Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:37:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một chút về hàng không vũ trụ của Liên Xô  (Đọc 20029 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trần Anh
Thành viên
*
Bài viết: 318



« Trả lời #10 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 09:22:29 pm »

.....
-Ngày 3/5/1937 khí cầu Hindenburg khởi hành từ Frankfurt (Đức) và đến Lakehurst (Mỹ) vào ngày 6/5 trong lúc tiếp cận tháp buộc neo đãng bốc cháy khiến 35 trong số 97 người đi trên khí cầu thiệt mạng. Vụ tai nạn này đã làm kết thúc đột ngột thời đại của việc chở khách bằng khí cầu.

....
En_bac: tổng hợp và biên soạn

Xin phép bác En_bac cùng các bác được nói thêm về thảm họa Hindenburg:

Hindenburg bùng cháy ngay trên sân bay của Hải quân Mĩ

  Niềm tự hào của nước Đức và cũng là một điều kì diệu ở thời kì đó là khí cầu (zepơlin) Hindenburg có chiều dài gần bằng ba lần sân bóng, một khí cụ bay lớn nhất chưa từng được chế tạo. Tuy được giữ ở trên cao nhờ 16 ô chứa khí hidro dễ cháy nguy hiểm, nó đã thực hiện nhiều chuyến bay vượt Đại Tây Dương một cách an toàn. Trên thực tế, các khinh khí cầu của Đức, tất cả đều dùng hidro và chưa bao giờ bị tai nạn bởi khí hidro. Nhưng vào ngày mùng 6, tháng 5 năm 1937 sau 7 giờ 21 phút tối, khi chiếc Hindenburg đã sắn sàng hạ cánh xuống sân bay của Hải quân Hoa Kì ở Lakehurst, bang New Jersey, khinh khí cầu đã bùng cháy. Đội bay của nó đã chờ đến khi cơn mưa dời một phần khỏi khu vực và các dây neo vừa được ném xuống cho một đội của Hải quân ở dưới thì đã thấy lớp vải ngoài của con tàu bị gấp sóng, khoảng 1/3 tính từ đuôi tàu. Một vài giây sau ngọn lửa bùng ra từ chỗ đó và ánh sáng phát đỏ rực phía trong của con tàu. Trong vòng 32 giây con tàu đang cháy rơi xuống đất, giết chết 36 người và làm bỏng nhiều người khác một cách khủng khiếp. Tại sao, sau rất nhiều chuyến bay an toàn khí cầu dùng khí hidro lần này đã bùng cháy ?

  Cách giải thích trên góc độ Vật lý:
Khí cầu Hindenburg đã sắn sàng để hạ xuống đất và sau khi các dây neo được thả xuống cho một đội dươí mặt đất, các dây trở nên ẩm ( và do đó có thể dẫn điện) do mưa. Chúng “nối đất” khung kim loại của khí cầu (các dây được buộc vào khung) : nghĩa là, chúng tạo nên một đường dẫn điện giữa khung và mặt đất, làm cho điện thế cảu khung và của mặt đất như nhau. Đáng lý ra lớp vải của khinh khí cầu cũng sẽ được nối đất. Nhưng Hindenburg là khinh khí cầu đầu tiên có vải bọc được sơn bằng một chất có điện trở suất lớn. Như vậy, với Hindenburg lớp vải vẫn giữ điện thế của khí quyển ở độ cao của khí cầu, khoảng 43m. Do có mưa dông, điện thế đó lớn hơn so với mặt đất.

 Việc dùng các dây rõ ràng đã làm rách một trong các buồng chứa hidro và làm thoát hidro giữa buồng và vải bọc ngoài của khí cầu, gây nên sự gợn sóng của lớp vải bọc như đã mô tả. Khi đó đã xảy ra một tình huống nguy hiểm: Lớp vải ướt nước mưa dẫn điện và  ở một điện thế rất khác với điện thế của khung. Rõ ràng là điện tích đã chạy dọc theo lớp vải ướt và đánh tia lửa điện qua hidro bị dò ra đến khung kim loại và đốt cháy hidro trong quá trình đó. Khi đó sự cháy đã nhanh chóng làm bốc lửa các buồng chwuas khí hidro trong khí cầu và làm rơi nó. Nếu lớp xi ở vải bọc ngoài của Hindenburg có điện trở suất nhỏ hơn (giống như cấc khí cầu trước và sau nó), thì thảm hoạ Hindenburg chắc đã không xảy ra.

Theo_Fundamentals of Physics
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười, 2012, 10:44:01 pm gửi bởi Trần Anh » Logged

As long as you love me. We could be starving, we could be homeless, we could be broke.
As long as you love me. I'll be your platinum, I'll be your silver, I'll be your gold...
 
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #11 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2015, 09:37:58 am »

Xin giới thiệu bài viết của tieungoclang - 1 thành viên của VMH. Bài gốc ở https://tieungoclang.wordpress.com/2014/06/30/viet-tiep-nhan-ky-niem-45-nam-ngay-con-nguoi-dat-chan-len-mat-trang-vi-sao-nga-that-bai/#more-699


Viết tiếp nhân kỷ niệm 45 năm ngày con người đặt chân lên Mặt trăng – Vì sao Nga thất bại

Vì sao người Nga thất bại trong cuộc đua lên mặt trăng

Trong công cụôc chinh phục vũ trụ, người Nga đã luôn là người dẫn đầu cho đến tận cuộc đua đưa người lên mặt trăng. Họ đã từng đi trước với Sputnik, với Laika, Luna và Gagarin, thế mà trên đường lên cung trăng, họ đã thua đau đớn, họ thậm chí chưa từng đưa được người lên đó, dù muộn hơn Mỹ. Và tại sao?

Thật ra chương trình không gian của Nga đã thể hiện tham vọng đưa người lên mặt trăng từ rất sớm với nghị quyết của quốc gia về chương trình không gian ký ngày 31 tháng 1 năm 1956 với các nội dung:

–         Đưa vào quỹ đạo các vệ tinh có trọng lượng 1,8-2,5 tấn trong năm 1958 (đây cũng là năm NASA ra đời)

–         Đưa phi thuyền có người lái sống trên quỹ đạo 1 tuần vào năm 1964

–         Vệ tinh do thám không người lái vào năm 1970

–         Tên lửa có khả năng mang theo 12 tấn tải trọng vượt qua quỹ đạo trái đất vào năm 1970

–         Tên lửa có khả năng mang theo 100 tấn tải trọng lên quỹ đạo thấp của trái đất và đưa 2-3 người lên mặt trăng (không xác định rõ thời hạn)

Chương trình này được chia cho ba tổng công trình sư nổi tiếng triển khai đó là S.P. Korolev, V.Glushko và V. Chemolei. Và ba ông, về mặt nguyên tắc, là không ưa nhau và không hợp tác với nhau. Khác với Mỹ, Von Braun là người đứng đầu tuyệt đối trong chương trình không gian, còn ở Nga Korolev luôn bị cạnh tranh bởi hai vị kia.

Đến tháng 1 năm 1960, không hài lòng với những mục tiêu đó, ngoài ra, trứơc sự áp sát nhanh chóng của người Mỹ, Korolev đã trình lên Bộ chính trị Liên Xô bảng kế họach mới đầy tham vọng với các mục tiêu kinh khủng:

–         Từ năm 1960 – 1963: phát triển hệ thống tên lửa N-1 với tải trọng 40 đến 50 tấn

–         Từ năm 1963-1965: phát triển hệ thống N-2 với tải trọng 60 đến 80 tấn

Và với những tên lửa này sẽ triển khai:

–         Phóng 3 đến 6 vệ tinh liên lạc địa tĩnh, nặng 2-3 tấn phục vụ công tác thông tin liên lạc tòan cầu

–         Trạm không gian trên quỹ đạo 350-400km của trái đất với 3-5 phi hành gia thường trực. Các trạm này có trọng lượng 30-50 tấn

