Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:30:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ điểm chốt bắt đầu (Ký về Sư đoàn 341 - Sông Lam)  (Đọc 321287 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
sudoan5
Thành viên
*
Bài viết: 790


Bao giờ cho đến ngày xưa


« Trả lời #140 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2011, 10:00:29 pm »

     Chào BY1960! Theo BY thì có thể f5 tham gia đội hình QD4 từ khi QD4 mới thành lập, sau đó khi Sư đoàn 341 vào Nam được bổ sung về QD4 thì f5 trở lại đội hình QK7 chắc? Cũng giống như giai đoạn cuối năm 1980 Sư đoàn 341 về Nước, ra Bắc thì F339 lại thay thế vị trí f341 tại Tà Sanh, SămLop và cũng từ đó f339 có mặt trong đội hình QD4?
            BY tiếp tục tra cứu thêm để chúng ta cùng tìm hiểu nhé!
                                                  Chào BY!

    Chắc đúng như vậy đấy bác ạ ! Năm 1974 thành lập QĐ4 chúng tôi F5 được thông báo đã trong đội hình của QĐ. Tinh thần hiệp định Paris tôi hiểu nôm na là đình chiến, Mỹ đã rút quân, quân đội hai bên ở miền Nam ai ở đâu thì nguyên thế, không di chuyển. Cái vụ quần áo ruộm tím than đã được nghe cán bộ cấp trên quán triệt để khi đi trên đường. Vào đến khu vực Quảng trị dừng quân 3 ngày chờ lệnh bổ xung nhưng lệnh đi tiếp vào B2.Dọc đường vào gặp nhiều đòan(tù binh trao trả) của ta ở Lộc ninh ra Bắc họ hô to:bây giờ mới vào thì còn ống bơ gỉ nhặt nốt, cũng nghĩ vậy. Đ/v cuối cùng đóng quân ở trảng Bà Điếc chúng tôi thường gọi là “chốt Mỹ”vì ở đây có cái chốt Mỹ cũ cách cầu Cần đăng và khẩu Trại bí một trảng rộng. Nghĩ là không đánh nhau nữa nhưng hàng đêm vẫn tiếng bom pháo xa xa vọng về. Ổn định, được học chính trị 1 tháng CTV đại đội nói : ta vẫn tiếp tục chiến đấu đập tan âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng của địch và đánh đến tận hang ổ cuối cùng của chúng. Qua đợt học chính trj xong theo trinh sát điều nghiên bót Đức huệ (Long an)về, lấy luôn cái bót cũ của Mỹ sẵn có thêm hàng rào thép gai như ngòai thực địa rồi cha con quân xanh quân đỏ cùng nhau “chiến” nhuần nhuyễn rồi xuống đường ra trận triền miên đến khi đất nước thống nhất. Chiến dịch HCM đ/v tôi (thuộc F5) đánh qua Long an (Thủ thừa, Bến lức) phía Tây Nam Sài gòn nhằm chốt lộ 4 khống chế không cho địch rút từ Sài gòn ra và quân viện từ những tỉnh miền Tây vào.
    Nếu có thể bác nào tìm đọc lịch sử F5 cho ae ở đây biết tường tân, còn tôi biết như vậy  với sự hiểu biết của người lính mà thôi.
Logged

binhyen1960
Trung tá
*
Bài viết: 3862


HOT nhất forum năm 2009


« Trả lời #141 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2011, 11:06:41 pm »

    Các bạn nói thế nào chứ? Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, quân đoàn 4 đánh tại long khánh chỉ có 3 sư đoàn bộ binh đó là: sư đoàn 7, sư đoàn 341, sư đoàn 6 ( hồi kí của các tướng lĩnh chúng ta và tài liệu của đối phương viết về sư đoàn 18 do tướng Lê Minh Đảo làm sư trưởng đều xác nhận như vậy).
   - Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, sư đoàn 9 ở miền tây đánh lên dưới sự chỉ huy của tướng Lê Đức Anh,phó tư lệnh chiến dịch, tư lệnh đoàn 232( đoàn 232 tương đương với một quân đoàn).
   - Quân đoàn 4 qua từng thời kì có lẽ có nhiều đơn vị khác nhau.
 

 Đúng rồi bác hieuc3d26f7!

 Trong trận đánh Xuân Lộc ngày 9.4.1975 thì ta có 3 sư đoàn gồm: F7, F341 và F6 là lực lượng của QK7 tăng cường phối thuộc , F6 là quân của QK7 chứ không thuộc QD4. Grin

 F9 của QD4 thì như bác nói là đang tác chiến tại miền Tây Nam Bộ.

 F5 của QD4 thì đánh hướng Long An chứ không tham dự trận Xuân Lộc Grin

 
Logged

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai
quyenkh
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1581


« Trả lời #142 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2011, 03:37:14 pm »

Hi hi mấy bác ơi hiện nay QĐ4 gồm có 3 sư đoàn : F9 , F7 và F309 còn F339 hiện nay ở QK9 , sư đoàn 309 cũ của em hiện giờ đóng ở căn cứ Long Bình tỉnh Đồng Nai .
Logged
hieuc3d26f7
Thành viên
*
Bài viết: 106



« Trả lời #143 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2011, 04:32:08 pm »

      " tháng 2/1975 đại tá Trấn nhận lệnh đưa sư đoàn 341 vào Nam, binh đội sư đoàn được 500 chiếc xe vận tải theo đường Hồ Chí Minh vào đến khu vực quân khu 7... Ở đây đại tá Trấn cùng ban tham mưu của ông ta được lệnh điều nghiêm chiến trường Long Khánh đặc biệt là thám sát địa thế thành phố Xuân Lộc, để chờ sư đoàn 7 CSBV từ miền Lâm Đồng đổ xuống làm nỗ lực chính cường tập".
   " Tư lệnh sư đoàn 7 là Lê Nam Phong. Sư đoàn 7 là sư đoàn của cộng quân từng tham dự những chiến dịch lớn ở An Lộc, Phước Long cho nên nó được làm nỗ lực chính công phá chiến tuyến Xuân Lộc của thiếu tướng Lê Minh Đảo".
   "Sư đoàn 6 cộng quân hình thành từ 8/1974 là sư đoàn nhẹ chỉ có 2 trung đoàn cấu thành từ các đơn vị độc lập trong quân khu 7, hoạt động trong quân khu. Tướng tư lệnh là Đặng Ngọc Sĩ từng làm tư lệnh sư đoàn đặc công 27".
    Trích trong thiếu tướng Lê Minh Đảo và sư đoàn 18 bộ binh: cuộc chiến cuối cùng ở Xuân Lộc_tài liệu của phía bên kia viết. Các bạn hãy tham khảo
Logged
Đậu Thanh Sơn
Thành viên
*
Bài viết: 552


1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam


« Trả lời #144 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2011, 10:41:24 pm »

