KÝ ỨC SƯ ĐOÀN (Tiếp theo)
Ngày 11/4/1975: Khoảng hơn 3 giờ sáng chúng tôi đến Đồng Xoài thuộc tỉnh Phước Long. Chế độ Sài Gòn gọi Đồng Xoài với cái tên là quận Đôn Luân.
Lúc đang là học sinh, tôi đã biết đến cái tên Đồng Xoài qua sách báo cùng với chiến công lừng lẫy của Trung đoàn 2 (Sư đoàn 9) quân giải phóng miền Đông Nam Bộ. Tại đây, đêm mùng 9 đến ngày 10 tháng 6 năm 1965, cứ điểm chi khu quân sự Đồng Xoài mà Mỹ nguỵ cho là “Bất khả xâm phạm” đã bị tiêu diệt. Là trận đánh then chốt, góp phần chiến dịch Sông Bé - Phước Long kết thúc thắng lợi. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 800 tên lính VNCH và 35 lính Mỹ. Tiêu diệt 4 đại đội biệt kích, 01 đại đội bảo an, 01 đại đội dân vệ, 01 trung đội pháo 105 ly, 01 trung đội cảnh sát và 01 chi đội xe cơ giới. Bắn rơi 07 máy bay, thu 148 khẩu súng các loại, gần 02 vạn viên đạn. Với tinh thần quả cảm, kiên cường, cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 2 đã đánh chiếm chi khu Đồng Xoài và làm nên một “Đồng Xoài rực lửa”. Sau này Trung đoàn 2 cùa Sư đoàn 9 được mang danh hiệu “Đoàn Đồng Xoài” là vì thế. Mặc dù Trung đoàn 2 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhưng bị tổn thất khá nặng: 134 cán bộ chiến sĩ hy sinh và 290 đồng chí khác bị thương.
Vậy mà gần 10 năm sau, từ ngày 23/12 đến 28/12/1975, ta tiến công tiêu diệt hai chi khu Đồng Xoài, Bù Đốp, cô lập hoàn toàn thị xã Phước Long. Chi khu Đồng Xoài với bố phòng dày đặc, kiên cố bỡi nhiều bãi mìn và hàng chục lớp rào kẽm gai và trên hàng chục chốt phòng thủ lại bị Trung đoàn 141 của Sư đoàn 7 Quân đoàn 4 tấn công tiêu diệt chỉ trong mấy tiếng đồng hồ. Tiếp theo cơn bão lốc của quân giải phóng, ngày 31/12/1974, Quân đoàn 4 được tăng cường thêm Trung đoàn Bộ binh 16, một tiểu đoàn xe tăng, hai tiểu đoàn pháo 130mm, mở cuộc tiến công vào thị xã Phước Long. Trước sự hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ, bộ đội ta lần lượt đánh chiếm Chi khu Phước Bình, cứ điểm núi Bà Rá. Ngày 6/1/1975, Quân đoàn 4 tiến công từ nhiều hướng, phát triển vào thị xã Phước Long, nhanh chóng tiêu diệt các mục tiêu, công sự hầm ngầm ở trung tâm hành chính, giải phóng toàn tỉnh Phước Long. Chiến dịch Đường 14 - Phước Long kết thúc thắng lợi.
Vì thế hôm nay hành quân qua Đồng Xoài Phước Long trong lòng tôi đi trong niềm vui lâng lâng khó tả. Trong đầu tôi bỗng dâng lên cuộn trào bài hát năm xưa mà tôi thường hay hát:
“...Anh đi về đâu, từ quy Nhơn đến Biên Hòa, vượt qua Sông Bé oai hùng về Phước Long xây chiến thắng…” Tôi đã trở thành người chiến sỹ giải phóng quân của miền Nam thành đồng. Thật tự hào như thấy mình có tên trong bài hát đó. Đang miên man suy nghĩ, bỗng nghe anh Khoát nói với chúng tôi:
- Mình đang đi trên sân bay dã chiến Đồng Xoài đấy!.
Cậu Điếng có lẽ vừa đi vừa ngủ gật nghe không rõ lời anh Khoát, tưởng là truyền mệnh lệnh nên hỏi lại tôi:
- Anh Khoát nói chi rứa?
Tôi bảo:
- Anh Khoát nói mình đang đi qua khu vực sân bay dã chiến Đồng Xoài.
...
Trời sáng mờ mờ nên tôi cũng chẳng thấy được gì, chỉ thấy đang bước đi trên những tấm ghi bằng thép ghép với nhau. Có những tấm ghi còng queo lổm nhổm. Cõ lẽ những tấm ghi này địch ghép làm đường băng cho máy bày. Thỉnh thoảng từ nơi xa xa nào đó không phân biệt được ở đâu, thỉnh thoảng trên bầu trời sáng lên bỡi những quả pháo sáng của địch, sáng một lúc rồi chợt tắt. Cũng trong không gian tĩnh mịch đó vẫn vọng lại iếng nổ ùng oàng của bom pháo.
Tôi cũng cảm thấy đuối sức, hai chân mỏi kinh khủng, nhưng vẫn cắm cúi bước đi để cố gắng bám sát đội hình. Như vậy từ đường 13 Chơn Thành, chúng tôi đi qua qua cầu Sông Bé (hình như là cầu Xa Cát bây giờ), theo đường 14 tới Đồng Xoài, xuyên rừng Mã Đà để về Đồng Nai.
Sau khi đi theo đường 14, chúng tôi rẽ sang đường đất đỏ có tên Trần Lệ Xuân. Nghe nói con đường này do bà Trần Lệ Xuân, vợ của Ngô Đình Nhu xây dựng trước đây để phục vụ cho việc trồng rừng và khai thác gỗ từ Sài Gòn đến Cát Tiên. Một số cánh rừng người dân vẫn gọi là rừng Trần Lệ Xuân. Khoảng 9 giờ sáng, nắng đã nóng rát mặt, mồ hôi nhễ nhại, có lệnh dừng chân nghỉ giải lao. Mọi người thở phào khoan khoái. Gần như cả tiểu đoàn vào một ngôi nhà sàn bằng gỗ khá rộng bên trái con đường để nghỉ và nấu cơm. Hình như đây là một cơ sở sản xuất hay làm từ thiện từ thiện của Tôn giáo. Khuôn viên ngôi nhà thật rộng, trong nhà có nhiều bàn ghế để tổ chức ăn uống, trước sân có mấy cái giếng nước rất trong. Vì không tiếp xúc với chủ nhà, nên tôi cũng chẳng biết chủ nhà là ai, như thế nào. Đã bao ngày thiếu nước uống, không có nước tắm rửa. Hôm nay chúng tôi được một bữa uống nước no và rửa ráy một cách thỏa thích. Đây là vùng giải phóng nên người dân nơi đây vẫn sinh hoạt bình thường. Gần khu vực chúng tôi dừng chân có mấy trận địa pháo cao xạ 37ly (có lẽ của Lữ đoàn 71 Quân đoàn) để bảo vệ vùng giải phóng Đồng Xoài.
Hai bên đường đã có hàng quán bán hàng hóa thực phẩm. Anh Hà rủ tôi đi ra đường để mua một số thức ăn cho tiểu đội. Sang bên kia lề đường có một quầy bán hàng của một phụ nữ khoảng chừng 40 - 45 tuổi. Bà ta đang sắp xếp hàng hóa. Khi chúng tôi đến thì cùng lúc có mấy anh anh em khác cũng ghé mua thuốc lá và mì tôm. Bà ngước nhìn chúng tôi nét mặt có vẻ kín đáo, trầm tĩnh không vồn vã khi khách đến mua hàng. Hay là bà e ngại bộ đội giải phóng? trong tôi chợt nghĩ như vậy. Anh Hà nói:
- Bà ơi bán cho tôi một cân vừng và một cân lạc;
Bà bán hàng trả lời:
- Không có chú ạ!
Tôi chỉ tay vào mấy cái bao đựng vừng và lạc bằng giấy màu nâu, rồi nói:
- Đây này, sao bà nói không có?
Từ nét mặt trầm tĩnh đó, bỗng bà mỉm cười rồi nói:
- À đấy là mè và đậu phộng mà chú!
Chúng tôi phá lên cười. Vào Nam đã mấy tháng rồi, mà đến bây giờ chúng tôi mới biết dân miền Nam gọi vừng là hạt mè, lạc thì gọi là đậu phộng.
Sau khi ăn cơm, nghỉ ngơi được một lúc, chúng tôi lại khoác ba lô và súng đạn tiếp tục hành quân. Đến chiều tối, đến một khu rừng khá rậm rạp, có nhiều cây le và cây cổ thụ. Nghe mấy anh trong đơn vị nói đây là khu vực trường Quân chính của Miền. Tôi thấy tại đây có những cái lán làm bằng cây rừng và lợp bằng lá Trung Quân rất đẹp. Anh Khoát thông báo chúng tôi sẽ ở lại đây một đêm để nghỉ mai hành quân tiếp. Cả tiểu đoàn rẽ vào rừng tìm vị trí để nghỉ ngơi. Tiểu đội tôi mỗi người mỗi việc chuẩn bị cho bữa cơm tối trên đường hành quân. Tôi và Nam lại đi tìm cây lá giang về nấu canh. Khu vực này có khá nhiều cây lá giang. Đó là một loại cây thân dây leo. Lá giang có vị chua nấu với ruốc bông tạo thành một món ngon canh tuyệt vời đối với chúng tôi hồi ấy. Cho đến bây giờ, 37 năm đã trôi qua, mỗi lần vợ tôi dùng lá giang nấu canh với cánh gà, làm tôi lại nhớ đến những bữa cơm rừng cùng đồng đội ngày ấy. Khóe mắt chợt cay cay khi nghĩ đến những đồng đội nằm lại không bao giờ về nữa. Cơm nước xong xuôi, mọi người tìm vị trí mắc võng để ngủ lại đêm nay. Ngoài đường có hai chiếc xe Reo đang leo dốc, rú ga và bóp kòi inh ỏi chạy ầm ầm chở trên thùng những cây gỗ khá to... Có lẽ một ngày hành quân mệt nhọc, nên vừa nằm vào võng một lúc giấc ngủ đến từ lúc nào cũng chẳng biết.
Buổi sáng chúng tôi vẫn tạm nghỉ trong một cánh rừng của trường Lục quân của Miền (còn gọi là trường Trần Quốc Tuấn). Là tiền thân của trường sỹ quan Lục quân 2 bây giờ. Một số anh em trong đơn vị đem mũ cối đổi cho học viên ở trường lấy mũ tai bèo để đội cho nhẹ. Ăn cơm sáng xong, tôi đi lòng vòng trong khu vực, đến chơi với mấy anh em ở các trung đội. Có mấy anh lính cũ đang ngồi vót tăm bằng cây le. Thế rồi tôi cũng bắt chước quay về võng lấy dao găm vót tăm. Sau khi vót được khoảng vài chục cây tăm dài, bó lại thành một bó rồi chặt thành từng đoạn. Thế là đầy một túi cơm nắm tăm le.
(Những bó tăm đó mãi đến khi về làm nhiệm vụ quân quản Sài Gòn cả mấy tháng mà tăm vẫn chưa dùng hết).
(Còn tiếp)