EM đổi chủ đề đi ngược về quá khứ một chút nhé
Lịch sử ngành hàng không và hàng không vũ trụ
[/b]
I. Con người và những ước mơ bay:Từ ngàn xưa khi ngắm nhìn những con chim bay lượn trên bầu trời con người đã mang trong mình ước mơ được bay trên bầu trời . Và hẳn chắc cũng không ít lần các nhà thiên văn cổ đại cũng luôn mơ ước được bay đến những vì sao để thỏa ước mơ về bầu trời. Và khả năng bay lượn được thể hiên bởi sự cao thượng và uy quyền . Hình ảnh về cái cánh đầu tiên trong thần thoại là đôi cánh bằng sáp và lông vũ của Daedalus và con trai icarus dùng để trốn khỏi đảo Crete. Nhưng icarus quá hứng chí chàng bay quá cao nên sức nóng mặt trời làm chảy sáp trên cánh, chàng rơi xuống biển Aege và chết đuối
II.Diều và tàu lượn:Diều là khí cụ bay đầu tiên tiền thân cho máy bay ngày nay đã được người trung hoa sử dụng từ hơn 2000 năm trước và theo thời gian được sử dụng đưa người lên cao và do thám tiếp tế, thong tin thời tiết v…v… Và hiều đã trở thành cảm hứng cho nhà phát minh người anh George Cayley trong thiết kế mô hình tàu lượn đầu tiên trên thế giới. Những nhà hàng không đầu tiên như Percy Pilcher (Anh), Otto Lilienthanl(Đức) dùng diều để triển khai các tàu lượn của họ. Otto Lilienthanl được coi như một nhà hang không thực sự đầu tiên trên thế giới. Ông bay lên bằng các tàu lượn tự tạo. Ông bay lên bằng các tàu lượn tự tạo, và thực hiện hơn 2500 chuyến bay trên nhiều tàu lượn. Năm 1896 khi bay trên một tàu lượn, một cơn gió đột ngột khiến cho tàu lượn mất điều khiển và đâm xuống đất làm cho ông thiệt mạng.[/FONT]
III.Khí cầu:Ngày 15-6-1783 hai anh em người Pháp Joseph và Etienne Montogofier chế tạo khí cầu bằng giấy và vải, hai ông thả nó bay bằng cách đốt nóng đóng lửa để làm nóng không khí bên trong. Sau đó họ trình bày cho vua và hoàng hậu nước pháp xem. Lần này khí cầu mang theo ba con vật : Cừu, vịt và gà trống sau chuyến bay ngắn họ hạ xuống đất an toàn. Chuyến bay này là niền tin để ngày 21-11-1783, Francois de Rozier và hầu tước d’Arlandes đã dũng cảm bước lên khí cầu của anh em nhà Montgolfier, và họ đã trở thành nhà du hành đường không đầu tiên trên thế giới. Và chẳng bao lâu sau khí cầu dùng khí nóng và nạp khí trở nên phổ biến.
Những sự kiện đáng chú ý về khí cầu:Năm 1853 kỹ sư người Pháp Henri Giffard chế tạo máy bay khí cầu đầu tiên có hình điếu xì gà. Khí cầu của ông bay được 27km. Nhưng không đủ công suất để bay ngược gió. Năm 1900, bá tước Ferdinand von zeppelin người Đức chế tạo máy bay khí cầu có khung cứng đầu tiên chúng bao gồm một bộ khung nhẹ và mang các túi lớn chứa đầy hidro. Trong những năm 1910 và 1913 khí cầu Zeppelin chở hơn 30.000 hành khác trên các chuyến bay vòng quanh nước Đức.
Hai chiếc Graf Zeppelin và Hindenburg dành cho giới thượng lưu là hai khí cầu lớn nhất chở hang vạn hành khách vượt đại tây dương
Một số khí cầu tiêu biểu-USS Macon: chế tạo năm 1933 được Hải quân Mỹ sử dụng như máy bay tuần dương
-Graf Zeppelin bay lần đầu tiên vào năm 1928 có sức chở 20 người
-R34 chế tạo năm 1919 là khí cầu đầu tiên vượt Đại Tây Dương
-Ngày 3/5/1937 khí cầu Hindenburg khởi hành từ Frankfurt (Đức) và đến Lakehurst (Mỹ) vào ngày 6/5 trong lúc tiếp cận tháp buộc neo đãng bốc cháy khiến 35 trong số 97 người đi trên khí cầu thiệt mạng. Vụ tai nạn này đã làm kết thúc đột ngột thời đại của việc chở khách bằng khí cầu.
IV. Máy bayNhững ý tưởng ban đầu:Có rất nhiều ý tưởng cho nghững chiếc máy bay nhưng đa số đều không thể thành công tuy nhiên những thiết kế ấy đã đóng góp rất nhiều cho các nhà hàng không sau này tiếp bước. Sự ra đời động cơ hơi nước vào thế kỉ 19 đã đưa tới những dự định nghiêm túc về việc chế tạo máy bay.
Các Mốc thời gian-Năm 1842 William Henson chế tạo một mô hình máy bay có gắn một động cơ hơi nước nhỏ làm quay cánh quạt. Tuy chỉ là mô hình nhưng nhiều nét trong thiết kế của ông vẫn còn được sử dụng trong thiết kế máy bay hiện nay.
-Năm 1894 Hiram Maxim chế tạo một máy bay 3 tầng cánh và trang bị hai động cơ hơi nước nhưng cỗ máy này chỉ nâng những người đứng trên nó khỏi đường ray
-Bằng cứ chắc chắn đầu tiên về máy bay xuất phát từ ghi chép của nhà danh hoạ kiêm nhà toán học nổi tiếng Leonardo de Vinci. Thời gian từ 1486 .. 1490 ông đã mô tả các phương tiện bay bằng sức người, với bản hơn 35000 từ và 500 bản vẽ kèm theo. Hầu hết, đó là các bộ cánh đập mô phỏng các bộ cánh bay của chim- điều mà cho tới nay vẫn chưa thực hiện được.
-Năm 1783, khí cầu bơm bằng khí nóng đầu tiên ra đời. Mặc dù không phải là máy bay song nó cũng cho phép con người lần đầu tiên bay lên không trung. Đột phá căn bản trong thiết kế máy bay diều ra đời vào năm 1799 với mẫu của Cayley. Từ đó, lực nâng và lực đẩy được tách biệt hoàn toàn. Lực đẩy do một cơ cấu động lực riêng. Năm 1804 xuất hiện may bay cánh cố định. Thực chất đó là một tàu lượn không người lái được phóng bằng tay được làm bằng gỗ hoặc giấy. Tàu lượn này dài một mét có một cánh nâng cố định, thân và đuôi,với các cánh đuôi thẳng đứng và nằm ngang như những máy bay ngày nay.
-Song phải đến năm 1891 mới ra đời tàu lượn có người lái đầu tiên trong lịch sử. Do Goliliwtal người Đức thiết kế và bay thử thành công . Rồi sau một loạt thử ngiệm với hầm gió, năm 1902 hai anh em nhà Wright người chế tạo và cho bay thử thành công một tàu lượn. Ngày 17-12-1903 họ đã thực hiện chuyến bay nặng hơn không khí có động lực và có người điều khiển. Đặc biệt họ đã sáng tạo ra hệ thống điều khiển với các dây cáp cần lái, bàn đạp thay cho các cánh điều khiển băng thay đổi tư thế trọng tâm người lái như với tàu lượn trước đây.
Mô hình máy bay của anh em nhà Wright-Những máy bay đầu tiên của anh em nhà Wright thuộc loại máy bay cánh kép cho phép tạo lực nâng lớn ở vận tốc thấp. Nhưng phải dùng một hệ thống cọc chống và dây chằng để cố định hai cánh ,mặt khác do dùng cánh lớn ,nên các loại máy bay này chịu lực cản lớn vì vậy loại máy bay này bay rất chậm. Nhưng so với khí cầu loại máy bay này tỏ ra ưu việt hơn, vì khí cầu máy quá cồng kềnh, chậm chạp. Nhất là dùng khí cầu trong trinh sát, liên lạc, ném bom thì rất bất lợi.
-Sau đó máy bay được cải tiến dần. Ở cuối chiến trang thế giới I máy bay đã được thiết kế một cách hợp lý hơn và từ đó máy bay đã được sử dụng trong các trận đánh lớn.
Những thành tựu:-Năm 1909 Louis Bleriot bay vượt biển Manche chứng tỏ vùng nước mênh mông không còn là cách trở nữa.
Chiếc máy bay đã cùng Louis Bleriot bay vượt biển Manche
-Theo thời gian công nghệ tiến bộ những khoảng cách về địa lý càng được rút ngắn thời lượng bay. Năm 1947 Chuck Yeager vượt hàng rào âm thanh trên máy bay động cơ tên lửa Bell X-1.
Hình ảnh chiếc máy bay vượt bức tường âm thanh của Chuck Yeager, Bell X-1
V. Công nghệ vũ trụ-Năm 1903 Konstantin Tsiolkovsky đưa ra cách sử dụng tên lửa đốt bằng nhiên liệu lỏng để du hành không gian. Năm 1926 Robert Goddard phóng thành công tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên. Và năm 1942 tên lửa V-2 của Đức đã phóng thành công đạt độ cao 85km mở ra kỷ nguyên mới về công nghệ không gian.
Giấc mơ bay vào vũ trụ-Vào năm 1883, lần đầu tiên, một giáo viên người Nga tên là Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky (1857-1935) đã nghiêm túc bàn về bay vào vũ trụ.
Năm thập kỷ sau đó, ông đã công bố hàng loạt nghiên cứu chi tiết về các nguyên lý khoa học cơ bản. Rồi những năm tiếp theo, các bài viết của Tsiolkovsky đã trở thành niềm cảm hứng cho một thế hệ kỹ sư Nga nghị lực và tài năng đến không ngờ. Họ bắt đầu một nhiệm vụ vô cùng khó khăn là nghiên cứu triển khai những kỹ thuật cần thiết để biến giấc mơ bay vào vũ trụ trở thành sự thật.
Vệ tinh Sputnik 1, Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người rất thô sơ, có hình dáng như một quả bóng rổ bằng kim loại với 4 cần ăn-ten
-Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người rất thô sơ, có hình dáng như một quả bóng rổ bằng kim loại với 4 cần ăng-ten.
-Sau cuộc chiến tranh Thế giới II, với công nghệ sẵn có của tên lửa German V-2, không chỉ các nhà khoa học và kỹ sư Nga mà người Mỹ và châu Âu sớm nhận ra rằng bước đầu tiên để đi vào không gian - một vệ tinh bay theo quỹ đạo Trái đất - sớm đã đạt thành.
-8/1946, Sergei Pavlovich Korolev (1907-1966) trở thành Thiết kế trưởng cho OKB-1 (viết tắt tiếng Nga, có nghĩa là Văn phòng Thiết kế Đặc biệt số 1 - Special Design Bureau 1). OKB-1 là một phần của NII-88 (Viện Nghiên cứu Khoa học 88 - Scientific Research Institute 88).
-Dưới thời của Korolev, OKB-1 đã thành công trong việc sao chép V-2 thành tên lửa đặc biệt R-1. Không lâu sau đó, hiết kế của tên lửa được cách tân để mở rộng khả năng của tên lửa. Trong khi cấp trên của Korolev chỉ quan tâm các ứng dụng quân sự của công nghệ mới, Korolev và các đồng nghiệp thân cận của ông luôn luôn tâm niệm về giấc mơ bay vào không gian.
-Vào tháng 10/1951, một cấp phó của Korolev, Mikhail Klavdievich Tikhonravov (1900-1974), đã trình bày một dự án khả thi về một vệ tinh quỹ đạo trái đất.
-Những nỗ lực để phóng một vệ tinh vẫn còn xếp sau nhu cầu phát triển các loại vũ khí mới mãi đến năm 1954 khi những kế hoạch cho Năm Địa Vật lý Thế giới (International Geophysical Year - IGY) bắt đầu.
IGY hướng tới sự hợp tác chưa từng có tiền lệ giữa các nhà khoa học quốc tế để thu thập các dữ liệu về tầng cao khí quyển trái đất và các phản ứng của nó với các chu kỳ mặt trời tiếp theo giữa 7/1957 và 12/1958.
-Được khích lệ, Korolev đã viết một bài báo trên tạp chí khoa học vệ tinh "Earth Satellites" vào năm 1954. Ngày 9/1/1955, một nhóm khoa học Nga đã tới gặp ông và ủng hộ kế hoạch vệ tinh của ông.
-Vào ngày 19/7/1955, người Mỹ tuyên bố họ cũng sẽ phóng một vệ tinh như một hợp phần của sự đóng góp của Mỹ trong IGY. Ba ngày sau đó, người Nga cũng đã ra một tuyên bố tương tự. Và dường như cả hai hoàn toàn phớt lờ các nước phương Tây.
Và cũng sau lời tuyên bố đó, ngay tích tắc, Korolev chính thức đệ trình kế hoạch về vệ tinh của mình cho các nhà lãnh đạo Nga vào ngày 29/8/1955.
Sputnik: Gọi tên giấc mơ-Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người, Sputnik đã được người Nga phóng lên quỹ đạo trái đất vào ngày 4/10/1957. Sputnik là một quả cầu kim loại có kích thước 58cm, và nặng khoảng 83,6kg. Mặc dù đó là một thành tựu đáng ghi nhớ, nhưng Sputnik dường như rất nghèo nàn so với các tiêu chuẩn ngày nay. Bao gồm một nhiệt kế, pin, máy phát tín hiệu radio, bình đựng khí ga nitơ để điều áp bên trong vệ tinh. Bên ngoài của Sputnik được trang bị 4 cần ăn-ten để truyền tín hiệu với tần sóng ngắn - 27MHz
Korolev giao cho nhóm của Tikhonravov thiết kế một loại vệ tinh hạng nặng mang tên " Object D".
-Object D, nặng khoảng 1 - 1,4 tấn và có thể mang được từ 200 - 300kg các thiết bị đo đạc phục vụ cho ngành địa vật lý. Object D sẽ được phóng vào quỹ đạo bằng một loại tên lửa đặc biệt R-7. 7 tên lửa loại này đã được thiết kế nhằm phục vụ cho việc phóng vệ tinh của Korolev.
Thế nhưng suốt một thời gian sau đó, việc thử tên lửa đẩy R-7 thất bại. Điều đó trở thành tồi tệ với Korolev. Với hàng loạt thất bại của R-7, sự ủng hộ của chính phủ đối với ông bắt đầu chao đảo.
Thời điểm đó, thậm chí ông cũng mất đi một người ủng hộ trung thành nhất từ một thành viên chính phủ cao cấp, Thủ tướng Nikita Krushchev. Dưới sức ép của Kremlin, Krushchev yêu cầu đóng cửa OKB-1.
Korolev đã bướng bỉnh chống lại mệnh lệnh và tiếp tục công việc nghiên cứu R-7. May mắn thay, vào ngày 21/8/1957, vận mệnh của Korolev đã thay đổi khi tên lửa đẩy R-7 số hiệu M1-8 đã thành công.
Tên lửa đã gửi một đầu tên lửa giả tới mục tiêu trên bán đảo Kamchatka, cách trung tâm thử tên lửa "Tashkent 50" - Kazakhstan 6.500 km. Trong khi đầu tên lửa giả này tách ra khỏi tên lửa ở độ cao cách mặt nước biển 10km, R-7 đã được chứng minh và OKB-1 tiếp tục hoạt động.
-Đầu tháng 9/1957, Krushchev phê chuẩn việc phóng vệ tinh, một phần của vì lý do chính trị riêng. Do đó, Korolev phải trình bày kế hoạch phóng vệ tinh càng sớm càng tốt.
-Vào ngày 18/9, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tsiolkovsky, Đài phát thanh Mátxcơva thông báo một cuộc phóng vệ tinh sẽ sớm diễn ra.
Suốt ngày 4/10, rất nhiều nỗ lực đã được thực hiện để phóng tên lửa R-7, nhưng trì hoãn liên tiếp xảy ra vì hàng loạt lỗi kỹ thuật do thiết bị vận hành không đều.
Khi đêm xuống, Korolev đã quyết định thử lại một lần nữa. Khi bản thân ông đếm ngược đến những giây cuối cùng của lệnh phóng, từ cái bệ phóng tên lửa có kích thước 100m, một tiếng rít ngắn ngủi vang lên trên tấm bê tông sau đó kéo theo là một loạt dài như tiếng kèn trumpet.
Cuối cùng, vào lúc 10:28:04 tối, giờ Mátxcơva, 20 động cơ bốc cháy đẩy mạnh tên lửa R-7, mang theo vệ tinh Sputnik bắt đầu phóng vào không gian và nhanh chóng biến mất trong màn đêm tối tăm theo hướng đông bắc.
Một giờ rưỡi sau đó, Sputnik bắt đầu truyền những tín hiệu radio về mặt đất, vang dội qua khắp các loa của trạm phóng tên lửa.
Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc phóng vệ tinh đã thành công. Sputnik nặng 83,6kg đã nằm đúng vào quỹ đạo ở mặt phẳng nghiêng 65,1độ, bay quanh xích đạo hết một khoảng thời gian là 96,17 phút.
Korolev cho rằng cuộc chinh phục không gian đã bắt đầu. Ngày 4/10, họ cùng chứng kiến một giấc mơ được nhiều thiên tài ấp ủ biến thành sự thật.
Nhà khoa học nổi tiếng của Nga Tsiolkovsky đã tiên đoán con người không chỉ dừng lại ở trái đất. Sputnik là lời khẳng định đầu tiên đáng tự hào.
Tuy nhiên một phần thế giới lo ngại rằng, Nga có khả năng phóng vệ tinh thì cũng sẽ có thể phóng các tên lửa đạn đạo mang vũ khí hạt nhân đi từ châu Âu sang Mỹ.
Sau đó, một lần nữa, Nga lại làm thế giới giật mình khi phóng vệ tinh Sputnik II vào ngày 3/11/1957. Lần này, vệ tinh mang sức tải nặng hơn và cả một chú chó tên Laika.
Vệ tinh Sputnik 2
Các cuộc phóng vệ tinh Sputnik thành công của Nga đã trở thành nguyên nhân trực tiếp cho việc thành lập Cơ quan Quản lý Hàng không và Không gian Mỹ (National Aeronautics and Space Administration - NASA).
Tháng 7/1958, Quốc hội Mỹ đã thông qua kế hoạch Hành động Không gian và Vũ trũ Quốc gia (National Aeronautics and Space Act - thường gọi là "Space Act"). NASA thành lập vào 1/10/1958
Còn tiếp….
En_bac: tổng hợp và biên soạn