Tiếp theo: KÝ ỨC SƯ ĐOÀN

3- HÀNH QUÂN

Sau khi Bộ giao nhiệm vụ cho Sư đoàn vào chiến đấu tại chiến trường B2. Trong đơn vị đã dấy lên khí thế sôi nổi khẩn trương làm công tác chuẩn bị. Cánh lính mới chúng tôi được bổ sung về đơn vị là bắt tay vào huấn luyện, học chính trị và đi bắn đạn thật như đã nói ở phần trên. Những tay lính mới đợt chúng tôi bộ sung về bộ phận nào là phải cấp tốc huấn luyện nghiệp vụ theo bộ phận đó. Nguyễn Trịnh Ngọ về tiểu đội trinh sát tiểu đoàn, Nguyễn Đình Cương, Đào Tử Lân về trung đội thông tin, Nguyễn Hồng Thân về trung đội vận tải, Nguyễn Văn Cường làm liên lạc tiểu đoàn v.v… được huấn luyện tại chổ để đáp ứng với nhiệm vụ mới.
Trong đơn vị rộ lên phong trào viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Tôi cũng như hàng ngàn anh em khác trong đơn vị náo nức viết đơn gửi lên cấp trên xin đi chiến đấu. Ai cũng nghĩ rằng thời cơ của cách mạng đã đến, nên nhanh chân tranh thủ góp sức mình vào giải phóng miền Nam. Tôi cũng nghe cán bộ đại đội thông báo có hàng trăm lá đơn được viết bằng máu. Phải công nhận rằng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng của Đảng ta quá tuyệt vời. Cánh lính mới tò te chúng tôi chưa được về thăm nhà là điều tất nhiên. Nhưng đối với anh em lính 72, qua hai năm huấn luyện miệt mài trên thao trường Quảng Bình và Vĩnh Linh, nhưng hầu như chưa một ai được về thăm nhà. Nhưng sau khi nghe phổ biến nhận nhiệm vụ mới vào chiến trường B2, mọi người vẫn yên tâm vui vẻ, lạc quan, không có hiện tượng sa sút về tư tưởng và ý chí chiến đấu.
Cả đơn vị náo nức, rộn ràng và khẩn trương chuẩn bị cho ngày lên đường. Bản thân tôi cũng vậy, miệt mài học kỹ thuật bắn súng cối cùng anh em trong tiểu đội. Ngoài giờ tranh thủ viết khẩu hiệu cho anh em dán lên mũ cối. Có thể nói cánh lính mới 74 chúng tôi là những người háo hức nhất khi được tin vào chiến trường. Giờ nghỉ là chúng tôi sôi nổi trao đổi với nhau. Bàn luận về chiến trường mặc dù chỉ biết chiến trường qua sách báo phim ảnh. Anh nào cũng chộn rộn và phấn khởi vì biết rằng sắp được trực tiếp “oánh” nhau với quân thù, góp phần nhỏ bé của mình cho sự nghiệp giải phóng miền Nam. Tuy vậy cũng có lúc có những phút giây suy tư đan xen trong tư tưởng của tôi “Không biết lần này vào vào đánh nhau rồi có thể sống sót trở về nữa không, vì đã chiến đấu thì sự hy sinh mất mát là điều không thể tránh được”. Trước ngày lên đường, anh Phú được tiểu đoàn điều về làm thống kê chính trị trên tiểu đoàn bộ. Vì vây tôi cũng như mấy anh em lính 74 trong tiểu đội thấy buồn buồn khi chia tay anh Phú. Thế là tôi không được cùng ở với anh Phú nữa. Tiểu đội chỉ còn lại anh Khoát là tiểu đội trưởng, không có tiểu đội phó khi đi chiến đấu.