–         Phóng tàu chứa 2-3 phi hành gia đến mặt trăng và trở về trái đất, trọng lượng tàu lên mặt trăng từ 10-12 tấn, khoang trở về nặng 2-3 tấn, dùng hệ thống tên lửa N-1

–         Dùng N-2 để đưa các tàu liên hành tinh có người lái lên sao Hỏa, sao Kim, tên lửa dự kiến đủ đưa tàu vượt tốc độ vũ trụ 1 (11,2 km/s)…

–         Phát triển thành hệ thống tên lửa liên lục địa có tầm bắn từ 3000-12000 km đủ bắn đến mọi điểm trên trái đất và mang theo đầu đạn các loại có trọng lượng 40-100 tấn

–         Hình thành lá chắn không gian từ đó có thể chặn, diệt bất kỳ vệ tinh, tên lửa nào phóng đến lãnh thổ Liên Xô

–         …

Ông còn đề nghị đựơc thành lập Học viện Nghiên cứu Liên hành tinh trong đề án kể trên. Khi đề án đựơc trình lên Khrushev và Bộ Chính trị LX vào ngày 03/03/1960, dù Khrushev là người hết sức ủng hộ cho các chương trình vũ trụ, nhưng trước một đề án quá tham vọng cùng với việc các nhà khoa học, các tổng công trình sư khác không đồng tình, nên đề án của Korolev đã bị bác. Rút kinh nghiệm từ thất bại này, Korolev đã phải bàn bạc, chia phần và thống nhất với các địch thủ: Chemolei , Glushko và Yangel để cùng xây dựng một đề án mới, và may mắn thay, đề án này đựơc thông qua với cái tên  nghị quyết 715-296 ký vào ngày 23/06/1960 v/v ” Sản xuất các hệ thống phóng, phi thuyền cho lực lượng quân sự không gian trong giai đọan 1960-1967″ . Kết quả của nghị quyết này là những sản phẩm mà đến nay vẫn còn sử dụng như hệ thống Vostok (và hậu nhận là Soyuz), Proton.. Và quan trọng nhất, là theo nghị quyết đó, dự án N-1 dành phóng lên mặt trăng đã đựơc thông qua bước đầu (bài sau sẽ viết chi tiết hơn về các hạng mục trong nghị quyết này). Vạn sự khởi đầu nan….

Nhưng mọi rắc rối với chương trình N-1 chưa dừng lại ở đó. Ngay từ đầu nó đã gặp phải vấn đề với việc thiết kế động cơ, phần này lúc đầu đựơc chia cho Glushko làm, bên cạnh mâu thuẩn cá nhân giữa Glushko và Korolev (do Glushko mà Korolev từng bị Stalin cho đi tù) thì còn do Glushko không hòan thành đựơc yêu cầu của Korolev với các dòng động cơ do ông phát triển như RD-108, RD250. Từ đó dẫn đến việc Korolev phải quay sang làm việc với phòng thiết kế của Kuznetsov, hai ông này thì quan hệ với nhau tốt hơn. Ngoài ra, Korolev cũng đụng chạm với Chemolei và tìm mọi cách để đưa mẫu động cơ NK-9 vào thay cho UR500 của Chemolei nhưng không thành công. Dù sao đi nữa thì sau hai năm vận động, nghiên cứu và chiến đấu ác liệt Korolev cũng đã thành công khi Khrushev và chính phủ LX đã ra một nghị quyết cho việc chế tạo  vào ngày 24 tháng 9 năm 1962 và qui định chuyến bay đầu tiên sẽ diễn ra trong năm 1965. Sau cùng thì Korolev cũng có được trong tay quyền thực hiện. Nhưng bấy nhiêu chưa đủ, bởi lẽ ông có đựơc quyền chế tạo rocket nhưng lại không có hỗ trợ nào từ phía quân đội cho một thứ gì để chứa lên roket đó phóng đi. Barmin’s GSKB SpetsMash là đơn vị được trao nhiệm vụ thiết kế và xây dựng bệ phóng N-1. Vào tháng 3 năm 1963, công việc thiết kế hệ thống phóng N1đã hoàn tất. Một lễ động thổ đã được tổ chức một năm sau đó và bệ phóng N1 cùng các công trình liên hợp đã đựơc tiến hành xây dựng… (còn tiếp…)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #12 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2015, 09:40:38 am »


Chương trình du hành mặt trăng N-1 (tiếp theo)


Thật ra trong nghị quyết ra hồi tháng 9 năm 1962, hệ thống tên lửa N1 đưa ra như là một phần trong chương trình tên lửa dành cho lực lượng quân sự. Còn quyết định cho cuộc chạy đua lên mặt trăng lại đến khá muộn. Sau nhiều thay đổi thiết kế, và sau nhiều lần vận động không mệt mỏi và quyết liệt, cuối cùng, ngày 03 tháng 08 năm 1964, Chỉ thị số 655-268 của Trung Ương Đảng cũng đã ra đời. Chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ của OKB-1 (phòng thiết kế Korolev) là phải hòan thành việc đưa một người đến mặt trăng và quay về trước người Mỹ. Và, chỉ thị này đã ra đời sau một quyết định tương tự của phía Mỹ tới gần 3 năm (Chương trình Apollo của Mỹ được quyết định thực hiện từ tháng 04/1961). Khỏan cách 03 năm là một khỏan thời gian không dễ kéo gần được.

Ban đầu, kế hoạch được vạch ra là sẽ phóng thử N1 lần đầu tiên vào quý 1 năm 1966, còn chuyến đổ bộ mặt trăng sẽ được thực hiện trong năm 1967 hoặc 1968, và như vậy vẫn nhanh hơn kế họach của người Mỹ từ 1 đến 2 năm. Nhưng, một sự kiện lớn đã xảy ra. Tháng 10 năm 1964, Khrushchev bị rời khỏi vị trí lãnh đạo, Brezhnev lên thay. Mọi việc lại một phen xáo trộn, may mắn thay, Korolev vẫn duy trì được ảnh hưởng của mình lên người đứng đầu Bộ Chính Trị Liên Xô, thậm chí còn nhiều hơn triều đại trước. Ông phần nào đã đẩy đựơc đối thủ Chemolei ra khỏi một số dự án lớn. Ngày 26/01/1965, một quyết định đã đựơc thông qua về việc sản xuất 16 hệ thống N1. Sau khi có được các loại quyết định và ngân sách, phòng nghiên cứu OKB-1 của Korolev đã đẩy mạnh công tác thiết kế và đã trình lên đựơc 4 phiên bản mẫu. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, ngày 14/01/1966 Korolev chết trong cuộc phẫu thuật ung thư ruột. Ông đã dấu bệnh với các đồng sự, vì vậy, cái chết của ông ở tuổi 56 – độ tuổi chín của một nhà khoa học, đã làm lung lay mạnh mẽ các chương trình nghiên cứu của OKB-1. Có thể nói cái chết của ông đã góp phần vào sự sụp đổ của chương trình N1. Mishin, cấp phó của Korolev lên thay, nhưng Mishin không thể nào thay thế nổi Korolev về mặt khoa học lẫn uy tín với các nhà lãnh đạo Đảng.

Dù sao thì trái đất vẫn cứ quay, và Mishin lại tiếp tục với N1. Cũng cần ghi nhận rằng sau khi Korolev chết, các đối thủ của ông: Glushko, Chemolei và  Yangel đã vận động để chia sẽ bớt phần kinh phí cho các dự án của họ như hệ phóng UR-700, R-56 thay vì tập trung toàn bộ cho N1 như trước. Lúc này, chính phủ lại ra nghị quyết dời thời hạn phóng đầu tiên của N1 sang năm 1968, chậm hai năm so với kế họach ban đầu, và nếu đúng hạn thì vẫn sớm trứơc người Mỹ một năm.

Ngày 10/02/1967, tàu Cosmo 146 đựơc phóng lên, đây chính là mẫu thử cho block số 4 và cụm phi thuyền đáp xuống mặt trăng- trở về trái đất. Cosmo 146 đã họat động đúng đắn đến tận giai đọan bay đến mặt trăng. Nhưng phi thuyền đã thất bại trong việc hạ cánh xuống bề mặt mặt trăng và cũng không thể trở về. Mẫu thử kế tiếp Cosmo 154 thì còn tệ hơn, block số 4 không thể phát hỏa để đưa phi thuyền đến mặt trăng sau khi lên quỹ đạo, và nó đã bị cháy trong khí quyển 2 ngày sau đó.

Đến năm 1968, các hệ thống N1 đã hòan thành được 16 bộ. Tháng 9/1968, một hệ thống phóng N1 và phi thuyền mặt trăng 7K-L1S đã đựơc đưa vào bệ phóng, nó đựơc đánh mã N1-4L, nhưng rồi người ta phát hiện ra bồn chứa nhiên liệu ở tầng 1 bị rò rỉ do quá trình thử nghiệm mặt đất. Thế là N1 đựơc rã ra, mang về xưởng để sửa chữa. Còn phi thuyền thì lắp sang bộ N1-3L để phi hành đòan tổ chức huấn luyện. (Cũng xin nói thêm về một điềm báo nữa cho chương trình N-1: danh sách phi hành gia dự kiến bay lên mặt trăng có Komarov là ứng viên số 1, Gagarin số 2 và Leonov thứ ba. Nhưng cuối năm 1967 Komarov tử nạn trong chuyến bay Soyuz 1, rồi ngay sau đó năm 1968 đến lượt Gagarin tử nạn với một chuyến bay thử máy bay Mig15).

Tháng Giêng năm 1969, N1-3L và phi thuyền được đưa vào bệ phóng. Mishin cùng 2300 nhân viên cật lực làm việc, 50 chiếc xe nhiên liệu được mang đến để bơm vào tàu. Ngày phóng ban đầu là 20/2/1969 nhưng vì thời tiết xấu nên dời sang ngày 21/02/1969. Thế rồi cuối cùng chiếc tàu cũng đựơc phóng lên, mọi người chuẩn bị ăn mừng, thì đến thời điểm 68,7 giây sau khi phóng, tòan bộ các động cơ bị đóng lại, và 1,3 giây sau đó, tên lửa đã tự hủy theo lập trình ở khỏan cách an toàn. Khi điều tra sự việc, người ta nhận ra có một chi tiết cơ khí nhỏ ở tua bin khí động cơ số hai bị lỗi, dẫn đến việc tăng áp lực và làm động cơ khép cửa xả lại. Do vậy lực đẩy của động cơ giảm đi và gây cháy ở đuôi tên lửa. Nếu mọi việc dừng ở đây thì cũng không phải là vấn đề quá lớn, nhưng tại thời điểm đó hệ thống KORD BKS dùng để kiểm sóat tự động hành trình đã phát hiện cháy và nó gửi đi một tín hiệu sai. KORD gửi tín hiệu ngưng họat động đến tòan bộ các động cơ !!! Chỉ có một điểm sáng ở lần thử này, đó là việc hệ thống SAS đã họat động đúng đắn, nó đã thực hiện đúng tính năng đựơc thiết kế và cứu đựơc phi thuyền 7K-L1S gắn trên N1 (bộ phận SAS là bộ phận gắn ở đầu chóp trên cùng, nó sẽ khai hỏa và mang phi thuyền – gắn ngay bên dưới nó – bay thoát ra an tòan khi các tên lửa đẩy bên dưới gặp sự cố). Thêm một điểm đáng lưu ý khác là cơ quan thám sát của Anh ghi nhận đựơc sự kiện, nhưng phía Mỹ thì hình như không biết, không rõ vì sao.

Sau khi cú phóng 3L thất bại, Liên Xô nhận đựơc tin báo thành công liên tiếp từ chương trình Apollo của Mỹ, họ cuống lên. Họ biết, đã không còn có thể thắng Mỹ trong cụôc đua đưa người lên mặt trăng. Vì vậy, họ có một điều chỉnh trong phương án: sẽ cố gắng phóng một tàu không người lái lên mặt trăng chụp hình và quay về trước khi người Mỹ đi lên. Và như thế sẽ chia sẽ bớt hào quang của người Mỹ. Theo quan điểm đó, bảng N1-5L đựơc thiết kế lại đôi chút và gấp rút đưa lên bệ phóng.

Ngày 03/07/1969, trước ngày Apollo 11 phóng 2 tuần, N1-5L đã sẵn sàng, và được bấm nút. Đó là một thảm họa. 5L nổ tung chỉ sau 0,25 giây. Vòi bơm chất oxi hóa ở động cơ số 8 bị gãy, gây nổ. Hệ thống KORD làm ngưng các động cơ, N1 rơi ngược lại bệ phóng theo một góc nghiên 45 độ và gây ra một vụ nổ mang tầm cỡ một quả bom nguyên tử loại nhỏ. Tòan bộ cấu trúc bệ phóng bị hủy diệt, không rõ số người thiệt mạng trong thảm họa đó. N1 chính thức đầu hàng Apollo!
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #13 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2015, 09:47:33 am »


N-1: những ngày tháng sau cùng (tiếp theo và hết)


Thảm họa đợt phóng 5L đã làm chương trình N1 bị chậm lại gần 2 năm để phục vụ công tác điều tra, phân tích. Một trong các kết luận quan trọng được đưa ra là cần nâng cấp hệ thống máy tính điều khiển hành trình KORD. Một kết luận khác là cần phải nâng cấp động cơ, và thế là các hồ sơ cũ do Korolev ký trước khi chết được lục lại. Trong các tài liệu đó Korolev đã nói về việc sử dụng oxy/hydro cho động cơ tên lửa.

Tháng 7/1970 phòng OKB-276 của Kuznetsov, một đồng minh cũ của Korolev, được giao nhiệm vụ thiết kế lại động cơ. Thật ra Kuznetsov đã quan tâm nghiên cứu động cơ oxy/hydro lỏng từ năm 1965 nhưng chưa thật sự thành công. Ở thời điểm năm 1970, Kuznetsov cùng các đồng sự đã thành công với một loạt động cơ mang mã NK-31, NK-33, NK-39, NK-43 thay cho các động cơ cũ.

Tháng 6 năm 1971, N1-6L được đưa vào bệ phóng 110L (bệ phóng 110R bị phá hủy sau vụ nổ lần phóng 5L vẫn chưa xây dựng lại xong).  N1-6L vẫn chưa được sử dụng các động cơ mới mà vẫn sử dụng động cơ cũ với phần nâng cấp lưới lọc để tránh trường hợp tạp chất rơi vào buồng đốt như 5L. Lần phóng này 6L không mang theo phi thuyền, đây chỉ là một lần thử nghiệm cho hệ thống tên lửa đẩy. Ngày 23/06 là ngày dự kiến phóng 6L, nhưng vì trời mưa nặng hạt nên dời lại. Ngày 27/06/1971, trời quang. N1-6L được lệnh phóng. Khi rời bệ phóng tên lửa bổng nhiên tự xoay quanh trục, có lẽ do cộng hưởng của luồng hơi phụt của động cơ và gió. Đến giây 50.2 sau khi phóng, tên lửa đã quay với tốc độ không thể kiểm sóat được và gãy gục. Một giây sau 6L được lệnh tự hủy ở khoản cách an toàn. Điểm đáng ghi nhận ở lần thất bại thứ ba này là các động cơ hoạt động tốt, ổn định cho đến khi tên lửa bị hủy. Các chuyên gia lại vào cuộc, tìm hiểu nguyên nhân…

Một năm nữa trôi qua, lúc này ở Mỹ, chương trình Apollo đã đi tới đoạn cuối con đường, còn N1 thì lại bắt đầu cho lần phóng N1-7L. Trong lần thử này, 7L vẫn chưa đựơc trang bị các dòng động cơ mới mà vẫn dùng động cơ NK-15 cũ. Ngày 23/11/1972, N1-7L đựơc lệnh rời bệ phóng. Phút đầu tiên trôi qua bình thường, mọi thứ có vẻ diễn ra đúng kế họach. Nhưng rồi đến giây thứ 107, chỉ 7 giây trước khi kết thúc nhiệm vụ của tầng 1, sự cố đã xảy ra. Nguyên nhân chưa bao giờ được xác định chính xác, Mishin đổ lỗi cho các nhà thiết kế động cơ; còn Kutznetsov thì cho rằng do ngưng động cơ trung tâm quá sớm dẫn đến áp lực làm gãy và nổ ở động cơ số 4. Và dù sao, họ cũng thống nhất đựơc một điểm, rằng chỉ cần tầng 1 được kết thúc bình thường thì chuyến bay đã thành công.

Sau 4 lần thất bại, Mishin phải mời những kẻ thù cũ đến để cùng nghiên cứu: Glushko và Kosberg. Hai ông này thì đưa ra giải pháp là dùng các loại động cơ do OKB của họ nghiên cứu, những thứ mà Korolev đã gạt từ lúc đầu. Về phía Kuznetsov, các khó khăn càng chồng chất khi kinh phí cấp giảm dần đều. May cho ông, các động cơ mới đã kịp thử nghiệm mặt đất thành công. Hai bảng 8L và 9L bắt đầu trang bị động cơ mới của Kuznetsov và dự kiến sẽ phóng liên tục trong năm 1974. Lòng tin vào sự thành công lúc này lên rất cao vì hầu hết các tồn tại trong các lần phóng trước đã đựơc nghiên cứu và xây dựng giải pháp. Mọi thứ hẳn đã rất sẵn sàng!

Ngày 18 tháng 5 năm 1974, Afanasyev đến OKB-1 triệu tập họp. Chỉ bằng vài câu, ông báo với OKB-1 rằng Bộ Chính trị đã quyết định miễn nhiệm Mishin, và bổ nhiệm Glushko-kẻ thù của Korolev- thay thế. Đồng thời sáp nhập cả hai OKB đó vào một thực thể mới được mang tên NPO Energia. Sau vài câu chúc tụng sáo rỗng, Afanasyev rời phòng. N1 kết thúc!

Kết toán:

    Trong chặng đường của mình, N1 đã thực hiện đựơc 4 lần phóng và thất bại cả 4 lần
    Nếu tính luôn hai bảng 8L, 9L và 4 bộ khác đang được sản xuất gần xong, xí nghiệp Kozlov ở Samara đã sản xuất được 10 con tàu xấu số cùng 2 tàu mô hình.
    Tổng ngân quỹ được dành cho chương trình là 3,6 tỷ rúp. Trong đó có 2,4 tỷ trực tiếp dùng cho việc phát triển N1 (chương trình Apollo của Mỹ ngốn đến 25,4 tỷ đô)

N1 đã thất bại thảm hại trước Apollo. Với một chút nuối tiếc, phải chi cho N1 thêm chút thời gian, dù có thua thì Liên Xô cũng có được một hệ thống phóng hạng nặng. Nhưng mọi thứ đã kết thúc. Khi sáp nhập hai OKB thành một, Glushko thậm chí còn ra lệnh hủy số động cơ NK-33, NK-39, NK-43 đã thử nghiệm và sản xuất xong. May thay Kutznetsov đã kịp mang đi. Và như phượng hoàng bất tử, dù N1 không tồn tại, nhưng một số bộ phận của nó vẫn có cơ hội bay lên bầu trời. Số động cơ nói trên, sau này được bay với hệ thống Atlas III của Mỹ và với K-1 của công ty Kistler Aerospace(*) 22 năm sau đó. Hay như thiết kế 11D56 cho động cơ của phi thuyền L3M cũng được bán cho Ấn Độ để thành hệ thống phóng GSLV của nước này. Tàn tích cuối cùng của N1 giờ chỉ còn là dãy nhà xưởng đổ nát ở Samara như hoài niệm một thời oanh liệt ….

Hết

(*) Kistler Aerospace được NASA chọn thuê làm dịch vụ tải hàng và người lên trạm ISS, nhưng Kistler đã bị phá sản vào 2010 vì những lý do tài chính.
Logged

Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM