị chủ lực, 60-70% xung kích vẫn còn phải sử dụng các vũ khí từ thời trung cổ (mác búp đa, mã tấu, kiếm Nhật...), số có súng thì có rất ít đạn. Do vậy, thời kỳ này, mục tiêu chỉ là các đồn bốt nhỏ, nằm biệt lập, chủ yếu trên chiến trường rừng núi và trung du. Các đồn này có công sự chủ yếu là hàng rào lông nhím bằng tre gỗ, lô cốt, tường bao bằng gỗ đất, quy mô đóng giữ trung hoặc đại đội (ngụy binh do sĩ quan Pháp chỉ huy), trang bị đến đại liên, cối 81, và thường không được chi viện bằng cả hoả lực, xung lực.
Lực lượng tiến công của phía ta là cấp tiểu đoàn hoặc tiểu đoàn tăng cường, có một vài khẩu đội sơn pháo, cối, phóng bom yểm trợ. Xung kích phải vượt hàng rào bằng thang ván hoặc đốt, phá bằng mã tấu, đánh các vị trí bên trong bằng cách áp sát ném lựu đạn, chai cháy và dùng mác đánh giáp lá cà....
Các trận đánh đáng chú ý có
Phủ Thông (25/7/48), An Châu (8/10/48), Đại Bục (19/5/49), Đại Phác (19/5/49), Dóm (16/7/49).... Những trận không thành công là đánh vào vị trí đại đội (Phủ Thông, An Châu...) và nguyên nhân do thiếu vũ khí.
Trận công kiên lớn cuối cùng của giai đoạn này diễn ra ở Phố Lu (8/2/50), lần đầu tiên QĐNDVN tiến hành công kiên với quy mô trung đoàn (e102/f308) đánh vị trí đại đội tăng cường có phi pháo yểm trợ. Trong trận này, vẫn còn thấy cảnh xung kích cầm mác, đeo lựu đạn xông lên đánh chiếm từng căn nhà, lô cốt.... trong thị trấn. Trận đánh phải diễn ra suốt gần 1 tuần mới dứt điểm với tổn thất khá lớn.
Về mặt KTQS, giai đoạn này chứng kiến sự nỗ lực của quân giới VN với hàng loạt sản phẩm tự chế dùng trong công đồn như súng cối (50, 60, 80, 81 120, 187mm), phóng lựu, phóng bom, bazooka (60, 75mm), SKZ (57, 60, 81, 120mm), bom bay....
- Từ giữa 1950 đến cuối 1952 : các đơn vị chủ lực QĐNDVN đã được trang bị lại với nhiều vũ khí công đồn hiện đại do TQ viện trợ như cối (60, 82, 120mm), bazooka 90mm Mỹ, ĐKZ (57, 75mm) Mỹ, sơn pháo 75mm.... bộ binh đã được trang bị các loại súng trường, súng máy, đặc biệt là thuốc nổ để phá vật cản, công sự và được TQ huấn luyện chiến thuật công kiên bằng bộc phá. Do vậy, thời kỳ này các mục tiêu đã lớn hơn : các đồn bốt nằm trong phòng tuyến ở trung du, đồng bằng, công sự vững chắc hơn với lô cốt bằng bê tông, hàng rào dây thép gai, bãi mìn, quy mô phòng ngự từ đại đội đến tiểu đoàn tăng cường (Âu Phi), có phi pháo chi viện khi bị tiến công.
Trận đánh đầu tiên mở đầu thời kỳ này là Đông Khê I (25/5/50), lần đầu tiên 1 trung đoàn ta (e174) tiêu diệt vị trí tiểu đoàn bằng phương pháp chiến thuật và vũ khí mới với thời gian ngắn, tổn thất thấp, điều này đã gây bất ngờ cho cả BCH ta lẫn địch.
Trận đánh tiếp theo là
Đông Khê II (16/9/50), lần đầu tiên ta huy động lực lượng quy mô cấp sư đoàn, có pháo yểm trợ tiêu diệt vị trí tiểu đoàn địch. Mặc dù vậy, trận đánh lại phải kéo dài suốt 2 ngày với tổn thất khá nặng.
Ở trung du và đồng bằng, các trận công kiên chủ yếu là tiểu đoàn tăng cường hoặc trung đoàn đánh vị trí đại đội nằm trong phòng tuyến, đáng chú ý có Bí Chợ (27/3/51), Mạo Khê phố (30/3/51), Mạo Khê mỏ (30/3/51), Non Nước (30/5/51), Chùa Cao (4 và 6/6/51), Phù Lỗ (6/12/51).... Những trận thất bại, thiệt hại nặng (Chùa Cao, Mạo Khê...) chủ yếu do phi pháo địch. Đặc biệt trận Phù Lỗ là lần đầu tiên 1 tiểu đoàn của ta (d249/e174/f316) tiêu diệt vị trí đại đội Âu Phi phòng ngự trong boongke ở Larrive (phòng tuyến De Lattre).
Ở rừng núi, các trận công kiên chủ yếu là trung đoàn đánh vị trí tiểu đoàn tăng cường (pháo binh, thiết giáp) được phi pháo yểm trợ. Đáng chú ý có trận Nghĩa Lộ (2 và 4/10/51),
Tu Vũ (10/12/51), Pheo (7/1/52), Pú Chạng (17/10/52), Nghĩa Lộ phố (17/10/52), Mộc Châu (19/11/52).... Do quy mô phòng ngự của địch đã lớn hơn nhiều, phần lớn những trận công kiên này đều có thương vong không nhỏ, dù thành công hay thất bại (Nghĩa Lộ, Pheo...)
- Từ 1953 đến 1954 : quy mô phòng ngự của quân Pháp đã có bước phát triển rõ rệt. Đã hình thành các tập đoàn cứ điểm gồm nhiều cứ điểm cấp đại đội và tiểu đoàn với hệ thống công sự kiên cố, vật cản dày đặc, được chi viện bằng cả hoả lực và xung lực với mật độ cao. Khi đánh 1 cứ điểm, bên tấn công vừa phải đối phó với bản thân cứ điểm, vừa phải chịu hoả lực phi pháo và các cứ điểm lân cận cùng với sự phản kích liên tục của lực lượng tăng viện. Các trận đánh vào tập đoàn cứ điểm đã có sự tham gia của pháo binh hạng nặng và pháo cao xạ, thường ở quy mô trung đoàn tiến công vị trí đại đội, sư đoàn tiến công vị trí tiểu đoàn, hết sức ác liệt và tổn thất.
Hình thức tập đoàn cứ điểm xuất hiện lần đầu ở Nà Sản cuối 1952 trong chiến dịch Tây Bắc. Khi đó các trận đánh của ta vào cứ điểm Pú Hồng (30/11/52), Bản Vây (1/12/52), Nà Si (1/12/52) đều thất bại và tổn thất rất nặng.
Điện Biên Phủ là đỉnh cao của tác chiến công kiên trong KCCP khi ta sử dụng quy mô 10 trung đoàn tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm với 49 vị trí do 12 tiểu đoàn địch phòng ngự, bằng nhiều trận công kiên trong 1 chiến dịch dài ngày (Him Lam, đồi Độc Lập, đồi A1, C1, C2, D1, D2, E1, cụm đồi Dominique và Hughette...), đặc biệt ác liệt là các trận đánh ở A1, C1 và D1 khi 2 bên liên tục phản kích, giành giật nhau trong và sau quá trình tiến công.