Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:18:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô  (Đọc 20026 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
en_bac
Thành viên
*
Bài viết: 17


« vào lúc: 26 Tháng Chín, 2011, 10:58:22 pm »

Thấy các bác tập trung về vũ khí nhiều quá em mạo muội làm cái topic này nói chút về quá trình phát triển và các thành tựu của Liên Xô trong việc tiến vào khoảng không vũ trụ. Xin mở đầu bằng loạt bài về chương trình khám phá mặt trăng Luna. Mong các bác bổ sung thêm!

Luna 1!

Vào những năm 60 của thế kỷ XX chúng ta đã chứng kiến những bước nhảy thần kỳ trong công cuộc khám phá khoảng không vũ trụ của con người. Chỉ trong những khoảng thời gian rất ngắn từ việc phóng thành công vệ tinh đầu tiên của loài người (Спутник-1)  vào ngày 4/10/1957 và chỉ 1 tháng ngắn ngủi sau đó là sinh vật đầu tiên bay vào vũ trụ (Лайка) vào ngày 3/11/1957. Và để biết thêm về những dự án khám phá không gian vào giai đoạn này chúng ta hãy cùng đến với dự án Luna (Луна).

Luna là một trong hai dự án của Liên Xô nhằm nghiên cứu Mặt Trăng và còn nhiều nhiệm vụ khác. Đây là một chương trình rất lâu dài bắt đầu từ năm 1958 cho tới năm 1976. Tất cả đều được thực hiện tại sân bay vũ trụ  Baikonur ( Байконур), với tổng cộng 33 lần phóng (25 lần thành công và 8 lần thất bại).

Sau thành công của tên lửa đẩy R7 đã thúc đẩy Liên Xô có một bước tiến mới hơn trong con đường chinh phục không gian của mình. Vào ngày 23/09/1958 với tên lửa đẩy  R7-8k72 ( thêm một tầng thứ 3 so với tên lửa R7) và luna 1A được phóng với nhiệm vụ tiếp cận bề mặt của Mặt Trăng, tuy nhiên phi vụ này đã thất bại bởi tên lửa phát nổ ngay khi phóng. Phi vụ phóng ngày 11/10/1958 và 4/12/1958 với luna 1B và luna 1C cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên điều này đã không làm nản lòng các kỹ sư Liên Xô mà chỉ làm cho họ có quyết tâm hoàn thiện hơn nữa những cải tiến của mình.


[COLOR="Red"]Luna 1 và tên lửa đẩy R7 8k72 tại sân bay vũ trụ Baikonur ngày 2/1/1959[/COLOR]

Ngày  2/1/1959 đã đánh dấu bước thành công của họ sau bao ngày chờ đợi Luna 1 đã được phóng thành công.

[COLOR="Red"]Luna 1. Khối lượng 361kg[/COLOR]

Luna 1 được thiết kế với dạng hình cầu với 5 anten thò ra ở một nửa hình cầu và nửa dưới là các cơ cấu để đáp.  Luna 1 được phóng đi bởi tên lửa đẩy R7 và để đạt được vận tốc vũ trụ cấp 2 tên lửa R7 đã được tăng cường thêm một tầng nữa với động cơ RD0105 . Với thiết kế như trên Luna 1 đã được thiết kế để đổ bộ lên mặt trăng tuy nhiên bởi đây là thời kỳ đầu các tàu luna không có động cơ mà sử dụng động cơ là tầng thứ 3 của tên lửa đẩy, và việc điều kiển động cơ này được thự hiện bởi mặt đất. Cho nên bởi việc trễ tín hiệu truyền nên việc tắt động cơ đã chậm vì vậy thay vì đổ bộ xuống mặt trăng thì luna 1 lại bay lướt qua nó ở khoảng cách 5.995km.


[COLOR="Red"]Cấu tạo của Luna 1
1: Magnetometer                                     5:Ventilator Fan
2:183.6 MHz Antenna                               6:Spacecraft Shell
3:Micrometeorite Counter                          7:Ion Traps
4:Batteries & Electronics                           8:Ribbon Antenna for 19.993 MHz
[/COLOR]

Tuy Luna 1 không thực hiện được nhiệm vụ thiết kế ban đầu  nhưng nó cũng đã thu được một số thành tựu đáng kể:
Ngày 2/1/1959 khi đạt  vận tốc thoát thì luna và tầng thứ 3 của tên lửa đẩy tách ra và bắt đầu hành trình độc lập. Hệ thống nặng 650kg và khi nạp đầy nhiên liệu là 1427kg. Ngày 3/1/1959 khi cách trái đất 113.000 km hệ thống này đã phun ra một khối khí lớn và tạo thành một vệt sáng màu da cam vậy nên luna 1 được coi là sao chổi nhân tạo đầu tiên của loài người. Dải mây này có độ sáng bằng một ngôi sao cấp 6 và có thể thấy được tại trái đất


[COLOR="Red"]Luna 1 và tầng 3 của tên lửa đẩy[/COLOR]

Với các thiết bị mang theo luna 1 đã lần đầu tiên thực hiên các phép đo bên ngoài vành đai bức xạ của trái đất
Bằng cách sử dụng bẫy ion và đếm tự động các hạt bức xạ này Luna 1 đã lần đầu tiên thực hiện đo trực tiếp gió mặt trời
Luna 1 phát hiện ra rằng Mặt trăng không có từ trường và vành đai bức xạ đây là 1 phát hiện quan trọng trong việc thiết kế tính toán để cho phép con người đổ bộ lên Mặt Trăng sau này.

Luna 1 cũng là vật thể nhân tạo đầu tiên đạt vận tốc vũ trụ cấp  2. Ngày 4/1/1959 sau 34 giờ bay Luna 1 đã đi vào quỹ đạo và quay xung quanh mặt trời ở khoảng giữa Trái Đất và Hỏa Tinh và trở thành vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Mặt Trời.

(Còn tiếp)

En_bac tổng hợp và biên soạn

Tài liệu tham khảo: http://stp.cosmos.ru/index.php
                          http://www.lpi.usra.edu/expmoon/luna/luna.html
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Chín, 2011, 07:44:51 am gửi bởi Triumf » Logged
en_bac
Thành viên
*
Bài viết: 17


« Trả lời #1 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2011, 10:40:51 am »

Chúng ta lại tiếp tục với Luna 2 nhé


Với việc phóng thành công Luna 1 khẳng định tên lửa đẩy R7-8K72 hoàn toàn có khả năng mang khoang tàu Luna đổ bộ lên mặt trăng đã khích lệ các nhà khoa học Liên Xô tiếp tục công việc của mình. Tuy Luna 1 đã phóng thành công, tuy nhiên nếu đánh giá đúng thì so với nhiệm vụ ban đầu Luna 1 đã thất bại với mục tiêu đổ bộ lên Mặt Trăng của mình. Thất bại trong việc đổ bộ của Luna 1 là bởi sự trễ tín hiệu điều kiển từ trái đất. Sau thời gian làm việc và khắc phục lỗi trễ tín hiệu nói trên Liên Xô lại tiếp tục phóng Luna 2. Về cơ bản thì tàu Luna 2 là bản sao hoàn toàn của Luna 1 về hình dáng cũng như một số thiết bị để thực hiện các phép đo đặc. Luna 1 sử dụng các bẫy Ion để đo gió mặt trời đạng 2 mặt thì trên Luna 2 sử dụng 4 mặt dạng tứ diện để tăng cường khả năng đo đạc này.

[COLOR="Red"]Luna 2[/COLOR]
Và vào 6h39’ ngày 12/9/1959 tại sân bay vũ trụ Baikonur, Luna 2 đã được phóng lên mang theo niềm tự hào và niềm tin của toàn thể nhân dân Xô Viết vào nền khoa học của mình. Khi đạt được vận tốc thoát Luna 2 và tầng 3 của tên lửa đẩy đã tách ra ( cho tới lúc này thì các tàu Luna vẫn chưa có động cơ riêng. Hic hi sinh tàu luôn 1 đi không trở lại ^^) và tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ngày 13/9 Luna 2 phóng ra một khối khí nhằm hỗ trợ cho việc theo dõi hành trình của tàu, đồng thời cũng là 1 cuộc thử nghiệm về hoạt động của khí trong không gian. Khi đi vào quỹ đạo của mặt Trăng luna 2 và tầng 3 của tên lửa tách ra cả 2 cùng tiến vào Mặt Trăng.

[COLOR="Red"]Tên lửa đẩy R7-8k72[/COLOR]
Vào lúc 0h02’24” ngày 14/9 sau 33,5 giờ bay các tín hiệu vô tuyến từ Luna 2 bị ngắt chứng tỏ Luna 2 đã tiếp cận thành công mặt Trăng, trong sự vui mừng của tất cả mọi người. Luna2 đã hoàn thành nhiệm vụ mà “ người tiền nhiệm” của nó “ Luna 1” đã thất bại.
Luna 2 đã tiếp cận mặt trăng ở khu vực Palus Putredinis, khoảng kinh độ 0 và 29,1 vĩ độ bắc phía đông của Mare Serenitatis gần các miệng hố Aristides, Archimedes, Autolycus.

[COLOR="Red"]Vị trí đổ bộ của Luna 2[/COLOR]
Khoảng 30 phút sau thì tầng 3 của tên lửa cũng đổ bộ lên Mặt Trăng và mang theo quốc huy của Liên bang Xô Viết . Nó là 1 tấm hợp kim không rỉ khắc quốc huy của Liên Xô.  Mang dòng chữ CCCP (  СОЮЗ СОВЕТСКИХ СОЦИАЛИСТИЧЕСКИХ РЕСПУБЛИК) CEТЯБРЬ 1959 ( tháng 9 năm 1959)

Luna 2 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, trở thành vật thể nhân tạo đầu tiên đổ bộ thành công lên Mặt Trăng
Khẳng định một lần nữa các phép đo của Luna 1 về gió mặt trời, mặt trăng không có từ trường và vành đai bức xạ…
Mang Quốc Huy của Liên Xô lên Mặt Trăng và 1 lần nữa khẳng định Liên Xô luôn đi đầu trong công cuộc khám phá vũ trụ ( hí cái này tự sướng)
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Chín, 2011, 10:59:13 am gửi bởi en_bac » Logged
en_bac
Thành viên
*
Bài viết: 17


« Trả lời #2 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2011, 05:03:40 pm »

Luna 3! Tàu vũ trụ đầu tiên chụp ảnh phần che khuất của Mặt Trăng


Trăng là người bạn là nguồn cảm hứng của bao đời từ ngàn xưa. Vẻ đẹp của Trăng làm xiêu lòng bao thi nhân mặc khách. Nhưng Trăng vẫn mãi là điều bí ẩn. Bởi đặc điểm của nó ( thời gian tự quay quanh trục bằng thời gian quay quanh trái đất) thế nên Trăng chỉ cho chúng ta biết một mặt của nó, và mặt bên kia của mặt trăng vẫn là một dấu hỏi. Với những thành công của mình nhiệm vụ đặt ra cho các nhà khoa học Liên Xô lúc này là phải làm thế nào để chụp được ảnh phía bên kia của Mặt Trăng. Để thực hiện được việc này cần cải tiến phương pháp dẫn cho tàu vũ trụ. Làm sao để đưa tàu vào chính xác quỹ đạo và vị trí thuận lợi? Làm cách nào để khi chụp được ảnh thì có thể truyền tín hiệu hình ảnh trên về trái đất?
[COLOR="Red"]
Luna 3
[/COLOR]

Nhiệm vụ thiết kế một hệ thống điều khiển vệ tinh trong không gian và đặc biệt là một hệ thống định hướng mới được giao cho nhóm nhiên cứu dưới sự lãnh đạo của viện sỹ Бориса Викторовича Раушенбаха ( Boris Viktorovich Rauschenbusch). Ông cũng chính là người đã đưa ra hệ thống định hướng Фототелеметрической (phototelemettricheskoy) ( định hướng tương đối với việc so sánh vị trí của mặt trời và mặt trăng).

[COLOR="red"]Cấu tạo bên ngoài của Luna 3[/COLOR]
Tàu Luna 3 là một kết cấu hình trụ với 1 đầu hình bán nguyệt và 1 mặt bích rộng ở gần đỉnh. Toàn bộ tàu dài 130cm với đường kính mặt bích là 120cm và đường kính của phần trụ là 95cm. Toàn bộ tàu là 1 khoang kín với áp suất bên trong là 0.23 atm. Các tế bào năng lượng mặt trời ( Solar cell) được gắn xung quanh tàu nhằm cung cấp năng lượng cho việc hoạt động các hệ thống điện tử trong tàu. Đồng thời có những cửa bố trí dọc theo tàu sẽ mở ra để các tấm bức xạ nhiệt tỏa nhiệt khi nhiệt độ bên trong tàu vượt quá 25 độ C. Đồng thời bên ngoài cũng có các thiết bị thăm dò (cảm biến) điều khiển vệc kích hoạt các máy ảnh. Có 4 anten  ở bên ngoài tàu và 2 anten ngầm phía trong. Một số thiết bị nhằm đo đạc các tia vũ trụ… được đặt bên ngoài. Bên dưới tàu còn có 1 hệ thống phun khí (máy phản lực nhỏ) thiết bị này được điều khiển bởi các tế bào quang điện ( photoelectric cell ) dựa vào vị trí của Mặt Trời và mặt trăng nhằm hiệu chuẩn lại hướng cho tàu. Bên trong Luna 3 chứa các thiết bị điện tử như hệ thống phát sóng, máy ảnh, thiết bị xử lý phim, kiểm soát nhiệt độ… Tàu Luna 3 không có động cơ để hiệu chỉnh đường bay cho riêng nó việc vào quỹ đạo của mặt trăng được điều khiển hoàn toàn bằng sóng radio (RC) từ trái đất
Hệ thống chụp ảnh và xử lý phim của luna 3 bao gồm 1 hệ  máy ảnh với 2 lens,1 máy xử lý phim tự động và 1 máy scanner. 2 ống kính máy ảnh gồm 1 lens 200mm f/5.6 và 1 lens 500mm f/9.5. Với lens 200mm nó có thể chụp khá đầy đủ bề mặt của mặt trăng và 500mm chụp 1 phần mặt trăng. 1 tế bào quang được sử dụng để phát hiện ra bề mặt mặt trăng và lúc này máy ảnh bắt đầu làm việc. Phim được máy xử lý phim xử  lý khô sau đó đưa qua máy quét để chuyển thành dạng tín hiệu điện và truyền về trái đất. Thiết bị truyền hình ảnh này được phát triển bởi viện truyền hình của Học Viện Leningrad và được đặt tên là “ Енисей” ( Enhisei)

[COLOR="red"]Quá trình chụp ảnh của Luna 3[/COLOR]
Tất nhiên chất lượng những tấm ảnh này rất tệ, các tín hiệu truyền về trái đất được đưa vào màn hình “Skiatron” ghi vào băng từ và xuất ra các giấy nhiệt. Các băng từ thì không thể sao chép lại. Chất lượng hình ảnh trên giấy nhiệt và Skiatron chỉ là các vùng đậm nhạt khác nhau. Tín hiệu truyền về tạp nhiễu rất lớn nên việc xử lý khó khăn. Sự khử các tín hiệu tạp nhiễu đã được tính tới tuy nhiên việc thực hiện lại không thành công. Tuy nhiên cùng với việc xử lý của máy tính một bản đồ dự kiến của bề mặt bên kia của Mặt Trăng đã được tạo ra. Tấm bản đồ đầu tiên này cho thấy một địa hình núi non khác xa so với mặt nhìn thấy từ trái đất của Mặt Trăng và chỉ có 2 vùng được đặt tên đó là Mare Moscovare và Mare Desiderii.

[COLOR="Red"]Tấm ảnh về bề mặt Mặt Trăng được Luna 3 gửi
Vào ngày 4/10/1959 tàu Luna 3 đã được tên lửa đẩy R7-8K72 phóng vào vũ trụ tại sân bay vũ trụ Baikonur. Khi bay trên bắc cực của trái đất  thì block E được tách bỏ bởi lệnh điều khiển ở mặt đất, khi mà vận tốc đã đạt để đưa Luna 3 đến mặt trăng. Việc liên lạc ban đầu giữa mặt đất và tàu thì cường độ tín hiệu nhận được từ tàu chỉ đạt một nửa so với tính toán ban đầu. Nhiệt độ trong tàu tăng cao tới khoảng 40 độ C khiến các tấm tản nhiệt phải làm việc và đưa tàu về còn khoảng 30 độ C. Khi cách mặt trăng khoảng từ 60.000km đến 70.000km hệ thống định hướng của tàu được bật lên để dừng việc tự quay của tàu ( việc sử dụng hệ thống định hướng mặt trời tàu xoay liên tục khi chưa định hướng được)
Tàu  Luna tiếp cận mặt trăng ở gần cực Nam của nó với khoảng cách gần nhất với mặt trăng là 6200km vào ngày 06/10/1959 lúc 14h16’ UT. Ngày 07/20/1959 ccacs tế bào quang đã phát hiện ra bề mặt phần khuất cảu Mặt trăng và hệ thống máy ảnh bắt đầu hoạt động. Việc chụp ảnh bắt đầu khoảng 03h30’ UT tại khoảng cách 63.500km và kéo dài khoảng 40 phút lúc này tàu ở khoảng cách 66.700km. Có tất cả khoảng 29 tấm ảnh được chụp với khoảng 70% mặt khuất của mặt trăng. Ngày 8/10/1959 Luna 3 truyền những hình ảnh trên về trái đất tuy nhiên việc truyền này không thành công. Đến 18/10/1959 Luna 3 truyền thành công hình ảnh về trái đất ( chỉ ruyền được khoảng 17 tấm). Và lần đầu tiên con người đã được diện kiến phí khuất trên khuôn mặt của nữ thần mặt trăng “ Luna” .
Ngày 22/10/1959 Luna 3 mất liên lạc với trái đất và được cho rằng đã bị đốt cháy trong khí quyển của trái đất vào khoảng tháng 3 – tháng 4 năm 1960. Tuy nhiên có thể Luna 3 vẫn còn đâu đó trong quỹ đạo và tồn tại cho tới sau năm 1962
Logged
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #3 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2011, 09:53:51 am »

Cảm ơn những bài viết rất hữu ích của đ/c en_bac. Tuy nhiên, đ/c lưu ý cách trình bày một chút: hết đoạn xuống dòng nên cách dòng trông nó mới "đẹp", sử dụng "bôi đậm", "màu chữ" cho phù hợp hơn. Chúc đ/c có thêm nhiều bài viết hay.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
en_bac
Thành viên
*
Bài viết: 17


« Trả lời #4 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2011, 03:26:02 pm »

Vâng cám ơn bác chẳng hiểu sao màu chữ em chỉnh toàn bị lỗi haizz

Chúng ta lại tiếp tục nhé



Luna 2 đã thực hiện thành công việc hạ cánh trên Mặt Trăng tuy nhiên đây chỉ là một cuộc hạ cánh cứng. Khi tiếp đất con tàu bị phá hủy hoàn toàn không thể thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu bề mặt Mặt Trăng.
Vì thế các nhà khoa học Xô Viết bắt tay vào việc thiết kế một thế hệ tàu thăm dò mới nhằm thực hiện các nhiệm vụ chụp ảnh, nghiên cứu và đặc biệt là thực hiện một cuộc đổ bộ “mềm” lên Mặt Trăng.

Luna 4 là con tàu đầu tiên có thiết kế thuộc lớp E-6 (ký hiệu thế hệ tàu). Các tàu thuộc lớp này, việc kích hoạt động cơ hãm được điều khiển từ Trái Đất dựa vào khoảng cách của tàu so với Mặt Trăng.
Luna 4 được phóng vào ngày 02/04/1964. Luna 4 đã thoát khỏi quỹ đạo Trái Đất thành công và bắt đầu tiến về Mặt Trăng. Tuy nhiên 1 sự cố đã xảy ra vào ngày 05/04 khi tàu còn cách Mặt Trăng khoảng 8000km. Có lẽ bởi thất bại nên thông tin về nhiệm vụ của Luna 4 rất ít, có lẽ nhiệm vụ chính của nó là chụp ảnh Mặt Trăng.

Sau thất bại của Luna 4. Đã có một số sửa đổi nhằm tránh lặp lại những lỗi không đáng có, tuy nhiên Luna 5 cũng gần giống hệt Luna 4 về thiết kế.
Luna 5 được phóng vào ngày 09/05/1965 và đã thành công trong việc chuyển hướng bay đến Mặt Trăng (sửa quỹ đạo). Tuy nhiên vào ngày 12/05/1965 Luna 5 đã hạ cánh không thành công bởi lý do động cơ hãm đã không được kích hoạt đúng thời điểm. Thay vì một cuộc đổ bộ mềm thì Luna 5 đã bị “ném” xuống Mặt Trăng ở khoảng vĩ độ 31 nam và kinh độ 8 tây.

Luna 6 được phóng vào ngày 08/06/1965, tuy nhiên cũng như Luna 4 việc điều chỉnh quỹ đạo của Luna 6 đã không được thực hiện.

Luna 7 được phóng vào ngày 4/10/1965 và cũng rất tiếc vào ngày 7/10/1965 động cơ hãm của Luna 7 đã làm việc quá trễ và vận tốc tiếp đất của Luna 7 quá lớn kiến Luna 7 cũng thất bại trong việc đổ bộ.

Luna 8 là thử nghiệm cuối cùng của thế hệ tàu kiểu này và Luna 8 đã sắp thành công trong việc tiếp đất nhưng đáng tiếc lỗi lại xảy ra vào giai đoạn cuối cùng. 1 xi lanh giảm chấn của Luna 8 đã bị hỏng khiến Luna 8 vẫn không thể đổ bộ mềm.

Tuy thất bại nhưng đây là quá trình nghiên cứu rút kinh nghiệm để đi tới thành công của Luna 9
Logged
huyphongssi
Thành viên
*
Bài viết: 1515



« Trả lời #5 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2011, 09:19:17 pm »

Oen căm tồng chí Én. Tồng chí cứ bình tĩnh viết bài nhá Grin
Logged

Nhằm thẳng quân thù, Bắn!
en_bac
Thành viên
*
Bài viết: 17


« Trả lời #6 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 04:49:32 pm »

Luna 9 - Tàu vũ trụ đầu tiên đổ bộ mềm lên Mặt Trăng


Trong chương trình thám hiểm Mặt Trăng (chương trình Luna), sau các thành công của Luna 2 -  vật thể đầu tiên va chạm lên bề mặt MT và Luna 3 – lần đầu tiên con người chụp được ảnh phần khuất của MT, Liên Xô muốn có những hình ảnh cận cảnh địa hình bề mặt MT để phục vụ cho những chuyến đổ bộ của tàu có người lái sắp tới, nên đã tiếp tục phóng các tàu Luna tới MT. Để bảo vệ các thiết bị bên trong khoang đổ bộ, tàu vũ trụ phải thực hiện một cuộc đổ bộ “mềm”.

Sau thành công của Luna 3 (04/10/1959), LX đã liên tiếp phóng các tàu Luna 4, Luna 5, Luna 6, Luna 7, Luna 8 với nỗ lực thực hiện một cuộc đổ bộ mềm, nhưng đều thất bại.
   
  Như ta đã biết, thành công của cuộc đổ bộ mềm phụ thuộc chính vào vai trò của tên lửa hãm (retro-rocket). Khi con tàu đang bay trên quỹ đạo mà muốn quay lại bầu khí quyển Trái Đất hoặc đi vào bề mặt MT, thì trước tiên các tên lửa điều chỉnh hướng sẽ hoạt động để xoay con tàu theo hướng ngược lại với chiều chuyển động, 1 tên lửa hãm sẽ kích hoạt làm giảm vận tốc của con tàu, khi đó con tàu mất lực ly tâm và lực hấp dẫn sẽ hút con tàu vào Trái Đất (hay Mặt Trăng), thời điểm kích hoạt tên lửa hãm phải chính xác đến từng giây, chỉ cần sai lệch một vài giây là khoang đổ bộ sẽ cách vị trí dự tính hàng ngàn km (như trường hợp của tàu Voskhod-2).
 
  Command module của tàu Soyuz (và tàu Apollo) khi đi vào bầu khí quyển TĐ, để giảm tốc độ rơi thì không dùng tên lửa hãm mà dùng dù, tuy nhiên điều này là không thể với việc đổ bộ lên MT vì không có khí quyển, chỉ có thể sử dụng tên lửa hãm, và cũng tương tự như khi quay lại bầu khí quyển, thời điểm kích hoạt tên lửa hãm để giảm tốc độ rơi cũng rất quan trọng, nếu chậm quá hoặc sớm quá thì sẽ không thể đổ bộ “mềm” mà lại thành một vụ va chạm “cứng”, khi đó khoang đổ bộ sẽ bị phá hủy. 
   
  Nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của các Luna 4 cho đến Luna 8 là do các tên lửa hãm ở thế hệ tàu Luna này được thiết kế để hoạt động theo tín hiệu điều khiển kích hoạt từ Trái Đất. Thời điểm kích hoạt sẽ được tính theo khoảng cách từ bề mặt MT tới khoang đổ bộ và khoảng cách này xác định nhờ thiết bị định vị độ cao gắn trên tàu Luna. Việc chọn thời điểm kích hoạt vô cùng khó khăn vì quá trình truyền tín hiệu từ Luna trên MT về TĐ rồi lại từ trạm điều khiển ở TĐ lên MT sẽ có sai số. Do đó, thiết kế Luna 9 được thay đổi là tàu sẽ tự động kích hoạt tên lửa hãm khi tới độ cao thích hợp - đây là một thành công xuất sắc trong chương trình Luna, thiết kế này được áp dụng cho các tàu thăm dò sau này của LX và cả NASA. 

Ngày phóng: 31-01-1966 (sân bay vũ trụ Baikonur)
    Tên lửa đẩy: Molniya 8K78M (Phiên bản R-7 với 4 tầng)
  Khối lượng: 1580 kg (84 kg thiết bị đổ bộ)
  Chiều dài: 2.5m
  Đường kính max: 1.0 m

Luna 9 là thành công đầu tiên trong chuỗi các phi vụ thám hiểm MT thuộc chương trình Luna cho nhiệm vụ cả trên quỹ đạo MT lẫn đổ bộ.
 
 Cấu tạo

 

   
Phần thân tàu của Luna 9 có cấu tạo gồm thiết bị thu phát sóng radio, đo thời gian chương trình, hệ thống dẫn đường, thiết bị kiểm soát nhiệt độ.
   
  Sau khi đi vào quỹ đạo thấp của TĐ (LEO: 167 x 219 km), tầng cuối của tên lửa R7 đã kích hoạt và đưa Luna 9 bay tới MT, sau chuyến du hành 2 ngày tới quỹ đạo MT, bộ thiết bị thu phát sóng radio từ Luna 9 đo khoảng cách tới bề mặt MT và chọn thời điểm kích hoạt tên lửa hãm một cách chính xác nhất. Các thiết bị phụ trợ đồng thời được tách bỏ ngay sau khi tên lửa hãm kích hoạt nhằm giảm khối lượng module đổ bộ.
   
    Module đổ bộ có dạng hình cầu được trang bị máy truyền hình và pin hóa học, được bao bọc bởi một túi bơm đầy khí, mục đích nhằm giảm rung động cho cú va chạm. Phần cuối của tên lửa hãm có 2 cần kim loại thò dài xuống, khi tiếp đất, 2 cần này va chạm đầu tiên làm module đổ bộ nảy lên, giảm tốc độ rơi thêm một lần nữa và vào 18h 44’ ngày 03/02/1966, Luna 9 đã đổ bộ thành công trên vùng biển Procellarum của MT.
 
  Cơ cấu lệch tâm khiến module đổ bộ xoay tròn và 4 cánh của module bật mở, các cánh này giữ cố định module. Các cần ăng ten truyền ảnh về TĐ sử dụng chính bề mặt trong của các cánh làm gương phản xạ. Luna 9 có một vài tấm pin Mặt Trời nhưng nguồn năng lượng chính là pin, được sạc lại chậm từ pin Mặt Trời.
   
Truyền ảnh
 
  Seri ảnh đầu tiên được Luna 9 truyền về TĐ vào 1h 50’ ngày 04/02/1966 trong khoảng thời gian 107’, sau khi ghép nối được ảnh toàn cảnh về vị trí đổ bộ. 

  Trong thời gian 3 ngày trên MT, Luna 9 đã truyền về TĐ tổng cộng 3 seri ảnh bề mặt MT. Nó đã liên lạc radio về với TĐ trong tổng thời gian 8h 5’ và truyền về 27 hình ảnh, đây là những hình ảnh cận cảnh đầu tiên về bề mặt MT mà con người có được, nguồn pin cạn kiệt và Luna 9 thực hiện liên lạc cuối cùng về TĐ vào 22h 55’ ngày 05/02/1966.
 
Video mô phỏng chuyến bay của Luna 9
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=8CRmqm4JjCo" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=8CRmqm4JjCo</a>
Cái này thì không phải En viết mà của thằng bạn viết cùng trong kế hoạch viết lại đầy đủ và chính xác nhất chương trình Luna!^^
Logged
en_bac
Thành viên
*
Bài viết: 17


« Trả lời #7 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2011, 05:01:47 pm »

Luna 10 ! Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Mặt Trăng

Thế giới vẫn chưa hết kinh ngạc trước thành công của Luna 9 thì chưa đầy 2 tháng sau các nhà khoa học thuộc ban kỹ thuật của nhà máy Lavochkin lại làm cho báo chí thế giới phải tốn không biết bao trang viết về Luna 10 một thành công vượt bậc nữa của Xô Viết. Thành công này một lần nữa chứng minh nền khoa học vũ trụ của Liên Bang Xô Viết là 1 bức tường thành cao vợi mà người Mỹ mãi không thể vươn tới.
Vào 13h46’59” GMT ngày 31/3/1966 Luna 10 đã được phóng vào vũ trụ với tên lửa đẩy R7/SS6 với nhiệm vụ đi vào quỹ đạo của Mặt Trăng và trở thành vệ tinh nhân tạo của nó

Luna 10 được thiết kế khá giống với Luna 9 tuy nhiên các thiết bị dùng cho việc hạ cánh  luna 9 được thay thế bằng một vệ tinh và các công cụ dùng để giảm tốc khi đi vào quỹ đạo Mặt Trăng
Tàu luna 10 bao gồm 2 phần. 1 tên lửa mang với khối lượng 1330kg ( đã nạp đầy nhiên liệu) và khoang thăm dò có khối lượng 245kg . Chiều dài toàn bộ tàu là 2,7m và đường kính lớn nhất là 1m

Khoang thăm dò của luna 10 được trang bị một quang phổ kế tia gamma với các mức năng lượng khác nhau từ 0,2-3 MeV ngằm nghiên cứu các thành phần quang phổ của bức xạ gama trên bề mặt mặt trăng.
Một từ kế ba trục để nghiên cứu về giới hạn từ trường có thể có của Mặt Trăng , một thiết bị để thăm dò các micrometeoroid (thiên thạch nhỏ ) kiểu điện áp (piezoelectric micrometeoroid detector) (giống như những tấm gắn ngoài thiết bị để gi nhận các va đập của các thiên thạch rất nhỏ . Khi các va chạm xảy ra thì điệp áp trên tấm thay đổi và được ghi nhận lại) Luna 10 đã gi nhận được khoảng 198 va đập. Có thể tìm hiểu thêm về micrometeoroid  và tác động của nó tại đây http://en.wikipedia.org/wiki/Micrometeoroid
Và một các thiết bị đo gió mặt trời, đo bức xạ hồng ngoại từ Mặt Trăng phục vụ việc nghiên cứu nhiệt độ bề mặt của Mặt Trăng, một máy đo tia X mức thấp.
Ngoài ra Luna 10 còn được trang bị một hệ thống máy phát vô tuyến ngằm thăm dò lực hấp dẫn của Mặt Trăng và phát đi bài “ Quốc Tế Ca” tại đại hội đảng toàn Liên Xô lần thứ 23 . Luna 10 truyền tín hiệu trên hai băng tần 183 MHz và 922 MHz
Sau khi đưa Luna 10 vào quỹ đạo quay 200 x 250 km và ngiêng 52 độ. Luna 10 đã được gia tốc và hướng về mặt trăng. Vào ngày 1/4 có một sự điều chỉnh quỹ đạo nhỏ giữa quá trình và khi còn cách mặt trăng 8000km tên lửa hãm của Luna 10 được kích hoạt làm nó giảm tốc độ còn khoảng 0,64km/s . Vào lúc 18h44’ UT ngày 03/04/1966 Luna 10 đã đi vào quỹ đạo của Mặt Trăng và sau đó khoảng 20s khoang thăm dò được tách ra và hoạt động độc lập. Khoang thăm dò quay ở quỹ đạo 349 x 1015km và nghiêng khoảng 71,9 độ và thời gian quay 1 vòng khoảng 2h58’ . Luna 10 đã hoàn thành quỹ đạo đầu tiên của nó vào ngày 04/04.
Trong 56 ngày hoạt động trên quỹ đạo của Mặt Trăng Luna 10 đã thực hiện được 460 vòng quay và thực hiện 219 lần truyền tín hiệu về trái đất
Từ các dữ liệu được truyền về cho thấy mặt trăng không tồn tại từ trường, các bức xạ vũ trụ khoảng 5 paraticles/cm2/s, có 198 va chạm của các “ tiểu thiên thạch” (micrometeoroid) được ghi nhận, không có bầu khí quyển và trường hấp dẫn bị biến dạng mạnh có thể dự đoán là do khối lượng phân bố không đều. Quang phổ kế tia gama cũng cho thấy rằng cấu tạo của bề mặt Mặt Trăng tương tự như bazan trên Mặt Đất.
Luna 10 đã ngưng truyền tin vào ngày 30/05/1966 khi mà pin của nó bị cạn kiệt. Và rõ ràng luna 10 không được thiết kế để hoạt động lâu dài nên nó không được trang bị pin mặt trời
Với nhưng thành công đạt được Luna 10 xứng đáng có một vị trí quan trọng trong lịch sử hàng không vũ trụ thế giới.
Logged
en_bac
Thành viên
*
Bài viết: 17


« Trả lời #8 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2011, 09:18:59 pm »

EM đổi chủ đề đi ngược về quá khứ một chút nhé

Lịch sử ngành hàng không và hàng không vũ trụ
[/b]
I. Con người và những ước mơ bay:
Từ ngàn xưa khi ngắm nhìn những con chim bay lượn trên bầu trời con người đã mang trong mình ước mơ được bay trên bầu trời . Và hẳn chắc cũng không ít lần các nhà thiên văn cổ đại cũng luôn mơ ước được bay đến những vì sao để thỏa ước mơ về bầu trời. Và khả năng bay lượn được thể hiên bởi sự cao thượng và uy quyền . Hình ảnh về cái cánh đầu tiên trong thần thoại là đôi cánh bằng sáp và lông vũ của Daedalus và con trai icarus dùng để trốn khỏi đảo Crete. Nhưng icarus quá hứng chí chàng bay quá cao nên sức nóng mặt trời làm chảy sáp trên cánh, chàng rơi xuống biển Aege và chết đuối

II.Diều và tàu lượn:
Diều là khí cụ bay đầu tiên tiền thân cho máy bay ngày nay đã được người trung hoa sử dụng từ hơn 2000 năm trước và theo thời gian được sử dụng đưa người lên cao và do thám tiếp tế, thong tin thời tiết v…v… Và hiều đã trở thành cảm hứng cho nhà phát minh người anh George Cayley trong thiết kế mô hình tàu lượn đầu tiên trên thế giới. Những nhà hàng không đầu tiên như Percy Pilcher (Anh), Otto Lilienthanl(Đức) dùng diều để triển khai các tàu lượn của họ. Otto Lilienthanl được coi như một nhà hang không thực sự đầu tiên trên thế giới. Ông bay lên bằng các tàu lượn tự tạo. Ông bay lên bằng các tàu lượn tự tạo, và thực hiện hơn 2500 chuyến bay trên nhiều tàu lượn. Năm 1896 khi bay trên một tàu lượn, một cơn gió đột ngột khiến cho tàu lượn mất điều khiển và đâm xuống đất làm cho ông thiệt mạng.[/FONT]
III.Khí cầu:
Ngày 15-6-1783 hai anh em người Pháp Joseph và Etienne Montogofier chế tạo khí cầu bằng giấy và vải, hai ông thả nó bay bằng cách đốt nóng đóng lửa để làm nóng không khí bên trong. Sau đó họ trình bày cho vua và hoàng hậu nước pháp xem. Lần này khí cầu mang theo ba con vật : Cừu, vịt và gà trống sau chuyến bay ngắn họ hạ xuống đất an toàn. Chuyến bay này là niền tin để ngày 21-11-1783, Francois de Rozier và hầu tước d’Arlandes đã dũng cảm bước lên khí cầu của anh em nhà Montgolfier, và họ đã trở thành nhà du hành đường không đầu tiên trên thế giới. Và chẳng bao lâu sau khí cầu dùng khí nóng và nạp khí trở nên phổ biến.

Những sự kiện đáng chú ý về khí cầu:

Năm 1853 kỹ sư người Pháp Henri Giffard chế tạo máy bay khí cầu đầu tiên có hình điếu xì gà. Khí cầu của ông bay được 27km. Nhưng không đủ công suất để bay ngược gió. Năm 1900, bá tước Ferdinand von zeppelin người Đức chế tạo máy bay khí cầu có khung cứng đầu tiên chúng bao gồm một bộ khung nhẹ và mang các túi lớn chứa đầy hidro. Trong những năm 1910 và 1913 khí cầu Zeppelin chở hơn 30.000 hành khác trên các chuyến bay vòng quanh nước Đức.

Hai chiếc Graf Zeppelin và Hindenburg dành cho giới thượng lưu là hai khí cầu lớn nhất chở hang vạn hành khách vượt đại tây dương

Một số khí cầu tiêu biểu

-USS Macon: chế tạo năm 1933 được Hải quân Mỹ sử dụng như máy bay tuần dương

-Graf Zeppelin bay lần đầu tiên vào năm 1928 có sức chở 20 người

-R34 chế tạo năm 1919 là khí cầu đầu tiên vượt Đại Tây Dương

-Ngày 3/5/1937 khí cầu Hindenburg khởi hành từ Frankfurt (Đức) và đến Lakehurst (Mỹ) vào ngày 6/5 trong lúc tiếp cận tháp buộc neo đãng bốc cháy khiến 35 trong số 97 người đi trên khí cầu thiệt mạng. Vụ tai nạn này đã làm kết thúc đột ngột thời đại của việc chở khách bằng khí cầu.

IV. Máy bay

Những ý tưởng ban đầu:

Có rất nhiều ý tưởng cho nghững chiếc máy bay nhưng đa số đều không thể thành công tuy nhiên những thiết kế ấy đã đóng góp rất nhiều cho các nhà hàng không sau này tiếp bước. Sự ra đời động cơ  hơi nước vào thế kỉ 19 đã đưa tới những dự định nghiêm túc về việc chế tạo máy bay.

Các Mốc thời gian

-Năm 1842 William Henson chế tạo một mô hình máy bay có gắn một động cơ hơi nước nhỏ làm quay cánh quạt. Tuy chỉ là mô hình nhưng nhiều nét trong thiết kế của ông vẫn còn được sử dụng trong  thiết kế máy bay hiện nay.


-Năm 1894 Hiram Maxim chế tạo một máy bay 3 tầng cánh và trang bị hai động cơ hơi nước nhưng cỗ máy này chỉ nâng những người đứng trên nó khỏi đường ray

-Bằng cứ chắc chắn đầu tiên về máy bay xuất phát từ ghi chép của nhà danh hoạ kiêm nhà toán học nổi tiếng Leonardo de Vinci. Thời gian từ 1486 .. 1490 ông đã mô tả các phương tiện bay bằng sức người, với bản hơn 35000 từ và 500 bản vẽ kèm theo. Hầu hết, đó là các bộ cánh đập mô phỏng các bộ cánh bay của chim- điều mà cho tới nay vẫn chưa thực hiện được.
 
-Năm 1783, khí cầu bơm bằng khí nóng đầu tiên ra đời. Mặc dù không phải là máy bay song nó cũng cho phép con người lần đầu tiên bay lên không trung. Đột phá căn bản trong thiết kế máy bay diều ra đời vào năm 1799 với mẫu của Cayley. Từ đó, lực nâng và lực đẩy được tách biệt hoàn toàn. Lực đẩy do một cơ cấu động lực riêng. Năm 1804 xuất hiện may bay cánh cố định. Thực chất đó là một tàu lượn không người lái được phóng bằng tay được làm bằng gỗ hoặc giấy. Tàu lượn này dài một mét có một cánh nâng cố định, thân và đuôi,với các cánh đuôi thẳng đứng và nằm ngang như những máy bay ngày nay.

-Song phải đến năm 1891 mới ra đời tàu lượn có người lái đầu tiên trong lịch sử. Do Goliliwtal người Đức thiết kế và bay thử thành công . Rồi sau một loạt thử ngiệm với hầm gió, năm 1902 hai anh em nhà Wright người chế tạo và cho bay thử thành công một tàu lượn. Ngày 17-12-1903 họ đã thực hiện chuyến bay nặng hơn không khí có động lực và có người điều khiển. Đặc biệt họ đã sáng tạo ra hệ thống điều khiển với các dây cáp cần lái, bàn đạp thay cho các cánh điều khiển băng thay đổi tư thế trọng tâm người lái như với tàu lượn trước đây.


Mô hình máy bay của anh em nhà Wright

-Những máy bay đầu tiên của anh em nhà Wright thuộc loại máy bay cánh kép cho phép tạo lực nâng lớn ở vận tốc thấp. Nhưng phải dùng một hệ thống cọc chống và dây chằng để cố định hai cánh ,mặt khác do dùng cánh lớn ,nên các loại máy bay này chịu lực cản lớn vì vậy loại máy bay này bay rất chậm. Nhưng so với khí cầu loại máy bay này tỏ ra ưu việt hơn, vì khí cầu máy quá cồng kềnh, chậm chạp. Nhất là dùng khí cầu trong trinh sát, liên lạc, ném bom thì rất bất lợi.

-Sau đó máy bay được cải tiến dần. Ở cuối chiến trang thế giới I máy bay đã được thiết kế một cách hợp lý hơn và từ đó máy bay đã được sử dụng trong các trận đánh lớn.

Những thành tựu:

-Năm 1909 Louis Bleriot bay vượt biển Manche chứng tỏ vùng nước mênh mông không còn là cách trở nữa.

Chiếc máy bay đã cùng Louis Bleriot bay vượt biển Manche

-Theo thời gian công nghệ tiến bộ những khoảng cách về địa lý càng được rút ngắn thời lượng bay. Năm 1947 Chuck Yeager vượt hàng rào âm thanh trên máy bay động cơ tên lửa Bell X-1.

Hình ảnh chiếc máy bay vượt bức tường âm thanh của Chuck Yeager, Bell X-1
V. Công nghệ vũ trụ

-Năm 1903 Konstantin Tsiolkovsky đưa ra cách sử dụng tên lửa đốt bằng nhiên liệu lỏng để du hành không gian. Năm 1926 Robert Goddard phóng thành công tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên. Và năm 1942 tên lửa V-2 của Đức đã phóng thành công đạt độ cao 85km mở ra kỷ nguyên mới về công nghệ không gian.

Giấc mơ bay vào vũ trụ

-Vào năm 1883, lần đầu tiên, một giáo viên người Nga tên là Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky (1857-1935) đã nghiêm túc bàn về bay vào vũ trụ.
Năm thập kỷ sau đó, ông đã công bố hàng loạt nghiên cứu chi tiết về các nguyên lý khoa học cơ bản. Rồi những năm tiếp theo, các bài viết của Tsiolkovsky đã trở thành niềm cảm hứng cho một thế hệ kỹ sư Nga nghị lực và tài năng đến không ngờ. Họ bắt đầu một nhiệm vụ vô cùng khó khăn là nghiên cứu triển khai những kỹ thuật cần thiết để biến giấc mơ bay vào vũ trụ trở thành sự thật.

Vệ tinh Sputnik 1, Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người rất thô sơ, có hình dáng như một quả bóng rổ bằng kim loại với 4 cần ăn-ten

-Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người rất thô sơ, có hình dáng như một quả bóng rổ bằng kim loại với 4 cần ăng-ten.

-Sau cuộc chiến tranh Thế giới II, với công nghệ sẵn có của tên lửa German V-2, không chỉ các nhà khoa học và kỹ sư Nga mà người Mỹ và châu Âu sớm nhận ra rằng bước đầu tiên để đi vào không gian - một vệ tinh bay theo quỹ đạo Trái đất - sớm đã đạt thành.

-8/1946, Sergei Pavlovich Korolev (1907-1966) trở thành Thiết kế trưởng cho OKB-1 (viết tắt tiếng Nga, có nghĩa là Văn phòng Thiết kế Đặc biệt số 1 - Special Design Bureau 1). OKB-1 là một phần của NII-88 (Viện Nghiên cứu Khoa học 88 - Scientific Research Institute 88).

-Dưới thời của Korolev, OKB-1 đã thành công trong việc sao chép V-2 thành tên lửa đặc biệt R-1. Không lâu sau đó, hiết kế của tên lửa được cách tân để mở rộng khả năng của tên lửa. Trong khi cấp trên của Korolev chỉ quan tâm các ứng dụng quân sự của công nghệ mới, Korolev và các đồng nghiệp thân cận của ông luôn luôn tâm niệm về giấc mơ bay vào không gian.

-Vào tháng 10/1951, một cấp phó của Korolev, Mikhail Klavdievich Tikhonravov (1900-1974), đã trình bày một dự án khả thi về một vệ tinh quỹ đạo trái đất.

-Những nỗ lực để phóng một vệ tinh vẫn còn xếp sau nhu cầu phát triển các loại vũ khí mới mãi đến năm 1954 khi những kế hoạch cho Năm Địa Vật lý Thế giới (International Geophysical Year - IGY) bắt đầu.
IGY hướng tới sự hợp tác chưa từng có tiền lệ giữa các nhà khoa học quốc tế để thu thập các dữ liệu về tầng cao khí quyển trái đất và các phản ứng của nó với các chu kỳ mặt trời tiếp theo giữa 7/1957 và 12/1958.

-Được khích lệ, Korolev đã viết một bài báo trên tạp chí khoa học vệ tinh "Earth Satellites" vào năm 1954. Ngày 9/1/1955, một nhóm khoa học Nga đã tới gặp ông và ủng hộ kế hoạch vệ tinh của ông.

-Vào ngày 19/7/1955, người Mỹ tuyên bố họ cũng sẽ phóng một vệ tinh như một hợp phần của sự đóng góp của Mỹ trong IGY. Ba ngày sau đó, người Nga cũng đã ra một tuyên bố tương tự. Và dường như cả hai hoàn toàn phớt lờ các nước phương Tây.

Và cũng sau lời tuyên bố đó, ngay tích tắc, Korolev chính thức đệ trình kế hoạch về vệ tinh của mình cho các nhà lãnh đạo Nga vào ngày 29/8/1955.

Sputnik: Gọi tên giấc mơ

-Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người, Sputnik đã được người Nga phóng lên quỹ đạo trái đất vào ngày 4/10/1957. Sputnik là một quả cầu kim loại có kích thước 58cm, và nặng khoảng 83,6kg. Mặc dù đó là một thành tựu đáng ghi nhớ, nhưng Sputnik dường như rất nghèo nàn so với các tiêu chuẩn ngày nay. Bao gồm một nhiệt kế, pin, máy phát tín hiệu radio, bình đựng khí ga nitơ để điều áp bên trong vệ tinh. Bên ngoài của Sputnik được trang bị 4 cần ăn-ten để truyền tín hiệu với tần sóng ngắn - 27MHz

Korolev giao cho nhóm của Tikhonravov thiết kế một loại vệ tinh hạng nặng mang tên " Object D".

-Object D, nặng khoảng 1 - 1,4 tấn và có thể mang được từ 200 - 300kg các thiết bị đo đạc phục vụ cho ngành địa vật lý. Object D sẽ được phóng vào quỹ đạo bằng một loại tên lửa đặc biệt R-7. 7 tên lửa loại này đã được thiết kế nhằm phục vụ cho việc phóng vệ tinh của Korolev.

Thế nhưng suốt một thời gian sau đó, việc thử tên lửa đẩy R-7 thất bại. Điều đó trở thành tồi tệ với Korolev. Với hàng loạt thất bại của R-7, sự ủng hộ của chính phủ đối với ông bắt đầu chao đảo.

Thời điểm đó, thậm chí ông cũng mất đi một người ủng hộ trung thành nhất từ một thành viên chính phủ cao cấp, Thủ tướng Nikita Krushchev. Dưới sức ép của Kremlin, Krushchev yêu cầu đóng cửa OKB-1.

Korolev đã bướng bỉnh chống lại mệnh lệnh và tiếp tục công việc nghiên cứu R-7. May mắn thay, vào ngày 21/8/1957, vận mệnh của Korolev đã thay đổi khi tên lửa đẩy R-7 số hiệu M1-8 đã thành công.

Tên lửa đã gửi một đầu tên lửa giả tới mục tiêu trên bán đảo Kamchatka, cách trung tâm thử tên lửa "Tashkent 50" - Kazakhstan 6.500 km. Trong khi đầu tên lửa giả này tách ra khỏi tên lửa ở độ cao cách mặt nước biển 10km, R-7 đã được chứng minh và OKB-1 tiếp tục hoạt động.

-Đầu tháng 9/1957, Krushchev phê chuẩn việc phóng vệ tinh, một phần của vì lý do chính trị riêng. Do đó, Korolev phải trình bày kế hoạch phóng vệ tinh càng sớm càng tốt.

-Vào ngày 18/9, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tsiolkovsky, Đài phát thanh Mátxcơva thông báo một cuộc phóng vệ tinh sẽ sớm diễn ra.

Suốt ngày 4/10, rất nhiều nỗ lực đã được thực hiện để phóng tên lửa R-7, nhưng trì hoãn liên tiếp xảy ra vì hàng loạt lỗi kỹ thuật do thiết bị vận hành không đều.

Khi đêm xuống, Korolev đã quyết định thử lại một lần nữa. Khi bản thân ông đếm ngược đến những giây cuối cùng của lệnh phóng, từ cái bệ phóng tên lửa có kích thước 100m, một tiếng rít ngắn ngủi vang lên trên tấm bê tông sau đó kéo theo là một loạt dài như tiếng kèn trumpet.

Cuối cùng, vào lúc 10:28:04 tối, giờ Mátxcơva, 20 động cơ bốc cháy đẩy mạnh tên lửa R-7, mang theo vệ tinh Sputnik bắt đầu phóng vào không gian và nhanh chóng biến mất trong màn đêm tối tăm theo hướng đông bắc.
Một giờ rưỡi sau đó, Sputnik bắt đầu truyền những tín hiệu radio về mặt đất, vang dội qua khắp các loa của trạm phóng tên lửa.

Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc phóng vệ tinh đã thành công. Sputnik nặng 83,6kg đã nằm đúng vào quỹ đạo ở mặt phẳng nghiêng 65,1độ, bay quanh xích đạo hết một khoảng thời gian là 96,17 phút.

Korolev cho rằng cuộc chinh phục không gian đã bắt đầu. Ngày 4/10, họ cùng chứng kiến một giấc mơ được nhiều thiên tài ấp ủ biến thành sự thật.

Nhà khoa học nổi tiếng của Nga Tsiolkovsky đã tiên đoán con người không chỉ dừng lại ở trái đất. Sputnik là lời khẳng định đầu tiên đáng tự hào.

Tuy nhiên một phần thế giới lo ngại rằng, Nga có khả năng phóng vệ tinh thì cũng sẽ có thể phóng các tên lửa đạn đạo mang vũ khí hạt nhân đi từ châu Âu sang Mỹ.

Sau đó, một lần nữa, Nga lại làm thế giới giật mình khi phóng vệ tinh Sputnik II vào ngày 3/11/1957. Lần này, vệ tinh mang sức tải nặng hơn và cả một chú chó tên Laika.


Vệ tinh Sputnik 2

Các cuộc phóng vệ tinh Sputnik thành công của Nga đã trở thành nguyên nhân trực tiếp cho việc thành lập Cơ quan Quản lý Hàng không và Không gian Mỹ (National Aeronautics and Space Administration - NASA).

Tháng 7/1958, Quốc hội Mỹ đã thông qua kế hoạch Hành động Không gian và Vũ trũ Quốc gia (National Aeronautics and Space Act - thường gọi là "Space Act"). NASA thành lập vào 1/10/1958

Còn tiếp….
En_bac: tổng hợp và biên soạn
Logged
doiviendukichmat
Thành viên
*
Bài viết: 687


Nghệ thuật du kích niềm tự hào Việt Nam!


« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2012, 03:07:24 pm »

Rất lâu rồi không thấy bác en_bac viết bài tiếp nhỉ, có gì khó khăn à?  Smiley
Logged

... Chiến thắng lớn đến từ hy sinh to lớn, ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường? ...
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM