KÝ ỨC SƯ ĐOÀN (Tiếp theo)
Đến chiều tối, khẩu đội của tôi được lệnh lui về phía sau. Mùa mưa đã đến sớm. Những cơn mưa đầu mùa bắt đầu rơi xuống nặng hạt. Hầm của chúng tôi bị nước mưa vào làm cho đất nhão nhoét. Lính miền đông Nam Bộ thật khổ và vất vả khi mùa mưa đến.
Ngày 03/4/1975: Tối hôm nay khẩu đội lại được lệnh ra chốt tại vị trí đại đội 1. Anh Khoát mang khẩu AK đi trước, đến Biểu vác khẩu cối đi thứ hai, tôi mang đế cối và 8 quả đạn đi giữa, Điếng gánh đạn đi sau cùng. Còn Hà chẳng biết đi đâu. Hình như anh Hà và Khương dạo này chỉ lo cơm nước cho tiểu đội hay sao ấy. Chúng tôi đi qua trảng trống nhỏ toàn cỏ tranh, rồi qua khu rừng le. Đã gần cuối tháng 2 âm lịch, trăng hạ tuần cũng khá sáng nên không phải mò mẫm trong rừng. Đến vị trí, anh Khoát ra hiệu dừng lại, thấy một căn hầm cũ, khá rộng, Biểu mò vào hầm trước rồi chửi toáng lên:
- Đ. mẹ! thằng quái đản nào tương bậy bạ vào hầm chúng mày ạ!. Đúng là đồ chó chết!
- Thôi khẩn trương dọn hầm mà tránh pháo đi các bố ạ! Tôi nói.
Pháo địch vẫn bắn cầm canh, hú họa. Thế là ba thằng phải hì hục dọn hầm. Đến 8 giờ thì căn hầm đã sạch sẽ. Mấy đứa tôi mắc võng nằm, rồi thay nhau canh gác. Anh Khoát rời vị trí lên đại đội hội ý thì phải. Vị trí chốt của đại đội 1 nhô ra so với các chốt của đại đội 3, giống như đỉnh của cây cung. Những ngày qua tôi nghe mấy anh em nói là lính đại đội 1 chiến đấu rất cừ. Đại đội trưởng là anh Lương Anh Thiện, người dân tộc Mường quê ở Thanh Hóa. Là người chỉ huy khá tạo bạo và gan góc, vì anh đã có kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường rồi.
Ngày 04/4/1975: Khẩu đội tôi vẫn tiếp tục chốt giữ ngoài trận địa cùng với đại đội 1. Ban ngày pháo địch từ Bến Cát và Bầu Bàng vẫn bắn vào trận địa. những tiếng rít xé gió của đạn pháo bay trên đầu bây giờ đã làm cho chúng tôi cảm thấy quen thuộc và trở nên bình thường. Nghe tiếng xé gió là biết lúc nào pháo bay qua nổ ở xa và lúc nào là pháo sẽ rơi vào trận địa để mà tránh. Thời điểm này Bầu Bàng, Bến Cát và thị xã Thủ Dầu Một vẫn chưa được giải phóng.
Ngày 6/4/1975: Sau khi hoàn thành chốt chặn trên đường 13. Đơn vị chúng tôi bàn giao lại trận địa cho đơn vị bạn để nhận nhiệm vụ mới. Sáng hôm nay chúng tôi lật cánh hành quân di chuyển về Long Khánh. Tôi nghĩ trong đầu “Chắc đợt này sẽ làm ăn to đây”. Chúng tôi ung dung hành quân theo đường 13, đi qua chi khu Chơn Thành, hai bên đường một số xác địch còn nằm ngổn ngang, có thằng còn nằm trên băng ca trương phình, vì xác chết đã mấy ngày chưa được thu dọn nên khắp một đoạn đường nồng nặc mùi hôi thối. Chúng tôi phải dùng khăn tay bịt mũi để đi qua, đi đến ngã tư chúng tôi rẽ về đường 14 để đi về hướng Long Khánh.
Ngày 09/4/1975: Trung đoàn 273 của chúng tôi vẫn tiếp tục hành quân về để đánh Xuân Lộc. Hôm nay là ngày đầu tiên Trung đoàn 270 và 266 cùng với Sư đoàn 7 nổ súng tấn công Xuân Lộc – thủ phủ tỉnh Long Khánh. Sư đoàn 7 là đơn vị đảm nhận hướng chủ yếu từ hướng Đông đến suối Rết. Sư đoàn 341 (thiếu Trung đoàn 273) đánh hướng thứ yếu, từ hướng Bắc qua suối Cải, vào chi khu hành chính Xuân Lộc.
Địch đã mất Buôn Mê Thuột, Huế, rồi đến quân khu 2 và quân khu 1. Một số tỉnh từ Quảng Trị đến Phan Rang đã được giải phóng.
Tại miền Đông, Quân đoàn 4 giải phóng chi khu Dầu Tiếng, Chơn Thành, An Lộc, chúng ta đang áp sát Bầu Bàng. Cánh cửa phía Bắc Sài Gòn đã được mở.
Phía Đông Bắc trên đường 20, Sư đoàn 7 đã đánh chiếm Định Quán và duy trì áp lực Túc Trưng, Gia Tân, Gia Kiệm sẵn sàng về Dầu Dây. Đồng thời Sư đoàn 7 cũng tiến lên giải phóng Lâm Đồng.
Cục diện chiến trường miền Nam thay đổi nhanh chóng. Trên chiến trường mọi lợi thế so sánh đang có lợi cho ta. Địch đang hoang mang trước sức mạnh tiến công như vũ bão của quân giải phóng. Để bảo vệ Sài Gòn từ xa, địch đã lập phòng tuyến Phan Rang với nhiều tuyến ngăn chặn quân giải phóng. Trong hệ thống phòng thủ dày đặc đó, Xuân Lộc là tuyến phòng ngự ở quân khu 3 đầy hy vọng của chúng, nhằm ngăn chặn quân ta tiến về giải phóng Sài Gòn trên hai con đường huyết mạch số 1 và 20. Vì vậy Xuân Lộc là cánh cửa thép phía Đông Bắc của địch. Địch biết rằng nếu mất Xuân Lộc, sẽ mất Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu đã hứa hẹn với Nhà trắng: “Dù có chết tôi cũng giữ cho được Xuân Lộc”. Còn chuẩn tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh sư đoàn 18 nguỵ huênh hoang: “Sẽ đánh một trận oai hùng cho thế giới biết!”
Tại đây địch đã tập trung bố trí lực lựợng gồm:
- Sư đoàn 18 ( gồm chiến đoàn 43, 48, 52)
- Bốn tiểu đoàn bảo an (340, 342, 343 và 367)
- Hai tiểu đoàn pháo binh (181 và 182)
- Hai chi đoàn xe tăng thiết giáp (của thiết đoàn 5)
- Và 3000 dân vệ, quân cảnh, phòng vệ dân sự.
***
Ngày 10/4/1975: Qua mấy ngày hành quân bộ, lại mang vác khá nặng nên chúng tôi khá mệt. Đồng thời đã nhiều ngày bám trụ quần nhau với địch liên tục trên chốt, ăn uống không đảm bảo, không được nghỉ ngơi tắm rửa nên càng làm cho chúng tôi mệt mỏi hơn. Tối hôm nay chúng tôi đi qua thị xã Phước Long. Thi xã được giải phóng ngày 6/1/1975 trong chiến dịch đường 14- Phước Long trong những ngày cuối tháng 12/1974 và đầu năm 1975 bỡi các đơn vị Sư đoàn 7, sư đoàn 9 và sư đoàn 3. Cuộc sống nơi đây vẫn chưa trở lại bình thường. Trong cái ánh sáng tranh tối tranh sáng đó, tôi ngước nhìn sang hai bên đường, nhà cửa đổ nát tan hoang do đạn pháo các loại. Nhưng tàn ác hơn địch đã thả bom hủy diệt Phước Long vì chúng đã không cứu được thị xã này trước sức mạnh tấn công như vũ bão của quân ta. Chúng tôi vẫn lặng lẽ bước đi, lòng tràn ngập niềm vui chiến thắng. Trong chiều tối từng bầy dơi bay lượn chập choạng đớp muỗi trên đầu.
Hết đi đường nhựa lại đi đường rừng. Hành quân ban đêm lại đi trong rừng cũng hết sức khó khăn. Mặc dù lối đi đã có sẵn từ trước, những cây trên lối đi đã được công binh cắt sát gốc, tuy vậy thỉnh thoảng vẫn bị vấp ngã. Để giữ đội hình và khỏi lạc nhau, mọi người đều phải cột phía sau ba lô một cái khăn màu trắng hoặc một khúc gỗ mục có lân tinh phát sáng. Buồn cười nhất là đêm hành quân theo đường 14 qua Sông Bé, từ đầu hàng quân truyền xuống “xắn quần lội qua sông”, thế là anh nào cũng hý hửng tưởng sẽ lấy được nước để uống vì nước bi đông đã cạn khô, những cơn khát vẫn cháy cổ họng. Thế nhưng khi đi qua cái cầu đã bị đánh sập nhưng lại không lội xuống sông, vì vậy chẳng lấy được giọt nước nào.
Chúng tôi tiếp tục hành quân, mặc dù rất mệt và khát nước. Đang đi từ trên hàng quân lại truyền xuống “phía trước có hổ”, thế rồi anh trước truyền lại cho anh sau “phía trước có hổ”. Đi hết cả cây số trên đường nhựa nhưng chẳng thấy con hổ nào cả. Thực ra câu truyền đêm đó là “ Phía trước có hố” để mọi người cẩn thận kẻo vấp ngã hố pháo trên đường. Có lẽ cái chất giọng đặc sệt Nghệ An Hà Tĩnh của lính ta thì “hố” trở thành “hổ” là điều dễ hiểu. Thế là làm cho anh em được trận cười quên cả mệt nhọc.
(còn tiếp)