KÝ ỨC SƯ ĐOÀN (Tiếp theo)
Ngày 10 đến 13/4/1975:
Chiến sự càng trở nên ác liệt hơn trong thế giằng co quyết liệt giữa ta và địch. Để cố gắng giữ được Xuân Lộc bằng mọi giá, Nguyễn Văn Thiệu đã huy động 50% lực lượng bộ binh, 60% lực lượng pháo binh, hầu hết số xe tăng của Quân đoàn 3 và huy động tối đa lực lượng không quân từ sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất vào cuộc chiến. Có ngày chúng đã huy động 125 lần/chiếc vào ném bom, bắn vào trận địa. Địch đã sử dụng hai quả bom phát quang BLU-82 , bom tọa độ, và cả bom xăng, để ném xuống các đơn vị bộ đội của ta ở quanh thị xã nhằm ngăn chặn bước tiến quân của các đơn vị.
Chiến sự đã diễn biến vô cùng ác liệt và phức tạp. Sư đoàn 7 và 341 đã bị thương vong tổn thất khá lớn. Riêng Sư đoàn 341 trong hai ngày chiến đấu bị thương vong gần 1.200 cán bộ chiến sỹ.
Trước tình hình trên, sư đoàn trưởng sư đoàn 341 Trần Văn Trân đã xin ý kiến thường vụ đảng uỷ, quyết tâm tăng cường lực lượng để đánh dứt điểm thị xã, và làm chủ thị xã càng nhanh càng tốt. Để có lực lượng đánh quân địch phản kích, sư đoàn 341 đã xin rút Trung đoàn 273 từ hướng Chơn Thành về gấp làm lực lượng dự bị, đưa tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 270) vào đánh trong thị xã và rút tiểu đoàn 5 từ trong thị xã ra đánh sân bay và tảo trừ quân địch ở khu tỉnh trưởng. Các tiểu đoàn của Trung đoàn 266 đánh trại Lê Lợi, căn cứ Chiến đoàn 3 ngụy.
Các trận chiến đấu chủ yếu là đánh gần, từng tổ chiến đấu 3 người hỗ trợ nhau đánh chắc, tiến chắc và tiết kiệm đạn dược. Nếu hết đạn thì dùng súng địch diệt địch. Chiến sỹ Phạm Văn Lái, liên lạc của đại đội 9 (Trung đoàn 266) đã dẫn đầu một tổ vu hồi sau lưng địch trong điều kiện bốn bề đều có địch. Tổ đồng chí Lái đã đánh kiểu “nở hoa trong lòng địch”, diệt tại chổ 30 tên, lấy súng của địch giao cho du kích chiến đấu với quân địch phản kích. Tổ đồng chí Lái đã đẩy lùi hàng chục lần phản kích của địch. Đến cuối ngày, đồng chí bị thương, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Đồng chí Lái sau này được tuyên dương Anh hùng LLVT, hiện nay đồng chí Lái đang sống ở quê hương Quảng Bình.
*
* *
Như vậy trận đánh kéo dài từ ngày 09/4 đến ngày 13/4/1975, chiến sự đã diễn ra gay go, ác liệt, do địch tăng cường lực lượng. Ta và địch giằng co quyết liệt từng cụm mục tiêu. Vì vậy trận đánh không dứt điểm được. Để đảm bảo thắng lợi, Quân đoàn đã thay đổi cách đánh và tổ chức lại lực lượng.
Sau khi nhận định được sức mạnh đề kháng của địch là do chúng kết nối được được với các căn cứ Biên Hòa. Vì vậy ta phải lập thế trận mới bằng cách cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa, đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đứt đường số 1 chặn địch từ Biên Hòa, Trảng Bom, đánh chiếm Tân Phong, cắt đứt đường số 2 đi Bà Rịa.
Ngày 15/4/1975:
Trong khi ta tạm dừng tấn công trong ngày 14/4, để củng cố lại lực lượng và thay đổi cách đánh, bộ máy tuyên truyền của địch ra rả nói về “Một chiến thắng Xuân Lộc”, ngay cả Nguyễn Văn Thiệu cũng hý hửng tuyên bố: “Khả năng chiến đấu của quân lực VNCH đã được phục hồi… Quân lực VNCH còn đủ mạnh để giữ vững chế độ…” Tình hình tạm lắng càng củng cố thêm nhận định của địch. Thậm chí, Lê Minh Đảo còn cho họp báo tại mặt trận, tuyên bố thách thức với đồng chí Hoàng Cầm - Tư lệnh QĐ4.
Do ta thiệt hại nặng và không đạt được các mục tiêu đề ra, nên QĐ4 đã rút ra các khuyết điểm để điều chỉnh chiến thuật tấn công: chuyển từ đánh chiếm sang bao vây cô lập, từ đánh chính diện sang đánh tạt sườn, thay vì đánh chiếm Xuân Lộc thì đi vòng qua thị xã.
Pháo 130 ly của ta cũng bắt đầu bắn phá sân bay Biên Hòa không cho máy bay địch cất cánh yểm trợ Xuân Lộc.
Cụm pháo binh QĐ chuyển sang chi viện cho Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B (Sư đoàn 325) vừa vào tới tấn công tiêu diệt chiến đoàn 52 nguỵ ở khu vực ngã ba Dầu Giây và Núi Thị. Quân ta đã đánh chiếm được ngã ba Dầu Dây (giao điểm của Quốc lộ 1 và 20) và đoạn cuối đường 20 từ Trúc Tân đến Kiệm Tân, đánh bại nhiều cuộc phản kích từ Trảng Bom đánh ra, uy hiếp sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 nguỵ đặt tại Trảng Bom. Chiến đoàn 52 Bộ binh cuối cùng đã tan rã vào đêm 15/4. Tất cả pháo binh, thiết giáp đều bị hủy diệt sau mấy ngày đêm cầm cự, thiệt hại nặng nề về người. Chín giờ đêm hôm đó, khi hầm chỉ huy của chiến đoàn bị bắn sập, đại tá chiến đoàn trưởng ra lệnh rút quân cùng với 200 tên lính sống sót. Quân đoàn 3 nguỵ phải ngừng phản kích cứu nguy cho Xuân Lộc.
Trung đoàn 209 (sư đoàn 7) đánh ngã ba Tân Phong. Tiếp theo trong các ngày 16 và 17 tháng 4, hai trung đoàn 141 (Sư đoàn 7) và Trung đoàn 270 (Sư đoàn 341) đánh các đợt phản kích của địch ở phía Tây ngã ba Dầu Giây. Bị mất Dầu Giây, thị xã Xuân Lộc bị bao vây cô lập. Trong thị xã Trung đoàn 266 (sư đoàn 341) và Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7) đã tiêu diệt chiến đoàn 48 và 52 của địch và diệt một phần Lữ đoàn 1 Dù, làm cho lực lượng địch bị tổn thất nặng nề, đồng thời ta phát triển ra Núi Thị và ấp Ông Quế.
Cũng trong thời gian ngày 17/4 Trung đoàn 273 của tôi từ hướng đường 13 về, đã vượt sông La Ngà về Định Quán.
Ngày 16 và 17/4/1975:
Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 nguỵ tập trung 200 xe tăng, cùng các Lữ đoàn thiết giáp, 100 khẩu pháo từ Hốc Bà Thức, Long Bình và 125 lần máy bay chiến đấu chi viện hỏa lực tổ chức phản kích. Trận chiến ở ấp Hưng Nghĩa diễn ra vô cùng ác liệt.
Cùng thời gian, trong các ngày 16 và 17 tháng 4, quân ta liên tục đánh bại các đợt phản kích của địch ở phía Tây ngã ba Dầu Giây. Địch bị mất Dầu Giây, thị xã Xuân Lộc bị bao vây cô lập. Lực lượng địch bị tổn thất nặng nề.
Cùng thời gian Quân đoàn 2 của ta sau khi giải phóng Nha Trang, Cam Ranh thần tốc tiến theo đường số 1 đánh tan tuyến phòng ngự Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân và đã tiến đến rừng lá. Trước sức mạnh như vũ bão của quân giải phóng, và tránh bị tiêu diệt Lê Minh Đảo đề nghị rút bỏ Xuân Lộc. Chiều tối ngày 20/4/1975, lợi dụng trời mưa, Lê Minh Đảo và đám lính tráng vỡ trận tháo chạy khỏi Xuân Lộc theo đường rừng về khu vực Long Bình. Ta phát hiện kịp thời, chặn đánh, kết hợp pháo binh của Lữ đoàn 24 bắn chặn một số đoạn đường trên đường số 2 từ ngã ba Tân Phong về phía Nam, ta đã tiêu diệt 600 tên của đại tá Hiền và bắt sống tên tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh Phạm Văn Phúc. Một bộ phận lớn của sư đoàn 18 chạy ra thị xã Bà Rịa, sau đó vòng theo đường 15 chạy về Biên Hòa.
Ngày 21/4/1975:
4 giờ sáng, tại ấp Suối Cá, gần ranh giới Long Khánh - Phước Tuy, Tiểu đoàn 3 Dù bị quân ta phục kích gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Cánh quân đi đầu của Tiểu đoàn 9 Dù cũng bị ta đánh cho tan tác tại thung lũng Gia Rai, dưới chân núi Cam Tiên. Những tuyến phòng thủ cuối cùng của địch tại Xuân Lộc tan rã. Các lực lượng còn lại rút chạy về Trảng Bom, Biên Hòa và Sài Gòn lập phòng tuyến mới.
Mất Xuân Lộc, tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu vội vã từ chức, bỏ chạy ra nước ngoài, bỏ mặc cho Trần Văn Hương chịu trận. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu Thiệu bỏ chạy ra nước ngoài, Nguyễn Văn Toàn (Tư lệnh Vùng 3 chiến thuật của nguỵ) đã đề nghị Mỹ sử dụng bom B-52 rải thảm lần cuối xuống Xuân Lộc. Nhưng bị Cao Văn Viên từ chối, thay vào đó là gợi ý sử dụng một loại vũ khí khác với sức hủy diệt tương tự. Vì vậy địch đã dùng một máy bay C130 thả 2 quả "bom cháy" CBU-55 xuống khu vực Bảo Vinh A-B. Đây là loại vũ khí tàn bạo nhất trong kho vũ khí của Mỹ bị quốc tế cấm sử dụng. Chúng nghi khu vực này là sở chỉ huy của Sư đoàn 341. Trong 2 quả bom đó, 01 quả phát nổ, 01 quả bị tịt, (hiện đang trưng bày tại bảo tàng chiến tích chiến tranh 14 Võ Văn Tần). Bom CBU đã đốt ôxy trong một vùng khá rộng lớn gây thương vong khá lớn cho sư đoàn 341. Sau khi địch ném bom CBU, ta đã phản ứng ngay và hiệu quả. Trong vòng vài giờ sau vụ ném bom CBU, pháo 130mm của QĐ4 bắn phá dữ dội và cường độ mạnh sân bay Biên Hòa, bắn đến mức độ các đường băng bị hư hỏng địch gần như không thể sử dụng được nữa. Các máy bay phản lực F-5A được rút nhanh về Sài Gòn, còn các máy bay ném bom nhẹ A-37 rút về Cần Thơ.
Bốn giờ sáng, tại ấp Suối Cá, gần ranh giới Long Khánh - Phước Tuy, Tiểu đoàn 3 Dù bị quân ta phục kích gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Cánh quân đi đầu của Tiểu đoàn 9 Dù cũng bị ta đánh cho tan tác tại thung lũng Gia Rai, dưới chân núi Cam Tiên. Những tuyến phòng thủ cuối cùng của địch tại Xuân Lộc tan rã. Các lực lượng còn lại rút chạy về Trảng Bom, Biên Hòa và Sài Gòn lập phòng tuyến mới.
Phòng tuyến "cánh cửa thép" Xuân Lộc của địch tan vỡ, đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở xung quanh Sài Gòn, làm suy sụp thêm tinh thần binh lính địch.
(Còn nữa)