Ngày 14/2/1975, chúng tôi có lệnh hành quân bộ ra Binh trạm 15 ở Tây Quảng Bình để nhận quân trang vũ khí, lương thực, thực phẩm. Đi bộ, đường khó đi nên khá vất vả, do sức khỏe yêu nên tôi thấm mệt. Tối hôm ấy chúng tôi ngủ ngoài trời không tăng võng chỉ trải ni lông lên bãi cỏ để ngủ. Ban ngày đi bộ mệt nên nằm xuống là tôi ngủ ngay. Ngày 15/2 bắt đầu nhận quân trang. Chúng tôi phải trả lại toàn bộ quân trang cũ để nhận quân trang mới. Vì người “thấp bé nhẹ cân” nên tôi phải xin đổi lại quân phục có số nhỏ, tuy vậy áo quần vẫn rộng thùng thình. Chúng tôi được cấp phát hai bộ quần áo mới, giầy vải, dép cao su, mũ cối, màn tuyn, tăng võng, bi đông, lương khô, thịt hộp, mì chính, lọ thuốc chống muỗi… ngoài ra tiểu đội được cấp phát thêm 02 bật lửa, hai dao găm Liên xô, hai bi đông nhựa loại 5lít.
Vì hôm qua nhận chưa hết, vì vậy chúng tôi phải ở lại trạm để ngày mai nhận tiếp quân trang và vũ khí. Hôm nay là ngày chủ nhật, ngày ta là mùng 6 Tết (16/2/1975) Đêm qua trời lại mưa. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi nếm mưa rừng. Vừa lạnh, vừa bị muỗi đốt, vừa bị mưa, nên đêm qua tôi ngủ chẳng ngon giấc. Tôi chợt nhớ đến một câu hát mà tôi thuộc khi còn học phổ thông: “Em nhìn ra chốn xa, lòng thương chiến sĩ nắng mưa không mái nhà, gió sương qua bốn mùa, khó ngủ trọn đêm qua…” đúng như vậy thật.
Khoảng 10 giờ thì chúng tôi cũng nhận xong quân trang và vũ khí đạn dược. Mỗi khẩu đội nhận 3 cơ số đạn. Ngoài đế cối được phân công trước đây, giờ đây tôi còn phải nhận thêm 10 quả đạn cối nữa, ngoài ra mỗi người còn phải mang thêm một bao tượng gạo khoảng 7kg dài như con trăn. Mấy đưa lính mới chúng tôi vào rừng chặt mỗi đưa một khúc tre dài khoảng 1,5m để làm đòn gánh, Chỉ cần chẻ 2 đầu đoạn tre và kẹp mỗi đầu 5 quả đạn cối vào cột lại, thế là vừa mang ba lô vừa cõng bao gạo và gánh trên vai 10 quả cối nữa. Đối với mọi người từng ấy thì chẳng thấm tháp gì, nhưng đối với một thằng thấp bé nhẹ cân như tôi quả là khá vất vả. Thôi biết làm sao được ai cũng như mình, kêu ca làm gì. Anh Muộn thì còn phải đeo sau ba lô thêm mấy cái soong nồi để nấu cơm. Thế là kể từ hôm nay chúng tôi bắt đầu ăn cơm do tiểu đội tự nấu lấy.
Sau khi nhận đầy đủ trang bị. Trưa ngày chủ nhật, đoàn xe vận tải Hồng Hà của sư đoàn 571 vận tải quân sự Quang Trung thuộc đoàn 559 chờ sẵn, đưa chúng tôi vào chiến trường. Sau này tôi mới biết được Đoàn 559 đã chuẩn bị cho sư đoàn chúng tôi 500 xe tốt nhất, mỗi xe chở gọn một trung đội. Hành quân trên tuyến Trường Sơn Đông là 1.050 km và tuyến Trường Sơn tây 900 km. Sau khi ăn cơm xong và chuẩn bị mỗi người một cục cơm nắm. Chúng tôi leo lên xe và xe nổ máy lăn bánh. Tiểu đoàn Một chung tôi dẫn đầu đoàn quân hành quân bằng cơ giới hùng hậu. Tất cả xe được ngụy trang để tránh máy bay địch phát hiện. Đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Dẫn đầu là những chiếc xe chở Đại đội 2, là đại đội đạt danh hiệu thi đua quyết thắng toàn quân. Tiếp đó là đoàn xe của đại đội 3 chúng tôi. Riêng tiểu đội 10 của tôi đi riêng một xe. Chúng tôi sắp xếp súng đạn, gạo phía trước thùng xe. Hạ ghế hai bên thành xe xuống để ngồi. Ba lô được để dưới ghế. Tôi ngồi cạnh anh Khoát phía bên trái thùng xe. Đường xấu xe lắc lư, bụi cuộn lên. Tôi dùng cái khăn mặt mới tinh đội lên đầu rồi chụp mũ xuống, khăn phủ hai bên má. Tôi kéo hai góc khăn lại cài với nhau bằng cái kim băng làm khẩu trang để che chắn bụi. Xe đi qua nông trường Quyết Thắng, Anh Khoát thì ngủ gà ngủ gật. Câu Nam thì dùng tấm chăn trùm lấy người tránh bụi để ngủ. Đến chiều xe chạy qua cầu tạm bắc qua thượng nguồn sông Bến Hải. Vì mùa khô nên lòng sông đầu nguồn không rộng như tôi tưởng tượng. Dọc đường gặp đơn vị thanh niên xung phong đang sửa đường, thế là trên xe ném xuống nào là thư từ viết rồi chưa kịp gửi về nhà, lương khô, thuốc lá và những tiếng chào nhau í a í ới trong tiếng động cơ nổ rền.
Đến chập tối xe đi qua bản làng người Vân Kiều ở. Chúng tôi có lệnh dừng lại. Mấy anh lấy xà phòng thơm, chăn, nước hoa, kem đánh răng và hình diễn viên Ái Vân (chụp trong phim Chị Nhung) theo anh lái xe mang vào bản đổi gà cho đồng bào Vân Kiều. Cậu Nam xé  tấm chăn thành hai mảnh, để lại một nữa dùng còn một nửa đem đi đổi gà. Sau khi dừng lại chừng vài chục phút, đoàn xe lại tiếp tục chuyển bánh. Trên xe các anh em vẫn trùm đầu trùm mặt kín mít vì bụi mùa khô cuồn cuộn do xe trước tung lên, xe sau hứng lấy. Đến tối thì xe tới trạm giao liên. Chúng tôi có lệnh tạm nghỉ, mọi người xuống xe và tìm chỗ mắc võng nằm trước khi ăn cơm nắm mang theo từ Quảng Bình. Tôi cũng chưa mắc võng bao giờ, nhưng thấy anh Đôi mắc tôi cũng bắt chước làm theo. Tôi thầm nghĩ sao cán bộ lại không huấn luyện cho cánh lính mới chúng tôi cách mắc võng trong rừng khi đi chiến đấu nhỉ?
Nhưng rồi tôi cũng mắc xong cái võng. Thế là có chổ ngủ đêm nay. Tôi lấy gói cơm nắm to bằng quả cà bát, dùng cái dao găm anh Đôi cho, cắt nắm cơm nguội lạnh thành từng miếng và nhai với ruốc bông, mệt và đói ăn chẳng thấy ngon, nhưng vẫn cố nhai để có sức để ngày mai hành quân.

Xe lại tiếp tục hành quân trên con đường đất đỏ gồ ghề và lớp đất bụi có thể ngập đến nửa cổ chân nếu đi bộ. Bụi đất đỏ phủ kín cây cỏ hai bên đường. Trên xe mọi người vẫn ngủ gà ngủ gật. Có lẽ tôi ít ngủ nhất trong tiểu đội. Tôi thích quan sát hai bên đường. Xe qua ngầm qua dốc, qua ổ gà ổ voi, nhưng anh em vẫn miên man ngủ chẳng ai nói với ai lời nào. Tôi ôm ngang thắt lưng anh Khoát giữ cho anh ấy ngủ. Xe đi qua những cánh rừng già có rất nhiều cây săng lẻ và thông cao vút cỡ vài chục thước và đường kính nó to bằng cái nong phơi lúa, có thể vài người ôm mới xuể. Cây cỏ hai bên đường vẫn nhuộm một màu vàng đục, khí hậu thật khô khan. Tôi ngắm nhìn những chùm cây hoa phong lan to sum suê bám trên cây rừng. Có lẽ là mùa khô nên không thấy nở hoa. Lòng tôi dạt dào cảm xúc khi nghĩ đến bài hát “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát” của nhạc sĩ Huy Du mà bạn Dương Phúc hát tặng tôi hôm chia tay lên đường. Tôi thầm hát:
 “Trên đỉnh Trường Sơn ta hát bài ca
Gửi tới quê nhà bao la biển xanh sóng vỗ hiền hòa
Đường Trường Sơn bát ngát có bao nhiêu ghềnh thác
Hòa theo trong tiếng hát đem mùa xuân tới cho cuộc đời
Này Trường Sơn ơi!
Ta đi trong gió. Ta đi trong mưa
Từng ngày từng tháng là từng bài ca
Thiết tha cùng ta vượt qua gian khổ...
Ta băng qua suối! Ta băng qua khe
Từng đổi từng núi là từng bài thơ
Thắm tươi trang sử mới
Dù bom rơi đất xới bước chân luôn thẳng tới
Vì ta yêu lẽ sống! Yêu tự do! Yêu cuộc đời!

Trên đỉnh Trường Sơn ta hát bài ca
Đất nước chan hòa mênh mông rừng xanh chiến lũy điệp trùng
Đường Trường Sơn ta qua trái tim sao giục giã
Hành quân đi lớp lớp như dòng sông nước chảy dạt dào.
Này Trường Sơn ơi!
Ta đi trong gió. Ta đi trong mưa
Từng ngày từng tháng là từng bài ca
Thiết tha cùng ta vượt qua gian khổ ...
Ta băng qua suối! Ta băng qua khe
Từng đồi từng núi là từng bài thơ
Thắm tươi trang sử mới
Trường Sơn bao dốc núi gót chân in mòn lối
Lửa Trường Sơn chiếu sáng cho tình ca trên đường dài.

Này Trường Sơn ơi! Trường Sơn ơi!
Khúc hát từ trái tim xôn xao đồi núi cao
Chấp cánh cùng ánh sao đem theo lòng khát khao
Nhìn về tương lai đang bừng sáng
Sáng mãi khúc hát tự hào...
Gửi về quê hương thân yêu”

(Còn tiếp)
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Mười Hai, 2011, 09:46:28 pm gửi bởi Đậu Thanh Sơn » Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #145 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2011, 03:15:17 pm »

                  Chào bạn ĐẬU THANH SƠN! Hay quá. Tranphu341 đọc những bài bạn viết, kể về những ngày cuối trên đất Bắc. Cuộc hành quân theo mệnh lệnh: " Thần tốc, đi sâu , đi lâu, đi xa, đi đến ngày toàn thắng". Câu khẩu hiệu thể hiện nhiệm vụ và quyết tâm đó của toàn Sư đoàn. Được bạn kể lại thật hào hùng.

                  TP thấy sống lại trong những ngày đó. Đoàn xe rầm rập băng trên đường Trường sơn Đông, rồi Trường sơn Tây. Vượt qua đất Lào, đất Campuchia. Qua cao nguyên Trung Phần bụi đỏ bay cuồn cuộn và trăng sáng đẹp mê hồn. Những cây cọ đại thụ. Những cây thông đại thụ, sừng sững giữa cao nguyên thật hùng tráng...Rồi hành vạn chàng trai. Vũ khí trang bị đầy mình. Những người lính trẻ trên đường xuất chinh. Nhớ quá! nhớ quá! Giá có được 1 điều ước, thì có lẽ TP cùng các bạn liệu có ước được sống lại thời trai trẻ hào hùng oanh liệt đó  Huh Huh Huh

                   TP chúc Đ.T.S ngày càng chắc tay viết, để ae mình cùng được nhớ lại những năm tháng trẻ trung và hào hùng của gần 40 năm trước đó!
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Mười Hai, 2011, 03:30:01 pm gửi bởi tranphu341 » Logged
Đậu Thanh Sơn
Thành viên
*
Bài viết: 552


1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam


« Trả lời #146 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2011, 10:45:39 pm »

(Tiếp theo: KÝ ỨC SƯ ĐOÀN)

Khi xe đến trạm giao liên mới có lệnh dừng lại. Chúng tôi xuống xe mang theo quân tư trang, nồi niêu, gạo thực phẩm và đi vào rừng. Khi đến con suối khá to, nước trong xanh, hai bên bờ là bãi đá cuội to nhỏ như bãi trứng ngỗng, trứng vịt khổng lồ. Anh Khoát bảo tiểu đội nghỉ tại đây. Chúng tôi vội vàng tìm nơi đặt ba lô và vũ khí rồi ngồi nghỉ bên bờ suối, nhìn nước nước suối trong xanh ai cũng thích thú vì sẽ được tắm rửa sạch sẽ. Suốt chặng đường hành quân vừa qua, bụi đất mịt mù của đường Trường Sơn nhuộm đỏ tóc, mặt mũi da dẻ chúng tôi. Quần áo hầu như không thay, bụi đường và mồ hôi túa ra những ngày qua làm cho quần áo cứng như mo nang. Anh nào đầu tóc cũng bơ phờ, râu ria ra lổm nhổm. Nhưng ai cũng cười và hồ hởi mặc dù mệt nhọc. Hôm phát quân trang vũ khí ở Quảng Bình, tiểu đội cũng được cấp phát một bộ dao kéo để cắt tóc, anh Khoát giao cho tôi giữ. Có lẽ hôm nay tôi sẽ đưa ra để dùng lần đầu.
"Nghỉ nơi này lý tưởng thật" tôi thầm nghĩ. Suối nước trong và mát lạnh, rừng nguyên sinh hai bên bờ bạt ngàn với những cây cổ thụ to cao tít tận trời xanh. Để chuẩn bị cho bữa cơm, không ai bảo ai, trong tiểu đội mỗi người mỗi việc tự giác làm. Tôi và Nam đi hái rau tàu bay và lạc tiên. Biểu, Điếng đi tìm củi, anh Muộn và Khương tìm đá để kê làm bếp, anh Tuấn và Hà loay hoay lấy gạo từ ruột tượng ra suối vo gạo… Thế rồi hơn một tiếng đồng hồ sau, chúng tôi có bữa cơm nóng hổi khá ngon, bỡi vì thức ăn có thịt hộp và canh lá lạc tiên nấu với ruốc bông.
Tôi tìm được hai cây có đường kính chừng 25 đến 30 phân để mắc võng. Tôi mắc gần võng anh Đôi. Hai cây này có thể trước đây đã có nhiều người lính từng mắc võng. Trên thân cây có khắc tên người nào đó, nhưng lâu rồi tôi không nhớ chữ gì nữa. Tôi bèn lấy dao ra khắc tên tôi và quê quán lên thân cây. Tôi muốn nhắn gửi nếu ai đến sau cùng quê thì biết tôi đã từng ở đây. Cũng thú vị và lãng mạn đấy chứ, nhưng việc đó lại sai quy định về bí mật

Ngày 21/2/1975. Hôm nay đoàn xe đưa chúng tôi đến trạm dừng chân bên một con suối cạn, vì mùa khô nên suối không có một giọt nước nào. Hình như đây là đất Công Tum thì phải. Chúng tôi nghỉ trong khu rừng toàn tre (lồ ô). Những cây lồ ô thẳng tắp, có đốt dài khoảng 40cm và đường kính gốc cỡ 15 – 20cm. Tôi nghĩ tre này mà đốn xuống để vót đũa thì tuyệt làm sao. Để có nước nấu cơm, chúng tôi phải đào những cái giếng nhỏ giữa suối rồi ngồi kiên trì chắt lọc từng ca nước để nấu. Nghe mấy anh trong đơn vị nói đây là "ngã ba Đông Dương", còn chổ chúng tôi nghỉ là ranh giới giữa nước ta và Campuchia. Thật là khó tin, nêu nói nấu cơm ở Campuchia rồi mang về Việt Nam ăn. Nhưng đây lại là sự thật. Mấy ngày nay trời nắng quá, ban đêm trăng sáng vằng vặc, nằm trong cánh võng dưới tán lá tre rừng ngắm trăng thật là lãng mạn. Tiếng tắc kè và tiếng chim “bắt cô trói cột” kêu trong đêm nghe buồn não nùng. Thỉnh thoảng nghe tiếng nổ ùng oàng xa xa, tôi nghĩ có lẽ ở đây đã gần đến chiến trường. Anh Khoát đi họp trên đại đội về phổ biến:
 - Để tránh máy bay địch phát hiện, nấu cơm phải làm bếp Hoàng Cầm, để đảm bảo vệ sinh khu vực trạm, khi đi vệ sinh phải dùng hố mèo.
 - Đêm ngủ phải cắt phiên nhau canh gác, cảnh giác với bọn biệt kích và thám báo của địch trong rừng.
- Trên đường hành quân nếu gặp bộ đội Cam Phu Chia (lính Khơ me đỏ ngày ấy) gây sự đòi hỏi lấy lương thực hoặc vũ khí của ta, thì hết sức né tránh, để cấp trên giải quyết, không được gây sự với họ.
Chúng tôi bàn tán với nhau: “Quái, họ là bộ đội cách mạng, cùng chung chiến hào đánh Mỹ với ta, sao họ lại có hành động ngang ngược đòi “mãi lộ” vô lý như vậy?”. Nhưng rồi xe của chúng tôi cũng đi qua đất bạn êm đẹp không gặp bộ đội Campuchia ra ngáng đường đòi “mãi lộ” như cấp trên phổ biến.

Chúng tôi dừng chân tại trạm ba ngày. Trong khoảng thời gian này chúng tôi được nghỉ ngơi sau mấy ngày hành quân vất vả. Cũng tại trạm này cũng như các trạm khác đã đi qua, chúng tôi gặp các đoàn của các đơn vị khác đi vào chiến trường kể cả xe vận tải chở vũ khí đạn dược. Chúng tôi cũng gặp một số đoàn nhỏ lẻ đi ra, đó là những thương bệnh binh, có cả những cô thanh niên xung phong gầy ốm xanh xao. Gặp chúng tôi họ vui mừng hỏi thăm quê quán ở đâu, đơn vị nào mà ăn mặc chính quy như vậy?. Vì trông chúng tôi đều bận quân phục Tô Châu, giày và mũ cối mới cứng. Còn họ thật tội nghiệp làm sao, quần áo vải vinilon, khăn rằn quấn cổ, hầu hết bị thương tật và sốt rét, bệnh tật nên da dẻ xanh xám, bủng beo, nhưng cặp mắt ai cũng sáng long lanh trên khuôn mặt rạng ngời. Vì từ chiến trường ra nên họ biết cục diện chiến trường đang thay đổi từng ngày. Nhiều thương binh cũng cho biết họ vừa tham gia giải phóng Phước Long và đường 14.
Sau 3 ngày dừng chân nghỉ ngơi tại trạm, nên sức khỏe được hồi phục. Sau đó được lệnh lên xe tiếp tục hành quân. Nhưng hôm nay chúng tôi đã được đổi sang đi xe Zin-Khơ, không còn đi xe Hồng Hà nữa.
 Ngày 25/2/1975, đoàn xe Zin-Khơ đưa chúng tôi đi qua cao nguyên Trung Phần. Hôm nay là rằm tháng giêng (Tết Nguyên Tiêu) nên trăng sáng quá. Trăng rằm to như cái mâm đồng dát bạc, tà tà trên những vòm cây cao nguyên, trông cảnh vật thật đẹp và thơ mộng làm sao. Đường tốt, xe chạy tốc độ vừa phải nên rất êm Tôi quay đầu nhìn lại phía sau đoàn xe. Ôi đẹp và ngoạn mục quá. Ánh đèn xe ô tô nối nhau tạo thành những dòng sông ánh sáng tuyệt diệu trên cao nguyên. Trong lòng chợt lo âu và tự hỏi sao xe chạy như thế này mà máy bay địch hay thám báo của chúng không phát hiện ra được? Khi đoàn quân đang hành quân trên hàng trăm chiếc xe hùng hậu đang xốc tới chiến trường? Nếu chúng phát hiện và tấn công thì sẽ như thế nào…?

Ngày 26/2/1975. Qua một đêm ngồi trên xe tôi thức trắng khi chạy qua cao nguyên Trung phần. Tôi cảm thấy mệt nhoài và buồn ngủ. Sáng nay xe đưa chúng tôi qua thị xã Lộc Ninh – thị xã vừa được giải phóng. Quang cảnh thị xã tan tành đổ nát vì bom pháo. Nhà cửa, cây cối đổ ngổn ngang. Những bức tường nhà sót lại đứng trơ trơ. Đâu đây vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của xác người hoặc động vật chết dưới những đống gạch đổ nát. Đến 4 giờ sáng, xe dừng lại dưới cánh rừng cao su thuộc huyện Bù Đốp. Chúng tôi đưa hết ba lô súng đạn xuống khỏi xe và đi bộ vào rừng. Ở đây bạt ngàn rừng cao su. Những hàng cao su thẳng tắp cây to người ôm không xuể. Vì mùa khô, lá cao su rụng nên tán lá xác xơ không um tùm che kín đoàn quân. Chúng tôi đi vào trong rừng cao su nghỉ tạm, và triển khai đào hầm cá nhân để tránh pháo địch. Thỉnh thoảng tiếng pháo của chiến trường ùng oàng từ đâu đó vọng lại nghe khá gần. Tôi chợt nghĩ đây là mùi vị đầu tiên của chiến trường rồi. Anh Khoát đi họp ở đại đội về cho biết hòm thư của chúng tôi là 810.082A và phổ biến một số nội dung cần phải làm và cho biết từ đây vào đến vị trí tập kết là phải hành quân bộ trong rừng.

Ngày 28/2/1975: Chúng tôi hành quân bộ đến trạm cuối cùng của B2. Từ đây chúng tôi lại tiếp tục đi bộ tiếp đến vị trí tập kết là hậu cứ của đơn vị.

Ngày 05/3/1975. Qua mấy ngày hành quân bộ, lại mang vác nặng, đi vào ban đêm, mà đường rừng lại khó đi, nên chúng tôi khá vất vả và mệt mỏi. Để khỏi lạc nhau trong rừng khi hành quân, chúng tôi phải buộc khăn trắng sau ba lô, hoặc lấy khúc gỗ mục có lân tinh phát sáng cài sau ba lô để làm tín hiệu cho người đi sau bám theo. Đi qua cầu Sình, tôi thấy có mấy ngôi nhà của dân bán hàng hoá. Đây là lần đầu tôi trông thấy người dân miền Nam sinh sống tại mảnh đất của họ. Thế là chúng tôi đã đến vị trí tập kết cuối cùng tại chiến trường.
(Còn tiếp)

« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười Hai, 2011, 08:39:32 pm gửi bởi Đậu Thanh Sơn » Logged
Đậu Thanh Sơn
Thành viên
*
Bài viết: 552


1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam


« Trả lời #147 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 09:19:54 pm »

(Tiếp theo: KÝ ỨC SƯ ĐOÀN)

4- VÀO TRẬN TRÊN ĐƯỜNG 13

Sau khi vào chiến trường. Sư đoàn 341 được Bộ tư lệnh Miền giao nhiệm vụ tiêu diệt địch, mở rộng vùng giải phóng. Tham gia bảo vệ và củng cố vùng giải phóng, đồng thời tận dụng thời gian, địa bàn huấn luyện và xây dựng đơn vị để nâng cao sức mạnh chiến đấu. Xây dựng sư đoàn trở thành một đơn vị chủ lực cơ động, vũng mạnh toàn diện, sẵn sàng cơ động trên mọi địa bàn. Trước mắt sư đoàn chúng tôi trực thuộc Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ tác chiến trên địa bàn đường 13, Dầu Tiếng, Chơn Thành và Khu vực đường 20 từ Là Ngà về Xuân Lộc Long Khánh.
Quân đoàn 4 là quân đoàn chủ lực tại Miền Đông Nam Bộ. Tuy mới thành lập, nhưng Quân đoàn 4 lại có các sư đoàn dạn dày trong chiến đấu trên chiến trường B2 như Sư đoàn 9, Sư đoàn 7. Trung đoàn 273 của chúng tôi nhận nhiệm vụ thay thế địa bàn đứng chân của Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 (hồi ấy gọi là Công trường 7, công trường 9). Địa bàn hoạt động là khu vực Dầu Tiếng – Chơn Thành và chốt chặn trên đường 13. Các Trung đoàn khác hoạt động ở hướng đường 20, từ Túc Trưng, Định Quán đi về hướng Long Khánh. Ngoài ra tổ chức hậu cứ, chuẩn bị vị trí cho công tác huấn luyện chiến sỹ mới.
 
Có thể trong lịch sử chiến tranh chống Mỹ cứu nước đã có nhiều bài, nhiều trang viết về đường 13. Đó là con đường nổi tiếng đẫm máu và nước mắt, cũng là chiến trường đầu tiên mà Trung đoàn 273 chúng tôi đặt chân đến để chiến đấu, và ghi dấu ấn đầu tiên đối với chúng tôi những chàng lính trẻ. Đường 13 khá rộng và trải nhựa, chạy qua An Lộc, Chơn Thành, xuống Bầu Bàng, Lai Khê, Thủ Dầu Một và đi về Sài Gòn qua cầu Bình Triệu. Đây là hành lang vận tải quan trọng của địch từ Sài Gòn lên An Lộc, đồng thời là tuyến phòng thủ chặn quân ta tiến công Sài Gòn từ hướng Bắc. Vì thế tại đây địch đả bố trí một lực lượng quân số và trang bị khá hùng hậu và dày đặc. Tạo thành lá chắn ngăn chặn tuyến hoạt động của quân ta từ Đông sang Tây và bảo vệ cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn. Tại An Lộc. địch bố trí Liên đoàn 32 biệt động quân. Tại chi khu Chơn Thành địch bố trí Liên đoàn 31. Tại khu vực Xóm Rớt và phía Nam xóm Rớt chúng bố trí tiểu đoàn 336 và tiểu đoàn 36. Tại Bầu Bàng chúng bố trí chiến đoàn 7 và chiến đoàn 8 của sư đoàn 5, cùng với chi đoàn xe tăng 182.
Sau khi vào chiếm lĩnh vị trí chiến đấu do Trung đoàn 1 Sư 9 bàn giao. Tiểu đoàn 2 nhận tiếp quản và bảo vệ quận lỵ Dầu Tiếng. Tiểu đoàn 1 chúng tôi do anh Hùng tiểu đoàn trưởng và anh Tân tiểu đoàn phó chỉ huy, có nhiệm vụ chốt chặn địch trên đường 13. Ngăn chặn không cho địch cơ động từ Xóm Rớt về Bầu Bàng. Bảo vệ hành lang cơ động của ta từ Miền Đông xuống Miền Tây Nam Bộ.
Sau mấy ngày nằm ở tuyến sau sẵng sàng xuất kích khi có lệnh. Đêm 5 tháng 3, khẩu đội tôi được lệnh đi phối thuộc với đại đội 1. Cụm chốt của đại đội 1 nằm vòng ngoài cùng. Do công sự của sư đoàn 9 để lại không đủ cho lực lượng trung đoàn 273 sử dụng do quân số quá đông, nên khi ra trận địa, hầu như các đơn vị phải khẩn trương đào thêm hầm hào làm công sự mới. Chốt của chúng tôi cách đồn đich ở xóm Rớt chừng gần cây số. Xóm Rớt là nơi tiểu đoàn bảo an của địch đang trấn giữ. Suốt đêm pháo địch từ Lai Khê và Bến Cát bắn cầm canh vào trận địa phá tan sự yên tĩnh vốn có của nó. Công sự của chúng tôi nằm ở bìa rừng có nhiều cây le. Phía trước mặt là trảng cỏ tranh khá rộng. Đó là căn hầm hình vuông không có nắp, mỗi chiều khoảng 2 mét, sâu cũng khoảng 1mét, xung quanh đắp đất lên cao, hai đầu có hai căn hầm chữa A để tránh pháo. Đây là công sự của anh em sư đoàn 9 làm trước đây để lại. Ngày và đêm chúng tôi ở trong căn hầm đó. Mỗi khi nghe tiếng nổ đầu nòng pháo địch, nếu đạn bay xé gió rít lên thì nhanh chân chạy vào hầm chữ A để tránh. Ban ngày máy bay trinh sát L19 của địch cứ ì ì quần đảo trên đầu, nhưng không phát hiện được chúng tôi.
Mùa khô miền Đông thật khắc nghiệt, mới hơn 7 giờ sáng khi mặt trời đã nhô lên khỏi ngọn cây rừng, là bắt đầu thả cái nóng khó chịu lên vạn vật ở đây. Bầu trời xanh hơn, không một bóng mây nên trông cao hơn. Không khí trong căn hầm càng về trưa càng trở nên nóng bức và ngột ngạt. Đã nhiều ngày không tắm gội, đầu tóc khô cứng như rễ tre, tôi luôn cảm thấy bứt rứt khó chịu trong người. Ban đêm muỗi khá nhiều vo ve bên tai, mặc dù dùng thuốc chống muỗi xoa lên người, nhưng nó lại nhè vào chổ có quần áo, rồi thò cái vòi như mũi kim xuyên thủng áo quần để đốt. Nào muỗi, nào vắt và ve nữa. Tôi bị một con ve đốt vào phía trong khuỷu tay trái lúc nào chẳng biết. Khi thấy con ve hút máu no tròn, cảm giác ngứa đau thì mới biết. Để bắt con ve, đáng lẽ dùng kim nung nóng và đưa vào đít nó, nó sẽ tự rút vòi ra, nhưng ngứa và bực quá quá tôi vội dứt nó ra, không ngờ cái vòi của nó đứt găm lại trong thịt, làm chổ bị đốt sưng lên rồi thối thịt, phải mấy tháng sau ngày giải phóng mới lành chổ đó. Mặc dù gian khổ, thiếu thốn và ác liệt như vậy, nhưng tinh thần anh em vẫn vững và kiên trì chịu đựng, nếu địch liều lĩnh mò vào chốt, chúng sẽ nếm mùi thất bại. Ngày nào chúng tôi cũng nhá cơm nắm nguội lạnh, nuốt khó trôi vào bụng. Nước uống thì tiết kiệm từng giọt, cho nên phải uống từng ngụm nhỏ. Cũng may ngày hôm qua anh nuôi mang ra cho nửa bi đông nhựa 5 lít nước canh lá lạc tiên nấu với ruốc bông, nên chốt cũng tươi hơn chút, nuốt cơm dễ trôi hơn.

 Hướng phía tiểu đoàn 1 chúng tôi những ngày qua vẫn yên tĩnh, chưa xẩy ra chiến sự. Nhưng phía Đông đường 13, hướng tiểu đoàn 3, sáng ngày 6 tháng 3, một đại đội địch thuộc tiểu đoàn 31 biệt động quân đã tấn công vào chốt của đại đội 9 và đại đội 11. Anh em đã kịp thời phát hiện và chờ địch vào thật gần rồi nổ súng tiêu diệt. Trận đầu nổ súng đã tiêu diệt được chục tên. Bọn còn lại tháo chạy về Xóm Rớt. Cũng như tôi nói ở đầu bài, khi bổ sung về sư đoàn 341, có rất nhiều đồng ngũ của tôi được về tiểu đoàn 3. Riêng đại đội 9 có Thành và Trung Trẹo cùng xã với tôi. Ngoài ra rất nhiều đồng ngũ khác như, Đặng Thái Đình (Sơn Tiến), Nguyễn Văn Cát (Sơn An) Nguyễn Xuân Hùng (Sơn Bình), Nguyễn Văn Chiến, Thái Đình Ký (Sơn Thủy), Phan Thanh Giảng (Sơn Mai) v.v… , họ cùng với anh em trong đơn vị đang đối mặt với địch trên trận địa chốt...

Sau đó, ngày 7 tháng 3, địch lại dùng pháo và cho bọn bộ binh của tiểu đoàn 31 liên tục tổ chức tập kích vào chốt. Nhưng anh em cán bộ chiến sỹ tiểu đoàn 3 vẫn kiên cường đánh trả các đợt phản kích của địch, có ngày chúng tổ chức đến 8 lần. Nhưng lần nào cũng bị đánh bật ra, ta tiêu diệt được hàng chục tên địch, chốt vẫn được giữ vững.
Ngày 8 tháng 3, theo chiến thuật đã được bàn bạc thống nhất, để bảo vệ vững chốt phải đánh địch từ xa. Các chiến sỹ của ta đã lợi dụng địa hình địa vật tiếp cận địch và bất ngờ tấn công vào vị trí địch. Các chiến sỹ trung đội 1 đại đội 9 đã dùng bộc phá đánh sập lô cốt địch, xóa sổ một hỏa điểm đại liên và tiêu diệt tại chổ 25 tên địch.
Từ hướng Dầu Tiếng, địch dùng một chi đội xe tăng và bộ binh phản kích vào chốt nhằm tái chiếm vùng giải phóng. Các chiến sỹ tiểu đoàn 2 đã phục sẵn. Khi phát hiện xe tăng địch tiến vào, phía sau là bọn bộ binh địch cũng đang lầm lũi bám theo, anh em đã chờ chúng đến thật gần rồi bất ngờ nổ súng tấn công. Anh Phương Văn Dày đã dùng DKZ và anh Đinh Hồng Sắc (tiểu đội 10) dùng B41 bắn cháy 4 xe tăng, đồng thời các loại súng của ta cũng đồng loạt nhả đạn tấn công địch, bẻ gãy đợt phản công của chúng, tiêu diệt và bắt sống 20 tên, bọn còn lại vội vã tháo chạy về Xóm Rớt. Sau đó, ngày 9 tháng 3, địch lại liều lĩnh tấn công bằng xe tăng và bộ binh vào chốt. Trong trận này anh Sắc lại phát huy hỏa lực B41 bắn cháy 2 xe tăng địch. Anh em trong đại đội tiếp tục truy kích. Khi thấy hai chiếc xe tăng bị bắn cháy, những chiếc còn lại và binh lính địch khựng lại, hoảng sợ vội vã rút chạy để lại trên trận địa gần 30 tên bị tiêu diệt.
(Còn tiếp)

« Sửa lần cuối: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 05:17:40 pm gửi bởi Đậu Thanh Sơn » Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #148 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 01:44:25 pm »

               Chào bạn Đậu Thanh Sơn! Chúc mừng bạn đã lại tiếp tục chặng đường hành quân, kể về các trận đánh đầu tiên khi vào chiến trường miền Đông Nam bộ mà thêo mật danh gọi là B2 ấy.

               Tranphu341 vẫn nhớ 1 câu hát trong bài hát ca ngợi các chiến công của quân ta về đường 13 huyền thoại ấy là:

                Đường 13 vang dội chiến công
                Náo nức thế trận hợp đồng
                Miền Đông hoa rừng nở thắm
                Giải phóng quân lớp lớp về đây
                Suối trong nhớ người ra trận...

                Nếu Đ.T.S có sưu tầm được cả bài hát này thì vui quá!

                CHÚC BẠN CÙNG GIA ĐÌNH CÓ NHIỀU SỨC KHỎE CÙNG NIỀM VUI CUỘC SỐNG!
Logged
hoangson1960
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 476


« Trả lời #149 vào lúc: 26 Tháng Mười Hai, 2011, 04:09:06 pm »

     Chào BY1960! Theo BY thì có thể f5 tham gia đội hình QD4 từ khi QD4 mới thành lập, sau đó khi Sư đoàn 341 vào Nam được bổ sung về QD4 thì f5 trở lại đội hình QK7 chắc? Cũng giống như giai đoạn cuối năm 1980 Sư đoàn 341 về Nước, ra Bắc thì F339 lại thay thế vị trí f341 tại Tà Sanh, SămLop và cũng từ đó f339 có mặt trong đội hình QD4?
            BY tiếp tục tra cứu thêm để chúng ta cùng tìm hiểu nhé!
                                                  Chào BY!

    Chắc đúng như vậy đấy bác ạ ! Năm 1974 thành lập QĐ4 chúng tôi F5 được thông báo đã trong đội hình của QĐ. Tinh thần hiệp định Paris tôi hiểu nôm na là đình chiến, Mỹ đã rút quân, quân đội hai bên ở miền Nam ai ở đâu thì nguyên thế, không di chuyển. Cái vụ quần áo ruộm tím than đã được nghe cán bộ cấp trên quán triệt để khi đi trên đường. Vào đến khu vực Quảng trị dừng quân 3 ngày chờ lệnh bổ xung nhưng lệnh đi tiếp vào B2.Dọc đường vào gặp nhiều đòan(tù binh trao trả) của ta ở Lộc ninh ra Bắc họ hô to:bây giờ mới vào thì còn ống bơ gỉ nhặt nốt, cũng nghĩ vậy. Đ/v cuối cùng đóng quân ở trảng Bà Điếc chúng tôi thường gọi là “chốt Mỹ”vì ở đây có cái chốt Mỹ cũ cách cầu Cần đăng và khẩu Trại bí một trảng rộng. Nghĩ là không đánh nhau nữa nhưng hàng đêm vẫn tiếng bom pháo xa xa vọng về. Ổn định, được học chính trị 1 tháng CTV đại đội nói : ta vẫn tiếp tục chiến đấu đập tan âm mưu lấn chiếm vùng giải phóng của địch và đánh đến tận hang ổ cuối cùng của chúng. Qua đợt học chính trj xong theo trinh sát điều nghiên bót Đức huệ (Long an)về, lấy luôn cái bót cũ của Mỹ sẵn có thêm hàng rào thép gai như ngòai thực địa rồi cha con quân xanh quân đỏ cùng nhau “chiến” nhuần nhuyễn rồi xuống đường ra trận triền miên đến khi đất nước thống nhất. Chiến dịch HCM đ/v tôi (thuộc F5) đánh qua Long an (Thủ thừa, Bến lức) phía Tây Nam Sài gòn nhằm chốt lộ 4 khống chế không cho địch rút từ Sài gòn ra và quân viện từ những tỉnh miền Tây vào.
    Nếu có thể bác nào tìm đọc lịch sử F5 cho ae ở đây biết tường tân, còn tôi biết như vậy  với sự hiểu biết của người lính mà thôi.

[/quote]
Hôm nay mày mò trên mạng tôi thấy có một bài viết về F5 .Tôi photo lại cho ae hiểu thêm về lịch sử sư đoàn.
Sư đoàn 5 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh
Tháng Tư 19, 2011 Dân tộc Việt Nam anh hùng Để lại phản hồi Go to comments
Trong kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn 5 là một trong 3 sư đoàn của Bộ Tư lệnh Miền, được thành lập năm 1965, đã từng bước trưởng thành; từ tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn “đánh nhanh diệt gọn” khi có thời cơ, rồi nhanh chóng di chuyển đến đánh theo yêu cầu trong đội hình trung đoàn, sư đoàn, hành quân trong các chiến dịch, tác chiến hợp đồng binh chủng.
 
Sư đoàn 5 tiến công địch ở Long An.
Tháng 4-1974, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho sư đoàn xuống Đồng Tháp Mười, xây dựng sư đoàn chủ lực mạnh; phối hợp với các đơn vị chủ lực và địa phương Quân khu 8 tiêu diệt các đồn bót, đánh các loại địch; tạo thế đứng vững trên chiến trường Đồng Tháp Mười. Thực hiện nhiệm vụ này, sư đoàn đã diệt một số đồn bót ở biên giới như đồn Phước Tân, Bình Châu, Ông Tờn, Cây Da, Long Khốt.
Sư đoàn 5 tiến công địch ở Long An.
Cuối tháng 12-1974, các đơn vị đã xuống Đồng Tháp Mười; tháng 1-1975, đánh Tiểu đoàn 502 và Chiến đoàn 2 thiết giáp ngụy tại Gò Da, diệt được hàng chục đồn tam giác trên sông Vàm Cỏ Tây. Trung đoàn đặc công tấn công bức rút căn cứ 75 Hải quân.
Tính đến tháng 3-1975, sư đoàn đã phối hợp với Quân khu 8 tiêu diệt khoảng 2.000 tên địch, san bằng và bức rút 25 đồn bót, đánh đắm 6 tàu chiến, bắn cháy 3 máy bay, hỗ trợ nhân dân nổi dậy làm chủ 20 xã, 220 ấp, giải phóng 330.000 dân, giải phóng Tuyên Nhơn, Tuyên Bình.
Lực lượng của sư đoàn đã bố trí sẵn sàng tấn công vào thị xã Mộc Hóa, nhưng ngày 5-4 lại được lệnh dừng lại và chuyển lực lượng tấn công Tân An. Sư đoàn đã vượt 87km từ Đồng Tháp Mười đến chiến trường. Đêm 10-4, Trung đoàn 1 tấn công thị xã Tân An, sân bay Cần Đốt, Trung đoàn 3 tấn công Thủ Thừa, Trung đoàn 2 đánh địch ở khu vực Bắc sông Vàm Cỏ Tây.
Ngày 24-4 Chỉ huy Đoàn 232 triệu tập Sư đoàn trưởng Vũ Thược và Chính ủy Nguyễn Xuân Hòa (đi bộ, đi xuồng khoảng 50km đến Sở Chỉ huy) để giao nhiệm vụ: “Sư đoàn phải thực hiện chia cắt chiến lược đường 4 (bây giờ là đường 1) đoạn từ Bến Lức đến Tân Hiệp từ ngày 26-4, không để địch tháo chạy về miền Tây, không cho địch từ miền Tây về ứng cứu Sài Gòn”. Lúc này sư đoàn có được 2 khẩu pháo 105, để đưa đến chiến trường, đơn vị đã tháo pháo ra khiêng bộ, đi xuồng vượt 67km đường sình lầy đến vị trí tập kết. Thật là một kỳ công thể hiện quyết tâm rất cao.
Ngày 26-4, Trung đoàn 3 vượt sông, tấn công Chi khu quân sự Thủ Thừa. Địch tăng cường thêm 4 tiểu đoàn, ta không giành được thắng lợi, phải trụ lại đánh phản kích giữ thế đứng ở Nam đường 4. Đêm 27-4, Trung đoàn 2 tiêu diệt 4 cụm địch quanh đường 4. Trung đoàn 1 tấn công địch ở Củ Chi, nhân dân nổi dậy làm chủ 3 xã ở Phú Mỹ, Củ Chi, Tân Hương.
Rạng sáng 28-4, địch tập trung lực lượng mạnh, phản kích ác liệt từ Bến Lức đến Tân Hiệp. Trung đoàn 42, Sư đoàn 22 ngụy cùng 2 chi đoàn thiết giáp phản công ở cầu Rạch Chanh, cầu Voi. Trung đoàn 2 đẩy lùi 7 đợt phản công của bộ binh và xe tăng địch, bắn cháy 2 xe M113. Trận địa pháo 105, ĐKB, H12 của ta liên tục bắn áp chế các trận địa pháo địch ở Thủ Thừa, Nhi Bình, Tân An. Đến 8 giờ sáng địch khôi phục được vị trí cầu Voi. Máy bay địch đánh bom vào khu vực sư đoàn bộ. Đêm 29-4, sư đoàn lệnh các đơn vị tấn công, chiếm các mục tiêu đã được phân công.
Đến 9 giờ sáng ngày 30-4, sư đoàn đã làm chủ đường 4 từ Bến Lức đến Tân Hiệp. Đoàn xe địch tháo chạy bị ùn tắc dài hàng cây số, giày và quần áo lính ngụy rải dài trên đường. Ở Tân An, 2 Tiểu đoàn biệt động ngụy kéo cờ trắng đầu hàng.
Sư đoàn 5 lúc đó mới 10 tuổi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chia cắt chiến lược trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trung tướng NGUYỄN XUÂN HÒA
SGGP Online


Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM